Đặc biệt lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 28 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi dễ mắc nhiều bệnh nên quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
BẮC GIANG”
HÀ NỘI 2022
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
BẮC GIANG”
Người thực hiện : VŨ THÙY LINH
Lớp : K63CNTYB
Ngành : CHĂN NUÔI THÚ Y
Người hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN HOÀNG THỊNH
Bộ môn : DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
HÀ NỘI 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Các số liệu mà tôi thu thập trong quá trình thực tập là do tôi trực tiếp theo dõi, ghi chép và thu thập
Các số liệu thu thập là trung thực, khách quan và chưa được công bố ở bất
kỳ báo cáo nào trước đó
Các trích dẫn trong báo cáo là có nguồn gốc, cụ thể, rõ ràng, chính xác
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy
cô giáo khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PSG.TS NGUYỄN HOÀNG THỊNH, giảng viên Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, khoa Chăn nuôi đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi khoa Chăn nuôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Công ty TNHH Sơn Động Hòa Phát Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu khách quan giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Chân thành cảm ơn các anh chị trong trại Điệu của công ty đã giúp đỡ rất nhiều trong thời gian tôi thực tập làm đề tài tại đây
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm và động viên tôi trong suốt thời gian thực tập tốt ngiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Vũ Thùy Linh
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
PHẦN I.MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON SAU CAI SỮA 3
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng lợn con 3
2.1.2 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con 3
2.1.3 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 4
2.1.4 Khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng 6
2.1.5 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 6
2.1.6 Ảnh hưởng của cai sữa đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con 7
2.1.7 Phương pháp tập cho lợn con ăn sớm 7
2.1.8 Phương pháp cai sữa heo con 8
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON 8
2.2.1 Lượng thức ăn hàng ngày và số lần cho ăn trong ngày 8
2.2.2 Nhu cầu về năng lượng 9
Trang 62.2.3 Nhu cầu protein và axit amin 10
2.2.4 Nhu cầu khoáng chất 11
2.2.5 Nhu cầu glucid 13
2.2.6 Nhu cầu vitamin 13
2.2.7 Nhu cầu nước của lợn 15
2.3 NHU CẦU THỨC ĂN 15
2.3.1 Thức ăn năng lượng 15
2.3.2 Thức ăn bổ sung protein 16
2.3.3 Thức ăn hỗn hợp 16
2.4 CƠ SỞ SINH LÝ CỦA SỰ SINH TRƯỞNG 16
2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG 17
2.5.1 Các yếu tố di truyền 17
2.5.2 Các yếu tố ngoại cảnh 18
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 20
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20
PHẦN III.ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
3.2.1 Tình hình chăn nuôi và quy trình chăn nuôi của trại 22
3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con giai đoạn từ 28 đến 70 ngày tuổi 22
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.3.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi 23
Trang 73.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 23
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 24
PHẦN IV.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI LỢN TẠI TRẠI LỢN CỦA CÔNG TY TNHH CHĂN NUÔI SƠN ĐỘNG HÒA PHÁT BẮC GIANG 25
4.1.1 Đặc điểm của cơ sở sản xuất 25
4.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn trong thời gian gần đây 26
4.2 QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ VỆ SINH PHÒNG BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN 28 ĐẾN 70 NGÀY TUỔI 27
4.2.1 Quy trình chuẩn bị chuồng trại trước khi nhập lợn mới 27
4.2.2 Quy trình nhập lợn con 28
4.2.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 28
4.2.4 Vệ sinh phòng bệnh 31
4.2.5 Tiêm vaccine phòng bệnh 31
4.2.6 Chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ 28 đến 70 ngày tuổi 33
4.3 KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN 28 ĐẾN 70 NGÀY TUỔI 35
4.3.1 Sinh trưởng chung 35
4.3.2 Sinh trưởng theo tính biệt 36
4.3.3 Sinh trưởng theo lứa 38
4.4 HIỆU QUẢ CHUYỂN HÓA THỨC ĂN (FCR) 39
4.5 MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP 41
4.5.1 Tiêu chảy của lợn con 41
4.5.2 Viêm khớp 43
Trang 84.5.3 Một số bệnh khác 44
PHẦN V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 KẾT LUẬN 45
5.2 ĐỀ NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 48
