1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở đồng bằng sông cửu long

242 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Đinh Công Thành
Người hướng dẫn TS. Lê Tấn Nghiêm, TS. Nguyễn Hồng Gấm
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 242
Dung lượng 13,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠĐINH CÔNG THÀNH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ THUÊ NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở ĐỒNG BẰNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐINH CÔNG THÀNH

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ

THUÊ NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số ngành: 62340102

04-2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐINH CÔNG THÀNH MSHV: P1314005

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ

THUÊ NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số ngành: 62340102

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS LÊ TẤN NGHIÊM

TS NGUYỄN HỒNG GẤM

Trang 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch vụ thuê ngoài (Outsourcing) được viết tắt từ “Outside resource using”,

được hiểu là một doanh nghiệp (DN) đi thuê một nhà cung ứng dịch vụ bên ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động thay vì bản thân DN phải thực hiện những hoạt động đó (Yang và cộng sự, 2007) Dịch vụ thuê ngoài (DVTN) đã phát triển nhanh và mạnh từ những năm 1990 (Bryce và Useem, 1998) Các lĩnh vực được DN thuê ngoài hiện nay thường là công nghệ thông tin, dịch vụ thuê lao động bán thời gian, dịch vụ trả lương ngoài, dịch vụ kế toán thuê ngoài, báo cáo thuế, dịch vụ khách hàng, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ dọn dẹp văn phòng, bảo vệ 24/24, vận chuyển văn phòng trọn gói, lắp đặt/quản trị mạng, bảo trì máy tính/thiết bị văn phòng, dịch vụ dịch thuật…Ngày nay, các DN trên thế giới sử dụng DVTN nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh cho mình (Wekesa và Were, 2014) Thuê ngoài còn được biết đến như một công cụ quản lý giúp DN cắt giảm chi phí kinh doanh trong hoạt động kinh (Gilley

và cộng sự, 2004; Handley, 2012; Sani và cộng sự, 2013; Gerald và cộng sự, 2013; Yıldız và công sự, 2014), tăng lợi nhuận (Elegbede, 2013), giảm bớt tính cồng kềnh của bộ máy, tiết kiệm thời gian trong quản trị (Sadi và Ahmed, 2011; Gerald và cộng

sự, 2013)

Với những lợi ích đó, các DN trên toàn thế giới đã ngày càng mạnh dạn sử dụng các DVTN Theo xu hướng đó, tại Việt Nam, các DN cũng ngày càng sử dụng rộng rãi các dịch vụ được cung ứng từ các cá nhân/tổ chức bên ngoài (Phạm Thúy Hồng, 2012) Một nghiên cứu gần đây của Đinh Công Thành và cộng sự (2020) cho thấy, ở ĐBSCL nhu cầu sử dụng DVTN của DN khá cao, đặc biệt là các DN có qui mô là siêu nhỏ (chiếm gần 70%) Bởi qua đó có thể giúp tiết kiệm chi phí hoạt động cho

DN, giải quyết phần nào khó khăn do thiếu nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh kinh tế khó khăn và cạnh tranh khốc liệt của các DN, nhất là các DNNVV Để có thể tồn tại trên thương trường đòi hỏi DN phải có chiến lược kinh doanh có hiệu quả nhất bằng cách giảm chi phí kinh doanh hợp lý Một trong số những giải pháp đó là sử dụng DVTN (Hafeez và Andersen, 2014; Isaksson và Lantz, 2015; Montaseb và công sự, 2018) Mặc dù gặp khá nhiều khó khăn, nhưng DNNVV

ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng đã có những bước tiến đáng kể, đóng góp

to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là

giải quyết vấn đề việc làm (sử dụng 50% lao động), tăng thu nhập cho người lao động,

Trang 4

góp phần xóa đói giảm nghèo và đóng góp hơn 40% GDP1 Đến năm 2018 toàn vùng

ĐBSCL có 97,16% là DNNVV đang hoạt động có kết quả kinh doanh, trong đó DN

có qui mô siêu nhỏ chiếm đến 64,39%, DN nhỏ chiếm 32,10% và DN vừa chỉ chiếm

tỷ lệ 3,51% (PHỤ LỤC 6) Đa phần các DN còn gặp nhiều khó khăn hạn chế trong quá trình hoạt động như trình độ quản lý, thiếu vốn, đầu ra không ổn định, nhất là chi phí hoạt động tăng cao, khó cạnh tranh với các DN khác trong và ngoài nước Đó cũng là những nguyên nhân dẫn đến hơn 4.500 DN ở ĐBSCL phải giải thể và tạm ngừng hoạt hoạt động trong năm 2019, tăng hơn 30% so với năm 2018 (Số liệu được tổng hợp từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam, 2020) Vì vậy, việc định hướng cho các DNNVV ở ĐBSCL sử dụng hiệu quả dịch vụ để phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh trong xu thế hội nhập là hết sức cần thiết

Tuy vậy, DN thuê ngoài dịch vụ cũng có thể tiềm ẩn những rủi ro nhất định Thật vậy, nghiên cứu của Milena và cộng sự (2011) đã chỉ ra một số bất lợi có thể

DN gặp phải khi thuê ngoài: (i) thiếu sự kiểm soát các công ty cho thuê dịch vụ, (ii)

DN sẽ gặp bất lợi nếu công ty cho thuê dịch vụ kết thúc hoạt động Hơn thế nữa, nguy

cơ lộ bảo mật và thông tin trong tổ chức cũng là rủi ro lớn cho DN, đặc biệt đây là khó khăn của các DNNVV (Hafeez và Andersen, 2014) Không những vậy, vấn đề nhân viên các công ty cung ứng dịch vụ thiếu động cơ làm việc cũng là khó khăn lớn khi DN thuê ngoài, bởi có thể ảnh hưởng không tốt đến chất lượng dịch vụ hoặc không đúng tiến độ công việc Chính điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của DN (Tania và Faiza, 2013)

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, thuê ngoài dịch vụ

đã tác động đến hiệu quả hoạt động của DN Có nhiều tranh luận trái chiều về sự tác động này Phần lớn các nghiên cứu cho rằng, thuê ngoài tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của DN (Bin và cộng sự, 2006; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và Rasheed, 2000; Bustinza và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Agburu và cộng

sự, 2017) Ngoài ra, cũng có nghiên cứu cho rằng thuê ngoài không cải thiện, thậm chí ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính DN (Isaksson và Lantz, 2015) Cũng

có ý kiến cho rằng, thuê ngoài chỉ tác động đến hiệu quả phi tài chính mà không tác động đến hiệu quả tài chính DN (Gilley và cộng sự, 2004) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thuê ngoài tác động đến hiệu quả tài chính lẫn phi tài chính DN (Gilley và Rasheed, 2000; Elmuti, 2003; Bustinza và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Elegbede, 2013) Tuy vậy, cũng có ý kiến cho rằng, không

có sự tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của DN (Leiblein

và cộng sự, 2002)

Trang 5

Thực tiễn các nghiên cho thấy, mỗi tác giả có cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về vấn đề thuê ngoài cũng như nghiên cứu về sự tác động của việc sử dụng nguồn bên ngoài đến hiệu quả hoạt động của DN Nguyên nhân, mỗi tác giả

sử dụng lý thuyết nền tảng khác nhau Theo đó, lý thuyết được các tác giả sử dụng trong nghiên cứu về thuê ngoài phổ biến là lý thuyết về chi phí giao dịch (TCE), lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) và lý thuyết năng lực cốt lõi (CCT) Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết TCE nhấn mạnh sự tác động của yếu tố lợi ích, rủi ro

và thái độ của nhà quản trị đối với việc sử dụng dịch vụ (Kroes và Ghosh, 2010; Bhagat và cộng sự, 2010; Yang và cộng sự, 2007; Jain và Natarajan, 2011; Bustinza

và cộng sự, 2010; Kroes và Ghosh, 2010; Hafeez và Andersen, 2014) Trong khi đó, các nghiên cứu này chưa giải thích được qua sự tác động của yếu tố đặc điểm chức năng của tổ chức, sự phù hợp của thuê ngoài với chiến lược kinh doanh của DN, và yếu tố tiêu chuẩn đối với bên cung ứng Tương tự, các nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết RBV và CCT cũng nhấn mạnh vai trò của yếu tố lợi ích tác động đến việc sử dụng DVTN (Bin và cộng sự, 2006; Hsiao và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014; Austin-Egole và Iherioanma, 2020) Mặc dù, các tác giả

đề cập đến sự ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm chức năng của DN, chiến lược thuê ngoài và khả năng đáp ứng yêu cầu của đối tác cung ứng (Dominguez, 2005; Hafeez

và Andersen, 2014; Agburu và cộng sự, 2017) Nhưng các nghiên cứu này còn hạn chế bởi chưa chỉ rõ sự ảnh hưởng của yếu tố rủi ro thuê ngoài và yếu tố thái độ của các nhà quản trị đối với việc thuê ngoài tại DN Như vậy, thực tiễn các nghiên cứu cho thấy, hầu hết các nghiên cứu chưa trình bày được một cách tổng quát sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc thuê ngoài, cũng như chưa đánh giá một cách tổng quát sự tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của DN

so với cơ sở lý thuyết nền

Với những phân tích trên, câu hỏi đặt ra là việc sử dụng các DVTN có tác động đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV ở ĐBSCL hay không? Nếu có, thuê ngoài tác động ra sao đến DN? Làm thế nào nâng cao được hiệu quả sử dụng nguồn lực bên ngoài cho DNNVV ở ĐBSCL

Từ những lập luận như trên, đồng thời để giải quyết những hạn chế của các nghiên

cứu trước đó như đã trình bày, tác giả đã tiến hành thực hiện “Nghiên cứu tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long” nhằm để hiểu rõ hơn về tình hình sử dụng nguồn lực

thuê ngoài của các DNNVV ở ĐBSCL, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thuê ngoài và sự tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV

ở ĐBSCL là thật sự cần thiết

Trang 6

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu sự tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long, qua đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp thông qua việc sử dụng nguồn lực bên ngoài

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Phân tích tình hình sử dụng dịch vụ thuê ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

ở Đồng bằng Sông Cửu Long;

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng dịch vụ thuê ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long;

Phân tích sự tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long;

Đề xuất các hàm ý quản trị liên quan đến sử dụng dịch vụ thuê ngoài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để giải quyết cho các mục tiêu nghiên cứu ở trên, luận án cần giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

Tình hình sử dụng các dịch vụ thuê ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long thời gian qua như thế nào?

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ sử dụng nguồn lực thuê ngoài của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long?

Mô hình tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long như thế nào?

Những hàm ý quản trị nào được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Đồng bằng Sông Cửu Long thông qua sử dụng dịch vụ thuê ngoài?

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Phạm vi về không gian

Địa bàn nghiên cứu là các DNNVV ở sáu tỉnh/thành bao gồm: Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp và TP Cần Thơ

Trang 7

1.4.2 Phạm vi về thời gian

Dữ liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của các DN ở ĐBSCL sử dụng trong luận án được tổng hợp từ Niên giám thống kê 2017, 2018 và 2019 của Tổng cục Thống kê Việt Nam; dữ liệu thống kê DNNVV ở ĐBSCL được thu thập vào năm

2018 từ Sách trắng DN Việt Nam 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ngoài ra, luận

án còn sử dụng dữ liệu sơ cấp cho nghiên cứu sơ bộ được thu thập trong năm 2017,

và dữ liệu cho nghiên cứu chính thức được phỏng vấn và thu thập từ đầu năm 2018 đến tháng 4/2019

1.4.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu sự tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của các DNNVV ở ĐBSCL

1.4.4 Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát của đề tài là chủ các DN, giám đốc/phó giám đốc, hoặc trưởng/phó các phòng ban tại các DN có sử dụng DVTN Họ là những người am hiểu

về hoạt động thuê ngoài tại DN và có khả năng đánh giá các chỉ tiêu trong phiếu khảo sát

Để đảm bảo sự khách quan trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của DN khi thuê ngoài, các DN được khảo sát phải có thời gian sử dụng DVTN từ 2 năm trở lên

Vì theo Bolat và Yılmaz (2009) DN có thời gian sử dụng dịch vụ ít nhất 2 năm thì mọi hoạt động của DN mới trở nên ổn định

Ngoài ra, để có thể đánh giá một cách tổng quan và đầy đủ về hoạt động thuê ngoài, luận án còn thu thập thông tin từ các chuyên gia là lãnh đạo các DN có liên quan trực tiếp đến quyết định lựa chọn sử dụng DVTN Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành phỏng vấn các chuyên gia ở đơn vị cung ứng dịch vụ, họ là lãnh đạo hoặc nhân viên, người có chuyên môn liên quan đến quyết định cung ứng DVTN

1.4.5 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Thứ nhất, các dịch vụ được các DNNVV ở ĐBSCL thuê ngoài khá đa dạng

Theo đó, có bốn nhóm dịch vụ được các DN quan tâm sử dụng: (1) Thuê ngoài nhân

sự, (2) Thuê ngoài dịch vụ CNTT, (3) Thuê tài sản, và (4) Thuê ngoài nhóm khác như logistics, tư vấn pháp luật Do đó, luận án tập trung phân tích tác động của bốn nhóm dịch vụ này đến hiệu quả hoạt động của DN

