1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam

112 875 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Quản Lý Ngành Chè Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hải Thanh
Người hướng dẫn ThS. Đặng Thị Lan
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những con số và một số đặc điểm sản xuất, kinh doanh nêu trên, có thể thấy ngành chè có một vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế ở nước ta.. Xét ở tầm vĩ mô, toàn bộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 0

CHƯƠNG I 3

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 3

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ 3

1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ 3

1.1 KHÁI NIỆM 3

1.2 VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ 4

1.3 CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ 10

2 CÔNG CỤ QUẢN LÝ 12

2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG CỤ QUẢN LÝ 12

2.2 ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ 13

2.3 PHÂN LOẠI CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ 14

2.4 YÊU CẦU ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CÔNG CỤ QUẢN LÝ 15

3 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ 16

3.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ 16

3.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ 17

3.3 NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ 17

4 QUẢN LÝ VĨ MÔ ĐỐI VỚI MỘT NGÀNH KINH TẾ 18

4.1 NỘI DUNG QUẢN LÝ VĨ MÔ NGÀNH NGÀNH KINH TẾ 18

4.2 CÁC CÔNG VIỆC CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NGÀNH19 II NGÀNH CHÈ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH 20

1 NGÀNH CHÈ 20

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH CHÈ THẾ GIỚI 20

1.2 ĐẶC ĐIỂM NGÀNH CHÈ 21

2 CÁC PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 23

2.1 HOÀN THIỆN TỔ CHỨC QUẢN LÝ VĨ MÔ ĐỐI VỚI NGÀNH CHÈ 24

2.2 PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC LIÊN KẾT VÀ ĐẠI DIỆN NGÀNH 25

CHƯƠNG II 27

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 27

I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 27

1 VÀI NÉT VỀ CÂY CHÈ VIỆT NAM 27

1.1 NGUỒN GỐC, XUẤT XỨ CÂY CHÈ VIỆT NAM 27

Trang 3

1.2 VỊ TRÍ CỦA CÂY CHÈ VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ

QUỐC DÂN 28

2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, KINH DOANH CHÈ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 31

2.1 DIỆN TÍCH 31

2.2 SẢN LƯỢNG, NĂNG SUẤT 33

2.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU 34

II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 36

1 QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ TRƯỚC ĐỔI MỚI 36

1.1 THỜI KỲ TỪ NĂM 1974 ĐẾN NĂM 1980 37

1.2 THỜI KỲ TỪ THÁNG 6-1980 ĐẾN THÁNG 6-1983 38

1.3 THỜI KỲ TỪ THÁNG 6-1983 ĐẾN THÁNG 6-1987 40

2 QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ SAU ĐỔI MỚI 45

2.1 TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 45

2.2 CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ NGÀNH 51

2.3 CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHÈ 52

2.4 BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH CHÈ 59

2.5 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ 61

III ĐÁNH GIÁ CHUNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 65

1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 65

2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ 67

CHƯƠNG III 74

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 74

I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ 74

1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG 74

2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 76

II BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ THẾ GIỚI 79 1 CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGÀNH HIỆU QUẢ 79

2 CÁC CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ 82

III NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 87

1 VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC 87

1.1 HOÀN THIỆN BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 87

1.2 HOÀN THIỆN CÔNG CỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH CHÈ 88

1.3 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC 90

2 VỀ PHÍA HIỆP HỘI CHÈ VIỆT NAM (VITAS) 92

Trang 4

3 VỀ PHÍA TỔNG CÔNG TY CHÈ VIỆT NAM (VINATEA) 94

4 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 99

KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Bảng 1.1: Tỷ trọng sản lượng của một số nước sản xuất chè 20

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam (1995- 2005) 31

Bảng 2.2: Tỷ lệ các doanh nghiệp nhà nước năm 2005 (tính theo công suất và lao động) 52

Bảng 2.3: Khối lượng chè bán cho VINATEA trên tổng sản lượng chè đen 1997-1998 53

Bảng 2.4: Quy mô, diện tích chè của hộ năm 2001 (%) 54

Bảng 2.5: Các công ty chè liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài 56

Bảng 3.1: Các chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lượng đến năm 2010 73

Bảng 3.2: Dự kiến khối lượng và kim ngạch xuất khẩu chè 74

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Quan hệ chủ thể - đối tượng - mục tiêu quản lý 12

Hình 1.2: Nội dung của tổ chức quản lý Nhà nước đối với một ngành kinh tế 18

Hình 1.3: Phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè 23

Hình 2.1: Xuất khẩu chè Việt Nam 33

Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức ngành chè trước đổi mới 35

Hình 2.3: Mô hình tổ chức quản lý của ngành chè sau đổi mới 46

Hình 2.4: Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với ngành chè 57

Hình 2.5: Mô hình quản lý ngành chè hiện nay 63

Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức ngành chè Kênya 75

Hình 3.2: Mô hình Công ty mẹ và Công ty con 92

Trang 6

Với những con số và một số đặc điểm sản xuất, kinh doanh nêu trên, có thể thấy ngành chè có một vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế

ở nước ta Đó là một ngành vừa có lợi thế, vừa có nhiều tiềm năng to lớn mang tính hiện thực cao Trong tương lai không xa, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển ngành chè thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngoài những cơ hội lớn, ngành chè cũng đang đứng trước những thách thức quan trọng để tự khẳng định vị thế của mình ở trong nước cũng như ngoài nước Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến ngành chè

cả tầm vĩ mô và vi mô, trong đó việc tạo ra một cơ chế quản lý phù hợp đang là một yêu cầu rất bức xúc Khả năng huy động vốn yếu, trình độ công nghệ của các đơn vị kinh tế trong ngành còn chưa cao, trình độ của đội ngũ lao động cũng như trình độ quản lý còn hạn chế, các doanh nghiệp chè ở Việt Nam còn làm ăn manh mún là những yếu tố trực tiếp đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện tổ chức, quản lý ngành chè trong thời gian tới Yêu cầu hiện nay là cần đánh giá thực trạng quản lý ngành chè trong những năm vừa qua, từ đó đề ra những giải pháp phù hợp giúp

quản lý ngành chè hiệu quả hơn Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện

Trang 7

quản lý ngành chè Việt Nam” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với

quản lý ngành chè nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung Tuy nhiên, để tránh dàn trải, khoá luận giới hạn nghiên cứu quản lý ở tầm vĩ mô của Nhà nước là chủ yếu, với kết cấu 3 chương:

Chương I: Một số vấn đề chung về quản lý ngành, ngành chè và các phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè

Chương II: Thực trạng quản lý ngành chè Việt Nam

Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý ngành chè Việt Nam

Trong quá trình viết khoá luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: kết hợp những kiến thức đã tích luỹ trong quá trình học tập với những quan sát đã thu thập được trong thực tế; kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo với việc đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế bằng các phương pháp

so sánh, đánh giá, phương pháp biện chứng duy vật

Trong quá trình hoàn thành khoá luận, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn - ThS Đặng Thị Lan – Khoa Quản trị kinh doanh – trường Đại học Ngoại Thương và rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và thiết thực của các cán bộ Tổng công ty chè Việt Nam, của gia đình và bè bạn Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó

Do hoàn thiện quản lý ngành chè là một vấn đề lớn, đòi hỏi được tiếp tục nghiên cứu công phu, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học và quản lý,

vì vậy bài khoá luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Tác giả rất mong được sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo và bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện và nghiên cứu sâu hơn

Hà Nội, tháng 12/2006

Sinh viên

Nguyễn Hải Thanh

Trang 8

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại

và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của nhóm Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một việc gì đó

Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hoạt động, có thể định nghĩa:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.[12]

Trong định nghĩa trên, cần chú ý một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

Trang 9

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận (hay phân hệ), đó là chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

Xét ở tầm vĩ mô, toàn bộ nền kinh tế quốc dân có đối tƣợng quản lý là

các quá trình kinh tế đang diễn ra với cơ cấu kinh tế tương ứng bao gồm hoạt

động của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế… và chủ thể quản lý

là hệ thống các cơ quan quản lý từ Trung ương đến các cơ sở gắn với cơ chế quản lý tương ứng, làm chức năng quản lý quản lý các quá trình kinh tế - xã hội ở các cấp khác nhau [35]

Ở tầm vi mô, hiện nay thuật ngữ “quản trị” thường được sử dụng cho

quản lý ở phạm vi các doanh nghiệp Trong một doanh nghiệp nhỏ độc lập,

đối tƣợng quản lý là người lao động và các tiềm năng của doanh nghiệp, còn chủ thể quản lý là chủ doanh nghiệp cùng bộ máy quản lý, có phân hệ cơ chế

nội bộ phù hợp với pháp luật và cơ chế quản lý vĩ mô Chủ thể quản lý doanh nghiệp cũng có thể chia thành 3 phân hệ nhỏ: phân hệ hoạch định (đường lối, chiến lược, kế hoạch), phân hệ cơ chế quản lý (lập pháp, thể chế, lập quy), phân hệ điều hành (bộ máy điều hành) Nếu áp dụng ở mức tập đoàn các doanh nghiệp hoặc tổng công ty, đối tượng còn bao gồm các đơn vị, các doanh nghiệp thành viên với sự độc lập tương đối nhất ở các mức khác nhau.[35]

