1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu tổn thương thực quản qua nội soi với bộ câu hỏi gerd q để đánh giá mức độ hội chứng trào ngược dạ dày thực quản

101 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối chiếu tổn thương thực quản qua nội soi với bộ câu hỏi gerd q để đánh giá mức độ hội chứng trào ngược dạ dày thực quản
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học nội tiêu hóa
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (3)
    • 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU (3)
      • 1.1.1. Trên thế giới (3)
      • 1.1.2. Nghiên cứu trong nước (4)
    • 1.2. DỊCH TỄ HỌC BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN (4)
    • 1.3. GIẢI PHẪU THỰC QUẢN (5)
      • 1.3.1. Hình dạng, kích thước và vị trí (5)
      • 1.3.2. Liên quan (6)
      • 1.3.3. Cấu tạo thực quản (7)
      • 1.3.4. Mạch và thần kinh (9)
    • 1.4. SINH LÝ THỰC QUẢN (9)
    • 1.5. TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN (11)
      • 1.5.1. Đại cương (11)
      • 1.5.2. Nguyên nhân của trào ngược dạ dày- thực quản (13)
      • 1.5.3. Bệnh sinh các tổn thương ở thực quản do trào ngược (0)
      • 1.5.4. Các phương pháp chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản . 19 1.5.5. Điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (0)
    • 1.6. BẢNG GERD Q TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN (30)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (35)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh (35)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (35)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU (36)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (36)
      • 2.2.2. Mẫu nghiên cứu (36)
      • 2.2.3. Cách thức tiến hành (36)
      • 2.2.4. Các chỉ số nghiên cứu (0)
      • 2.2.5. Địa điểm nghiên cứu (39)
      • 2.2.6. Thời gian nghiên cứu (0)
      • 2.2.7. Phương tiện nghiên cứu (0)
      • 2.2.8. Đạo đức nghiên cứu (40)
    • 2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU (40)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG (42)
      • 3.1.1. Tuổi (42)
      • 3.1.2. Giới (43)
      • 3.1.3. Nghề nghiệp (43)
      • 3.1.4. Các yếu tố nguy cơ (44)
      • 3.1.5. Thời gian mắc bệnh (0)
      • 3.1.6. Các triệu chứng cơ năng (0)
      • 3.1.7. Tần suất xuất hiện triệu chứng cơ năng theo bảng GERD Q (0)
      • 3.1.8. Tổng điểm theo bảng GERD Q (49)
      • 3.1.9. Bảng điểm tác động (49)
      • 3.1.10. Phân độ tổn thương theo GERDQ (50)
      • 3.1.11. Phân loại tổn thương thực quản qua nội soi (51)
    • 3.2. ĐỐI CHIẾU TỔN THƯƠNG THỰC QUẢN VỚI YẾU TỐ NGHUY CƠ VÀ TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG TRÊN BỆNH NHÂN GERD (0)
      • 3.2.1 Đối chiếu tổn thương thực quản với yếu tố nghuy cơ (53)
      • 3.2.2 Đối chiếu tổn thương thực quản và mức độ tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng (55)
    • 3.3. ĐỐI CHIẾU GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY – THỰC QUẢN (0)
    • 3.4. MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ (59)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (61)
    • 4.1 TUỔI (61)
    • 4.2. GIỚI (62)
    • 4.3. CHỈ SỐ KHỐI CƠ THỂ (62)
    • 4.4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ (0)
    • 4.5. THỜI GIAN MẮC BỆNH (64)
    • 4.6. BÀN LUẬN VỀ CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG (64)
    • 4.7. TỈ LỆ VIÊM LOÉT THỰC QUẢN Ở NHỮNG BỆNH NHÂN GERD ĐƯỢC NỘI SOI (66)
    • 4.8. PHÂN LOẠI VIÊM LOÉT THỰC QUẢN THEO LOS ANGELES (66)
    • 4.9. TỔNG ĐIỂM GERD Q VÀ ĐIỂM TÁC ĐỘNG (67)
    • 4.10. ĐỐI CHIẾU GIỮA TỔN THƯƠNG THỰC QUẢN VỚI TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ (0)
      • 4.10.1. Đối chiếu giữa tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng:68 4.10.2. Đối chiếu giữa tổn thương thực quản với yếu tố nguy cơ (0)
    • 4.11. ĐỐI CHIẾU GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ CHẨN ĐOÁN QUA NỘI SOI (69)
    • 4.12. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là bệnh do thành phần dịch dạ dày trào ngược lên qua thực quản gây nên các triệu chứng, các tổn thương ở đường tiêu hóa và hô hấp trên, không nhất thiết

