- VMS vào tháng 4/1993, là một sự kiện quantrọng trong việc đa dạng hoá và hiện đại hoá ngành Viễn thông Việt Nam .Với việc khai thác kinh doanh trên mạng lưới thông tin di động VMS, cu
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến các thày cô trong khoa Thương mại trường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là sự biết ơn tới thầy Trần Văn Bão, giáo viên hướng dẫn thực tập tốt nghiệp trực tiếp đã quan tâm chỉ bảo tôi hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo công ty VMS ,
đã giúp đỡ tạo điều kiện cũng như những đóng góp ý kiến cho bài viết được hoàn thiện hơn
Trần Thị Kim Liên
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại ngày nay, thông tin ngày càng đóng vai trò quantrọng trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Cùng với sự gia tăngquan trọng đó, là sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình thông tin liên lạc,như là sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người, đặc biệt là sự phổbiến rộng rãi của hình thức liên lạc bằng điện thoại
Theo một số tính toán của Liên Hợp Quốc, hiện nay tỷ lệ máy điệnthoại trên 100 người dân là 5 - 6 máy Ngoài ra trên cơ sở kỹ thuật củamạng điện thoại, còn có nhiều hình thức trao đổi thông tin khác như Fax,thư điện tử
Ở Việt Nam, sau khi Nhà Nước ban hành chính sách mở cửa, xâydựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, thì nhiệm vụ cấpthiết nhất là phải cải tạo lại cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật Trong đó cóngành bưu chính viễn thông , một ngành vai trò quan trọng trong việc tạonhững dây thần kinh nhanh nhạy, bền vững phục vụ thuận lợi trong côngtác xã hội, quốc phòng, đặc biệt là cho sự phát triển nền kinh tế quốc gia
Từ năm 1990 trở lại đây, các cấp lãnh đạo Tổng cục Bưu điện , lãnhđạo Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã phát động chiến lượctăng tốc độ phát triển bưu chính viễn thông nhằm đưa trình độ bưu chínhviễn thông Việt Nam lên ngang hàng với các nước trong khu vực, hoànhập vào dòng thông tin thế giới, xoá đi cách trở về thông tin, tăng cườngcác quan hệ giao dịch
Trang 3Trong chiến lược tăng tốc độ phát triển, cùng với phương châm đónggóp một cách tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước theođường lối “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá “ ngành Bưu chính Viễnthôngđã liên tục ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới vàochương trình số hoá ( digital ), toàn bộ mạng lưới viễn thông, liên doanhhợp tác với các hãng lớn trên thế giới đưa ra các giải pháp viễn thông hiệnđại ngang tầm quốc tế Bưu chính Viễn thông đang và sẽ là ngành đi đầu
để tạo sức bật cho các ngành kinh tế khác
Sự ra đời của công ty thông tin di động Việt Nam ( Vietnam MobileTelecom Services Co - VMS ) vào tháng 4/1993, là một sự kiện quantrọng trong việc đa dạng hoá và hiện đại hoá ngành Viễn thông Việt Nam Với việc khai thác kinh doanh trên mạng lưới thông tin di động VMS, cungcấp các thiết bị và dịch vụ thông tin di động kỹ thuật số tiêu chuẩn toàncầu, VMS thực sự đã đáp ứng được những mong mỏi của khách hàng vềnhu cầu dịch vụ thông tin liên lạc hiện đại tiện dụng và đa dạng
Trong thời gian 6 năm qua, công ty VMS đã thu được những kết quảsản xuất kinh doanh thật đáng khích lệ Với đặc điểm hiện nay, thị trườngđang có nhiều biến động, công ty lại đang phải chịu sự cạnh tranh ngàycàng tăng từ các mạng điện thoại di động khác và mạng điện thoại cố định,đồng thời với đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức ( là đơn vị hạch toán độclập trực thuộc Tổng công ty Nhà Nước, hoạt động có sự tham gia đối tácnước ngoài, lại bao gồm 3 chi nhánh nhỏ ở 3 miền trong cả nước ) thì chínhsách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối và chính sách giaotiếp khuyếch trương
là công cụ kinh doanh không thể thiếu được, thậm chí còn xuyên suốt mọilĩnh vực, mọi khâu hoạt động trong quá trình kinh doanh của công ty
Trang 4Vì vậy, qua thời gian thực tập, được làm đề án thực tập tại công tyVMS, với ước muốn góp một phần nhỏ bé vào công việc sản xuất kinhdoanh của VMS, tại một thị trường thông tin mới mẻ song còn nhiều tiềmnăng này, tôi xin trình bày chuyên đề thực tập với đề tài :
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm, chính sách giá
cả, chính sách phân phối và chính sách giao tiếp - khuyếch trương trong kinh doanh tại công ty thông tin di động VMS.
Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối
và chính sách giao tiếp khuyếch trương của các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường
Chương II: Thực trạng chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sáchphân phối và chính sách giao tiếp khuyếch trương trong kinh doanh tạicông ty VMS
Chương III: Một số phương hướng biện pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việcthực hiện chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối vàchính sách giao tiếp khuyếch trương tại công ty thông tin di động VMS
Trang 5CHƯƠNG I
CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM, CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ, CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI VÀ CHÍNH SÁCH GIAO TIẾP - KHUYẾCH TRƯƠNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, mà nước tađang hướng tới xây dựng, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thựctiễn cần được nghiên cứu giải quyết Quản lý kinh tế trong những nămchuyển đổi cơ chế vừa qua, để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển lâudài, vững chắc, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải tuân theo cácquy luật khách quan của thị trường Doanh nghiệp cần không ngừng tìmhiểu, nắm bắt mọi thay đổi trên thị trường, liên tục nâng cao chất lượng,thay đổi mẫu mã sản phẩm, hạ giá thành sản xuất và tối đa hoá lợi nhuận
Để làm được điều này, việc nghiên cứu lý thuyết về các chính sách tiếp thị,bao gồm chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối vàchính sách giao tiếp khuyếch trương sử dụng trong hoạt động kinnhdoanhcó tầm quan trọng rất lớn Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu về từngchính sách và tác dụng của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
I.CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Trang 6Theo quan điểm trước đây, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý,hoá học, có hình dạng cụ thể, có thể quan sát được, tập hợp được trongmột hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng Trong nền sản xuấthàng hoá, sản phẩm chứa đựng các thuộc tính hàng hoá, là sự thống nhấtcủa hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Nói cách khác, sản phẩm với
tư cách là hàng hoá không chỉ là sự tổng hợp các đặc tính hoá học, vật lý,các đặc tính sử dụng mà còn là vật mang giá trị hay giá trị trao đổi
Marketing hiện đại cho rằng sản phẩm là hàng hoá gắn liền với nhucầu mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường, vì thế cần phải xemsản phẩm như một khái niệm có hệ thống bao gồm những yếu tố chính:
- Yếu tố vật chất: là những đặc tính vật lý, hoá học của sản phẩm, kể
cả những đặc tính vật lý, hoá học của bao bì với chức năng bảo quản chosản phẩm
- Yếu tố phi vật chất: bao gồm tên gọi, nhãn hiệu, biểu tượng, biểutrưng, hướng
dẫn sử dụng, cách nhận biêtsanr phẩm ( phương thức sắp xếp, bảo quản )thông tin về tập quán, thị hiếu, thói quen tiêu thụ sản phẩm của khách hàng
mà các nỗ lực của hoạt động tiếp thị phải lấy làm mục tiêu để thoả mãn
Theo quan điểm hiện đại này, sản phẩm vừa là cái đã có vừa là cáiđang và sẽ tiếp tục phát sinh trong quá trình biến đổi không ngừng của nhucầu như tập quán, thói quen tiêu thụ
Sản phẩm theo quan điểm này chính là sản phẩm cho người mua,người sử dụng Sự mở rộng, phát triển, chuyển hoá, thay thế của nhu cầu ở
Trang 7người tiêu dùng là rất đa dạng và phong phú, là cơ hội mở rộng phạm vicủa hoạt động tiếp thị trong mỗi doanh nghiệp.
