1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp hiệu quả của phương pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước tại việt nam

89 592 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu Quả Của Phương Pháp Cổ Phần Hóa Trong Cải Tổ Doanh Nghiệp Nhà Nước Tại Việt Nam
Tác giả Trần Thị Hải Yến
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hải Yến
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghị định 109/2007/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần cũng quy định rõ về mục tiêu của quá trình cổ phầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

NƯỚC TẠI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Trần Thị Hải Yến

Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

(Central Institution for Economic Management)

(State Capital Investment Corporation)

(World Trade Organization)

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I 8

CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HểA TẠI VIỆT NAM 8

I.DOANHNGHIỆPNHÀNƯỚC 8

1 Định nghĩa 8

1.1 Quan niệm về doanh nghiệp nhà n-ớc trên thế giới 8

1.2 Quan niệm về doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam 10

2 Bản chất của doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam 13

2.1 Sự tồn tại của doanh nghiệp nhà n-ớc là tất yếu và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân 13

2.2 Tính khó minh bạch của DNNN 13

2.3 Tính kém hiệu quả trong các DNNN 14

2.4 Tính bao trùm quá rộng của hệ thống các DNNN do lịch sử để lại 15

3 Vai trò của doanh nghiệp nhà n-ớc trong nền kinh tế quốc dân 15

4 Tính tất yếu phải cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam 17

4.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém của các doanh nghiệp nhà n-ớc: 18

4.2 Nhà n-ớc giảm dần sự bảo hộ đối với doanh nghiệp nhà n-ớc 19

4.3 Nhà n-ớc giảm dần chức năng làm kinh tế 19

4.4 Cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà n-ớc 20

II.CễNGTYCỔPHẦNVÀCỔPHẦNHểADNNN 21

1 Công ty cổ phần 21

1.1 Định nghĩa 21

1.1.1 Định nghĩa công ty cổ phần trên thế giới 21

1.1.2 Công ty cổ phần tại Việt Nam: 22

1.2 Đặc điểm 23

1.2.1 Về t- cách pháp nhân 23

1.2.2 Quyền lợi và trách nhiệm của cổ đông 23

1.2.3 Cơ cấu tổ chức 23

1.2.4 Khả năng huy động vốn 24

1.2.5 Cơ cấu vốn hoạt động 24

2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n-ớc 25

2.1 Định nghĩa 25

Trang 4

2.2 Đặc thù của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam

26

3 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam 27

4 Cổ phần hóa là một ph-ơng pháp hiệu quả trong cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc tại Việt Nam hiện nay 29

4.1 Cổ phần hóa là ph-ơng pháp hiệu quả trong cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc đã đ-ợc áp dụng thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới 29

4.2 Cổ phần hóa cơ bản đã giải quyết đ-ợc những vấn đề đặt ra trong cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc 30

4.3 Cổ phần hóa làm thay đổi căn bản trên ba mặt đối với doanh nghiệp nhà n-ớc 30

4.4 Ưu thế của ph-ơng pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà n-ớc so với các ph-ơng pháp khác 31

CHƯƠNG II 32

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HểA 32

I.NĂNGLỰCTÀICHÍNH 32

1 Năng lực tài chính không ngừng đ-ợc nâng cao 32

1.1 Cơ cấu sở hữu đã có những thay đổi đáng khích lệ 34

1.2 Khả năng huy động vốn và quy mô vốn sản xuất kinh doanh đ-ợc mở rộng 34

1.3 Giá trị tài sản cố định và đầu t- tài chính dài hạn tăng lên 36

1.4 Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh tăng tr-ởng nhanh 37

2 Một số vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 41

2.1 Thực trạng vấn đề 41

2.2 Nguyên nhận 43

II.PHƯƠNGTHỨCQUẢNLí 44

1 Ph-ơng thức quản lý đã có những biến chuyển tích cực 44

1.1 Chuyển biến trong quản lý của cơ quan chủ quản nhà n-ớc 44

1.2 Chuyển biến trong quản lý nội bộ doanh nghiệp 45

2 Những v-ớng mắc còn tồn tại, những vấn đề nảy sinh mới và nguyên nhân 45

2.1 Quản lý nhà n-ớc còn thể hiện sự lúng túng, thiếu rõ 45

2.2 Bộ máy quản lý nội bộ cũ kỹ, ít thay đổi so với tr-ớc cổ phần hóa 47

III.ĐẢMBẢOLỢIÍCHCỦANGƯỜILAOĐỘNG 50

1 Lợi ích của ng-ời lao động đ-ợc đảm bảo trên nhiều mặt 50

1.1 Số l-ợng lao động tăng lên: 50

1.2 Chất l-ợng đội ngũ lao động đ-ợc cải thiện: 50

1.3 Nâng cao thu nhập của ng-ời lao động 51

Trang 5

1.4 Quyền đ-ợc mua cổ phần trong doanh nghiệp, ng-ời lao động có cơ

hội trở thành chủ sở hữu thực sự của doanh nghiệp 51

2 Tình trạng lao động dôi d-, bán lúa non cổ phần và tính dân chủ trong

doanh nghiệp sau không đ-ợc coi trọng, đảm bảo 52

2.1 Tình trạng lao động dôi d- sau cổ phần hóa vẫn ch-a đ-ợc giải quyết triệt

1 Tính công khai minh bạch trong công bố thông tin theo nguyên tắc thị

tr-ờng 56

2 Hiện t-ợng mập mờ t- nhân hóa - cổ phần hóa và sự phân hóa giàu

nghèo trong chính nội bộ doanh nghiệp 58

CHƯƠNG III 60

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP CỔ

PHẦN HểA TRONG CẢI TỔ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 60

1 Định h-ớng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà n-ớc của chính phủ từ năm

2006 - 2010 60

2 H-ớng giải pháp đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả cổ phần hóa 63

1 Nâng cao năng lực tài chính, tạo tiềm lực mạnh cho doanh nghiệp phát triển

65

1.1 Nâng cao khả năng huy động vốn 65

1.1.1 Tạo sự công bằng trong vay vốn tín dụng 65

1.1.2.Tăng tính hiệu quả của thị tr-ờng chứng khoán, nâng cao khả năng

huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu 66

1.2 Tối -u hóa cơ cấu vốn 68

1.3 Nâng cao năng suất lao động 69

1.4 Hạn chế rủi ro kinh doanh và tài chính bằng cách sử dụng một cách

chuyên nghiệp và có hiệu quả các công cụ tài chính 69

1.5 Nâng cao chất l-ợng của các quyết định đầu t- 71

1.6 Hoàn thiện cơ cấu cung cấp thông tin và các dịch vụ trợ giúp doanh

Trang 6

2 Hoàn thiện cơ chế quản lý của nhà n-ớc, kết hợp áp dụng ph-ơng pháp

quản trị hiện đại trong quản lý nội bộ doanh nghiệp 72

2.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý của nhà n-ớc 72

2.1.1 Giảm bớt l-ợng cổ phần khống chế của nhà n-ớc trong doanh

nghiệp 72

2.1.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà n-ớc 73

2.2 Áp dụng ph-ơng pháp quản trị hiện đại trong nội bộ doanh nghiệp 74

2.2.1 Nâng cao nhận thức về quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là quản trị

tài chính trong doanh nghiệp 74

2.2.2 Đổi mới bộ máy quản trị 76

2.2.3 Hoàn thiện quy định về quyền lợi của cổ đông, tăng tính hiệu quả

trong hoạt động của hội đồng cổ đông 77

2.2.4 Thay đổi quan điểm sử dụng và cơ cấu lao động 78

3 Hoàn thiện chính sách đối với ng-ời lao động 79

3.1 Nhà n-ớc và doanh nghiệp cùng kết hợp đê giải quyết vấn đề lao

động dôi d- sau cổ phần 79

3.2 Tăng c-ờng đạo tạo và xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý đối với

những lao động đang làm việc trong doanh nghiệp 80

3.2.1 Đẩy mạnh chiến l-ợc đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực 80

