1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính

254 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế Toán Chi Phí Và Tính Giá Thành Dịch Vụ Đào Tạo Đại Học Tại Các Cơ Sở Đào Tạo Trực Thuộc Bộ Tài Chính
Tác giả Ngô Thị Thùy Quỳên
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, việc tính giá dịch vụ ĐTĐH đã không còn chỉ là yêu cầu mang tính pháp lý phải thực hiện vì đã đến hạn chót mà còn là yêu cầu nội sinh từ chính bản thân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

-œ -

NGÔ THỊ THÙY QUYÊN

KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO

TRỰC THUỘC BỘ TÀI CHÍNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Giáo dục và đào tạo từ lâu là đòn bẩy của sự phát triển nền kinh tế quốc gia,

và là niềm hy vọng thay đổi số phận của hàng triệu con người trên thế giới Trong

đó, ĐTĐH luôn đóng một vai trò quan trọng bởi lẽ chính ĐTĐH đóng góp phần lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước với phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn, nhạy bén, giàu óc sáng tạo, có đủ năng lực bắt kịp với tốc độ hội nhập và phát triển của thế giới Sản phẩm đào tạo của các CSĐT đại học quyết định gần như toàn bộ chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Chính vì vậy, ĐTĐH được xem là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của đất nước và luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhà nước cũng như của toàn xã hội Mặc dù điều kiện đất nước và NSNN còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo dục Với nguồn ngân sách đó, GD&ĐT mà cụ thể là ĐTĐH đã đạt được những kết quả đáng khích lệ

Tuy nhiên, bối cảnh mở cửa và hội nhập trên mọi mặt của nền kinh tế - xã hội đã mang tới những khó khăn, thách thức không hề nhỏ với ĐTĐH bởi những tồn tại vốn có như: chưa chấp nhận thực tế ĐTĐH là một loại hình dịch vụ, chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ CPĐT giữa các bên liên quan (nhà nước, người học và toàn xã hội), chế độ chính sách về tài chính, kế toán chưa đáp ứng yêu cầu quản trị đại học theo hướng tự chủ

Theo đó, từ chỗ là những khái niệm xa lạ với nhiều người; hiện nay, thuật ngữ “giá dịch vụ”, “dịch vụ sự nghiệp công” hay “dịch vụ giáo dục đại học” đã dần trở nên quen thuộc Việc tính giá dịch vụ sự nghiệp công nói chung, dịch vụ ĐTĐH nói riêng đã trở thành yêu cầu bức thiết đối với mỗi CSĐT đại học bởi những lý do dưới đây:

Về mặt lý luận: Tính giá thành là một nội dung có tính xuất phát điểm cho

nhiều công việc khác trong kế toán quản trị, vì nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều chức năng quản trị, như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định

- Tính giá thành góp phần xác định giá thành dịch vụ hoàn thành, qua đó là

cơ sở để xác định kết quả hoạt động của từng dịch vụ, từng bộ phận và toàn đơn vị

Trang 3

- Tính giá thành giúp các nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí ở từng nơi phát sinh chi phí (từng khoa, phòng ban, từng hoạt động,…)

- Tính giá thành giúp các nhà quản trị trong nỗ lực nhằm giảm thấp chi phí, cải tiến dịch vụ, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ trên thị trường

- Tính giá thành là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, có tính cạnh tranh và là cơ sở cho nhiều quyết định khác

Về mặt pháp lý và thực tiễn Chiến lược tài chính đến năm 2020 đã được

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ những năm 2012 (theo quyết định số TTg ngày 18/4/2012) đến nay vẫn đang trong quá trình thực hiện và còn nguyên giá trị Bởi những mục tiêu cần đạt được trong cải cách tài chính và kế toán công như: Đảm bảo cho việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả hơn; tập trung nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn với công cuộc cải cách hành chính dường như mới bắt đầu khởi động

450/QĐ-Dấu mốc cơ bản đánh dấu yêu cầu bước ngoặt cho quá trình tự chịu trách nhiệm về hoạt động, tự xác định giá dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công nói chung, các CSĐT đại học nói riêng là nghị định 16/2015/NĐ-CP bằng cách đưa ra

lộ trình tính đủ chi phí vào năm 2020 (Năm 2016: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp; đến năm 2018: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý; đến năm 2020: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định) Tuy nhiên, đến nay, khi đã gần chạm tới cột mốc cuối

lộ trình nhưng hầu như chưa có một CSĐT đại học nào hoàn thành nhiệm vụ tính giá Các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này có thể kể tới là:

Nguyên nhân khách quan đến từ cơ quan quản lý như Bộ GD&ĐT chưa ban

hành văn bản hướng dẫn chi tiết nghị định 16/2015/NĐ-CP trong lĩnh vực giáo dục (tình trạng tương tự đối với các lĩnh vực sự nghiệp công khác); hay chế độ kế toán HCSN mặc dù đã sửa đổi theo thông tư 107/2017/TT-BTC trên cơ sở kế toán dồn tích nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc trong công tác kế toán tính giá dịch vụ

Nguyên nhân chủ quan đến từ chính các CSĐT đại học Mặc dù ngày

30/8/2019 Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 14/2019/TT-BGD&ĐT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật và phương pháp xây dựng giá dịch vụ giáo dục đào tạo một cách rất chi tiết và cụ thể nhưng theo hiểu biết của tác giả thì hiện nay vẫn chưa có CSĐT đại học nào thực hiện xác định giá

Trang 4

dịch vụ đào tạo Điều này có thể được lý giải bởi những ràng buộc về cơ chế chính sách ĐTĐH như: xác định giá dịch vụ thì vẫn nhận kinh phí từ ngân sách (đối với các CSĐT đại học chưa tự chủ), hoặc vẫn bị ràng buộc bởi những quy định trong quản lý tài chính hay học phí (đối với các CSĐT đại học thực hiện thí điểm tự chủ theo nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014)

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, việc tính giá dịch vụ ĐTĐH đã không còn chỉ là yêu cầu mang tính pháp lý phải thực hiện vì đã đến hạn chót mà còn là yêu cầu nội sinh từ chính bản thân các CSĐT đại học, bởi áp lực tự chủ ngày càng cao, muốn tự đứng trên đôi chân của mình, tiên quyết cần nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao kết quả hoạt động; và đương nhiên muốn xác định kết quả hoạt động thì một trong những yêu cầu cơ bản là cần xác định chi phí và tính giá thành dịch vụ

Theo hiểu biết của tác giả, thì đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về kế toán chi phí và tính giá dịch vụ công trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính, mà đặc biệt là kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

Do vậy, xuất phát từ những đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn như trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo nói chung, hoàn thiện công tác quản lý tài chính kế toán nói riêng của các CSĐT

ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính, tác giả lựa chọn đề tài: “Kế toán chi phí và tính

giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính” làm đề

tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình

2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Việc cố gắng khái quát, tìm hiểu mục đích, nội dung, phương pháp và kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố trước đây, về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan gần đến hướng nghiên cứu của luận án như

Trang 5

“kế toán”, “kế toán công”, “chi phí”, “giá thành”, “dịch vụ công” và “dịch vụ đào tạo đại học” được trình bày tại nội dung này, giúp tác giả thực hiện được 2 mục tiêu:

Một là, khẳng định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án: Chưa có

công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về đề tài “Kế toán chi phí và tính giá thành

dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính”

Hai là, góp phần xây dựng nền tảng cơ sở nghiên cứu dựa trên việc kế thừa

các kết quả nghiên cứu trước

Qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy, các công trình nghiên cứu về kế toán chủ yếu tập trung vào 2 hướng nghiên cứu kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ theo quan điểm kế toán tài chính và kế toán quản trị Bên cạnh đó, do đặc thù về loại hình sản phẩm dịch vụ công của ĐTĐH, còn có những công trình nghiên cứu về quản lý tài chính khu vực công và ĐTĐH Cụ thể, một số công trình nghiên cứu có liên quan gần nhất đến luận án là:

2.1 Công trình nghiên cứu về kế toán

Trên quan điểm của kế toán tài chính

Công trình nghiên cứu trên thế giới

Y Nghiên cứu về kế toán nhà nước trong cuốn “Accounting for

Governmental and Nonprofit entities” (tạm dịch: “Kế toán nhà nước và tổ chức phi lợi nhuận”) của tác giả: Earl R.Wilson, Susan C.Kattelus, Leon E.Hay

Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu khá công phu về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động của các đơn vị công phi lợi nhuận Các nội dung nghiên cứu trong cuốn sách bao gồm: các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các sự kiện, cách thức lập báo cáo tài chính Nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích đặc thù hoạt động của một số lĩnh vực sự nghiệp như tổ chức công tác kế toán trong trường học, bệnh viện, các đơn vị lực lượng vũ trang

Y Nghiên cứu về kế toán công của bốn tác giả Ehsan Rayegan, Mehdi

Parveizi, Kamran Nazari và Mostafa Emami với tiêu đề: “Kế toán công: Đánh giá

về lý thuyết, mục tiêu và các tiêu chuẩn” (“Government accounting: An Assessment

of Theory, Purposes and Standards”) đã đưa ra sự tổng hợp các vấn đề trong thực

hiện kế toán của các đơn vị công lập, trong đó bao gồm công tác tổ chức kế toán dựa trên hai nguyên tắc là kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích Nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với công tác kế toán; chương trình

Trang 6

đổi mới công tác quản lý tài chính công và các vấn đề liên quan đến NSNN Đề xuất một số nguyên tắc kế toán mở rộng để thúc đẩy trách nhiệm trong việc giải trình thực hiện công tác kế toán liên quan đến nghĩa vụ kinh tế và chính trị cũng được đưa ra trong nghiên cứu này