Thứ hai, hiệu quả hoạt động của DN được đánh giá qua hai nhóm chỉ tiêu: (1)

hiệu quả tài chính; và (2) hiệu quả phi tài chính Tuy nhiên, theo Gilley và Rasheed (2000), Gilley và cộng sự (2004) cũng như qua thực tế khảo sát cho thấy, việc thu

thập thông tin chính xác về các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động (đặc biệt là hiệu quả về khía cạnh tài chính ở các DN có qui mô nhỏ và siêu nhỏ) là rất khó khăn

Nguyên nhân là do các DN không cung cấp thông tin chính xác, hoặc từ chối hay

Trang 8

không trả lời bởi tính bảo mật thông tin (Gilley và cộng sự, 2004) Do đó, luận án đánh giá hiệu quả hoạt động của DN thông qua sự cảm nhận về mức độ đạt được các chỉ tiêu đo lường hiệu quả bằng thang đo Likert trên cơ sở bổ sung và phát triển thang

đo của Kamyabi và Devi (2011), Ondoro (2015)

(Integrated model) giữa các lý thuyết như lý thuyết chi phí giao dịch – TCE, lý thuyết

quan điểm dựa trên nguồn lực – RBV, lý thuyết năng lực cốt lõi – CCT, lý thuyết mối quan hệ – RT, lý thuyết vốn xã hội – SCT và lý thuyết thẻ điểm cân bằng – BSC; (2) phát hiện các khe hổng các nghiên cứu của các tác giả trước đây Các thang đo đo

lường các khái niệm (các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thuê ngoài như lợi ích cảm nhận, kiểm soát rủi ro thuê ngoài, đặc điểm chức năng của DN, chiến lược thuê ngoài, tiêu chuẩn đối với bên cung ứng và thái độ thuê ngoài; thang đo mức độ thuê ngoài

và hiệu quả hoạt động của DN) được thiết kế, điều chỉnh phù hợp và đạt độ tin cậy

nghiên cứu về hoạt động thuê ngoài dịch vụ của các DNNVV ở ĐBSCL Ngoài ra, luận án còn bổ sung vào hệ thống thang đo đo lường khái niệm lợi ích cảm nhận từ việc sử dụng DVTN Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố lợi ích cảm nhận mặc dù không ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng mức độ thuê ngoài ở DN, nhưng đây được xem là nhân tố quan trọng tác động đến thái độ của các nhà quản trị đối với việc sử dụng nguồn lực bên ngoài tại các DNNVV ở ĐBSCL

Ngoài ra, luận án còn dựa vào lý thuyết mối quan hệ – RT và lý thuyết vốn xã hội – SCT đã bổ sung vào hệ thống thang đo đo lường khái niệm mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hoạt động thuê ngoài của DN Kết quả của nghiên cứu của luận án còn phát hiện thêm, đối với các DNNVV tại ĐBSCL, việc thuê ngoài của các

DN còn phụ thuộc vào yếu tố mối quan hệ quen biết, sự hợp tác lâu dài và giới thiệu lẫn nhau trong hợp tác kinh doanh Hơn thế nữa, nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho thấy, nhờ vào yếu tố mối quan hệ giữa các bên với nhau có thể giúp cho các DN cải

thiện phần nào hiệu quả hoạt động của mình (chủ yếu là nhóm các chỉ tiêu về hiệu quả phi tài chính của DN như hiệu quả thu hút và giữ chân khách hàng, hiệu quả làm việc của nhân viên, hiệu quả xử lý các công việc nội bộ, và hiệu quả đổi mới, phát triển tổ chức)

Trang 9

Nghiên cứu này còn dựa lý thuyết thẻ điểm cân bằng – BSC kết hợp với nghiên cứu của Ondoro (2015), đã góp phần bổ sung vào hệ thống thang đo đo lường hiệu quả hoạt động tổng quát của DN Theo đó, hiệu quả hoạt động của DN nên được đánh giá cả ở khía cạnh cả tài chính lẫn phi tài chính Như vậy, qua nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà nghiên cứu tại Việt Nam có thể xem đây như là mô hình tham khảo

có cơ sở khoa học để tiếp tục thực hiện các nghiên cứu liên quan về vấn đề thuê ngoài Hơn thế nữa, kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo nghiên cứu sự tác động của thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của các DN ở nhiều địa phương khác nữa

1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Bên cạnh những đóng góp về mặt lý thuyết, luận án hoàn thành còn đóng góp quan trọng trong việc cung cấp giá trị thực tiễn để các nhà quản trị các DNNVV ở ĐBSCL có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua việc đề xuất các hàm ý quản trị:

Thứ nhất, bên cạnh những lợi ích từ hoạt động thuê ngoài mang lại, giải pháp

này vẫn tiềm ẩn yếu tố rủi ro Do đó, các nhà quản trị DN cần tăng cường công tác quản trị rủi ro khi sử dụng nguồn lực thuê ngoài

Thứ hai, nghiên cứu chỉ ra, có sự khác biệt về sự tác động của thuê ngoài đến

hiệu quả hoạt động theo qui mô, lĩnh vực kinh doanh, thời gian hoạt động của DN, thời gian DN thuê ngoài, lĩnh vực thuê ngoài, thuê ngoài hoạt động cốt lỗi và hoạt động phụ trợ Do đó, luận án đã đề xuất hàm ý về việc sử dụng DVTN theo các đặc điểm của DN

Thứ ba, kết quả nghiên cứu cho thấy sự tác động của yếu tố mối quan hệ giữa

các bên liên quan với nhau đến việc sử dụng DVTN và hiệu quả hoạt động của các DNNVV ở ĐBSCL Do đó, các DN cần tăng cường công tác quản trị mối quan hệ giữa các bên nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua sử dụng các nguồn lực được cung cấp từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài

Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp các giá trị thực tiễn để các

tổ chức/cá nhân chuyên cung cấp các DVTN nắm bắt thông tin và đáp ứng nhu cầu khách hàng, từ đó có thể nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng của đối tác cung ứng dịch vụ cho DN thuê ngoài

Trang 10

1.6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Trên cơ sở quy định về kết cấu cũng như mục tiêu và nội dung nghiên cứu, luận án được bố cục gồm năm chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài, gồm tính cấp thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu Bên cạnh đó, chương 1 còn trình bày các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và những đóng góp của luận án về khía cạnh lý thuyết và thực tiễn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Theo đó, đề tài trình bày

cơ sở lý thuyết liên quan đến thuê ngoài, lý thuyết về hiệu quả hoạt động của DN Ngoài ra, luận án trình bày các nghiên cứu liên quan về thuê ngoài và các nghiên cứu tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của DN Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, luận án xác định khe hổng và đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu Luận án sẽ trình bày qui trình nghiên cứu và khung nghiên cứu cho đề tài Ngoài ra, tác giả sẽ tiến hành xây dựng thang đo cho các khái niệm trong mô hình nghiên cứu Thêm vào đó, trong chương 3 của luận án, tác giả sẽ trình bày các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu của đề tài

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Đề tài sẽ phân tích tình hình thuê ngoài dịch

vụ ở các DNNVV tại ĐBSCL Sau đó, đề tài tiến hành kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, kiểm định giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, kiểm định Boostrap, và kiểm định Sobel Bên cạnh đó, đề tài còn thực hiện phân tích cấu trúc đa nhóm để kiểm định sự khác biệt về mức độ thuê ngoài và hiệu quả hoạt động của DN theo một số đặc điểm của mẫu khảo sát như qui mô DN, thời gian DN hoạt động và thuê ngoài, loại dịch

vụ DN thuê ngoài và tỷ lệ thuê ngoài các hoạt động cốt lõi và phụ trợ

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DNNVV ở ĐBSCL thông qua sử dụng DVTN Cuối cùng, luận án trình bày một số hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày một số cơ sở lý thuyết liên quan đến thuê ngoài và lý thuyết

về hiệu quả hoạt động của DN Sau đó, tác giả tiến hành tổng hợp và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan về các nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đến việc thuê ngoài và tác động của thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của DN Trên cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xác định các khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ thuê ngoài

2.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ thuê ngoài

Từ những năm 1980, thuật ngữ Outsourcing được nhắc đến như là một chiến lược kinh doanh cung cấp vô số cơ hội tăng lợi nhuận cho các DN đặc biệt là DN lớn (Quinn, 1999) Tuy nhiên, ngày nay thuê ngoài dịch vụ lại được các DN có qui mô nhỏ và vừa có xu hướng lựa chọn, nhất là những DN có qui mô nhỏ (Hafeez và Andersen, 2014; Isaksson và Lantz, 2015) Đây còn được xem là một trong những giải pháp được nhiều DN trên thế giới sử dụng để tạo lợi thế cạnh tranh Cho đến nay,

có nhiều khái niệm khác nhau về thuê ngoài dịch vụ:

Theo đó, có định nghĩa cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là hoạt động tìm kiếm nguồn cung ứng bên ngoài để thực hiện các công việc tại DN Đây được xem là giải pháp giúp DN giải quyết các khó khăn do thiếu công nghệ, nhân lực cũng như giúp

DN thực hiện mục tiêu giảm chi phí đầu tư vào trang thiết bị, máy móc (Quinn, 2000; Jennings, 2002; Elmuti, 2003) Bên cạnh đó, Yang và cộng sự (2007) giải thích thêm, thuê ngoài là việc DN sử dụng nguồn lực bên ngoài, nó bao gồm tất cả các hoạt động cần thiết cho sự tồn tại của DN nhưng không phải là hoạt động cốt lõi Yang và cộng

sự (2007) còn nhấn mạnh, đây là thỏa thuận mà trong đó một DN trao lại một phần hoạt động của họ cho một công ty/đối tác ở bên ngoài bằng một hợp đồng cung ứng dịch vụ

Cũng có khái niệm cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là quá trình chuyển giao một phần hoặc tất cả hoạt động chức năng nội bộ của DN cho một nhà cung cấp bên ngoài thực hiện (Ketler và Walstrom, 1993) Giải thích rõ hơn về khái niệm này, Murem (1997) định nghĩa thuê ngoài như là việc chuyển một phần khối lượng công việc của

DN (có thể là các hoạt động chính hoặc hoạt động phụ trợ) cho bên cung ứng dịch

vụ để các nhà quản trị DN tập trung nguồn lực vào thực hiện các hoạt động cốt lõi

Trang 12

Hay cũng có định nghĩa cho rằng, thuê ngoài dịch vụ là việc DN đưa ra quyết định chọn một hoặc một số hay tất cả các hoạt động chức năng để uỷ thác cho một công ty, một tổ chức hay một cá nhân bên ngoài thực hiện các hoạt động thay cho DN (Jan, 1999) Vì vậy, các DN cần xem xét và xác định rõ những hoạt động nào DN cần

tự thực hiện, hoạt động nào DN nên sử dụng các nguồn lực sẵn có được cung ứng một cách chuyên nghiệp từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài (Bhagat và cộng sự, 2010) Quinn và Hilmer (1995) cho rằng để đưa ra quyết định về hoạt động thuê ngoài, DN cần so sánh chi phí, và cân nhấc giữa lợi ích và rủi ro khi thuê ngoài so với trường hợp DN tự thực hiện Beaumont và Sohal (2004) thì cho rằng nếu DN đã có đầy đủ mọi nguồn lực để thực hiện các hoạt động thì không cần thiết thuê ngoài cung ứng và ngược lại DN thuê ngoài sẽ tốt hơn Handley (2012) thì cho rằng quyết định thuê ngoài hay không ở DN còn phụ thuộc vào tính chất công việc, theo đó nếu những chức năng là cốt lõi, và đặc biệt quan trọng thì DN nên giữ lại, không nên chuyển giao cho các tổ chức/cá nhân bên ngoài thực hiện và ngược lại

Tóm lại, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về thuê ngoài dịch vụ Nhưng nhìn chung có thể hiểu thuê ngoài dịch vụ hay DVTN là việc một DN hay một tổ chức đi thuê các nguồn lực được cung ứng một cách chuyên nghiệp từ một hay nhiều

tổ chức/cá nhân bên ngoài để họ thực hiện thay một phần hay toàn bộ các chức năng/các hoạt động của DN thông qua hợp đồng thoả thuận giữa các bên với nhau

2.1.1.2 Qui trình thuê ngoài

Hình 2.1 Qui trình thuê ngoài dịch vụ

Nguồn: Hale (2006) Bước 1: Xác định nhu cầu: được hiểu là yêu cầu, kỳ vọng về hiệu quả đem lại

khi thuê ngoài Nhu cầu thuê ngoài của DN phụ thuộc vào khả năng DN tự thực hiện

và mức độ quan trọng của hoạt động

Trang 13

DN thực hiện tốt nhưng không cần thiết

DN thực hiện tốt

và chức năng quan trọng

DN không thực hiện tốt

và không cần thiết DN không thể thực hiện

Hình 2.2 Xác định nhu cầu thuê ngoài

Nguồn: Hale (2006) Bước 2: Đánh giá năng lực của DN dựa trên cơ sở khả năng thực hiện các chức

năng như nguồn lực nội bộ, kiến thức và kỹ năng liên quan, qui trình thực hiện công việc Từ đó, xác định điểm mạnh và yếu của từng chức năng mà quyết định

Bước 3: Lựa chọn nhà cung ứng: Đây là bước quan trọng để quyết định lựa chọn

nhà cung ứng phù hợp Các tiêu chí khi lựa chọn nhà cung ứng là đáp ứng bản đề xuất thực hiện công việc cũng như đảm bảo chất lượng công việc, các tiêu chí về chi phí, phương thức thanh toán, dịch vụ đi kèm, thông tin nhà cung ứng Ngoài ra, các tiêu chí kinh nghiệm, năng lực về công nghệ, chuyên môn và mối quan hệ với nhà cung ứng dịch vụ cũng nhà những tiêu chí quan trọng để quyết định lựa chọn