Trong chiến lược tiếp thị chung của doanh nghiệp, chính sách sảnphẩm có một vị trí vô cùng quan trọng
Chỉ khi hình thành được chính sách sản phẩm, doanh nghiệp mới cóphương hướng đầu tư, nghiên cứu thiết kế, sản xuất hàng loạt Nếu chínhsách này không đảm bảo được sự tiêu thụ nghĩa là không có thị trường chắcchắn về sản phẩm thì những hoạt động nghiệp, do đó có những nội dung rấtrộng mà ta có thể đề cập đến một số hướng nội dung chủ yếu là chính sáchchủng loại, chính sách hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sản phẩm vàchính sách đổi mới chủng loại
Chỉ khi thực hiện tốt chính sách sản phẩm thì các chính sách giá cả,chính sách phân phối và chính sách giao tiếp - khuyếch trương mới có điềukiện triển khai một cách có hiệu quả
Chính sách sản phẩm bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện được cácmục tiêu của chiến lược tiếp thị chung, cụ thể là:
- Mục tiêu lợi nhuận: mức độ lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được sẽphụ thuộc
vào mối liên hệ giữa các yếu tố chất lượng và số lượng sản phẩm, sự mởrộng hay thu hẹp chủng loại sản phẩm, chi phí sản xuất và giá bán ra củasản phẩm
- Mục tiêu thế lực: khả năng thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường, liêntục đổi mới và
mở rộng sản phẩm của doanh nghiệp sẽ quyết địnhviệc tăng doanh số bánhàng, mở rộng thị phần, tạo được uy tín cho doanh nghiệp và sản phẩm
Trang 8- Mục tiêu an toàn: chính sách sản phẩm bảo đảm cho doanh nghiệptính ổn định trong tiêu thụ sản phẩm, tránh cho doanh nghiệp khỏi rủi ro,tổn thất trong kinh doanh Để thực hiện điều này, các doanh nghiệp thường
áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm, giảm thiểu sự rủi ro, hạn chếthiệt hại nếu có
1 Nội dung của chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sự tồn tạivàphát triển của doanh nghiệp, do đó nó có những nội dung rất rộng mà ta cóthể tới một số hướng nội dung chủ yếu là chính sách chủng loại, chính sáchhoàn thiệnvà nâng cao các đặc tính sản phẩm và chính sách đổi mới chủngloại
2.1 Chính sách chủng loại
Trong thực tế kinh doanh hiện nay, trên thế giới cũng như Việt Nam,nói chung ít có doanh nghiệp chỉ tập trung vào sản xuất một loại sản phẩm,hàng hoá duy nhất vì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng, phứctạp và thay đổi nhanh chóng, thị trường nguyên liệu, nhân công, công nghệbiến đổi không ngừng Tập trung vào một hoặc một số loại sản phẩm hạnchế sẽ làm cho doanh nghiệp dễ gặp rủi ro và không thực hiện được mụctiêu an toàn Do đó, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc xây dựng và thựchiện được một chính sách về chủng loại sản phẩm thích hợp, bao gồm:
Chính sách thiết lập chủng loại:
Trang 9Giúp doanh nghiệp tiếp tục bảo đảm giữ gìn vị trí đã có trên thịtrường bằng các sản phẩm chất lượng cao , đã có uy tín, quen thuộc vớikhách hàng Doanh nghiệp cần có biện pháp củng cố uy tín của sản phẩm,
vì đây cũng là uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Doanh nghiệp
có thể duy trì phần hiện có, củng cố lòng tin của khách hàng thông quanhững loại sản phẩm đang hoặc sẽ cung cấp chủng loại không lớn lắm, đặcbiệt là đối với máy móc kiểm tra, hiệu chỉnh Những sản phẩm mà doanhnghiệp có ưu thế về công nghệ, nguồn tiêu thụ ổn định và người tiêu dùngkhi đã quen thuộc và tín nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ ít chịutác động của yếu tố thị trường
Chính sách hạn chế chủng loại:
Sau một thời gian tung một loại sản phẩm ra thị trường có tính chấtthử nghiệm và cũng sau một thời gian nghiên cứu, hiệu chỉnh các thông sốcủa sản phẩm, doanh nghiệp nhận được thông tin phản hồi từ phía thịtrường để giúp doanh nghiệp nhận biết được sản phẩm nào được ưa chuộngnhất để xác định được một chủng loại hạn chế những sản phẩm cung cấpcho thị trường với những ưu thế chẳng hạn như giảm mức tiêu hao nhiênliệu, giảm trọng lượng, kích thước phù hợp với điều kiện sử dụng
Chính sách biến đổi chủng loại tiếp tục:
Là chính sách thay đổi thể thức thoả mãn nhu cầu, nhờ đó mà doanhnghiệp có thể nâng cao số lượng người tiêu thụ Sự biến đổi chủng loại nàykhông đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra những sản phẩm hoàn toàn mới màdoanh nghiệp có thể tạo ra một sản phẩm tương đối mới dựa trên cơ sở sảnphẩm đang tiêu thụ tốt nhưng có một số cải tiến nhỏ về kiểu dáng, côngdụng, tính năng Sản phẩm mới có thể được giữ bằng hoặc cao hơn giá sản
Trang 10phẩm gốc chút ít để tạo sự hấp dẫn với người tiêu thụ Chính sách biến đổichủng loại còn bao gồm cả việc cải tiến về hình dáng , vật liệu và cáchtrang trí bao bì sản phẩm Trong nhiều trường hợp, các đặc tính kỹ thuật và
sử dụng của sản phẩm mới còn giữ nguyên như cũ nhưng việc đơn giản làthay đổi mẫu mã, bao bì cũng có thể mang lại cho doanh nghiệp những cơhội tiêu thụ lớn