Y Ngoài ra, còn phải kể tới chuẩn mực kế toán công quốc tế và một số nghiên cứu có liên quan

Nếu khu vực tư dựa trên hệ thống chuẩn mực là IAS và IFRS, thì khu vực công sử dụng IPSAS như kim chỉ nam cho công việc kế toán Hệ thống chuẩn mực

kế toán công quốc tế (IPSAS) do Ủy ban chuẩn mực kế toán công (IPSAB) ban hành, là các chuẩn mực kế toán áp dụng cho lĩnh vực công, trong đó có các đơn vị cung ứng dịch vụ công không vì mục tiêu lợi nhuận Hệ thống các chuẩn mực này bao gồm những quy định có tính nguyên tắc, mực thước làm cơ sở để các cấp chính quyền nhà nước và các tổ chức công tổ chức công tác kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của các đơn vị kế toán

Mặc dù trong toàn bộ hệ thống gồm 40 chuẩn mực (tính đến 2020) chỉ có duy nhất một chuẩn mực số 05 (IPSAS 5) ban hành những quy định riêng về kế toán chi phí (chi phí đi vay), nhưng những quy định hướng dẫn chung mang tính mực thước về kế toán chi phí nói chung được quy định ẩn trong các chuẩn mực có liên quan khác là rất nhiều, đặc biệt về nội dung ghi nhận và trình bày trên BCTC thông tin về chi phí của đơn vị kế toán công, phần tiếp nhận từ NSNN dưới dạng doanh thu không trao đổi và các chi phí trong các hoạt động khác

Công trình nghiên cứu trong nước

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ

Kế toán chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ được coi là một trong những đề tài truyền thống về kế toán, được bàn luận sôi nổi trên các diễn đàn NCKH, bằng chứng là có rất nhiều nghiên cứu về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ từ xưa Trong khoảng 5 năm trở lại đây, có một số luận án nghiên cứu về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ điển hình là:

Ngô Quang Hùng (2019), trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện tổ chức kế toán

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn

Trang 7

hóa chất Việt Nam” đã đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm thiện tổ chức kế toán chi phí

sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn hóa chất Việt Nam là: hoàn thiện mô hình kế toán, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính và hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán quản trị

Trong luận án“Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh

trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng

Việt Nam” tác giả Lương Khánh Chi (2017) đã trình bày những cơ sở lý luận về

kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất Phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam trong thời gian tới

Với cách tiếp cận 3 chương truyền thống, tác giả Nguyễn Thị Diệu Thu

(2016) trong luận án“Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

phần mềm trong các doanh nghiệp sản xuất phần mềm ở Việt Nam hiện nay” đã

trình bày một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phần mềm trong các doanh nghiệp sản xuất phần mềm ở Việt Nam như: hoàn thiện phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, hoàn thiện xác định giá phí cho đối tượng chịu phí, hoàn thiện phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, hoàn thiện kế toán chi phí nhân công trực tiếp, hoàn thiện phương pháp phân bổ giá trị sản phẩm phần mềm lõi, hoàn thiện xác định chi phí sản phẩm làm dở, sản phẩm

bị lỗi Đặc biệt, tác giả còn trình bày giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất phần mềm bước đầu áp dụng phương pháp ABC trong việc định giá phí của

đối tượng chịu chi phí

Có thể thấy, mặc dù có tương đối nhiều nghiên cứu về kế toán chi phí và tính giá thành, tuy nhiên, mỗi luận án trên đây đều lựa chọn nghiên cứu kế toán chi phí

và tính giá thành sản phẩm tại một loại hình doanh nghiệp cụ thể, với những sản

phẩm hữu hình cụ thể Nên, luận án “Tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu

và kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành tại Việt Nam hiện nay”

của tác giả Đỗ Minh Thoa (2015) là một trong số ít các luận án nghiên cứu về kế

toán chi phí dịch vụ mà tác giả có thể tiếp cận Trong luận án, tác giả Đỗ Minh Thoa

đã trình bày lý luận và phân tích thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành tại Việt Nam hiện nay,

Trang 8

từ đó đưa ra giải pháp và các điều kiện thực hiện giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch

lữ hành tại Việt Nam

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về tổ chức kế toán và hệ thống thông tin kế toán

Thuộc nhóm nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán có thể kể tới các nghiên cứu của các tác giả như:

Nguyễn Thị Minh Hường (2004) “Tổ chức kế toán trong các trường đại

học trực thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo”: Theo hướng nghiên cứu này các tác giả

đã hệ thống hóa và phát triển được cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các trường ĐHCL, các tác giả cũng phân tích và đánh giá được thực trạng tổ chức công tác kế toán tại một số trường điển hình để làm căn cứ đưa ra được các đánh giá về thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các trường thuộc phạm vi nghiên cứu trên cả những mặt đã đạt được và những điểm còn hạn chế cùng các nguyên nhân của hạn chế Trên cơ sở các mặt còn hạn chế, các tác giả đã đưa ra định hướng và

đề xuất được các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường để đạt được hiệu quả hơn trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng và đặc biệt là các nhà quản lý để điều hành đơn vị, để các giải pháp đề xuất của các tác giả được thực thi hiệu quả các tác giả cũng đưa ra những điều kiện đồng bộ cả từ phía Nhà nước, các Bộ ngành và từ phía các trường ĐHCL ở Việt Nam

Thuộc nhóm nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán tại các CSĐT ĐHCL

có 2 luận án tiến sỹ Đinh Thị Mai (2010), “Nâng cao chất lượng hệ thống thông

tin kế toán trong các trường đại học công lập” và Nguyễn Hữu Đồng (2012)

“Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các trường đại học công lập Việt Nam”

Trong hướng nghiên cứu này các tác giả đã hệ thống hóa và phát triển được các lý thuyết về hệ thống thông tin kế toán trong các tổ chức và nêu ra được nhân

tố cấu thành hệ thống thông tin kế toán trong các đơn vị HCSN có thu bao gồm: Bộ máy kế toán; phương tiện kỹ thuật; hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo

kế toán; các quy trình cơ bản; hệ thống kiểm soát Trên cơ sở những nhân tố này các tác giả đã khảo sát thực trạng hệ thống thông tin kế toán tại một số trường ĐHCL

ở Việt nam để đưa ra những nhận xét đánh giá về những ưu điểm và hạn chế, các nguyên nhân của hạn chế về hệ thống thông tin kế toán tại các trường trong mẫu

Trang 9

nghiên cứu Trên cơ sở đó tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các tổ chức nhằm thực hiện tốt trách nhiệm tài chính trong điều kiện mới của Việt Nam và tác giả cũng đề xuất về các điều kiện từ phía

cơ quan quản lý Nhà nước và điều kiện từ phía các trường đại học để các giải pháp triển khai được hiệu quả và đồng bộ

Gần đây hơn, Tô Hồng Thiên (2017) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng

đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các trường đại học công lập ở Việt Nam”,

đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về hệ thống thông tin kế toán; các nội dung tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các trường ĐHCL và các nhân tố ảnh hưởng đến

tổ chức hệ thống thông tin kế toán Tác giả cũng đã nêu được các tiêu chí đánh giá

về tổ chức thông tin kế toán tại các trường ĐHCL và các thang đo của các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thông tin kế toán tại các trường Tác giả đã xây dựng được

mô hình nghiên cứu gồm 7 nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thông tin kế toán tại các trường ĐHCL là: Nhân viên kế toán; nhà quản lý kế toán; công nghệ thông tin; môi trường làm việc; hệ thống văn bản pháp quy; chuyên gia tư vấn và Ban giám hiệu của các trường từ đó tác giả xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến

tổ chức thông tin kế toán tại các trường ĐHCL ở Việt nam Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực tế về tổ chức thông tin kế toán tại các trường và các nhân tố ảnh hưởng tác giả đã chỉ ra được 4 nhân tố có mức ảnh hưởng lớn và quyết định trực tiếp đến

tổ chức thông tin kế toán tại các trường ĐHCL là nhà quản lý tổ chức và điều hành

hệ thống thông tin kế toán; hệ thống các văn bản pháp qui, các văn bản pháp luật kế toán chi phối việc tổ chức thông tin kế toán; công nghệ thông tin và nhân tố Ban giám hiệu phê duyệt các vấn đề có liên quan để tổ chức thông tin kế toán tại các trường

Trên quan điểm của kế toán quản trị

Công trình nghiên cứu trên thế giới

Các công trình nghiên cứu trên thế giới theo hướng tiếp cận kế toán quản trị tại các CSĐT đại học chủ yếu gồm theo 2 nhóm:

Trang 10

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí và nhân

tố ảnh hưởng tại các CSĐT

Y Trong bài viết “Cost management in European Universities - a time of

change” năm 2014, các tác giả Irena Sobanska và Jacek Kalinowski đã khẳng định:

Các cơ sở giáo dục đại học châu Âu ngày càng tập trung vào việc giảm chi phí và liên kết chính xác giữa các chi phí với việc hoàn thành các mục tiêu chiến lược của

họ Theo đó, từ việc phân tích kinh nghiệm của các trường đại học ở các quốc gia khác nhau (Úc, Hà Lan, Đức, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Anh) trong việc phát triển và thực hiện kế toán chi phí, 2 tác giả chỉ ra các yếu tố tác động đến việc thực hiện kế toán quản trị tại các cơ sở đào tạo đại học gồm:

- Nhóm yếu tố kinh tế: gồm các tác động từ biến động kinh tế toàn cầu, gia tăng cạnh tranh, đổi mới công nghệ và phương pháp quản lý, sản xuất, công nghệ thông tin tiến tiến; đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh tới việc đa dạng các nguồn tài trợ: quốc tế, quốc gia, nhà nước, tư nhân