1.2 Vai trò của quản lý

Trong thế giới ngày nay, chắc không ai phủ nhận vai trò quan trọng và

to lớn của quản lý trong việc bảo đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường của đời sống kinh tế xã hội Đối với sự phát triển của từng đơn vị hay cộng đồng

Trang 10

hay cao hơn nữa của cả một quốc gia, một ngành kinh tế, quản lý càng có vai trò quan trọng Sự nhận thức của tuyệt đại đa số trong dân cư về vai trò của quản lý cho tới nay hầu hết đều thông qua cảm nhận từ thực tế Muốn nâng cao nhận thức về vai trò của quản lý, một mặt cần nâng cao nhận thức thực tế, mặt khác cần nâng cao nhận thức về mặt lý luận Có như vậy ta mới có thể nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò của quản lý, làm cơ sở cho việc hiểu biết quản lý và thực hành quản lý, và nâng cao trình độ quản lý

Qua phân tích về những nguyên nhân thất bại trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội nhiều năm qua cho thấy nguyên nhân cơ bản vẫn là do quản lý yếu kém hoặc thiếu kinh nghiệm trong quản lý Ngân hàng Châu Mỹ đã phát biểu trong bản công bố Báo cáo về kinh doanh nhỏ: “Theo kết quả phân tích cuối cùng, hơn 90% các thất bại trong kinh doanh là do thiếu năng lực và thiếu kinh nghiệm quản lý”1

Về tầm quan trọng của quản lý thì không đâu có thể hiện rõ hơn so với trường hợp của các nước đang phát triển Qua báo cáo tổng quan về vấn đề này trong những năm gần đây của các chuyên gia về phát triển kinh tế cho thấy rằng chỉ cung cấp tiền bạc hoặc kỹ thuật công nghệ không đem lại sự phát triển Yếu tố hạn chế trong hầu hết mọi trường hợp là thiếu thốn về chất lượng và sức mạnh của các nhà quản lý

Trong khi nền văn minh của chúng ta được đặc trưng bởi những cải tiến

có tính chất cách mạng trong khoa học vật lý, sinh học, điện tử, viễn thông, tin học, tự động hóa…thì các ngành khoa học xã hội bị tụt hậu rất xa Tuy nhiên, nếu chúng ta biết cách khai thác các nguồn nhân lực và phối hợp hoạt động của con người, kém hiệu quả và lãng phí trong áp dụng những phát minh

kỹ thuật vẫn sẽ tiếp tục Chỉ cần nhìn vào sự lãng phí không thể tưởng tượng được về nhân lực và vật lực, có thể thấy rằng các ngành khoa học xã hội còn quá

1

Harold Koontz, Cyril O’Donnell…Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB KHKT HN1994, tr 20

Trang 11

xa với việc thực hiện chức năng hướng dẫn chính sách và hoạt động xã hội của mình

Sự cần thiết khách quan và vai trò của quản lý xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: [18]

1 Từ tính chất xã hội hóa của lao động và sản xuất

2 Từ tiềm năng sáng tạo to lớn của quản lý

3 Từ những yếu tố làm tăng vai trò của quản lý trong nền sản xuất và kinh tế hiện đại

4 Từ những yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế và xã hội trong quá trình đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đậi hóa đất nước ở Việt Nam (xét trong nền kinh tế Việt Nam)

Thứ nhất, tăng cường xã hội hóa lao động và sản xuất - một quá trình

mang tính quy luật của sự phát triển kinh tế và xã hội:

Sự xuất hiện của quản lý như là kết quả tất nhiên của việc chuyển các quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành các quá trình lao động phải có sự phối hợp Sản xuất và tiêu thụ mang tính tự cấp, tự túc do một cá nhân thực hiện không đòi hỏi quản lý Ở một trình độ cao hơn, khi sản xuất và kinh tế mang tính xã hội rõ nét và ngày càng sâu rộng hơn, khi

đó quản lý là điều không thể thiếu

Theo C.Mác, “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung, tức

là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với sự vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợi thành cơ

sở sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn

Trang 12

nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.2 Do đó quản lý là thuộc tính tự nhiên, tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội

Thứ hai, tiềm năng sáng tạo to lớn của quản lý:

Với các điều kiện về con người và về vật chất kỹ thuật như nhau nhưng

tổ chức quản lý lại có thể khai thác khác nhau, đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau Nói cách khác, với những điều kiện về nguồn lực như nhau, quản lý tốt

sẽ phát huy có hiệu quả những yếu tố của nguồn lực đó, đưa lại những kết quả kinh tế - xã hội mong muốn, còn quản lý tồi sẽ không khai thác được, thậm chí làm tiêu tan một cách vô ích những nguồn lực có được, dẫn đến tổn thất

Thực tế, có những nước rất khan hiếm về tài nguyên thiên nhiên, những với những chính sách kinh tế và quản lý phù hợp, đã gặt hái được thành công lớn trong phát triển kinh tế, ví dụ như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc Quản lý ngày nay đã trở thành yếu tố cơ bản hàng đầu của một nền sản xuất và kinh tế hiện đại Đối với các nước nghèo, chậm phát triển hay đang phát triển tìm kiếm sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế trên con đường đi lên của mình, viện trợ về vật chất - kỹ thuật và tài chính từ bên ngoài có thể có ý nghĩa nhất định Tuy nhiên, điều quan trọng có ý nghĩa quyết định nhất cho

sự phát triển là các nước này phải tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển

Thứ ba, những yếu tố làm tăng vai trò của quản lý trong nền sản xuất

và kinh tế hiện đại, đó là:

- Đặc điểm và quy mô sản xuất hiện đại đòi hỏi quản lý phải được nâng cao tương ứng với nền kinh tế

- Khoa học và công nghệ không thể tự nhiên hay tự động xâm nhập vào sản xuất với hiệu quả mong muốn, mà phải thông qua quản lý Muốn phát

2

Các Mác, tư bản, quyển 1 tập 2 trang 28-30, NXB Sự thật HN 1993

Trang 13

triển khoa học công nghệ, kể cả việc tiếp nhận, chuyển giao từ nước ngoài vào và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống, mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế phải xây dựng và thực thi các chính sách, cơ chế, tổ chức cùng các biện pháp quản lý phù hợp Nếu không, ý muốn phát triển

và áp dụng khoa học - công nghệ chỉ là những dự định hay ước mơ mà thôi

- Sự quá độ của phát triển kinh tế từ chỗ chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu đòi hỏi quản lý phải được nâng cao tương ứng Trong những thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế ở tất cả các nước, sự phát triển theo chiều rộng là nét đặc trưng chủ yếu Tăng trưởng kinh tế lúc này chủ yếu dựa trên sự gia tăng sử dụng thêm về mặt số lượng các yếu tố đầu vào về vật chất - kỹ thuật, như tăng vốn đầu tư, tài nguyên, nguyên nhiên vật liệu và lao động Điều này dẫn tới các đầu vào đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng cạn dần Hơn nữa, việc khai thác tài nguyên ở quy mô lớn thường dẫn đến những hầu quả về môi trường Đến lúc này, những yếu tố phát triển theo chiều sâu quyết định phát triển kinh tế Sự phát triển tiếp theo

và cao hơn nữa của nền kinh tế chủ yếu sẽ dựa trên ứng dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý, nâng cao trình độ của cán bộ, công nhân… Tất cả những yếu tố này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế

- Trình độ xã hội và các quan hệ xã hội ngày càng cao đòi hỏi quản lý phải thích hợp Trình độ xã hội và các quan hệ xã hội thể hiện ở:

+ Trình độ giáo dục và đào tạo, học vấn và trình độ văn hóa nói chung của đội ngũ cán bộ, người lao động và của các tầng lớp dân cư

+ Nhu cầu và đòi hỏi của xã hội về vật chất và tinh thần ngày càng cao,

đa dạng và phong phú hơn

Trang 14

+ Yêu cầu dân chủ hóa đời sống kinh tế và xã hội, yêu cầu được tham gia quản lý trong việc đề ra và kiểm tra thực hiện các quyết định lớn trong xây dựng và phát triển đất nước của các đơn vị, các tổ chức xã hội

+ Giao lưu trong nước và quốc tế ngày càng mở rộng

- Ngoài các yếu tố trên, cần phải kể tới nhiều yếu tố khác về kinh tế và xã hội cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với quản lý Đó là sự phát triển dân

số và nguồn lao động cả về quy mô và cơ cấu; sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế; yêu cầu bảo về và nâng cao chất lượng của môi trường sinh thái và môi trường xã hội trong phát triển v.v…