3.2.2 Cần nâng cao nhận thức của ng-ời lao động về quyền lợi và nghĩa

vụ của mình trong công ty cổ phần 80

3.2.3 Phát huy quyền dân chủ của ng-ời lao động trong công ty cổ phần

81

3.2.4 Nâng cao vai trò của các đoàn thể, Tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn

thanh niên trong doanh nghiệp sau cổ phần 81

4 Tạo lập hệ thống thông tin đáng tin cậy, tăng c-ờng tính minh bạch

trong công bố thông tin 82

KẾT LUẬN 84

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Từ kế hoạch 5 năm lần thứ IV (1986 – 1990) Đảng và Nhà nước ta đã

đặt ra vấn đề đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi sự

nghèo nàn lạc hậu Từ đó đến nay, Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp

hành chính - kinh tế nhằm chuyển đổi nền kinh tế nước ta thành một “Nền

kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”, trong đó chủ trương quan

trọng là cải tổ lại bộ phận doanh nghiệp nhà nước, mà phương pháp được ưu

tiên áp dụng và triển khai rộng rãi hàng đầu là cổ phần hóa

Cổ phần hóa thực chất là quá trình chuyển đổi sở hữu về tư liệu sản

xuất trong doanh nghiệp nhà nước, từ hình thức sở hữu nhà nước sang hình

thức sở hữu hỗn hợp bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân Một khi

quan hệ sở hữu thay đổi, người ta hy vọng rằng sẽ có sự thay đổi về mục tiêu,

tổ chức hoạt động, và từ đó, sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực sự đạt được đến mục tiêu cải tổ lại

doanh nghiệp Trong nghị định 109/2007/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ra

ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty

cổ phần cũng quy định rõ về mục tiêu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp

100% vốn nhà nước tại Việt Nam như sau: “nâng cao năng lực tài chính, đổi

mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức

cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh

nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp; thực hiện công

khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa

khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị

trường chứng khoán.” (điều 1, nghị định 109/2007/NĐ-CP)

Trang 8

Tuy nhiên, trong thời gian qua, cổ phần có đạt được những mục tiêu đó

không, đặc biệt là mục tiêu cải tổ doanh nghiệp như: nâng cao năng lực tài

chính, đổi mới phương thức quản lý, đảm bảo lợi ích của người lao động ?

Cổ phần hóa đã đem lại những gì, và để lại những vấn đề nan giải nào cho

doanh nghiệp? Giải pháp nào để gỡ bỏ những vướng mắc đó, góp phần làm

hoàn thiện hơn, nâng cao hơn nữa hiệu quả của phương pháp cổ phần? Đi tìm

câu trả lời cho những câu hỏi vừa nêu, em chọn đề tài “Hiệu quả của phương

pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện nay”

để nghiên cứu và viết khóa luận tốt nghiệp này

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là nhằm

của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa

tựu và vướng mắc này

cổ phần hóa của doanh nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đưa cổ phần hóa doanh nghiệp

trở lại đúng mục tiêu ban đầu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, khóa luận chủ yếu tập trung

nghiên cứu lý luận về doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, công ty cổ phần;

thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa từ năm

2001 đến nay dựa theo một số tiêu chí xem xét như: cơ cấu sở hữu, vấn đề

quản lý, lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, và một số vấn đề khác như:

tính công khai minh bạch trong công bố thông tin, vấn đề “tư nhân hóa” và

chênh lệch giàu nghèo trong nội bộ doanh nghiệp

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 9

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp như: phương pháp phân

tích, tổng hợp, thu thập thông tin, thống kê, phương pháp mô tả, diễn giải, quy

nạp Thông tin, dữ liệu trong khóa luận được thu thập từ nhiều nguồn như:

tập hợp từ mạng internet, báo chí, tạp chí và sách chuyên ngành, báo cáo của

các cơ quan Chính phủ

Kết cấu khóa luận:

Khóa luận có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa

tại Việt Nam

Chương 2: Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau

cổ phần hóa

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của phương pháp cổ

phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thị Hải Yến cùng các thầy

cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã giúp đỡ em hoàn thành Khóa

luận tốt nghiệp này

Trang 10

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

VÀ CỔ PHẦN HÓA TẠI VIỆT NAM

I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Định nghĩa

1.1 Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước trên thế giới

Trong các tài liệu về kinh tế, có nhiều quan niệm khác nhau về DNNN

Các quan niệm đó đều dựa trên các tiêu chí như sở hữu, mục đích hoạt động,

cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của doanh nghiệp, tuy vậy khái niệm

về DNNN trên thế giới cũng được hiểu không thống nhất Cùng tiêu chí xác

định doanh nghiệp như nhau nhưng có nước gọi là DNNN, song nước khác lại

cho đó là doanh nghiệp tư nhân Mỗi khái niệm nhấn mạnh một số tiêu chí

nhất định Tuy nhiên, cũng có thể tìm thấy những tiêu chí chung trong các

định nghĩa của một số học giả như Johansen, Malcolm Gillis, Hanson,

Ramanadham, Lintner, Short, Aharoni và một số tổ chức quốc tế như Liên

hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ thế giới Trong các quan niệm về

DNNN nêu trên thì quan niệm của Malcolm Gillis và Ramanadham được coi

là phù hợp hơn với bản chất của DNNN và nó mang tính phổ biến Điều đó

được giải thích bởi các lý do sau:

Theo quan niệm của Malcolm Gillis thì DNNN được xác định theo 3

tiêu chuẩn sau:

i) Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không thì

Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà doanh

nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý doanh nghiệp

Trang 11

ii) Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ bán cho

công chúng, hoặc cho các doanh nghiệp tư nhân hoặc DNNN khác

iii) Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động sản

xuất kinh doanh

Nếu một doanh nghiệp thiếu điều kiện thứ nhất thì doanh nghiệp đó là

doanh nghiệp tư nhân Thiếu hoặc điều kiện thứ 2 hoặc điều kiện thứ 3 thì

không được coi là DNNN, mà được coi là cơ quan công cộng

Theo V.V Ramanadham, DNNN là một tổ chức trong đó kết hợp những

yếu tố "công ích" và những yếu tố "doanh nghiệp"

i) Những yếu tố công ích là:

- Những quyết định về kinh doanh và hoạt động chính do các tổ chức

Nhà nước đảm nhận Tiêu chí quan trọng trong các quyết định không chỉ là

kết quả tài chính

- Lợi nhuận là của công chức không thuộc một nhóm tư nhân nào

- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước xã hội Điều đó không có nghĩa

đơn giản chỉ là các nhà quản lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước

quyết định của họ, mà doanh nghiệp nói chung phải chịu trách nhiệm trước xã

hội

ii)Những yếu tố "doanh nghiệp" là:

- Doanh nghiệp có thể tồn tại về mặt tài chính một cách dài hạn và hoạt

động theo nguyên tắc thị trường

- Giá cả phải được thiết lập trên cơ sở chi phí, yêu cầu này xuất phát từ

đòi hỏi giá của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phải bù đắp được chi phí sản

xuất kinh doanh

Khả năng tồn tại về mặt tài chính và mối quan hệ giá cả - chi phí là

những yếu tố phân biệt DNNN với các hoạt động công ích, ví dụ hoạt động an

ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế

Trang 12

Theo các định nghĩa trên, DNNN được xác định dựa trên những tiêu chí

chung như quyền sở hữu, quyền kiểm soát của nhà nước, khả năng tồn tại trên

thị trường, mục tiêu, mức độ tự chủ tài chính, quan hệ giá cả - chi phí

Tuy nhiên, ranh giới xác định doanh nghiệp nào là DNNN chưa thống

nhất Ví dụ, tiêu chí về quyền sở hữu của nhà nước trong DNNN rất khác

nhau giữa các quốc gia Đối với úc và Tây Ban Nha, DNNN là doanh nghiệp

mà nhà nước nắm quyền sở hữu trên 50% tài sản, ở Italia là 25%, Malaysia là

20%, Hàn Quốc là 10% Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về DNNN như sau:

" Những xí nghiệp do nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà

nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của xí

nghiệp"

Trong khi đó theo luật Công ty (1994) của Trung Quốc, DNNN là

doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần khống chế từ 35% trở lên Như vậy,

nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ vốn sở hữu lớn trong DNNN mà điều quan

trọng là khả năng khống chế của nhà nước đối với doanh nghiệp Điều này

cũng thống nhất với quan điểm của Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản

Trung Quốc coi vai trò chủ đạo của "kinh tế quốc hữu chủ yếu thể hiện ở sức

mạnh khống chế của nó"