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm gần đây 27
Bảng 4.2 Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi 28
Bảng 4.3 Nhiệt độ chuồng nuôi 29
Bảng 4.4 Thành phần của cám 01 29
Bảng 4.5 Lượng thức ăn của lợn con 30
Bảng 4.6 Lịch tiêm vaccine phòng bệnh 32
Bảng 4.7 Sinh trưởng của lợn con giai đoạn 28 đến 70 ngày tuổi (n=40) 35
Bảng 4.8 Sinh trưởng của đàn lợn từ 28 đến 70 ngày tuổi theo tính biệt 36
Bảng 4.9 Sinh trưởng của đàn lợn từ 28 đến 70 ngày tuổi theo lứa 38
Bảng 4.10 Hiệu quả chuyển hóa thức ăn (FCR) của lợn con qua cả quá trình ở mỗi lứa 40
Bảng 4.11 Tiêu chảy của lợn con ở cả 2 lứa 42
Bảng 4.12 Bệnh viêm khớp của lợn con ở cả 2 lứa 43
Trang 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1.Sinh trưởng theo tính biệt của lợn con 37 Biểu đồ 4.2.Sinh trưởng của lợn con giai đoạn 28 đến 70 ngày tuổi ở mỗi
lứa 39 Biểu đồ 4.3 Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của lợn con qua cả quá trình ở
mỗi lứa 41
Trang 12
có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở Việt Nam, vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng, là nguồn cung cấp phân bón hữu cơ lớn cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm như da, mỡ, cho công nghiệp chế biến, ngoài ra chăn nuôi còn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đang được phát triển theo hướng công nghiệp hóa, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, quá trình chăm sóc lợn cũng ngày càng chuyên môn hóa theo dây chuyền Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu Tuy nhiên với số lượng đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục từ các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, nguồn nước, không khí nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường, bệnh trên lợn cũng diễn biến ngày càng phức tạp Đặc biệt lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 28 ngày tuổi đến 50 ngày tuổi dễ mắc nhiều bệnh nên quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng ở giai đoạn này ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển và sinh trưởng của lợn sau này Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vacxin
Trang 13phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao Vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con giai đoạn từ 28 đến 70 ngày tuổi”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Theo dõi sinh trưởng của lợn con sau cai sữa từ 28 đến 70 ngày tuổi, từ đó đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn
Đánh giá tiêu tốn thức ăn/kg lợn, từ đó đề ra những giải pháp, phương thức chăn nuôi phù hợp sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Theo dõi tiêu tốn thức ăn của lợn
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi và thu thập số liệu một cách đầy đủ, trung thực, chính xác
Trang 14
PHẦN II
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON SAU CAI SỮA
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng lợn con
Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh Tốc độ sinh trưởng được thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường khối lượng lợn con lúc 7-10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần khối lượng sơ sinh, 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần khối lượng sơ sinh và đến 60 ngày tuổi gấp 10-15 lần khối lượng sơ sinh (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Khối lượng lợn con đạt được ở các thời điểm sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối tương quan thuận với nhau khá chặt chẽ, vì vậy khối lượng sơ sinh càng cao thì có khả năng khối lượng lúc cai sữa cao (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Nhuận, 2005)
Để lợn con tăng trọng nhanh, khả năng tích lũy nạc cao và có các đặc điểm tốt như tỷ lệ sống cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì người chăn nuôi cần phải nuôi dưỡng, chăm sóc đúng kỹ thuật
2.1.2 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con
Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém Do đó, lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi của khí hậu bên ngoài, đặc biệt là nhiệt độ lạnh dễ làm lợn con bị bệnh Theo Trần Thị Dân (2006), cho biết gia súc non từ 15-20 ngày tuổi thân nhiệt mới ổn định
Theo Nghiêm Khánh (1973), cơ quan điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, lớp mỡ dưới da ít nên lợn con rất dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết khí hậu, trong đó nhiệt độ và độ ẩm là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sức khỏe của lợn
Trang 15Khi nhiệt độ môi trường tăng lên ở mức 22-25oC thì khả năng tiết dịch tiêu hóa, hàm lượng enzym giảm, sự vận động của ống dạ dày, ruột bị ức chế, khả năng tiêu hóa và sự đồng hóa thức ăn ở ống tiêu hóa giảm (Trần Cừ, 1985)