Bước 4: Tiến hành ký hợp đồng thuê ngoài với bên cung ứng

Bước 5: Bắt đầu thực hiện hoạt động thuê ngoài khi hợp đồng đã được ký kết

Trong quá trình thực hiện thuê ngoài DN phải quản lý kế hoạch, giám sát để đảm bảo yêu cầu công việc

Bước 6: Quản lý mối quan hệ với nhà cung ứng bao gồm chia sẻ đề xuất và mục

tiêu cần đạt được để các bên liên quan thực hiện, đưa ra các tiêu chí đo lường và chế

độ báo cáo của nhà cung ứng

Bước 7: Đánh giá hoạt động thuê ngoài dựa trên mục tiêu đề ra và kết quả thực

hiện công việc của bên cung ứng dịch vụ để DN quyết định nên tiếp tục thực hiện thuê ngoài hay không, hoặc nên tiếp tục giữa mối quan hệ với nhà cung ứng hay không, hoặc có xem xét chiến lược trong tương lai

Mức độ quan trọng của các hoạt động

Thuê ngoài

Trang 14

2.1.1.3 Các dịch vụ doanh nghiệp thuê ngoài phổ biến

Trên thế giới hiện nay các dịch vụ được các DN thuê ngoài rất đa dạng Trên cơ

sở các nghiên cứu liên quan có thể cho thấy, ngoài công nghệ thông tin (như lắp đặt/quản trị mạng hoặc bảo trì máy tính/thiết bị văn phòng, thuê ngoài cơ sở dữ liệu), các DN còn chú trọng việc thuê ngoài nhân sự bán thời gian, thuê ngoài tư vấn quản

lý và quản trị nhân sự, thuê dịch vụ tư vấn kinh tế - pháp luật – xây dựng cho DN, dịch vụ trả lương ngoài (Payroll Outsourcing), dịch vụ kế toán thuê ngoài, báo cáo thuế (Acccouting), dịch vụ khách hàng (Customer service), dịch vụ đào tạo, dịch vụ

y tế, chăm sóc sức khỏe (Health service), dịch vụ dọn dẹp văn phòng, bảo vệ 24/24, dịch vụ dịch thuật Bên cạnh đó, thuê ngoài kho bãi, tài sản, máy móc, dịch vụ vận tải cũng là xu hướng được các DN lựa chọn Đối với các DN có hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, và xuất nhập khẩu thì còn thuê ngoài dịch vụ

logistics

Tại Việt Nam, các DN thuê ngoài các dịch vụ chủ yếu tập trung vào bốn lĩnh vực chính:

(1) Thuê ngoài lao động: thấy được tầm quan trọng của hoạt động thuê ngoài,

Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ DN Theo đó, Bộ luật Lao động năm

2012 ra đời với quy định về việc cho thuê lại lao động Năm 2013 Chính phủ cũng ban hành Nghị định 55/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành khoản 3 Điều 54 của

Bộ luật Lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động tại Việt Nam với 17 ngành nghề Đến năm

2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 29/2019/NĐ-CP trên cơ sở bổ sung Nghị định 55/2013/NĐ-CP với 20 danh mục công việc được phép cho thuê lại lao động

(PHỤ LỤC 1)

(2) Thuê ngoài dịch vụ CNTT: hình thức này ở Việt Nam chưa phổ biến, bởi đa

phần DN tự đầu tư và vận hành hệ thống Cuối năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT riêng cho các cơ quan nhà nước Trên cơ sở các lĩnh vực được phép thuê ngoài, hàng loạt công ty chuyên cung ứng dịch vụ CNTT ra đời, phổ biến nhất là dịch vụ tư vấn tối ưu hệ thống, dịch vụ bảo trì, thuê thiết bị, bảo dưỡng hệ thống CNTT, quản trị mạng, thuê ngoài phần mềm trên Cloud (như phần mềm kế toán, quản trị bán hàng )

và dịch vụ quản lý vận hành hệ thống CNTT

(3) Thuê ngoài dịch vụ logistics: Tại Điều 233 Luật Thương mại năm 2005,

hoạt động thuê ngoài logistics bao gồm nhiều công việc như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng

Trang 15

(4) Thuê ngoài tài sản: Theo thông tư 92/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, thuê

ngoài tài sản bao gồm thuê nhà, mặt bằng, cửa hàng, nhà xưởng, kho bãi; cho thuê phương tiện vận tải, máy móc thiết bị không kèm theo người điều khiển và cho thuê

tài sản khác không kèm theo dịch vụ

2.1.1.4 Mức độ thuê ngoài dịch vụ

Mức độ thuê ngoài (Level of outsourcing) được xem như là quyết định của DN

trong việc xác định phạm vi các hoạt động của DN để thực hiện việc sử dụng các nguồn lực bên ngoài, điều này thể hiện trách của người đưa ra quyết định chuyển giao các chức năng hoạt động của tổ chức cho bên cung ứng dịch vụ (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Hafeez và Andersen, 2014) Theo

đó, mức độ thuê ngoài đo lường bằng cường độ thuê ngoài của DN (outsourcing intensity), điều này phản ánh sự phụ thuộc tổng thể của DN vào việc thuê ngoài

(Gilley và Rasheed, 2000) Theo đó, mức độ thuê ngoài đo lường bằng tỷ lệ hoạt động

được DN thuê bên ngoài, đó là sự kết hợp giữa độ rộng (Outsourcing breadth) và độ sâu (Outsourcing depth) của việc sử dụng nguồn lực bên ngoài Gilley và Rasheed

(2000) cho rằng, độ rộng của hoạt động thuê ngoài là số lượng hoạt động được DN

chọn để chuyển giao cho bên cung ứng (tính theo tỷ lệ phần trăm của tất cả hoạt động

mà DN có thể thuê ngoài), và độ sâu của việc sử dụng DVTN đo lường mức độ thuê

ngoài trung bình của tất cả các hoạt động được DN thuê ngoài Khi đó, mức độ thuê ngoài tổng thể được đo lường bằng tích của độ rộng và độ sâu của việc thuê ngoài

(như minh họa ở Bảng 2.1) Do đó, mức độ hay cường độ thuê ngoài là một biến liên tục có giá trị từ 0% (không thuê ngoài) đến 100% (100% hoạt động của DN được thuê ngoài)

Cũng theo Gilley và Rasheed (2000), có hai loại hoạt động DN cần phân biệt:

(1) thuê ngoài các hoạt động phụ trợ (Peripheral outsourcing), và (2) thuê ngoài các hoạt động cốt lõi (Core outsourcing) Thế nào là hoạt động cốt lõi hay hoạt động phụ

trợ là tùy sự đánh giá của mỗi DN, tuy nhiên các nghiên cứu thường dựa vào đánh giá mức độ quan trọng của từng loại dịch vụ đối với sự tăng trưởng của doanh số và lợi nhuận của DN Gilley và Rasheed (2000) cho rằng để đánh giá mức độ quan trọng

đó, thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để đánh giá cho từng dịch vụ (từ 1 – hoàn toàn không quan trọng, đến 5 – rất quan trọng) Khi đó, các hoạt động có điểm đánh

giá trên mức trung bình thì hoạt động đó được xem là hoạt động cốt lõi, và ngược lại

là hoạt động phụ trợ Gilley và Rasheed (2000) cũng cho rằng mức độ thuê ngoài các hoạt động cốt lõi ở các DN thường thấp hơn các hoạt động phụ trợ bởi hiệu quả thấp

và hoạt động đó có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của DN

Trang 16

Bảng 2.1: Tính toán mức độ thuê ngoài các hoạt động tại DN

Các hoạt

động

Các hoạt động thuê ngoài

Mức độ quan trọng

Khối lượng công việc được thực hiện bởi bên ngoài (%)

Khối lượng công việc được thực hiện bởi nội bộ (%)

Độ rộng của thuê ngoài (Outsourcing breadth)= Số hoạt động đã thuê ngoài

Số hoạt động có thể thuê ngoài *100%

Độ sâu của thuê ngoài (Outsourcing depth) = Tổng khối lượng công việc thuê ngoài

Số lượng hoạt động đã thuê ngoài Mức độ thuê ngoài = Độ rộng của thuê ngoài * Độ sâu của thuê ngoài

Trong đó:

- Mức độ quan trọng: 1 – hoàn toàn không quan trọng, đến 5 – rất quan trọng

- X 1 + Y 1 = 100%; …; X n + Y n = 100%

Nguồn: Gilley và Rasheed (2000), Everaert và cộng sự (2006)

Một cách tiếp cận khác của Dabhilkar và cộng sự (2009), Gulla và Gupta (2012),

và Elegbede (2013) cho rằng mức độ thuê ngoài còn được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm chi phí phải trả cho bên cung ứng so tổng chi phí hoạt động chung của DN Theo

đó, khối lượng các công việc thuê ngoài tăng sẽ dẫn đến tăng chi phí thuê ngoài ở

DN Dựa trên các lược khảo của các nghiên cứu, Gulla và Gupta (2012) đưa ra lập luận rằng tỷ lệ chi phí thuê ngoài ở DN dưới 20% thì được xem là tỷ lệ rất thấp, tỷ lệ

từ 20-30% là thấp, tỷ lệ từ 30-40% là trung bình, từ 40-50% là cao, và tỷ lệ này ở mức hơn 50% thì được xem là rất cao ở các DN

Bên cạnh đó, một số tác giả còn cho rằng đo lường mức độ thuê ngoài nên xem

xét xu hướng sử dụng dịch vụ của DN (Outsourcing propensity) (Gewald và cộng sự,

2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010), bởi tùy theo mức độ quan trọng của từng hoạt động mà mức độ gia tăng các hoạt động thuê ngoài của DN có thể khác nhau Theo đó, DN có thể sử dụng nguồn lực bên ngoài chỉ để giải quyết tạm thời các hoạt động khi phát sinh, cũng có thể sử dụng DVTN như giải pháp tạo giá trị gia tăng cho DN, hoặc cũng có thể thực hiện thuê ngoài để thiết lập lại qui trình hoạt động của

tổ chức (Hafeez và Andersen, 2014)

Trang 17

Bảng 2.2: Tóm tắt các chỉ tiêu đo lường mức độ thuê ngoài dịch vụ

1 Tỷ lệ thuê ngoài các hoạt động cốt lõi Gilley và Rasheed, 2000; Everaert và cộng sự,

Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan 2.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sử dụng DVTN của DN

a Lợi ích từ thuê ngoài dịch vụ

Nhiều nghiên cứu cho rằng, cảm nhận lợi ích khi sử dụng DVTN (Perceived benefits of outsourcing) là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thái độ cũng như

mức độ thuê ngoài của DN (Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010) Bởi vì nguồn lực của mỗi tổ chức là có hạn, DN có thể tận dụng các nguồn lực bên ngoài – những

tổ chức hoặc cá nhân cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp để giảm chi phí hoạt động Thật vậy, mục tiêu tiết kiệm chi phí được xem là lý do mà DN sử dụng DVTN, đặc biệt trước xu thế cạnh tranh khốc liệt thì đây là giải pháp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho DN (Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Gerald và cộng sự, 2013; Luca và Giulio, 2013; Yıldız và công sự, 2014; Yilmaz và Bedük, 2014) DN còn có thể tận dụng nguồn lực bên ngoài để giảm bớt

sự cồng kềnh của bộ máy, tinh giảm nhân sự (Bhagat và cộng sự, 2010), tiết kiệm thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực khác để có thể tập trung vào các hoạt động cốt lõi (Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Sadi và Ahmed, 2011; Gerald và cộng sự, 2013; Tania và Faiza, 2013) Mark và cộng sự (2005) nghiên cứu và cho thấy có hơn 82% các công ty ở Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ có sử dụng dịch vụ này

và khoảng 10% các DN hài lòng với chi phí tiết kiệm và số cấp quản trị có thể giảm 50% Còn theo Jennings (2002), DN có thể tiết kiệm chi phí trung bình từ 15-25% so với DN tự thực hiện Monica (2006) cũng nghiên cứu và cho thấy DN tiết kiệm từ 10

- 20% về chi phí, và khoảng 50% DN cảm nhận mục tiêu tiết kiệm chi phí của họ đã được đáp ứng và năng suất lao động được cải thiện

Thuê ngoài còn giúp DN giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng chuyển đổi chi phí

cố định sang chi phí biến đổi (Willcocks và cộng sự, 2004; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Yilmaz và Bedük, 2014) Thay vì DN phải đầu tư vào các trang thiết bị, máy móc và cơ sở vật chất thì DN có thể tận dụng cơ hội từ sử dụng nguồn lực thuê ngoài Như vậy, việc giảm các khoản đầu tư này sẽ giảm đáng kể chi phí cho DN (Quinn và Hilmer, 1995) Nhờ vậy, DN có thể chuyển chi phí đó thành biến phí, qua đó có thể cải thiện hiệu quả kinh doanh cho DN