Như vậy, DNNN tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và các doanh nghiệp

này được sử dụng như một công cụ để phát triển và điều tiết nền kinh tế

Quan niệm về DNNN ở các nước không giống nhau, nhưng vẫn có điểm

thống nhất chung, đó là căn cứ sở hữu và quyền chi phối đối với doanh

nghiệp để phân biệt DNNN với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

khác

1.2 Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Tại Việt Nam, quan niệm về DNNN có sự thay đổi trong từng thời kỳ

Theo Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định

Trang 13

50/HĐBT ngày 22/3/1988 và Quy chế về thành lập, giải thể DNNN ban hành

kèm Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 thì DNNN là doanh nghiệp do

Nhà nước trực tiếp thành lập, tổ chức quản lý và điều hành hoạt động nhằm

thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước Việc thành lập các

DNNN do cơ quan nhà nước đề nghị và trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết

định thành lập Quan niệm về DNNN như vậy vẫn dựa trên tiêu chí sở hữu

100% vốn nhà nước và thể hiện sự can thiệp trực tiếp và toàn diện của nhà

nước vào hoạt động của doanh nghiệp

Theo luật Doanh nghiệp Nhà nước do Quốc hội khoá IX thông qua

ngày 20/1/1995, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập

và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực

hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao, DNNN có tư cách pháp

nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt

động, kinh doanh trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý Nhìn chung,

quan niệm về DNNN trong Luật cơ bản vẫn như đã quy định trong các văn

bản pháp lý nêu trên Điểm khác biệt và tiến bộ là ở chỗ Luật này đã xác định

rõ tư cách pháp nhân và trách nhiệm pháp lý hữu hạn của DNNN

Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Hội nghị

Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba (khoá IX) thì quan niệm về DNNN có

đổi mới và được phát triển thêm một bước quan trọng Theo đó, DNNN

không chỉ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn mà còn bao gồm cả doanh nghiệp

do Nhà nước chiếm cổ phần chi phối Ngoài ra, DNNN không nhất thiết do

Nhà nước trực tiếp thành lập và quản lý toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp

mà Nhà nước chỉ quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối

với DNNN trong phần vốn góp của mình Quán triệt tư tưởng đó, luật DNNN

2003 ra ngày 26/11/2003 đã quy định “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh

tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,

Trang 14

được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách

nhiệm hữu hạn.” (điều 1 luật DNNN 2003) Trong đó, Công ty nhà nước giữ

quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc

có cổ phần, vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác, giữ

quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó Quyền chi phối đối với doanh nghiệp

là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm,

cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản lý và các quyết

định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp đó (Điều 3, khoản 7, 8 luật

DNNN năm 2003)

Trên quan điểm kế thừa và đổi mới luật DNNN 2003, luật Doanh

nghiệp chung ban hành ngày 29/11/2005 vẫn quy định “Doanh nghiệp nhà

nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.” (Điều

4, khoản 22, luật Doanh nghiệp 2005) Như vậy, đối tượng doanh nghiệp

thuộc diện doanh nghiệp nhà nước đã được mở rộng ra, trong mọi trường hợp,

dù doanh nghiệp được hình thành dưới bất kỳ hình thức nào, chỉ cần có trên

50% vốn điều lệ thuộc sở hữu nhà nước sẽ được coi là doanh nghiệp nhà nước

Đặc biệt, điểm mới trong quan điểm về DNNN của luật Doanh nghiệp 2005

chính là sự giải phóng về mặt quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp khi

loại bỏ điều kiện về “cổ phần vốn góp chi phối” và “giữ quyền chi phối” đối

với doanh nghiệp

Như vậy quan điểm về doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam ngày càng

tiếp cận gần hơn với quan điểm của thế giới, tức là chỉ dựa trên cơ sở phần

vốn điều lệ nhà nước nắm giữ Tuy nhiên, do đặc thù nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN ở nước ta, tỷ lệ này vẫn còn khá cao (50%) so với các

nước khác trên thế giới

Trang 15

2 Bản chất của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

2.1 Sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước là tất yếu và đóng vai trò quan

trọng trong nền kinh tế quốc dân

DNNN là loại hình doanh nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước về tư liệu

sản xuất, do đó khác các loại hình doanh nghiệp khác trên ba điểm sau đây:

Một là, vì vốn của doanh nghiệp hầu hết đều thuộc sở hữu của nhà

nước nên DNNN, dù là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh, hay doanh

nghiệp công ích, thì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn luôn chú trọng hiệu quả

kinh tế - xã hội Do đó, sự có mặt của DNNN là lực lượng vật chất quan trọng

đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế, chống lại mọi hành vi cơ hội, chạy theo

lợi nhuận bằng bất cứ giá nào của các loại doanh nghiệp thuộc thành phần

kinh tế tư nhân

Hai là, do DNNN là của nhà nước nên lợi nhuận sẽ do nhà nước sử

dụng Do đó, nhiều nước còn giao cho DNNN những lĩnh vực có lợi nhuận

cao với ý đồ giữ cho nhà nước những khoản lợi nhuận lớn này để giải quyết

những vấn đề xã hội nảy sinh trong nền kinh tế thị trường

Ba là, trong thực tế, còn có nhiều lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn, hiệu quả

kinh tế không cao nhưng lại cần thiết cho sự ổn định kinh tế - xã hội, các

doanh nghiệp tư nhân không muốn và không thể đầu tư, chỉ có DNNN, vì lợi

ích chung, không lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối hậu, mới đảm nhiệm

Từ những lý do trên dẫn đến kết luận: Trong những lĩnh vực quan trọng,

huyết mạch của nền kinh tế, DNNN phải có mặt và đóng vai trò then chốt như

Nghị quyết TW3 (Khóa IX) đã khẳng định Đây cũng là lý do mà ở hầu hết

các nước trên thế giới, ít hay nhiều, đều tồn tại DNNN

2.2 Tính khó minh bạch của DNNN

DNNN là loại hình dựa trên sở hữu nhà nước Vì vậy, cùng một lúc

Trang 16

đây là nhà nước, mà đại diện là cơ quan chủ quản và hội đồng quản trị) với

chủ thể sử dụng (ở đây là doanh nghiệp mà đại diện cũng rất phức tạp: hội

đồng quản trị, giám đốc, đại hội công nhân viên chức, BCH đảng bộ, công

đoàn, đoàn thanh niên ) và người lao động (cùng một lúc đóng hai vai trò:

chủ thể sở hữu lao động và là chủ tập thể xí nghiệp) trên các mặt trách nhiệm

và lợi ích kinh tế, trong đó quan trọng nhất là lợi ích kinh tế

Xử lý mối quan hệ này rất khó khăn và phức tạp Tình trạng bộ phận

quản lý doanh nghiệp (mà trực tiếp là giám đốc) bỏ qua quyền lợi của bản

thân doanh nghiệp và nhà nước vì lợi ích của cá nhân trong các DNNN

thường xuyên diễn ra Trong trường hợp giám đốc có tâm, có tài, muốn làm

cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì lại bị những ràng buộc của cơ chế

chung cản trở Kết quả là DNNN thường không có hiệu quả kinh tế cao Hạn

chế này xuất phát từ tính chất của sở hữu mà ngay các doanh nghiệp quốc

doanh của các nước tư bản cũng thường gặp phải Rõ ràng là, việc minh bạch

hóa hoạt động của DNNN chính là vấn đề lâu nay luôn làm đau đầu các nhà

hoạch định chiến lược

2.3 Tính kém hiệu quả trong các DNNN

Nhìn chung, hoạt động của DNNN thường không có hiệu quả cao (ví

dụ – theo báo tổng kết năm 2002 của Viện nghiên cứu kinh tế trung ương -

CIEM năm 2002, nước ta có 20% DNNN thu lỗ; 40% hòa vốn, hoạt động cầm

chừng; 40% có lãi nhờ chính sách ưu đãi về thuế, xóa thuế nợ đọng, trợ cấp

xuất khẩu)

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng đó:

Một là DNNN thường phải đảm nhận kinh doanh trên những khu vực ít

lãi, phải đáp ứng những nhu cầu xã hội mà các doanh nghiệp tư nhân không

chịu đảm nhận;