Khi còn trong cơ thể mẹ, sự phát triển của bào thai được xác định do thân nhiệt của lợn mẹ Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được nhiệt lượng vừa mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định Nguyên nhân chủ yếu do lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen được dự trữ trong cơ thể còn ít nên khả năng cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế Mặt khác, lông lợn con thưa nên khả năng giữ nhiệt còn kém Sau 3 tuần tuổi, thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39,0-39,5oC), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần lên để đáp ứng với môi trường bên ngoài
Nhiệt độ môi trường thích hợp đối với: lợn con lúc sơ sinh là 34oC; 2 ngày tuổi là 30oC; 14 ngày tuổi là 20oC với độ ẩm không khí khoảng 60%, riêng nhiệt độ dưới chụp sưởi của lợn con phải đạt 32-35
2.1.3 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Hệ thống tiêu hóa của lợn con trong những ngày đầu sơ sinh cả về cấu trúc hình thái học và hoạt động của các enzym tiêu hóa chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hóa sữa như là một nguồn dinh dưỡng duy nhất (Whitemore, 1993) Trong 36 giờ đầu sau khi sinh, thành ruột non của lợn con có khả năng hấp thu nguyên vẹn những globulin phân tử lượng lớn, một sự hấp thu tích cực
và không chọn lọc được thực hiện nhờ các yếu tố ức chế trypsin và các enzyme tiêu hóa protein khác có trong thành ruột non của lợn (Zintzen và CS, 1971) Chính nhờ có cơ chế đó mà hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh của lợn tăng lên nhanh chóng vài giờ sau khi lợn con được bú sữa đầu
Cơ quan tiêu hóa của lợn con có sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện ở số lượng cũng
Trang 16như hoạt lực của một số enzym trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế Sự phát triển nhanh về dung tích bộ máy tiêu hóa được thể hiện cụ thể là ở dạ dày lợn con khi mới sinh chỉ có dung tích 2,5 ml đã tăng lên đến 1815 ml vào lúc 70 ngày tuổi
Tiêu hóa ở miệng
Amylase nước bọt có hoạt tính cao ở lợn con cho đến 21 ngày tuổi Tùy theo lượng thức ăn và lượng sữa tiết ra khác nhau, thức ăn có phản ứng axit yếu
và khô thì nước bọt chủ yếu để tẩm ướt và làm mềm thức ăn
Lượng nước bọt thay đổi tùy theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn Nếu lợn con ăn chỉ một loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho một tuyến, gây
ức chế, lợn ít thèm ăn Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, cả hai tuyến hoạt động, không gây ức chế Nếu cho ăn nhiều loại thức ăn đổi bữa thì lợn sẽ thèm ăn, tiết nươc bọt liên tục, giúp tiêu hóa tốt thức ăn
Tiêu hóa ở dạ dày
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzym tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu Khoảng 25 ngày đầu sau đẻ enzyme pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng
tự do và enzyme pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hóa thành pepsin hoạt động và mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Võ Trọng Hốt và CS, 2000)
Tiêu hóa ở ruột
Sự tiêu hóa ở ruột nhờ tuyến tụy, tuyến tụy tiết ra dịch tụy theo ống dẫn tụy Wirsung đổ vào tá tràng Dịch tụy có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hóa: có sự phân giải từ 60-80% protein thành axit amin, gluxit và lipit của thức
ăn Trong dịch tụy chứa các enzyme phân giải protein, enzyme phân giải bột
Trang 17đường và enzyme phân giải mỡ Độ kiềm của dịch tụy tăng theo tuổi và cường
độ tiết
2.1.4 Khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng
Tiêu hóa thức ăn ở lợn là quá trình làm nhỏ các chát hữu cơ trong đường tiêu hóa như: protein, carbohydrat, lipit để cơ thể có thể hấp thu được Tiêu hóa
có thể dẫn diễn ra theo các quá trình: (1) Quá trình cơ học: nhai nuốt hoặc sự co bóp của cơ trong đường tiêu hóa để nghiền nhỏ thức ăn (2) Quá trình hóa học:
là quá trình tiêu hóa nhờ các enzyme tiết ra từ các tuyến trong đường tiêu hóa (3) Quá trình vi sinh vật: là quá trình tiêu hóa nhờ bacteria và protozoa
Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày, ruột non Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45% carbohydrat, 50% protein, 20-25% đường Dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85% đường và 87% protein, ruột già chỉ còn không quá 10-15% (Trương Lăng, 2003)
2.1.5 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữ đầu Vì vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động và phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa mẹ Trong sữa đầu của lợn nái hàm lượng protein rất cao
Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời
kỳ này cũng có quá trình tổng hợp kháng thể
Thành ruột của lợn con trog 36 giờ đầu tiên có khả năng ngấm thấu được các globulin miễn dịch, các protein khác và hấp thu nguyên dạng ban đầu Hơn nữa lợn con có chất ức chế ức chế trypsin của sữa đầu và niêm mạc ruột lợn tiết
ra giúp globulin không bị phân giải Lợn con tự tạo được kháng thể khi đạt 21 ngày tuổi trở lên (Võ Ái Quấc, 1991)
Trang 182.1.6 Ảnh hưởng của cai sữa đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con
Cấu trúc đặc trưng nhất của niêm mạc ruột non ở lợn con là sự tồn tại của các lông nhung, đơn vị hấp thu nhỏ nhất của cơ quan tiêu hóa Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại ở các hốc nhỏ, nơi mà từ đó dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột Ở những lợn con khỏe mạnh, chiều cao lông nhung dài gấp 3-4 lần so với chiều rộng của các hốc giữa chúng (Ruth Miclat Sonaco, 1996)
Tương quan giữa chiều cao lông nhung và độ sâu của các hốc phản ánh tình trạng, khả năng hấp thu của niêm mạc Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định cai sữa làm giảm chiều cao của lông nhung và tăng độ sâu ở các hốc niêm mạc ruột ở lợn con trong những ngày đầu cai sữa (Kenworthy, 1976; Smith, 1984; Hamspon, 1986; Dunsford và CS, 1989) Theo Mc Carcken và Kelly (1993), chiều cao của các lông nhung và tăng độ sâu giữa các hốc nhỏ giữa chúng có trong niêm mạc ruột non giải thích cho hiện tượng giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy sau cai sữa và dẫn đến giảm thậm chí ngừng tốc độ sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn sau cai sữa (hiện tượng ức chế sau cai sữa)
2.1.7 Phương pháp tập cho lợn con ăn sớm
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), tập cho lợn con ăn sớm và cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn con là khâu quan trọng nhất để có thể đạt được năng suất chăn nuôi Mục đích tập cho lợn con ăn sớm nhằm bổ sung chất dinh dưỡng cho lợn con, tránh được thời kỳ khủng hoảng xảy ra vào giai đoạn sau 3 tuần tuổi Do đó heo con phát triển theo đúng quy luật của nó và tạo được điều kiện cho cơ quan tiêu hoá sớm hoàn thiện Đồng thời nó giúp đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng hơn, bù đắp những yếu tố hạn chế ở sữa mẹ
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004), tập cho lợn con ăn sớm còn
là biện pháp giúp cho con nái bớt hao mòn cơ thể, bảo đảm các lứa đẻ sau đều
Trang 19đặn và con nái không bị loại thải sớm Tập cho đàn lợn con ăn sớm còn là cách giảm khoảng cách giữa khả năng cho sữa của con nái với sự tăng trưởng của lợn con Tập cho lợn con ăn sớm thường được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn đầu, lợn con được làm quen với thức ăn, thức ăn được để ở ô nuôi lợn con riêng để chúng ngửi, liếm tự do, không ép ăn, thời gian này lợn con vẫn sống bằng sữa mẹ là chính
Giai đoạn tiếp theo là tập cho lợn con ăn thêm trước khi bú mẹ Thời gian tập khoảng 1 tiếng, ngày đầu 2-3 lần, sau đó tăng dần thời gian ở chỗ tập ăn 2-3 tiếng Thời gian tập ăn có thể kéo dài 20-25 ngày Thức ăn cho lợn con cần đủ các chất dinh dưỡng, gần được như sữa mẹ, có độ ngọt thích hợp để kích thích lợn con ăn
2.1.8 Phương pháp cai sữa heo con
Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi (2005), tuổi cai sữa lợn con giống ngoại có thể vào lúc 14, 21, 28, 35 ngày tuổi là phụ thuộc vào điều kiện chăn nuôi của từng cơ sở, từng gia đình bao gồm điều kiện chuồng trại, chất lượng thức ăn, trình độ quản lý
Tiến hành cai sữa khi lợn con đã làm quen được với thức ăn và lợn trong đàn mạnh khoẻ, không bị ốm Khi đó tiến hành giảm lượng thức ăn vào ngày cai sữa và một số ngày kế tiếp Cụ thể ngày cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với trước ngày cai sữ, ngày tiếp theo giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa, ngày tiếp theo giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa Sau đó quan sát nếu thấy lợn con không có vấn đề về tiêu hoá thì cho ăn mức bình thường như trước ngày cai sữa, rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con
2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON
2.2.1 Lượng thức ăn hàng ngày và số lần cho ăn trong ngày
Khi cho lợn con tập ăn nên cho ăn với một lượng nhỏ với khoảng cách đều đặn và chia làm nhiều bữa trong ngày sẽ nâng cao được năng suất lợn con
Trang 20Sau khi cai sữa, lợn con thường bị khủng hoảng, tránh tình trạng đó cần giảm lượng thức ăn hàng ngày Cách giảm lượng thức ăn cho ăn hàng ngày như sau:
Ngày đầu cai sữa giảm ½ lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa;