Trang 18

Bên cạnh đó, thuê ngoài còn giúp các nhà quản trị giảm bớt áp lực về thời gian

để tập trung vào các định hướng chiến lược hay các hoạt động cốt lõi (Gewald và Dibbern, 2009; Kroes và Ghosh, 2010; Gewald, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Jain và Natarajan, 2011; Tania và Faiza, 2013; Luca và Giulio, 2013; Yilmaz và Bedük, 2014) Với năng lực chuyên môn của bên cung ứng, có thể giúp DN cải thiện qui trình hoạt động, tăng tốc độ thực hiện công việc (Kroes và Ghosh, 2010; Bhagat và cộng

sự, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011) Các nhà cung ứng dịch vụ

có thể thực hiện nhanh hơn so với DN tự làm, bởi vì họ phải thực hiện theo yêu cầu, tiến độ công việc đã đề ra Thêm vào đó, bên cung ứng dịch vụ có kinh nghiệm, có đầy đủ công cụ, phương tiện cần thiết cho việc thực hiện các công việc (Sadi và Ahmed, 2011) Để đảm bảo tốc độ công việc, thông thường bên cung ứng dịch vụ sẽ đầu tư cho nhân viên sâu hơn, có kiến thức, kỹ thuật tốt hơn và được hỗ trợ cơ sở vật chất chuyên biệt hơn (Quinn và Hilmer, 1994)

Sử dụng DVTN còn được xem là một trong những phương pháp loại trừ hoặc giảm điểm yếu cho DN về nhân sự, tài chính và công nghệ Đây là một cách để chia

sẻ một phần rủi ro cho bên cung cấp (Kremic và Tukel, 2006; Kwok và Jianmei, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez và Andersen, 2014) Thật vậy, sử dụng dịch vụ của các tổ chức/cá nhân chuyên nghiệp có thể làm giảm rủi ro và trách nhiệm

về mặt thủ tục, pháp lý cho DN (Monica, 2006) Bên cạnh đó, theo Deloitte (2005), Jain và Natarajan (2011) DN có thể giảm hoặc thậm chí đẩy được rủi ro về bên cung cấp dịch vụ do các DN không phải đầu tư nhiều về con người, trang thiết bị và các phương tiện phục vụ công việc

Thiếu các nguồn lực nội bộ cũng là thách thức của các DN ngày nay Một số nghiên cứu cho rằng các DN có thể sử dụng mô hình thuê ngoài để giải quyết vấn đề

thiếu hoặc yếu về chuyên môn cũng như các nguồn lực nội tại (như con người, cơ sở vật chất, thông tin, công nghệ) Trong trường hợp đó, DN có xu hướng gia tăng mức

độ sử dụng DVTN (Kremic và Tukel, 2006; Kwok và Jianmei, 2006; Islam và Sobhani, 2008; Gewald và Dibbern, 2009; Kroes và Ghosh, 2010; Gewald, 2010; Bhagat và cộng sự, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Tania và Faiza, 2013) Deloitte (2005) đã nghiên cứu và cho thấy có đến 16% các DN thuê dịch vụ do bản thân họ không có khả năng, không có chuyên môn hoặc không thể giải quyết vấn đề một cách

hiệu quả hơn thuê bên ngoài thực hiện

Trang 19

Bảng 2.3: Tổng hợp các lợi ích từ thuê ngoài

STT Các lợi ích Nguồn tham khảo

1 Thuê ngoài giúp DN tiết

kiệm chi phí

Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Gerald và cộng sự, 2013; Luca và Giulio, 2013; Yıldız và công sự, 2014; Yilmaz và Bedük, 2014

2 Thuê ngoài giúp chuyển

đổi chi phí cố định sang

chi phí biến đổi

Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Yilmaz và Bedük, 2014

3 Thuê ngoài giúp DN tập

trung thực hiện các hoạt

động quan trọng

Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Kroes và Ghosh, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Jain và Natarajan, 2011; Tania và Faiza, 2013; Luca và Giulio, 2013; Yilmaz và Bedük, 2014

4 Thuê ngoài giúp DN

chia sẻ rủi ro với bên

cung ứng

Kremic và Tukel, 2006; Kwok và Jianmei, 2006; Gewald

và Dibbern, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez

và Andersen, 2014

5 Thuê ngoài giúp DN

giải quyết khó khăn do

thiếu nguồn lực

Kremic và Tukel, 2006; Kwok và Jianmei, 2006; Islam và Sobhani, 2008; Gewald và Dibbern, 2009; Kroes và Ghosh, 2010; Bhagat và cộng sự, 2010; Gewald, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Tania và Faiza, 2013

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan

b Rủi ro cảm nhận từ sử dụng DVTN

Bên cạnh những lợi ích mang lại thì sử dụng nguồn lực bên ngoài vẫn tồn tại những rủi ro cho DN, điều này sẽ ảnh hưởng đến thái độ cũng như mức độ thuê ngoài của DN (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009) Rủi ro có thể xuất hiện ngay sau khi thực hiện hoặc cũng có thể sau một vài năm, rủi ro này có thể nhỏ nhưng cũng có những DN phải chịu hậu quả khôn lường Thật vậy, nhiều nghiên cứu cho rằng nguy cơ phụ thuộc vào nhà cung ứng dịch vụ có thể xảy ra, đây là một trong những rủi ro lớn nhất khi sử dụng DVTN (Jain và Natarajan, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Tania và Faiza, 2013) Ngoài ra, nhiều nghiên cứu còn chỉ ra nguy cơ chủ nghĩa

cơ hội (opportunism) của bên cung cấp, họ có thể chạy theo lợi ích cá nhân, tự ý thay

đổi những điều khoản khi thực hiện hợp đồng, trốn tránh trách nhiệm, nguy cơ đàm phán lại hợp đồng đã ký kết (Jain và Natarajan, 2011; Handley, 2012; Hafeez và Andersen, 2014) Bên cạnh đó, bên cung cấp dịch vụ có thể khai thác thông tin hay

bí mật của DN, một nguy cơ nữa là việc rò rỉ thông tin DN ra bên ngoài có thể xảy ra (Handley, 2012; Hafeez và Andersen, 2014) Điều này sẽ làm giảm lòng tin của chủ

DN đối với hoạt động thuê ngoài

Mất khả năng kiểm soát các hoạt động từ các nhà cung cấp là vấn đề được nhiều nghiên cứu đề cập (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Fan và cộng

sự, 2011; Jain và Natarajan, 2011; Tania và Faiza, 2013) Hậu quả là công việc không được giải quyết kịp thời và chất lượng không đảm bảo (Quinn và Hilmer, 1995; Gewald và cộng sự, 2006) Bởi bên cung ứng dịch vụ không chỉ hợp đồng với duy nhất một DN trong cùng một thời điểm mà có thể hợp đồng với nhiều DN khác nữa (Kurdi và cộng sự, 2011) Điều này càng khó khăn hơn khi DN thay đổi nhà cung cấp

Trang 20

khác hoặc đưa những hoạt động này trở lại DN tự làm khi chấm dứt hợp đồng Ketler

và Walstrom (1993) chỉ ra có đến 31% DN cho rằng mất khả năng kiểm soát các hoạt động khi thuê ngoài có thể dẫn đến giảm chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc Bên cạnh đó, do hạn chế về khả năng kiểm soát bên cung ứng nên ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, gián đoạn quá trình hoạt động, kéo dài thời gian thực hiện công việc, nguy cơ làm tăng sự phàn nàn từ khách hàng (Willcocks và Currie, 1997; Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009) Mặc khác, trong trường hợp nhu cầu cung cấp dịch vụ thay đổi tại một thời điểm nhất định nào đó, hợp đồng thuê ngoài có thể sẽ phải thay đổi theo Bên cung ứng dịch vụ sẽ căn cứ quy định trong hợp đồng để gây khó khăn cho DN Chính vì vậy, thiếu khả năng cung cấp dịch vụ khi cần thiết làm giảm sự linh hoạt trong hoạt động của DN Có 17% các

DN mất sự linh hoạt trước những sự thay đổi từ nhu cầu khách hàng tăng thêm ở các công ty thuê ngoài (Deloitte, 2005) Trong khi đó, Monica (2006) đã nghiên cứu và cho thấy có đến 25% DN gặp phải vấn đề này

Như đã trình bày trên, hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng DVTN giúp tiết kiệm được chi phí hơn cho DN Tuy vậy, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng khi thuê ngoài, nguy cơ chi phí không giảm như mong đợi hoặc kỳ vọng có thể xảy

ra (Willcocks và Currie, 1997) và thậm chí chi phí có thể tăng cao hơn (Deloitte, 2005; Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Monica, 2006; Jain và Natarajan, 2011) Nghiên cứu của Deloitte (2005) cho thấy có đến 30% DN sử dụng dịch vụ không giảm được chi phí hoặc giảm nhưng không như kỳ vọng Nguyên nhân

là do các DN thuê dịch vụ phải trả thêm các khoản chi phí phát sinh hoặc có những

khoản chi phí chưa lường trước trong hợp đồng (chi phí ẩn – hidden costs) hay hợp

đồng thiếu chặt chẽ (Deloitte, 2005, Kwok và Jianmei, 2006) Ngoài ra, trong một số trường hợp DN phải bỏ thêm tiền để sửa chữa sự cố ngoài ý muốn trong hợp đồng ban đầu, điều này làm chi phí vượt cao hơn so với dự toán Có đến 57% các DN cho rằng họ phải trả thêm chi phí bổ sung trong hợp đồng thuê, nguyên nhân là do tính cứng nhắc trong hợp đồng thuê ngoài (Deloitte, 2005)

Một trong những rủi ro khác khi thuê ngoài là tính bảo mật thông tin của DN, nguy cơ bị lộ bí mật hoặc thậm chí mất bí quyết với những hành động không đáng tin cậy của bên cung cấp dịch vụ (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Handley, 2012; Tania và Faiza, 2013; Hafeez và Andersen, 2014) Nguyên nhân là do trong một số trường hợp DN phải chia sẻ thông tin về dữ liệu, về khách hàng Do vậy việc rò rỉ dữ liệu và thông tin DN

là điều có thể xảy ra Hơn thế nữa, khi thuê ngoài, nhân viên các công ty cung cấp dịch vụ có thể sẽ tiết lộ thông tin của công ty ra ngoài, thậm chí tiết lộ cho các đối thủ cạnh tranh của DN (Jain và Natarajan, 2011) Đây cũng là vấn đề các DN cần phải thận trọng Theo Tania và Faiza (2013) nếu kiểm soát tốt những rủi ro sẽ tác động

Trang 21

Bảng 2.4: Tổng hợp các rủi ro khi sử dụng DVTN

STT Các rủi ro Nguồn tham khảo

1 Lệ thuộc vào bên cung

ứng dịch vụ Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Handley,

2012; Tania và Faiza, 2013; Hafeez và Andersen, 2014

2 Nguy cơ mất khả năng

kiểm soát hoạt động

thuê ngoài

Quinn và Hilmer, 1995; Deloitte, 2005; Gewald và cộng

sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Tania và Faiza, 2013

3 Nguy cơ gián đoạn quá

6 Nguy cơ lộ thông tin và

bí mật của DN

Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Jain

và Natarajan, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Handley, 2012; Tania và Faiza, 2013; Hafeez và Andersen, 2014

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan

c Đặc điểm chức năng của tổ chức

Đặc điểm chức năng (Organizational characteristics) liên quan đến nội bộ của

DN, đây được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ thuê ngoài dịch vụ Đặc điểm chức năng của tổ chức thể hiện bản chất của các công việc trong DN Theo

đó, đối với những công việc có tính chất phức tạp, nhất là những hoạt động trong tổ chức cần bảo mật thông tin cao thì DN càng giảm mức độ sử dụng DVTN, bởi lẽ không kiểm soát và quản lý tốt có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của

DN Điều này đồng nghĩa, DN có xu hướng thuê ngoài những công việc không quan trọng, không mang tính cốt lõi (Ketler và Walstrom, 1993; Kremic và Tukel, 2006; Hsiao và cộng sự, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014)

Đặc điểm chức năng của tổ chức còn liên quan yếu tố tài sản của DN Theo đó, các DN không có đầy đủ tài sản, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ thực hiện các hoạt động thì DN càng có xu hướng thuê ngoài cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp để giải quyết những khó khăn do thiếu nguồn lực nội tại (Kremic và Tukel, 2006; Hsiao và cộng

sự, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014) Những khó khăn này thường gặp phải với những DN có qui mô nhỏ, DN yếu hoặc thiếu các nguồn lực cơ bản này trong quá trình hoạt động Khi đó, tận dụng nguồn lực bên ngoài là cơ hội để tháo gỡ những khó khăn cho DN (Hafeez và Andersen, 2014)

Trang 22

Ngoài ra, đặc điểm chức năng của tổ chức còn liên quan đến nguồn nhân lực của DN Nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở năng lực, trình độ, kinh nghiệm và chuyên môn thích hợp của nhà quản trị (Kamyabi và Devi, 2011), mà còn thể hiện về mặt số lượng và chất lượng nhân viên Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc thuê ngoài của DN (Ketler và Walstrom, 1993; Kremic và Tukel, 2006; Sadi và Ahmed, 2011; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014) Thật vậy, để hạn chế chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động, DN thường không tuyển nhiều nhân

sự mà ở đó DN chọn giải pháp thuê ngoài, bao gồm thuê lao động hợp đồng, lao động tạm thời hoặc lao động làm việc bán thời gian Do đó, thiếu nhân lực hoặc nguồn nhân lực hiện tại không có khả năng thực hiện tốt các công việc thì DN càng có xu hướng thuê ngoài nhiều hơn, đặc biệt là các DNNVV (Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014; Agburu và cộng sự, 2017)