- Nhóm yếu tố yêu cầu từ cấp trên, nhóm này nhấn mạnh tới các yếu tố về luật quốc gia về tài chính, kế toán thuộc khu vực công; cũng như những yêu cầu từ các cơ quan, tổ chức khác như Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học, trung tâm nghiên cứu quốc gia)

- Nhóm yếu tố về áp lực quy chuẩn kế toán quản trị, gồm: việc tuyển dụng các kế toán viên chuyên về mảng kế toán quản trị, thiết kế hệ thống kế toán chi phí bởi các chuyên gia, các khóa đào tạo về các nguyên tắc và phương pháp kế toán quản trị cho nhân viên

Y N.A.Mamontova và A.F.Novak (2015) trong bài viết “Management

accounting of higher education institutions: implementation stages and realization features” đã khẳng định: để đưa kế toán quản trị vào các CSĐT đại

học, cần thực hiện 4 bước: (1) phân chia các cấp độ giới thiệu và thực hiện kế toán quản trị, (2), cung cấp chính sách và phương pháp kế toán quản trị, (3) phát triển hệ thống thông tin báo cáo tự động, (4) xác định những người chịu trách nhiệm về thông tin kế toán quản trị, trong việc thu thập, phân tích và xử

lý thông tin Có thể coi đây là những yêu cầu, bước đi cơ bản để hình thành hệ thống kế toán quản trị nói chung tại tất cả các CSĐT đại học

Trang 11

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về phương pháp kế toán chi phí, chủ yếu là phương pháp kế toán tính giá theo hoạt động (Activity based costing - ABC)

Kế toán chi phí trong các trường đại học gần đây đã được một số tác giả trên thế giới đề cập đến, với việc ghi nhận về yêu cầu của một hệ thống kế toán chi phí hiệu quả đảm bảo cho các quyết định đúng đắn và phân bổ các nguồn lực tốt hơn Trong đó, phương pháp kế toán chi phí được các tác giả nghiên cứu nhiều nhất là phương pháp kế toán ABC

Phương pháp này có nhiều điểm tiến bộ vượt bậc so với phương pháp tính giá truyền thống (Traditional Costing) Nó không những phân bổ chi phí gián tiếp chính xác hơn mà còn giúp các nhà quản lý biết được nguồn gốc phát sinh chi phí, biết được những hoạt động làm phát sinh chi phí tạo ra giá trị, những hoạt động làm phát sinh chi phí nhưng không tạo ra giá trị; cung cấp thông tin đáng tin cậy, kịp thời và linh hoạt cho các cấp quản trị trong quá trình ra quyết định Phương pháp này được các nước trên thế giới áp dụng cách đây vài chục năm và hiện nay trở nên

rất phổ biến

Năm 1995, trong nghiên cứu của hai tác giả Coy và Goh đã ủng hộ việc sử dụng xác định chi phí dựa trên hoạt động (mô hình ABC) trong các trường đại học, đặc biệt là phương pháp phân bổ chi phí gián tiếp Họ rất quan tâm đến việc phân

bổ các chi phí dựa trên cơ sở duy nhất đó là số lượng sinh viên Các tính toán chi phí mà kết quả được tạo ra từ phương pháp tiếp cận trên diện rộng thường gây nhầm lẫn vì chúng không nắm bắt được mối quan hệ nhân quả Coy và Goh cho rằng phương pháp tiếp cận theo mô hình ABC sẽ xác định những hoạt động nào liên quan đến bộ phận, phòng, ban nào và những hoạt động đó ảnh hưởng đến việc tạo

ra doanh thu và tiêu thụ tài nguyên như thế nào Coy và Goh còn chỉ ra rằng mô hình ABC giúp tập trung sự chú ý của tổ chức vào việc cải thiện hoạt động, cái mà

sẽ có tác động lớn nhất đến các nguồn phát sinh chi phí

Đến năm 1996, tác giả Gibbon et al đã nghiên cứu những lợi ích của chi phí dựa trên hoạt động và vấn đề quản trị trong cả sản xuất và tổ chức dịch vụ Họ liệt

kê các lợi ích quan trọng mà mô hình ABC đem lại như sau: Hiểu biết về các hoạt động và chi phí trong tổ chức; Tiết kiệm chi phí; Tăng cường trách nhiệm tài chính;

Trang 12

Cải thiện thông tin liên lạc; Cải thiện chức năng kế toán; Cung cấp tài liệu hữu ích; Thông tin hỗ trợ quyết định có liên quan; Ưu tiên các nỗ lực cải tiến; Chất xúc tác cho sự thay đổi; Giảm thiểu chất thải

Tiếp theo đó, năm 1998, trong luận án tiến sỹ “A comparative evaluation of

finance and activity based cost accounting systems in a private university”, thông

qua việc nghiên cứu tại đại học tư thục Hardin Simmons, Derrell H.Moore đã khẳng định ưu thế của mô hình kế toán ABC trong việc cung cấp các thông tin hữu ích hơn cho các quyết định quản lý nội bộ so với mô hình kế toán tài chính Tác giả cũng đưa ra khuyến nghị tương tự đối với các cơ sở đào tạo khác (công lập hoặc cấp học cao hơn)

Năm 2006, thông qua bài nghiên cứu “Activity Based Costing and Activity

Data Collection: A Case study in the Hight Education Sector”, Tác giả Reich & A

Braham đã trình bày phương pháp phi truyền thống từ việc thu thập dữ liệu hoạt động tại một số trường đại học ở Australia với mục đích nhận diện chi phí một các chính xác và hoàn thiện hơn bằng cách sử dụng mô hình nghiên cứu ABC trong nghiên cứu Nghiên cứu thông qua khảo sát và phỏng vấn các nhân viên đang làm việc tại một số trường đại học ở Australia về cách thu thập dữ liệu hoạt động của các trường từ đó nghiên cứu đưa ra những thảo luận và phân tích để từ đó nghiên cứu có cơ sở đưa ra nhận định việc sử dụng mô hình nghiên cứu ABC trong lĩnh vực hoạt động phi lợi nhuận đặc biệt là đối với các trường đại học được xem như một công cụ quản lý hiệu quả

Gần đây hơn, năm 2016, trong bài viết “Unit cost analysis in higher

education”, các tác giả Asep Kurnia, Tjutju Yuniarsih và Sumarto đã một lần nữa

khẳng định lợi ích của việc sử dụng mô hình ABC trong các cơ sở đào tạo thông qua việc nghiên cứu điển hình với cách tiếp cận định tính 3 cơ sở đào tạo công lập của Indonesia là Institut Teknologi Bandung (ITB), Universitas Pendidikan Indonesia (UPI), and Institut Pertanian Bogor (IPB) Thêm vào đó, nghiên cứu cũng khẳng định rằng kết quả tính toán chi phí đơn vị của cơ sở đào tạo lớn hơn cách tính của Chính phủ, do Chính phủ không thể đáp ứng toàn bộ những khoản thiếu hụt trong kinh phí hoạt động của trường

Trang 13

Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã có những nghiên cứu sâu trong việc ứng dụng kế toán chi phí trong quản trị chi phí của các trường đại học, đặc biệt là việc áp dụng ABC trong các trường đại học nhằm quản

lý các nguồn lực tài chính, cũng như phân tích, tính toán chi phí của các trường đại học (bất kể loại hình là cơ sở đào tạo công lập hay tư thục)

Công trình nghiên cứu trong nước

Tương tự như các công trình nghiên cứu nước ngoài, theo hướng nghiên cứu về kế toán quản trị, các công trình nghiên cứu trong nước cũng thường tập trung vào các nội dung tiêu biểu là:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về tổ chức kế toán quản trị trong các CSĐT ĐHCL

Phạm Thị Thu Thuỷ (2012) “Tổ chức kế toán quản trị chi hoạt động tại

các trường đại học công lập khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội”: Công trình nghiên cứu đã đưa ra được các nội dung kế toán quản trị

chi phí Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống việc tổ chức kế toán quản trị chi phí trên cả góc độ tổ chức bộ máy và tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi hoạt động, đã đề cập đến việc vận dụng phương pháp xác định chi phí cho các đối tượng và phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định Tuy nhiên, do đặc thù các trường đại học công lập hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, và thời gian nghiên cứu là khi các CSĐT thực hiện kế toán trên cơ sở tiền mặt mở rộng theo quy định về chế độ kế toán HCSN ban hành theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC, nên việc xác định chi phí không đầy đủ Do đó, việc vận dụng các nội dung kế toán quản trị vào các trường đại học công lập là không toàn diện

Dương Thị Cẩm Vân (2007), “Vận dụng kế toán quản trị vào trong các

trường chuyên nghiệp” Trong nghiên cứu, tác giả đã nêu được vai trò của kế toán

quản trị đối với các tổ chức và xác định các nội dung chủ yếu của kế toán quản trị được vận dụng vào các trường chuyên nghiệp như: phân tích chi phí và dự toán ngân sách, vận dụng các công cụ đánh giá trách nhiệm quản lý, thông tin kế toán cho việc ra quyết định Đồng thời, tác giả cũng đề xuất giải pháp để vận dụng kế toán quản trị vào trong các trường chuyên nghiệp

Trang 14

Nguyễn Thị Hạnh (2012) “Vận dụng kế toán quản trị tại đại học Đà Nẵng”:

Cũng theo hướng nghiên cứu về kế toán quản trị, nhưng lại lựa chọn phạm vi nghiên

cứu tại một trường đại học cụ thể Trong luận án tác giả đã đánh giá thực trạng công

tác kế toán quản trị tại đại học Đà Nẵng, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp để vận dụng kế toán quản trị cho nhà trường Các giải pháp cụ thể: vận dụng định mức chi phí; thiết lập hệ thống báo cáo kiểm soát chi phí; các phương pháp phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định như phân tích biên, phân tích mối quan hệ giữa chi phí - sản lượng và lợi nhuận