Ngày tiếp theo cai sữa giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa; Ngày tiếp theo cai sữa giảm ¼ lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa Nếu quan sát thấy lợn không có vấn đề gì về đường tiêu hóa thì cho lợn ăn bình thường như trước ngày cai sữa rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con
Số lần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn con Khi cho ăn 3 lần/ngày sẽ tiêu hóa được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần trên ngày sẽ tiêu hóa được 19,7%
2.2.2 Nhu cầu về năng lượng
Trước tiên, lợn con cần năng lượng trước để đáp ứng nhu cầu duy trì của
cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng Giá trị năng lượng thức ăn cũng như nhu cầu năng lượng được biểu thị theo giá trị năng lượng tiêu hóa (DE) hay năng lượng trao đổi (ME)
Năng lượng do sự oxy hóa đường trước tiên huy động đường trong máu;
vì vậy, hàm lượng đường huyết thường biến động, lợn con dễ khủng hoảng (Trương Lăng, 1999)
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), cần căn cứ vào mức năng lượng được cung cấp từ sữa mẹ và nhu cầu của lợn con, từ đó quyết định mức
bổ sung cho lợn con Tuy nhiên, bắt đầu từ tuần tuổi thứ 3 lợn con mới co khu cầu bổ sung năng lượng Nhu cầu này càng cao do sữa mẹ cung cấp ngày càng giảm và nhu cầu của lợn con càng tăng (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Nhuận, 2005)
Giai đoạn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn cho lợn con khá cao Theo tiêu chuẩn Việt Nam, mật độ năng lượng trong 1kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa là cần 3200 kgcal ME/kg Nhu cầu năng
Trang 21lượng của lợn con tăng lên theo tuần tuổi nhưng nhu cầu năng lượng tính cho 1
kg khối lượng cơ thể giảm theo tuần tuổi
Trước tiên, con vật ăn là để thỏa mãn nhu cầu năng lượng Khi nồng độ năng lượng khẩu phần thấp, lượng thức ăn thu nhận tăng lên và ngược lại Tuy nhiên nếu nồng độ năng lượng khẩu phần dưới 9MJ DE/kg hoặc trên 15 MJ DE/kg thì lợn không có khả năng điều chỉnh lượng thức ăn thu nhận phù hợp với nhu cầu năng lượng của chúng (Vũ Duy Giảng, 2007) Vì vậy đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho vật nuôi là công việc đầu tiên khi tính toán, xây dựng khẩu phần
Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vật nuôi là các loại hạt ngũ cốc như: ngô, thóc, cám, gạo, … Ngoài ra, dầu và mỡ cũng là nguồn cung cấp năng lượng cao hơn cả các loại hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần Nếu bổ sung 1% dầu hoặc mỡ vào sẽ làm giảm 2% tiêu tốn thức ăn (Palmer J Holden và CS, 2006)
2.2.3 Nhu cầu protein và axit amin
Protein là cơ sở của sự sống, protein là chất cấu tạo nên các loại mô bào trong cơ thể, đồng thời là cấu tạo của những chất điều hòa sự sống như hormone, enzyme trong cơ thể (Võ Văn Ninh, 2007)
Theo Võ Trọng Hốt (2006), khoảng 15% trọng lượng cơ thể là protein, trong đó 6-13% protein được chu chuyển hàng ngày để duy trì Hàm lượng protein chu chuyển tỉ lệ nghịch với sự phát triển và trọng lượng cơ thể
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Trong 2 tuần đầu lượng sữa của lợn nái đạt đến mức cực thịnh, lợn con hầu như đã nhận được đầy đủ lượng protein cần thiết cho sư phát triển của cơ thể Từ tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung thêm protein để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của cơ thể Thông thường, khẩu phần ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120-130g protein tiêu hóa/đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần là 17-19% (Nguyễn Quế Côi, 2006)
Trang 22Ở lợn sinh trưởng có 10 axit amin quan trọng mà không thể tự tổng hợp được, đó là : lysine, methionine, tryptophan, threonine, isoleucine, valine, leucine, histidine, agrinine và phenylalanine Các axit amin này được cung cấp
từ nguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp Bằng cách giảm hàm lượng protein có trong thức ăn và duy trì hàm lượng các axit amin thiết yếu tại mức đủ nhu cầu hoạt động của động vật, ta có thể giảm lượng nitơ thải qua phân, tránh gây ô nhiễm môi trường (Dick Ziggers, 2003)
Theo Tanksley T.D và CS (2006), bất cứ khẩu phần nào cung cấp đầy đủ
3 loại axit amin là lysine, trytophan, threonine thì sẽ cung cấp đầy đủ các axit amin cần thiết khác để có tăng trọng tối ưu
Như vậy, nhu cầu protein của lợn con chính là nhu cầu về các axit amin thiết yếu Nếu bổ sung không đầy đủ các axit amin thiết yếu cho lợn con, cả về mặt số lượng và tỷ lệ các axit amin sẽ dẫn đến sinh trưởng của lợn con bị ảnh hưởng, lợn chậm lớn, còi cọc, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của các giai đoạn tiếp theo
2.2.4 Nhu cầu khoáng chất
Theo NRC (2000), nhu cầu dinh dưỡng trong khẩu phần của lợn cần một
