Dạy học truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân chương trình Ngữ Văn 12 theo hướng tiếp cận thi pháp học ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐINH THỊ NGỌC MAI DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VỢ NHẶT CỦA KI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ NGỌC MAI
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN
(NGỮ VĂN 12, TẬP 2) THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ NGỌC MAI
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN
(NGỮ VĂN 12, TẬP 2) THEO HƯỚNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, người viết đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp
đỡ Nhân dịp này, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới quý thầy, cô
giáo của trường Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội – những người đã nhiệt
tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho người viết trong thời gian học tập
Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đoàn Đức Phương – người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ người viết suốt quá trình thực hiện cho
tới khi hoàn thành luận văn này
Người viết cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, các học viên lớp cao học Lý luận và phương pháp dạy học Ngữ văn khóa 10, Đại học Giáo dục cùng
toàn thể thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Vũ Duy Thanh, trường
THPT Tô Hiến Thành đã nhiệt tình hỗ trợ và đóng góp ý kiến để luận văn được
hoàn thành đúng tiến độ
Cuối cùng, do điều kiện về thời gian và khả năng của bạn thân có hạn nên luận văn có thể không tránh khỏi những thiếu sót Do đó, người viết rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô, quý độc giả để luận văn
được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10, năm 2016
Tác giả
ĐINH THỊ NGỌC MAI
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện hành 9
1.1.2 Khái lược về thi pháp học 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Tình hình vận dụng thi pháp trong dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông 22
1.2.2 Thực trạng dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của tác giả Kim Lân trong chương trình Ngữ văn 12 23
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2 TÍCH CỰC HÓA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VỢ NHẶT CỦA TÁC GIẢ KIM LÂN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP HỌC 30
2.1 Một số vấn đề thi pháp trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân 30
2.1.1 Cách thức sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu 30
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 37
2.1.3 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 38
2.1.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 40
2.1.5 Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật 49
2.1.6 Điểm nhìn trần thuật 55
2.2 Kết hợp các phương pháp dạy học tích cực theo hướng tiếp cận thi pháp học đối với tác phẩm Vợ nhặt 60
2.2.1 Phương pháp diễn giảng 60
Trang 62.2.2 Phương pháp dạy học nêu vấn đề 62
2.2.3 Phương pháp đàm thoại 65
2.2.4 Phương pháp trực quan 69
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VỚI TÁC PHẨM VỢ NHẶT CỦA TÁC GIẢ KIM LÂN 78
3.1 Giáo án thực nghiệm 78
3.2 Thực nghiệm cụ thể bài học 87
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 87
3.2.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 87
3.2.3 Nội dung thực nghiệm 88
3.2.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 88
3.2.5 Kết quả thực nghiệm 88
3.2.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 100
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn chương là một bộ môn nghệ thuật có đặc thù riêng không giống với các ngành khoa học khác Văn chương có khả năng bồi dưỡng cho học sinh những năng
lực và năng khiếu thẩm mỹ, nhận thức thẩm mỹ góp phần xây dựng nhân cách con
người, bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm cho học sinh
Việc tiếp nhận tác phẩm văn học trong thời đại ngày một phát triển như hiện nay đang ngày càng trở nên quan trọng khi các em học sinh đã không còn nhiều
hứng thú với văn học như trước Đây chính một thách thức không nhỏ đối với
những người “chèo lái con thuyền giáo dục”
Là một cá nhân quan tâm đến vấn đề dạy học, khi chọn lựa đề tài Dạy học
truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Ngữ văn 12, tập 2) theo hướng tiếp cận thi pháp
học, người viết dựa vào các lý do dưới đây:
- Do yêu cầu của xã hội đối với dạy học môn Ngữ văn hiện nay Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
đã xác định môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là môn học về khoa học xã hội và
nhân văn, môn học công cụ và cũng là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mĩ Ngữ
văn là một môn học quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển trí tuệ và các năng lực
của người học Việc dạy và học môn Ngữ văn đã và đang gặt hái nhiều thành công,
mang lại cho người học những rung cảm thẩm mĩ cùng với tầm nhìn rộng lớn hơn về
cuộc sống,…
Bên cạnh những thành công đáng kể, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam cũng còn bộc lộ không ít những hạn chế về nhiều mặt Chính
điều này đã thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội với yêu cầu đổi mới chương
trình; sách giáo khoa cũng như phương pháp dạy học môn Ngữ văn
- Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học văn trong chương trình giáo dục phổ thông nói riêng
Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002, tr.14) đã khẳng định: “Chương trình, giáo trình, phương pháp
giáo dục chậm đổi mới Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện,
Trang 8nặng về thi cử Thực trạng giáo dục này đã diễn ra một thời gian dài và chưa đáp
ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo…” (Luật giáo dục, điều 27)
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc cải cách toàn diện giáo dục THPT và đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục
phổ thông hiện nay
Trong đó, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của Bộ Giáo dục và
Đào tạo Dạy học văn từ hướng tiếp cận thi pháp đang được đặc biệt chú ý và bước
đầu đạt được những kết quả đáng mong đợi
- Tiếp cận thi pháp học – một hướng đi mới đầy tiềm năng trong dạy học tác phẩm văn học
Giáo sư Trần Đình Sử đã từng nhận định: Thi pháp học đem lại những phạm trù mới, những đề tài mới cho nghiên cứu văn học như con người, không gian, thời
gian, trần thuật, điểm nhìn, đối thoại,… mở rộng các cánh cửa tiếp cận văn bản Do
đó, việc vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu, đổi mới dạy học tác phẩm văn
chương trong nhà trường đối với ngành Giáo dục Việt Nam là rất cần thiết Nó sẽ
thổi một làn gió mới cho việc đổi mới phương pháp dạy và học, giúp học sinh biết
cách tìm hiểu một tác phẩm văn học theo thể loại và khiến các em yêu thích môn
Văn hơn bởi mục đích của dạy học tác phẩm văn chương trong giai đoạn hiện nay
nói theo Nguyễn Thị Khánh Dư là “xem tác phẩm như một sáng tạo nghệ thuật chứ
không phải là một phép phản ánh đơn giản Nhằm khám phá vẻ đẹp của văn
chương nghệ thuật bằng những nét đặc sắc và phong cách nghệ thuật của tác phẩm
đem đến cho người đọc những giá trị đích thực”
Tuy nhiên, việc vận dụng thi pháp cũng như việc tìm ra phương pháp thích hợp để tổ chức quá trình tiếp nhận cho học sinh theo hướng này còn diễn ra chậm
Trang 9một số truyện ngắn được xếp vào hàng “kinh điển” trong văn xuôi Việt Nam thế kỷ
XX
Nhà văn Nguyễn Khải đã từng coi Kim Lân là một trong số ít nhà văn có tài
năng thiên phú, dường như “không phải người viết mà là thần viết, thần mượn tay
người để viết nên những trang sách bất hủ” [26; tr.628]
Cái tên Kim Lân đã được công chúng biết và nhớ đến từ rất sớm, khi ông cho
đăng Đứa con người vợ lẽ trên báo Trung Bắc chủ nhật năm 1942 Hơn tám mươi
năm cuộc đời và gần sáu mươi năm đau đáu với nghiệp văn chương nhưng gia tài
ông để lại chỉ khoảng ngoài ba mươi tác phẩm, mà chủ yếu là truyện ngắn Mặc dù
chỉ vỏn vẹn chừng ấy “những đứa con tinh thần” nhưng “đứa” nào cũng có một chỗ
đứng vững chắc, thậm chí là trang trọng trong lòng độc giả nước nhà
Truyện ngắn Kim Lân không chỉ tạo nên một bản sắc rất riêng cho người sáng tạo ra nó mà còn đóng góp không nhỏ vào việc hoàn thiện và hiện đại hóa một
thể loại văn học vẫn còn mới mẻ của văn đàn dân tộc từ những buổi đầu của thế kỉ
XX
Kim Lân cũng là một trong số không nhiều nhà văn luôn có tác phẩm được lựa chọn giảng dạy trong nhà trường phổ thông và chọn làm đề thi văn của nhiều
trường Đại học trong cả nước Từ năm 1995, ông có hai tác phẩm được đưa vào
chương trình dạy học là Làng (lớp 9, Phổ thông Cơ sở) và Vợ nhặt (Lớp 12, Phổ
