M ụ c dích và yêu c ầ u
M ụ c tiêu chung
Đánh giá hiệu lực của các chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật trong việc phòng chống sâu hại rau tại phòng thí nghiệm Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến đặc điểm sinh học của các loài sâu hại quan trọng Đề xuất sử dụng chế phẩm sinh học để quản lý hiệu quả sâu tơ, sâu keo da láng và sâu khoang, đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe người sản xuất.
Yêu cầu
- Xác định được hiệu lực phòng chống sâu hại rau (sâu tơ, sâu khoang và sâu keo da láng) bằng chế phẩm sinh học
- Xác định ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đặc điểm sinh học của loài sâu keo da láng hại trong phòng thí nghiệm,
PH Ầ N 2 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VÀ
Tình hình nghiên c ứu ngoài nướ c
Nh ữ ng nghiên c ứ u sâu khoang
* Phân bố, phổ ký chủ của loài sâu khoang
Giới: Động vật (Metazoa); Ngành: Chân đốt (Arthropoda); Lớp: Côn trùng (Insecta); Bộ: Cánh vẩy (Lepidoptera); Họ: Ngài đêm (Noctuidae); Chi: Spodoptera; Loài: Sâu khoang (Spodoptera litura)
Sâu khoang có phạm vi ký chủ rộng, bao gồm ít nhất 120 loài thực vật Các cây trồng chính bị sâu khoang tấn công ở vùng nhiệt đới bao gồm bông, lanh, lạc, đay, linh lăng, ngô, lúa, đậu nành, chè, thuốc lá, rau, rau bầu bí, khoai tây và khoai lang Ngoài ra, sâu khoang cũng tấn công các cây trang trí, cây dại, cỏ dại và cây bóng mát, cho thấy loài này hoàn toàn là đa thực (Brown & Dewhurst, 1975).
Sâu khoang hiện đang tấn công hơn 300 loài cây khác nhau, gây thiệt hại lớn cho nhiều loại cây trồng quan trọng về mặt kinh tế như ngũ cốc, rau, cỏ dại, cây phân xanh và cây làm vườn Sự tấn công này diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Châu Á, các đảo Thái Bình Dương, Châu Đại Dương và Bắc Phi (Ahmad & cs., 2007).
Sâu khoang là một trong những loài sâu hại quan trọng nhất đối với cây nông nghiệp ở vùng nhiệt đới, phân bố rộng rãi khắp Châu Á, Australasia và quần đảo Thái Bình Dương (Kranz & cs., 1978) Chúng chủ yếu xuất hiện ở Nam và Đông Á, cũng như Châu Đại Dương, tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có ít hoặc không có sương giá hàng năm Vào mùa hè, sâu khoang mở rộng sang các vùng ôn đới mát hơn và ăn nhiều loại cây ký chủ, bao gồm ít nhất 40 họ thực vật, trong đó có các cây trồng quan trọng như họ cải, họ bầu bí và họ đậu Sâu non chủ yếu ăn lá, có thể gây rụng lá hoàn toàn, và khi mật độ cao, chúng ăn hầu hết các bộ phận của cây (Health & cs., 2019) Tại Trung Quốc, phạm vi xuất hiện của sâu khoang được chia thành ba vùng: “vùng trưởng thành sinh sản quanh năm”, “vùng trú đông” và “vùng trưởng thành sinh sản mùa hè” Sâu khoang có từ 3-9 thế hệ mỗi năm, và mùa đông chủ yếu ở dạng nhộng tại phía nam Thung lũng sông Dương Tử, vì chúng không phát triển trong bất kỳ giai đoạn nào (Fu & cs., 2015).
* Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu khoang S.litura bằng chế phẩm sinh học
Theo nghiên cứu của Rejhan và cộng sự (2011), quần thể sâu khoang tại Dunyapur, Ấn Độ đã được đánh giá với bốn hoạt chất thuốc trừ sâu: emamectin benzoate, spinosad, imidacloprid và profenofos Kết quả cho thấy emamectin benzoate có giá trị LC50 độc nhất là 1,59 ppm, tiếp theo là spinosad (7,77 ppm), profenofos (686,5 ppm) và imidacloprid (258,75 ppm) ở thế hệ 1 Sau 11 thế hệ nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm không tiếp xúc với thuốc trừ sâu, mức độ kháng thuốc của quần thể sâu khoang giảm lần lượt là 4,81, 9,83, 9,3 và 13,82 lần đối với các hoạt chất emamectin benzoate, spinosad, imidacloprid và profenofos Mức độ kháng thuốc cũng giảm lần lượt là 11,36, 11,11, 16,67 và 9,61 đối với imidacloprid, spinosad, emamectin benzoate và profenofos Kết quả cho thấy spinosad có tiềm năng trong việc kiểm soát sâu khoang S litura.
Hiện nay, tại Trung Quốc, các loại thuốc trừ sâu mới như indoxacarb, abamectin, emamectin benzoate, fipronil và spinosad đã được áp dụng tại tỉnh Hồ Nam để kiểm soát dịch hại Việc sử dụng rộng rãi những loại thuốc này trong việc phòng chống sâu khoang S litura đã tạo điều kiện cho sự phát triển khả năng kháng thuốc của loài sâu này (Wang & cs., 2010).
At Anand Agricultural University, research was conducted to evaluate various pesticides for managing Helicoverpa armigera (Hubner) and Spodoptera litura (Fabricius) pests affecting groundnut crops The pesticides tested in the experiment included Emamectin benzoate 5 WG at a concentration of 0.002%, Thiodicarb 75 WP at 0.075%, and Indoxacarb 14.5 SC.
0,007%, Spinosad 45 SC 0,018%, Novaluron 10 EC 0,01%, Lufeneuron 5 EC
0,005%, Flubendiamide 480 SC 0,014%, Chlorantraniliprole 20 SC 0,006% và
Metaflumizone 22 SC 0,044% Hai lần phun thuốc trừ sâu tương ứng được áp dụng cách nhau 15 ngày Trong số chín loại thuốc trừ sâu, chlorantraniliprole
Các hoạt chất spinosad (0,018%) và emamectin benzoate (0,002%) cho thấy hiệu quả cao trong việc bảo vệ cây lạc khỏi sự gây hại của cả hai loại dịch hại Trong khi đó, metaflumizone (0,044%) và lufeneuron (0,005%) lại kém hiệu quả trong việc hạn chế tỷ lệ gây hại của sâu xanh và sâu khoang Chlorantraniliprole (0,006%) sau khi xử lý indoxacarb đã đạt tỷ lệ lợi ích chi phí cao nhất là 1: 3,3.
Bacillus thuringiensis (Bt) là một loại thuốc trừ sâu vi sinh hiệu quả trong việc kiểm soát các loài côn trùng gây hại cho cây trồng, với tỷ lệ chết lên tới 95% ở sâu nonsâu khoang Việc sử dụng phương pháp phun sương đã dẫn đến sự giảm đáng kể trong tiêu thụ và tiêu hóa của sâu khoang (Revathi & cs., 2014).
Nấm Isaria fumosorosea và Beauveria bassiana là những tác nhân sinh học hiệu quả trong quản lý nhiều loài gây hại chân đốt Nghiên cứu cho thấy nấm I fumosorosea làm giảm đáng kể tốc độ phát triển và tỷ lệ tiêu thụ thức ăn của sâu non sâu khoang, với hiệu quả chuyển hóa thức ăn thấp hơn và tỷ lệ chết của sâu non đạt 58,0%, cao hơn so với Beauveria bassiana.