Thứ tƣ, nâng cao và phát huy vai trò của quản lý trong quá trình đổi

mới chuyển sang cơ chế thị trường và tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta

Mặc dù bị nhiều năm chiến tranh và mắc phải một số khuyết điểm trong quản lý kinh tế, từ đầu những năm 80 đến nay Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình thực hiện đổi mới Từ 1985, Việt Nam đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới những mục tiêu chiến lược tới năm 2020, nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu về kinh tế Sự nghiệp to lớn và có ý nghĩa lịch sử đó đặt ra những yêu cầu rất cao đối với quản lý Ngoài ra, với dân số đông và tốc

độ tăng khá cao, mật độ dân trên diện tích đất đai nói chung và đất canh tác nói riêng là cao, tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú nhưng so với số dân thì không nhiều… tất cả các vấn đề đó đặt ra những thách thức khá gay gắt cho việc thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu phát triển Điều đó cũng nói lên rằng để hoàn thành được sứ mênh đặt ra, vai trò của quản lý càng to lớn và nhiệm vụ của công tác quản lý càng nặng nề

Vai trò của quản lý được thể hiện bằng những tác dụng cụ thể sau:

Trang 15

- Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những

bị quản lý và người quản lý Chỉ có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý mới đạt dược kết quả mong muốn

- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung

và hướng mọi nỗ lực của các cá nhận, của tổ chức vào mục tiêu chung đó

- Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý

- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những sai lệch, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những tổn thất, sai lệch trong quá trình quản lý

- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, bảo đảm phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả

1.3 Chức năng của quản lý

Chức năng là tập hợp các hoạt động hay hành động cùng loại của một hệ thống hoặc một bộ phận trong hệ thống Với khái niệm đó, không

có chức năng chung chung, mà chỉ có chức năng gắn liền với một hệ thống hoặc một bộ phận của nó Chức năng bao gồm các hoạt động hay hành động cùng loại Mỗi chức năng có các nhiệm vụ cụ thể, hay nói cách khác chức năng là nhiệm vụ tổng quát [12]

Chức năng quản lý là loại hoạt động riêng biệt của lao động quản lý, thể hiện ở những phương hướng tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng

bị quản lý Việc xác định đúng đắn chức năng quản lý là cần thiết để quản lý

có hiệu quả và tổ chức bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ có hiệu lực, phù hợp với những chức năng quản lý

Trang 16

Theo phạm vi quản lý, người ta phân biệt chức năng quản lý vĩ mô và

chức năng quản lý vi mô Theo nội dung, tuỳ đặc điểm, tính chất kỹ thuật

của hệ thống mà phân chia quản lý thành các chức năng như: quản lý sản xuất, quản lý marketing, quản lý nhân lực; quản lý tài chính; quản lý công nghệ; hành chính; thông tin v.v

Tuy nhiên đối với mọi nhà quản lý không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội mọi quá trình quản lý đều được tiến hành theo theo giai đoạn tác động thể hiện các chức năng cơ

bản: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra Vì vậy những chức năng này

còn được gọi là những chức năng chung của quản lý với nội dung cơ bản là:

- Chức năng lập kế hoạch hay quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành động thích hợp để đạt mục tiêu: là việc xác định mục tiêu

và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được những mục tiêu đó

- Chức năng tổ chức hay quá trình xây dựng và bảo đảm những hình thái cơ cấu nhất định để đạt mục tiêu: là quá trình tạo ra một cơ cấu các mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức, thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch và hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp tốt hơn các nguồn nguyên liệu và nhân lực Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của hoạt động quản lý

- Chức năng lãnh đạo hay quá trình chỉ đạo và thúc đẩy các thành viên làm việc một cách tốt nhất vì lợi ích của tổ chức: sau khi lập kế hoạch, tạo

ra một tổ chức, các nhà quản lý phải tiến hành lãnh đạo, chỉ huy Chỉ huy bao hàm việc đưa ra các mệnh lệnh, truyền đạt thông tin đến mọi người và động viên, thúc đẩy họ hoàn thành những nhiệm vụ cần thiết để đạt được

Trang 17

mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo có mối liên hệ chặt chẽ với tất cả các chức năng của quản lý khác

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là quá trình so sáng giữa mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch với kết quả mà thực tế đã đạt được trong từng khoảng thời gian, bảo đảm cho hoạt động thực tế phù hợp với kế hoạch đã đề ra Người lãnh đạo các tổ chức cần quan tâm đến vai trò quan trọng của kiểm tra để thực hiện được các mục tiêu đề ra

Trên đây là các chức năng cơ bản của quản lý nói chung Bốn chức năng cũng chính là bốn quá trình quản lý chủ yếu (từ lập kế hoạch, tổ chức đến lãnh đạo và kiểm tra), đồng thời, chúng cũng có những mối quan hệ tương tác

và hỗ trợ lẫn nhau, trong đó chức năng tổ chức được coi là chức năng quan trọng nhất trong hoạt động quản lý

2 Công cụ quản lý

2.1 Khái niệm và vai trò của công cụ quản lý

Giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và mục tiêu cần đạt có mối quan hệ chặt chẽ (hình 1.1)

Hình 1.1: Quan hệ chủ thể - đối tƣợng - mục tiêu quản lý

Thùc hiÖn

Trang 18

Để đạt được mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý Công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dất, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng người trong việc đạt mục tiêu đề ra

Công cụ quản lý có các vai trò sau:

Thứ nhất, là các phương tiện để xác định các mục tiêu quản lý đúng

đắn, phù hợp

Thứ hai, để tổ chức, phối hợp, động viên định hướng hoạt động của

các đối tượng quản lý vào việc thực hiện mục tiêu

Thứ ba, sử dụng công cụ quản lý nhằm vào mục tiêu xác định thể hiện

nội dung quá trình quản lý trên thực tế

Thứ tư, là phương tiện đo lường, đánh giá kết quả, hiệu quả quá trình

quản lý trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội v.v

2.2 Đặc điểm chủ yếu của các công cụ quản lý

Các công cụ quản lý luôn có tính hệ thống

Đối tượng quản lý suy cho cùng là con người Theo C.Mác, “con người

là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, là một thực thể xã hội phức tạp, gồm nhiều quan hệ khác nhau, như: quan hệ tổ chức, hành chính, kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, tâm lý, tư tưởng Vì vậy, để tác động một cách có hiệu quả tới mỗi con người, cộng đồng người, nhà quản lý phải sử dụng một hệ thống các công cụ quản lý thích hợp.[12]

Mặt khác, mối quan hệ kinh tế – xã hội giữa con người, cộng đồng người với tư cách đối tượng quản lý là một thực thể đa dạng, phức tạp có tính

hệ thống Do đó, để quản lý cần có một hệ thống các công cụ quản lý

Công cụ quản lý thay đổi theo sự phát triển của đối tượng quản lý

Trang 19

Hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề để không ngừng vận động Nói cách khác, đối tượng quản lý luôn vận động, hoàn thiện, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về không gian lẫn thời gian Vì vậy, để quản lý các ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội trong sự vận động, phát triển đó, các công

cụ quản lý cũng không ngừng thay đổi, phát triển tương ứng.[12]

Các công cụ quản lý luôn đƣợc hoàn thiện

Một mặt, sự phát triển của đối tượng quản lý, của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ đòi hỏi phải có các công cụ quản lý tương ứng, hiện đại Mặt khác, sự phát triển của chính khoa học công nghệ lại mở ra khả năng to lớn, hiệu quả, thiết thực trong việc hoàn thiện và hiện đại hoá

hệ thống các công cụ quản lý.[12]

2.3 Phân loại các công cụ quản lý

Phân loại các công cụ quản lý nhằm nắm rõ tính chất, đặc điểm tác động và xu hướng phát triển của chúng Trên cơ sở đó, chủ thể quản lý lựa chọn công cụ quản lý thích hợp, sử dụng với hiệu quả cao

Tùy theo mục đích và tiêu thức khác nhau, người ta chia các công cụ quản lý thành các loại sau:[12]

- Theo lĩnh vực quản lý, người ta chia thành: công cụ quản lý lĩnh vực

kinh tế; công cụ quản lý các lĩnh vực xã hội Trong mỗi ngành, lĩnh vực lại có thể được chia thành phân ngành tương ứng, như: trong kinh tế có công cụ tiền

tế, tài chính, tín dụng, thương mại, đầu tư Trong lĩnh vực xã hội có các công

cụ quản lý xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế

- Theo tính chất tác động của công cụ quản lý, gồm:

+ Công cụ có tính pháp lý: pháp luật, pháp lệnh và các văn bản của các

cơ quan chức năng và thẩm quyền nhà nước ban hành

Trang 20

+ Công cụ kinh tế, kỹ thuật: được sử dụng vào việc phân tích các hoạt động kinh tế – xã hội, đánh giá kết quả và hiệu quả quản lý, như hạch toán kinh tế, công cụ toán, thống kê, xác suất