TỔNG QUAN

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

TNDDTQ đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20, với sự công bố đầu tiên về bệnh loét thực quản vào năm 1906 bởi Tileston Năm 1935, Asher Winkeltein đã giới thiệu thuật ngữ “viêm thực quản pepsin” và mô tả rõ ràng các triệu chứng lâm sàng của nhiều bệnh nhân, được cho là viêm thực quản thứ phát do hiện tượng trào ngược của HCl và Pepsin.

Năm 1946, Allison đã mô tả TNDDTQ như một hiện tượng tương đương với "thoát vị khe" (hiatal hernia), gây ra cảm giác nóng rát ở một số bệnh nhân sau khi phẫu thuật sửa chữa các tổn thương ở cơ hoành.

1950 Berenberg và Newhauser mô tả GERD, sinh lý và cơ chế, tuy vai trò của cơ vòng thực quản dưới (LES) còn hiểu biết rất hạn chế [1]

1958 Berstein và Backer dùng X-Quang để chẩn đoán GERD [1]

1962 Người ta bắt đầu áp dụng nội soi mềm trong chẩn đoán GERD [1]

1968 Cherry mô tả về các triệu chứng bên ngoài thực quản do trào ngược [14]

Năm 1969, Spencer đã áp dụng phương pháp đo độ pH thực quản trong thời gian dài để theo dõi bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) Qua hơn 40 năm, hệ thống đo pH đã được cải tiến và hoàn thiện, và hiện nay vẫn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán GERD.

1991 Koufman nhận xét các biểu hiện tai mũi họng trong bệnh lý trào ngược [14]

2005 Ford ra danh từ Larygopharyngeal reflux (LPR) được coi là biến chứng của GERD hay trào ngược ngoài thực quản [15]

1.1.2 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cũng từ những năm 2000 trở lại đây, GERD thường được nhắc đến: 1999 GS.Võ Tấn đã có phát biểu cảnh tỉnh với các thầy thuốc TMH về “Hồi lưu dạ dày- thực quản” tại Hội nghị khoa học ngành ở Đà Nẵng, BS.Huỳnh Khắc Cường đã trình bày khá đầy đủ về triệu chứng và điều trị bệnh Ngô Ngọc Liễn trong tạp chí Tai Mũi Họng 2-2000 đã bước đầu tổng kết về GERD ở trẻ em với đề xuất từ mới “Ho ngang” là triệu chứng điển hình bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ em Tạp chí TMH 3/2004- Ngô Ngọc Liễn và Ngô Thùy Nga nêu 42 trường hợp GERD ở người lớn với đặc điểm chỉ có 14.28% có loét dạ dày tá tràng, có đến 16.6% không có bị viêm loét dạ dày [1],[11]

Nguyễn Tuấn Đức (2008) đã nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh nội soi TMH trong bệnh TNDDTQ ở người lớn [14]

Bồ Kim Phượng(2011) đã đưa ứng dụng bảng GERD Q vào chẩn đoán TNDDTQ [2]

Quách Trọng Đức, Hồ Xuân Linh (2012) nói lên được giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán GERD của lĩnh vực nội tiêu hóa [12].

DỊCH TỄ HỌC BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) đã trở thành một bệnh lý toàn cầu trong 3 thập kỷ qua, với tỷ lệ gia tăng nhanh chóng và tính chất phong phú Bệnh này không chỉ giới hạn trong chuyên ngành Nội tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là Tai Mũi Họng, nơi GERD đã trở thành một chương cơ bản trong bệnh học Trước đây, GERD chủ yếu xuất hiện ở các nước phát triển Âu-Mỹ, nhưng trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh ở các nước Châu Á cũng đang gia tăng nhanh chóng.