thông Trung học) Sau năm 1995, trong chương trình chỉnh lý sách giáo khoa, hai
tác phẩm kể trên vẫn tiếp tục giữ nguyên vị trí tại chương trình giảng dạy Ngữ văn
phổ thông
- Vợ nhặt – tác phẩm ưu tú của nhà văn Kim Lân và cùng là một trong
những thành tựu xuất sắc của nền văn học cách mạng
Vợ nhặt có tiền thân là truyện Xóm ngụ cư, ra đời năm 1948, là một trong
những tác phẩm nổi bật trong giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 1945
của Kim Lân Tác phẩm thực sự mở ra cho rất nhiều thế hệ bạn đọc một cái nhìn
khác về hình ảnh người nông dân trong cuộc sống
Truyện ngắn viết về một giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc: Nạn đói năm 1945 - Từ Quảng Trị đến Bắc Bộ Tác phẩm mang giá trị nhân văn cao cả:
niềm tin không bao giờ tắt hướng về con người
Trang 10Trước thời kì thống nhất sách giáo khoa, Vợ nhặt là tác phẩm đã có mặt
trong cả ba bộ sách: Văn học 12 chưa phân ban; Ngữ văn 12 thí điểm ban Khoa học
Xã hội và Nhân văn; Ngữ văn 12 thí điểm ban Khoa học Tự nhiên Ở thời điểm hiện
nay, tác phẩm này vẫn có mặt trong hai bộ sách thuộc Chương trình chuẩn và
Chương trình nâng cao
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình dạy học theo hướng thi pháp học
Từ giữa thế kỉ XX, công việc nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học theo tinh thần thi pháp học là xu hướng chung trên phạm vi toàn thế giới Ở Việt Nam, từ
sau Đổi mới 1986 cho đến nay, việc nghiên cứu thi pháp học cũng rất được quan
tâm, đã và đang diễn ra với đội ngũ các nhà nghiên cứu đông đảo Ngay từ những
năm 1980, các nhà nghiên cứu văn học như Phạm Vĩnh Cư, Duy Lập, Vương Trí
Nhàn, Lại Nguyên Ân,… đã giới thiệu thi pháp học Liên Xô vào Việt Nam, dịch
một số công trình của Bakhtin, Khrapchenco,… Đồng thời, chuyên đề thi pháp học
của Trần Đình Sử mở tại Đại học Sư phạm Hà Nội cũng như một số cuộc hội thảo
chuyên đề về thi pháp học cũng được tổ chức tại Hà Nội đã tạo nên một bầu không
khí sôi động trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Bên cạnh đó, việc giới
thiệu các lí thuyết, trường phái nghiên cứu của phương Tây cũng được thực hiện từ
khi có sự “cởi trói” và “mở cửa” từ năm 1986 Đến cuối năm 1990, thi pháp học đã
được Trần Đình Sử viết thành giáo trình đầu tiên ở Việt Nam dành cho bậc đại học
và cao đẳng Như vậy, việc phổ biến tri thức thi pháp học trong nhà trường đã có bề
dày gần 30 năm
Trong những năm gần đây, chương trình Ngữ văn phổ thông cũng đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến thi pháp học Nội dung chương trình dạy học đã chú ý
nhiều hơn đến vấn đề này Nhiều nhà nghiên cứu và phương pháp đã và đang có
những công trình hướng vào việc tiếp cận tác phẩm văn chương trong nhà trường
theo hướng tiếp cận thi pháp học như: luận văn Thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Đại học
Giáo dục Dạy học bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong chương trình Ngũ
văn 10 theo hướng tiếp cận thi pháp học của Nguyễn Thị Bích Ngọc năm 2014;
luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục Dạy học Hạnh phúc một tang gia (Trích Số đỏ
- Ngữ văn 11 – Ban cơ bản) từ thi pháp tiểu thuyết của nhà văn Vũ Trọng Phụng
của Nguyễn Văn Tuấn bảo vệ năm 2010; luận văn Thạc sĩ, Đại học Giáo dục của
Trang 11Nguyễn Thị Doanh năm 2010 Từ hướng tiếp cận thi pháp, vận dụng vào việc giảng
dạy tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông; luận văn
Thạc sĩ, Đại học Giáo dục Dạy học bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh
Quan theo hướng khai thác thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm của Nguyễn Thị
Thanh Thảo năm 2015;…
2.2 Về tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
Đối với tác giả Kim Lân, người viết tìm thấy không ít công trình nghiên cứu
như: Văn xuôi Kim Lân in trong Tạp chí Văn học (số 6) năm 1986 của Lại Nguyên
Ân; Ngòi bút Kim Lân và sự cày xới trên cánh đồng quê của Kim Hoa (1994) in
trong Báo Nhân dân chủ nhật; Nhà văn trong nhà trường – Kim Lân của Hoài Việt
(1999) in bởi NXB Giáo dục, Hà Nội; luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội &
Nhân văn Văn hóa làng trong truyện ngắn Kim Lân của Vũ Thị Đỗ Quyên năm
2006; Kim Lân – nhà văn của những phận người bé mọn của Phong Lê in trong Tạp
chí Sông Hương, số 223, năm 2007; luận văn Thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội 2
Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân của Nguyễn Thị Ngọc Quyên năm
2010; luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên của Khổng Thị Minh Hạnh
năm 2012 là Cái nhìn thời gian, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim
Lân,…
Khi sưu tầm những chuyên luận, nghiên cứu về truyện ngắn Vợ nhặt người
viết tìm thấy một số công trình nghiên cứu sau: Xây dựng tình huống có vấn đề để
phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm Vợ
nhặt của Kim Lân, ĐHSP Hà Nội – 2006 của Trần Thị Quỳnh Hoa; Dạy học truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân cho học sinh trung học phổ thông từ cái nhìn văn hoá
của Nguyễn Thị Thu Thảo, ĐHSP Hà Nội, năm 2006; luận văn Thạc sĩ Giáo dục
học Vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn Vợ nhặt ở trường Trung
học Phổ thông của Lê Ngọc Hiền năm 2010; Luận văn thạc sĩ, Đại học Giáo dục
Dạy học tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân ở trường Trung học Phổ thông theo đặc
trưng thể loại của Kiều Thị Hà năm 2014; bài viết Tìm hiểu chân dung nhân vật
trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân qua hệ thống từ láy của Thạc sĩ Trần Thu
Hà viết tại Quảng Ngãi tháng 12 năm 2014 đăng trên website
http://truongthptchuyenlekhiet.edu.vn/ vào ngày 12 tháng 1 năm 2015;…
Trang 12Bên cạnh những công trình nghiên cứu còn phải kể đến những bài phân tích,
bình giảng về truyện ngắn Vợ nhặt như:
- Bài phân tích tác phẩm Vợ nhặt trong sách tham khảo Để học tốt Ngữ văn
12
- Bài viết Sự sống đối mặt với cái chết của Nguyễn Thị Thanh Cảnh trong
Tiếng nói tri âm, tập 1
- Bài Tác giả Kim Lân và hình tượng người đàn bà không tên trong Vợ nhặt
của Trương Vũ Thiên An trên báo Giáo dục và thời đại, năm 1998
Đây là những công trình khoa học nghiên cứu một cách công phu và hệ thống nêu bật được những giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của truyện
ngắn Kim Lân nói chung, tác phẩm Vợ nhặt nói riêng Đồng thời cũng có một số
bài đã đưa ra hướng dạy học tác phẩm này
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu việc dạy học tác phẩm này theo hướng tiếp cận thi pháp học một cách tổng thể Vì vậy,
người viết đã đi đến quyết định lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài mong muốn đóng góp chút sức lực trong việc đổi mới, hiện đại
hóa phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung, bài Vợ nhặt nói riêng nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy và tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh
biết cách tìm hiểu một truyện ngắn trong giai đoạn văn học Cách mạng Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào mục đích nghiên cứu trên, đề tài luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
- Thứ nhất: Cơ sở lý luận về thi pháp học, thi pháp truyện ngắn trong phong cách sáng tác của tác giả Kim Lân
- Thứ hai: Đánh giá thực trạng dạy học tác phẩm văn học nói chung và
truyện ngắn Vợ nhặt nói riêng trong nhà trường trung học phổ thông Định hướng
đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân theo hướng tiếp
cận thi pháp học
Trang 13- Thứ ba: Thiết kế giáo án thử nghiệm và tiến hành thực nghiệm sư phạm đối
với truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân để tiến hành đánh giá kết quả của đề tài luận
văn
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn này là cách thức dạy học hiệu quả
tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân theo hướng tiếp cận những đặc trưng của
thi pháp học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về dạy học truyện ngắn Kim Lân trong chương trình trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp học
- Vận dụng lý thuyết thi pháp học vào dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của Kim
Lân trong chương trình Ngữ văn 12, tập 2, ban cơ bản
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, người viết sử dụng những phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp khảo sát Ngoài những phương pháp trên, người viết cũng vận dụng một số phương pháp khác như phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp phân tích, phương
pháp nghiên cứu tổng hợp,…
6 Đóng góp của luận văn