Nấm Isaria fumosorosea không chỉ ảnh hưởng đến sâu non mà còn tác động đến sự hình thành nhộng của sâu khoang (Ullah & cs., 2019) Nghiên cứu tại Ả Rập đã kiểm tra dịch tiết của nấm Beauveria bassiana trên sâu khoang, cho thấy nồng độ 100% mang lại hiệu quả tốt nhất khi áp dụng trên sâu non tuổi 3 Kết quả cũng chỉ ra rằng, khi thời gian tiếp xúc của sâu non với dịch tiết nấm tăng lên, tỷ lệ chết của sâu non lần lượt tăng 4,44%, 10,01%, 41,12% và 54,43% sau 2, 3, 5 và 7 ngày xử lý.
Những nghiên cứu về sâu keo da láng
* Phân bố, phổ ký chủ của loài sâu keo da láng
Giới (regnum): Animalia; Ngành (phylum) :
Eulepidoptera; Lớp (class): Insecta; Bộ (ordo): Lepidoptera; Họ (familia): Noctuidae; Chi (genus): Spodoptera; Loài (species): Spodoptera exigua
Danh pháp hai phần Spodoptera exigua Hubner, 1808
Sâu keo da láng, có nguồn gốc từ Đông Nam Á, lần đầu tiên được phát hiện ở Bắc Mỹ vào năm 1876 tại Oregon và sau đó xuất hiện ở Florida vào năm 1924 Loài sâu này hiếm khi sống sót qua mùa đông ở những khu vực có sương giá, do đó, sự phân bố của nó thường giới hạn ở Arizona, Florida và Texas Tuy nhiên, sâu keo da láng vẫn xâm nhập vào nửa phía nam của Hoa Kỳ hàng năm, từ Maryland đến Colorado và bắc California Ngoại trừ trong nhà kính, loài này hiếm khi trở thành mối đe dọa, trừ ở các bang phía nam.
Sâu keo da láng là một loài gây hại nghiêm trọng cho nhiều loại rau và hoa màu, với phạm vi ký chủ rộng Các loại cây rau dễ bị nhiễm bao gồm măng tây, đậu, củ cải đường, bông cải xanh, bắp cải, súp lơ, cần tây, đậu xanh, ngô, đậu đũa, cà tím, rau diếp, hành, tiêu, khoai tây, củ cải, rau bina, khoai lang, cà chua và củ cải Ngoài ra, các cây trồng trên đồng ruộng như cỏ linh lăng, ngô, bông, đậu phộng, cây rum, lúa miến, đậu tương, củ cải đường và thuốc lá cũng bị thiệt hại Mặc dù có phạm vi ký chủ rộng, sâu keo da láng lại có sở thích thức ăn nhất định và khả năng thích hợp của cây thức ăn cũng khác nhau.
* Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu keo da láng
Thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái kéo dài từ 3-8 ngày, với khả năng đẻ từ 300 đến 1.500 trứng tùy thuộc vào điều kiện phát triển Sức đẻ trứng bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống; nếu được cung cấp thức ăn, sức đẻ có thể đạt khoảng 948,4 trứng, trong khi không có thức ăn, chỉ còn 268 trứng Trưởng thành cái từ sâu non ăn thịt đồng loại có sức đẻ cao hơn so với những con chỉ ăn thực vật Sâu non có màu sắc đa dạng, từ xanh lá cây nhạt đến xanh thẫm, với những sọc màu xuất hiện ở tuổi 1 và 2 Khi đạt tuổi 5, sâu non có thể có nhiều màu sắc khác nhau và thường chuyển sang màu đen trước khi lột xác Sâu non đẫy sức dài từ 20-25,4 mm và chui xuống đất để làm kén Vị trí hóa nhộng thường nằm ở độ sâu 0-3 cm dưới tán cây ký chủ, với nhiều nhộng nhất ở độ sâu 1,1-2,0 cm, nhưng cũng có thể tìm thấy ở độ sâu 4,1-5,0 cm.
*Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu keo da láng bằng chế phẩm sinh học
Nghiên cứu của Wang & cs (2014) cho thấy tính mẫn cảm của các tuổi sâu non của sâu keo da láng Spodoptera exigua đối với emamectin benzoate và chlorpyrifos có sự khác biệt rõ rệt Giá trị LC 50 của emamectin benzoate cho các tuổi sâu non lần lượt là 0,1010; 0,3561; 0,7568; 1,4325 và 8,4390 mg/L, trong khi đối với chlorpyrifos là 27,4632; 46,8495; 87,5222; 129,3217 và 1.356,6770 mg/L Hoạt động của các enzym như esterase và acetylcholinesterase tăng lên khi tuổi sâu non tăng, nhưng có sự giảm nhẹ ở sâu non tuổi 5 do giảm lượng hợp chất ngoại sinh Mối tương quan nghịch giữa hoạt động enzym và độ mẫn cảm với thuốc trừ sâu cho thấy mức độ mẫn cảm khác nhau giữa các tuổi sâu non Thời điểm tốt nhất để kiểm soát sâu keo da láng là ở giai đoạn mới nở Tại Indonesia, nông dân sử dụng thuốc trừ sâu phổ hẹp dẫn đến sự phát triển kháng thuốc ở sâu hại Nghiên cứu cho thấy sâu keo da láng ở Java kháng chlorfenapyr và methomyl, nhưng vẫn nhạy cảm với emamectin benzoate và cyantraniliprole Để ngăn chặn kháng thuốc, nông dân nên luân phiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau (Aldini & cs., 2021) Tại Trung Quốc, tình trạng kháng thuốc của sâu keo da láng đã được điều tra và cho thấy sự phát triển kháng khác nhau đối với emamectin benzoate trong các quần thể từ bảy tỉnh trong giai đoạn 2009–2012.
4 đến 348 lần), indoxacarb (gấp 2 đến 41 lần), spinosad (5 lần) lên 38 lần), chlorantraniliprole (2 - 44 lần), tebufenozide (2 - đến 87 lần), chlorfluazuron (3
- 31 lần), cypermethrin (79 - 1240 lần) và chlorpyrifos (8 - đến 3.080 lần), nhưng không phát hiện thấy sự kháng thuốc đáng kể nào đối với chlorfenapyr
(gấp 0,4 đến 7 lần) Điều này cho thấy rằng chlorfenapyr không có khả năng kháng chéo với các loại thuốc diệt côn trùng hiện đang được sử dụng này (Che
Emamectin benzoate là một loại thuốc trừ sâu hiệu quả cao, thường được sử dụng để kiểm soát sâu keo da láng trên đồng ruộng Nghiên cứu cho thấy ba liều gây chết của Emamectin benzoate (LC5, LC20 và LC50) đều có khả năng ức chế sự gia tăng của sâu keo da láng bằng cách làm giảm sự sống sót của sâu non và khả năng sinh sản của mỗi con cái (Zaka & cs., 2014).
Lựa chọn thuốc trừ sâu tại địa phương ảnh hưởng đến các mô hình kháng thuốc của sâu keo da láng, mặc dù chúng có khả năng di cư xa Do đó, các chiến thuật quản lý kháng thuốc, như luân phiên thuốc, cần được thiết kế và thực hiện dựa trên các mô hình kháng thuốc cụ thể cho từng khu vực địa lý.