2.2 Chính sách hoàn thiện và nâng cao đặc tính sử dụng của các sản phẩm trong sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng:
Sản phẩm với tư cách là hàng hoá thường có nhiều công dụng Côngdụng của hàng hoá làm cho hàng hóa đó có giá trị sử dụng, song sở dĩ hànghoá có được những công dụng khác nhau vì nó có những đặc tính sử dụngkhác nhau Các đặc tính này sẽ thoả mãn những nhu cầu khác nhau việctiêu dùng chúng.Tổng hợp tất cả các đặc tính đó lại ta có được một nănglực tổng quát chung, thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng và gọi làchất lượng sản phẩm
Chính sách sản phẩm sẽ tập trung nghiên cứu các đặc tính sử dụng
và chất lượng sản phẩm trong mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình kỹthuật và kinh tế, đó là sản phẩm hoàn thiện về các thông số kỹ thuật, cácđặc tính sử dụng phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng sẽ được ngườitiêu dùng chấp nhận và doanh nghiệp thu được lợi nhuận
Chính sách hoàn thiện và nâng cao các đặc tính sử dụng của sảnphẩm được triển khai theo:
- Hoàn thiện về cấu trúc kỹ thuật sản phẩm
Trang 11- Nâng cao các thông số độ bền, an toàn.
- Thay đổi kiểu dáng, kích thước sản phẩm.Quan tâm đến màu sắc, mùi vịsản phẩm
- Thay đổi vật liệu chế tạo
- Hạn chế hoặc bỏ đi những chi tiết hay hư hỏng, ít phù hợp với khách hàng
để thay thế bằng những bộ phận, chi tiết được ưu chuộng
- Tăng cường tính hiệu dụng của hàng hoá
2.3 Chính sách đổi mới chủng loại:
Chính sách đổi mới chủng loại hướng vào việc phát triển một số sảnphẩm mới cho thị trường hiện tại hay phát triển một số sản phẩm mới chokhu vực mới của khách hàng Nhìn chung, trong giai đoạn trưởng thànhcủa các sản phẩm ghi trong danh mục chế tạo của doanh nghiệp, việc đổimới các chủng loại làm cho khối lượng tiêu thụ tăng lên, giúp cho doanhnghiệp chẳng những củng cố được khu vực thị trường hiện tại mà còn cókhả năng vươn ra chiếm lĩnh những phân đoạn mới của thị trường hoặcnhững thị trường mới,
vì điều này giúp mở rộng khả năng thoả mãn nhu cầu bằng những sảnphẩm mới, hoàn thiện về thông số kỹ thuật và các đặc tính sử dụng , tăngcường khả năng trao đổi các khu vực tiêu dùng, hạn chế sự suy thoái nhanhcủa sản phẩm
II XÁC LẬP CHÍNH SÁCH GIÁ TRONG DOANH NGHIỆP
Trang 12Xác lập chính sách giá đối với mỗi sản phẩm của các đơn vị sản xuấtkinh doanh là việc quy định một hoặc một số mức giá bán Mức giá báncần xác lập có thể là mức giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng hoặc chocác khâu trung gian ( đại lý, người bán buôn, người bán lẻ )
Chính sách giá của một sản phẩm không cố định khi sản phẩm đượctung ra thị trường mà nó được điều chỉnh một cách linh hoạt trong suốtvòng đời của sản phẩm, tuỳ theo tình hình biến động của thị trường nguyênvật liệu, thị trường lao động, mức độ cạnh tranh
Chính sách giá có tầm quan trọng đặc biệt với doanh nghiệp vì một
số nguyên nhân:
- Giá cả có ảnh hưởng to lớn đến khối lượng bán của doanh nghiệp
và thường xuyên là một trong những tiêu chuẩn được người mua hàng cânnhắc, lựa chọn trước tiên
- Giá cả có tác động mạnh mẽ đến thu nhập và do đó ảnh hưởng đếnlợi nhuận của doanh nghiệp
- Giá cả giữ một vai trò quan trọng đặc biệt đối với quá trình tái sảnxuất Giá cả biểu hiện tập trung các quan hệ về lợi ích kinh tế và vị trí, vaitrò của các đơn vị trên thị trường Vì vậy, việc xác lập một chính sách giáđúng đắn là điều cực kỳ quan trọng đối với các đơn vị sản xuất kinh doanhnhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi, có hiệu quả và tăng thị phần.Tuy nhiên, giá cả chịu tác độngcủa rất nhiều các nhân tố, sự hình thành vàvân động rất phức tạp nên việc xác định một chính sách giá hợp lý đòi hỏiphải giải quyết tổng hợp nhiều vấn đề
Trang 131 Các mục tiêu của chính sách giá:
Khi xác lập chính sách giá, doanh nghiệp phải hướng tới mọt số mụctiêu cụ thể, đó là gia tăng được khối lượng hàng hoá bán ra và từ đó giatăng được lợi nhuận thu về
1.1 Tăng khối lượng bán:
Việc đạt được một khối lượng bán ra nhất định và gia tăng khốilượng bán hàng luôn là mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp Việc xác lậpchính sách giá đúng đắn có thể thực hiện được mục tiêu này của doanhnghiệp vì giá cả là nhân tố cực kỳ quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ đếnkhối lượng bán do cầu về sản phẩm tỷ lệ nghịch với giá bán, tức là giá báncàng thấp thì số lượng bán càng cao và ngược lại tuy độ co giãn của cầu sovới giá có thể thay đổi theo loại sản phẩm và tình hình, hoàn cảnh nhưng về
cơ bản vẫn theo nguyên tắc trên