- Khẳng định ưu thế của việc dạy học một tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp học trong vấn đề bồi dưỡng năng lực tiếp nhận và hứng thú đối với
văn học của học sinh
- Đề xuất những biện pháp dạy học cụ thể đối với việc dạy học một tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài
Trang 14- Chương 2: Đề xuất phương pháp dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của tác giả
Kim Lân theo hướng tiếp cận thi pháp học
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm với tác phẩm Vợ nhặt của tác giả Kim
Lân
Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện hành
Thực tiễn đổi mới giáo dục ở nhiều quốc gia trong vài thập niên gần đây
đã khẳng định cách xây dựng chương trình giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người
trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền
kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia
Thế nhưng hiện nay, nhiều môn học ở trường phổ thông tại Việt Nam, trong
đó có môn Ngữ văn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực cho xã hội Thực tế
này đã được chỉ ra từ nhiều năm nay, đòi hỏi các nhà giáo dục cần quan tâm thực
hiện thay đổi nội dung, đặc biệt là phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường
hướng tới phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống cũng như tạo điều kiện
thích nghi với môi trường làm việc trong tương lai cho các em học sinh
Về phương pháp giáo dục phổ thông, điều 28 luật giáo dục quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho học sinh” (Luật giáo dục 2005)
Trong khi đó, thực trạng dạy học Ngữ văn tại Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy cách dạy học Ngữ văn theo lối bình giảng và cung cấp cho học sinh
các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt không đáp ứng được nhu cầu học tập của
giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại
Kinh nghiệm đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa các thể loại văn bản được đưa vào nhà trường trong chương trình giáo dục hiện hành
cũng đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng đó trong bối cảnh
xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung Nhiều điểm tích cực, tiến bộ
của chương trình hiện hành sẽ phải được kế thừa và phát huy hơn nữa
Để phát huy năng lực của học sinh, người viết cho rằng môn Ngữ văn cần đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng như sau:
Trang 16- Một là: Đổi mới từ cách dạy truyền thống thiên về đọc chép sang cách dạy đọc-hiểu
Trước đây, chúng ta thường coi phân tích hay giảng văn, bình luận là một phương pháp đặc thù của dạy học văn, theo hướng áp đặt, một chiều
Cách dạy đọc-hiểu giúp học sinh biết cách đọc, cách tiếp cận, khám phá nội dung và nghệ thuật của văn bản theo các mức độ khác nhau từ đọc đúng, đọc thông
đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi dậy ở học sinh khả năng liên
tưởng, tưởng tượng, giúp học sinh thực sự được đắm mình trong thế giới văn
chương Từ đó, khơi dậy ở các em tình cảm mang tính thẩm mỹ, biết hướng tới giá
học sinh có khả năng trình bày, thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân trước
đối tượng, vấn đề đặt ra Điều này sẽ hạn chế được hiện tượng học sinh học hết
chương trình lớp 12 vẫn chưa có khả năng tự tạo lập được văn bản theo yêu cầu
như văn bản hành chính (đơn xin nghỉ học, đơn xin kết nạp Đoàn…)
- Hai là: Dạy học tích hợp là tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao cho học sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành kiến thức, kĩ
năng, từ đó phát triển được các năng lực cần thiết
Dạy học tích hợp diễn ra ở ba phân môn Làm văn, Tiếng Việt, Văn học Có thể tích hợp ba phân môn hoặc tích hợp môn Ngữ văn với các môn học khác như
Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân Ngoài giờ lên lớp, tích hợp giữa kiến thức trong
sách vở với kiến thức thực tiễn cuộc sống
Nếu chương trình ngữ văn THCS lấy trục tích hợp là các kiểu văn bản như miêu tả, tự sự, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng để học sinh hiểu đặc trưng văn bản
theo kiểu loại, từ đó có khả năng tạo lập văn bản thì chương trình ngữ văn THPT
lấy trục tích hợp là nội dung đọc-hiểu văn bản và tạo lập văn bản, giúp học sinh
phát triển, nâng cao năng lực thưởng thức văn học và năng lực sử dụng tiếng Việt
trong các tình huống giao tiếp
Trang 17Để phát huy tối đa hiệu quả giờ học, ta có thể sử dụng những phương pháp tích cực như:
- Đóng vai: có thể cho học sinh đóng vai các nhân vật trong tác phẩm tự sự, kịch hoặc xử lý một tình huống giao tiếp giả định…
- Dạy học theo dự án: tạo điều kiện cho học sinh thực hiện nhiệm vụ phức hợp giữa lý thuyết và thực tiễn Theo đó, học sinh phải tự lực cao trong quá trình
học tập từ việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra
kết quả…
- Trải nghiệm thực tế, sáng tạo: Học sinh được trải nghiệm thực tế những địa điểm, đối tượng (đang tồn tại trong thực tế) liên quan đến bài học, theo đó sẽ tự rút
ra kiến thức cho bản thân…
Như vậy, để có thể dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội,
năng lực cá thể Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức cần
truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn đề
trong thực tiễn; đặc biệt trong xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn bị
bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa
1.1.2 Khái lược về thi pháp học
1.1.2.1 Khái niệm về thi pháp và thi pháp học
Thi pháp của Aristote ra đời cách đây hơn 2,000 năm Trong suốt mấy chục thế kỉ nay, biết bao sách báo về thi pháp đã tiếp tục công trình của ông
Thi pháp cổ điển quy định các chuẩn mực sáng tác anh hùng ca, kịch, thơ,…Thi pháp hiện đại không dạy sáng tác thể loại này hay thể loại khác như thế
nào mà nó miêu tả các sáng tác, tức là các phương thức nghệ thuật mà các nhà thơ,
nhà văn sáng tạo trong tác phẩm của mình
Theo cách hiểu thông thường hiện nay, “thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn
từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của các tác phẩm: ý
nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học,…” [11; tr9]
Như vậy, thi pháp là hệ thống nguyên tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của
hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác
phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm là cả nền văn học
Trang 18Nói cách khác, thi pháp là ý thức của nhà văn khi sáng tạo ra hình thức nghệ thuật Hình thức nghệ thuật có hai mặt:
- Mặt cụ thể, cảm tính (chất liệu tác phẩm, không gian, thời gian, chi tiết, tình tiết, nhân vật, sự kiện, mâu thuẫn, xung đột…)
- Mặt quan niệm (lí lẽ, nhận thức, triết lí, tư tưởng, tình cảm,…) Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không
gian, cú pháp,…) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể Ở đó, các yếu tố ngôn từ
liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống để biểu đạt tư tưởng, tình cảm,
tư duy, nhân sinh quan,… tức là cái đẹp của thế giới, con người
Nếu mỹ học là lý luận các nghệ thuật thì thi pháp học chính là mỹ học của văn học Thi pháp trước hết nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các
đặc trưng thể loại văn học, từ đó mới tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác
phẩm
Tác phẩm văn học còn được một số nhà lý luận khác gọi là hệ thống cấu trúc
Thi pháp học nghiên cứu các cấu trúc ấy Ký hiệu và cấu trúc là sự vật chất hóa
bằng ngôn từ những ý tưởng của các tác giả Phê bình ký hiệu nhấn mạnh ý nghĩa
của các ký hiệu, của từ ngữ, phê bình cấu trúc nhấn mạnh các mối liên hệ bên trong
văn bản
Thi pháp học còn bao gồm “phương pháp chủ đề” dựa trên triết học Freud,
nó nghiên cứu những “ám ảnh”, những trùng điệp của ám ảnh trở đi trở lại nhiều
lần trong tác phẩm của một nhà văn
Vậy với thi pháp hiện nay, tác phẩm văn học chỉ tồn tại trong ngôn từ, trong văn bản Người đọc, người phê bình cần tìm kiếm ý nghĩa tác phẩm trên văn bản ấy
1.1.2.2 Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học 1.1.2.2.1 Các bình diện thi pháp chung
1.1.2.2.1.1 Thi pháp tác giả Tiếp xúc với văn bản nghệ thuật ngoài việc cảm nhận nội dung khách quan, chúng ta còn giao tiếp với tác giả, đồng cảm với tác giả Hình tượng tác giả đã đứng
ra nói chuyện và giao tiếp với độc giả, vậy chúng ta không nên đồng nhất giữa hai
tác giả: tác giả tiểu sử và tác giả nghệ thuật
Hình tượng tác giả có chân dung hành động, ngôn ngữ chứa đựng trong tác phẩm Đặc biệt có khi tác giả tự miêu tả mình
Trang 19Nhìn chung, hình tượng tác giả thể hiện trên ba mặt: Cái nhìn; giọng điệu;
lập trường (lựa chọn, phân tích, đánh giá) Hình tượng tác giả có vẻ tồn tại như vô
hình Tuy vậy, khi đọc văn, người đọc vẫn có xu hướng đọc theo chỉ dẫn của tác