- Theo phạm vi và tình bao quát hoạt động kinh tế – xã hội::

+ Công cụ quản lý vĩ mô: được sử dụng dưới góc độ quản lý nhà nước

về lĩnh vực, về ngành kinh tế – xã hội khác nhau Chẳng hạn, Nhà nước sử dụng các công cụ, các chính sách quản lý vĩ mô để thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về kinh tế, về xã hội, về y tế, giáo dục

+ Công cụ quản lý vi mô: là các công cụ được sử dụng để quản lý trong nội bộ tổ chức cơ sở, như quản lý các tổ chức kinh tế, các hãng, các doanh nghiệp, các tổ chức hiệp hội, đoàn thể xã hội

- Theo thời hạn, người ta chia thành:

+ Công cụ quản lý dài hạn: chiến lược, chính sách mang tính chiến lược; các công cụ quản lý có tác động trong thời hạn dài đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội Đó là các chính sách dân số, chính sách đầu tư và phát triển; chính sách phát triển nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo

+ Công cụ quản lý ngắn hạn: gồm tất cả các công cụ có tác động nhanh, trong thời gian ngắn Trong kinh tế, chẳng hạn chính sách lãi suất, tiền tệ, giá cả

- Theo nội dung và quá trình quản lý, có các công cụ quản lý như kế

hoạch, công cụ quản lý đặc thù ngành, lĩnh vực

Công cụ kế hoạch và kế toán được sử dụng chung trong mọi hoạt động quản lý kinh tế – xã hội, ở mọi cấp từ Trung ương đến cơ sở và ở mọi khâu của quá trình quản lý

Công cụ quản lý đặc thù ngành và lĩnh vực được sử dụng phù hợp với ngành, lĩnh vực đó như tỷ giá trong quản lý thương mại quốc tế, như lãi suất trong quản lý tiền tệ, tài chính, đầu tư phát triển

2.4 Yêu cầu đối với hệ thống công cụ quản lý

Trang 21

Các công cụ quản lý phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Có căn cứ khoa học: phải được luận chứng về mặt khoa học, được kiểm nghiệm từ thực tế

- Phù hợp, sát thực tế kinh tế – xã hội đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực, tức là có tính khả thi và hiệu quả

- Bảo đảm tính ổn định tương đối của hệ thống công cụ quản lý và có xu hướng phát triển và hoàn thiện trong tương lai

- Phù hợp với khả năng, trình độ của cán bộ quản lý

3 Cơ cấu tổ chức quản lý

3.1 Khái niệm và vai trò của cơ cấu tổ chức quản lý

Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được

bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhất định nhằm đạt được mục tiêu định trước.[12]

Mỗi cơ cấu tổ chức quản lý bao giờ cũng gồm nhiều bộ phận hợp thành, có mục tiêu riêng, đồng thời đều nhằm vào mục tiêu chung, mục tiêu cuối cùng của hệ thống quản lý

Mỗi bộ phận của cơ cấu tổ chức quản lý có tính độc lập tương đối, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định

Mỗi cơ cấu tổ chức quản lý có hai mối quan hệ cơ bản Theo quan hệ ngang, cơ cấu tổ chức quản lý chia thành các khâu quản lý khác nhau Khâu quản lý là một cơ quan quản lý độc lập thực hiện một số chức năng hay một phần chức năng quản lý nhất định và chịu sự lãnh đạo của một cấp quản lý nhất định Giữa các khâu là quan hệ hợp tác trong sự phân công lao động quản lý Theo quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức quản lý được chia thành các cấp quản lý Cấp quản lý là một thể thống nhất các khâu quản lý ở cùng một bậc trong hệ thống cấp bậc quản lý: như cấp Trung ương, cấp địa phương, cấp cơ

Trang 22

sở Cấp quản lý chỉ rõ mối quan hệ phục tùng bởi quyền uy của cấp trên và bởi tính chất nhiệm vụ to lớn, bao quát của cấp cao

3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý

Sự phát triển ngày càng cao của đối tượng quản lý là nguyên nhân cơ bản làm tăng vai trò của các quan hệ tổ chức Nói cách khác, quan hệ tổ chức phụ thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế, trình độ của đối tượng quản lý, vào quan

hệ sở hữu ngày càng đa dạng trên tất cả các lĩnh vực Có thể khái quát nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý.[12]

Nhóm thứ nhất bao gồm những thay đổi của đối tượng quản lý:

- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học và công nghệ, sự phát triển của phân công lao động xã hội

- Trình độ phát triển của mối quan hệ sở hữu (sở hữu tài sản, trí tuệ ) của đối tượng quản lý

- Tính chất và đặc điểm của ngành, của lĩnh vực quản lý, trình độ trang

bị của các quá trình lao động quản lý

Nhóm thứ hai bao gồm những biến đổi trong lĩnh vực hoạt động quản

lý và hoàn thiện cơ chế quản lý, công cụ quản lý:

- Chức năng quản lý

- Quan hệ giữa tập trung thống nhất và phân cấp quản lý

- Dân chủ hoá quá trình kinh tế – xã hội

- Quan hệ giữa quản lý ngành và quản lý lãnh thổ

- Cơ sở kỹ thuật của hoạt động quản lý và trình độ của cán bộ quản lý

Nhóm thứ ba gồm thể chế chính trị, xã hội và tổ chức Nhà nước

- Chế độ chính trị của quốc gia

- Cơ cấu quyền lực của Nhà nước

- Quan hệ Trung ương, địa phương

3.3 Những yêu cầu đối với cơ cấu tổ chức quản lý

Trang 23

Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Số lượng cấp quản lý hợp lý nhằm bảo đảm tính linh hoạt của cơ cấu tổ chức và phù hợp với thực tế

Xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ quản lý, trên cơ sở đó có

sự phân công hợp lý giữa các bộ phận, loại trừ hiện tượng chồng chéo trùng lặp hoặc không có người phụ trách

Về nguyên tắc, một bộ phận của cơ cấu tổ chức có thể đảm nhiệm một hoặc một số chức năng, nhiệm vụ

Xác định rõ mối quan hệ dọc, ngang, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ về nhiệm vụ và hoạt động của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức

Bảo đảm tính thiết thực, tính kinh tế và tính hiệu quả của hoạt động quản

Tương đối ổn định, song không bảo thủ, trì trệ, linh hoạt song không thay đổi liên tục cơ cấu tổ chức quản lý

4 Quản lý vĩ mô đối với một ngành kinh tế

4.1 Nội dung quản lý vĩ mô ngành ngành kinh tế

Các nội dung chủ yếu của quản lý vĩ mô đối với một ngành kinh tế:

- Nhà nước thiết lập một hệ thống bộ máy bao gồm cơ quan các cấp từ Trung ương đến địa phương để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành

- Xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, bộ phận quản lý ngành; đồng thời xác định cả trách nhiệm, quyền hạn để các cơ quan, bộ phận

và cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó

- Xác định, điều hoà và phối hợp các mối quan hệ giữa các cơ quan, bộ phận, cá nhân tham gia quản lý ngành

Trang 24

- Xác định và lựa chọn các phương thức quản lý phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp trong ngành

4.2 Các công việc chính liên quan đến quản lý ngành

- Thiết lập hệ thống bộ máy quản lý đối với ngành kinh tế;

- Nghiên cứu xây dựng các công cụ, chính sách quản lý đối với

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH

Thiết lập bộ máy quản

lý ngành

Xác định phương thức quản lý ngành

- Xác định các phân hệ, cơ quan, bộ phận

- Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền

- Phương thức gián tiếp như: quản lý thông qua cơ chế, tạo lập môi trường kinh doanh , quản lý bằng luật pháp, quy hoạch, kế hoạch, chính sách …

Trang 25

xếp cán bộ đáp ứng được yêu cầu của công việc cả hiện tại lẫn tương lai; thường xuyên quan tâm và giải quyết vấn đề cơ cấu nhân lực

II NGÀNH CHÈ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH

1 Ngành chè

1.1 Khái quát về ngành chè thế giới

Chè được sản xuất ở gần 40 nước trên thế giới nhưng thị trường chè thế giới lại bị chi phối bởi một vài quốc gia sản xuất và xuất khẩu với khối lượng lớn Ấn Độ, quốc gia sản xuất chè lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng chè thế giới, tiếp đó là Trung Quốc (24%), Srilanca (10%) và Kênya (8,18%) Bốn nước sản xuất lớn nhất này (Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca và Kênya) có sản lượng chè đạt trên 70% tổng sản lượng chè thế giới Sáu nước sản xuất lớn nhất là trên 80% và 10 nước sản xuất lớn nhất là trên 90% Xu thế này trong những năm gần đây tương đối ổn định (Xem bảng 1.4)