Trang 17

Hai là, sở hữu nhà nước thuần túy làm cho cơ chế quản lý DNNN trở

thành vấn đề phức tạp, rất khó để có thể thu lợi nhuận cao xuất phát từ khó

khăn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng

2.4 Tính bao trùm quá rộng của hệ thống các DNNN do lịch sử để lại

Hệ thống DNNN ở nước ta được xây dựng lâu dài và theo quan niệm

cũ, là một hệ thống rộng khắp từ Trung ương xuống địa phương, quản lý một

lượng lao động rất lớn, một nguồn vốn lớn và những điều kiện thuận lợi

nhưng hiệu quả được coi là thấp (theo TS Nguyễn Văn Ân, Viện trưởng

CIEM thì đến 31-12-2002 có 4722 DNNN 100% vốn của nhà nước, nếu tính

cả số DN mà Nhà nước có cổ phần khống chế thì số DNNN là 5175)

Từ các tính chất trên của DNNN có thể kết luận: trong nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN, phải có mặt DNNN với vai trò then chốt Nhưng

vai trò then chốt của DNNN phải thể hiện ở mặt chất chứ không phải mặt

lượng Do đó, việc sắp xếp lại DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở

nước ta hiện nay là vấn đề bức xúc

3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc dân

DNNN có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân,

vai trò của DNNN được thể hiện trên các mặt cụ thể sau:

Thứ nhất, DNNN đóng góp vào tăng trưởng đất nước (chiếm tỷ trọng

lớn trong tổng sản phẩm trong nước - GDP), thu hút vốn, tạo việc làm và thực

hiện các chính sách xã hội Ngoài ra, trong nền kinh tế nhiều thành phần định

hướng XHCN ở Việt Nam, các DNNN còn đảm bảo các điều kiện cơ sở hạ

tầng, dịch vụ xã hội ngày một tốt hơn; cung ứng hàng hoá, vật tư, năng lượng

chủ yếu cho nền kinh tế quốc dân như điện, sắt thép, xi măng, phân bón, xăng

dầu, giấy viết Đồng thời, là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội

thông qua các doanh nghiệp công ích DNNN là động lực thúc đẩy phân bố lại

Trang 18

nguồn lực, nhất là nguồn vốn và nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hoá

tạo tiền đề cho việc hình thành các trung tâm kinh tế, văn hoá, đô thị mới

Thứ hai, DNNN giữ vai trò quan trọng chi phối những ngành, lĩnh vực

và sản phẩm then chốt của nền kinh tế DNNN bảo đảm hầu hết yêu cầu sản

phẩm và dịch vụ công ích, các điều kiện giao thông, điện, nước, thông tin, vật

tư, hàng hóa cho xuất khẩu và thị trường trong nước

Thứ ba, DNNN là lực lượng nòng cốt trong tăng trưởng, xuất khẩu, bảo

đảm các sản phẩm quan trọng của nền kinh tế và đóng góp cho ngân sách nhà

nước; góp phần quan trọng bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô

Thứ tư, các DNNN là người cung cấp các sản phẩm chủ yếu (các hàng

công nghiệp và tiêu dùng, tư liệu sản xuất và các dịch vụ ) cho nhu cầu

trong nước và xuất khẩu

Thứ năm, các DNNN là điểm tựa và công cụ quan trọng của nhà nước

trong việc điều tiết vĩ mô, khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường

DNNN là lực lượng xung kích để nhà nước bổ sung thị trường những

hàng hoá và dịch vụ cần thiết Nhà nước sử dụng và phát huy vai trò xung

kích của DNNN khi nào là lúc cần thiết? Đó là khi, khu vực tư nhân không

làm được hoặc không muốn làm, như đã phân tích ở trên Chức năng này

được các DNNN thực hiện thông qua việc cung cấp những hàng hoá và dịch

vụ theo chủ trương, kế hoạch của nhà nước (cầu) để nhằm vào các khoảng

trống của thị trường (cung)

Trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhà nước phải sử dụng các biện

pháp vĩ mô như chính sách tài chính, chính sách thuế, chính sách tiền tệ Mặt

khác, nhà nước cũng phải dựa vào DNNN để khởi động, phục hồi kinh tế

hoặc kìm hãm lạm phát Thí dụ, khi kinh tế thị trường vật vờ, uể oải, nhà

nước sẽ áp dụng các chính sách và biện pháp vĩ mô nhằm kích thích nhu cầu

Nhưng do lãi suất ít hoặc thu hồi vốn chậm, nói chung các doanh nghiệp

Trang 19

không muốn đầu tư Do vậy, nhà nước phải dựa vào các DNNN để tăng nhu

cầu đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng nhu cầu

Thứ sáu, DNNN là những cơ sở quan trọng nhất trong việc đầu tư, ứng

dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ; thực hiện hiện đại hoá đất nước

Điều đó thể hiện trước hết bởi sự cất cánh kinh tế của mỗi quốc gia không thể

thiếu các ngành hạ tầng và không thể không xây dựng các công trình hạ tầng,

mà việc xây dựng này thường đòi hỏi những khoản đầu tư lớn, rủi ro cao, thu

hồi vốn chậm, hiệu quả xã hội rộng lớn Do vậy, những doanh nghiệp bình

thường không đủ sức làm và cũng không muốn làm Thứ nữa là, trong sự phát

triển kinh tế ngày nay khoa học – kỹ thuật đóng vai trò then chốt Các DNNN

mới có cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lực để có khả năng chuyển hoá thành

tựu khoa học – kỹ thuật thành lực lượng sản xuất hiện thực Trong điều kiện

kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, vai trò DNNN còn thể hiện

ở việc định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, giữ những vị trí then

chốt, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất,

chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật

4 Tính tất yếu phải cải tổ doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và

doanh nghiệp nhà nước nói riêng phải đối mặt với những thách thức lớn trước

sức cạnh tranh từ các doanh nghiệp bên ngoài trong sân chơi chung thế giới,

và mất dần các ưu thế bảo hộ từ phía nhà nước do Việt Nam phải tuân thủ luật

chơi chung trên thương trường quốc tế Do đó, việc cải tổ lại doanh nghiệp,

nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chính là vấn đề sống còn,

mang tính chiến lược đối với các doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế

XHCN nói chung

Trang 20

Tính tất yếu phải cải tổ doanh nghiệp nhà nước ở nước ta thể hiện rõ

ràng qua những thực tế sau đây:

4.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước:

Trong những năm 80, đối với các nước có nền kinh tế phát triển cũng

như đang phát triển, thì vai trò của doanh nghiệp nhà nước đã được khẳng

định và giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nhìn về tổng thể thì có

những doanh nghiệp nhà nước hoạt động tốt, hiệu quả kinh tế cao, nhưng có

không ít các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả Nhà nước phải

dùng chính sách kinh tế vĩ mô để bảo hộ, như: miễn giảm thuế, cấp vốn ưu đãi

đầu tư, bù lỗ Thông báo Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá IX đã nhận định: Doanh nghiệp nhà nước còn những mặt hạn chế,

yếu kém, hiệu quả kinh doanh nhìn chung còn thấp, chưa tương xứng với

nguồn lực đã có và sự trợ giúp của Nhà nước; công nợ còn nhiều, chậm đổi

mới công nghệ, lao động còn dôi dư lớn, chưa thực sự tự chủ trong kinh

doanh, trình độ quản lý còn yếu kém, cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn

nhiều bất hợp lý Nhiều doanh nghiệp nhà nước đều có năng suất lao động

thấp, chỉ đạt khoảng 38% so với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vòng quay

vốn trung bình trong giai đoạn 1985-1991 chỉ đạt 60% so với doanh nghiệp

ngoài quốc doanh

Tại Hội nghị toàn quốc về đổi mới doanh nghiệp tháng 3 năm 2004,

Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã chỉ rõ những yếu kém của khối

doanh nghiệp nhà nước, trong đó thực trạng kinh doanh kém hiệu quả tại khu

vực này doanh nghiệp đang là một thách thức lớn khi Việt Nam tham gia hội

nhập quốc tế Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt 8000 tỷ đồng trong tổng số

87.000 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nước (chiếm tỷ lệ 9,19%), trong khi đó

tổng số nợ của khối này phải thu, phải trả lên tới khoảng 300.000 tỷ đồng

Một thực tế đáng lo ngại khác là sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