giả, đọc thầm hay đọc thành tiếng theo giọng điệu của tác giả
Cái nhìn và giọng điệu của tác giả vô hình nhưng có thực, luôn luôn tồn tại
và ổn định suốt theo tác phẩm Đó là yếu tố thi pháp quan trọng có thể xác định
được dù nó vô hình dạng
Chính vì vậy, thi pháp tác giả là một trong những vấn đề không nên bỏ lỡ khi nghiên cứu một tác phẩm văn học theo hướng thi pháp học
1.1.2.2.1.2 Thi pháp tác phẩm Thi pháp học hiện đại nghiên cứu tác phẩm như một sản phẩm sáng tạo in đậm dấu ấn của chủ thể nghệ thuật Nó tiếp cận tác phẩm từ quan niệm mới về
chỉnh thể nghệ thuật, tìm mọi cách khắc phục phép nhị nguyên, chia tách giả tạo nội
độ: chỉnh thể - văn bản hình tượng - văn bản ngôn từ Trong đó, ở cấp độ chỉnh thể,
tác phẩm được tiếp cận từ ba phạm trù “cái”: hình thức quan niệm, quan niệm nghệ
thuật về con người và thế giới nghệ thuật Hình thức trong nghệ thuật là hình thức
của khách thể thẩm mĩ được tạo ra trong tác phẩm Hình thức cảm tính là hình thức
bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên của sự vật, và vì thế, nó không thể trở thành đối
tượng của khoa học “Hình thức quan niệm” là hình thức bên trong, loại hình thức
thể hiện “logic của hình thức” và tạo ra hình thức Nó vừa là hình thức của khách
thể thẩm mĩ được tạo ra trong tác phẩm, vừa là hình thức của chủ thể, được chủ thể
sử dụng để sáng tạo và cảm nhận thế giới Là sản phẩm sáng tạo của chủ thể để thể
hiện quan niệm của chủ thể, hình thức quan niệm vừa in đậm dấu ấn của cá tính
sáng tạo, vừa là khuôn mẫu cấu trúc mang tính loại hình Cho nên, theo Trần Đình
Sử, phải lấy “hình thức quan niệm” làm đối tượng chiếm lĩnh, thi pháp học mới có
thể “nghiên cứu hình thức nghệ thuật như những hiện tượng có quy luật”
Trang 20Nếu khái niệm “hình thức quan niệm” chủ yếu xác định bình diện “hình thức”, thì phạm trù quan niệm nghệ thuật về con người chủ yếu xác định bình diện
“nội dung” như là đối tượng nghiên cứu của thi pháp học
Ở cấp độ văn bản hình tượng, Trần Đình Sử tiếp cận sáng tác văn học từ hai bình diện: tổ chức chủ quan và tổ chức khách quan Ông thường sử dụng khái niệm
“hình tượng tác giả”, “kiểu tác giả”, “kiểu nhà thơ” để mô tả bình diện cấu trúc chủ
quan Bình diện tổ chức khách quan của sáng tác văn học được ông mô tả chủ yếu
bằng hai phạm trù “không gian và thời gian nghệ thuật” Ứng với hai bình diện chủ
quan và khách quan của kết cấu văn bản hình tượng, văn bản ngôn từ được tiếp cận
theo hai trục: hệ hình và ngữ đoạn Trong đó, trục hệ hình được mô tả bằng hai
phạm trù “điểm nhìn”, “cái nhìn” và “giọng điệu”
1.1.2.2.1.3 Thi pháp thể loại Loại thể văn học là: “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học, vốn đa dạng đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, về một số dấu hiệu nhất định Các
nhóm lớn nhất là những “loại”; mỗi loại gồm những nhóm nhỏ hơn là những thể
(hoặc “thể loại”, “thể tài”) [2, tr.190]
Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể là việc dẫn dắt học sinh khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật
để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó Đây là một trong những phương pháp dạy học bổ
sung hữu ích cho cách dạy học truyền thống là chú trọng tới các yếu tố bên ngoài
tác phẩm nhiều hơn như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật,
giá trị hiện thực, tác dụng xã hội Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể cũng
là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trong cuốn Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 12, Phan Trọng
Luận đã nhận định: “Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là
nhận diện được loại thể Đến với thơ không giống với tự sự hay kịch Đến với văn
học dân gian không hoàn toàn giống như đến với văn học viết Văn học trung đại và
hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng Với văn học dịch cũng cần
có cách tiếp cận riêng.” [30]
Truyện có những đặc trưng cơ bản: “tính khách quan trong sự phản ánh; cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật; nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động
gắn với hoàn cảnh; phạm vi miêu tả không bị hạn chế về không gian và thời gian;
ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống” [29 tr.152]
Trang 21Như vậy khi giảng dạy các tác phẩm truyện, chúng ta sẽ phải bám sát vào những đặc trưng này để giúp học sinh khám phá, tìm hiểu văn bản trong chương
trình đồng thời cũng yêu cầu học sinh vận dụng để tìm hiểu một số văn bản không
nằm trong chương trình
1.1.2.2.1.4 Thi pháp nhân vật Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm Thi pháp học xem xét nhân vật ở ba khía cạnh chính: tính cách nhân vật, nghệ thuật miêu tả nhân vật, quan
niệm nghệ thuật về con người
- Nhân vật và sự miêu tả nhân vật: Con người vốn là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học trong các phương thức trữ tình, tự sự và kịch dù trực tiếp hay gián
tiếp Nhân vật được sáng tạo, hư cấu để khái quát, biểu hiện tư tưởng, thái độ đối
với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, phê phán nhân vật là phê phán
cuộc đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho cuộc đời, và tìm hiểu nhân vật cũng
chính là tìm hiểu về cuộc đời, về con người, tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả
đối với con người
Trong thơ trữ tình có nhân vật trữ tình Con người bộc lộ nỗi niềm trước cuộc sống Trong kịch, con người tự bộc lộ qua hành động ngôn ngữ của mình
Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí) nhân vật hiện lên thông qua lời văn kể, tả của tác
giả
Nói chung, nhân vật được miêu tả bằng các phương tiện văn học thông qua ngôn ngữ văn học Miêu tả bao gồm tả cảnh ngụ tình, diễn tả cảm xúc, tường thuật,
kể sự việc,… gọi chung là hình thức của văn học Ở trong văn học, miêu tả thường
nhằm hai mục đích: gợi ra hiện tượng cuộc sống và gợi ra sự cảm thụ, bộc lộ cái
nhìn của tác giả Từ đó, nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người
- Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mỹ khi xây dựng nhân vật Quan niệm đó chi phối nhà văn khi miêu tả nhân vật và các bộ phận
khác của tác phẩm Đây là kiểu thi pháp cơ bản nhất của văn học nghệ thuật Thực tế
có hai quan niệm nghệ thuật về con người: một là con người như một phạm trù tư
tưởng, chính trị, đạo đức xã hội; hai là con người như một phạm trù thẩm mĩ Quan
niệm thứ hai là quan niệm chủ yếu của nhà văn
Nghiên cứu thi pháp nhân vật khác với công việc phân tích nhân vật Phân tích nhân vật là chỉ ra các nội dung được thể hiện trong nhân vật như tính cách,
ngoại hình, phẩm chất, niềm vui, nỗi buồn,… Trong khi nghiên cứu thi pháp nhân
Trang 22vật phải là sự khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật trong
tác phẩm văn học
1.1.2.2.2 Các bình diện thi pháp truyện ngắn Mỗi loại hình văn học đều có một phương thức biểu hiện riêng Thơ được nói bằng thứ ngôn ngữ biểu cảm và trùng điệp, còn trong văn xuôi nói chung và
truyện ngắn nói riêng là sự lựa chọn ngôi trần thuật, cách tổ chức điểm nhìn, kết
cấu, ngôn ngữ, giọng điệu của mỗi nhà văn sao cho hiệu quả… để tạo nên cảm
nhận riêng, cách nhìn, cách đánh giá độc đáo về hiện thực thế giới bên ngoài và bao
nỗi khắc khoải trong nội tâm con người trong tác phẩm
tác phẩm với một “mảnh đất” nhất định của hiện thực
Trong tác phẩm văn học thường có một hệ thống các đề tài chứ không phải là một đề tài duy nhất
Ví dụ: Nhà văn Kim Lân chuyên viết về đề tài nông thôn Việt Nam trong chiến tranh
- Vấn đề chủ đề Chủ đề là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài
Nói cách khác, chủ đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêu
lên trong tác phẩm mà nhà văn cho là quan trọng nhất Nó thể hiện chiều sâu tư
tưởng, khả năng nắm bắt nhạy bén của nhà văn đối với những vấn đề của cuộc sống
Trang 23Chủ đề thường được bộc lộ qua nhan đề của tác phẩm Ngoài ra, chủ đề cũng
có thể bộc lộ trực tiếp trong lời phát biểu của tác giả, được đặt ra qua việc miêu tả
các biến cố, các cảnh ngộ dữ dội, khác thường
Cùng một đề tài nhưng mỗi nhà văn lại có thể nêu ra chủ đề, tư tưởng khác nhau, thậm chí đối lập Chủ đề thường được biểu hiện qua hệ thống hình tượng, hệ
thống nhân vật, nhất là qua hình tượng của nhân vật chính
Chủ đề tác phẩm Vợ nhặt là sự lạc quan của người nông dân lao động Việt
Nam trong hoàn cảnh đói khổ tưởng chừng như không lối thoát
1.1.2.2.2.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện
Từ lâu, cốt truyện đã được công nhận là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên tác phẩm tự sự, cốt truyện có thể sắp ngang bằng với bất cứ chất liệu
xây dựng nào trong nghệ thuật