Theo Hafeez và Andersen (2014), đặc điểm chức năng tổ chức còn thể hiện ở tần suất thực hiện các công việc Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thuê ngoài Theo đó, khối lượng công việc cần xử lý càng nhiều và chu kỳ thực hiện công việc càng xa thì DN càng có xu hướng thuê ngoài nhiều hơn Bởi một khi DN có nhiều giao dịch phải thực hiện thường xuyên, các công việc này không đòi hỏi nhiều sự can thiệp của người quản trị, khi đó DN đánh giá cao mức độ quan trọng của hoạt động thuê ngoài do có lợi hơn so với DN tự thực hiện (Islam và Sobhani, 2008; Sadi và Ahmed, 2011; Tania và Faiza, 2013)

Bảng 2.5: Đặc điểm chức năng của tổ chức

STT Đặc điểm chức năng Nguồn tham khảo

và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

2 DN thuê ngoài các hoạt

động không liên quan đến

thông tin bảo mật

Ketler và Walstrom, 1993; Kremic và Tukel, 2006; Hsiao và cộng sự, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Kamyabi

và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

3 Tài sản, trang thiết bị,

công cụ hỗ trợ thực hiện

công việc không đảm bảo

Kremic và Tukel, 2006; Hsiao và cộng sự, 2010; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

4 Nhân sự không đủ đảm

bảo thực hiện công việc

Ketler và Walstrom, 1993; Kremic và Tukel, 2006; Sadi

và Ahmed, 2011; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

5 Chất lượng nhân sự thực

hiện công việc không

đảm bảo

Ketler và Walstrom, 1993; Kremic và Tukel, 2006; Sadi

và Ahmed, 2011; Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

6 Qui mô của DN nhỏ Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen, 2014

7 Khối lượng công việc cần

Trang 23

d Chiến lược thuê ngoài của doanh nghiệp

Mức độ sử dụng DVTN còn phụ thuộc vào đánh giá sự phù hợp của hoạt động này với định hướng hoạt động của DN Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược của DN khi sử dụng các nguồn lực bên ngoài, nhưng tất cả DN đều hướng đến

thực hiện các mục tiêu dài hạn Thứ nhất, đây được xem là xu thế lựa chọn của DN

trên thế giới hiện nay Bởi DN thuê ngoài có thể đạt được các lợi ích như đã trình ở

trên (Islam và Sobhani, 2008; Kroes và Ghosh, 2010; Sadi và Ahmed, 2011) Thứ hai, trước sự thay đổi phức tạp của môi trường kinh doanh, các DN cần có giải pháp

ứng phó để giảm thiểu những khó khăn do hạn chế về nguồn lực Khi đó, sử dụng DVTN có thể giúp DN đạt được lợi thế cạnh tranh, nhất là cạnh tranh về chi phí nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động (Kwok và Jianmei, 2006; Kremic và Tukel, 2006; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Kroes và Ghosh, 2010; Hsiao và cộng sự, 2010) Bên cạnh đó, theo định hướng chiến lược thuê ngoài, DN còn hướng đến sự đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh Thuê ngoài cũng có thể được DN sử dụng như là chiến lược nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ do tận dụng được nhà cung ứng chuyên nghiệp cũng như sử dụng công nghệ tiên tiến vào quá trình hoạt động, điều này giúp DN phục vụ tốt nhất nhu cầu khách hàng của mình (Gilley và cộng sự, 2004; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Islam và Sobhani,

2008; Kroes và Ghosh, 2010)

Ngoài ra, DN còn xem sử dụng nguồn lực từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài là một trong những giải pháp nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh, thay vì DN phải thực hiện tất cả các hoạt động thì DN thuê ngoài một phần công việc để tập trung nguồn lực vào những hoạt động trọng tâm (Fan và cộng sự, 2009; Jain và Natarajan, 2011; Sadi và Ahmed, 2011; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez

và Andersen, 2014) Qua đó, các nhà quản trị có thể phân bổ lại các nguồn lực của mình một cách hợp lý, từ đó DN có thể xem xét chiến lược mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh (Kwok và Jianmei, 2006; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Bhagat và cộng sự, 2010; Kroes và Ghosh, 2010; Sadi và Ahmed, 2011; Tania và Faiza, 2013), hay đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác một khi có cơ hội (Elmuti, 2003; Kwok và

Jianmei, 2006; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Sadi và Ahmed, 2011)

Bảng 2.6: Tổng hợp các chiến lược khi DN thuê ngoài dịch vụ

STT Các chiến lược Nguồn tham khảo

1 Thuê ngoài là xu hướng chung

3 Thuê ngoài nhằm thực hiện chiến

lược cải tiến sản phẩm/dịch vụ

Gilley và cộng sự, 2004; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008, Islam và Sobhani, 2008; Kroes và Ghosh, 2010

4 Thuê ngoài nhằm thực hiện chiến

lược đa dạng hóa kinh doanh

Elmuti, 2003; Kwok và Jianmei, 2006; Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Sadi và Ahmed, 2011; Kroes và Ghosh, 2010

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan

Trang 24

e Tiêu chuẩn đối với bên cung cấp dịch vụ

Đối tác cung ứng dịch vụ cũng được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến

mức độ sử dụng nguồn lực thuê ngoài ở các DN Bởi chọn đúng bên cung ứng góp phần vào sự thành công của DN (Ketler và Walstrom, 1993; Kroes và Ghosh, 2010; Bhagat và cộng sự; 2010; Hafeez và Andersen, 2014) Theo đó, DN thường quan tâm đến giá cả và chất lượng thực hiện công việc của bên cung ứng (Fan và cộng sự, 2009; Dean và cộng sự, 2010; Kroes và Ghosh, 2010; Feng, 2012; Sani và cộng sự, 2013) Ngoài ra, khi lựa chọn đối tác, DN còn quan tâm về danh tiếng, thâm niên hoạt động hay hiệu quả cung cấp dịch vụ trong quá khứ (Yang và cộng sự, 2007; Fan và cộng

sự, 2009; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013), khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu của DN khi cần thiết (Ghodeswar và Vaidyanathan, 2008; Sani và cộng sự, 2013), hay các tiêu chuẩn về đảm bảo kế hoạch thực hiện công việc, nhất là đảm bảo cam kết của các bên liên quan (Kroes và Ghosh, 2010; Fan và cộng sự, 2011; Hafeez và Andersen, 2014)

Bên cạnh đó, Yang và cộng sự (2007), Kroes và Ghosh (2010), Fan và cộng sự (2011), Feng (2012) cùng Sani và cộng sự (2013) cũng đã chỉ ra, trong dài hạn để có thể duy trì tốt mối quan hệ khách hàng thì bản thân bên cung cấp dịch vụ cần chú ý đến dịch vụ khách hàng, đây là yếu tố quan trọng tác động đến việc các DN xem xét

có tiếp tục sử dụng DVTN hay không Thêm vào đó, Kroes và Ghosh (2010), Dean

và cộng sự (2010), Hafeez và Andersen (2014) còn nghiên cứu và chỉ ra rằng DN cũng đặc biệt quan tâm những đối tác có khả năng điều chỉnh công suất và khối lượng

công việc theo yêu cầu trong những trường hợp cấp bách

Bảng 2.7: Tiêu chuẩn cung ứng dịch vụ

STT Tiêu chuẩn Nguồn tham khảo

1 Giá cả dịch vụ Fan và cộng sự, 2009; Dean và cộng sự, 2010; Kroes và

Ghosh, 2010; Feng, 2012; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez và Andersen, 2014

2 Danh tiếng Yang và cộng sự, 2007; Fan và cộng sự, 2009; Kroes và

Ghosh, 2010; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez và Andersen, 2014

3 Thâm niên Yang và cộng sự, 2007; Fan và cộng sự, 2009; Kroes và

Ghosh, 2010; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013; Hafeez và Andersen, 2014

4 Hiệu quả thực hiện

trong quá khứ Yang và cộng sự, 2007; Fan và cộng sự, 2009; Kroes và Ghosh, 2010; Fan và cộng sự, 2011; Sani và cộng sự, 2013

5 Đảm bảo kế hoạch Kroes và Ghosh, 2010; Fan và cộng sự, 2011; Hafeez và

Trang 25

f Thái độ của doanh nghiệp đối với việc thuê ngoài

Với những yếu tố lợi ích mang lại cũng như những rủi ro khi sử dụng DVTN sẽ

ảnh hưởng đến thái độ (Attitude towards outsourcing) của các nhà quản trị DN đối

với hoạt động này Thái độ thuê ngoài thể hiện niềm tin của DN đối với hoạt động thuê ngoài các dịch vụ tại DN Ngoài ra, thái độ đối với hoạt động thuê ngoài còn liên quan đến sự đánh giá tính phù hợp với định hướng hoạt động của DN, hay đó còn là

sự so sánh hiệu quả của việc thuê ngoài cung ứng dịch vụ so với bản thân DN tự thực hiện (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010) Thật vậy, một khi DN đánh giá được những lợi ích từ hoạt động này mang lại càng nhiều thì

DN càng có thái độ tích cực đối với hoạt động thuê ngoài Khi đó, DN sẽ tăng cường

và ủng hộ hơn nữa hoạt động thuê ngoài trong tương lai (Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010; Jain và Natarajan, 2011)

Ngoài ra, một khi DN có khả năng kiểm soát tốt được những rủi ro từ việc sử dụng nguồn lực bên ngoài sẽ tác động tích cực và tác động mạnh mẽ đến thái độ của các nhà quản trị DN đối với hoạt động này (Tania và Faiza, 2013) Và chính nhân tố thái độ của DN đối với hoạt động thuê ngoài như thế nào sẽ tác động trực tiếp đến mức độ sử dụng DVTN của DN (Gewald và cộng sự, 2006; Gewald, 2010)

Bảng 2.8: Thái độ đối với hoạt động thuê ngoài

STT Thái độ thuê ngoài Nguồn tham khảo

1 Sự phù hợp của thuê ngoài với

mục tiêu hoạt động của DN

Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010

2 Sự hấp dẫn của thuê ngoài các quy

trình hoạt động

Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010

3 Đánh giá lợi ích từ thuê ngoài

mang lại so với rủi ro DN gặp phải

Gewald và cộng sự, 2006; Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010

4 Sự thay đổi tích cực trong hoạt

động kinh doanh của DN

Gewald và Dibbern, 2009; Gewald, 2010

5 Thái độ tích cực của DN đối với

hoạt động thuê ngoài

Gewald và cộng sự, 2006; Gewald, 2010

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan 2.1.1.6 Tác động của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

a Hiệu quả phi tài chính

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các chỉ tiêu đánh giá sự tác động của việc

sử dụng DVTN đến hiệu quả phi tài chính của DN Theo đó, các nghiên cứu tập trung

vào 4 nhóm chỉ tiêu quan trọng, bao gồm:

Trang 26

a1 Hiệu quả xử lý công việc nội bộ

Thuê ngoài có thể giúp hạn chế khâu tuyển dụng nhân sự làm việc chính thức ở

DN, giảm đầu tư vào trang thiết bị, công cụ, dụng cụ hỗ trợ thực hiện công việc Điều này có thể giúp DN tinh giảm bộ máy nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả hoạt động khi chuyển giao công việc cho bên cung cấp dịch vụ (Fan và cộng sự, 2009; Bhagat và cộng sự, 2010) Thêm vào đó, hiệu quả xử lý công việc nội bộ DN còn được một số tác giả đánh giá thông qua năng suất thực hiện công việc, khả năng cải thiện phần các công việc kém hiệu quả, khả năng tiết kiệm thời gian quý báu để nhà quản trị có thể dành nhiều thời gian hơn cho các công việc đặc biệt quan trọng khác, sự đảm bảo công việc được thực hiện theo kế hoạch cũng như tăng tốc các qui trình hoạt động, hạn chế sai sót trong công việc (Elmuti, 2003; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và

Rasheed, 2000)

a2 Hiệu quả làm việc của nhân viên

Con người là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành công của DN Nhiều nghiên cứu khẳng định, thuê ngoài có thể tác động đến năng suất làm việc cũng như ảnh

hưởng đến tinh thần (Employee morale) và mức độ hài lòng đối với công việc của nhân viên (Job satisfaction), bởi phát huy được tính chuyên môn của họ, đây là yếu

tố quan trọng giúp nhân viên có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện công việc (Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Kamyabi và Devi, 2011) Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại chỉ ra thuê ngoài có thể làm giảm hiệu quả sử dụng lao động do nổi lo mất việc Đó là nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến tinh thần của người lao động, vì vậy sử dụng DVTN có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động do việc giảm biên chế hoặc sa thải nhân viên ở DN (Kwok và Jianmei, 2006, Yang và cộng sự, 2007)

a3 Hiệu quả thu hút và giữ chân khách hàng

Khách hàng là yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của mọi DN Phần lớn các nghiên cứu cho rằng, nhờ vào sử dụng các dịch vụ được cung cấp chuyên nghiệp bên ngoài có thể giúp các nhà quản trị tập trung thời gian và công sức vào các hoạt động trọng tâm, đặc biệt là các hoạt động vì mục tiêu phục vụ khách hàng Qua đó,

có thể cải thiện thị phần của DN, bởi DN có được sự hài lòng của khách hàng hơn về giá cả, về chất lượng sản phẩm/dịch vụ so với đối thủ cạnh tranh chính, cũng như đáp ứng được sự mong đợi và kỳ vọng về thời gian phân phối sản phẩm (Elmuti, 2003; Bolat và Yılmaz, 2009; Kroes và Ghosh, 2010) Do đó, sử dụng nguồn lực từ cá tổ chức/cá nhân bên ngoài có thể tác động đến sự hài lòng, sự trung thành của khách hàng đối với DN, cũng như giảm sự phàn nàn của khách hàng về sản phẩm/dịch vụ cung cấp (Elmuti, 2003; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Bhagat và cộng sự, 2010; Kroes và Ghosh, 2010; Bustinza và cộng sự, 2010; Elegbede, 2013)