Trang 21

rất yếu Trong khối ASEAN, Việt Nam thuộc nhóm nước có sức cạnh tranh

kém phát triển Thủ tướng lấy ví dụ: Chi phí vận chuyển công ten nơ từ khu

công nghiệp Bình Dương đến cảng Vũng Tàu còn cao hơn cả từ Vũng Tàu đi

Singapore

4.2 Nhà nước giảm dần sự bảo hộ đối với doanh nghiệp nhà nước

Nền kinh tế các nước phương tây đã có những dao động giữa thời kỳ

vững chãi của những thành công khu vực kinh tế nhà nước và sự phát triển

của khu vực phi nhà nước cũng như việc mở rộng thị trường Mặt khác, tỷ lệ

lạm phát và nợ của Nhà nước ngày càng tăng đã làm cho nhiều chính phủ phải

tự xem lại chính sách kinh tế của mình Trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu

vực hoá về thị trường sản phẩm và thị trường vốn, hàng loạt các ngành công

nghiệp đã trở nên càng ngày càng khó khăn hơn và không còn giải pháp nào

khác là hợp tác quốc tế để giải quyết những khó khăn đó Đồng thời, việc phát

triển các ngành công nghiệp, phát triển sản xuất và những vấn đề liên quan

đến sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước đều do Nhà nước quyết định

hoặc lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước quyết định đã phần nào gặp trở ngại

trong môi trường mới đòi hỏi phải có các quyết định nhanh và kịp thời trong

nền kinh tế thị trường

Bên cạnh đó, áp lực phải cắt giảm bảo hộ khi Việt Nam đã trở thành

thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng khiến càng khiến cho

quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn Mất đi những ưu thế bảo hộ, doanh

nghiệp nhà nước càng cần có những thay đổi mạnh mẽ để tự mình có thể tồn

tại trong cơ chế mới

4.3 Nhà nước giảm dần chức năng làm kinh tế

Nhà nước không có tham vọng hành chính hoá nền kinh tế, cũng như

không thể thay thế được vai trò của thị trường và các doanh nghiệp Tuy

Trang 22

nhiên, xét trên nhiều phương diện, sự quản lý, tác động của Nhà nước là điều

kiện không thể thiếu được cho sự vận hành hiệu quả của nền kinh tế thị

trường Cho dù luật chơi của thị trường có hiệu quả đến đâu thì cũng không

thể thả nổi hoàn toàn nền kinh tế cho quy luật tự điều chỉnh của thị trường Sẽ

là ảo tưởng nếu cho rằng thị trường tự nó sẽ tự điều chỉnh, tự nó có đủ cơ chế

để vận hành hiệu quả

Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các quy phạm pháp luật và cơ

chế chính sách Nhà nước cũng có thể can thiệp, điều tiết thị trường bằng việc

thành lập các cơ quan được giao đặc trách việc điều tiết, quản lý kinh tế, với

qui chế độc lập Việc Nhà nước hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệp

trực tiếp vào nền kinh tế và làm thay các doanh nghiệp nhà nước dẫn đến hai

thay đổi đáng kể: Thứ nhất, tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan nhà

nước thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý

chặt chẽ hơn cho sự vận hành của thị trường; thứ hai, tăng cường tính chủ

động, trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh

trước thị trường

Nhà nước giảm dần chức năng kinh tế đồng nghĩa với việc nhà nước sở

hữu một lượng vốn quá lớn trong các doanh nghiệp đã trở nên không cần

thiết, Vì vậy, việc cải tổ lại doanh nghiệp, cải tổ lại cơ cấu sở hữu, là điều

kiện để nhà nước tiến hành tách rời hai chức năng quản lý kinh tế và quản lý

hành chính

4.4 Cải tổ doanh nghiệp nhà nước góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính

cho ngân sách nhà nước

Hiện nay, các khoản nợ, việc chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp

với nhau rất lớn, Nhà nước lại phải đứng ra lo trả nợ để đảm bảo cho sự hoạt

động bình thường mặc dù không thu về được vốn Điều đó đã khiến các

doanh nghiệp nhà nước đã trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước Mức

Trang 23

độ tổn thất do khu vực doanh nghiệp nhà nước gây ra cho ngân sách nhà nước

đã làm ảnh hưởng, gây thiếu lòng tin về khả năng, lợi ích của khu vực kinh tế

này đối với sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đồng thời để lại những hậu

quả nghiêm trọng về mặt xã hội như: tệ tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, ỷ

lại vào nhà nước, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Để giảm bớt những gánh nặng

này, Nhà nước đã từng bước tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp của

mình

Tóm lại, trong bối cảnh này, vị trí, vai trò của các doanh nghiệp nhà

nước cũng cần thay đổi cho phù hợp Các doanh nghiệp nhà nước muốn giải

quyết vấn đề này không thể tự mình quyết định mà phải qua nhiều thủ tục

hành chính của các cấp có thẩm quyền để chớp lấy thời cơ hội nhập và hợp

tác quốc tế Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang các loại hình doanh

nghiệp có nhiều chủ sở hữu là một giải pháp hữu hiệu

II CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN HÓA DNNN

1 Công ty cổ phần

1.1 Định nghĩa

1.1.1 Định nghĩa công ty cổ phần trên thế giới

Công ty cổ phần (CTCP): Là công ty thành lập theo vốn, trong đó các

hội viên có tên gọi là cổ đông Cổ đông góp vốn vào công ty bằng cách mua

cổ phần Vốn của công ty được chia thành từng phần bằng nhau gọi là cổ

phiếu Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm và rủi ro trong số vốn đã góp và không

chịu trách nhiệm nào khác bằng tài sản còn lại của mình về các nghĩa vụ của

công ty

Cổ phần: Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần

bằng nhau gọi là cổ phần

Trang 24

Cổ phiếu: Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ

xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu là

chứng từ có giá, có thể chuyển nhượng, mua bán, lưu thông trừ những trường

hợp bị hạn chế do luật định

Cổ đông: Là người sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ

đông có thể là cá nhân hoặc pháp nhân

So sánh các loại hình công ty khác thì công ty cổ phần là công ty góp

vốn điển hình, pháp luật các nước xem nó là pháp nhân độc lập Nói một cách

khác, công ty cổ phần là công ty được hình thành trên cơ sở huy động vốn cá

nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, trái phiếu, mỗi chủ sở hữu chỉ

hưởng quyền lợi và trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình Lợi

nhuận của công ty cổ phần được phân phối cho cổ đông theo giá trị ghi trên

cổ phiếu và số lượng cổ phiếu mà họ sở hữu

Vai trò của cổ đông không có ý nghĩa khi gia nhập công ty, vì bất kỳ

người nào muốn bỏ vốn vào đều có thể trở thành cổ đông, không hạn chế tư

cách, cổ đông trở thành người chủ sở hữu cổ phiếu đơn thuần, quyền lợi của

họ chủ yếu thể hiện trên cổ phiếu, nó thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của cổ

phiếu

1.1.2 Công ty cổ phần tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, theo quy định tại điều 77, Luật doanh nghiệp 2005 ,

công ty cổ phần được định nghĩa như sau:

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân;

số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự do

chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại

Trang 25

khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này Công ty cổ phần có quyền

phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.”