Thuộc phạm trù cách kể, vấn đề tổ chức cốt truyện, vẫn đang được giới nghiên cứu phê bình và lý luận văn học quan tâm đặc biệt
Giáo trình Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, tái bản lần thứ 7 năm
2001 viết: “… cốt truyện là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của
cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách
hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng
tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm” [7; tr.137]
Cùng bàn về khái niệm cốt truyện, cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi biên soạn đưa ra nhận định cốt truyện là “hệ
thống các sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất
định, tạo thành một bộ phận cơ bản quan trọng nhất trong hình thức vận động của
tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch (…) Có thể tìm thấy qua cốt truyện
hai phương diện hữu cơ: Một mặt cốt truyện là một phương diện cơ bản bộc lộ tính
cách, nhờ cốt truyện mà tác giả thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách Mặt
khác, cốt truyện còn là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội.” [9;
tr.99-100]
Như vậy, “cốt truyện” trong loại tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng thường được hình dung là “cốt” của câu chuyện Nghiên cứu nó, người ta thường
nói đến nhân vật, lời kể, sự kiện, hoặc biến cố trong thế tách rời và như thế cốt
truyện dường như được xem là một hiện tượng tĩnh
Trang 24Việc tổ chức, sắp xếp cốt truyện như thế nào để mang lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất là cả một câu chuyện lớn của sáng tạo nghệ thuật Nói đến nghệ thuật tổ
chức cốt truyện là nói đến sự dẫn dắt, sự tổ chức, phương thức thể hiện như thế nào
và bằng những thủ pháp nghệ thuật gì Khái niệm nghệ thuật tổ chức cốt truyện vì
vậy ra đời có tính thao tác
Cốt truyện cần được xem xét và nghiên cứu như một hiện tượng sống động, một chỉnh thể nghệ thuật có tính hệ thống và luôn có sự vận động nội tại giữa các
thành tố làm nên hệ thống đó
1.1.2.2.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật Thế giới nhân vật bao giờ cũng là sự thể hiện tập trung và trực tiếp cảm quan nghệ thuật của nhà văn Nhà văn sáng tạo ra nhân vật bao giờ cũng theo cách hình
dung và cảm nhận của riêng mình Bởi vì, sự sáng tạo nghệ thuật là một sự thống
nhất biện chứng giữa khách thể và chủ thể, hướng nội và hướng ngoại B.Brếch đã
từng nhận xét rằng: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là
những bản dập của những con người sống, mà là những hình tượng được khắc họa
phù hợp với ý đồ, tư tưởng của tác giả” [41; tr.210] Đó là phương tiện tất yếu quan
trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong các tác phẩm tự sự nói chung và truyện ngắn
nói riêng Nó là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của các tác phẩm ấy,
quyết định phần lớn: vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa phương tiện ngôn
Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã thống nhất quan niệm:
“Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự, thể hiện mối quan hệ chủ
thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý
của ý thức văn học từ hệ thống sự kiện thắt nút, mở nút sang chủ thể thẩm mỹ của
tác phẩm tự sự” [9; tr.248]
Cùng với quan niệm đó, các tác giả trong cuốn Lý luận văn học xác định cụ
thể: “Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện tình tiết,
quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách
nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật là sự thể hiện của của hình tượng văn học,
Trang 25truyền đạt nó tới người thưởng thức Bố cục của trần thuật là sắp xếp, tổ chức sự
tương ứng giữa các phương diện khác nhau của hình tượng với các thành phần khác
nhau của văn bản [32; tr.307]
Từ quan niệm đó, ta có thể hiểu: Trần thuật là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự việc theo cái nhìn nhất định Nghệ
thuật trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, nó có tác dụng soi
sáng nội dung tư tưởng của tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà văn
Nghệ thuật trần thuật giúp cho người nghiên cứu đi sâu khám phá những đặc sắc
trong nghệ thuật kể chuyện của mỗi nhà văn, trên cơ sở đó, người đọc tiếp nhận và
giải mã cấu trúc bên trong tác phẩm, đồng thời có thể đánh giá những sáng tạo,
những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển truyện ngắn nói riêng và quá
trình hiện đại hoá văn xuôi Việt Nam nói chung
1.1.2.2.2.5 Thời gian và không gian nghệ thuật
- Thời gian nghệ thuật Trong triết học, thời gian là hình thức tồn tại của vật chất Trong tác phẩm nghệ thuật, thời gian chính là phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học, thời gian chính là “hình thức nội tại của
hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ
thuật, sự miêu tả, trần thuật, trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một
điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra
trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật”
Như vậy, thời gian nghệ thuật chính là thời gian ta có thể chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp điệu
nhanh hay chậm, với các chiều thời gian hiện tại, quá khứ hay tương lai
Thời gian nghệ thuật không mang tính khách quan, mà gắn với cảm nhận chủ quan của con người Thời gian nghệ thuật còn gắn với việc tác giả tổ chức chất liệu
Chất liệu văn học sẽ ghi khắc, in dấu cố định diễn trình thời gian
Ngoài ra, thời gian nghệ thuật còn là biểu tượng nên nó mang tính quan niệm, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống Thời gian nghệ thuật là thời gian được tổ
chức lại từ thời gian thực tại khách quan tự nhiên, do vậy, tác giả văn học có thể tua
nhanh, làm chậm, đan xen, xếp chồng, nhảy cóc… tùy theo ý đồ sáng tác Chúng ta
có thể xem xét về biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tác phẩm thông qua các
Trang 26từ ngữ chỉ thời gian theo: năm tháng, tuổi tác, các mùa, các chiều thời gian như hiện
tại, quá khứ, tương lai,…
- Không gian nghệ thuật Cùng với thời gian, không gian cũng là một phạm trù triết học, là hình thức tồn tại của thế giới hiện thực Nhưng không gian trong nghệ thuật lại khác với
không gian thực tế Không gian nghệ thuật gắn với sự cảm thụ về không gian, có
giá trị về tình cảm nên nó mang tính chủ quan của người sáng tác
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì không gian nghệ thuật là “hình thức bên
trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả trần thuật
trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn
nhất định qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quán tính của
nó: cái này bên cạnh cái kia, cách quãng, tiếp nối, cao thấp, xa, gần, rộng, dài… tạo
nên viễn cảnh nghệ thuật”
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm có tác dụng mô hình hóa các mối liên
hệ của bức tranh thế giới như thời gian xã hội, đạo đức, tôn ti, trật tự,…
Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới dùng để
mô hình hóa các phạm trù thời gian như: bước đường đời, con đường cách
mạng,…
Không gian nghệ thuật cũng có thể mang tính cản trở để mô hình hóa các kiểu tính cách con người, hoặc không mang tính cản trở để hiện thực hóa các ước
mơ của con người như trong truyện cổ tích
Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng, phong phú Các cặp phạm trù cao – thấp; xa – gần;… đều được dùng để biểu hiện phạm vi giá trị phẩm chất
của đời sống xã hội
Không gian nghệ thuật chẳng những cho ta thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy các quan niệm về thời gian, chiều
sâu cảm thụ thời gian hay của một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách
quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng
nghệ thuật
1.1.2.2.2.6 Ngôn ngữ, giọng điệu
- Ngôn ngữ trần thuật Theo M Gorki: ngôn ngữ là “yếu tố thứ nhất của văn học (…) là “một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [9; tr.215]
Trang 27Văn học là nghệ thuật của ngôn từ và nhà văn là người sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ
Hơn bất cứ thứ chất liệu và phương tiện nghệ thuật nào, ngôn ngữ vừa là chất liệu vừa là
phương tiện tối ưu của nhà văn trong sáng tác
Theo cuốn Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên, ngôn ngữ nghệ thuật là
“một hệ thống các phương thức, quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mỹ của một
ngành, một sáng tác nghệ thuật Người ta có thể nói “ngôn ngữ ba lê”, “ngôn ngữ
chèo”, “ngôn ngữ điện ảnh” Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn
học trên cấp độ đó” [33; tr.185-186]
Ngôn ngữ nghệ thuật cho phép nhà văn sử dụng nó để thể hiện vẻ đẹp sống động của thế giới tự nhiên, của đời sống xã hội và cả nội tâm đa dạng của con người