Trang 27

a4 Hiệu quả đổi mới và phát triển tổ chức

Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng, DN sử dụng các dịch vụ được cung ứng từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài có thể tạo được sự đổi mới và cải tiến liên tục trong nội bộ của DN Nhờ đó, có thể giúp nâng cao hiệu quả trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm/dịch vụ và cải thiện thị phần của DN so với đối thủ cạnh tranh (Gilley và Rasheed, 2000; Elmuti, 2003; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009) Hơn thế nữa, thuê ngoài các dịch vụ còn có thể tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh cũng như mang lại sự tăng trưởng bền vững cho DN trước những thay đổi biến động

và thường xuyên của môi trường kinh doanh (Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và

cộng sự, 2004)

b Hiệu quả tài chính

b1 Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (ROA – Return on assets)

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = Thu nhập ròng sau thuế

Tổng tài sản bình quân (2.1)

Chỉ tiêu ROA đo lường cho khả năng sử dụng tài sản (hoặc tài nguyên) của một

DN để tạo ra lợi nhuận ROA có sự thay đổi và khác biệt đáng kể giữa các ngành do

cường độ sử vốn khác nhau (differing capital intensity), cấu trúc tài chính (financial structures) và chính sách kế toán (accounting policies) khác nhau giữa các ngành kinh doanh (Brealey và cộng sự, 2001)

Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh sự tồn tại mối quan hệ giữa việc sử dụng DVTN và hiệu quả tài chính DN Như đã trình bày trên, thuê ngoài có thể giúp DN giảm chi phí đầu tư máy móc, trang thiết bị, cơ sở vất chất, điều này giảm đáng kể chi phí do DN không phải đầu tư nhiều tiền vào tài sản cố định, do đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng được nhiều nghiên cứu sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động (Kroes và Ghosh, 2010; Bustinza và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Isaksson và Lantz, 2015)

b2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On common Equity)

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường cho hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của DN để tạo ra lợi nhuận Đây là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng và sử dụng thường xuyên nhất để đánh giá hiệu quả tài chính của DN (Brealey và cộng sự, 2001) Chỉ tiêu ROE được xác định theo công thức:

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Thu nhập ròng sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quân (2.2)

Trang 28

Cũng theo Brealey và cộng sự (2001) tỷ lệ này ở mức độ nào là tốt có sự khác biệt giữa các nhóm ngành, các giai đoạn hoạt động của DN Vì vậy, đánh giá chỉ tiêu ROE như thế nào là hiệu quả còn tùy thuộc vào sự cảm nhận cũng như sự đánh giá của mỗi nhà quản trị Như đã thảo luận ở trên, có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến tỷ suất ROE, và thuê ngoài cũng được xem là cách thức với mong muốn đạt được

chỉ tiêu này của các DN (Bustinza và cộng sự, 2010) Mặc dù chưa chứng minh được

sự tác động này, nhưng Isaksson và Lantz (2015) cũng cho rằng chỉ tiêu ROE là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN

b3 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS – Return on Sales)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thể hiện phần trăm lợi nhuận có được trong tổng doanh thu Khi đó, tỷ số ROS của DN càng lớn càng tốt, nếu ROS dương (tức ROS>0) thì DN kinh doanh có lãi, ngược lại ROS<0 có nghĩa DN kinh doanh thua

lỗ Tương tự ROE và ROA thì ROS phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành, do đó

để đánh giá hiệu quả của tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, DN phải đánh giá thông qua sự so sánh tỷ số này với tỷ số chung (bình quân) của cả ngành (Brealey và cộng

sự, 2001) ROS được xác định theo công thức:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Thu nhập ròng sau thuế

Như vậy có thể thấy được phần lớn các nghiên cứu khẳng định có sự tác động tích cực của thuê ngoài đến hiệu quả hoạt động của DN Tuy vậy, có nhiều tranh luận khác nhau về kết quả nghiên cứu tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt

động của DN, cụ thể như sau: Thứ nhất, Isaksson và Lantz (2015) cho rằng thuê ngoài

không cải thiện hiệu quả tài chính DN (cụ thể là chỉ tiêu ROE), thậm chí ảnh hưởng

tiêu cực đến hiệu quả hoạt động (chỉ tiêu ROA); Thứ hai, thuê ngoài chỉ tác động

tích cực đến hiệu quả phi tài chính mà không tác động đến hiệu quả tài chính DN

(Gilley và cộng sự, 2004); Thứ ba, thậm chí có những nghiên cứu cho rằng, không

có mối quan hệ giữa sử dụng DVTN với hiệu quả hoạt động của DN (Leiblein và

cộng sự, 2002)

Trang 29

Bảng 2.9: Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động

Chỉ tiêu Tiêu chí đo lường Nguồn tham khảo

I Hiệu

quả tài

chính

1 Lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROS) Gilley và Rasheed, 2000; Kroes và Ghosh, 2010; Elmuti, 2003

2 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Bustinza và cộng sự, 2010

3 Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Kamyabi và Devi, 2011; Kroes và Ghosh, 2010; Bustinza và cộng sự, 2010; Gilley và Rasheed,

4 Cải thiện thị phần DN Elmuti, 2003; Bolat và Yılmaz, 2009; Bustinza và cộng sự, 2010

II.2 Hiệu quả làm việc của nhân viên

5 Mức độ hài lòng của nhân viên Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Kamyabi và Devi, 2011

6 Tinh thần làm việc của nhân viên Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Kamyabi và Devi, 2011

7 Năng suất làm việc của nhân viên Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Kamyabi và Devi, 2011

8 Nhiệm vụ thực hiện công việc Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Kamyabi và Devi, 2011

II.3 Hiệu quả xử lý công việc nội bộ của DN

9 Tiết kiệm thời gian quý báu cho nhà quản trị Elmuti, 2003; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và Rasheed, 2000

10 Tiến độ công việc Elmuti, 2003; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và Rasheed, 2000

11 Cải thiện phần các việc kém hiệu quả Elmuti, 2003; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và Rasheed, 2000

II.4 Hiệu quả đổi mới và phát triển tổ chức

12 Cải tiến và đổi mới trong nội bộ Gilley và Rasheed, 2000; Elmuti, 2003; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009;

14 Khả năng cạnh tranh cho DN Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004

15 Đảm bảo sự tăng trưởng bền vững Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan

Trang 30

2.1.2 Cơ sở lý thuyết liên quan đến thuê ngoài

Hiện nay vẫn chưa có một lý thuyết thống nhất về nguồn gốc cũng như nghiên cứu về vấn đề của thuê ngoài (Agburu và cộng sự, 2017) Theo đó, các nhà khoa học thường dựa trên nền tảng các lý thuyết liên quan để giải thích cho hoạt động thuê ngoài trong nghiên cứu của mình Dựa trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm và sự phù hợp của các lý thuyết với hoàn cảnh thuê ngoài tại các DNNVV ở ĐBSCL, luận

án sử dụng một số lý thuyết nền cụ thể như sau:

2.1.2.1 Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics theory–TCE)

Theo lý thuyết chi phí giao dịch TCE (Transaction Cost Economics theory)

được đề xuất bởi Coase (1937) cho thấy vai trò của tiết kiệm chi phí giao dịch trong quá trình hoạt động kinh doanh là rất quan trọng đối với bất kỳ các DN Bởi lẽ điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự tồn tại của các tổ chức Lý thuyết TCE nhấn mạnh, để thực hiện được mục tiêu tiết kiệm chi phí, các DN có thể tận dụng cơ hội từ sử dụng nguồn lực của các tổ chức, các đơn vị bên ngoài cung ứng

Như vậy, dựa vào lý thuyết TCE có thể giải thích cho câu hỏi: “Tại sao doanh nghiệp phải sử dụng dịch vụ thuê ngoài?” Điều này phụ thuộc vào sự so sánh giữa chi phí

từ hoạt động thuê ngoài so với bản thân DN tự thực hiện Có nghĩa khi chi phí thực

hiện nội bộ (Internal transaction cost) lớn hơn chi phí thuê bên ngoài thực hiện (External transaction cost) thì các DN có xu hướng thuê ngoài dịch vụ nhiều hơn và

ngược lại Không những vậy, lý thuyết này còn cho thấy được, các tổ chức có thể thuê ngoài ngay cả khi có đủ các nguồn lực nếu chi phí cho việc thuê ngoài thấp hơn chi phí do DN tự thực hiện (Agburu và cộng sự, 2017)

Từ lập luận trên có thể cho thấy, theo lý thuyết TCE thì quyết định thuê ngoài của DN phụ thuộc vào lợi ích tiết kiệm chi phí Trên cơ sở phát triển lý thuyết TCE của Coase (1937), thì Williamson (1975) đã nhấn mạnh lý thuyết TCE được các nghiên cứu liên quan đến thuê ngoài sử dụng rộng rãi, bởi lý thuyết cung cấp được công cụ quan trọng hỗ trợ các DN ra quyết định sử dụng DVTN Tuy nhiên, lý thuyết TCE chủ yếu tập trung vào lợi ích DN đạt được Trên thực tế, khi sử dụng nguồn lực bên ngoài, DN có thể gặp phải rủi ro về chi chí giao dịch gia tăng do chi phí phát sinh

hoặc nguy cơ chủ nghĩa cơ hội (opportunism) của bên cung cấp Bởi đơn vị cung cấp

dịch vụ cho DN có thể chạy theo lợi ích trước mắt, khi đó họ thay đổi những điều khoản trong hợp đồng thuê ngoài Bên cạnh đó, nguy cơ trốn tránh trách nhiệm, hoặc đàm phán lại các điều khoản của hợp đồng đã ký kết Đây được xem là bất cập lớn cho DN, nhất là các DNNVV khi sử dụng DVTN (Hafeez và Andersen, 2014) Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của DN Do vậy, sử dụng nguồn lực bên ngoài còn ảnh hưởng bởi thái độ của DN đối với với hoạt động này như thế nào, do đó các DN phải thật sự thận trọng khi đưa ra quyết định thuê ngoài dịch vụ (Williamson, 1975)

Trang 31

Như vậy, với những lập luận trên có thể thấy được, lý thuyết TCE có thể vận dụng để giải thích cho các quyết định liên quan đến vấn đề thuê ngoài dịch vụ của

DN, cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn lực thuê ngoài

ở các DNNVV tại ĐBSCL Theo lý thuyết TCE này, việc thuê ngoài dịch vụ ở các DNNVV tại ĐBSCL có thể phụ thuộc vào ba nhân tố: (1) nhận thức về những lợi ích của hoạt động thuê ngoài mang lại cho DN; (2) đánh giá về những rủi ro từ sử dụng dịch vụ; và (3) thái độ của các nhà quản trị đối với hoạt động thuê ngoài tại DN như thế nào

2.1.2.2 Lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource Based Views) và

lý thuyết năng lực cốt lõi (Core Competency Theory)

Theo lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource Based Views - RBV) được đề xuất bởi Barney (1991) cho rằng, các nguồn lực được phân bổ không đồng nhất giữa các DN với nhau Những DN nhỏ thường khó cạnh tranh và dễ bị tổn thương

(vulnerable) hơn so với các DN lớn Nguyên nhân là do áp lực cạnh tranh và khó

khăn về vấn đề thiếu nguồn lực nội tại (Kamyabi và Devi, 2011; Hafeez và Andersen,

2014) Nguồn lực của DN có thể gồm tài sản (assets), khả năng (capabilities), quy trình tổ chức (organizational processes), kiến thức (knowledge) được kiểm soát bởi

DN nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh Do đó, để giải quyết vấn đề thiếu nguồn lực, nhiều DN, đặc biệt là các DNNVV đã mở rộng phạm vi thuê ngoài, khai thác nguồn lực sẵn có bên ngoài nhằm hỗ trợ DN giảm áp lực cạnh tranh (Hafeez và Andersen, 2014) Hơn nữa, với áp lực cạnh tranh bắt buộc các DNNVV phải dựa vào nguồn lực thuê ngoài để cắt giảm chi phí nhằm có được lợi thế cạnh tranh bền vững (Kamyabi và Devi, 2011) Như vậy, dựa trên cơ sở lý thuyết RBV, việc thuê ngoài các hoạt động của các DNNVV có thể được giải thích bởi các nhân tố, bao gồm: (1) đặc điểm nguồn lực nội bộ của DN, và (2) lợi ích từ hoạt động thuê ngoài mang lại cho DN

Prahalad và Hamel (1997) đã dựa trên cơ sở lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV), phát triển lý thuyết năng lực cốt lõi (Core Competency Theory - CCT)

Lý thuyết CCT cho rằng trong điều kiện môi trường kinh doanh có những thay đổi nhanh chóng, DN cần xác định rõ những năng lực cốt lõi của mình để phát triển tổ chức và tăng cường lợi thế cạnh tranh Bởi thông thường mỗi tổ chức đều có những thế mạnh nhất định về nguồn lực nội bộ cần phát huy để tối đa hóa các nguồn lợi, nắm bắt cơ hội kinh doanh Để đạt được các mục tiêu này, DN cần phải thực hiện những hành động chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh tranh trên thị trường Lý thuyết CCT của Prahalad và Hamel (1997) nhấn mạnh, DN có thể khai thác khả năng về nguồn lực của mình để tạo lợi nhuận trên mức bình thường và tạo được lợi thế cạnh

tranh bền vững Các nguồn lực cơ bản của một DN có thể bao gồm: nhân lực (human resources), tri thức (knowledge resources), công nghệ thông tin (information technology), tài lực (capital resources) và tài sản (assets)