Trong một số trường hợp, mục tiêu khối lượng bán là mục tiêu chủyếu nhất của doanh nghiệp, khi đó việc xác định giá sẽ được thực hiện tuỳtheo những tác động của giá cả lựa chọn đối với khối lượng bán thị phầncủa doanh nghiệp Điều này có thể xảy ra trong một số trường hợp:
- Doanh nghệp muốn duy trì việc làm cho người lao động, hay duytrì khả năng sản xuất
- Khi chi phí sản xuất giảm mạnh theo khối lượng sản xuất sản phẩm
- Khi vị trí, thế lực, sự an toàn và lợi nhuận của doanh nghiệp phụ thuộcchặt chẽ vào số lượng hàng bán hoặc thị phần cần chiếm lĩnh
Trang 141.2 Mục tiêu lợi nhuận:
Đây là mục tiêu thường xuyên, lâu dài của doanh nghiệp, tuy nhiên
vị trí của nó cũng thay đổi theo từng trường hợp:
Trong trường hợp doanh nghiệp mới hay trong sản phẩm mới tung rathị trường thì lợi nhuận là mục tiêu ưu tiên hàng đầu vì doanh nghiệp mongmuốn nhanh chóng thu được lợi nhuận cao để có thể bán lại cho doanhnghiệp khác với giá ưu đãi hoặc khi doanh nghiệp mong muốn tạo ra nhanhchóng các nguồn tài chính cần thiết cho việc đầu tư của mình
Trong trường hợp khác, lợi nhuận chỉ được coi như là cần thiết dướidạng tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu dành cho người cung cấp vốn hoặc bảo đảm
sự cân bằng về tài chính của các hoạt động sản xuất kinh doanh hay của sảnphẩm
Giá bán có ảnh hưởng đến lợi nhuận của sản phẩm theo cách thức rấtphức tạp, bao gồm cả ảnh hưởng tới thu nhập và tới chi phí
2 Nội dung phương pháp xác lập giá:
Chính sách giá phải được xác lập trên cơ sở hai yếu tố chủ yếu làtình hình chi phí sản xuất của doanh nghiệp và những điều kiện khách quancủa thị trường, vì vậy một chính sách giá đạt hiệu quả là khi kết quả của sựphân tích những tác động tổng hợp từ hai yếu tố nói trên
2.1 Tính toán và tính chi phí:
Trang 15Trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất bao gồm những chi phí trongquá trình sản xuất: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí chung, chi phíquản lý, chi phí cho các kênh phân phối và chi phí cho các hoạt động yểmtrợ Tập hợp toàn bộ các chi phí này ta được tổng chi phí để sản xuất ra sảnphẩm.
Trong mối quan hệ với khối lượng hàng bán ra, tổng chi phí sản xuấtđược tập hợp theo hai loại là chi phí cố định và chi phí biến đổi
Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi khi khối lượng sảnphẩm sản xuất thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc giảm, nhưng nếu tínhcho một đơn vị sản phẩm thì nó lại thay đổi theo tỷ lệ nghịch Chi phí cốđịnh bao gồm : chi phí khấu hao tài sản cố định, vốn đầu tư cho sản xuất,chi phí tiếp thị cố định
Chi phí biến đổi là những chi phí thay đổi khi khối lượng sản phẩmthay đổi, tuy nhiên, tính cho một đơn vị sản phẩmthì nó lại tương đối ổnđịnh Đó là những chi phí về nghuyên vật liệu, tiền lương để sản xuất sảnphẩm Đó còn là những chi phí tiếp thị biến đổi như hoa hồng đại lý vànhững chi phí chung biến đổi như những chi phí phân bổ cho mỗi sản phẩmtheo tỷ lệ trên doanh số
Trang 16người ta phải phân tích hoà vốn để tìm ra điểm hoà vốn của sản phẩm đó,tức là xác định khối lượng hàng hoá cần thiết bán ra thị trường.
Để doanh số bán ra đủ bù đắp toàn bộ chi phí kinh doanh với giá cảthị trường đã xác định hay dự kiến
2.3 Phân tích và dự đoán thị trường
Việc phân tích thị trường và dự đoán sự vận động của thị trường làđiều kiện quan trọng và cần thiết để ra các quyết định về giá Phân tích thịtrường bao gồm các nội dung:
- Phân tích độ co giãn của cầu so với giá
- Phân tích, thống kê những thay đổi giá trước đây
- Điều tra để dự đoán khối lượng bán
2.4 Phân tích và lựa chọn mức giá dự kiến:
Dựa vào các căn cứ đã phân tích, trước hết doanh nghiệp xác địnhvùng giá của sản phẩm ( xác định vùng giới hạn trên và giới hạn dưới củavùng giá ), sau đó xác định các mức giá dự kiến từ phân tích chi phí vàphân tích thị trường Trong phần lớn các trường hợp , để thực hiện dự đoánmột cách chi tiết , người ta chỉ giữ lại vài mức giá bên trong vùng giá nhấtđịnh Mỗi mức giá sẽ được đánh giá dự đoán bằng các phương pháp vàphương tiện khác nhau, cụ thể là:
- Dự đoán chi phí, thu nhập và lợi nhuận
Trang 17- Dự đoán tác động dây chuyền đối với các sản phẩm khác nhau của doanhnghiệp.
- Dự đoán được phản ứng của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường
- Xác định thị phần hiện thực
- Quyết định lựa chọn mức giá tối ưu, là mức giá thoả mãn tốt nhấttoàn bộcác mục tiêu đã được quy định từ đầu, có tính đến sự cân bằng giữa cácmục tiêu đó Trường hợp không có mức giá nào thoả mãn những mục tiêu
đó thì phải nghiên cứu những giá mới và tiến hành đánh giá chung
hy vọng tăng khối lượng bán, thị phần, lợi nhuận của mình hoặc nhằm thựchiện những mục đích khác
Các doanh nghiệp thường áp dụng một số dạng chênh lệch chủ yếu:
- Thay đổi khối lượng mua
- Thay đổi theo thời gian
Trang 18- Giảm giá cho một số nhóm người tiêu dùng nhất định.