Ngôn ngữ còn có ưu thế về tính khái quát, tính trừu tượng và tính đa nghĩa,
là nhân tố hỗ trợ giúp cho nhà văn nhân lên rất nhiều lần hiệu lực của sản phẩm mà
họ sáng tạo Khi xem xét ngôn ngữ nghệ thuật, Khrapchenko đã nêu ý nghĩa của nó
“không phải chỉ như là những cơ sở đầu tiên của tác phẩm văn học mà còn như là
một hiện tượng của phong cách văn học và với tư cách là một hiện tượng của phong
truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả
- Giọng điệu trần thuật Giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật mang tính cá nhân cao độ, gắn với phong cách nhà văn, là một phương diện cơ bản tạo nên hình thức nghệ thuật của
tác phẩm
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi, giọng điệu được hiểu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức
của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách
xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, xơ, thành
kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [9; tr.91]
Giọng điệu trong tác phẩm văn học là giọng điệu nghệ thuật, nó là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học “Giọng điệu trong tác phẩm gắn với giọng điệu
Trang 28“trời phú” của tác giả nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật phù hợp với đối
tượng thể hiện” [9; tr.91]
Đối với tác phẩm văn học, giọng điệu nghệ thuật không chỉ là yếu tố hàng đầu trong phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm
mà còn là yếu tố đóng vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của hình thức tác phẩm
vào một chỉnh thể Hơn nữa, giọng điệu ở đây không chỉ là một tín hiệu âm thanh
có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà còn là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ”
phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác
giả và của thời đại Khi trần thuật, tác giả tạo ra những sắc thái giọng điệu khác
nhau, cái mà M.Bakhtin gọi là “tính đa thanh trong giọng điệu”
Như vậy, giọng điệu là biểu hiện của thái độ cảm xúc chủ thể đối với đời sống, giọng điệu mang nội dung tình cảm thái độ ứng xử của nhà văn đối với hiện
thực được phản ánh, giọng điệu thể hiện ở điểm nhìn của chủ thể, ở quan hệ của chủ
thể đối với cái được miêu tả Trong truyện, giọng điệu thường phức tạp hơn thơ, chủ
yếu gồm hai giọng điệu cơ bản: giọng điệu nhân vật đối với thế giới và giọng của
người kể chuyện đối với nhân vật Tùy theo đặc điểm tính cách, số phận nhân vật,
người kể và các mối quan hệ đa dạng của chúng mà ta có giọng điệu đa dạng
Do giọng điệu gắn với việc dùng hình tượng để miêu tả đối tượng sáng tác nên nó thể hiện cách nhìn nhận riêng của cá nhân đối với đời sống Nói cách khác,
giọng điệu của nhân vật chủ yếu dựa vào cảm hứng chủ đạo của nhà văn
học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến
những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên
mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội,… Khi dạy học môn Ngữ văn theo
hướng tiếp cận thi pháp học, giáo viên thường quan tâm đến những yếu tố hình thức
của tác phẩm như: hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện,
điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại,… Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh khi tiếp cận
tác phẩm văn học với “Phương pháp hình thức” này là từ việc phân tích các khía
Trang 29cạnh hình thức của tác phẩm văn học, người học phải hiểu được ý nghĩa thẩm mỹ
của từng khía cạnh đó đối với chỉnh thể nội dung tác phẩm
Ở Việt Nam hiện nay, việc vận dụng thi pháp vào dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông đang có điều kiện tốt Việc phổ biến quan điểm thi pháp
học trong nhà trường đã có bề dày khoảng 20 năm Sách giáo khoa Ngữ văn hiện
hành chứa đựng rất nhiều tri thức về thi pháp học; các đề thi và đáp án môn Ngữ
văn gần đây đã yêu cầu học sinh chú trọng phân tích hình thức nghệ thuật Nhưng
thi pháp học có biến thành thực tiễn sinh động hay không còn phụ thuộc rất nhiều
vào sự vận dụng tích cực của giáo viên và học sinh trong việc dạy-học văn
Thông qua việc dự giảng giờ Ngữ văn tại một số lớp học thuộc cấp trung học phổ thông, người viết nhận thấy một bộ phận giáo viên mặc dù đã định hướng được
việc áp dụng thi pháp học khi dạy học một tác phẩm văn học nhưng lại thiếu đi sự
sáng tạo trong phương pháp dạy học gây nên sự nhàm chán, khó hiểu đối với học
sinh Bên cạnh đó, giáo viên thiếu đi sự tương tác với người học, chưa giúp người
học tìm hiểu sâu về các hình thức nghệ thuật trong văn bản mà chủ yếu chỉ dừng ở
mức gọi tên hoặc khái quát hời hợt
1.2.2 Thực trạng dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của tác giả Kim Lân trong chương trình Ngữ văn 12
1.2.2.1 Khảo sát thực tế
Qua thực tế khảo nghiệm về tình hình dạy học truyện ngắn Vợ nhặt ở nhà
trường hiện nay, người viết nhận thấy giáo viên chưa thực sự chú ý đến hướng tiếp
cận thi pháp học đối với truyện ngắn Kim Lân Hầu như giáo viên chỉ tập trung vào
giảng dạy tình huống truyện và diễn biến tâm lý các nhân vật mà không chú ý tới
các đặc trưng thi pháp khác của tác phẩm khiến cho hiệu quả bài học chưa cao, chưa
khơi gợi được hứng thú ở người học
Để tìm hiểu thực trạng dạy và học truyện ngắn Vợ nhặt của tác giả Kim Lân
trong chương trình THPT lớp 12, người viết đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tế việc
dạy và học truyện ngắn này tại 2 trường THPT
- Thời gian khảo sát: Học kì II năm học 2015 – 2016
- Đối tượng khảo sát: Người viết tiến hành khảo sát đối với các đối tượng cơ bản tham gia trực tiếp vào quá trình dạy và học trong nhà trường với mặt bằng trình
độ, học lực tương đương nhau gồm có:
Trang 30+ Giáo viên bộ môn Ngữ văn trường THPT Vũ Duy Thanh, Yên Khánh, Ninh Bình và trường THPT Tô Hiến Thành, Đống Đa, Hà Nội
+ Học sinh: Học sinh khối lớp 12 của trường THPT Vũ Duy Thanh, Yên Khánh, Ninh Bình và trường THPT Tô Hiến Thành, Đống Đa, Hà Nội
Phương pháp khảo sát:
+ Phát phiếu điều tra khảo sát + Tổng hợp, phân tích số liệu
+ Nghiên cứu các bài kiểm tra viết của học sinh về truyện ngắn Vợ nhặt
trong quá trình học trước đó
+ Nghiên cứu giáo án và trao đổi với giáo viên + Nghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo
1.2.2.1.1 Khảo sát đối tượng giáo viên
Đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường đã được đề cập từ khá lâu nhưng việc áp dụng vào dạy học như thế nào, giảng dạy trên lớp ra sao vẫn còn
nhiều điểm cần xem xét Thái độ của học sinh với việc tiếp cận tác phẩm và tình
trạng học sinh tiếp thu bài học như thế nào có một phần ảnh hưởng không nhỏ từ
phía người dạy Do đó, việc hiểu thế nào cho hợp lý các giá trị của tác phẩm, tiếp
cận tác phẩm từ góc độ nào, phương cách giảng dạy ra sao cho vừa đủ lượng tri
thức, vừa có tính gợi mở để kích thích tư duy của người học luôn là vấn đề cần
- Trường THPT Vũ Duy Thanh: 6 giáo viên
- Trường THPT Tô Hiến Thành: 4 giáo viên Kết quả phiếu khảo sát GV như sau:
Kết quả
Số phiếu (%) THPT Vũ
Duy Thanh
THPT Tô Hiến Thành
1 Tôi thường cảm thấy thích Rất thích 2 (33%) 0 (0%)
Trang 31khi dạy truyện ngắn? Bình thường 3 (50%) 1 (25%)
3 Nhận xét của GV khi sử
dụng phương pháp này?
Hiệu quả 5 (83%) 2 (50%) Bình thường 1 (17%) 2 (50%) Không hiệu quả 0 (0%) 0 (0%)
4
GV có thường kết hợp các phương pháp dạy học gợi
mở, nêu vấn đề để phát huy vai trò bạn đọc HS?
Thường xuyên 0 (0%) 0 (0%) Thỉnh thoảng 2 (33%) 1 (25%) Chưa bao giờ 4 (67%) 3 (75%)
5
GV có thích dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp học không?
Thích dạy 3 (50%) 1 (25%) Bình thường 3 (50%) 2 (50%) Không thích 0 (0%) 1 (25%) Nhận xét: Thông qua phiếu khảo sát và ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy, người viết nhận thấy một số thực trạng tồn tại như sau:
- GV chỉ chú trọng khai thác nội dung mà không chú trọng đến các phương diện đặc trưng thi pháp tác phẩm, không hỗ trợ được người học tiếp thu tác phẩm
Trang 32Thông qua hoạt động đọc và học tác phẩm trên lớp, bước đầu các em HS hiểu được nội dung tác phẩm và nhận biết được những đặc sắc nghệ thuật của tác
phẩm
Để hiểu rõ hơn thực trạng tiếp thu các vấn đề xung quanh tác phẩm Vợ nhặt
theo hướng tiếp cận thi pháp học, người viết tiến hành khảo sát đối tượng học sinh
dựa trên phiếu khảo sát có mẫu dưới đây với số lượng HS tham gia như sau:
- THPT Vũ Duy Thanh: 40 học sinh
- THPT Tô Hiến Thành: 30 học sinh Kết quả khảo sát thu được cụ thể như sau:
Kết quả phiếu khảo sát HS:
Kết quả
Số phiếu (%) THPT Vũ
Duy Thanh
THPT Tô Hiến Thành
1 Em đã được học tác phẩm
truyện ngắn nào chưa?
Đã được học 40 (100%) 30 (100%) Chưa từng học 0 (0%) 0 (0%)
3
Em có hiểu biết về các vấn đề nghệ thuật trong truyện ngắn
không?