Trang 32

Mặc dù lý thuyết về năng lực cốt lõi thường được sử dụng để phân tích lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh của các công ty đa quốc gia Tuy vậy, lý thuyết CCT cũng là một trong những lý thuyết quan trọng trong các nghiên cứu liên quan đến thuê ngoài dịch vụ áp dụng (Dominguez, 2005; Bin và cộng sự, 2006; Austin-Egole và Iherioanma, 2020) Theo đó, Dominguez (2005) ủng hộ lý thuyết về năng lực cốt lõi của Prahalad và Hamel và nhấn mạnh việc thuê ngoài các lĩnh vực không phải cốt lõi

là phương pháp tốt nhất để sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong DN Không những vậy, các nghiên cứu về vấn đề thuê ngoài, đặc biệt là thuê ngoài ở DNNVV cũng sử dụng lý thuyết CCT để xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng DVTN của DN (Hsiao và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Agburu và cộng sự, 2017) Theo lý thuyết CCT, quyết định sử dụng nguồn lực bên ngoài của DN sẽ phụ thuộc vào bản chất các công việc trong tổ chức Kamyabi và Devi (2011) cho rằng các DNNVV thường thuê ngoài các chức năng không phải là năng lực cốt lõi và tập trung vào các hoạt động cốt lõi để có thể nâng cao hiệu quả cho DN Tuy nhiên, có những trường hợp các DN có đủ các nguồn lực cần thiết nhưng vẫn tiếp tục thuê ngoài, thậm chí thuê ngoài các hoạt động thuộc về năng lực cốt lõi của họ, bởi việc thuê ngoài còn phụ thuộc vào chiến lược hoạt động của DN (Agburu và cộng sự, 2017)

Giải thích rõ hơn lý thuyết CCT, Hale (2006) cho rằng DN chỉ thuê ngoài khi:

(i) các nhà quản trị và nhân viên không có thời gian thực hiện các phần việc ở DN; (ii) bản thân DN không thể thực hiện tốt những phần việc đó so với thuê bên ngoài

Do đó, để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động thuê ngoài thì các DN cần phải: (1) đánh giá năng lực nội tại của mình để lựa chọn hoạt động thuê; (2) đánh giá lựa chọn đối tác cung ứng dịch vụ; (3) đánh giá hiệu quả hoạt động thuê ngoài tại DN

Từ các lập luận trên có thể cho thấy được, lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực và lý thuyết năng lực cốt lõi có thể kết hợp để xác định và giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến cường độ hay mức độ sử dụng nguồn lực bên ngoài của các DNNVV tại ĐBSCL Theo đó, mức độ thuê ngoài của DN có thể phụ thuộc vào các nhân tố,

bao gồm: (i) đánh giá lợi ích từ hoạt động thuê ngoài mang lại cho DN; (ii) chiến lược thuê ngoài của DN; (iii) khả năng đáp ứng yêu cầu của bên cung ứng dịch vụ; (iv)

đặc điểm chức năng của DN

2.1.2.3 Lý thuyết mối quan hệ (Relationship Theory - RT) và lý thuyết vốn xã hội (Social Capital Theory – SCT)

Đề tài còn dựa vào lý thuyết mối quan hệ (Relationship Theory - RT) do đề xuất bởi Klepper (1995) Lý thuyết RT khẳng định vai trò quan trọng của yếu tố mối quan

hệ hợp tác, giao lưu kinh tế của các tổ chức với nhau Kết quả của mối quan hệ này

là hiệu quả về lợi ích mang lại cho tất cả các bên liên quan Lý thuyết này có thể sử dụng để giải thích lý do tại sao các tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ hơn trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các DN có qui mô nhỏ và vừa (Agburu và cộng sự,

Trang 33

xét động lực duy trì mối quan hệ nhằm hướng đến hiệu quả hoạt động cho mình từ mối quan hệ này Như vậy, từ phân tích có thể cho thấy được, lý thuyết RT có thể được vận dụng để giải thích cho cường độ hay mức độ thuê ngoài của các DN, bởi yếu tố mối quan hệ giữa các bên với nhau trong hoạt động thuê ngoài đóng vai trò quan trọng vào quyết định của việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài và đóng góp vào hiệu quả hoạt động cho DN

Bên cạnh đó, luận án còn dựa trên nền tảng lý thuyết về vốn xã hội (Social Capital Theory – SCT) đã được Bourdieu (1986) phát triển Lý thuyết SCT đề cập đến sự tồn tại các mối quan hệ liên kết qua lại, quan hệ quen biết giữa các cá nhân, tổ chức, nhóm các mạng lưới xã hội Đây được xem là cơ sở hình thành sự tin tưởng và công nhận lẫn nhau (Hale, 2006) Lý thuyết SCT còn khẳng định, các cá nhân, tổ chức, các nhóm muốn làm giàu hơn cho bản thân mình thì cần phải có sự liên kết nhau trong xã hội với nhau Do đó, lý thuyết SCT có thể được sử dụng để giải thích mối quan hệ hợp tác giữa DN và bên cung cấp dịch vụ (Agburu và cộng sự, 2017) Cũng theo Agburu và cộng sự (2017), trong một số trường hợp các DNNVV thuê ngoài dịch vụ để thiết lập mối quan hệ với đối tác cung ứng nhằm hy vọng mang lại lợi ích cho DN chứ không phải vì mục tiêu giảm thiểu chi phí và tìm kiếm lợi nhuận cho mình

Như vậy, từ các lập luận trên có thể thấy được, bên cạnh lý thuyết RT thì lý thuyết SCT cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh ở các DN với nhau, đặc biệt là mối quan hệ quen biết giữa các cá nhân, các tổ chức Điều này rất cần thiết cho quyết định sử dụng nguồn lực bên ngoài của DN Thật vậy, Đinh Công Thành và Lê Tấn Nghiêm (2016) cũng đã nghiên cứu và chỉ ra

sự tác động của yếu tố mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh giữa các đối tác với nhau đến mức độ thuê ngoài ở DN Thêm vào đó, để khẳng định vai trò của sự hợp tác, liên kết giữa các tổ chức nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, Agburu và cộng sự (2017) nhấn mạnh các nguồn lực (bao gồm cả nguồn lực hữu hình và vô hình) của DN thường khan hiếm, nhất là các DNNVV ở những quốc gia đang phát triển Vì vậy, để tạo ra hiệu quả cao nhất từ khả năng và nguồn lực nội bộ thì việc xây dựng mối quan hệ hợp tác với các nguồn lực thay thế từ các tổ chức bên ngoài là rất quan trọng Như vậy, dựa vào lý thuyết về mối quan hệ RT và lý thuyết vốn xã hội SCT có thể giải thích cho mức độ ảnh hưởng của nhân tố mối quan hệ giữa các bên liên quan với nhau đến quyết định sử dụng nguồn lực thuê ngoài được cung ứng từ các tổ chức/cá nhân bên ngoài của các DNNVV ở ĐBSCL, bởi yếu tố mối quan hệ này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DN

Nhìn chung, từ các phân tích trên cho thấy, các lý thuyết nền bao gồm lý thuyết chi phí giao dịch TCE, lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực RBV, lý thuyết năng lực cốt lõi CCT, lý thuyết mối quan hệ RT và lý thuyết vốn xã hội SCT có thể kết hợp để xác định và giải thích cho các nhân tố ảnh hưởng mức độ thuê ngoài ở các DN

Trang 34

tại Việt Nam nói chung và các DNNVV tại ĐBSCL nói riêng Căn cứ vào năm lý thuyết trên, cường độ sử dụng nguồn lực bên ngoài của các DNNVV ở ĐBSCL có

thể phụ thuộc vào bảy các nhân tố cơ bản: (1) sự cảm nhận lợi ích từ hoạt động thuê

ngoài mang lại cho DN (Coase, 1937; Williamson, 1975; Barney, 1991; Aron và

Singh, 2005; Hale, 2006); (2) rủi ro khi DN thuê ngoài (Williamson, 1975; Aron và Singh, 2005); (3) đặc điểm nguồn lực nội tại của DN (Barney, 1991; Prahalad và Hamel, 1997; Aron và Singh, 2005; Hale, 2006); (4) sự phù hợp của hoạt động thuê ngoài với chiến lược hoạt động của DN (Aron và Singh, 2005; Hale, 2006); (5) khả

năng đáp ứng yêu cầu của bên cung ứng dịch vụ (Aron và Singh, 2005; Hale, 2006); (6) thái độ của các nhà quản trị DN đối với hoạt động thuê ngoài (Williamson, 1975);

và (7) yếu tố mối quan hệ giữa các bên với nhau (Klepper, 1995; Bourdieu, 1986;

Agburu và cộng sự, 2017) Theo đó, mọi quyết định liên quan đến việc sử dụng DVTN có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DN (Williamson, 1975; Klepper, 1995; Aron và Singh, 2005; Hale, 2006; Klepper, 1995; Bourdieu, 1986; Kamyabi và Devi, 2011)

2.1.3 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động

Dựa trên các lý thuyết nền liên quan đến thuê ngoài và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy việc sử dụng các nguồn lực có thể giúp DN đạt được các mục tiêu trong kinh doanh Theo lý thuyết TCE, doanh nghiệp thực hiện thuê ngoài để giảm chi phí giao dịch thông qua tận dụng các nguồn lực bên ngoài Theo đó, các DN, đặc biệt là các DN quy mô nhỏ và vừa luôn nỗ lực để giảm thiểu chi phí hoạt động (Kamyabi và Devi, 2011; Agburu và cộng sự, 2017) Điều này giúp DN có thể cải thiện hiệu quả hoạt động, đặc biệt là hiệu quả tài chính cũng như tỷ suất lợi nhuận (Bin và cộng sự, 2006; Kroes và Ghosh, 2010; Gilley và Rasheed, 2000; Bustinza và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Agburu và cộng sự, 2017) Một số nghiên cứu khác đã dựa vào lý thuyết năng lực cốt lõi CCT, lý thuyết mối quan hệ RT và lý thuyết vốn xã hội SCT để giải thích thông qua việc thuê ngoài cũng như thiết lập mối quan hệ với đối tác cung ứng, DN thuê ngoài không chỉ vì tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tìm kiếm lợi nhuận, mà còn hướng đến các lợi ích khác như giúp nhà quản trị có thể tập trung mọi nguồn lực cần thiết vào các hoạt động cốt lõi, nhờ đó có thể giúp nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng, hiệu quả làm việc của nhân viên cũng như hiệu quả xử lý công việc nội bộ, giúp đổi mới và phát triển tổ chức (Elmuti, 2003; Gilley và cộng sự, 2004; Bolat và Yılmaz, 2009; Bustinza và cộng sự, 2010; Agburu và cộng sự, 2017) Như vậy, trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, các DN sử dụng nguồn lực bên ngoài nhằm đạt được hiệu quả hoạt động trong kinh doanh

Trang 35

Hiệu quả hoạt động là mục tiêu mà mọi DN đều mong muốn đạt được trong quá trình kinh doanh Đây cũng là phạm trù quan trọng được rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực quản lý quan tâm khai thác Biết được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả là rất quan trọng, bởi qua đó cho phép các nhà quản trị xác định yếu tố nào cần giải quyết

để cải thiện hiệu quả hoạt động cho DN Có thể nói, hiệu quả hoạt động của DN là một khái niệm đa chiều (Kaplan và Norton, 1992; Ondoro, 2015) Tùy theo bối cảnh hoạt động, yếu tố thời gian cũng như mục tiêu nghiên cứu mà cách tiếp cận thuật ngữ hiệu quả hoạt động cũng khác nhau Theo đó có một số quan điểm như sau:

Richard và cộng sự (2009) cho rằng hiệu quả phản ảnh cho trình độ sử dụng các yếu tố thuộc về nguồn lực sẵn có của một DN Đó là quá trình chuyển đổi các yếu tố đầu vào của DN thành yếu tố đầu ra Hiệu quả hoạt động của DN là chỉ tiêu phản ánh

là mức độ đạt được kết quả của DN trong một khoảng thời gian nhất định Hiệu quả

có thể được đo lường bằng chỉ tiêu định lượng hoặc định tính Richard và cộng sự (2009) cũng đề xuất, hiệu quả của DN đánh giá ở 3 khía cạnh: (1) hiệu quả tài chính, (2) hiệu quả thị trường, và (3) lợi nhuận của cổ đông

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, hiệu quả hoạt động là chỉ tiêu phản ánh quá trình đạt được mức độ về các chỉ tiêu kinh doanh của DN so với các đối thủ trong cùng lĩnh vực kinh doanh (Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Kroes

và Ghosh, 2010) Để xác định các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của DN, hầu hết các nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) Theo đó, BSC cung cấp các nhà quản trị một cách nhìn cân bằng mọi hoạt động của một tổ chức Kaplan và Norton (1992) đã phát triển lý thuyết BSC để thay thế cho phương pháp đánh giá hiệu quả truyền thống chỉ dựa trên chỉ tiêu tài chính