Bacillus thuringiensis (Bt) là vi khuẩn có khả năng tổng hợp protein gây tê liệt ấu trùng sâu hại, vượt trội hơn so với nhiều vi khuẩn khác trong việc tiêu diệt côn trùng Bt an toàn cho con người và là thuốc trừ sâu sinh học thân thiện với môi trường, được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu Gen Bt đã được tích hợp vào một số loại cây trồng chính, giúp cây có khả năng kháng côn trùng Từ năm 1938, thuốc trừ sâu vi khuẩn Bt đã được bán tại Pháp để kiểm soát sâu bướm bột, và hiện nay, các sản phẩm chứa Bt đang ngày càng phổ biến và hiệu quả trong việc giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu hóa học.
Khả năng sử dụng chế phẩm Bacillus thuringiensis (Bt) để thay thế thuốc trừ sâu hóa học như Lannate và Hostathion đã được đánh giá hiệu quả chống lại sâu keo da láng Cả hai loại thuốc đều cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát sâu keo da láng, với một lần phun Bt ở tỷ lệ 750 gm/f giúp bảo vệ cây khỏi sự xâm nhập của sâu Năng suất trung bình từ các ô được xử lý bằng Bt đạt 5,52 ± 0,33 tấn/f, so với 5,9 ± 0,4 tấn/f từ các ô sử dụng thuốc trừ sâu hóa học Trong khi đó, năng suất ở các ô đối chứng chỉ đạt 2,1 ± 0,32 tấn/f, cho thấy sự khác biệt đáng kể Sự kết hợp với oxit canxi đã làm tăng hiệu quả của chế phẩm Bt trong việc chống lại sâu keo da láng (Salama & cs., 1999).
Những nghiên cứu về sâu tơ
* Phân bố, phổ ký chủ của loài sâu tơ
Họ Cải (Cruciferae) gồm 350 chi và hơn 3.500 loài (Warwick & cs
Các loài cây trồng quan trọng về mặt kinh tế bao gồm hạt có dầu như hạt cải dầu và mù tạt, cây lá kim như bắp cải và súp lơ, cùng với các loại rau ăn củ như củ cải Chúng phát triển chủ yếu ở vùng khí hậu nhiệt đới và ôn đới Năm 2004, toàn cầu đã thu hoạch khoảng 3,24 triệu ha cây bắp cải và 893,216 ha cây súp lơ Hạt cải dầu đóng góp 14% sản lượng dầu thực vật toàn cầu, đứng thứ ba sau đậu tương và cọ.
Sâu tơ ở Đông Nam Á có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng, lên đến hơn 90%, đặc biệt là ở miền nam Sind, Pakistan, nơi người trồng rau họ cải phải nhổ bỏ cây dù đã sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu Loài sâu này cũng xuất hiện rộng rãi ở Hoa Kỳ, là một trong những loài gây hại chính cho cây họ thập tự, chiếm hơn 90% nguyên nhân rụng lá cây cải dầu ở đông nam Hoa Kỳ Tại Canada, sâu tơ đã được du nhập từ châu Âu trước năm 1854 và hiện diện hàng năm trên các thảo nguyên, với khoảng 467.860 ha được xử lý bằng thuốc trừ sâu vào năm 1985 và 1,8 triệu ha vào năm 2001 để kiểm soát loài này Sâu tơ có khả năng di cư cao, có thể di chuyển khoảng 1500 km với tốc độ 400–500 km mỗi đêm, và đã được ghi nhận di cư ở nhiều quốc gia như Anh, New Zealand, Nam Phi, Chile, Argentina, Nhật Bản và Úc.
Sâu tơ (Plutella xylostella) là một trong những loài gây hại nghiêm trọng nhất đối với cây họ cải, với chi phí quản lý toàn cầu ước tính lên tới 1,0 tỷ đô la Mỹ mỗi năm Mặc dù có thể có nguồn gốc từ Châu Âu, một số nghiên cứu cho rằng loài này có nguồn gốc từ Nam Phi hoặc Trung Quốc Hiện nay, sâu tơ đã xuất hiện ở khắp nơi có cây ký chủ và được xem là loài phân bố rộng rãi nhất trong bộ Lepidoptera.
Sâu tơ có thể sinh sản từ 4 đến 20 lứa mỗi năm ở các vùng ôn đới và nhiệt đới, với mỗi con cái đẻ hơn 200 trứng, chủ yếu ở mặt trên của lá Trong số 896 trứng trên bắp cải Trung Quốc, 68% được đẻ ở mặt trên, 37% ở mặt dưới và 3% trên thân Trứng nở sau 4-8 ngày, và ấu trùng từ lứa thứ hai đến thứ tư ăn lá, chồi và hoa Thời gian ấu trùng ở Canada trung bình là 4,0, 3,6, 3,4 và 4,2 ngày cho các lứa từ đầu đến thứ tư, trong khi thời gian thành nhộng là 7,8–9,8 ngày Ở các vùng nhiệt đới, có thể có khoảng 20 thế hệ mỗi năm, cho thấy thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành nhanh hơn Sâu phát triển nhanh ở nhiệt độ từ 8 đến 32°C và có thể chịu được nhiệt độ thấp đến 4°C hoặc cao đến 38°C Ngoài ra, có bằng chứng về hiện tượng quá đông ở một số vùng ôn đới như Mỹ, Anh và Canada (Chapman & cs., 2002).
*Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu tơ bằng chế phẩm sinh học
Zoophthora radicans là một loại nấm gây bệnh côn trùng quan trọng, được phân lập từ sâu tơ và có khả năng gây chết trong điều kiện môi trường thuận lợi, làm giảm số lượng quần thể sâu hại xuống 0 Nguồn lây nhiễm nấm trên đồng ruộng và các CFU trong không khí có thể dẫn đến hiện tượng chết do tự động phát tán trong quần thể sâu tơ Mặc dù côn trùng bị nhiễm bệnh có thể tồn tại một thời gian, nhưng thiệt hại do ăn có thể xảy ra sớm hơn, với sâu non tuổi 3 bị nhiễm tiêu thụ lá ít hơn 44% so với sâu non khỏe mạnh Ngoài ra, trưởng thành sâu tơ bị nhiễm nấm này đẻ ít trứng hơn đáng kể (Zalucki & cs., 2012).
Ngày càng nhiều người quan tâm đến việc sử dụng thuốc diệt côn trùng mycoinsecticides dựa trên Beauveria bassiana để kiểm soát sâu tơ Mầm bệnh này được áp dụng với tỷ lệ 3 × 10^6 conidia mL^−1, đạt tỷ lệ tử vong 100% Sau 3-7 ngày, loại nấm này sẽ lây nhiễm từ trưởng thành sang sâu non Sâu chết sẽ hình thành CFU nấm Beauveria bassiana, dẫn đến tốc độ truyền bệnh tương tự.
Các công thức thương mại khác nhau của loại nấm này đã ngăn chặn đáng kể các quần thể sâu tơ trên đồng ruộng, (Furlong & Pell, 2001).
Tình hình nghiên c ứu trong nướ c
Nghiên c ứ u v ề sâu khoang
* Phân bố, phổ ký chủ của loài sâu khoang
Sâu khoang là loài ăn tạp gây hại trên nhiều loại cây trồng, với khoảng 290 loài thuộc 90 họ thực vật khác nhau Chúng đặc biệt gây hại nặng cho các cây rau họ thập tự, đậu đũa, đậu tương, thuốc lá và cà chua Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác hại nghiêm trọng của sâu khoang, ảnh hưởng đến chất lượng và năng suất cây trồng.
*Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu tơ bằng chế phẩm sinh học
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của nấm côn trùng trong việc phòng ngừa và trị liệu các loài côn trùng cũng như sâu hại cây trồng.