Rất hiểu 0 (0%) 0 (0%)
Hiểu mơ hồ 35
(87,5%) 28 (93%) Không hiểu 5 (12,5%) 2 (7%)
Trang 33học gây sự hứng khởi cho HS
5
Em đã từng được học truyện
ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
với hướng tiếp cận các giá trị nghệ thuật của tác phẩm
Nhận xét: Cùng với việc khảo sát, người nghiên cứu đã tiến hành dự giảng
một số tiết dạy truyện ngắn Vợ nhặt cũng như những truyện ngắn khác trong
chương trình Ngữ văn 12 trên địa bàn khảo sát và rút ra những nhận xét dưới đây:
- HS đã nhận thức được nội dung chính của tác phẩm cũng như khám phá thành công một vài yếu tố nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn
- Ngoài những yếu tố như nhân vật, cốt truyện, tình huống truyện, HS còn
mơ hồ về những yếu tố thi pháp như không gian, thời gian, điểm nhìn nghệ thuật,
ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu truyện
- Qúa trình tiếp thu bài học trên lớp của HS còn khá thụ động, chủ yếu thông qua việc giảng bài của GV
1.2.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy học truyện ngắn Vợ nhặt của
tác giả Kim Lân trong chương trình Ngữ văn 12
1.2.2.2.1 Thuận lợi
Là cây bút truyện ngắn xuất sắc, nhà văn Kim Lân đã tạo dựng được một vị trí khá vững chắc trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Một số tác phẩm của Kim
Lân như Làng và Vợ nhặt được đánh giá cao và xếp vào loại gần như “thần bút”
Ngay từ bậc THCS, các em học sinh đã được tiếp cận với phong cách Kim Lân
thông qua truyện ngắn Làng và có phản hồi rất tích cực Do đó, khi truyện ngắn Vợ
nhặt được đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT lớp 12, khoảng cách giữa
nhà văn, tác phẩm và người đọc về mặt ngôn ngữ, tư duy nghệ thuật không còn là
quá lớn
Bên cạnh đó, khoảng cách không gian, thời gian và môi trường sống và hình tượng nhân vật được tái hiện trong tác phẩm thật sự gần gũi với đời sống sinh hoạt
của người Việt Nam Do đó, khi tìm hiểu truyện ngắn Vợ nhặt thì rào cản thời đại,
văn hóa hầu như là không gây ảnh hưởng, áp lực lên việc dạy và học
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, môn Ngữ Văn
đã được trang bị thêm những phương tiện dạy học mới mẻ, sinh động với âm thanh,
Trang 34hình ảnh, các bộ phim góp phần nâng cao hiệu quả và mang một luồng sáng mới
hấp dẫn học sinh
Bên cạnh đó, các phương pháp dạy học mới cũng hứa hẹn sẽ tạo ra những kích thích mạnh mẽ, làm tăng hứng thú dạy học, tiếp nhận của GV và HS
1.2.2.2.2 Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi, cũng có không ít khó khăn khi bắt tay vào dạy
học truyện ngắn Vợ nhặt Thứ nhất, đây là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách
nghệ thuật của Kim Lân, đã có lối mòn trong giảng dạy bằng phương pháp cũ và
chưa có sự chú trọng về những kiến thức thi pháp trong tác phẩm
Thứ hai, các tác phẩm truyện ngắn được đưa vào giảng dạy ở phổ thông chiếm 3/4 số lượng các tác phẩm trong chương trình Điều này phản ánh đúng
tương quan của thành tựu truyện ngắn so với những thể loại văn xuôi khác trong đời
sống văn học của chúng ta Mặc dù vậy, việc phân tích giảng dạy truyện ngắn còn
chưa chú ý đúng mức và chưa làm nổi bật đặc trưng thể loại
Thứ ba, toàn bộ tác phẩm có dung lượng dài, nên bên cạnh việc nắm bắt các vấn đề cốt lõi, GV khai thác không sâu rộng thì sẽ dễ phá vỡ tính chỉnh thể của tác
phẩm và trượt khỏi ý đồ của tác giả
Thứ tư, khoảng cách lịch sử, hoàn cảnh lịch sử mặc dù chỉ trải qua mấy chục năm nhưng ít nhiều đã có sự thay đổi Cùng với điều đó là các rào cản về tâm sinh
lý lứa tuổi, nhu cầu thẩm mỹ, thời đại,… cũng khiến cho việc tiếp cận tác phẩm còn
nhiều hạn chế
Trang 35Tiểu kết chương 1
Thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hưởng lớn trong nghiên cứu văn học thế kỷ XX, XXI, tuy có cội nguồn xa xưa nhưng đã được cải tạo triệt để,
mang nội dung mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng
biến đổi nhanh chóng trong lịch sử
Thi pháp học rất cần thiết trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông Nó giúp chúng ta khám phá một cách chính xác cấu trúc hình
thức mang tính nội dung của tác phẩm văn học, phục vụ cho việc tìm hiểu nội dung
tác phẩm một cách đích thực, hoàn toàn không có sự gán ghép hoặc cảm nhận thiếu
cơ sở Bên cạnh đó, thi pháp học còn giúp bạn đọc hiểu đủ, hiểu đúng các tác phẩm
văn chương trong quá trình phát triển tư duy nghệ thuật của mỗi tác phẩm văn
chương, nhưng không sa vào hình thức chủ nghĩa
Việc áp dụng lý thuyết của thi pháp học vào dạy một tác phẩm văn học cụ thể đang là yêu cầu cấp thiết khi nhìn vào thực trạng thiếu khả quan của dạy học
văn học trong môn Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn nói riêng trong thời
gian vừa qua Đó cũng là cách thay đổi tư duy dạy văn truyền thống khi môn Ngữ
văn đã và đang dần mất đi vị trí và vai trò của mình trong hệ thống giáo dục quốc
dân
Trang 36CHƯƠNG 2
TÍCH CỰC HÓA CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VỢ
NHẶT CỦA TÁC GIẢ KIM LÂN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP
HỌC
2.1 Một số vấn đề thi pháp trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân
2.1.1 Cách thức sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu
2.1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt
Khrapchenkô cho rằng: “Ngôn ngữ nghệ thuật… không phải chỉ như là cơ sở
đầu tiên của tác phẩm văn học mà còn là những hiện tượng của phong cách văn
học” [20; tr.190-191] Trong thể loại truyện ngắn, việc tổ chức ngôn ngữ có yêu cầu
rất cao và là một vấn đề quan trọng Mỗi truyện ngắn là một công trình sáng tạo của
nhà văn mà ngôn ngữ, giọng điệu là một trong các nhân tố đặc trưng tạo thành tác
phẩm Sự tổ chức truyện ngắn nhất định phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng ngôn từ
của tác giả
Vốn là nhà văn “của những người nông dân”, Kim Lân luôn khai thác một cách có dụng ý hệ thống từ ngữ địa phương, thuẩn Việt Bên cạnh đó, Kim Lân
không quên thổi hồn vào nhân vật của mình một “hơi thở cuộc sống” thông qua
ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện làm sống động hình ảnh những
con người lao động chân chất, đời thường Đánh giá cao nghệ thuật sử dụng ngôn
ngữ đặc sắc của truyện ngắn của Kim Lân, tác giả Nguyên Bảo đã cho rằng: “Kim
Lân lựa chọn những từ ngữ mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày để diễn đạt với
chúng cuộc sống miền quê với những con người giản dị mà mến yêu” [55; tr.84]
Khi viết về truyện ngắn Vợ nhặt, nhà giáo Đỗ Kim Hồi đã chú ý đến tài
dùng chữ, lối viết của Kim Lân và khẳng định “Như về cái vốn liếng ngôn ngữ giàu
có đặc sắc của Kim Lân, cái lối viết văn tưởng như dễ dàng mà không dễ phỏng
theo, giản dị vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc” [16]
Kim Lân đã rất giỏi trong việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt các lớp từ hội thoại, từ đệm, từ địa phương, thành ngữ,… để tái tạo cuộc sống hiện thực như nó
vốn có, rõ nét, sinh động Ông lựa chọn những từ ngữ mang hơi thở cuộc sống
thường ngày để diễn tả chính xác, sống động cuộc sống làng quê, cuộc sống của
những người lao động nghèo trong Vợ nhặt:
Trang 37- Điêu! Người thế mà điêu
- Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Ví dụ cách dùng thành ngữ:
- Ai giàu ba họ khó ba đời
- Ngoảnh đi ngoảnh lại
Kim Lân cũng đã đưa khẩu ngữ vào văn xuôi, nâng khẩu ngữ lên thành một trình độ nghệ thuật cao, giản dị mà tinh tế, nôm na mà hàm xúc:
- Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố
- Chỉ được cái thế là nhanh… Dơ
Như vậy, người đọc có thể nhận thấy rõ nét rằng, các từ ngữ sinh hoạt bình
dị này có mặt trong cả ngôn ngữ tác giả lẫn ngôn ngữ nhân vật của Vợ nhặt, góp
phần quan trọng vào cá tính hóa từng nhân vật bình dân trong truyện ngắn này
Trong Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân cũng đặc biệt chú trọng đến ngôn ngữ đối
thoại của nhân vật Với mỗi nhân vật, nhà văn đều có sự lựa chọn ngôn ngữ riêng
biệt phù hợp nhằm bộc lộ bản chất, tính cách, tình cảm,… của nhân vật
Khảo sát lời thoại của các nhân vật, người viết có thống kê như sau:
Thứ tự Tình huống giao tiếp Nhân vật giao tiếp Tổng lượt lời
1 Anh Tràng đưa người "vợ
Trang 38thị nên đã chọc "chông vợ hài", Tràng đáp lại trong sự sung sướng "Bố ranh!" Có
một cái "đầu trọc thò ra gọi giật giọng" và mời anh Tràng vào chơi, cũng chỉ để dò
hỏi xem người đàn bà đi bên cạnh là ai thôi Từ đó thể hiện thái độ của người dân
xóm ngụ cư trước việc anh Tràng có vợ Họ vừa tò mò, vừa ngạc nhiên, vừa lo lắng
cho Tràng "giời đất này còn rước cái của nợ đời về”
Kim Lân đã dành cho anh Tràng và thị hơn nửa số lượt lời đối thoại trong tác phẩm (40/78 lượt lời đối thoại) chỉ để hai nhân vật "phải duyên với nhau", tìm hiểu
nhau và quyết định đến với nhau Lần thứ nhất, anh Tràng hò vu vơ mấy câu "Muốn
ăn cơm trắng mấy giò/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh!", thị đã "lon ton" chạy ra đẩy
xe cho anh Tràng Lần thứ hai, Tràng gặp lại thị, thị đã thay đổi nhiều quá, thị gầy
sọp hẳn đi nhưng vẫn với cái vẻ cong cớn đó Trong lần gặp lại lần thứ hai, thị là
người cố tình tìm hiểu, khai thác thông tin - những thông tin vô cùng quan trọng và
cần thiết để thị có quyết định về làm vợ anh Tràng hay không Có thể nói rằng trong
đoạn đối thoại này, thị là người chủ động khai thác thông tin để đưa ra quyết định đi
theo anh Tràng một cách chủ động; anh Tràng thì đùa cho vui, hoàn toàn không
nghĩ đến những toan tính trong suy nghĩ của thị nên khi thị "đi về" thật, Tràng lo sợ
"thóc gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi không, lại còn đèo
bòng", nhưng rồi anh cũng "chậc, kệ!"