- Giảm giá cả sản phẩm tạm thời
III CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI - VẬN ĐỘNG HÀNG HOÁ
Chính sách phân phối là một chính sách quan trọng trong hệ thốngchính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối và chính sáchgiao tiếp - khuyếch trương
Phân phối ở đây được hiểu là những quyết định đưa hàng hoá Phân phối ởđây được hiểu là những quyết định đưa hàng hoá vào các kênh tiêu thụ sảnphẩm, là hệ thống tổ chức và công nghệ điều hoà, cân đối, thực hiện hànghoá để tiếp cận và khai thác hợp lý nhất nhu cầu của thị trường để đưa hànghoá từ nơi sản xuất đến khách hàng cuối cùng trong thời gian nhanh nhấtnhằm thu đạt lợi nhuận tối đa Trong nền kinh tế thị trường, phân phối hànghoá không dừng ở lại khâu quyết định khối lượng hàng để định hướng vàthực hiện việc chuyển giao danh nghĩa quyền sở hữu thông qua các hoạtđộng mua bán của trung gian để làm cầu nối giữa người sản xuất và ngườitiêu dùng cuối cùng mà bao gồm cả việc tổ chức vận hành các mạng lướitrung gian theo các yếu tố khác nhau
Chính sách phân phối có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Một chính sách phân phối hợp lý sẽ làm choquá trình kinh doanh an toàn, tăng cường được khả năng liên kết trong kinhdoanh, giảm được áp lực cạnh tranh và làm quá trình lưu thông hàng hoánhanh hơn, hiệu quả hơn Chính sách phân phối cũng phụ thuộc rất nhiềuvào chính sách sản phẩm và chính sách giá cả
Phân phối bao gồm nhiều yếu tố cơ bản cấu thành, cụ thể là:
Trang 19- Người cung ứng ( người sản xuất hoặc nhập khẩu ) và người tiêudùng cuối cùng: đại biểu tập trung nhất của người bán và người mua.
- Người trung gian ( các phần tử trung gian ): thường là các cá nhân,doanh nghiệp đứng giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng mangdanh nghĩa pháp nhân hoặc thể nhân để tham gia trực tiếp vào các hoạtđộng lưu thông hàng hoá
- Hệ thống kho tàng, bến bãi, phương tiện vận tải, cửa hàng đây là
bộ phận không thể thiếu được của quá trình phân phối hàng hoá
- Hệ thống thông tin thị trường, các dịch vụ mua bán và các hoạtđộng yểm trợ, khuyếch trương, nếu doanh nghiệp xử lý thông tin khôngchính xác dẫn đến việc ra quyết định phân phối không hợp lý, làm rối loạncác kênh lưu thông
Các yếu tố hợp thành này được tổ chức để thực hiếnự vận động hànghoá về hai phương diện : vận động tổ chức trao đổi danh nghĩa sở hữu vàvận động vật lý của hàng hoá Vận động tổ chức được thực hiện thông quaviệc hình thành các trung gian và hoạt động mua bán của họ để đưa hànghoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Vận động vật lý hàng hoá là việc phânloại chỉnh lý, đóng gói, vận chuyển hàng hoá để thoả mãn nhu cầu củangười tiêu dùng cuối cùng và phục vụ cho yêu cầu của các trung gian
IV CHÍNH SÁCH GIAO TIẾP - KHUYẾCH TRƯƠNG
Trong nền kinh tế hàng hoá, nhu cầu của người tiêu dùng rất phongphú và biến động phức tạp, đồng thời hàng hoá được cung cấp cũng rất
Trang 20phong phú và luôn thay đổi Tuy nhiên, sự vận động của các nhu cầu và sảnxuất hàng hoá không phải bao giờ cũng nhất trí với nhau Do đó, giao tiếp
và khuyếch trương ra đời giúp cho cung - cầu gặp nhau, để người mua hiểu
rõ hơn về sản phẩm mình cần tìm và người bán thoả mãn tốt hơn nhu cầucủa người mua, giảm được chi phí rủi ro trong kinh doanh Mặt khác, thôngqua giao tiếp - khuyếch trương, các doanh nghiệp tác động vào thay đổi cơcấu tiêu dùng để tiêu dùng tiếp cận phù hợp với tiến bộ khoa học công nghệ
và tạo ra nhu cầu
Giao tiếp - khuyếch trương làm cho việc bán hàng dễ dàng hơn, đưanhanh hàng vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối mộtcách hợp lývà thậm chí tạo ra những lợi thế về giá cả Do vậy, giao tiếp -khuyếch trương không chỉ là những chính sách, biện pháp hỗ trợ cho cácchính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối mà còn tăngcường kết quả thực hiện của các chính sách đó
Giao tiếp được thể hiện qua xúc tiến và yểm trợ, nhờ xúc tiến màdoanh nghiệp có thể kiểm tra được khả năng thích ứng của sản phẩm, sựhợp lý của chính sách giá và chính sách phân phối cũng như nhu cầu củathị trường
Khuyếch trương bao gồm các biện pháp và nghệ thuật mà các nhàkinh doanh dùng để thông tin về hàng hoá, tác động vào người mua, lôi kéongười mua về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho việc bán hàng Thôngqua hoạt động khuyếch trương, doanh nghiệp làm cho người tiêu dùng cuốicùng biết được vị thế của mình để bán hàng được nhiều hơn và nhanh hơn
1 Nội dung chính sách giao tiếp - khuyếch trương
Trang 21Giao tiếp - khuyếch trương bao gồm các nội dung chủ yếu: xúc tiếnbán hàng, quảng cáo và các hoạt động yểm trợ
1.1 Xúc tiến bán hàng
Xúc tiến bán hàng là hoạt đông của người bán tác động vào tâm lýngười mua để tiếp cận người mua, nắm bắt cụ thể hơn nhu cầu và phản ánhcủa khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp khi khách hàng tiếp nhậnthông tin quảng cáo, tranh thủ, lôi kéo sự ủng hộ của công chúng, giới thiệuchương trình bán hàng, hướng dẫn sử dụng hàng hoá
Xúc tiến bán hàng bao gồm những nội dung cụ thể:
- Xây dựng các mối quan hệ quần chúng nhằm tạo ra lòng tin củakhách hàng đối với chủ hàng và hàng hoá, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ
và tạo sự ràng buộc với chủ hàng Việc xây dựng mối quan hệ với kháchhàng được thực hiện bằng các biện pháp :
- Bán thử: được thực hiện sau khi đã có quảng cáo để biết được quy
mô và tăng cường độ mua hàng của khách hàng, qua đó dự đoán nhu cầu
Trang 22đối với sản phẩm, cũng như phản ứng của khách hàng đối với hàng hoá vàchính sách của mình.