số khoáng bao gồm : Canxi (Ca), Clo (Cl), Đồng (Cu), Iot (I), Sắt (Fe), Magie (Mg), Photpho (P), Kali (K), Natri (Na), Kẽm (Zn), Selen (Se), Lưu huỳnh (S) Ngoài ra, lợn cần một số khoáng vi lượng khác như : Br, F, Bo, Sn, … Ngày nay
đa số lợn được nuôi nhốt, nên tăng nhu cầu bổ sung khoáng chất
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2007), giai đoạn lợn con phát triển rất mạnh cả hệ cơ và hệ xương, nên nhu cầu chất khoáng rất cao Khoáng ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể, khoáng còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa của các mô cơ thể Trong thành phần cấu tạo của nhiều enzyme có mặt các nguyên tố khác nhau Vì thế thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngưng trệ, sức sản xuất giảm
Trang 23 Khoáng đa lượng
Canxi (Ca) và Photpho (P): có vai trò quan trọng trong hình thành xương Nếu cung cấp thiếu Ca sẽ dẫn đến hiện tượng còi xương ở lợn con Mức cung cấp trong khẩu phần đối với Ca là 0,8% so với vật chất khô khẩu phần, đối với P
là 0,6% so với vật chất khô khẩu phần Nguồn Ca và P thường được bổ sung trong khẩu phần ăn cho lợn con là bột xương, vôi bột, bột đá, …
Natri (Na) và Clo (Cl): Na cùng với Cl điều hòa sự thẩm thấu của tế bào cân bằng ion, cân bằng axit – bazơ trong máu và thể dịch Hàm lượng muối NaCl trong thức ăn biến đổi từ 0,3-1% tùy theo lứa tuổi và tùy theo giống lợn nuôi Lợn con cần ít muối hơn lợn trưởng thành Thiếu Na và Cl trong khẩu phần làm giảm tính thèm ăn, con vật sút cân, gầy yếu và giảm sức sản xuất (cho sữa) Tuy nhiên, nếu thừa Na và Cl trong khẩu phần sẽ gây độc, lợn bị tiêu chảy nặng, da lông xơ xác, chậm lớn (Võ Văn Ninh, 2001)
Khoáng vi lượng
Sắt (Fe) và Đồng (Cu) là hai yếu tố chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu cho lợn con đồng thời là hai yếu tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa của lợn mẹ Vì vậy, cần phải cung cấp đầy đủ trong khẩu phần cho lợn con
Lượng sắt bổ sung vào khẩu phần ở mức 80 ppm và bổ sung ở dạng FeSO2 (FeSO4.7H2O) Tuy nhiên, hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt thường xảy
ra rất sớm trên lợn con Vì vậy, để khắc phục hiện tượng cần phải thực hiện bổ sung sắt bằng cách tiêm dextran cho lợn con (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Đồng (Cu): chỉ cần một lượng rất nhỏ bổ sung vào khẩu phần cho lợn con với mức từ 6-8 ppm Lợn con bú sữa có thể bổ sung Cu vào khẩu phần với lượng từ 125-250 ppm sẽ đem lại tốc độ sinh trưởng cao hơn Dạng bổ sung đồng vào trong khẩu phần ăn cho lợn con thường là: CuSO4.5H2O, CuO, CuCO3
(Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Trang 242.2.5 Nhu cầu glucid
Glucid là những chất chủ yếu đảm bảo năng lượng cho heo và tham gia vào cấu trúc các mô của cơ thể Những chất như đường, tinh bột, xơ v.v…là những chất đảm bảo 70 - 80% nhu cầu năng lượng của heo So với các lứa tuổi khác, heo con có cường độ trao đổi chất và năng lượng cao Sau khi ra khỏi cơ thể mẹ, nguồn năng lượng mất từ mẹ đột ngột, làm thân nhiệt heo con giảm xuống đột ngột Khi mới sinh thân nhiệt heo con đạt 38,9 - 39,1oC, 30 phút sau giảm xuống 36,7 - 37,1 oC Vì vậy trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu heo con được bú sữa đầu thì 8 - 12 giờ sau, thân nhiệt heo con sẽ được ổn định Qua nhiều tài liệu cho thấy, nhu cầu về năng lượng của heo con gồm có nhu cầu về duy trì và nhu cầu sinh trưởng, phát triển Để đáp ứng được nhu cầu năng lượng của heo con, người ta thường dùng cám gạo, bột mì, cao lương, những sản phẩm này có giá trị năng lượng cao, lại vừa có hàm lượng protein cao Trong khẩu phần của heo có thể dùng đến 50 - 60% loại thức ăn này (Đào Trọng Đạt và
cs,1999)
2.2.6 Nhu cầu vitamin
Vitamin được chia ra thành 2 nhóm: vitamin hòa tan trong mỡ và vitamin hòa tan trong nước Nhóm vitamin hòa tan trong mỡ bao gồm: các vitamin A,
D, E và K Nhóm vitamin hòa tan trong nước bao gồm: các vitamin nhóm B và
vitamin C
Nhóm vitamin hòa tan trong mỡ:
Vitamin A có tác dụng bảo vệ lớp biểu mô cũng như hình thành nên lớp ngoài của màng nhầy của nhiều hệ cơ quan hô hấp, cơ quan sinh sản và hệ thần kinh Đồng thời nó có chức năng rất quan trọng đối với hoạt động thị giác, vì vậy nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù Nhu cầu vitamin A ở lợn con trong
8 tuần tuổi đầu tiên là 75-605 mg retinol acetate/kg thức ăn (Sheffy và CS, 1954; Frape và CS, 1959) Theo NRC (1998), nhu cầu vitamin A của lợn con từ 3-10
kg là 2200 IU/kg khẩu phần
Trang 25Vitamin D có nhiều loại song có 2 loại có giá trị đối với lợn đó là vitamin
D2 và D3 Vitamin D3 tham gia vào chuyển hóa Ca, P làm tăng sự hấp thu Ca và