1.2 Đặc điểm

Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế do nhiều thành viên thoả thuận

thành lập nên một cách tự nguyện, góp vốn tuỳ theo khả năng của mình để

tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, và nó mang những đặc điểm sau:

1.2.1 Về tư cách pháp nhân

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, là một chủ thể kinh doanh hoàn

toàn độc lập Là loại hình công ty đối vốn, nên nó không đòi hỏi thân nhân

của các cổ đông, chỉ đòi hỏi cổ phần Sự tồn tại của công ty cổ phần không

phụ thuộc vào sự biến động của số lượng cổ đông

1.2.2 Quyền lợi và trách nhiệm của cổ đông

Công ty cổ phần loại trừ trách nhiệm của cổ đông đối với các chủ sự

của công ty Trong trường hợp thua lỗ, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm tài chính

trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn) Nhờ đó, một

người cùng một lúc có thể đầu tư vào nhiều công ty cổ phần khác nhau, đa

dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro

Cổ đông được giải phóng khỏi chức năng quản lý công ty, công việc

quản lý được các nhà quản lý chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao

đảm nhận Cổ đông có thể giữ bí mật việc mình tham gia hay số vốn mình

góp vào công ty

1.2.3 Cơ cấu tổ chức

Công ty cổ phần được tổ chức chặt chẽ Trong cơ cấu tổ chức và điều lệ

hoạt động có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban

Trang 26

giám đốc quản lý công ty, mỗi bộ phận đều có những chức năng, nhiệm vụ và

quyền hạn khác nhau

1.2.4 Khả năng huy động vốn

Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn nhàn rỗi tạm thời trong xã

hội Quy mô kinh doanh của công ty được mở rộng không hạn chế vì họ có

nhiều vốn – có điều kiện tạo thời cơ và chớp thời cơ đầu tư vào những ngành

có trình độ kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến, tạo ra những sản phẩm có khả

năng cạnh tranh cao

Công ty cổ phần có thể phát hành chứng khoán động sản (trái phiếu, cổ

phiếu ưu đãi, cổ phiếu phổ thông), có thể mua bán chứng khoán tại các Sở

giao dịch Chứng khoán, các Ngân hàng Thương mại hay các Công ty Tài

chính

1.2.5 Cơ cấu vốn hoạt động

Vốn hoạt động của công ty cổ phần gồm 3 nguồn:

thường gồm 3 loại: tổng giá trị danh nghĩa của số lượng cổ phiếu đã phát hành,

tổng số tiền thu được do công ty phát hành cổ phiếu theo giá thị trường (thặng

dư vốn cổ phần), thu nhập giữ lại

hạn (từ 2-3 năm), dài hạn (từ 5 năm trở lên) và các khoản nợ khác

Vốn cổ phần giữ vai trò quan trọng nhất vì nó là khoản thường xuyên

đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn nợ và thu nhập giữ lại mang

tính chất bổ sung Vốn cổ phần ưu đãi thường chiếm tỷ lệ thấp nhất ở hầu hết

các ngành

Trang 27

2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước

2.1 Định nghĩa

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển công ty Nhà nước

thành công ty cổ phần Đây là một hình thức sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà

nước, chuyển đổi những công ty Nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100%

vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá

nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng

năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm

nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Chương trình chuyển đổi sở hữu trong tiến trình cải cách DNNN trên

thế giới đã diễn ra mạnh mẽ sôi động ngay từ đầu thập kỷ 80 với xuất phát

điểm là nước Anh và sau đó lan rộng sang các nước khác

Ở các nước Đông Âu, phong trào CPH và đa dạng hoá sở hữu DNNN

được phát động ngay từ đầu thập niên 90 và hiện vẫn đang tiếp diễn khá sôi

động Mỗi quốc gia khi tiến hành CPH đều đặt ra những tham vọng riêng của

mình cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Hầu hết các nước đều cho rằng, mục tiêu chính của chương trình CPH

DNNN là nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Qua đó, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Đồng thời giảm thiểu số DNNN

làm ăn thua lỗ, tăng các đơn vị làm ăn có lãi và các khoản thu cho Ngân sách

Nhà nước, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội khác Ngoài ra,

qua công tác CPH, hầu hết chính phủ các nước đều muốn chuyển một số lĩnh

vực ngành nghề mà các khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh

nặng và thâm hụt cho ngân sách, cân đối khả năng thanh toán nợ nước ngoài;

phát triển thị trường vốn trong nước

Trang 28

2.2 Đặc thù của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trước hết là một yêu

cầu bức xúc từ thực tế, được hình thành và hoàn thiện từ thực tiễn thử

nghiệm hơn là ứng dụng từ một mô hình lý thuyết sao chép của nước ngoài

Chính vì vậy, có thể nói, cổ phần hóa là một hiện tượng đặc thù ở Việt Nam

với các đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, cổ phần hóa không nhằm mục đích tư nhân hóa càng nhanh

càng tốt các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước làm giảm gánh nặng tài

chính cho ngân sách mà là nhằm mục tiêu huy động vốn cho doanh nghiệp,

bởi vì bản thân tiền thu về do bán cổ phần vẫn được nhà nước tiếp tục đầu tư

vào doanh nghiệp nhà nước Đặc điểm này có chút gì đó giống với “công ty

hóa'' cúa Trung Quốc nhưng hoàn toàn khác với tư nhân hóa ở các nước tư

bản cũng như Liên bang Nga và Đông Âu

Thứ hai, mục đích của cổ phần hóa là nhằm cơ cấu lại hệ thống doanh

nghiệp nhà nước bằng cách du nhập hình thức công ty cổ phần hỗn hợp sở

hữu nhà nước và tư nhân, góp phần giảm bớt vốn của nhà nước ở các lĩnh vực

mà hình thức kinh tế tư bản nhà nước hoạt động hiệu quả hơn hình thức

doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, nhờ có sự kết hợp giữa với vai trò

kiểm soát của nhà nước với yếu tố quản lý và lao động tích cực của cá nhân

Như vậy thành phần kinh tế nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát được phạm

vi rộng hơn mà không cần tăng vốn đầu tư của nhà nước Rõ ràng với mục

đích này, mặc dù có một phần tài sản chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu

tư nhân, song mục đích lại không hoàn toàn giống tư nhân hóa ở các nước

TBCN

Thứ ba, phương châm, hình thức cổ phần hóa cũng như chính sách ưu

đãi đối với nguời lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa cho thấy mục

đích cổ phần hóa 1à tạo điều kiện cho người lao động làm chủ và doanh

Trang 29

giao doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân Chính vì vậy, nước ta không chủ

trương giao bán càng nhanh doanh nghiệp nhà nước càng tốt mà kiên trì con

đường cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Tính đặc thù của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cho

thấy xu hướng giữ vững bản chất XHCN trong các cải cách kinh tế của nhà

nước, nhưng đồng thời tính đặc thù này cũng gây khó khăn ở chỗ chúng ta

không tìm được kinh nghiệm từ các nước đi trước càng không tự vạch ra được

một chương trình hoàn thiện ngay từ đầu nhằm đạt tới sự thống nhất trong cả

quá trình cổ phần hóa Xét về góc độ cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng

khoán, quá trình cổ phần hóa với quá nhiều sự thay đổi đã làm cho các doanh

nghiệp sau cổ phần hóa và cổ phiếu của chúng khó thích hợp với yêu cầu

chuẩn hóa của thị trường chứng khoán tập trung

3 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp

quan trọng nhằm cải tổ khu vực doanh nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện cho

các doanh nghiệp này phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững vai

trò đầu tàu, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, cổ phần hóa doanh

nghiệp nhà nước tại Việt Nam phải đáp ứng điều kiện không đi chệch hướng

xã hội chủ nghĩa, không biến thành tư nhân hóa, do đó, trong giai đoạn hiện

nay, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần hướng theo những mục tiêu sau:

Giảm bớt gánh nặng tài trợ mang tính bao cấp của ngân sách nhà nước

đối với những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, góp phần thu hồi một

phần tài sản tập trung về ngân sách nhà nước tiến hành đầu tư vào các công

trình trọng điểm mang tính chiến lược

Hình thành những tiền đề vật chất cần thiết cho việc phát triển thị

trường vốn, huy động nguồn vốn tiết kiện trong dân đưa vào sản xuất kinh

Trang 30

doanh và tạo những động lực kinh tế thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, tác

động đến nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Cho phép người lao động có quyền quản lý sản xuất kinh doanh, thực

hiện quyền làm chủ của mình, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao năng lực

cạnh tranh và góp phần điều chỉnh lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp

hóa – hiện đại hóa

Trong nghị định 109/2007/NĐ-CP của thủ tướng chính phủ ra ngày

26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ

phần cũng quy định rõ về mục tiêu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp

100% vốn nhà nước tại Việt Nam như sau:

100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn

của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính,

đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và

sức cạnh tranh của nền kinh tế

và người lao động trong doanh nghiệp

phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát

triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán

(Điều 1 nghị định 109/2007/NĐ-CP)

Trang 31

4 Cổ phần hóa là một phương pháp hiệu quả trong cải tổ doanh nghiệp

nhà nước tại Việt Nam hiện nay

4.1 Cổ phần hóa là phương pháp hiệu quả trong cải tổ doanh nghiệp nhà

nước đã được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới

Có thể nói, qua một quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN, hầu

hết các nước đều đạt được mục tiêu đã đề ra

Ở Anh, từ 1979 đến 1988, Chính phủ đã bán ra 22,25 tỷ USD cổ phần

nhà nước trong các nghành bưu chính viễn thông, hàng không, công nghiệp

gang thép đóng tàu Trong đó, thành công nhất là việc CPH Hãng hàng

không Quốc gia Anh (Bristish Airways)