(như trước những năm 1980 chỉ dựa vào các chỉ tiêu ROA, ROS, ROE ) Sự phát

triển của lý thuyết thẻ điểm cân bằng những năm 1990 được xem như một nỗ lực giúp các DN có thể đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng cả dữ liệu tài chính và phi tài chính Mục đích của việc ứng dụng thẻ điểm cân bằng là điều chỉnh các hoạt động kinh doanh theo tầm nhìn và chiến lược của DN Thông qua đó,

có thể giúp các nhà quản trị DN giám sát, cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh theo các mục tiêu chiến lược Thẻ điểm cân bằng cũng được xem là một trong những phương pháp quản trị hiện đại được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức, doanh nghiệp trên giới, đặc biệt là các DNNVV (Nguyễn Cửu Đỉnh và Nguyễn Thị Bích Vân, 2017) Do vậy, lý thuyết thẻ điểm cân bằng có thể áp dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các DN tại Việt Nam nói chung và các DNNVV ở ĐBSCL nói riêng Theo

lý thuyết BSC, hiệu quả hoạt động trong DN nên dựa trên nhiều phương diện khác nhau Mô hình BSC thể hiện cụ thể ở hình sau:

Trang 36

Hình 2.3 Mô hình thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC)

Nguồn: Kaplan và Norton (1992)

Kaplan và Norton (1992) cho rằng, đánh giá hiệu quả hoạt động là đánh giá cả một quá trình hoạt động của DN, nếu chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính thì không phản ánh được một cách đầy đủ và toàn diện tình hình hoạt động của DN BSC là mô hình đo lường hiệu quả hoạt động không chỉ ở khía cạnh các chỉ tiêu tài chính và còn

cả chỉ tiêu không thuộc về tài chính của DN Theo BSC, hiệu quả của một tổ chức được đánh giá từ bốn khía cạnh: (1) hiệu quả tài chính; (2) hiệu quả khách hàng; (3) hiệu quả quy trình nội bộ và (4) hiệu quả đổi mới và phát triển Cụ thể:

(1) Hiệu quả về tài chính: thể hiện qua tỷ lệ hoàn vốn đầu tư và giá trị kinh tế

gia tăng Tuy nhiên, tùy vào bản chất và ngành nghề kinh doanh của DN, các chỉ tiêu

về hiệu quả tài chính khác có thể được bổ sung thêm Brealey và cộng sự (2001) nhấn mạnh thêm, có nhiều chỉ tiêu khác nhau đo lường hiệu quả về khía cạnh tài chính DN, tuy nhiên các chỉ tiêu như tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) là các chỉ tiêu sử dụng rộng rãi và quan trọng nhất để đo lường hiệu quả về lợi nhuận của DN

(2) Hiệu quả về khách hàng: đó là sự hài lòng về dịch vụ khác hàng, sự trung

thành đối với sản phẩm của DN, chính sách trả hàng, giải quyết các phàn nàn cũng như thắc mắc của khách hàng

(3) Hiệu quả xử lý quy trình nội bộ: bao gồm chi phí hoạt động, vấn đề phát

triển sản phẩm mới, thời gian đưa sản phẩm ra thị trường, doanh thu sản phẩm mới trên tổng doanh thu của DN

(4) Hiệu quả đổi mới và phát triển: thể hiện trình độ quản lý nguồn nhân lực,

kiến thức, khả năng thay đổi và cải tiến tổ chức

Marr (2005) cũng chỉ ra rằng, lý thuyết thẻ điểm cân bằng được sử dụng rất phổ biến trong đánh giá hiệu quả hoạt động của DN Thực tế không có chỉ tiêu thống nhất cho việc đo lường hiệu quả hoạt động, do đó tùy thuộc vào mục tiêu kinh doanh của

BSC

Tài chính

Khách hàng

Quy trình nội bộ

Đổi mới và phát

triển

Trang 37

xây dựng và phát triển thang đo đo lường hiệu quả hoạt động (Business Performance Measurement – BPM) Qua khảo sát 780 DN ở Hoa Kỳ, kết quả cho thấy, 60% các

DN đã có thử nghiệm với BSC, với 44% DN đã sử dụng Marr (2005) đã đề xuất các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của DN, bao gồm bảy tiêu chí như Bảng 2.10:

Bảng 2.10: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động

Nguồn: Marr (2005)

Như vậy, có thể thấy được, bên cạnh bốn tiêu chí đo lường hiệu quả hoạt động của DN theo đề xuất bởi lý thuyết BSC, gồm: (1) hiệu quả tài chính; (2) hiệu quả về khía cạnh khách hàng; (3) hiệu quả xử lý quy trình nội bộ; và (4) hiệu quả đổi mới và phát triển tổ chức Hiệu quả hoạt động của DN nên đánh giá thông qua khía cạnh thứ năm là hiệu quả làm việc của nhân viên, bởi yếu tố con người trong tổ chức đóng vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành công (Marr, 2005)

Giải thích rõ hơn lý thuyết BSC, Ondoro (2015) cũng cho rằng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của DN chứ không có một cách tiếp cận chung nào, điều này còn tùy thuộc mục tiêu của các nhà quản trị Các thông số ước lượng hiệu quả của DN có thể là kết quả của kỹ thuật định lượng hoặc định tính Theo đó, hiệu quả hoạt động không chỉ phản ánh cho trình độ sử dụng những nguồn lực sẵn có của một DN, mà còn phản ánh mức độ đạt được các mục tiêu trong DN đã đề ra trước đó Ondoro (2015) còn nhấn mạnh, mọi biện pháp kinh doanh của DN cũng nhằm đạt được sáu mục tiêu: (1) mức độ phù hợp với yêu cầu của sản phẩm đầu ra; (2) mức độ hoàn thành số lượng sản phẩm/dịch vụ với chi phí tối thiểu; (3) mức độ đáp ứng yêu cầu và mong đợi của khách hàng về sản phẩm/dịch vụ; (4) khả năng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng; (5) năng suất lao động; (6) sự

an toàn và môi trường làm việc của nhân viên

Nhìn chung, trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động cho thấy, có ba cách tiếp cận khác nhau về phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động trong DN: (1) hiệu quả hoạt động là sự so sánh giữa kết quả đầu ra và giá trị đầu vào (Richard và cộng

sự, 2009); (2) mức độ đạt được các chỉ tiêu kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh chính (Gilley và Rasheed, 2000; Gilley và cộng sự, 2004; Kroes và Ghosh, 2010); (3) đánh giá hiệu quả dựa trên sự cảm nhận về mức độ đạt được các chỉ tiêu đo lường hiệu quả

so với mục tiêu DN đã đề ra (Ondoro, 2015) Như vậy, luận án dựa vào theo lý thuyết

Trang 38

thẻ điểm cân bằng BSC, kết hợp với các nghiên cứu của Marr (2005) và Ondoro (2015) cho thấy, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của các DNNVV ở ĐBSCL

có thể được đánh giá qua năm nhóm chỉ tiêu: (1) hiệu quả tài chính; (2) hiệu quả về khía cạnh khách hàng; (3) hiệu quả xử lý các công việc nội bộ; (4) hiệu quả về khía cạnh đổi mới và phát triển tổ chức; và (5) hiệu quả làm việc của nhân viên Dựa trên

cơ sở đó, kết hợp với nhiều nghiên cứu có thể khẳng định sự tồn tại về mối quan hệ của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả của DN (Gilley và Rasheed, 2000; Elmuti, 2003; Gilley và cộng sự, 2004; Hsiao và cộng sự, 2010; Kamyabi và Devi, 2011; Isaksson và Lantz, 2015) Nhìn chung, hiệu quả hoạt động DN khi thuê ngoài dịch vụ

có thể được đánh giá qua hai khía cạnh: (1) Hiệu quả phi tài chính (Nonfinancial Performance), và (2) Hiệu quả tài chính (Financial performance) bao gồm hiệu quả

về khía cạnh khách hàng, xử lý các công việc nội bộ, đổi mới và phát triển tổ chức,

và hiệu quả làm việc của nhân viên

2.1.4 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trên thế giới hiện nay chưa có một khái niệm chung về loại hình DNNVV, tùy thuộc vào từng quốc gia mà những qui định về DNNVV cũng khác nhau Theo đó, khi định nghĩa về DNNVV, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn, số lao động, doanh thu của DN

Ở Việt Nam, ngày 20/06/1998 Chính phủ ban hành công văn số KTN về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Theo

681/1998/CP-đó, tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người Trong quá trình thực hiện, các Bộ, ngành và địa phương có thể căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên Tuy nhiên, tiêu chí này chỉ là quy ước hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV Đến ngày 23/11/2001 Chính phủ ban hành nghị định số 90/2001/NĐ-CP nhằm trợ giúp phát triển DNNVV Theo đó, nghị định số 90 quy định DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Theo nghị định này thì bất kỳ mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh yêu cầu thỏa mãn cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên thì được xem là DNNVV Sau đó, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP

về trợ giúp phát triển DNVVN Nghị định này thay thế Nghị định số

90/2001/NĐ-CP Theo đó, DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN vừa căn cứ vào mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm Nghị định số 56 ghi rõ, tiêu chí tổng

Trang 39

Bảng 2.11: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

1 Nông - lâm - thủy sản Dưới 10 Dưới 20 10 – 200 20 – 100 200 - 300

2 Công nghiệp - xây dựng Dưới 10 Dưới 20 10 – 200 20 – 100 200 - 300

3 Thương mại - dịch vụ Dưới 10 Dưới 10 10 – 50 10 – 50 50 - 100

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ

Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV thay thế cho Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV Theo đó, các tiêu chí phân loại DNNVV được xác định dựa vào số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân trong năm và tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn của năm, cụ thể như sau:

Bảng 2.12: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khu vực

Lao động

Lao động

Lao động

Trang 40

2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Để xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết, đề tài tiến hành lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ DN thuê ngoài dịch vụ và các nghiên cứu về tác động của việc sử dụng DVTN đến hiệu quả hoạt động của DN, chi tiết kết quả các nghiên cứu thực nghiệm như sau:

2.2.1 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc sử dụng DVTN

Kết quả nghiên cứu thực chứng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng DVTN là khác nhau giữa các tác giả Đầu tiên là một số mô hình của các tác giả ở

Mỹ và Châu Âu Theo đó, Ketler và Walstrom (1993) đã xây dựng mô hình tác động các nhân tố đến việc sử dụng DVTN của các DN ở Hoa Kỳ Bằng phương pháp phân

tích tình huống (Case study), nghiên cứu tiếp cận 3 công ty đại diện cho 3 lĩnh vực là

sản xuất, thương mại và dịch vụ Theo đó, có 6 yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thuê

ngoài bao gồm: (i) yếu tố về nguồn nhân lực thực hiện công việc tại DN; (ii) yếu tố lợi ích kinh tế từ thuê ngoài; (iii) khả năng kiểm soát hoạt động của bên cung ứng dịch vụ; (iv) đặc điểm dữ liệu, theo đó DN hạn chế thuê ngoài các hoạt động mang tính bảo mật; (v) đặc điểm công việc DN, khi đó DN có xu hướng hạn chế thuê ngoài các hoạt động kém quan trọng và ngược lại; và (vi) yếu tố đặc điểm bên cung ứng

dịch vụ Tuy vậy, nghiên cứu của Ketler và Walstrom (1993) cũng chỉ dừng lại ở việc đánh giá cao vai trò của yếu tố đặc điểm chức năng đến thuê ngoài và động cơ thuê ngoài chỉ dựa vào lợi ích về kinh tế cần đạt được Bởi thực tế các DN còn hướng đến các lợi ích khác như giải quyết vấn đề yếu kém trong nội bộ, thiếu nguồn lực, cải thiện và nâng cao chất lượng công việc (Jennings, 2002; Elmuti, 2003)

Thật vậy, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thuê ngoài dịch vụ của

DN ở các lĩnh vực khác nhau tại Hoa Kỳ, Elmuti (2003) đã chỉ ra, yếu tố cảm nhận lợi ích là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định sử dụng nguồn lực thuê ngoài của DN Jennings (2002) thì cho rằng, việc cảm nhận lợi ích từ thuê ngoài chỉ là một khía cạnh để DN ra quyết định Bởi khi quyết định thuê ngoài, DN cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro của mô hình Điều này có nghĩa là nếu lợi ích từ thuê ngoài nhiều hơn rủi ro gặp phải thì DN sẽ có xu hướng sử dụng nguồn lực thuê ngoài và ngược lại DN sẽ hạn chế gia tăng mức độ thuê ngoài Mặc dù nghiên cứu của Jennings (2002) khắc phục được phần nào hạn chế của các nghiên cứu trước đó, nhưng nghiên cứu này vẫn chưa thể hiện rõ và đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ, bởi thực tế quyết định thuê ngoài của DN còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa Khác so với cách tiệp cận của các nghiên cứu trước đây, bằng cách thu thập thông tin từ 210 nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học và tạp chí điện

tử ở Mỹ và Châu Âu qua 2 thập kỷ, và bằng phương pháp phân tích cụm (Cluster Analyses) Kremic và Tukel (2006) đã khẳng định rõ, DN thuê ngoài không chỉ phụ

thuộc vào việc nhận thức được lợi ích và những rủi ro khi sử dụng dịch vụ mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như chiến lược kinh doanh, chi phí thuê ngoài, đặc

điểm chức năng của tổ chức (như cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị cũng như

Ngày đăng: 05/07/2023, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w