P ở vách ruột thông qua việc tạo pH thích hợp và tổng hợp nên protein vật mang Thiếu vitamin D3 dẫn đến chức năng của cơ không bình thường do sự méo mó của các xương đang phát triển ở lợn con dẫn đến còi xương Nhu cầu vitamin D3 của lợn con dùng khẩu phần casein – glucose là 100 IU/kg thức ăn (Miller và CS, 1964) Theo NRC (1998), nhu cầu vitamin D3 ở lợn con là khoảng 220 IU/kg khẩu phần
Vitamin E là một trong những vitamin quan trọng đối với lợn Chức năng của vitamin E là chất chống oxy hóa màng tế bào Thiếu vitamin E dẫn đến : suy thoái khung xương, cơ tim, tắc nghẽn mạch, sừng hóa dạ dày, thiếu máu, hoại tử gan và chết bất ngờ
Vitamin K cần thiết cho sự tổng hợp prothrombin và các chất giúp cho sự đông máu nhanh chóng, chống lại sự mất máu Có 3 dạng : K1, K2 , K3, cả 3 chất đều có hoạt tính như nhau K1 có nhiều trong thức ăn xanh K2 có nhiều trong vi sinh vật đường ruột K3 là dạng tổng hợp nhân tạo Thường thì vi sinh vật đường ruột sẽ cung cấp đủ vitamin K cho nhu cầu của lợn thông qua sự hấp thu của ruột hoặc tập tính tự ăn phân của lợn, nhưng nếu sử dụng kháng sinh dài ngày sẽ làm nguồn cung này mất đi Vitamin K thường được dự trữ ở gan
Nhóm vitamin hòa tan trong nước:
Vitamin B1 (thiamin) tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thần kinh, khử carboxyl của axit piruvic Miller và CS (1955) ước tính nhu cầu thiamin của lợn từ 2-10 kg là 1,5mg/kg thức ăn Theo NRC (1998), đưa ra nhu cầu thiamin cho lợn từ 5-10 kg là 1,0mg thiamin/kg thức ăn
Vitamin B2 tham gia vào quá trình oxy hóa hoàn nguyên, sự hô hấp của
mô bào, vận chuyển hydro Ngoài ra, vitamin B2 có tham gia vào quá trình tạo hemoglobin để phòng bệnh thiếu máu, tham gia vào quá trình hình thành axit chlohydric của dịch vị và muối mật Thiếu vitamin B2 dẫn đến động vật giảm tốc
Trang 26độ sinh trưởng, viêm da, rụng lông, tiêu chảy, nôn mửa Nhu cầu của vitamin B2
của lợn con từ 3-5 kg là 4mg/kg khẩu phần và 5-10 kg là 3,5mg/kg khẩu phần
Vitamin C là một chất oxy hóa tan trong nước, tham gia quá trình oxy hóa các axit amin có vòng thơm Vitamin C tăng cường sự tạo khung xương và răng Thiếu vitamin C vật nuôi có biểu hiện xuất huyết lấm tấm toàn thân
2.2.7 Nhu cầu nước của lợn
Nước có chức năng chính tạo hình cơ thể thông qua hình thể tế bào và giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa thân nhiệt cơ thể Mặc dù trong 3 tuần đầu lợn thường ăn ít thức ăn ăn vào, song lượng thức ăn thu nhận sẽ ít hơn nếu không cung cấp đủ nước uống (NRC, 2000)
Nước chiếm 50-60% trọng lượng cơ thể Trong máu và sữa nước chiếm đến 80-95% Vì vậy, nếu cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất và nếu mất 20% nước cơ thể, lợn con sẽ chết (Trương Lăng, 2003)
Theo William K và Preston (1991), nhu cầu nước uống cho các giai đoạn của lợn con như sau:
Lợn bú sữa: 0,5-1,5 lít/con/ngày
Lợn 8-50kg: 2,5 lít/con/ngày
2.3 NHU CẦU THỨC ĂN
2.3.1 Thức ăn năng lượng
Thức ăn năng lượng gồm tất cả các nguyên liệu cung cấp năng lượng chủ yếu cho gia súc như: ngô, tấm, cám, …
+ Ngô là loại thức ăn quan trọng, là thành phần chính trong sản xuất thức
ăn chăn nuôi Ngô có giá trị năng lượng cao, chất béo 4%, có nhiều axit béo chưa no thiết yếu, hàm lượng protein thấp khoảng 8-9,5%
+ Tấm có hàm lượng tinh bột cao hơn 70%, hàm lượng xơ thấp khoảng 1%, phẩm chất đạm tốt, chứa nhiều axit béo no (Lê Thị Mến, 1999) Tỷ lệ sử dụng trong khẩu phần khoảng 30%
Trang 27+ Cám có hàm lượng tinh bột là 45%, hàm lượng xơ là 6-9%, đạm 12% và
có hàm lượng chất béo tương đối cao 13-18% Ngoài ra cám còn chứa nhiều vitamin nhóm B như là B1, B2 và một ít khoáng (Dương Thanh Liêm et al, 2000)
2.3.2 Thức ăn bổ sung protein
Thức ăn bổ sung protein gồm các nguyên liệu cung cấp protein chủ yếu như là bột cá, bánh dầu đậu nành, …
Bột cá đạt tiêu chuẩn với độ ẩm dưới 12%, có thể cung cấp hơn 50% hàm lượng protein thô cho khẩu phần với các axit amin thiết yếu, hàm lượng béo cung cấp khoảng 12% và hàm lượng khoáng khoảng 20% Ngoài ra bột cá còn là nguồn thức ăn chứa nhiều vitamin nhóm B, đặc biệt là B2, B12
Bánh dầu đậu nành chứa khoảng 39-40% hàm lượng protein thô, giàu axit amin thiết yếu, nhất là lysine và arginine (Dương Thanh Liêm et al, 2000)
2.3.3 Thức ăn hỗn hợp
Thức ăn hỗn hợp có nhiều tác dụng trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi + Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng phù hợp với mục đích nuôi dưỡng để đạt hiệu quả chăn nuôi cao nhất (Trương Lăng, 2000) Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là thức ăn hoàn toàn cân bằng các chất dinh dưỡng cho gia súc Nó duy trì đời sống và sức sản xuất của con vật mà không cần thêm một loại thức ăn nào khác trừ nước uống Có 2 dạng: dạng bột và dạng viên (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2006)