Trước mỗi cặp thoại ở buổi gặp gỡ giữa Tràng và thị là những lời dẫn thoại của tác giả miêu tả thái độ của thị: lúc cong cớn, xỉa xói, khi đon đả, ngọt ngào Lời
thoại là những phát ngôn có nội dung thông báo trọn vẹn, đầy rẫy tính từ "nói thật
hay nói khoác", "người thế mà điêu", "leo lẻo cái mồm", cách xưng hô đưa đẩy thân
mật "nhà tôi", "đằng ấy", "tớ" Hình thức lời thoại đa dạng: khi là câu hỏi, khi mặc
cả, lúc là lời mắng, lúc lại là lời cảm thán
Những lời đối thoại trong buổi rước dâu lại cụt lủn, buồn tẻ, thiếu vắng từ xưng hô Hình thức lời thoại cũng đơn điệu: một câu hỏi và một câu trả lời Người
Trang 39đọc cũng không còn bắt gặp lời dẫn thoại miêu tả thái độ cong cớn, xỉa xói, đon đả
của nhân vật như ở buổi đầu gặp gỡ nữa Những lời đối thoại cụt lủn, tẻ nhạt này
chính là tâm trạng ngượng ngùng, e thẹn, âu lo của cả hai nhân vật Khi đùa vui thì
mạnh bạo gọi "nhà tôi ơi", "đằng ấy", nay theo nhau về thì vấn đề trở nên quan
trọng, biết xưng hô với nhau ra sao? "Kim Lân rất tài khi viết những lời đối thoại
giữa hai vợ chồng Tràng Nó thật lửng lơ với toàn là câu nói trống không, nó nhấm
nhẳng, dấm dẳn đến hay Đó là cái lửng lơ, nhấm nhẳng của hai kẻ "chân đất" cùng
khốn, bất ngờ trở thành vợ chồng nhanh quá, nên tới tận lúc đi bên nhau vẫn còn
chưa hết lạ, chưa hết ngượng với nhau Nhưng đó cũng là cái dấm dẳng của hai
người biết rằng họ đã có nhau" [15]
Nhà nghiên cứu Đỗ Kim Hồi cho rằng "Kim Lân rất giỏi khi tả người vợ của
anh Tràng có cong cớn, rất cong cớn nữa nhưng không nanh nọc, có trơ trẽn, rất
trơ trẽn nhưng không đĩ thõa Và cái cong cớn, sưng sỉa, đanh đá, trơ trẽn kia, nó
có thể sinh ra từ dốt nát, đói nghèo, tăm tối chứ tuyệt không sinh ra từ cái ác, cái
xấu xa" Kim Lân đã trả lại cho thị cái bản tính của người phụ nữ Việt Nam Thế
mới thấy tấm lòng nhân đạo của Kim Lân sâu sắc đến nhường nào
Nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện trong phần cuối của câu chuyện Kim Lân cho
bà xuất hiện trong 13 lượt lời đối thoại với con trai và con dâu, trung bình 23,5
chữ/lượt lời Người mẹ già, mặt bủng beo, gần đất xa trời, nhưng khi hiểu ra cơ sự,
bà lại là người nói nhiều nhất trong truyện Đoạn con dâu ra mắt, bà khuyên nàng
dâu "vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi may ra ông trời cho
khá…", rồi bà dặn con trai "Hôm nào nghỉ ở nhà kiếm lấy ít nứa về đan cái phên mà
ngăn ra mày ạ" để Tràng và thị có không gian riêng Trong bữa ăn sáng, bà toàn nói
chuyện vui, chuyện tương lai Bà bảo vợ chồng Tràng nuôi lấy đôi gà, "chả mấy mà
có ngay đàn gà", lại còn khoe món chè khoán "ngon đáo để", "xóm ta khối nhà còn
chả có cám mà ăn" Những lời của bà cụ Tứ là lời của một người từng trải, nhìn
thấy và hiểu tất cả những cơ sự Bà cần phải là người bình tĩnh, xua tan những lo
lắng, ngượng ngùng của đôi vợ chồng trẻ, lại là người cần lạc quan hơn ai hết để
Trang 40khám phá được chiều sâu tâm lí của con người, tình người trong nạn đói khủng
khiếp năm 1945
Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại như một phương thức quan trọng thể hiện chân dung nhân vật, nhà văn Kim Lân cũng chú ý tới ngôn ngữ độc thoại
nội tâm nhân vật
Nhờ có ngôn ngữ độc thoại, Kim Lân đã ghi lại dấu ấn trên những nhân vật bất hủ của mình như nhân vật Tràng, nhân vật bà cụ Tứ
- Mới đầu anh chàng cũng chợt nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng Sau không biết nghĩ thế nào hắn chặc
lưỡi một cái: - Chậc, kệ!
- Hắn nghĩ bụng: "Quái sao nó lại buồn thế nhỉ? ồ sao nó lại buồn thế nhỉ? " Hắn nhổ vu vơ một bãi nước bọt, tủm tỉm cười một mình
Kim Lân đã chọn ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng bà cụ Tứ:
"Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay
đầu giường con trai mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái
Đục mà Ai thế nhỉ?" Đến khi nghe Tràng phân trần cắt nghĩa, bà cụ mới hiểu
Lòng bà ngổn ngang những lo âu, tủi cực, xót thương lẫn vui mừng "Bà lão cúi đầu
nín lặng" Trong lòng bà đầy những ám ảnh của một dĩ vãng nặng trĩu những đắng
cay Bà nghĩ đến ông lão, đến đứa con Út, đến cuộc đời cơ cực dài dằng dặc của
mình mà thương, mà tủi cực xót xa: "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là
lúc trong nhà ăn nên làm nổi những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này Còn mình
thì… "Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt Nạn đói đang đe
dọa, con có vợ bà lo lắng thực sự; "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống được
qua cơn đói khát này không" Từ xót xa, mặc cảm, lo lắng bà nghĩ tới cái may của
gia đình Bà xót thương người đàn bà lạ Lòng người mẹ nghèo nhân hậu thấu hiểu
cảnh ngộ người con gái xa lạ bỗng trở thành con dâu của mình "Người ta có gặp
bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có
vợ được " Nghĩ thế bà vui trong lòng, cử chỉ của bà dịu dàng, âu yếm Nét đẹp và
sự nhân hậu vốn có trong bà được tác giả Kim Lân diễn tả tinh tế qua cách sử dụng
ngôn ngữ chọn lọc trong diễn tả tâm lý nhân vật, góp phầm khắc họa vẻ đẹp tâm
hồn của người mẹ nghèo Việt Nam
Những suy nghĩ thầm kín, những dòng tâm trạng phức tạp không dễ gì được độc giả biết đến nếu thiếu đi những dòng độc thoại nội tâm nổi bật dụng ý nghệ
thuật trong Vợ nhặt