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về phương pháp kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động tại các đơn vị kế toán thuộc khu vực tư, sản xuất sản phẩm hữu hình

Đàm Phương Lan (2019), “Kế toán chi phí theo mức độ hoạt động trong

các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nội địa”: Đây là công trình nghiên

cứu chuyên sâu về kế toán chi phí theo mức độ hoạt động tại một loại hình doanh nghiệp cụ thể Dựa trên cơ sở lý luận về kế toán chi phí theo mức độ hoạt động trong doanh nghiệp, kết hợp phân tích thực trạng kế toán chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nội địa; luận án đã đề xuất giải pháp vận dụng kế toán chi phí theo mức độ hoạt động trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi nội địa

Trần Tú Uyên (2017), trong luận án“Áp dụng phương pháp kế toán theo

hoạt động (ABC) để tính chi phí và giá thành sản phẩm tại các công ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã nghiên cứu thực trạng áp dụng

phương pháp kế toán theo hoạt động ABC để tính chi phí và giá thành sản phẩm tại các công ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao khả năng áp dụng phương pháp ABC tại các công ty dược phẩm này

2.2 Công trình nghiên cứu về quản lý tài chính và học phí

Công trình nghiên cứu trên thế giới

Với đặc thù là một loại hàng hóa dịch vụ công không thuần túy, giá dịch vụ đào tạo đại học lại thường được xem xét dưới cái tên “học phí”

Trang 15

Học phí giáo dục đại học có liên hệ mật thiết với các chủ thể là Nhà nước, nhà trường và người học Học phí đại học là công cụ thực hiện sự chia sẻ chi phí giáo dục đại học giữa Nhà nước và sinh viên Vì vậy, tại các quốc gia khác nhau có chính sách về giá dịch vụ đào tạo đại học khác nhau

Tại một số quốc gia, giá dịch vụ đào tạo do chính phủ hoặc cơ quan trung ương quyết định (Canada, Đức, Ấn Độ, Israel, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Việt Nam) hoặc đưa ra quy định mức giá dịch vụ đào tạo trần (Australia, Nhật Bản, Trung Quốc và Malaysia) Một số quốc gia khác lại cho phép các trường đại học toàn quyền trong việc đưa ra mức giá dịch vụ đào tạo (Chile, Colombia, Pháp, Indonesia, Italy, Philippines, Nam Phi, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Sĩ, Đài Loan và Thái Lan) Tuy nhiên ở những nước này, đôi khi chính phủ vẫn có những can thiệp nhất định

Bên cạnh đó, vấn đề làm sao để đưa ra mức giá dịch vụ này một cách hợp

lý cũng là một vấn đề các quốc gia quan tâm Bởi vì, việc tính chi phí đào tạo đại học khác nhau đáng kể giữa các trường và các ngành, và đặc biệt là các chương trình căn cứ vào tỷ lệ hiện hành giảng viên sinh viên, nhu cầu thiết bị, và các chi phí chương trình cụ thể khác Ngoài ra, việc tính toán chi phí giảng dạy cũng phụ thuộc vào các số liệu kế toán: xác định các chi phí gián tiếp, hoặc toàn chi phí của trường, được phân bổ theo các chi phí trợ cấp đầu tiên hoặc hướng dẫn tốt nghiệp, các chi phí bảo hiểm y tế, hoặc các chi phí vốn (ví dụ, dịch vụ nợ và khấu hao) được xử lý Do đó, một số nước đưa ra giá dịch vụ đào tạo căn cứ vào chí phí chương trình đào tạo bỏ ra hoặc phụ thuộc vào lợi ích cá nhân thu được từ trường đại học hoặc chương trình nhất định Cụ thể, chương trình đào tạo có chi phí cao

sẽ trả giá dịch vụ đào tạo cao; hoặc giá dịch vụ đào tạo bao gồm chi phí giảng dạy

và giá trị thị trường của ngành học được chọn lựa Ví dụ điển hình là ở Mexico và Hoa Kỳ, các trường đại học có uy tín cao hơn hoặc các cơ sở thuộc loại cạnh tranh hơn (so với các trường đại học cao đẳng cộng đồng) tính giá dịch vụ đào tạo cao hơn

Tuy nhiên, giá dịch vụ đào tạo cao cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ sinh viên đăng

kí học Năm 2009, bài nghiên cứu “The price of knowledge: Access and student

finance in Canada” các tác giả Berger J., Motte A and Parkin A đưa ra nhận xét:

khi học phí tăng tỷ lệ sinh viên từ các gia đình thu nhập trung bình và thấp có xu

Trang 16

hướng giảm, trong khi đó số lượng sinh viên từ những gia đình có điều kiện tăng gấp đôi ở Canada vì khi học phí cao, các trường có điều kiện để nâng cao cơ sở hạ tầng và chất lượng giảng dạy hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra nếu tăng học phí thì không được tăng quá mức lạm phát Mức độ đáp ứng được học phí là một vấn đề cần xem xét vì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả trong trường hợp mức tăng học phí có sự điều chỉnh theo lạm phát thì đối với các hộ gia đình thu nhập thấp và trung có mức thu nhập và sức mạnh mua hàng không tăng nhiều

Công trình nghiên cứu trong nước

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về chi phí đào tạo và giá dịch vụ đào tạo tại cơ sở đào tạo đại học

Theo dòng thời gian, nổi bật trong nhóm này lần lượt là các nghiên cứu sau:

Đề tài “Xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam” thuộc chương trình

nghiên cứu khoa học giáo dục cấp bộ giai đoạn 2006 - 2008 “Phát triển GD&ĐT

Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, công bố năm 2009 của PGS TS Nguyễn Văn Áng Tuy nhiên, đề tài này mới chỉ đề xuất một số kiến nghị với Nhà

nước và các trường đại học trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết cho việc tính toán

chi phí đào tạo thực tế 01 sinh viên cho các trường

Bài viết của PGS.TS Bùi Duy Cam và PGS.TS Nguyễn Văn Nội (2012),

“Xác định chi phí đào tạo, các kiến nghị và điều kiện để thí điểm thực hiện cơ chế

đặt hàng đào tạo đối với các ngành khoa học cơ bản tại trường Đại học Khoa học

tự nhiên, ĐHQGHN” trong kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo

dục đại học” có nội dung xác định chi phí đào tạo không nhiều, chủ yếu phân tích

cơ chế tài chính đối với hoạt động đặt hàng đào tạo với ngành khoa học cơ bản

Cũng trong kỷ yếu hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại

học”, TS Phạm Vũ Thắng (2012), công bố “Kết quả nghiên cứu xác định chi phí

đào tạo một sinh viên đại học ở Việt Nam và khuyến nghị về chính sách tài chính giáo dục đại học Việt Nam” Trong đó, tác giả tập trung vào một số mục tiêu như:

xác định chi phí đào tạo thực tế một sinh viên đại học Việt Nam; xác định chi phí đào tạo hợp lý theo các mức chất lượng khác nhau cho một sinh viên đại học Việt Nam; đề xuất chính sách giá dịch vụ đào tạo cho các chương trình đại học và sau

đại học chính quy, không bao gồm các chương trình đào tạo khác Nghiên cứu tính

Trang 17

toán chi phí đào tạo một sinh viên từ góc độ trường đại học Chi phí này không bao

gồm các chi phí tư như khoản thu nhập cá nhân mất đi, sách vở, học cụ, …

Kết quả nghiên cứu kết luận việc ước tính chi phí đào tạo thực tế và hợp lý chia theo tám nhóm ngành: (i) Kỹ thuật và công nghệ; (ii) Khoa học tự nhiên, (iii) Khoa học xã hội và nhân văn; (iv) Sư phạm và quản lý giáo dục; (v) Nông, lâm, ngư; (vi) Y dược; (vii) Kinh tế, tài chính, ngân hàng và pháp lý và (viii) Nghệ thuật Chi phí đào tạo hợp lý được ước tính cho các nhóm ngành khác nhau ở ba mức độ

chất lượng: thấp, trung bình và cao

Trong đề tài NCKH cấp Bộ năm 2015“Xác định chi phí hình thành giá dịch

vụ và công cụ quản lý chi phí dịch vụ đào tạo đại học công lập khối kinh tế trong

điều kiện hiện nay ở Việt Nam”, tác giả Ngô Thanh Hoàng, Phạm Văn Trường

(2015) đã trình bày cơ sở lý thuyết xác định chi phí hình thành giá dịch vụ đào tạo

trong giáo dục đại học công lập khối kinh tế và những vấn đề cơ bản về xác định công cụ quản lý chi phí hình thành giá loại dịch vụ này Tác giả đưa ra thực trạng hoạt động dịch vụ đào tạo; thực trạng về chi phí, giá dịch vụ đào tạo; xác định công

cụ quản lý chi phí, giá dịch vụ đào tạo và thực trạng chế độ kế toán công trong việc xác định chi phí, giá dịch vụ đào tạo trong giáo dục đại học công lập khối kinh tế (giai đoạn áp dụng chế độ kế toán HCSN ban hành theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC) Theo đó, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp cho vấn đề nghiên cứu là: (1) Nghiên cứu định hướng quản lý kinh tế trong giáo dục đại học công lập khối kinh

tế trong giai đoạn 2014 - 2020; (2) Nghiên cứu, đổi mới phương thức xác định chi phí, giá dịch vụ đào tạo trong giáo dục đại học công lập khối kinh tế trong giai đoạn tới; (3) Đổi mới công cụ quản lý đối với chi phí và giá dịch vụ đào tạo trong giáo dục đại học công lập khối kinh tế; (4) Các giải pháp hoàn thiện chế độ kế toán đối

với chi phí, giá dịch vụ giáo dục đại học công lập khối kinh tế

Với quan điểm tiếp cận giá dịch vụ đào tạo đại học từ học phí, tác giả Trần

Quang Hùng (2016) trong luận án“Chính sách giá dịch vụ đào tạo đại học tại Việt

Nam” đã hệ thống hóa được các khái niệm liên quan đến chính sách học phí giáo

dục đại học, đưa ra bài học kinh nghiệm về chính sách học phí giáo dục đại học công lập từ các quốc gia trên thế giới, phân tích thực trạng chính sách học phí giáo dục đại học công lập ở Việt Nam và đánh giá học phí đại học công lập theo quan điểm người học Qua đó, tác giả đưa ra đề xuất các khuyến nghị để hoàn thiện chính