Nấm Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana đã được nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả trong việc phòng trừ sâu khoang hại rau cải xanh Nghiên cứu cho thấy Metarhizium anisopliae có hiệu lực cao nhất đối với sâu khoang, đạt tới 80,3% sau 14 ngày xử lý Trong khi đó, hiệu lực của thuốc hóa học chỉ còn 44,5% sau 3 ngày, thấp hơn đáng kể so với các nghiệm thức xử lý bằng nấm Mặc dù có sự khác biệt thống kê trong 1 và 3 ngày đầu, nhưng sau 7 ngày, hiệu lực giữa các nghiệm thức không còn khác biệt Điều này cho thấy Metarhizium anisopliae có khả năng kiểm soát sâu khoang hiệu quả mà không cần kết hợp với thuốc hóa học, góp phần bảo vệ môi trường và duy trì nền nông nghiệp bền vững.
Theo nghiên cứu của Đặng Thị Dung và Phan Thị Thanh Huyền (2010), ba loại thuốc Sucsess 25 SC, Silsau 4.0 EC, và Reasgant 1.8 EC đều cho thấy hiệu quả cao trong việc trừ sâu khoang Hiệu lực của các loại thuốc này có sự biến động rõ rệt theo thời gian Một ngày sau khi phun, hiệu lực đạt mức khá từ 72,8% đến 78,2% Đặc biệt, hiệu lực cao nhất được ghi nhận từ 3 đến 7 ngày sau phun, với Reasgant 1.8 EC đạt 91,5% vào ngày thứ 5 Sau 14 ngày, hiệu lực của các thuốc giảm dần nhưng vẫn duy trì ở mức khá, trong đó Reasgant 1.8 EC vẫn có hiệu lực cao nhất với 76,3% Ngược lại, chế phẩm BITADIN WP cho thấy hiệu lực rất thấp, mặc dù nồng độ chế phẩm đã tăng gấp 3 lần so với khuyến cáo.
0.3%), xong 72 giờ xử lý thuốc, hiệu lực chỉ đạt 50,67% (Đặng Thị Dung & Phan Thị Thanh Huyền 2010).
Nghiên cứu về sâu keo da láng
Sâu keo da láng (Spodoptera exigua Hübner) lần đầu tiên được ghi nhận ở Hoa Kỳ vào năm 1876 và đã lan rộng ra Nam Mỹ Loài sâu này có khả năng gây hại cho hơn 200 loài cây trồng thuộc 40 họ khác nhau, đặc biệt là các loại rau màu như hành, cây họ đậu, bầu bí, thập tự, cà, bông vải, bắp và nho Sâu keo da láng thường gây hại ở các vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới Tại Việt Nam, loài sâu này xuất hiện từ Bắc đến Nam, nhưng phổ biến và gây hại nghiêm trọng hơn ở vùng nóng phía Nam (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1999; Nguyễn Văn Huỳnh & Lê Thị Sen, 2004).
* Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu keo da láng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Tuyển (2010), trứng của loài sâu Spodoptera exigua có hình cầu, được đẻ thành từng ổ với lớp lông màu trắng ngà, chủ yếu ở cọng lá hành Kích thước trứng khoảng 0,33 ± 0,01 mm chiều dài và 0,31 ± 0,04 mm chiều rộng, có màu xanh đến vàng nhạt, sau đó chuyển sang màu trắng đục Sâu non trải qua 6 tuổi, với chiều dài và chiều rộng của sâu non tuổi 1 là 2,17 ± 0,13 mm và 0,70 ± 0,03 mm, trong khi sâu non tuổi 2 có kích thước 4,18 ± 0,19 mm chiều dài và 1,43 ± 0,12 mm chiều rộng Khi lột xác, sâu non để lại mảnh đầu màu vàng và cơ thể màu trắng trong, sau đó chuyển sang màu xanh lá cây ở cuối tuổi 2, với phần đầu to hơn phần đuôi và bụng màu vàng xanh Trên cơ thể sâu có 3 sọc trắng mờ chạy từ đốt thứ nhất đến đốt cuối của bụng.
Sâu non tuổi 3 có kích thước chiều dài 6,52 ± 0,27 mm và chiều rộng 2,15 ± 0,14 mm, với màu sắc ban đầu là vàng xanh, sau đó chuyển sang xanh lá cây và vàng nhạt, vẫn còn nhiều lông Khi lột xác, sâu non ít ăn, co lại và màu sắc nhạt dần Sâu non tuổi 4 dài 7,87 ± 0,25 mm và rộng 2,99 ± 0,08 mm, có màu xanh lá cây và đầu to hơn thân, kích thước tăng nhanh khi ăn mạnh Sâu non tuổi 5 đạt chiều dài 13,60 ± 0,35 mm và chiều rộng 3,92 mm.
Sâu non tuổi 6 có kích thước chiều dài 20,40 ± 0,65 (mm) và chiều rộng 4,88 ± 0,02 (mm) Trên lưng, sâu keo da láng có 5 sọc, trong đó có 2 sọc lớn và đậm màu ở mỗi bên hông, kéo dài từ đốt thứ nhất của ngực đến đốt cuối của bụng Một sọc giữa lưng có màu đen xen kẽ màu trắng, cũng chạy từ đốt đầu của ngực đến đốt cuối của bụng nhưng không liên tục Ngoài ra, còn có 2 sọc nhỏ, mờ nằm cách đều, trở nên rõ hơn khi sâu lớn tuổi Mặt bụng của sâu có màu sắc khác biệt so với mặt lưng, thường là màu hồng hoặc xanh nhạt, với 2 vệt trắng ở hai bên.
Khi sắp hóa nhộng, sâu keo da láng có màu xanh thẫm hoặc nâu thẫm, co lại và sau một ngày sẽ hóa nhộng Nhộng có kích thước chiều dài 12,90 ± 0,44 mm và chiều rộng 1,88 ± 0,04 mm, thuộc loại nhộng màng với 3 gai hình răng cưa nổi rõ ở mỗi bên bụng, có màu nâu đồng, trong đó nhộng cái thường mập hơn nhộng đực Ngài trưởng thành có màu trắng xám, kích thước trung bình với thân dài 19,40 ± 0,64 mm và sải cánh rộng 23,30 ± 1,08 mm Đầu ngài màu xám, có nhiều lông và hai mắt kép to màu đen, râu hình sợi chỉ dài từ 5 - 6 mm Ngực có màu nâu đỏ, phủ lớp phấn màu xám tro ánh kim Cánh sau mỏng, trơn và ít vẩy, làm lộ rõ gân cánh, trong khi cánh trước màu xám hơi nâu, thon dài, hình tam giác với nhiều vân Cánh trước có một đốm tròn màu lợt gần cạnh trước, giữa đốm có một điểm đen nhỏ và bên cạnh là một đốm lớn màu vàng cam, cùng với một sọc đen không liên tục chạy từ đầu đến cuối cánh và một hàng chấm đen ở bìa cánh Chùm lông ở cuối bụng ngài cái dài hơn ngài đực (Nguyễn Hồng Tuyển & Hà Quang Hùng, 2011).
*Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu keo da láng bằng chế phẩm sinh học
Hai chế phẩm sinh học này đều đạt hiệu quả cao khi trừ sâu keo da láng
Chế phẩm (Bt) có thể diệt 83,6 - 90,4% Sâu tơ, Sâu khoang và Sâu keo da láng, chế phẩm nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae có hiệu lực đạt
85,6 - 91% đối với bọ cánh cứng hại Dừa (Nguyễn Văn Tuất, 2006) Cũng theo Nguyễn Văn Dũng & Ngô Hoàng Diệp (2010) thuốc trừ sâu vi sinh BT (
Bacillus Thuringiensis là một loại thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn, hiệu quả trong việc tiêu diệt nhiều loại sâu hại như sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang và sâu ăn tạp Khi tiếp xúc với thuốc, sâu sẽ ngừng ăn sau vài giờ và chết trong vòng 1 đến 3 ngày.