1.2 Quảng cáo
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin để truyền vềsản phẩm hoặc cho các phần tử trung gian hoặc các khách hàng cuối cùngtrong khoảng không gian và thời gian nhất định
Quảng cáo có tác dụng làm cho hàng hoá bán được nnhiều hơn,nhanh hơn và nhu cầu được biẻu hiện nhanh hơn Qua quảng cáo, doanhnghiệp hiểu được nhu cầu của thị trường và phản ứng của thị trường đối vớisản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tốt hơn
Các chức năng quảng cáo:
- Tạo ra sự chú ý đối với khách hàng: quảng cáo tác động trực tiếptới tâm lý người nhận tin, đi từ quá trình chú ý đến tạo ra ý thích, đưa raquyết định mua và tiến tới hành động mua, để biến khách hàng tiềm tàngthành khách hàng thực tế
- Thông tin về hàng hoá, dịch vụ: quảng cáo cũng là một loại thôngtin thị trường và có một số đặc điểm:
Quảng cáo chủ yếu thông tin về hàng hoá và dịch vụ(thông tin
về sản phẩm)
Thông tin của quảng cáo, dù là thông số về chất lượng hàng hoá, hiệu quảkinh tế đều là thông tin khái quát
Trang 23Thông tin mang tính cục bộ còn chủ quan thì chưa có sự thừa nhận của thịtrường.
Chính sách quảng cáo
Chính sách quảng cáo của doanh nghiệp bao gồm các nội dung:
Xác định mục tiêu của quảng cáo
Xác định chi phí dành cho quảng cáo
V SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM, CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ, CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI VÀ CHÍNH SÁCH GIAO TIẾP - KHUYẾCH TRƯƠNG TẠI CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG VMS.
Các chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối vàchính sách giao tiếp khuyếch trương có tầm quan trọng rất lớn đối vớidoanh nghiệp Chỉ khi thực hiện tốt bốn chính sách này, các doanh nghiệp
Trang 24mới có thể định hướng được hoạt động sản xuất kinh doanh một cách đúngđắn theo đòi hỏi của thị trường.
Công ty thông tin di động VMS là một doanh nghiệp Nhà nước hoạtđộng trong lĩnh vực cung cấp sản phẩm dịch vụ thông tin Trong nhữngnăm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của toàn ngành bưu chính -viễn thông Việt Nam, công ty VMS đã vươn lên mạnh mẽ, không ngừng
mở rộng mạnh lưới thông tin trên các địa bàn trong cả nước, cung cấpnhiều dịch vụ tiên tiến, nhanh chóng, an toàn và tiên lợi cho khách hàng.Tuy nhiên, khi thị trương đòi hỏi chuyển hướng cung cấp dịch vụ từ chiềurộng sang chiều sâu với các yêu câù ngày càng khắt khe hơn, cùng với sựphát triển của toàn thế giới, thì việc sử dụng kiến marketing vào thực tế tạicông ty VMS để đáp ứng tốt nhu cầu, duy trì tị trường hiện tại đồng thờitiếp tục mở rộng thị trường và đưa dịch vụ mới vào kinh doanh đã trở thànhmột yêu cầu cấp bách
Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về tình hình thực hiện chính sách sảnphẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối và chính sách giao tiếpkhuyếch trương tại công ty thông tin di động VMS trong thời gian qua ởchương tiếp theo
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM, CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ, CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI VÀ CHÍNH SÁCH GIAO TIẾP - KHUYẾCH TRƯƠNG TRONG KINH DOANH TẠI CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG VMS
I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG VMS
1 Sơ lược về dịch vụ điện thoại di động GSM
Trang 25Mạng viễn thông GSM ( Global system for mobile communications )
là một trong các ứng dụng của kỹ thuật viễn thông có nhu cầu lớn nhất vàphát triển nhanh nhất Ngày nay, nó chiếm tỷ lệ phần trăm lớn nhất vàkhông ngừng tăng trong toàn bộ các thuê bao điện thoại trên thế giới.Trong tương lai lâu dài, các hệ thống GSM sử dụng kỹ thuật số đầy triểnvọng và sẽ trở thành phương thức thông tin vạn năng Trước khi có GMS,hầu hết các nước đã có một mạng điện thoại di động với những tiêu chuẩn
về dịch vụ, chất lượng và vùng phủ sóng khác nhau Những hệ thống điệnthoại di động này mang tính độc lập cao, không thể làm việc cùng nhau Vídụ: một thuê bao ở Anh không thể sử dụng được tại Itali và ngược lạikhách hàng phải mua hoặc thuê bao một máy điện thoại khi họ ở nướcngoài Chính vì vậy, một hệ thống thông tin di động chung cho toàn thếgiới trở nên rất cần thiết Năm 1982, tại hội nghị Bưu chính và viễn thông ởchâu Âu, hội đồng các cơ quan Bưu chính viễn thông châu Âu đã phác thảomột số đặc điểm của hệ thống mới nhằm làm mục tiêu cho các nước nghiêncứu Những đặc điểm đó là:
- Có dung lượng cao
- Trở thành tiêu chuẩn chung
- Chi phí cho trang thiết bị thấp
- Sử dụng mạng điện thoại cầm tay thuận tiện
- Cung cấp nhiều dịch vụ mới
Ngoài ra, những đòi hỏi về độ an toàn cao và chất lượng cuộc gọicũng được nâng cao Để đáp ứng yêu cầu đó, hệ thống thông tin di độngtoàn cầu kỹ thuật số ( GSM ) được ra đời năm 1990 Hiện nay, đã có trên
100 nhà khai thác cung cấp mạng lưới GSM trên 80 quốc gia
Trang 26Â m thanh Mã hoá tại máy gọi Trạm thu phát Máy nhận Giải
mã
Sự ra đời của GSM còn phá vỡ thế độc quyền của hệ thống thông tin
di động từng quốc gia, làm giảm giá các thiết bị hệ thống và máy điện thoại( bởi sự ra đời của các công ty chuyên sản xuất thiết bị thông tin di độngxuyên quốc gia như Ericsson của Thuỵ Điển, Nokia của Phần Lan,Motorola của Mỹ, Siemen của Đức ) và giá cả dịch vụ khác Ngoài ra,những lợi ích mà mạng lưới thông tin di động toàn cầu GSM mang lại là rấtlớn, đưa lại chất lượng cuộc gọi cao