Trang 18

sách học phí giáo dục đại học công lập ở Việt Nam bao gồm: (1) Về dài hạn Nhà nước nên thực hiện lộ trình bỏ “mức trần học phí”; (2) Trong giai đoạn áp dụng

“mức trần học phí”, các trường đại học vẫn được phép tăng học phí vượt trần, và phần chênh lệch giữa học phí trần và học phí thực tế Nhà nước sẽ thu thuế; (3) Chính sách học phí cần phân loại thành nhiều nhóm ngành đào tạo đại học; (4) Nhà nước cần đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng các trường đại học, khuyến khích kiểm định chất lượng độc lập, kiểm định vùng và xếp hạng các trường đại học; (5) Nhà nước cần tiếp tục duy trì và hoàn thiện chính sách hỗ trợ học phí, vay sinh viên cho học sinh nghèo; (6) Cần phải thành lập hội đồng kiểm tra học phí ở các trường đại học

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về tự chủ của các trường ĐHCL

Nghiên cứu điển hình trong nhóm này là luận án của Trần Đức Cân (2012)

“Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam”

Nghiên cứu của tác giả đã phân tích cơ chế tự chủ tài chính theo góc độ từ các trường đại học công lập, đồng thời nêu ra những thuận lợi, khó khăn và đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trước xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trường Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định 43/2006/NĐ-CP, kết hợp với kết quả điều tra tại 60 trường, nghiên cứu

đã đưa ra những đánh giá khá toàn diện về thành công và hạn chế của cơ chế tự chủ tài chính hiện hành Từ đó, qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tự chủ tài chính trường đại học, tác giả rút ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể: (1) Tái cấu trúc các trường theo hướng phân tầng định hướng nghiên cứu; ứng dụng và thực hành; (2) Cấp ngân sách theo khung chi tiêu trung hạn (MTEF), gắn với kết quả đầu ra; xếp hạng nhà trường, kết quả đóng góp cho nhiệm vụ của ngành, địa phương và phát triển KT-XH của đất nước; đồng thời đảm bảo tính công khai, minh bạch, có các tiêu chí định lượng rõ ràng Cấp thêm ngân sách nghiên cứu khoa học như ngân sách chi thường xuyên và tăng quyền lợi cho giảng viên có công trình khoa học đưa vào ứng dụng thực tiễn làm ra sản phẩm phục nhu cầu xã hội; (3) Thực hiện chế độ khoán chi ngân sách và hậu kiểm Ngân sách cấp theo cơ chế khoán không phải lập theo các tiểu mục, để các trường được toàn quyền chi cho tiền lương, chi đầu tư phát triển…và áp dụng chế độ hậu kiểm cho đối với các trường; (4) Xây dựng lộ trình tính đủ chi phí đào tạo trong giá dịch vụ

Trang 19

đào tạo theo ngành nghề, chương trình đào tạo Nhà nước cần định hình rõ về mô hình tài chính cho giáo dục đại học theo hướng tăng cường chia sẻ giá dịch vụ đào tạo từ người phù hợp với chất lượng đào tạo được cung cấp Cho phép các trường được quyền tự xây dựng các mức giá dịch vụ đào tạo đối với những chương trình đào tạo theo nhu cầu của người học, nhu cầu của xã hội để tăng cường tính xã hội hóa, giảm gánh nặng về chi NSNN cho giáo dục đại học công lập; (5) Áp dụng phân

tích tài chính vào nhà trường giống như doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu còn có

những đề xuất về điều kiện đảm bảo thực hiện các giải pháp có hiệu quả

2.3 Khoảng trống nghiên cứu

Qua nghiên cứu tổng quan công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án theo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, tác giả có một số nhận xét:

Thứ nhất, các nghiên cứu đã được công bố về KTQT chi phí tại các CSĐT

đại học tập trung nghiên cứu, phân tích và làm rõ những vấn đề cốt lõi về thông tin

kế toán, ứng dụng thông tin kế toán trong đơn vị công nói chung và các trường ĐHCL nói riêng; làm rõ được vai trò của KTQT đối với các tổ chức và xác định các nội dung chủ yếu của KTQT được vận dụng vào các trường chuyên nghiệp như: phân tích chi phí và dự toán ngân sách, vận dụng các công cụ đánh giá trách nhiệm quản lý, thông tin kế toán, vận dụng phương pháp xác định chi phí cho các đối tượng

và phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định Tuy nhiên, do các CSĐT ĐHCL hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện kế toán trên cơ sở tiền mặt

mở rộng, nên việc xác định chi phí không đầy đủ Do đó, việc vận dụng các nội dung KTQT vào các CSĐT ĐHCL không toàn diện

Thứ hai, các nghiên cứu được công bố về xác định CPĐT tại CSĐT đại học

phần lớn mới chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về CPĐT đại học nói chung, chưa nghiên cứu chuyên sâu, bài bản về kế toán chi phí, giá thành DVĐT ĐHCL khối kinh tế

Thứ ba, hầu hết các nghiên cứu đã được công bố về quản lý tài chính là các

công trình nghiên cứu bàn về vấn đề quản lý tài chính đối với các trường ĐHCL nhìn từ phía những quy định của Nhà nước đối với hoạt động tài chính trong các trường ĐHCL, hoặc nghiên cứu quản lý tài chính với chủ thể quản lý là các trường

Trang 20

ĐHCL Trong đó, các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính của Nhà nước đối với các trường ĐHCL đều khẳng định việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các trường ĐHCL đã có tác dụng tích cực đến công tác quản lý tài chính trong các trường ĐHCL ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đều khẳng định cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế Chính sách thu học phí nhìn chung còn bất cập: mức thu không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động thường xuyên; mô hình quản lý tài chính trong các trường ĐHCL ở Việt Nam vẫn theo mô hình quản lý truyền thống, chưa sử dụng những công cụ quản lý hiện đại theo mô hình công ty hoạt động phi lợi nhuận, chưa xây dựng được tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của hoạt động nói chung, hoạt động tài chính nói riêng đối với các trường ĐHCL

Như vậy, các nghiên cứu hiện tại chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống việc kế toán chi phí, tính giá dịch vụ đào tạo trong các cơ sở đào tạo đại học công lập khối kinh tế trực thuộc Bộ Tài chính

Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, GD&ĐT và đặc biệt là ĐTĐH đã được nhìn nhận như một loại hình dịch vụ, không có sự phân biệt khu vực công hay khu vực tư Trong trường hợp dịch vụ được cung cấp bởi các CSĐT ĐHCL thì được coi

là “dịch vụ công” Theo quan điểm đổi mới thì đây là hoạt động thực hiện theo Luật giá, được tính đủ chi phí Trong điều kiện đó, việc nghiên cứu kế toán chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả hoạt động ở các CSĐT ĐHCL là yêu cầu cơ bản Một phần, do hiện nay các CSĐT ĐHCL có nguồn thu từ học phí của người học có thể đạt được các mức tự chủ gồm tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư; tự chủ chi thường xuyên và tự chủ một phần chi thường xuyên Mặt khác, việc đo lường hiệu quả hoạt động đơn vị công thường được nhìn nhận dưới góc độ hiệu quả tăng trưởng kinh tế - xã hội hơn là hiệu quả kinh tế Song với quan điểm đổi mới hoạt động của các đơn vị công đặc biệt là theo hướng tự chủ, các đơn vị công cung cấp dịch vụ theo Luật giá thì việc đo lường hiệu quả hoạt động của các đơn vị công không chỉ trên góc độ kinh tế - xã hội mà cần phải được nhìn nhận trên cả góc độ tài chính

Do đó, việc có những nghiên cứu chuyên sâu về kế toán doanh thu, chi phí, giá

Trang 21

thành và kết quả hoạt động trong đơn vị công trong cơ chế tự chủ như hiện nay là một hướng nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu lý luận và thực tiễn

Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trước đây đều có phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian Luật NSNN 2015, Luật Kế toán 2015 và Thông tư 107/2017/TT-BTC về chế độ kế toán HCSN (là nền tảng kế toán, quy định chi tiết công việc kế toán tại các CSĐT ĐHCL) chưa có hiệu lực

Tóm lại, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu cụ thể kế toán

chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập khối kinh tế tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính Do đó, theo tác giả, đây là khoảng trống cần nghiên cứu, việc

lựa chọn đề tài nghiên cứu “Kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại

học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính” là có ý nghĩa cả về lý luận và

thực tiễn

2.4 Điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước

So với những nghiên cứu trước, đóng góp mới của luận án gồm:

(1) Tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn

về chi phí và giá thành dịch vụ, dịch vụ công và dịch vụ đào tạo đại học công lập khối kinh tế

(2) Nghiên cứu làm rõ thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại bốn (04) CSĐT ĐHCL khối kinh tế trực thuộc Bộ Tài chính

(3) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH cho bốn (04) CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính trong tiến trình tự chủ