Chè xanh chiếm khoảng 25% tổng sản lượng chè thế giới Trung Quốc

là nước sản xuất chè xanh lớn nhất với tổng sản lượng khoảng 500.000 tấn/năm, chiếm 65% thị phần chè xanh thế giới Các nước sản xuất chè xanh lớn khác là Nhật Bản và Việt Nam Chè OTD (orthodox) chiếm khoảng 40% sản lượng chè đen trên thế giới Các nước sản xuất chè OTD chủ yếu là Srilanca, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Inđônêxia, Trung Quốc, Việt Nam và các nước Châu Mỹ Các nước sản xuất chè CTC (theo công nghệ “nghiền- vò-cắt”) là

Ấn Độ, các quốc gia Châu Phi và Bănglađét

Châu Á với 3 “người khổng lồ” là Ấn Độ, Trung Quốc và Srialanca chiếm vị trí chủ đạo trong lĩnh vực sản xuất và chế biến chè trong vài trăm năm trở lại đây Hiện nay các nước Châu Á vẫn chiếm khoảng 80% tổng sản lượng chè thế giới Sản lượng chè Châu Phi trong những năm gần đây đang

Trang 26

lượng chè của Châu lục này sẽ tăng trong tương lai do các nước Châu Phi có tiềm năng lớn trong việc phát triển chè Tuy nhiên đặc điểm của các nước sản xuất chè Châu Phi là lượng chè tiêu thụ trong nước rất ít do vậy Châu Phi lại chiếm tới 30% tổng sản lượng chè xuất khẩu chè trên thế giới

Bảng 1.1: Tỷ trọng sản lượng của một số nước sản xuất chè

Nguồn: [32]

Đối với một số nước chè là mặt hàng xuất khẩu thuần tuý, thì một số nước khác phần lớn sản lượng lại được tiêu thụ trong nước Hầu như toàn bộ lượng chè của Achentina, Kênya, Sri Lanca được xuất khẩu, trong khi đó phần lớn sản lượng chè của Ấn Độ và Trung Quốc được tiêu thụ trong nước

Do dân số tăng mạnh, trong tương lai hai nước Ấn Độ và Bănglađét có thể trở thành những nước nhập khẩu chè Mặc dù cầu về chè ở Trung Quốc dự kiến sẽ tăng, nhưng với chính sách dân số cứng rắn và năng suất chè tăng mạnh trong những năm gần đây đã dẫn đến việc ngày càng nhiều chè Trung Quốc được xuất ra thị trường thế giới

Trang 27

Ngành chè là một ngành trải rộng từ khâu sản xuất nguyên liệu; bảo quản để giữ gìn chất lượng nguyên liệu; sơ chế, chế biến nguyên liệu ở mức

độ khác nhau và chế biến công nghiệp tạo ra các sản phẩm mới phục vụ nhu cầu của con người (nội tiêu và xuất khẩu) Nông nghiệp và công nghiệp trong ngành chè có sự gắn bó mật thiết và tác động lẫn nhau Một trong những mối quan hệ đó là nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Các nhà máy chế biến luôn được bố trí giữa vùng nguyên liệu, việc quản lý và tác phong lao động công nghiệp tác động rất lớn đến quản lý và kỷ luật lao động trong nông nghiệp Quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp chế biến không thể không phụ thuộc vào tốc độ và quy mô phát triển của nông nghiệp – cung cấp nguyên liệu, ngược lại công nghiệp có vai trò quan trọng đối với nông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp chỉ có giá trị hơn, hiệu quả hơn nếu qua công nghiệp chế biến Vì vậy, để ngành chè hoạt động hiệu quả thì vấn đề đặt

ra trước hết là phải giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa người sản xuất nguyên liệu và người chế biến- tiêu thụ sản phẩm

Sản phẩm của ngành ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người Khi mức sống của người dân tăng lên thì yêu cầu về sản phẩm sạch, vệ sinh, an toàn thực phẩm ngày càng cao Đồng thời, trên thực tế, những rào cản về kỹ thuật đối với các sản phẩm là thực phẩm ở các nước phát triển được dựng lên ngày càng nhiều Vì vậy, để đảm bảo ngành có thể tồn tại và phát triển thì điều tất yếu là phải tăng cường quản lý theo hướng giám sát vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã bao bì hấp dẫn, đa dạng hoá chủng loại

Hầu hết lao động trong ngành chè là người nông dân, mà phần lớn trong số đó là những nông dân miền núi, vùng dân tộc, vùng cao, đời sống còn nhiều khó khăn Do đó, những vấn đề về vốn, giống, kỹ thuật, kiến thức

vệ sinh an toàn thực phẩm, chuyên chở, bảo quản, sơ chế chưa được giải

Trang 28

các tổ chức tín dụng địa phương, các chính sách ưu đãi của các cấp chính quyền (thuế, đất đai, giá cả ), lực lượng khuyến nông, khuyến công của các

tổ chức liên kết, đại diện ngành

Ở Việt Nam và một số nước trồng chè khác trên thế giới vẫn xảy ra tình trạng kém gắn kết giữa các nhà sản xuất – kinh doanh trong ngành, bao gồm

hộ nông dân, xưởng chế biến nhỏ (sơ chế, chế biến thô), người thu gom, nhà máy chế biến chè, người phân phối, tiêu thụ, hợp tác xã, các loại hình doanh nghiệp khác và các cơ quan quản lý Điển hình là việc chưa hài hoà về lợi ích giữa người nông dân và các nhà máy chế biến trong hợp đồng cung cấp nguyên liệu: người nông dân lúc giá cao thì bán cho tư thương và nhà sản xuất nhỏ, phá vỡ hợp đồng với nhà máy; hay tình trạng khi giá thấp thì các cơ quan quản lý không có chính sách hỗ trợ rủi ro về giá cả, dẫn đến tình trạng không chăm sóc, thậm chí chặt bỏ vườn chè, đến khi giá cao lại trồng tràn lan, thiếu quy hoạch Đây trở thành vòng luẩn quẩn thường diễn ra trong ngành chè ở một số nước khiến cơ cấu cây trồng thiếu bền vững

2 Các phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè

Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm chè nói riêng và quản lý ngành chè nói chung, cần hoàn thiện quản lý ngành chè đồng thời

theo các hướng: (xem hình 1.3)

 Phát triển và hoàn thiện các tổ chức tư vấn, hỗ trợ ngành

 Phát triển các tổ chức đại diện, liên kết để trợ giúp Nhà nước quản

lý các đối tượng và giúp các đối tượng tiếp cận được với quản lý nhà nước

 Hoàn thiện các công cụ, chính sách đối với các doanh nghiệp trong ngành chè và các hình thức liên kết của nông hộ, nông hộ (như pháp luật, chính sách hỗ trợ )

 Hoàn thiện bản thân bộ máy quản lý ngành theo hướng tinh giản, gắn kết, hiệu quả

Trang 29

Hình 1.3: Phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè

Nguồn: [35]

Theo các hướng trên, ngành chè cần tập trung vào giải quyết 2 vấn đề:

2.1 Hoàn thiện tổ chức quản lý vĩ mô đối với ngành chè

Có 2 nội dung chính bao gồm:

+ Hoàn thiện hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với ngành

+ Hoàn thiện công cụ quản lý ngành

Để hoàn thiện hệ thống bộ máy Nhà nước đối với ngành, trước hết cần rà soát các cơ quan, bộ phận có liên quan đến quản lý ngành chè, tìm ra những nhiệm vụ chồng chéo hoặc bỏ sót, bộ phận thừa hoặc cồng kềnh để tinh giản Đồng thời cần bổ sung, hoàn thiện các quy tắc, thể chế quy định về mối quan

hệ giữa các cơ quan, bộ phận trên nguyên tắc phân chia trách nhiệm, quyền hạn

rõ ràng, hợp lý cho từng cá nhân bộ phận và tăng cường phối hợp giữa họ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Hơn nữa, cần hoàn thiện việc phân cấp phân công đảm bảo phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành địa phương về tăng cường quản

lý ngành và quản lý ngành chè theo hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản lý Cuối cùng, yếu tố rất quan trọng đảm bảo đổi mới thành công là nâng cao trình độ cán bộ công chức quản

Các DN trong ngành

Trang 30

lý Nhà nước, nhất là cán bộ chuyên môn phụ trách nông nghiệp, công nghiệp địa phương - những người sẽ bám sát dân, phát hiện và hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động trồng trọt, chế biến chè trên mỗi địa bàn

Để hoàn thiện công cụ quản lý Nhà nước đối với ngành chè, Nhà nước cần đơn giản hoá thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp chè, nhưng cũng không buông lỏng công tác thanh tra kiểm tra sau khi doanh nghiệp đã được thành lập Nhà nước có thể rà soát xem nhiệm vụ chức năng nào tổ chức phi Chính phủ hoặc tư nhân làm có hiệu quả thì trao cho họ Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp, xí nghiệp thông qua việc tạo lập môi trường, thể chế đồng bộ

và thuận lợi, ban hành các chính sách khuyến khích phát triển theo định hướng phù hợp với đối tượng và chiến lược phát triển ngành trong từng giai đoạn