Trước khi có mạng GSM, các mạng thông tin di động khác hoạtđộng theo nguyên tắc sóng điện từ truyền trực tiếp từ máy gọi sang máy bịgọi Với hình thức này, chất lượng cuộc gọi bị ảnh hưởng lớn bởi môitrường Trong khi một cuộc gọi trên mạng GSM kỹ thuật số được thực hiệnnhư sau:
Như vậy, GSM mang lại chất lượng cuộc gọi rất cao và khả năngnghe trộm là không thể có do thông tin được mã hoá trước khi truyền đi
An toàn cho việc sử dụng của khách hàng vô cùng quan trọng, việc
sử dụng trái phép là không thể xảy ra vì để tiến hành cuộc gọi, khách hàngcần phải có một điện thoịa di động và một Sim Card được cài vào máy,mạng lưới sẽ tự động tiến hành một thủ tục để kiểm tra xem Sim Card đó
có hợp pháp không, chỉ khi Sim Card phù hợp mới có thể tiến hành cuộcgọi được
Trang 27Có nhiều những dịch vụ và đặc điểm được cung cấp tạo thuận lợicho khách hàng như:
- Dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi ( Call Forwarding )
- Dịch vụ chờ cuộc gọi ( Call Waiting )
- Dịch vụ chặn cuộc gọi ( Call Barring )
- Dịch vụ truyền tin ngắn ( SMS )
- Thư nói ( Voice - Mail )
- Truyền số liệu và Fax
Cấu tạo hệ thống GSM bao gồm một số thiết bị cơ bản mà sốlượng của nó liên quan mật thiết đến vùng phủ sóng:
- Trạm phát BTS ( Base Transceiver Station ): cung cấp việc bao phủsóng điện tử cho người sử dụng điện thoại di động Mỗi BTS có 4 kênh- tối
đa có 6 kênh - mỗi kênh cho người ta sử dụngcung một thời gian là 8 cuộcgọi hoạt động
- Trạm kiểm soát gốc BSC (Base Station Controller ) Một nhóm cáctrạm BTS được kiểm soát bởi một BSC Nhiệm vụ của BSC bao gồm: điềukhiển các cuộc gọi sao cho thông tin được thông suốt, kết nối đến trungtâm, chuyển mạch MSC để kết nối, điều khiển các cuộc gọi đi và đến
- Trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động MSC (Mobile ServiceSwitching Centre): có nhiệm vụ kiểm soát các cuộc gọi đến và đi từ mạngđiện thoại cố định công cộng và các mạng di động công cộng, làm giaodiện giữa mạng điện thoại công cộng với mạng khác
- Ngoài ra các bộ phận khác còn có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụkhác nhau như chuyển vùng địa phương, quốc tế, hạn chế cuộc gọi, các
Trang 28dịch vụ giá trị gia tăng, trung tâm vận hành bảo dưỡng, trung tâm kiểm soátmạng lưới.
Có thể nói, với tất cả những ưu điểm trên, cho tới nay GSM vẫn là hệthống hiện đại nhất Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện hệ thống CDMA( Code divison multiple access ), theo đánh giá của các chuyên gia là cónhiều ưu điểm hơn GSM Hiện nay, CDMA đang được nhiều nước nghiêncứu, triển khai và lấy đó làm tiêu chuẩn cho hệ thống điện thoại di độngcủa mình Với xu hướng này, công ty thông tin di động cũng xác địnhCDMA sẽ là hướng phát triển công nghệ trong khoảng 7 - 10 năm tới Tuyvậy, công nghệ CDMA vẫn còn trong quá trình thử nghiệm, chưa được ứngdụng rộng rãi trên nhiều nước, hiện nay mới chỉ được áp dụng ở Mỹ GSMđang được phổ biến ở nhiều nước, tạo điều kiện cho các nước tiến hànhliên kết thực hiện dịch vụ chuyển vùng quốc tế, là dịch vụ trong tương lai
sẽ làm tăng đáng kể doanh thu điện thoại di động
2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty thông tin di động VMS
Công ty thông tin di động ( tên tiếng Anh là Vietnam Mobile
Telecommunication Services Co viết tắt là VMS ), thành lập ngày
16/4/1993 theo quyết định số 321/QĐ-TCCBLĐ của Tổng cục trưởng Tổngcục Bưu điện Quyết định này nêu rõ: VMS là doanh nghiệp Nhà nướchạch toán độc lập, trực thuộc Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam
Đến ngày 25/10/1994 được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ,Tổng cục bưu điện đã ký quyết định thành lập Công ty thông tin di động, làmột doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập trực thuộc Tổng cục bưuđiện theo nghị định 388/CP
Trang 29Bắt đầu ngày 10/5/1994, Công ty chính thức đưa dịch vụ này vàohoạt động bằng việc khánh thành mạng lưới thông tin di động GSM củacông ty tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà, Vũng Tàu Ngaytrong ngày đầu tiên đã cung cấp hơn 100 máy thuê bao.
Ngày 1/7/1994, Công ty thông tin di động VMS được phép củaTổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã tiếp nhận và khai thác,kinh doanh dịch vụ thông tin di động GSM tại Hà Nội
Tuy nhiên với số vốn điều lệ hơn 8 tỷ đồng VN, công ty gặp phải rấtnhiều khó khăn do thiếu vốn, công nghệ cho nhiệm vụ được giao Tronggiai đoạn này công ty đã có những bước đi vững chắc, khẳng định vị trí củamình trên thị trường mới mẻ ở Việt Nam Đến hết năm 1994 ( tức là saugần 8 tháng hoạt động ) công ty đã có 3200 thuê bao so với mức 10.000thuê bao của CALLING đang độc chiếm toàn bộ thị trường phía Nam
Bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của Công ty thông tin diđộng VMS được đánh dấu bàng hợp đồng hợp tác kinh doanh ( BCC ) vớitập đoàn Comvik/Kennivik của Thuỵ Điển ngày 19/5/1995 Trong đó:
Thời hạn thực hiện hợp đồng là 10 năm kể từ ngày ký
Trách nhiệm của hai bên hợp doanh:
Bên Việt Nam:
- Cung cấp và chịu chi phí thuê địa điểm, nhà xưởng để thiết bịlắp đặt các thiết bị khai thác mạng thông tin di động
Trang 30- Tuyển dụng và trả lương cho các nhân viên người Việt Nam.