Trong các năm 1986-1991, Chính phủ Pháp cũng đã bán được 66

doanh nghiệp và ngân hàng với tổng trị giá tài sản 275 tỷ Frăng

Cùng thời điểm, chính phủ các nước Caribe đã CPH được hơn 2.000

DNNN thuộc các ngành ngân hàng, hải cảng, hàng không Trong đó, các nước

đi đầu trong công tác này là Chilê (90%), Mexico (90%), tiếp sau là

Achentina

Ở Đông Âu, từ năm 1991-1996, CHLB Nga đã chuyển đổi sở hữu

122.000 DNNN Trong đó, doanh nghiệp này có quy mô nhỏ chiếm 64,8%,

còn lại là các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn Các nước khác như:

Bungary đã CPH và da dạng hoá sở hữu 20% tài sản nhà nước, Rumania là

16,5% giá trị tài sản và 44% DNNN, Ba Lan có1.886 DNNN được chuyển đổi

chiếm 28% Đặc biệt ở Hungary, quá trình chuyển đổi sở hữu đã tạo thêm 500

nghìn việc làm mới và thu hút khoảng 18 tỷ USD nguồn vốn đầu tư nước

ngoài [15]

Những thành công rõ ràng trong việc áp dụng cổ phần hóa cải tổ doanh

nghiệp nhà nước tại các nước trên thế giới chính là động lực để chúng ta

mạnh dạn áp dụng mô hình này vào cải doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

Trang 32

4.2 Cổ phần hóa cơ bản đã giải quyết được những vấn đề đặt ra trong cải

tổ doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa là một biện pháp quan trọng để giảm sự tham gia trực tiếp

của bộ máy hành chính nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp, đồng thời tăng cường vai trò của nhà nước trong quản lý bằng

chính sách pháp luật và các công cụ gián tiếp khác

Cổ phần hóa cũng làm giảm đáng kể các cơ hội tham nhũng và lạm

dụng tài sản nhà nước bởi các quan chức nhà nước và những người trực tiếp

quản lý doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa làm rõ quan hệ sở hữu tài sản của doanh nghiệp, để doanh

nghiệp tự chịu lỗ lãi, nâng cao trách nhiệm của người lao động, tạo điều kiện

cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tính tự chủ của doanh nghiệp, thúc

đẩy sự phát triển lâu dài, đẩy nhanh sự tách rời giữa chính quyền và doanh

nghiệp

4.3 Cổ phần hóa làm thay đổi căn bản trên ba mặt đối với doanh nghiệp

nhà nước

Thứ nhất: Chuyển hoá từ đơn sở hữu sang đa sở hữu doanh nghiệp,

đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người góp vốn và nâng cao hiệu

quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai: Thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ doanh

nghiệp, với cơ cấu tổ chức mới, có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn

nhau chặt chẽ

Thứ ba: Thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa Nhà nước và doanh

nghiệp Từ chỗ doanh nghiệp bị chi phối toàn diện trong quá trình sản xuất

kinh doanh bởi Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu duy nhất, sang quyền tự

chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được đề cao

Trang 33

4.4 Ưu thế của phương pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà

nước so với các phương pháp khác

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là một giải pháp có nhiều ưu

điểm nhất trong các giải pháp tái cơ cấu lại DNNN So với giao, bán, khoán,

cho thuê, giải thể, phá sản DNNN thì CPH có ba ưu thế sau đây:

Một là, giúp DNNN hiện tại có cơ chế huy động vốn nhằm thoát khỏi

tình trạng yếu kém hiện nay trên cơ sở vẫn duy trì liên tục hoạt động sản xuất,

đồng thời cho phép Nhà nước kiểm soát được doanh nghiệp (nếu cần)

Hai là, giúp chuyển triệt để DNNN hiện tại sang hoạt động theo cơ chế

thị trường trên cơ sở vừa xác định rõ chủ sở hữu vừa tạo quyền tự chủ rộng rãi

cho doanh nghiệp

Ba là, tạo cơ chế, mô hình quản lý hiệu quả cho DNNN chuyển đổi

Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi, khi Việt Nam đã trở

thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới hiện nay, cổ phần hóa các

doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp hiệu quả và quan trọng

nhất để cải tổ hoạt động của khu vực doanh nghiệp này Thực tế cho thấy, chủ

trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã đạt được không ít thành tựu,

tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần nhận thức rõ về những vướng mắc và tồn tại

mà doanh nghiệp cần đối mặt sau cổ phần hóa, do đó việc nhìn nhận, phân

tích và giải quyết triệt để các vấn đề này, chính là biện pháp cần thiết để phát

triển nâng cao và hoàn thiện hơn nữa cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở

Việt Nam

Trang 34

CHƯƠNG II

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA

Hiệu quả của phương pháp cổ phần hóa trong việc cải tổ doanh nghiệp

nhà nước tại Việt Nam sẽ được đánh giá thông qua mức độ giải quyết những

vấn đề còn tồn tại của doanh nghiệp giai đoạn trước cổ phẩn và những giá trị

gia tăng mới mà cổ phần hóa đem lại cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh

tế nói chung Mức độ này sẽ được xem xét thông qua các mục tiêu được đặt ra

đối với việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Dựa trên những mục tiêu mà điều 1 Nghị định 109/2007/NĐ-CP ra

ngày 26/06/2007 về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các tiêu

chí đánh giá được đề xuất trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận bao gồm 4

nhóm:

Nhóm I: Năng lực tài chính:

Nhóm II: Phương thức quản lý

Nhóm III: Đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động

Nhóm IV: Tính công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trường

I NĂNG LỰC TÀI CHÍNH

1 Năng lực tài chính không ngừng được nâng cao

Trước cổ phần hóa, đa phần năng lực tài chính của các doanh nghiệp

nhà nước còn thấp, hoạt động kinh doanh chưa hiệu quả, cụ thể:

Trang 35

 Vốn nhà nước đầu tư hạn chế, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế ít do hiệu quả doanh nghiệp thấp kém hoặc không có Việc huy động

vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu hoặc nhận

vốn góp liên doanh rất hạn hẹp

 Tình trạng kinh doanh bị lỗ mất hết vốn còn nhiều

 Khả năng thanh toán nợ hạn chế: hệ số nợ trên vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bình quân là 1,26 lần, nhưng nhiều doanh nghiệp có hệ

số là trên 5

 Tiêu hao nguyên vật liệu cao:

 Chi phí khấu hao máy móc thiết bị quá lớn :

 Chi phí tiền lương cao:

 Chi phí quản lý tương đối cao so với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (như lãi vay, giao dịch, tiếp khách, tiếp tân, khánh tiết,

quảng cáo, xúc tiến thương mại )[8]

Cổ phần hóa thực sự đã đem lại những hiệu quả rõ rệt cho các doanh

nghiệp nhà nước đặc biệt trong việc cải thiện tình hình hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp

Trong Báo cáo nghiên cứu về hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2006, tính từ năm 1992

đến 2005, sau cổ phần hóa, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều

được triển khai tích cực Qua khảo sát 559 doanh nghiệp cổ phần từ hơn 1

năm trở lên thì có tới 87.53% khẳng định kết quả hoạt động tài chính tốt hơn

trước cổ phần hóa

Ngay trong năm đầu tiên cổ phần hóa, doanh thu bình quân của doanh

nghiệp tăng khoảng 13%, lợi nhuận sau thuế đã tăng đến 48,8% Điều này cho

thấy, việc chuyển đổi đã có tác dộng mạnh đến hiệu quả hoạt động của doanh

Trang 36

động ổn định, tăng trưởng của doanh nghiệp tiếp tục được duy trì, doanh thu

hàng năm tăng 13,4%, lợi nhuận trước thuế đạt 9,4% nhưng lợi nhuận sau

thuế tăng tới 54,3%

Bên cạnh đó, những chỉ số như năng suất lao động tăng 18,3%, đầu tư

tài sản cổ định tăng 11,5%, lương bình quân doanh nghiệp tăng 11,4% đã

một lần nữa khẳng định hiệu quả của việc chuyển đổi mô hình cổ phần hóa

của các doanh nghiệp nhà nước[16]

Có thể thấy rõ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công

ty cổ phần có vốn nhà nước qua một số chỉ tiêu sau:

1.1 Cơ cấu sở hữu đã có những thay đổi đáng khích lệ

Cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cổ phần hóa đã củng cố

khu vực tư nhân và làm giảm nợ công, phần nào cải thiện được cơ cấu sở hữu

trong các doanh nghiệp nhà nước Theo Bộ Tài chính, tính đến tháng 8/2007

có gần 20% vốn nhà nước đã được cổ phần hóa, trung bình trong các công ty

đã cổ phần hóa, nhà nước nắm giữ khoảng 46% cổ phần, người lao động nắm

giữ gần 30% và số còn lại thuộc sở hữu các cổ đông khác Trong đó, tỷ lệ các

công ty đã cổ phần hóa có phần vốn nhà nước nắm giữ hơn 50% là 33%[16].