Một vấn đề cần phải làm sớm để tăng cường và hoàn thiện công cụ quản

lý của Nhà nước, đó là nâng cao hiệu lực pháp lý của các chủ trương, chính sách, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các Bộ, tỉnh trong việc quản lý ngành chè bằng cách ban hành các chế tài để xử lý các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong việc không thực hiện hoặc làm trái với các chủ trương, chính sách, các quy định liên quan đến chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh trong sản xuất công – nông nghiệp, an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng

2.2 Phát triển, nâng cao vai trò của các tổ chức liên kết và đại diện ngành

Hoạt động biến chế biến chè phụ thuộc rất lớn vào khâu sản xuất nguyên liệu Vì vậy cần tăng cường liên kết theo hướng liên kết nông công nghiệp, đồng thời cần khuyến khích liên kết các khâu từ sơ chế nguyên liệu đến chế biến ở các mức độ khác nhau, với khâu thu gom nguyên liệu, thương mại, xuất khẩu đầu ra Trong ngành chế biến nông sản thực phẩm nói chung

và ngành chè nói riêng thì các hình thức liên kết là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động toàn ngành, bên cạnh đó hình thức này còn giúp các thành viên giám sát lẫn nhau trong nâng cao chất lượng sản phẩm Các tổ

Trang 31

chức liên kết giữa các chủ thể tham gia ngành có chức năng vừa bảo vệ quyền lợi chung, vừa giúp đỡ lẫn nhau và nói lên tiếng nói của người chủ, người lao động cũng như tham mưu cho nhà nước trong xây dựng quy hoạch chính sách liên quan đến ngành, giới, lợi ích của mình

Trong ngành chè Việt Nam đã hình thành các mô hình liên kết như: liên kết giữa nông hộ và nhà máy thông qua hợp đồng; liên kết hiệp hội với Doanh nghiệp… Cần nghiên cứu hoàn thiện các mô hình này để nâng cao vai trò của các tổ chức liên kết đối với quản lý và khuyến khích phát triển ngành chè

Phương pháp khuyến khích phát triển các tổ chức liên kết có thể là: Nhà nước ban hành, cụ thể hoá các văn bản pháp luật về liên kết và hội; chỉ đạo các ngành, các địa phương giúp đỡ phát triển các hình thức liên kết; tổng kết rút kinh nghiệm những mô hình tổ chức hiệu quả (nhất là điển hình liên kết tiên tiến giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến) để nhân rộng; và mạnh dạn giao cho các tổ chức này một số chức năng có liên quan đến quản

lý, hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM

1 Vài nét về cây chè Việt Nam

1.1 Nguồn gốc, xuất xứ cây chè Việt Nam

Chè là cây công nghiệp lâu năm được trồng phổ biến ở Việt Nam Trên đỉnh cao suối Giàng tỉnh Hoàng Liên Sơn hiện nay có những cây chè tuyết cổ thụ 300- 400 năm tuổi, được đồng bào H’Mông chăm sóc và thu hái

từ lâu đời, có cây 2 người ôm không xuể.[2],[3]

Trong “Vân Đài loại ngữ” (1773) của Lê Quý Đôn đã có nói đến

cây chè: ” Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiền, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên

Có một làng tên là Vân Trai, giáp Bạng Thượng, chuyên nghề làm chè giã nát bán, gọi là chè Bạng Chè sản xuất ở các làng sau này đều là thứ chè ngon: làng Đông Lao thuộc huyện Kim Hoa, làng Lương Quy huyện Đông Ngân, làng Chi Nê huyện Mỹ Lương, làng Tuy Lai và Thượng Lâm huyện Chương Dư, làng Lệ Mỹ và An Đạo huyện Phù Khang.”

Ngoài việc sử dụng chè làm thứ nước uống, theo các công trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam (Đỗ Văn Ninh- Phạm Huy Thông- Phạm Như Hồ- 1971 ”về các mộ hợp chất thời vua Lê chúa Trịnh”) chè đã được các vua quan thời vua Lê chúa Trịnh dùng làm chất hút ẩm, để giữ xác người và các vất chôn theo được lâu, không tiêu

Trang 33

Như vậy, đã từ rất lâu nhân dân ta đã có tập quán uống nước chè lá, hoa và nhị, biết thưởng thức hương thơm tự nhiên của chè, biết được các tác dụng giải khát và một số tác dụng sinh lý đối với con người Cây chè đươc trồng từ rất lâu nhưng mãi đến khi miền Bắc được giải phóng thì ngành sản xuất – kinh doanh chè mới được Đảng và Chính phủ ta quan tâm và phát triển mạnh mẽ Đến năm 1985, diện tích trồng chè đạt 50.800 ha với sản lượng 28.2 tấn chè khô Trong giai đoạn này, các loại chè truyền thống (chè tươi, nụ, lá già) giảm nhanh chóng ở thành thị, ngược lại chè búp, chè hương gói tăng nhanh

1.2 Vị trí của cây chè Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân

Trong suốt mấy chục năm qua, ở hầu hết các địa phương, đặc biệt là các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đã tìm tòi và trồng thử nghiệm rất nhiều loại cây khác nhau, song thực tế chỉ có cây chè là một trong số ít cây công nghiệp còn trụ lại được Giờ đây, cây chè đã khẳng định là cây có giá trị kinh

tế – xã hội cao tại Việt Nam nên giữ vị trí không kém phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.[2],[3],[19],[20],[22]

Về mặt nông nghiệp:

Thứ nhất, cây chè là cây trồng lâu năm thích hợp với đất đai và khí hậu của các vùng trung du và miền núi nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc Thực tế, trong nhiều thập kỷ qua, vùng trung du – miền núi phía Bắc, qua nhiều lần chuyển đổi cây trồng – từ cây trồng hàng năm như: Lúa đồi, sắn, ngô, mía, cây ăn quả, đến trồng rừng khai thác, đến trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, sắn, trẩu - đều đã chứng minh rằng: chỉ có cây chè là phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và mang lại lợi ích kinh tế – xã hội cao hơn cả Chính vì vậy, tám tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đều

đã xác định lấy cây chè và ngành sản xuất – kinh doanh chè là mũi nhọn

Trang 34

trong chính sách phát triển nông nghiệp của tỉnh mình, như: Sơn La, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An

Hiện nay, năng suất chè ở các vùng tập trung, chuyên canh phía Bắc bình quân 8 tấn chè búp tươi/ha, giá bình quân dao động từ 2.100-2.500 đ/kg (đối với giống bản địa và truyền thống), doanh thu 1 ha bình quân đạt từ 16,8 – 20 triệu đ/ha Các giống chè mới có giá cao gấp 2 – 3 lần Như vậy, so với trồng lúa đồi thì thu nhập từ chè cao hơn từ 5 – 6 lần

Mặt khác, người nông dân trồng và kinh doanh chè có lợi thế hơn trồng các cây khác: trồng 1 lần, thu hoạch trong 25 – 30 năm, thời gian thu hoạch kéo dài 9 – 10 tháng trong năm, nếu bị mất mùa (sâu bệnh nặng, hạn hán ) thì sản lượng cũng giảm không quá 20 %, người lao động có nguồn thu rải rác trong nhiều tháng, không phải tập trung lao động (có tính thời vụ cao) như trồng cà phê, tiêu, điều, mía, lúa

Thứ hai, thực tế trong 10 năm gần đây cho thấy một số cây trồng công nghiệp đang phát triển mạnh, nhất là ở phía nam như cà phê, hạt điều, cao su, dâu tằm nhưng những cây trồng này đã gặp nhiều khó khăn hơn

so với cây chè Nếu như chè sau khi sao thủ công người nông dân có thể mang ngay ra chợ bán, hoặc được thu mua tận nhà, thì cà phê, tơ tằm, cao

su cần phải chờ có lượng sản xuất đủ lớn, điều này đã gây ứ đọng vốn và không thiết thực đối với nông dân

Mặt khác, cũng trong thời gian gần đây, nếu so sánh với các mặt hàng nông sản có khối lượng lớn khác thì chè có thị trường và giá cả ổn định nhất với mức giao động về giá ở thời điểm biến động cao nhất không quá 8% đối với loại chè trung bình Trong khi đó, giá các mặt hàng khác như tơ tằm có lúc giảm gần 50%, giá cà phê – 150%, và cao su – 22% Điều này tạo sự an tâm đối với những người làm chè

Trang 35

So với các ngành kinh tế nông – công nghiệp khác, chè cũng đã khẳng định được vị trí của mình Trồng chè đúng kỹ thuật sẽ tạo ra một thảm thực vật có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, xây dựng và bảo vệ môi trường sinh thái

Về mặt kinh tế:

Chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường của gần 70 nước trên thế giới gồm có Nga, Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và gần đây bước đầu đưa vào các thị trường khó tính như Tây Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ, do đó đã đem lại một nguồn kim ngạch xuất khẩu đáng kể Trong năm 1998, kim ngạch xuất khẩu chè chỉ chiểm khoảng 0,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam Với sản lượng gần 150.000 tấn chè khô, đạt kim ngạch 100 triệu USD (năm 2005) Về trị giá thì vị trí trên khá khiêm tốn nhưng chè đã thực sự phát huy hiệu quả khi gắn sự phát triển của nó với việc phát triển kinh tế –

xã hội ở các vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc – nơi cơ sở hạ tầng rất thấp, dân trí chưa cao, các điều kiện sản xuất – kinh doanh rất khó khăn và không thể so sánh được với các địa bàn khác

Về phát triển kinh tế –xã hội ở vùng sâu, vùng xa của đồng bào dân tộc:

Chè gần gũi với từng gia đình, nó góp phần định canh, định cư, ổn định cuộc sống và xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số Đặc biệt phù hợp với chính sách của Đảng và nhà nước nhằm xoá bỏ cây thuốc phiện Chè

là cây trồng thích hợp thay thế cho diện tích cây thuốc phiện bị phá bỏ, tạo niềm tin cho đồng bào dân tộc

Hơn nữa, cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động, ổn định đời sống cho hàng chục vạn hộ gia đình, Việc quy hoạch các vùng sản xuất chè tập trung, bao gồm sản xuất nông – công nghiệp – dịch vụ, hình thành các cụm dân cư đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Trang 36

Các sản phẩm từ chè là loại đồ uống bổ dưỡng và có giá trị sinh học cao, trong trà thành phẩm có chứa trên 90 hợp chất hữu cơ, chất Poliphenol

có thể loại các tia phóng xạ (Sr0) ra khỏi cơ thể người Uống chè có tác dụng kích thích tăng độ nhớ của hệ thần kinh, tăng độ minh mẫn, giải được ngộ độc rượu và thức ăn, nước chè có chứa chất flour có tác dụng diệt khuẩn chống sâu răng Theo giới vua quan Trung Quốc khi xưa uống trà có tác dụng “cải lão hoàn đồng” Hiện nay Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản trà đã được chế biến thành các món ăn cao cấp như: Cơm trà, thạch trà, kẹo trà các loại, cá hấp trà, súp hầm trà, thịt hầm trà, rượu trà Đây chính là hướng đa dạng hoá sản phẩm chè trong tương lai bên cạnh các sản phẩm chè truyền thống, nước chiết từ trà được ứng dụng rộng rãi trong y học, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp tiêu dùng

Về mặt đời sống – văn hoá:

Chè là thứ nước uống tạo cho con người một nguồn cảm hứng văn thơ, nghệ thuật, hội hoạ, ca múa nhạc, điêu khắc Trên thế giới hình thành nền văn hoá trà lâu đời, đẹp đẽ, sinh động và phong phú, với nhiều nét độc đáo của từng dân tộc như Trà Đạo của Nhật Bản, Trung Quốc

Còn ở Việt Nam, đối với mỗi gia đình, từ nông thôn đến thành thị, chè vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong giao tiếp, cưới xin, ma chay, hội hè, lễ nghi, đình đám Chè cũng là đề tài đầy thi vị trong văn hoá nghệ thuật

2 Tình hình sản xuất, kinh doanh chè Việt Nam những năm gần đây

2.1 Diện tích

Hiện nay có 34 tỉnh trong cả nước trồng chè, nhưng canh tác tập trung chủ yếu tại một số tỉnh miền Bắc và một số tỉnh ở miền Nam Ở miền Bắc, có 5 tỉnh xếp theo thứ tự quan trọng: Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang,

Trang 37

Tuyên Quang, Yên Bái, chiếm khoảng 47% diện tích cả nước Ở miền Nam, Lâm Đồng là một cao nguyên có khoảng 15.000ha, chiếm 20% cả nước

Năm 1986, cả nước có khoảng 41.895 ha chè, đến tháng 12/2005 cả nước đã trồng 124.000 ha chè, trong đó diện tích đã cho thu hoạch gần 100.000 ha Như vậy sau 18 năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích đạt 10,61%/ năm Việt Nam hiện đang đứng thứ 5 về diện tích trồng chè trên thế giới (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam (1995- 2005)

Nguồn: Tài liệu của hội thảo Chè tại Bali - Inđônêxia (07/2005)

Việc tăng nhanh diện tích trồng chè những năm vừa qua, chủ yếu là

do việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chè được xác định là cây chủ lực, cây xoá đói giảm nghèo trong phát triển kinh tế của các tỉnh trung du miền núi, đặc biệt là vùng sâu, vùng cao Mặt khác, giá chè trên thị trường xuất khẩu các năm gần đây đã khuyến khích người trồng chè đầu tư phát triển

Năm Diện tích (ngàn ha) Năng suất (kg chè khô/ha) Tổng sản phẩm (ngàn tấn)

Trang 38

Cơ cấu giống chè đã có sự thay đổi theo hướng tiến bộ: trước năm 1999 với cơ cấu giống chè trung du 59%, chè PH1 chiếm 11,9%, Shan 27,3%; đến năm 2005 giống trung du 50,3%, Shan 31,1%, chè trồng cành 5,53%

2.2 Sản lƣợng, năng suất

Tổng sản lượng chè Việt Nam năm 1995 đạt 40.200 tấn, năm 2005 đạt 133.350 tấn, như vậy sau 10 năm tăng hơn 225% Việt Nam đứng thứ 7

về sản lượng so với các nước trồng chè (xem bảng 2.1)

Nhiều mô hình thâm canh đạt năng suất và chất lượng cao, phát triển bền vững xuất hiện ở nhiều địa phương, doanh nghiệp

Thực hiện chủ trương chỉ đạo của Chính phủ: trồng mới có chọn lọc, thâm canh ngay từ đầu; xây dựng các vùng chè tập trung chất lượng cao gần với công nghệ chế biến, trong những năm qua các địa phương và doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng vùng chè có tưới, trồng cây bóng mát, cây phân xanh, bón phân hữu cơ tại Mộc Châu, Nghĩa Lộ, Trần Phú, Long Phú, Nghệ

An, Hà Tĩnh Các mô hình sản xuất chè sạch đã thực hiện ở Mộc Châu, Phú Bền, Hà Giang, Mỹ Lâm, Hà Tĩnh, Nghệ An

Các mô hình trồng chè theo phương thức nông lâm kết hợp tận dụng đất và bảo vệ môi trường sinh thái có hiệu quả tại tỉnh Phú Thọ và công ty chè Đoan Hùng Mô hình thâm canh vườn chè năng suất cao đạt 80-100 tạ/ha đang diễn ra sôi nổi tại các công ty chè Trần Phú, Nghĩa Lộ, Đoan Hùng, Phú Bền, Long Phú, Bảo Lâm, Bảo Lộc Các vùng chè đặc sản giá trị cao tại Hà Giang, Suối Giàng, Tân Cương, Tam Đường, Mộc Châu; chè đắng Cao Bằng

Ở Việt Nam năng suất chè tăng dần qua các năm (xem bảng 2.1) Năng suất chè búp tươi bình quân cả nước tăng từ 2,76 tấn/ha (1986) lên 5,35 tấn/ha (2004), tốc độ tăng là 5,5%/năm Năng suất chè khô đã tăng lên

và đạt 1.155 kg/ha năm 2004

Trang 39

2.3 Tình hình xuất khẩu

Khối lƣợng, kim ngạch xuất khẩu

Việt Nam hiện nay có 260 nhà xuất khẩu chè, trong đó 15 công ty xuất khẩu chè hàng đầu là: Tổng công ty chè Việt Nam (Vinatea), Công ty Thương mại và kỹ thuật đầu tư, Công ty Thế hệ mới, Chè Lâm Đồng, Hồng Đức, Kiên

và Kiên, Minh Nguyệt, chè Phú Bền, Casa, Bắc Bộ, Xí nghiệp Cầu Tre, Công

ty Trường Định, Công ty Đại Lộc, Công Ty Đức Thuận, Công ty chế biến chè Tân Nam Bắc Các công ty này tiến hành thu mua chè từ các cơ sở của mình

và của các hộ nông dân để chế biến và phần lớn dành cho xuất khẩu [22]

Hình 2.1: Xuất khẩu chè Việt Nam

Nguồn: Tài liệu của hội thảo Chè tại Bali- Inđônêxia (07/2005)

Năm 2004, sản lượng tăng nhanh đạt 140 ngàn tấn, nội tiêu 35 ngàn tấn Xuất khẩu 99,9 ngàn tấn (trong đó chè đen chiếm 67,4%; chè xanh - 32,6%) Kim ngạch đạt 100,9 triệu USD So với 1995, tổng sản lượng và giá trị xuất khẩu hàng năm tăng đáng kể, trở thành nhà xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới (hình 2.1) Lượng chè xuất khẩu năm 2005 đạt 87.920 tấn, kim ngạch đạt 96,887 triệu USD, giảm 26,4% về lượng, và 15,2% về giá trị so với cùng kỳ năm