Trong phòng thí nghiệm và nhà lưới, nồng độ 108bt/ml, hiệu lực của nấm
Nấm Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae cho thấy hiệu lực trừ sâu xanh da láng lần lượt là 86,1% và 88,6% Đặc biệt, M anisopliae có hiệu quả cao hơn với tỷ lệ 86,6% và 93,1% Hiệu lực của M anisopliae đối với sâu xanh da láng đạt từ 90,4% đến 94,1% sau 10 ngày phun Ngoài đồng ruộng, hiệu quả của hai loại nấm này đối với sâu xanh da láng dao động từ 61,4% đến 72,2% và kéo dài đến 21 ngày sau khi phun Quan trọng là, không có ảnh hưởng bất lợi nào đối với thiên địch trong hệ sinh thái ruộng, bao gồm nhện bắt mồi (Lycosa sp.) và bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipenis) (Võ Thị Thu Oanh, 2010).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương và cộng sự (2016) đã xác định hiệu lực trừ sâu keo da láng trên cây hành hoa của bốn loại thuốc: Catex 1.8EC, Pupont Prevathon 5 SC, Tasieu 1.9EC và Radiant 60SC Từ năm 1971, chế phẩm Bt (Bacillus thuringiensis) đã được nghiên cứu tại Việt Nam, với hơn 20 chế phẩm nhập khẩu và nội địa cho kết quả khả quan trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng đối với các loại sâu hại chính như sâu xanh bướm trắng, sâu xám, sâu tơ, sâu hại bông và sâu đo Chế phẩm Bacillus thuringiensis có khả năng diệt từ 83,6% đến 90,4% sâu tơ, sâu khoang và sâu keo da láng (Bùi Quang Tiếp và cộng sự, 2016).
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Xuân & cs (2020), chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis cho hiệu quả trên 90% đối với sâu non tuổi 1, 2 và 3 ở nồng độ từ 10^4 CFU/ml đến 10^8 CFU/ml sau 7 ngày lây nhiễm Đối với sâu tuổi 4, nồng độ cao 10^7 và 10^8 CFU/ml đạt hiệu quả trên 90% sau 9 ngày lây nhiễm Giá trị LC50 của Bacillus thuringiensis tăng lên khi tuổi sâu lớn hơn, và thời gian gây chết sâu cũng kéo dài, với sâu tuổi 2, 3 và 4 lần lượt cần 75,2 – 119,20 giờ.
2.2.3 Nghiên cứu vềsâu tơ Plutella xylostell Linnaeus
* Phân bố, phổ ký chủ của loài sâu tơ
Sâu tơ là loại sâu hại quanh năm, chủ yếu tấn công các vườn rau, gây ra những lỗ thủng trên bề mặt lá và làm rau xơ xác Khi mới nở, sâu tơ đục lá thành rãnh, và khi lớn hơn, chúng ăn toàn bộ biểu bì lá Mật độ sâu cao có thể làm giảm năng suất rau một cách rõ rệt.
*Nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng trừ của sâu tơ bằng chế phẩm sinh học
Bacillus thuringiensis là vi khuẩn sản sinh protein tinh thể độc, có khả năng tiêu diệt côn trùng mà không gây hại cho sức khỏe con người và môi trường Trong nhiều năm qua, thuốc trừ sâu sinh học từ vi khuẩn này đã được nghiên cứu và ứng dụng để kiểm soát côn trùng gây hại cho cây trồng, đồng thời bảo vệ sức khỏe cộng đồng Sự gia tăng nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp sạch đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ sâu sinh học từ Bacillus thuringiensis.
Nghiên cứu của Nguyen Thi Loc và Vo Thi Bich Chi (2007) đã xác định hai dòng nấm xanh Metarhizium anisopliae và hai dòng nấm trắng Beauveria bassiana, được phân lập từ sâu tơ và một số loài sâu hại khác, có khả năng gây bệnh tự nhiên Các dòng nấm này đã được thử nghiệm hiệu lực trong việc trừ sâu tơ hại cải bông (súp lơ) dưới các điều kiện khác nhau, bao gồm phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng ruộng.
PH Ầ N 3 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượ ng và v ậ t li ệ u nghiên c ứ u
Đối tượ ng nghiên c ứ u
- Sâu keo da láng Spodoptera exigua Hübner,
V ậ t li ệ u nghiên c ứ u
- Thức ăn của sâu keo da láng, sâu tơ, sâu khoang
+ Cây hành hoa, cây cải bắp và thức ăn nhân tạo
- Các dụng cụ nghiên cứu:
Lồng nuôi sâu có kích thước 50 x 50 x 50 cm, bao gồm hộp nuôi sâu nhỏ và hộp nhựa lớn Cần sử dụng đĩa Petri với đường kính 10 cm, kính lúp, kính hiển vi quang học, panh, bút lông, kéo, chậu nhựa, khay nhựa, giấy thấm, bông, và tủ định ôn Ngoài ra, cần ghi chép số liệu thô và sử dụng các loại thuốc thương phẩm như AC-MAX 60ME (Emamectin).
BP GREEN 255C (Spinoad), Pineram 60SC (Spinetoram)
Các chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis (BT1, BT2, BT5) ; chủng Nấm
Metarhizium anisopliae (TN0024), chủng nấm Beauveria basiana (Pam 21) được cung cấp từ trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Địa điểm và thời gian tiến hành
* Địa điểm: Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp
* Thời gian thực hiện từ ngày 05 tháng 01 đến ngày 06 tháng 08 năm 2022.
Nội dung nghiên cứu
• Đánh giá hiệu lực của 1 số chế phẩm sinh học và thuốc hóa học đối với
1 số loài sâu hại rau (sâu tơ, sâu khoang, sâu keo da láng…)
• Đánh giá ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đặc điểm sinh học của sâu keo da láng.
Phương pháp nghiên cứ u
Nhân nuôi ngu ồ n sâu
* Chu ẩn bị cây ký chủ nuôi sâu keo da láng, sâu khoang, sâu tơ
Cây hành hoa có thể được trồng ngoài đất hoặc trong nhà lưới, với đất trồng được pha trộn từ trấu chưa hun, phân vi sinh vật và lân theo tỷ lệ 1:0,25:0,03:0,005 Mỗi chậu trồng hành hoa có đường kính 20 cm và cao 30 cm, với mỗi chậu chứa 1 khóm 4-5 cây Việc trồng được thực hiện mỗi 7 ngày, với số lượng từ 10-20 chậu mỗi lần.
* Trồng cây cải bắp vào chậu
Gieo hạt cải bắp trong chậu nhỏ có kích thước từ 10-20 cm, mỗi ngày gieo 10 hạt cho mỗi chậu Khi cây cải bắp phát triển được 3-4 lá, chuyển sang chậu lớn hơn với kích thước 40-50 cm, mỗi chậu trồng 1 cây cải bắp để đảm bảo có cây cải bắp tươi ngon.