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH; trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích những lý luận chung về kế toán chi phí và giá thành dịch vụ, cũng như phân tích, đánh giá thực trạng kế toán chi phí, giá thành dịch vụ ĐTĐH trong các CSĐT ĐHCL trực thuộc

Bộ Tài chính; luận án nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Thứ nhất: Hệ thống hóa toàn bộ lý luận về chi phí, giá dịch vụ; về dịch vụ

công, dịch vụ công trong ĐTĐH và kế toán chi phí, giá thành dịch vụ ĐTĐH công

Trang 22

lập khối kinh tế Xem xét nội dung, đưa ra cách thức phân loại, nhân tố ảnh hưởng

và phương pháp xác định chi phí, giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập khối kinh tế

Thứ hai: Trình bày thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH

tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính thời gian qua (giai đoạn 2018 - 2020) Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân của hạn chế trong kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

Thứ ba: Xuất phát từ cơ sở lý luận và phân tích thực trạng trên, luận án đưa

ra những phương hướng, giải pháp, kiến nghị và các điều kiện thực hiện các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại bốn (04) CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung đi sâu nghiên cứu về lý luận, thực

tiễn và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

Về không gian nghiên cứu:

Luận án tiến hành phân tích thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch

vụ ĐTĐH tại bốn (04) CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính, gồm: Học viện Tài chính, Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, Đại học Tài chính kế toán và Đại học Tài chính Marketing

Trang 23

Bảng 01: Phạm vi nghiên cứu của luận án

STT Tên cơ sở

đào tạo Địa chỉ

Đặc điểm Mức độ

tự chủ tài chính

Đơn vị dự toán Cơ chế hoạt động Kế toán

1 Học viện

Tài chính Hà Nội

Tự đảm bảo một phần chi thường xuyên

Cấp II, với 02 đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ hạch toán độc lập - là đơn vị

sử dụng ngân sách thuộc Học viện

Không thực hiện thí điểm về đổi mới cơ chế hoạt động đối với các

cơ sở giáo dục đại học công lập theo nghị quyết 77/NQ-

CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ

Giai đoạn

2018 - nay: Thực hiện quy định của chế độ kế toán HCSN, ban hành theo thông tư 107/2017/TT- BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính

Cấp III, là đơn

vị sử dụng ngân sách

Tự chủ toàn bộ chi thường xuyên

và chi đầu tư

Là một trong số năm (05) CSĐT đầu tiên thực hiện thí điểm về đổi mới cơ chế hoạt động đối với các

cơ sở giáo dục ĐHCL theo nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ

(Nguồn: Tác giả tự thiết kế)

Trang 24

Với đặc điểm của các CSĐT đã được phân tích trong bảng “Phạm vi nghiên cứu của luận án” trên đây, có thể khẳng định rằng, quy mô mẫu nghiên cứu tuy nhỏ (với 4 CSĐT), nhưng có đủ khả năng đại diện cho các CSĐT ĐHCL khối kinh tế của Việt Nam nói chung, bởi 4 CSĐT thuộc phạm vi nghiên cứu này:

- Phân bố rộng khắp các vùng miền cả nước

- Cơ chế hoạt động, quản lý tài chính đa dạng

Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí và tính

giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính trong giai đoạn từ 1/1/2018 đến hết quý I năm 2020 Do đây là khoảng thời gian đầu tiên các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính áp dụng chế độ kế toán HCSN ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính

Tóm lại, phạm vi nghiên cứu của luận án được trình bày tóm tắt qua hình

dưới đây:

Hình 01: Phạm vi nghiên cứu của luận án

(Nguồn: Tác giả tự thiết kế)

Dịch vụ đào tạo đại học

Kế toán

chi phí và

tính giá thành

4 CSĐT đại học trực thuộc Bộ Tài chính

Phạm vi nghiên cứu của luận án Giai đoạn 2018

- 2020

Trang 25

5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được những mục tiêu trong nghiên cứu, NCS đã đặt các câu hỏi nghiên cứu bao gồm:

(1) Cơ sở lý luận về kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo ĐHCL gồm những nội dung, quy định như thế nào?

(2) Thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH trong các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính thời gian qua diễn ra như thế nào?

(3) Cần làm gì để hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH trong các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính trong thời gian tới?

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đã trình bày cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH của các CSĐT ĐHCL

Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, phân tích đánh giá thực trạng kế toán chi phí

và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính, từ đó đưa

ra những đánh giá về thực trạng, làm nền tảng đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT này

7 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Quy trình nghiên cứu

Luận án được thực hiện theo quy trình nghiên cứu thể hiện trong hình dưới đây:

Trang 26

Hình 02: Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu tổng hợp tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, từ đó, xác định khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định vấn đề nghiên cứu thông qua các câu hỏi

cụ thể là:

Thứ nhất: Nội dung kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công

lập là gì? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến kế toán chi phí và giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập? Phương pháp xác định chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập là gì?

Thứ hai: Thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các

CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính kể từ khi bắt đầu áp dụng chế độ kế toán HCSN theo quy định tại Thông tư 107/2017/TT-BTC như thế nào? Những thành tựu, kết quả đạt được và những điểm còn tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong

kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập của các CSĐT này là gì?

Thứ ba: Dựa trên cơ sở nào để đề xuất phương hướng giải pháp hoàn thiện

kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập? Để hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH công lập tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính cần có những giải pháp gì? Nội dung và điều kiện thực hiện các giải pháp đó như thế nào?

Bước 2: Xây dựng khung lý thuyết

Trang 27

Luận án dựa trên khung lý thuyết cơ bản truyền thống về kế toán chi phí và giá thành dịch vụ; từ đó phân tích yêu cầu và vấn đề đặt ra đối với kế toán chi phí

và tính giá thành dịch vụ công tại các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính

Bước 3: Nghiên cứu thực trạng

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính khi thực hiện theo quy định của chế độ kế toán HCSN ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC giai đoạn

2018 - 2020

Bước 4: Đề xuất giải pháp

Nghiên cứu tổng hợp, phân tích đầy đủ về thực trạng và đưa ra giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính trong bối cảnh đổi mới tài chính - kế toán công, gồm: nâng cao mức độ tự chủ của các đơn vị SNCL, nâng cao chất lượng dịch vụ công và xây dựng, ban hành, áp dụng chuẩn mực kế toán công của Việt Nam

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận của luận án là phương

pháp duy vật biện chứng, trong đó dựa trên nền tảng nhận thức các vấn đề nghiên cứu từ cơ sở lý luận để thực hiện khách quan về kế toán chi phí và tính giá thành

dịch vụ ĐTĐH trong các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

Phương pháp kỹ thuật: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên

cứu như phương pháp thu thập thông tin qua các cán bộ quản lý - nhân viên kế toán đang làm việc tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính, quy nạp, diễn giải, phân tích, tổng hợp,… để phân tích vấn đề, đánh giá và rút ra kết luận

Phương pháp thu thập dữ liệu:

Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu liên quan đến

công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, được tác giả thu thập qua các nguồn tài liệu tại các thư viện, các ấn phẩm đã được xuất bản và tìm kiếm trên mạng Internet, truy cập các trang web

Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong luận án còn bao gồm:

Trang 28

- Thông tin thu thập từ Cục Kế hoạch tài chính, Bộ Tài chính như: Thông báo duyệt quyết toán và dự toán năm 2018 và 2019 của Bộ Tài chính đối với các CSĐT trực thuộc; sổ kế toán chi tiết các tài khoản phản ánh chi phí (tài khoản 154, 611, 642) và các tài khoản khác của các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính

- Thông tin thu thập từ các CSĐT đại học trực thuộc Bộ Tài chính như: quy chế chi tiêu nội bộ, 3 công khai về quy mô đào tạo, cơ cấu tổ chức bộ máy,…

Thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp sử dụng trong luận án bao gồm các

tài liệu khảo sát về thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính Để thu thập được các dữ liệu này, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Để thu thập được các dữ liệu, thông tin liên quan, tác giả sử dụng phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi khảo sát, phỏng vấn trực tiếp kế toán trưởng, nhân viên kế toán của các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính (phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại thông qua các câu hỏi trong phiếu khảo sát)

- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích so sánh và dự báo: Thông qua kết quả điều tra, tác giả hệ thống hóa các số liệu thu thập được từ các CSĐT, từ

đó sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh,… nhằm đưa ra các nhận xét cá nhân và tìm ra những vấn đề cần giải quyết trong thực tiễn

8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục sơ đồ bảng biểu, danh mục các công trình đã công bố của tác giả và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương truyền thống Cụ thể, gồm:

Chương 1: Lý luận về kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại

học công lập

Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại

học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính

Trang 29

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH

DỊCH VỤ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 DỊCH VỤ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1.1 Dịch vụ

1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ

Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, dựa trên những cách tiếp cận khác nhau, chẳng hạn:

Adam Smith từng khẳng định “dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công…Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra” Từ khái niệm này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh “không tồn trữ được” của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời

Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được nhận thức rõ hơn Có một khái niệm rất hình tượng nhưng cũng rất nổi tiếng về dịch

vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả là “bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn”

C.Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi

mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”

Như vậy, với khái niệm trên, C Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh

Theo từ điển tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [43]

Trang 30

Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Theo đó, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận

Philip Kotler đưa ra khái niệm dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì:

Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

1.1.1.2 Đặc tính của dịch vụ

Cho dù chưa có một khái niệm mang tính thống nhất về dịch vụ, nhưng nhìn chung, cho dù được mô tả thế nào thì dịch vụ có các đặc trưng khác biệt sau đây so với các sản phẩm hữu hình (Ghobadian, Speller&Jones, 1993; Groth&Dye, 1994; Zeithaml et al, 1990, dẫn theo Thongsamak, 2001)