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) là một bệnh lý phổ biến với tỷ lệ mắc khác nhau trên toàn thế giới Tại Mỹ, tỷ lệ mắc dao động từ 10-20%, trong khi ở Thụy Sĩ là 5%, Phần Lan từ 27-30%, Pháp 27,1% và Thụy Điển 25% Ngược lại, ở Châu Á, bệnh này ít gặp hơn, với tỷ lệ mắc ở Nhật Bản là 16,3%, Đài Loan 5%, Ấn Độ 7,5%, Trung Quốc 0,5%, Malaysia 3%, và Hàn Quốc cùng Đài Loan từ 3,4-9%.

Tỷ lệ triệu chứng trào ngược thực quản (GERD) đang gia tăng đáng kể trên toàn cầu, với mức tăng trung bình hàng năm khoảng 5% ở Bắc Mỹ và 27% ở Châu Âu Tại Châu Á, một nghiên cứu từ Singapore cho thấy tỷ lệ mắc GERD đã tăng từ 5,5% vào năm 1994 lên 10,5% vào năm 1999 Bệnh GERD, trước đây không phổ biến ở khu vực này, hiện đã trở thành một vấn đề sức khỏe quan trọng.

GIẢI PHẪU THỰC QUẢN

1.3.1 Hình dạng, kích thước và vị trí

Thực quản là phần đầu tiên của ống tiêu hóa, nối họng với dạ dày, dài khoảng 25 cm và có đường kính trung bình từ 2 đến 3 cm Đầu trên của thực quản nằm ngang bờ dưới sụn nhẫn, tương ứng với đốt sống cổ VI, trong khi đầu dưới đổ vào dạ dày qua một lỗ hình bầu dục đứng (tâm vị), tương ứng với bờ trái của đốt sống ngực XI Thực quản có 4 chỗ hẹp khi giãn, bao gồm vị trí sụn nhẫn, chỗ phế quản gốc, chỗ chui qua cơ hoành và tâm vị.

Hình 1.1 Định khu và các chỗ hẹp của thực quản

Từ trên xuống dưới thực quản đi qua vùng cổ trước, đi qua trung thất sau rồi chui qua lỗ cơ hoành để đi xuống bụng

Hình 1.2 mô tả đường ăn trên và các cấu trúc giải phẫu lân cận Vùng Killian được giới hạn bởi cơ khít hầu dưới ở phía trên và cơ nhẫn hầu, cơ thắt dưới thực quản ở phía dưới, cùng với mối liên quan của thực quản với các cấu trúc xung quanh.

Như vậy thực quản có 3 phần chính: Phần cổ dài 5 - 6 cm, phần ngực dài

16 - 18 cm, phần bụng dài 2 - 3 cm

Ở cổ, phía trước liên quan đến khí quản và thực quản, được kết nối với nhau bởi mô liên kết lỏng lẻo, trong khi các dây thần kinh thanh quản quặt ngược chạy lên giữa khí quản và thực quản Phía sau liên quan đến cột sống cổ, cơ dài cổ và lá trước sống của mạc cổ Hai bên liên quan đến phần sau của thuỳ tuyến giáp và bó mạch cổ, bao gồm động mạch cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong và thần kinh X, tất cả nằm trong bao cảnh.

Phần thực quản ngực có mối liên hệ quan trọng với nhiều cấu trúc xung quanh Phía trước, thực quản liên quan đến khí quản, phế quản gốc trái, ngoại tâm mạc và cơ hoành, trong khi phía sau nó liên quan đến các đốt sống ngực, ống ngực, tĩnh mạch đơn và động mạch chủ Bên trái, thực quản tiếp xúc với cung động mạch chủ, thần kinh quặt ngược trái, động mạch dưới đòn trái, ống ngực và màng phổi trái Ở bên phải, thực quản liên quan đến tĩnh mạch đơn.

Thực quản bụng nằm trong rãnh thực quản ở mặt sau của thuỳ gan trái sau khi đi qua lỗ thực quản của cơ hoành Nó được phúc mạc che phủ ở mặt trước và mặt trái, trong khi phía sau thực quản là trụ trái của cơ hoành.