8 lá sau trồng khoảng 20- 30 ngày
* Trồng cải bắp trên vào ô đất:
Trồng cây cải bắp vào ô đất kích thước 3x4 m khoảng cách hàng cách hàng 50 cm và cây cách cây 25 cm Làm cỏ bằng tay và sử dung phân
* Nhân nuôi nguồn sâu keo da láng phục vụ thí nghiệm
Thu sâu non tuổi lớn sâu keo da láng tại cánh đồng trồng hành hoa, sau đó đưa về phòng thí nghiệm nuôi trong các hộp nhựa bằng lá cây hành hoa sạch cho đến khi hóa nhộng Nhộng được thu và chuyển sang các hộp nhựa có lớp đất dày 2cm, đất đã được khử trùng ở 60 o C trong 2 giờ, đảm bảo độ ẩm cho nhộng phát triển đến trưởng thành vũ hóa Sau khi trưởng thành, chúng được đưa vào lồng lưới có cây hành hoa sạch đã trồng 30 ngày để đẻ trứng Hàng ngày, cây hành hoa sạch mới được thay, và trứng cùng ngày tuổi được thu để làm thí nghiệm Trưởng thành được cho ăn dung dịch mật ong 10%, thức ăn được thay mỗi 2 ngày.
*Nhân nuôi đối với sâu tơ
Tiến hành thu bắt nguồn sâu tơ từ tuổi 3,4 và nuôi trong hộp nhựa với thức ăn là lá cải bắp sạch cho đến khi hóa nhộng Các nhộng được nuôi riêng lẻ cho đến khi vũ hóa trưởng thành Sau đó, các cặp trưởng thành mới vũ hóa được ghép đôi trong lồng lưới có cây ký chủ cải bắp sạch 7-8 lá để đẻ trứng Sau 1 ngày, cây cải bắp mới được thay và các cây có trứng được chuyển sang lồng khác để nuôi cách ly, thu sâu non nở ra tiếp tục nhân nuôi Trưởng thành được cho ăn thêm bằng dung dịch mật ong.
10% và duy trì thời gian chiếu sáng ngày: đêm là 16:8 nhiệt độ phòng 25- 29℃ và độ ẩm 85-90%
*Nhân nuôi đối với sâu khoang
Thu cá thể sâu non sâu khoang ngoài đồng với số lượng lớn và nuôi trong hộp có thức ăn là lá cải bắp sạch cho đến khi hóa nhộng Nhộng được phân loại theo giới tính Sau khi vũ hóa, các cặp trưởng thành được ghép đôi trong lồng giao phối kích thước 40×40 cm, với thức ăn bổ sung là mật ong 10% Các cặp giao phối sau đó được tách ra để đẻ trứng lên cây thầu dầu Các ổ trứng được thu vào hộp nhựa có giấy ẩm để phục vụ cho việc nuôi, nghiên cứu đặc điểm sinh học và tiến hành thí nghiệm trong phòng khác.
Đánh giá hiệu lực trong phòng thí nghiệm của chế phẩm sinh học và thuốc hóa học
Phương pháp dùng giống nhau đối với các loài sâu
Các công thức TN bao gồm thuốc thương phẩm và chế phẩm sinh học, được pha theo nồng độ khuyến cáo trên nhãn Ngoài ra, cần bố trí thêm TN cho một số chủng VSV phân lập được.
Các công thức loại thuốc BVTV:
STT Tên thuốc Hoạt chất Nồng độ (%)
1 AC-MAM 60ME Emamectin benzoate 0,1
STT Tên chủng Tên loài vi sinh vật Nồng độ ( CFU/mL )
STT Tên chủng Tên loài vi sinh vật Nồng độ (CFU/ml )
Thử nghiệm hiệu lực của các chủng VSV theo các ngưỡng mật độ CFU khác nhau Gốc: BT1, BT2, BT5, Pam21, TN0024
* Thí nghiệm trên đĩa lá
Chuẩn bị lá bắp cải rửa sạch, lau khô, được cắt thành mảnh tròn đường kính 3 – 4 cm Đĩa Petri với đường kính 10 cm hoặc hộp nhựa kích thước 25 x
Cắt bắp cải kích thước 15 x 12 cm, rửa sạch và lau khô Trước khi tiến hành thí nghiệm, để sâu non đói từ 3-6 giờ Nhúng bắp cải vào dung dịch thuốc trong 30 giây, sau đó để khô tự nhiên và cho vào đĩa Petri, thả sâu non tuổi 3 của sâu khoang và sâu keo da láng, cùng với sâu tơ tuổi 2-3 Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần với 10 cá thể mỗi lần, sử dụng nước lã làm công thức đối chứng Theo dõi tỷ lệ chết sau 1 ngày và 2 ngày.
3, 5, 7, 14 ngày Quan sát côn trùng có mọc nấm hay không thì những con chết được đưa vào dung dịch cồn 95% trong 1 phút sau đó rửa bằng nước sạch trong
Sau 5 phút để khô, chuyển mẫu vào đĩa petri có giấy thấm bên trong Đặt đĩa petri trong điều kiện tối trong 3-5 ngày ở nhiệt độ phòng thí nghiệm để quan sát sự phát triển của nấm gây bệnh trên côn trùng.
Hình 3.1 Các bước thử thuốc A.Chuẩn bị dụng cụ; B Pha thuốc;C Nhúng lá vào thuốc ;D Theo dõi thí nghiệm sau thử thuốc
Tính toán số liệu theo các công thức của Abbot
H (%): Là hiệu lực của thuốc tính theo phần trăm
Số lượng cá thể côn trùng sống ở công thức đối chứng sau khi xử lý được ký hiệu là Ca, trong khi số lượng cá thể côn trùng sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý được ký hiệu là Ta.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc đến đặc điểm sinh học của sâu keo da láng
Sâu non sâu keo da láng tuổi 3 cần được nhịn đói từ 3-6 giờ trước khi tiến hành thí nghiệm tiếp xúc với thuốc Sau khi tiếp xúc, nếu sâu ở công thức đối chứng còn sống sót, chúng sẽ được tiếp tục nuôi cho đến khi hóa nhộng và vũ hóa thành công.
Hình 3.2 Thí nghiệm sử dụng thuốcAC-MAX 60ME A.Chuẩn bị dụng cụ; B Theo dõi thí nghiệm sau thử thuốc
*Trưởng thành sau khi vũ hóa thì tiếp tục ghép đôi theo các công thức TN và theo dõi ở thế hệ sau về sức sinh sản
Theo dõi sức sinh sản của trưởng thành sâu được thực hiện bằng cách ghép đôi một cặp trưởng thành mới vũ hoá trong lồng Mica kích thước 50 x 50 x 50 cm, với chậu cây bắp cải có 7-8 lá thật Hàng ngày, cây mới được thay vào và số lượng trứng đã đẻ ra được đếm và ghi chép cho đến khi trưởng thành chết sinh lý Thức ăn cho trưởng thành là dung dịch mật ong 10%, với tổng số cặp theo dõi là n = 10 cặp.
Chỉ tiêu theo dõi bao gồm việc đo chiều dài trưởng thành và chiều rộng sải cánh trước Ngoài ra, cần ghi nhận số trứng trung bình mà một trưởng thành cái đẻ ra, thời gian tiền đẻ trứng, thời gian đẻ trứng và thời gian sống của chúng.
• Nghiên cứu tỷ lệ trứng nở
Theo dõi ổ trứng của trưởng thành cái được thực hiện vào ba thời điểm: ngày đầu tiên, ngày thứ tư và ngày thứ sáu, với mỗi thời điểm được chọn ngẫu nhiên Trứng được đặt trong đĩa petri có lót giấy ẩm, mỗi hộp chứa một ổ trứng Số lượng trứng nở tại mỗi thời điểm được ghi chép để tính toán Sau khi trứng nở, tiến hành đếm số trứng nở ra sâu và số trứng không nở trong mỗi ổ để ghi chép và tính giá trị trung bình.