- Vô hình: sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ

- Không đồng nhất: gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ (thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng - nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau)

- Không thể tách rời: quá trình cung ứng dịch vụ cũng đồng thời là tiêu thụ dịch vụ; khác với hàng hóa vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Trang 31

- Không thể cất trữ: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng

họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt

để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán

- Không thể hoàn trả: nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể được hoàn tiền, nhưng không thể hoàn dịch vụ

- Không được chuyển quyền sở hữu: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích

mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi

- Nhu cầu bất định: độ bất định của nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu hình

- Quan hệ qua con người: vai trò con người trong dịch vụ rất cao và thường được khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ

- Tính cá nhân: khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình rất nhiều

- Tâm lý: chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý

Trang 32

1.1.2 Dịch vụ công

1.1.2.1 Khái niệm

Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là toàn bộ các hoạt động do nhà nước đảm bảo thực hiện để phục vụ cho các quyền và nhu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức trong xã hội

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công là những dịch vụ do nhà nước đảm bảo cung cấp để đáp ứng nhu cầu của xã hội

Như vậy, dịch vụ công được hiểu là những hoạt động phục vụ các nhu cầu

cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực

tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội

1.1.2.2 Phân loại dịch vụ công

Thông thường, các hoạt động của nhà nước được phân biệt thành hai nhóm chủ yếu: hoạt động duy trì trật tự, điều tiết xã hội (chức năng chuyên chính hay cai trị) và hoạt động bảo đảm các điều kiện phát triển cho xã hội (chức năng phục vụ

xã hội) Tương ứng với hai nhóm chức năng này, người ta chia dịch vụ công thành hai loại:

- Dịch vụ hành chính công: là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào khái niệm thẩm quyền hành chính - pháp lý của nhà nước Có bốn (04) loại hình cơ bản gồm:

+ Hoạt động cấp phép: là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép công dân hay tổ chức thực hiện một hoạt động nhất định nào đó

+ Hoạt động chứng thực, chứng nhận, xác nhận bao gồm: công chứng, cấp chứng minh nhân dân, cấp giấy khai sinh, khai tử, cấp bằng lái xe,…

+ Hoạt động thu thuế và phí, lệ phí: là hoạt động thu các khoản đóng góp theo quy định của nhà nước vào NSNN

+ Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính: là một loại dịch vụ đặc biệt do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong mối quan hệ giữa công dân với cơ quan

Trang 33

nhà nước Hoạt động này cũng là một dạng giao dịch giữa cơ quan nhà nước với công dân nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức

- Dịch vụ công cộng là các hoạt động phục vụ các lợi ích chung tối cần

thiết của cả cộng đồng do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội Gồm hai (02) loại hình cơ bản là:

+ Dịch vụ sự nghiệp công: là những dịch vụ phục vụ quyền và nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội về trí lực và thể lực như dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa…

Tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn

vị SNCL định nghĩa dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa; thể thảo và du lịch; thông tin truyền thông

và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác

+ Dịch vụ công ích hay còn gọi là dịch vụ kinh tế - kỹ thuật công là loại dịch

vụ gắn liền với việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất cho sinh hoạt và cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cơ bản phục vụ cộng đồng như: cung cấp điện, nước sạch, giao thông vận tải, vệ sinh môi trường…

1.1.2.3 Đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật

số 52/2019/QH14) thì đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước

Đơn vị SNCL có một số đặc điểm cơ bản như:

Thứ nhất, đơn vị SNCL là đơn vị trực thuộc của các cơ quan nhà nước, tổ chức

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trong đó chủ yếu là các cơ quan nhà nước

Thứ hai, đơn vị SNCL chủ yếu do nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất

để hoạt động Tùy từng loại hình ĐVSN mà nhà nước có sự hỗ trợ ngân sách ở những mức độ khác nhau

Thứ ba, các đơn vị SNCL được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ sự

nghiệp công trong những lĩnh vực mà Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng chủ yếu

Trang 34

cho nhân dân hoặc trong những lĩnh vực mà khu vực phi nhà nước không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm đầu tư

Thứ tư, cơ chế hoạt động của các đơn vị SNCL đang ngày càng được đổi mới

theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập Căn cứ vào cơ chế hoạt động, có thể phân loại đơn vị SNCL thành đơn vị SNCL được giao quyền

tự chủ hoàn toàn về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và đơn vị SNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân

sự

Thứ năm, các đơn vị SNCL hoạt động theo chế độ thủ trưởng Tuy nhiên, để

đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền đồng thời phòng chống tham nhũng, pháp luật quy định việc thành lập Hội đồng quản lý tại các đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và các đơn vị SNCL khác trong trường hợp cần thiết

Thứ sáu, nhân sự tại đơn vị SNCL chủ yếu được tuyển dụng theo vị trí việc

làm, làm việc theo hợp đồng làm việc, được quản lý, sử dụng với tư cách là viên chức Trong khi đó, người đứng đầu đơn vị SNCL (và trong nhiều trường hợp gồm

cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị) là công chức

Có nhiều tiêu chí nhằm phân loại đơn vị SNCl, trong đó, có thể kể tới việc phân loại đơn vị SNCL theo “Bảng 1.1: Phân loại đơn vị SNCL” như sau:

Bảng 1.1: Phân loại đơn vị SNCL

Đơn vị SNCL do địa phương quản lý

Ví dụ: Các đại học địa phương như Đại học Tân Trào (Tuyên Quang), Đại học Thái Bình (Thái Bình),…

Gồm các cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như trường mầm non, tiểu học, trung học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, học viện,…

Trang 35

Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế

Gồm các cơ sở khám chữa bệnh công lập như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế của các Bộ, ngành, địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, …

Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thông tin truyền thông và báo chí, thể thao và

du lịch

Gồm các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, trung tâm thông tin triển lãm, thư viện công cộng, đài phát thanh truyền hình, trung tâm huấn luyện thể dục, thể thao…

Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp kinh

tế và sự nghiệp khác

Gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp, địa chính …

bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc

Đơn vị dự toán cấp

II

Là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp

I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (nếu được ủy quyền)

Đơn vị sự nghệp thuần túy

Đơn vị không có nguồn thu, nguồn kinh phí hoạt động do NSNN đảm bảo toàn bộ

Trang 36

- CP ngày

25/4/2006)

Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên

Đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị Đơn vị có nguồn

thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên

Đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN phải cấp một phần chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị

Đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chi hoạt động

Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ

- CP ngày

14/2/2015)

Loại 1 Đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và

chi đầu tư Loại 2 Đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên

Loại 3

Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm

vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

1.1.3 Dịch vụ đào tạo đại học

Từ những khái niệm về dịch vụ, dịch vụ công và dịch vụ sự nghiệp công đã phân tích ở trên, có thể khẳng định giáo dục đào tạo nói chung, đào tạo đại học nói riêng là một loại hình dịch vụ; mang đầy đủ đặc điểm của dịch vụ nói chung Trong phần này, tác giả tập trung làm rõ một số đặc điểm khác biệt cơ bản của dịch vụ đào tạo đại học với các loại hình dịch vụ thông thường

Trước hết, đào tạo đại học cần được coi là một thị trường: Theo Adam Smith (1776), cơ chế tự cân bằng cung - cầu diễn ra trong quá trình tương tác giữa người

Trang 37

mua và người bán Người bán mong muốn tối đa hóa lợi nhuận và người mua mong muốn tối đa hóa lợi ích Thị trường tạo ra cơ chế để việc cung cấp dịch vụ và hàng hóa dựa trên cạnh tranh bằng cách sử dụng các nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả

Theo UNESCO (2009), dịch vụ giáo dục đại học được coi là hàng hóa công cộng Giáo dục đại học thỏa mãn hai tiêu chí là tính thiết yếu và thất bại thị trường Tính thiết yếu thể hiện ở việc giáo dục đại học tạo điều kiện cho việc phát triển kinh

tế xã hội mà còn tạo nên mối liên kết xã hội Giáo dục đại học bị rơi vào thất bại của thị trường khi các tiền đề để thị trường tự điều chỉnh không được thỏa mãn

Theo Shaw (2010), hàng hóa công cộng được phân loại thành hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy Hàng hóa công cộng thuần túy có hai đặc điểm là mang tính không cạnh tranh và không loại trừ, còn hàng hóa công cộng không thuần túy không có hai đặc điểm này Do vậy, Lauglo (1995) cho rằng giáo dục được coi là hàng hóa công cộng không thuần túy và bất bình đẳng xảy

ra khi người nghèo không có khả năng tiếp cận giáo dục đại học

Tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới hiện nay đã xem hoạt động giáo dục như là một loại hình dịch vụ đặc biệt

Thực tế cho thấy rằng, các CSĐT - các trường đại học, với phương châm lấy người học làm trung tâm, đã coi học viên là đối tượng phục vụ và trường học là đơn

vị cung cấp dịch vụ cho học viên - dịch vụ đào tạo

Về phía người học, nhiều học viên đã coi dịch vụ đào tạo như là hàng hóa, theo nghĩa chính họ là người cần được quan tâm và phục vụ Và với quan điểm xem giáo dục đào tạo như một loại hình dịch vụ thì mỗi CSĐT đều cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thiểu chi phí, giá dịch vụ để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

1.1.3.1 Sản phẩm dịch vụ đào tạo đại học

Trên thị trường, những sản phẩm giáo dục là nhữmg sản phẩm giống nhau nhưng được khác biệt hóa (diffrentiated product) và người cung cấp hàng hóa (các CSĐT - các trường đại học), nhìn chung lại không phải là các doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn vì lợi nhuận Tuy hàng hóa trên thị trường này có tính chất đặc biệt,

và nhà cung cấp không chạy theo lợi nhuận, nhưng việc cung cầu hàng hóa này vẫn chịu sự điều tiết của quy luật cung cầu Với những tính chất đặc biệt của dịch vụ