Trang 40

trước Nguyên nhân chính làm giảm sản lượng xuất khẩu là do thời tiết nắng hạn dẫn đến thiếu chè nguyên liệu

Khối lượng chè xuất khẩu của Việt nam hiện nay mới chỉ chiếm 3- 4% tổng lượng chè xuất khẩu của thế giới

Thị trường xuất khẩu- giá cả

Sản phẩm chè Việt Nam đến nay đã có mặt trên 69 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trước năm 1990, thị trường xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam là Liên Xô (cũ) và Đông Âu (60%) Thị phần vào thị trường này giảm đáng kể vào đầu những năm 90 Hiện nay, đứng đầu danh sách nhập khẩu chè của Việt Nam là Ấn Độ, Đài Loan, Pakistan, Irắc, Nga, Balan, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Bỉ Irắc là thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do số lượng xuất khẩu thường lớn, tuy nhiên năm 2003 lượng xuất khẩu vào thị trường này giảm mạnh từ 14,3 ngàn tấn xuống còn hơn 3 ngàn tấn do ảnh hưởng của chiến tranh Hiện nay thị trường này đang được khôi phục.[1] Tính đến đầu tháng 5/2005, các thị trường lớn của chè Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển tốt: Malaixia (3.571 tấn), Đài Loan (2.684 tấn), Nga (1.999 tấn), Irắc (19,59 tấn), Pakistan (722 tấn), Ấn Độ (1.079 tấn), tiếp đến là Trung Quốc, Ba Lan, Anh, Đức, Mỹ, Niudilân, Inđônêxia, Thổ Nhĩ Kỳ và Singapor [33]

Tại các thị trường nhập khẩu chè lớn nhất trên thế giới, chè Việt Nam cũng đang tăng dần thị phần: như Anh 171 ngàn tấn/năm, Mỹ 169 ngàn tấn/năm, Pakistan 110 ngàn tấn/năm, Nga 160 ngàn tấn/năm; đã ký hỗ trợ tiêu thụ 10% thị phần gần 16 ngàn tấn/năm với Nga, Trung Quốc cũng bắt đầu tiêu thụ nhiều chè Việt Nam

Những năm gần đây, giá xuất khẩu chè trung bình hàng năm của Việt Nam dao động trên dưới 1USD/ kg Năm 2004, giá bình quân chè xuất khẩu

Ngày đăng: 28/05/2014, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Đỗ Ngọc Quỹ- Nguyễn Kim Phong. Cây chè Việt Nam. NXB Nông nghiệp Hà Nội – 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội – 1997
[3]. Đỗ Ngọc Quỹ. Cây chè * Sản xuất * Chế biến * Tiêu thụ. NXB Nghệ An - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây chè * Sản xuất * Chế biến * Tiêu thụ
Nhà XB: NXB Nghệ An - 2003
[4]. Điểm mới trong điều lệ mới (Điều lệ của Hiệp hội chè Việt Nam). Thế giới chè. Số tháng 8 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm mới trong điều lệ mới (Điều lệ của Hiệp hội chè Việt Nam)
Nhà XB: Thế giới chè
Năm: 2006
[5]. Báo cáo Tình hình thực hiện nghị quyết trung ƣơng 4 (Khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN ở Tổng công ty chè Việt Nam. TCT chè Việt Nam – Bộ NN&PTNT. Tháng 12/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tình hình thực hiện nghị quyết trung ƣơng 4 (Khoá IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN ở Tổng công ty chè Việt Nam
[6]. Cải thiện môi trường kinh doanh, cần thay đổi tư duy quản lý. Thế giới chè. Số tháng 8 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện môi trường kinh doanh, cần thay đổi tư duy quản lý
[7]. Cần có bước đi xác thực cho ngành chè thời hội nhập. Tạp chí Thế giới chè. Số tháng 8 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có bước đi xác thực cho ngành chè thời hội nhập
[8]. Chương trình tổng thể cho ngành chè Ấn Độ. Thế giới chè. Số 4/ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tổng thể cho ngành chè Ấn Độ
[9]. Chính sách và các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI. Kỷ yếu hội thảo khoa học.Trường đại học kinh tế quốc dân – Tháng 8 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI
[10]. Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Ban tư tưởng – văn hoá trung ương. Bộ NN&PTNT. NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội – 2002
[11]. Doanh nghiệp với việc tiếp cận vốn. Thế giới chè. Số tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp với việc tiếp cận vốn
Nhà XB: Thế giới chè
Năm: 2006
[12]. Giáo trình Khoa học quản lý. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Khoa Quản lý kinh tế. NXB Chính trị quốc gia 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia 2003
[13]. GS. TSKH Lương Xuân Quỳ (chủ biên). Quản lý kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.NXB lý luận chính trị Hà Nội – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: GS. TSKH Lương Xuân Quỳ
Nhà XB: NXB lý luận chính trị Hà Nội
Năm: 2006
[14]. Lê Văn Bằng – Nguyễn Duy Oánh. Mô hình công ty mẹ, công ty con – một giải pháp lớn để tăng tính minh bạch của DNNN và góp phần quan trọng định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 334 – tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình công ty mẹ, công ty con – một giải pháp lớn để tăng tính minh bạch của DNNN và góp phần quan trọng định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta
Tác giả: Lê Văn Bằng, Nguyễn Duy Oánh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2006
[15]. Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng (đồng chủ biên). Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế. NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế Quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
[16]. Một số vấn đề về quản trị kinh doanh. Khoa quản lý kinh tế–Phân viện Hà Nội – Học viện chính trị quốc gia HCM. NXB Chính trị quốc gia – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản trị kinh doanh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – 1996
[17]. Nông nghiệp Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO. Tạp chí Người làm chè. Số tháng 7 năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO
[18]. Ngô Trần Ánh. Kinh tế và quản lý doanh nghiệp. Tủ sách KHKT ĐH Bách Khoa Hà Nội. NXB Thống kê – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và quản lý doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Thống kê – 2000
[19]. Ngành chè trên đường phát triển. Thế giới chè. Số tháng 8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành chè trên đường phát triển
[20]. Ngành chè Việt Nam năm 2003. Người làm chè. Số tháng 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành chè Việt Nam năm 2003
Nhà XB: Người làm chè
Năm: 2004
[22]. Nguyễn Hải Thanh. Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè và sản phẩm chè Việt Nam. Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học trường đại học Ngoại Thương năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chè và sản phẩm chè Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hải Thanh
Nhà XB: Đại học Ngoại Thương
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Quan hệ chủ thể - đối tƣợng - mục tiêu quản lý - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 1.1 Quan hệ chủ thể - đối tƣợng - mục tiêu quản lý (Trang 17)
Bảng 1.1: Tỷ trọng sản lượng của một số nước sản xuất chè - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 1.1 Tỷ trọng sản lượng của một số nước sản xuất chè (Trang 26)
Hình 1.3: Phương hướng hoàn thiện  quản lý ngành chè - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 1.3 Phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè (Trang 29)
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam (1995- 2005) - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè Việt Nam (1995- 2005) (Trang 37)
Hình 2.1: Xuất khẩu chè Việt Nam - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 2.1 Xuất khẩu chè Việt Nam (Trang 39)
Hình 2.2 : Cơ cấu tổ chức ngành chè trước đổi mới - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức ngành chè trước đổi mới (Trang 41)
Hình 2.3: Mô hình tổ chức quản lý của ngành chè sau đổi mới - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 2.3 Mô hình tổ chức quản lý của ngành chè sau đổi mới (Trang 53)
Bảng 2.3: Khối lƣợng chè bán cho VINATEA trên tổng sản lƣợng chè - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 2.3 Khối lƣợng chè bán cho VINATEA trên tổng sản lƣợng chè (Trang 60)
Bảng 2.4 : Quy mô, diện tích chè của hộ năm 2003 (%) - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 2.4 Quy mô, diện tích chè của hộ năm 2003 (%) (Trang 62)
Bảng 2.5: Các công ty chè liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 2.5 Các công ty chè liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài (Trang 64)
Hình 2.4: Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với ngành chè - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 2.4 Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với ngành chè (Trang 65)
Hình 2.5 : Mô hình quản lý ngành chè hiện nay [35],[23] - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 2.5 Mô hình quản lý ngành chè hiện nay [35],[23] (Trang 71)
Bảng 3.1: Chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lƣợng đến năm 2010 - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Bảng 3.1 Chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lƣợng đến năm 2010 (Trang 82)
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức ngành chè Kênya - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức ngành chè Kênya (Trang 84)
Hình 3.2: Mô hình Công ty mẹ và Công ty con  [40] - khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện quản lý ngành chè việt nam
Hình 3.2 Mô hình Công ty mẹ và Công ty con [40] (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w