Tỷ lệ trứng nở (%) PH Ầ N 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật và chế phẩm sinh học đối với 1 số loài sâu hại rau (sau khoang, sâu tơ, sâu keo da láng)
Đánh giá hiệ u l ự c c ủ a m ộ t s ố ch ủ ng vi khu ẩ n và n ấm đố i v ớ i sâu khoang, sâu tơ, sâu keo da láng ở các n ồng độ khác nhau
tơ, sâu keo da láng ở các nồng độ khác nhau
Chúng tôi đã chọn lựa chủng nấm và vi khuẩn tốt nhất từ các nghiên cứu trước đây và tiến hành đánh giá thử nghiệm ở các nồng độ khác nhau Mục tiêu là đề xuất chủng nấm và vi khuẩn với nồng độ hiệu quả nhất trong việc diệt sâu non sâu khoang, sâu tơ và sâu keo da láng.
4.1.1.1 Hiệu lực của chủng nấm, vi khuẩn ở các nồng độ khác nhau đối với các loài sâu khoang
* Chủng nấm TN0024 Metarhizium anisopliae đối với với sâu khoang ở các nồng độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực của chủng nấm Metarhizium anisopliae
TN0024 ở các nồng độ khác nhau đối với các loài sâu được được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Hiệu lực của chủng nấm TN0024 Metarhizium anisopliae ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu khoang trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%
S ố li ệ u c ủ a b ả ng 4.1 v ề hi ệ u l ự c c ủ a ch ủ ng n ấ m TN0024 Metarhizium anisopliae được đánh giá vớ i sâu khoang v ớ i n ồng độ 2x10 3 , 2x10 4 , 2x10 5 , 2x10 6 ,
2x10 7 , 2x10 8 (bào tử/ml) Sau 24 h x ử lý chúng tôi th ấ y hi ệ u l ự c ch ủ ng n ấ m TN0024
M anisopliae đạ t t ừ 0- 16,7%, hi ệ u l ực đạ t cao nh ấ t là ở n ồng độ 2 x10 8 (bào tử/ml) 16,7% Các ch ủng khác đều đạ t hi ệ u l ự c th ấ p t ừ 0- 10% Hi ệ u l ự c c ủ a các ch ủ ng n ấ m TN0024 M anisopliae ở các nồng độ đều tăng dầ n sau các gi ờ x ử lý sau 48h hi ệ u l ực đạ t t ừ 6,67- 30,4% Sau 120h x ử lý hi ệ u l ự c thu ố c c ủ a ch ủ ng n ấ m tăng dầ n theo n ồng độ bào t ừ trong kho ả ng n ồng độ dao độ ng t ừ 2x10 3 - 2x10 8 (bào t ử/ml) Ở n ồ ng độ 2x10 8 (bào tử/ml) hiệu lực đạt là 100% tiếp theo là nồng độ 2x10 7 (bào tử/ml) là 96,67%, nồng độ 2x10 6 ; 2x 10 5 ; 2x10 4 và 2x10 3 hiệu lực đạt lần lượt là 86,3%, ; 68,69%, 58,52% và 44,44%
* Chủng nấm Beauveria basiana Pam 21 đối với với sâu khoang ở các nồng độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực của chủng nấm Beauveria basiana Pam 21 ở các nồng độ khác nhau đối với oài sâu khoang được được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2: Hiệu lực của chủng nấm Pam 21 Beauveria basiana ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu khoang trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)
Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy hiệu lực của chủng nấm PAM21 Beauveria basiana được đánh giá trên sâu khoang với các nồng độ bào tử là 2x10³, 2x10⁴, 2x10⁵, 2x10⁶, 2x10⁷ và 2x10⁸ (bào tử/ml) Sau 24 giờ xử lý, chúng tôi nhận thấy hiệu lực của chủng nấm PAM21.
Beauveria basiana đạt từ 0- 23.30%, hiệu lực đạt cao nhất là ở nồng độ 2 x10 8
Hiệu lực của các chủng nấm PAM21 Beauveria basiana cho thấy sự gia tăng đáng kể theo thời gian và nồng độ bào tử Cụ thể, sau 72 giờ, hiệu lực đạt từ 6,67% đến 65,60%, và sau 120 giờ, hiệu lực tiếp tục tăng theo nồng độ bào tử trong khoảng từ 2x10³ đến 2x10⁸ (bào tử/ml) Ở nồng độ 2x10⁸ (bào tử/ml), hiệu lực đạt 100%, trong khi nồng độ 2x10⁷ (bào tử/ml) đạt 90% Các chủng khác có hiệu lực thấp hơn, dao động từ 0,00% đến 10,00%.
Hai chủng nấm được đánh giá ở các nồng độ khác nhau, với nồng độ 2 x 10^8 (bào tử/ml) cho hiệu lực diệt sâu cao nhất, đạt 79,63% Các nồng độ 2 x 10^4 và 2 x 10^3 lần lượt có hiệu lực là 51,83% và 44,82% Kết quả so sánh hiệu lực của hai chủng nấm sau các giờ xử lý được thể hiện trong hình 4.1.
Đánh giá hiệu lực của chế phẩm sinh học từ nấm ký sinh Metarhizium anisopliae và Beauveria basiana với hai chủng TN0021 và Pam 21 đối với sâu non sâu khoang tuổi 3 được thể hiện qua hình 4.1, cho thấy hiệu lực của chúng ở nồng độ 2x10^8 sau các giờ xử lý.
Sau 24h xử lý chúng tôi thấy hiệu lực của chủng TN0021 có hiệu lực 16,7% còn đối với chủng Pam21 có hiệu lực 23,30%
Hiệu lực của các chế phẩm tăng dần sau các giờ xử lý sau 48h,chủng PAM21 có hi ệ u l ự c cao hơn là 41,30% so vớ i ch ủ ng TN0024 là 30,40%
Hi ệ u qu ả cao nh ất đạt đượ c c ủ a ch ủ ng TN0024 và ch ủ ng PAM21 đạ t tuy ệt đố i gây ch ế t cho 100% sâu thí nghi ệ m sau 120h x ử lý
* Chủng vi khuẩn BT1 Bacillus thuringiensis đối với với sâu khoang ở các nồng độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực của chủng vi khuẩn BT1 Bacillus thuringiensis ở các nồng độ khác nhau đối với các loài sâu được trình bày trong bảng 4.3.
Bảng 4.3 Hiệu lực của chủng vi khuẩn BT1 Bacillus thuringiensis ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu khoang trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)
Kết quả ở bảng 4.3 cho thấy hiệu lực của chủng vi khuẩn BT1 Bacillus thuringiensis được đánh giá với sâu khoang ở các nồng độ 2x10^3, 2x10^4, 2x10^5, 2x10^6, 2x10^7 và 2x10^8 (CFU/ml) Sau 24 giờ xử lý, chúng tôi nhận thấy hiệu lực của chủng vi khuẩn BT1.
Bacillus thuringiensis đạt hiệu lực từ 0-23,3%, với nồng độ tối ưu là 2 x 10^8 (CFU/ml) đạt 23,3% Các chủng khác có hiệu lực thấp hơn, dao động từ 0-20% Hiệu lực của các chủng vi khuẩn BT1 Bacillus thuringiensis tăng dần theo thời gian, sau 48 giờ xử lý đạt từ 3,33-34,4% Sau 120 giờ, hiệu lực thu được của chủng vi khuẩn cũng tăng theo nồng độ CFU, trong khoảng nồng độ giao động 2 x 10^3.