- Cung cấp và chịu chi phí về điện, nước cho việc khai thácmạng thông tin di động
- Đảm bảo việc đấu nối với mạng chuyển mạch điện thoại côngcộng, trung kế nội hạt, trung kế đi tổng đài quốc tế cũng như việc truyềndẫn khác
- Chịu trách nhiệm nhà nước về việc khai thác mạng lưới hệthống điện thoại di động
Bên nước ngoài:
- Góp 120.000.000 USD, bằng thiết bị máy móc và tiền nướcngoài
- Cung cấp phụ kiện cho hệ thống thiết bị và chịu cước phí bảodưỡng thiết bị
- Cung cấp thiết bị văn phòng cho hoạt động của hợp đồng và
hệ thống máy tính phục vụ việc quản lý thuê bao, tính cước, quản lý hànhchính và các mục tiêu khác
- Hỗ trợ bên Việt Nam thu xếp các nguồn tài chính để trang bị
hệ thống kiểm tra thuê bao thông tin di động
- Đảm bảo kỹ thuật khai thác và quản lý, tổ chức, đào tạo nhânviên người Việt Nam và chuyển giao công nghệ để bên Việt Nam quản lýtốt mạng lưới
Trang 31- Cung cấp các chuyên gia nước ngoài và chịu chi phí cần thiếtcho các chuyên gia nước ngoài.
Ngày 1/8/1995 theo Nghị định 51/CP của Chính Phủ, công ty thôngtin di động Việt Nam ( VMS ) trở thành đơn vị thành viên hạch toán độclập trực thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trong quyết định thành lập công ty đã quy định rõ nhiệm vụ của công ty như sau:
- Xây dựng mạng lưới thông tin di động hiện đại, sử dụng côngnghệ tiên tiến, kết hợp nối mạng thông tin di động toàn cầu và khu vực, kếthợp nối mạng viễn thông cố định
- Cung cấp loại hình dịch vụ thông tin di động đa dạng: điệnthoại, nhắn tin, Fax, truyền số liệu, báo động, báo cháy, cấp cứu phục vụnhu cầu thông tin của lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, các cấp phục vụ an ninh,quốc phòng, kinh tế, văn hoá xã hội, y tế và phục vụ đời sống nhân dân cảnước
Công ty cũng được quyền:
- Kinh doanh dịch vụ thông tin di động trong cả nước cụ thể là:lắp đặt khai thác hệ thống điện thoại di động và nhắn tin
- Lắp ráp và sản xuất các thiết bị điện thoại di động và nhắn tin
- Xây dựng giá thành sản phẩm định mức tiền lương trên cơ sởnhững quy định của nhà nước và tổng công ty
Trang 32Với hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC và là doanh nghiệp nhànước thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập đã tạo điều kiện thuận lợi choVMS mở rộng vùng phủ sóng và khai thác dịch vụ di động.
Theo nghị định 51/CP, ngày 1/8/1995 công ty thông tin di độngVMS trở thành đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam Sở dĩ có sự chuyển đổi này do chủtrương của Chính phủ, tách biệt quyền quản lý và quyền kinh doanh: Tổngcục Bưu điện trở thành cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý nhànước về lĩnh vực Bưu chính Viễn thông của cả nước, Tổng công ty Bưuchính Viễn thông Việt Nam trở thành một doanh nghiệp nhà nước hoạtđộng bình đăngr với các doanh nghiệp khác trên cả nước trong lĩnh vựcBưu chính Viễn thông
Sau 7 năm phát triển công ty VMS đã tạo lập được một vị trí vữngchắc trên thị trường thông tin di động hiên nay Kết quả đó xuất phát từkinh nghiệm quản lý của Ban Lãnh Đạo kết hợp với sự thống nhất hoạtđộng của đội ngũ cán bộ công nhân viên, tuy gặp phải nhiều khó khănnhưng trong quá trình vừa phát triển vừa học hỏi, công ty đã nỗ lực vươnlên phát triển với mức tăng trưởng nhanh chóng hơn 50% trong giai đoạn
Trang 33Năm 2000, cả nước có hơn 275.000 thuê bao di động, VMS chiếm192.250 thuê bao, Vinaphone chiếm 70.500 và Call-link là 7.250 Thị phầnthị trường được biểu thị trong biểu sau
Biểu1: Tỷ phần thị trường thông tin di động Việt Nam 2000
Về phạm vi phủ sóng:
Hoạt động trong lĩnh vực thông tin di động vùng phủ sóng là yếu tố
đầu tiên, quyết định đem lại cho khách hàng dịch vụ tốt nhất Bởi lẽ kháchhàng sử dụng điện thoại di động với mục đích cơ bản là để có thể thực hiệnliên lạc cho dù đang ở bất cứ nơi nào Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng,
để thực hiện phương châm“ Mọi lúc, Mọi nơi“ VMS đã và đang đẩy mạnhtiến độ đầu tư phát triển mạng lưới
- Ban đầu đi vào khai thác tháng 8 năm 1993, mạng lưới thông tin diđộng chỉ có ở Hà Nội, đến tháng 5 năm 1994 mới triển khai hoạt động tại
TP HCM, Biên Hoà, Vũng Tàu
Trang 34- Tới năm 1996 mạng lưới đã phủ rộng 41 thị xã thị trấn và thànhphố với 3 tổng đài và 101 trạm phát thu phát vô tuyến.
- Tháng 12 năm 1997 công ty đã mở rộng vùng phủ sóng trên 72 thị
xã thị trấn và thành phố trên toàn quốc với 4 tổng đài và trên 159 trạm phátthu vô tuyến với dung lượng 185.500 thuê bao
Bảng 2: Phát triển mạng lưới tính đến 31/12/2000
Số tỉnh
Số TP, thị
xã thị trấn
Số MSC
Dung lượng Tổng đài BSC Site
Ngoài ra, VMS đang xúc tiến đầu tư phát triển các dịch vụ phụ, dịch
vụ giá trị gia tăng khác nhằm thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng,nâng cao khả năng cạnh tranh như dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi, dịch vụgiữ chờ cuộc gọi, dịch vụ hộp thư thoại, dịch vụ gửi Fax, và sắp tới dịch vụPrepaid Card ( thẻ trả trước ), thực hiện Roaming ( chuyển vùng ) quốc tế
mà qua đó khách hàng của VMS có thể sử dụng điện thoại di động củamình ở nước ngoài
Để cung cấp một khối lượng đa dạng máy, VMS đã tiến hành liênkết với nhiều hãng sản suất điện thoại di độngnổi tiếng trên thế giới nhưNokia, Ericsson, Siemen, Philips, Motorola, thực hiện quảng cáo và đưa