1.2 Khả năng huy động vốn và quy mô vốn sản xuất kinh doanh được mở rộng

CPH là giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại DNNN để DNNN có

cơ cấu thích hợp, quy mô lớn hơn và tập trung vào những ngành, lĩnh vực

then chốt của nền kinh tế Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các

ngành, lĩnh vực, đã tập trung hơn vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền

kinh tế, trong đó, nhiều ngành, lĩnh vực Nhà nước cần thiết chi phối để làm

công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô; quy mô vốn của DNNN cũng được tăng lên

Năm 2001, vốn bình quân một DNNN là 24 tỷ đồng; đến nay, khoảng gần 90

tỷ đồng [8]

Trang 37

Nhìn chung, doanh nghiệp nhà nước tuy vốn lớn, tuy nhiên khả

năng huy động và tốc độ tăng trưởng về vốn đều không cao Cuối năm 2000,

vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước là 670.234 tỷ đồng,

cuối năm 2005, tăng lên 1.338.255 tỷ đồng; bình quân mỗi năm 133.604 tỷ,

tương ứng với tốc độ tanưg trưởng chung trong 5 năm là 99,7% (gần gấp đôi)

và bình quân mỗi năm tăng 14,9%

Trong khi đó, tại các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, vốn

sản xuất đã tăng lên không ngừng từ 10.417 tỷ đồng thời điểm cuối năm 2000

lên 109.520 tỷ ở thời điểm cuối năm 2005 Như vậy, sau 5 năm, vốn sản xuất

kinh doanhh đã tăng lên 99.103 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 19.821 tỷ;

tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm gấp 10.5 lần và bình quân mỗi năm

tăng 65.5%[xem bảng 1]

So sánh với tốc độ tăng trưởng về vốn của khu vực doanh nghiệp

nhà nước nói chung, thì những số liệu trên là những thành quả ấn tượng và

đáng khích lệ

Tốc độ tăng trưởng vốn

0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000 1600000

2001 2002 2003 2004 2005

năm

0 20000 40000 60000 80000 100000 120000

tỷ đồng

DNNN DNNN CP

Trang 38

1.3 Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tăng lên

Tại các doanh nghiệp nhà nước, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài

chính dài hạn tính đến cuối năm 2000 là 259.856 tỷ, cuối năm 2005 là

487.210 tỷ; sau 5 năm đã tăng thêm 257.345 tỷ, bình quân mỗi năm tăng

57.471 tỷ; tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm 112,0% và

bình quân mỗi năm tăng 16,5%

Tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước, con số này cuối năm 2000

là 2.947 tỷ đồng lên 25.077 tỷ đồng vào cuối 2005; trong 5 năm đã tăng thêm

93.592 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 18.718 tỷ; tốc độ tăng trưởng chung

trong 5 năm 10.1lần và bình quân mỗi năm tăng 61,1% [xem bảng 1]

Như vậy, có thể thấy khu vực công ty cổ phần có vốn nhà nước có

tốc độ tăng trưởng tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn nhanh gấp hơn 5

lần so với khu vực doanh nghiệp nhà nước Điều này đã thể hiện rõ ràng hiệu

quả của phương pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước

Tốc đột tăng trưởng TSCĐ

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000

2001 2002 2003 2004 2005

năm

0 5000 10000 15000 20000 25000 30000

tỷ đồng

DNNN DNNN CP

Trang 39

1.4 Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh tăng trưởng nhanh

Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp nhà

nước tăng từ 444.673 tỷ đồng năm 2000 đã lên 838.396 tỷ trong năm 2005,

sau 5 năm tăng thêm 393.723 tỷ, bình quân mỗi năm tăng 78.745 tỷ; tương

ứng với tốc độ tăng trưởng chung 5 năm là 88,5% và bình quân mỗi năm tăng

14,0%

Tại khu vực công ty cổ phần có vốn nhà nước, con số này là đã tăng

thêm 93.592 tỷ đồng từ 10.275 tỷ đồng năm 2000 lên 103.887 tỷ đồng năm

2005; tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm là 10.1 lần, bình

quân mỗi năm tăng lên 61,1% [xem bảng 1]

Tốc độ tăng trưởng doanh thu

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000 700000 800000 900000

2001 2002 2003 2004 2005

năm

0 20000 40000 60000 80000 100000 120000

tỷ đồng

DNNN DNNN CP

Vậy, với tốc độ tăng bình quân hằng năm về số lượng công ty cổ

phần có vốn nhà nước chỉ ở mức 29,8% và số lượng lao động chỉ tăng

35,9%/năm, nhưng các chỉ tiêu về vốn, tài sản và kết quả sản xuất kinh doanh

Trang 40

sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn đã tăng 59,9%/năm và doanh thu thuần

sản xuất kinh doanh đã tăng 61,1%/năm [xem bảng 1] Điều đó có nghĩa là tại

các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, năng lực sản xuất kinh doanh và

kết quả sản xuất kinh doanh đã được tăng lên rất đáng kể Từ đó, có thể đánh

giá được rằng, mục tiêu quan trọng nhất của tiến trình cổ phần hóa doanh

nghiệp nhà nước đặt ra là nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp đã đạt được ở mức rất cao

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp nhà nước và

Sở dĩ các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đạt được những

thành tựu đáng mừng trong tăng cường năng lực tài chính như trên là do

những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, vấn đề nợ của doanh nghiệp được xử lý tốt trong qua

trình cổ phần hóa, tạo điều kiện tài chính lành mạnh cho doanh nghiệp phát

triển

Ngày đăng: 28/05/2014, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Thủy (2003) Bàn về cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước với thì trường chứng khoán Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng số 1+2, tr.82-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước với thì trường chứng khoán Việt Nam
4. Trần Tiến Cường (2006) Hậu cổ phần hóa: phần chìm của tảng băng, Tạp chí Tài chính số 9, 2006, tr.26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu cổ phần hóa: phần chìm của tảng băng
5. Trần Việt Hưng (2006) Kết quả sắp xếp, đổi mới. phát triển Doanh nghiệp nhà nước và phương hướng nhiệm vụ 2006 – 2010, Tạp chí Kinh tế dự báo số 10, 2006, tr.7 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sắp xếp, đổi mới. phát triển Doanh nghiệp nhà nước và phương hướng nhiệm vụ 2006 – 2010
6. Cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước – hệ thống các văn bản pháp quy, Nhà xuất bản Thống kê, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước – hệ thống các văn bản pháp quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
8. Những cái được sau CPH – Báo “Công nghiệp”, số ra ngày 26/09/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cái được sau CPH
Nhà XB: Báo “Công nghiệp”
Năm: 2005
9. Người lao động có bao nhiêu cổ phần – Báo “Lao động” số 227 ngày 18/08/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lao động có bao nhiêu cổ phần – "Báo “Lao động
10. Malcolm Gillis, Dwight H.Perkins, Michell Roemer, Dorald R.Snodyrass (1990), Kinh tế học của sự phát triển, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học của sự phát triển
Tác giả: Malcolm Gillis, Dwight H. Perkins, Michell Roemer, Dorald R. Snodyrass
Nhà XB: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 1990
7. Báo cáo của Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Thị Băng Tâm tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn quốc ngày 15 - 16/3/2004 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp nhà nước và - khóa luận tốt nghiệp hiệu quả của phương pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước tại việt nam
Bảng 1 Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp nhà nước và (Trang 40)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w