2x10 8 (CFU/ml) Ở n ồng độ 2x10 8 (CFU/ml) hi ệ u l ự c đạ t là 100% ti ế p theo là n ồ ng độ n ồng độ 2x10 7 (CFU/ml) là 86,30%, n ồng độ 2x10 6 ; 2x 10 5 ; 2x10 4 và 2x10 3 hi ệ u l ực đạ t l ầ n l ượ t là72,59%; 62,22%; 51,48%; 48,15%
* Chủng vi khuẩn BT2 Bacillus thuringiensis đối với với sâu khoang ở các nồng độ khác nhau
K ế t qu ả thí nghi ệm đánh giá h i ệ u l ự c c ủ a ch ủ ng vi khu ẩ n BT2 Bacillus thuringiensis ở các n ồng độ khác nhau đố i v ớ i các loài sâu được đượ c trình bày ở b ả ng 4.4
Bảng 4.4: Hiệu lực của chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis BT2 ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu khoang trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)
Hiệu lực của chủng vi khuẩn BT2 Bacillus thuringiensis được đánh giá với sâu khoang ở các nồng độ 2x10³, 2x10⁴, 2x10⁵, 2x10⁶, 2x10⁷, và 2x10⁸ (CFU/ml) Sau 24 giờ xử lý, hiệu lực của chủng vi khuẩn BT2 Bacillus thuringiensis đạt từ 3,33.
Hiệu lực đạt cao nhất là 33,3% ở nồng độ 2 x 10^8 (CFU/ml), trong khi các chủng khác chỉ đạt hiệu lực thấp từ 3,33% đến 26,7% Hiệu lực của các chủng vi khuẩn BT2 Bacillus thuringiensis tăng dần theo thời gian, với hiệu lực đạt được sau 72 giờ xử lý.
Sau 120 giờ xử lý, hiệu lực thu hồi của chủng vi khuẩn tăng dần theo nồng độ CFU trong khoảng nồng độ giao động từ 2x10³ đến 2x10⁸ (CFU/ml) Ở nồng độ 2x10⁸ (CFU/ml), hiệu lực đạt 96,67%, tiếp theo là nồng độ 2x10⁷ (CFU/ml) với hiệu lực 93,33% Các nồng độ 2x10⁶, 2x10⁵, 2x10⁴ và 2x10³ lần lượt đạt hiệu lực 75,93%; 65,65%; 55,19%; và 44,44%.
* Chủng vi khuẩn BT5 Bacillus thuringiensis đối với với sâu khoang ở các nồng độ khác nhau
K ế t qu ả thí nghi ệm đánh giá h i ệ u l ự c c ủ a ch ủ ng vi khu ẩ n BT5 Bacillus thuringiensis ở các n ồng độ kh ác nhau đố i v ớ i các loài sâu được đượ c trình bày ở b ả ng 4.5
Bảng 4.5: Hiệu lực của chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis BT5 ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu khoang trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)
Chủng vi khuẩn BT5 Bacillus thuringiensis được đánh giá với sâu khoang ở các nồng độ 2x10³, 2x10⁴, 2x10⁵, 2x10⁶, 2x10⁷, và 2x10⁸ (CFU/ml) Sau 24 giờ xử lý, hiệu lực của chủng vi khuẩn BT5 đạt từ 10-36,7%, với hiệu lực cao nhất ở nồng độ 2x10⁸ (CFU/ml) là 36,7% Các chủng khác có hiệu lực thấp hơn, từ 10-33,3% Hiệu lực của các chủng vi khuẩn BT5 Bacillus thuringiensis tăng dần sau 96 giờ xử lý, đạt từ 27,00-92,60% Sau 120 giờ, hiệu lực thu được của chủng vi khuẩn tăng theo nồng độ CFU trong khoảng 2x10³ - 2x10⁸ (CFU/ml), với hiệu lực 100% ở nồng độ 2x10⁸ (CFU/ml), tiếp theo là 83% ở nồng độ 2x10⁷ (CFU/ml), và lần lượt 79,3%, 68,9%, 58,51%, và 44,44% ở các nồng độ 2x10⁶, 2x10⁵, 2x10⁴, và 2x10³.
Hình 4.2 Sâu non sâu khoang ch ế t sau 48h x ử lí
Hiệu lực của ba chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis, bao gồm BT1, BT2 và BT5, được đánh giá ở nồng độ 2x10^8 sau một thời gian xử lý Kết quả cho thấy sự hiệu quả của chế phẩm sinh học này đối với sâu non sâu tơ tuổi 3, như được thể hiện trong bảng 4.3.
Sau 24h x ử lý chúng tôi th ấ y ch ủ ng BT1 có hi ệ u l ự c 23,30%, ch ủ ng BT2 có hi ệ u l ự c 23,30% và ch ủ ng BT2 có hi ệ u l ự c 33,30%
Hi ệ u l ự c c ủ a các ch ủ ng tăng dầ n sau các gi ờ x ử lý sau 72h hi ệ u l ự c c ủ a BT1 và BT2 đề u là 55,20%, BT5 là 68,50%
Sau 120h x ử lý hi ệ u l ự c c ủ a 3ch ủ ng BT1, BT2,B T5 đều đạ t là 100%
4.1.1.2 Hiệu lực của chủng nấm, vi khuẩn ở các nồng độ khác nhau đối sâu tơ
* Chủng nấm TN0024 Metarhizium anisopliae đối với với sâu tơ ở các nồng độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực của chủng nấm Metarhizium anisopliae TN0024 ở các nồng độ khác nhau đối với các loài sâu được được trình bày ở bảng 4.6
B ả ng 4.6 Hi ệ u l ự c c ủ a ch ủ ng n ấ m TN0024 Metarhizium anisopliae ở các nồng độ khác nhau đố i v ới sâu non sâu tơ trong phòng thí nghiệ m
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)
Hiệu lực của chủng nấm TN0024 Metarhizium anisopliae được đánh giá với sâu tơ ở các nồng độ 2x10³, 2x10⁴, 2x10⁵, 2x10⁶, 2x10⁷, và 2x10⁸ (bào tử/ml) Sau 24 giờ xử lý, hiệu lực đạt từ 0-26,7%, trong đó nồng độ 2x10⁸ (bào tử/ml) cho hiệu lực cao nhất là 26,7% Các nồng độ khác có hiệu lực thấp hơn, từ 0-20% Hiệu lực của các chủng nấm TN0024 M anisopliae tăng dần theo thời gian, sau 96 giờ đạt từ 17,00-86,70% Sau 120 giờ, hiệu lực thu được tăng theo nồng độ bào tử, dao động từ 2x10³ đến 2x10⁸ (bào tử/ml) Cụ thể, ở nồng độ 2x10⁸ (bào tử/ml) hiệu lực đạt 96,67%, tiếp theo là nồng độ 2x10⁷ (93,33%), và các nồng độ 2x10⁶, 2x10⁵, 2x10⁴, 2x10³ lần lượt đạt 75,56%, 62,22%, 48,15%, và 40,74%.
* Chủng nấm Beauveria basiana Pam 21 đối với với sâu tơ ở các nồng độ khác nhau
Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực của chủng nấm Beauveria basiana Pam 21 ở các nồng độ khác nhau đối với các loài sâu được được trình bày ở bảng 4.7
Bảng 4.7: Hiệu lực của chủng chủng nấm Beauveria basiana Pam 21ở các nồng độ khác nhau đối với sâu non sâu tơ trong phòng thí nghiệm
Hiệu lực của thuốc sau các giờ xử lý (%)