+ Thức ăn hỗn hợp đậm đặc gồm có 3 nhóm chính: protein, khoáng và vitamin, ngoài ra còn bổ sung kháng sinh, thuốc phòng bệnh Dùng thức ăn đậm đặc phối trộn với nguồn nguyên liệu sẵn có tạo ra khẩu phần ăn cân bằng phù hợp với từng độ tuổi vật nuôi (Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi, 2006)
2.4 CƠ SỞ SINH LÝ CỦA SỰ SINH TRƯỞNG
Quá trình phát triển của lợn bao gồm sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng là quá trình cơ thể tăng lên về khối lượng và kích thước Đó
là quá trình tích lũy mô nạc, mô mỡ, mô xương, … Nghiên cứu sinh trưởng tìm
Trang 28ra phương thức nuôi dưỡng sao cho sự tích lũy nạc nhanh nhất, chất lượng tốt nhất, chi phí thấp nhất (Whitemore, 1993)
Phát dục là quá trình hình thành những tổ chức, bộ phận mới của cơ thể ngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể
Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình không thể tách rời nhau, hai quá trình này không có ranh giới Có sinh trưởng cũng có phát dục
2.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
Tất cả các tính trạng về khả năng sinh trưởng là tính trạng sản xuất và là tính trạng số lượng, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền cũng như ngoại cảnh
Hiện nay, để tăng khả năng sinh trưởng và tăng khối lượng sinh trưởng cơ thể, người ta chủ yếu tạo ra ưu thế lai Con lai thường tạo ra ưu thế lai cao hơn
Trang 29con bố mẹ về tăng khối lượng (Sellier, 1998) Con lai cho ưu thế lai cao hơn bố
mẹ về tăng khối lượng (10%) và thu nhận thức ăn hàng ngày (Sellier, 1998)
Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch
và khá chặt chẽ
Hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình Tuy nhiên, tiêu tốn thức ăn có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc và nó thường là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình cải tiến giống lợn
2.5.2 Các yếu tố ngoại cảnh
Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố môi trường ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng sinh trưởng
Ảnh hưởng của tính biệt
Lợn cái, lợn đực có tốc độ phát triển và cấu thành của cơ thể khác nhau Lợn đực có khối lượng thịt nạc cao hơn lợn cái Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái Nhìn chung, các nghiên cứu đều
cho rằng tính biệt có ảnh hưởng rõ rệt tới tốc độ tăng khối lượng
Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Dinh dưỡng luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn là chìa khóa ảnh hưởng đến việc tăng khối lượng Đảm bảo được cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó
Ảnh hưởng của năm và mùa vụ
Các nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết chúng có ảnh hưởng tới khả năng tăng trọng của lợn
Hung và CS (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến độ dày mỡ lưng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Trang 30Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ lưng thấp hơn so với mùa thu và mùa xuân (Choi và CS, 1997)
Ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng
Các yếu tố gây ảnh hưởng không tốt đến trao đổi chất và sức sản xuất của lợn bao gồm: sự thay đổi của nhiệt độ chuồng nuôi, tiểu khí hậu không thích hợp, cho ăn không theo khẩu phần, chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, cân gia súc, vận chuyển, lấy máu, phân đàn, chuyển chuồng, tiêm chủng và điều trị, thay đổi kích thước và kiểu dáng chuồng nuôi, … (Marraz, 1971, trích Trần Quang Hân, 1996)
Nghiên cứu của Nielsen và CS (1995) cho thấy lợn nuôi đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn ăn được trong một bữa nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô
Nhiệt độ: khi nhiệt độ cao lợn có triệu chứng thở nhiều, giảm ăn, đi phân bừa bãi Điều đó khiến lợn mệt mỏi, kém ăn, bỏ ăn, tăng khối lượng giảm, dễ mắc bệnh, hiệu quả kinh tế giảm sút Biện pháp giảm nhiệt là sử dụng quạt thông gió và giàn mát đồng thời tắt bóng úm
Độ ẩm: độ ẩm cao sẽ gây bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tăng khối lượng giảm Độ ẩm thích hợp là 50-70%
Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng: vệ sinh chuồng trại luôn sạch sẽ, thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông Thức ăn và máng uống được vệ sinh hàng ngày
Đặc biệt là công tác thú y: cần thực hiện công tác “phòng bệnh hơn chữa bệnh” có kế hoạch tiêm phòng vaccine triệt để, cần bố trí hố sát trùng ở cửa ra vào nhằm phòng ngừa dịch bệnh xâm nhập từ bên ngoài Cần chữa trị kịp thời, kiểm soát tốt các bệnh mà lợn con mắc phải
Ảnh hưởng từ thời gian nuôi
Theo Đinh Văn Chỉnh và CS (1995), nghiên cứu trên lợn kiểm tra cá thể cho biết: độ lớn của hệ số tương quan độ dày mỡ lưng so với tỷ lệ mỡ giảm dần theo tuổi, sự tích lũy mỡ tăng dần theo sự tăng khối lượng Cứ tăng 10kg khối