Trang 38

ĐTĐH, giá dịch vụ ĐHCL không phải là một loại giá cả thông thường được trả cho một loại hàng hóa hoặc dịch vụ Giá cả luôn lớn hơn so với chi phí sản xuất ở khu vực hoạt động vì lợi nhuận, trong khi giáo dục là một khu vực phi lợi nhuận, thường nhận được ngân sách từ Chính phủ để các trường đại học và cao đẳng có thể cung cấp dịch vụ giáo dục với mức giá rẻ hơn chi phí bình quân Như vậy, giá dịch vụ đào tạo là một loại giá cả đặc biệt (Jongbloed, 2004)

Để có thể xác định được một mức giá phù hợp cho loại hàng hóa đào tạo đại học, việc tìm hiểu quan điểm của bên cung (CSĐT - nhà trường) và bên cầu (sinh viên) về mức giá là rất quan trọng

Thông thường, CSĐT được xem xét như một “doanh nghiệp đa sản phẩm” (multi-product firm), cung cấp một loạt các hàng hóa và dịch vụ khác nhau (Verry

ví dụ như tạo thói quen làm việc, xây dựng hành vi hợp tác, tôn trọng pháp luật…

CSĐT đại học “sản xuất” ra nhiều hơn một loại sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ, tuy nhiên các hàng hóa và dịch vụ khác nhau này lại tạo nên chất lượng nói chung: danh tiếng của CSĐT đại học Đồng thời, chất lượng của sản phẩm này lại

có thể ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm kia Ví dụ, một CSĐT đại học nghiên cứu tốt, thường sẽ cung cấp hàng hóa dịch vụ giảng dạy, đào tạo tốt, dẫn tới học viên sẽ kiếm việc làm dễ hơn Khi học viên đăng ký nhập học tại một CSĐT đại học, họ sẽ không chỉ sử dụng tách biệt một loại sản phẩm dịch vụ, do các sản phẩm dịch vụ mà CSĐT tạo ra, về cơ bản là gắn kết với nhau

ĐTĐH là một thị trường giáo dục có điều kiện vì nó có các vấn đề thất bại thị trường Theo Bùi Chí Bình (2014), sự thất bại của thị trường GDĐT có thể là thông tin bất cân xứng, rủi ro về đạo đức, tác động ngoại biên

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi các CSĐT biết được chất lượng đào tạo của trường, người học không có đủ thông tin và chỉ biết được chất lượng ĐTĐH

Trang 39

khi học xong và không thể đổi hoặc trả lại khi chất lượng không đảm bảo Khi người học nhận được chương trình đào tạo không đảm bảo, họ sẽ giảm kỳ vọng về chất lượng các CSĐT nói chung, dẫn đến giảm nhu cầu học tập và chỉ sẵn sàng chi trả cho chương trình học phí thấp tương đồng với chất lượng thấp

Rủi ro về đạo đức được giải thích là “mọi cá nhân đều hành xử dựa trên lợi ích liên quan đến bản thân” (Bùi Chí Bình, 2014) Người học không chăm chỉ tích lũy kiến thức, kỹ năng học tại trường hay không có việc làm sau khi tốt nghiệp đều không được đảm bảo Ngay cả cùng một chương trình đào tạo, chất lượng giáo dục của các CSĐT cũng không đồng đều và đáp ứng được nhu cầu của người học

Tác động ngoại biên là tác động của thị trường đến những thành phần không tham gia vào thị trường Tác động ngoại biên thể hiện ở hai mặt là tác động tích cực

và tác động tiêu cực Tiếp cận với ĐTĐH giúp cho người học có được kiến thức và

kỹ năng, từ đó người học có khả năng tìm kiếm việc làm, năng suất lao động cao hơn, giảm phụ thuộc vào trợ cấp của Nhà nước, giảm bớt tệ nạn xã hội Tác động tiêu cực được thể hiện bằng việc người học sử dụng bằng cấp làm tín hiệu để tăng thu nhập Người học có được kiến thức và kỹ năng sau khi học đại học Tuy nhiên, nhà tuyển dụng không đánh giá được do không thể quan sát được năng lực của người học và dẫn đến sự sụt giảm của tiền lương (Checchi, 2005)

1.1.3.2 Dịch vụ đào tạo đại học công lập khối kinh tế

Theo phân tích ở trên, đào tạo đại học là một loại hình dịch vụ đặc biệt và sản phẩm dịch vụ đào tạo cũng rất đa dạng Chỉ tính riêng sản phẩm dịch vụ đào tạo truyền tải kiến thức đã có rất nhiều cách phân loại, ví dụ:

- Phân loại theo thời gian đào tạo: 4 năm, 5 năm, …

- Phân loại theo hình thức đào tạo: tập trung, không tập trung, …

- Phân loại theo loại hình đào tạo: chính quy, vừa làm vừa học, liên thông,…

- Phân loại theo ngành đào tạo: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, y dược,… Việc phân loại dịch vụ ĐTĐH theo ngành đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý, kế toán bởi mỗi ngành đào tạo đều có đặc thù riêng, dẫn tới những yêu cầu về tài chính, nhân lực là rất khác nhau Ví dụ: quá trình đào tạo nguồn nhân lực các ngành khoa học cơ bản có một số đặc thù đòi hỏi đầu tư tài chính, nhân lực sẽ phải cao hơn so với một số khối ngành khác do chương trình đào tạo gồm nhiều bài tập, thực hành, thí nghiệm với những trang thiết bị, dụng cụ đắt tiền; quy mô lớp

Trang 40

học bắt buộc phải nhỏ hơn nhiều so với các ngành khác do thực tập, thực nghiệm yêu cầu phải có sự tương tác thầy - trò cao hơn;…

Cũng vì lý do đó, mà điều 5 Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm 2015 -

2016 đến năm học 2020 - 2021 đưa ra quy định về khung học phí đối với giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp đã phân mức trần học phí đối với các chương trình đào tạo đại trà trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục công lập theo các khối ngành

và chuyên ngành đào tạo thành 3 khối ngành cơ bản là:

- Khoa học xã hội, kinh tế, luật; nông, lâm, thủy sản

- Khoa học tự nhiên; kỹ thuật, công nghệ; thể dục thể thao, nghệ thuật; khách sạn, du lịch

- Y dược

Theo đó, xét trong phạm vi nghiên cứu của luận án, 100% các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính đều là những đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, chuyên cung cấp loại hình dịch vụ ĐTĐH thuộc khối ngành kinh tế, mang đầy

đủ đặc điểm của dịch vụ ĐTĐH như đã phân tích ở trên Nội dung phân tích chi tiết

về sản phẩm dịch vụ đào tạo ảnh hưởng tới kế toán chi phí và tính giá thành dịch

vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính sẽ được trình bày trong chương 2

(Mục 2.1 Tổng quan về dịch vụ ĐTĐH trong các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính)

1.2 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Các khái niệm cơ bản về chi phí dịch vụ đào tạo đại học công lập

Y Chi phí

Khái niệm chi phí sẽ khác nhau phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận cũng như mục đích của việc xác định chi phí Do vậy không có một khái niệm duy nhất về chi phí áp dụng cho mọi trường hợp

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 01 - Chuẩn mực chung), “Chi phí

là tổng các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến

Ngày đăng: 05/07/2023, 13:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 01: Phạm vi nghiên cứu của luận án - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 01 Phạm vi nghiên cứu của luận án (Trang 24)
Bảng 1.2: Phân loại chi phí dịch vụ đào tại đại học công lập - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Bảng 1.2 Phân loại chi phí dịch vụ đào tại đại học công lập (Trang 45)
Hình 1.4: Phương pháp chi phí thông thường - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 1.4 Phương pháp chi phí thông thường (Trang 70)
Hình 1.5: Quy trình kế toán chi phí dịch vụ đào tạo đại học công lập - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 1.5 Quy trình kế toán chi phí dịch vụ đào tạo đại học công lập (Trang 77)
Hình 2.2: Hoạt động dịch vụ tại các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.2 Hoạt động dịch vụ tại các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 95)
Hình 2.3: Chi phí của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.3 Chi phí của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 103)
Hình 2.6: Chi phí trung bình của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.6 Chi phí trung bình của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 107)
Hình 2.9: Chi phí trung bình của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.9 Chi phí trung bình của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 110)
Hình 2.10: Chi phí ĐTĐH tại các CSĐT ĐHCL trực - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.10 Chi phí ĐTĐH tại các CSĐT ĐHCL trực (Trang 115)
Hình 2.11: Sơ đồ hạch toán tổng quát hoạt động dịch vụ ĐTĐH - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.11 Sơ đồ hạch toán tổng quát hoạt động dịch vụ ĐTĐH (Trang 119)
Hình 2.12: So sánh lý thuyết - Thực trạng quy trình kế toán chi phí tại các - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.12 So sánh lý thuyết - Thực trạng quy trình kế toán chi phí tại các (Trang 121)
Hình 2.14: Thông tin chi phí do hệ thống kế toán cung cấp - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 2.14 Thông tin chi phí do hệ thống kế toán cung cấp (Trang 131)
Bảng 2.9: Chi phí đào tạo đại học tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Bảng 2.9 Chi phí đào tạo đại học tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 136)
Hình 3.1: Chi phí dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 3.1 Chi phí dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính (Trang 162)
Hình 3.3: Mô hình phân bổ chi phí của kế toán ABC áp dụng - Luận án tiến sĩ  kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc bộ tài chính
Hình 3.3 Mô hình phân bổ chi phí của kế toán ABC áp dụng (Trang 178)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w