Thực quản từ ngoài vào trong có 4 lớp: Lớp áo ngoài, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc

- Lớp áo ngoài là lớp mô sợi bao bọc bên ngoài thực quản

Lớp cơ thực quản dày từ 1 - 1,5 cm bao gồm hai lớp chính Lớp nông có các thớ dọc bao bọc gần như toàn bộ thực quản, với các sợi dọc ở phần trên mặt sau tạo thành hai bó chạy lên trên và vòng ra trước hai bên thực quản Những sợi này kết thúc tại bờ dưới cơ khít hầu dưới và được gắn vào phần trên mặt sau của mảnh sụn nhẫn qua gân nhẫn-thực quản Ngoài ra, một số sợi cơ dọc còn kết nối với phế mạc trái và phế quản gốc trái, hình thành cơ phế mạc-thực quản và cơ phế quản-thực quản Lớp sâu gồm các thớ cơ vòng, liên tiếp phía sau với cơ khít hầu dưới và phía dưới với các thớ cơ chéo của dạ dày.

- Lớp dưới niêm mạc là mô liên kết lỏng lẻo nhưng bền chắc, có chứa nhiều mạch máu, thần kinh và các tuyến thực quản

Lớp niêm mạc bao gồm tế bào biểu mô vẩy dày, chắc và sừng hoá, với sự hiện diện của nguyên bào hắc tố Lớp tế bào đáy chiếm từ 10 - 15% bề dày niêm mạc, trong khi các nhú mô liên kết cao khoảng 50 - 60% chiều cao của lớp biểu mô Dưới niêm mạc là lớp đệm và lớp cơ niêm Tại vị trí nối với tâm vị dạ dày, lớp niêm mạc có dạng biểu mô trụ, tương ứng với đường Z trên nội soi, giống như biểu mô tâm vị của dạ dày Đoạn nối giữa hai lớp biểu mô này thường không đều.

Hình 1.3 Cấu trúc mô học thực quản vùng biểu mô tuyến

2 Lớp tế bào biểu mô trụ

4 Mô đệm dưới niêm mạc

Hình 1.4 Cấu trúc mô học thực quản vùng biểu mô vảy

2 & 3 Lớp đệm dưới niêm mạc

4 Mô lympho dưới niêm mạc

Môi trường pH bình thường tại thực quản thường lớn hơn 7, trong khi khi có trào ngược dạ dày thực quản, pH giảm xuống dưới 4 Sự giảm pH này gây tổn thương niêm mạc thực quản và dẫn đến các triệu chứng lâm sàng như nuốt vướng, nuốt đau và cảm giác nóng sau xương ức.

Thực quản nhận máu từ nhiều nguồn, bao gồm động mạch giáp dưới, phần xuống của động mạch chủ, các động mạch phế quản, động mạch vị trái và động mạch hoành dưới.

Tĩnh mạch ở cổ kết nối với tĩnh mạch giáp dưới, trong khi ở ngực, chúng đổ vào tĩnh mạch đơn, bán đơn và tĩnh mạch bán đơn phụ Tại vùng bụng, tĩnh mạch chảy vào tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch vị trái.

Đoạn thực quản cổ được chi phối bởi các nhánh của thần kinh thanh quản quặt ngược và các nhánh từ thần kinh giao cảm cổ Đoạn thực quản ngực được điều khiển bởi các nhánh của thân X, đám rối thực quản, thân giao cảm và các thần kinh tạng lớn Trong khi đó, đoạn thực quản bụng được chi phối bởi các nhánh của hai thân X, thân giao cảm ngực, thần kinh tạng lớn, đám rối vị trái và thần kinh hoành dưới.

SINH LÝ THỰC QUẢN

Thực quản có hai chức năng chính: vận chuyển thức ăn từ miệng đến dạ dày và ngăn ngừa trào ngược các chất từ dạ dày vào thực quản Chức năng vận chuyển được thực hiện thông qua các co bóp nhu động, trong khi cơ thắt thực quản giữ kín giữa các lần nuốt để ngăn dòng trào ngược.

Sự đóng mở của tâm vị được điều chỉnh bởi cơ thắt thực quản trên, cơ thắt thực quản dưới, van Guabaroff và góc Hiss, giúp ngăn chặn hiện tượng trào ngược dịch dạ dày lên thực quản.

Cơ thắt thực quản trên có trương lực co cơ ổn định khi nghỉ, với áp lực cao nhất trong vùng này, thường cao hơn áp lực trong thực quản và lồng ngực từ 40 – 100 mmHg Chiều dài của cơ thắt này từ 2-4 cm, kéo dài từ cơ bám sụn họng đến cơ khít họng dưới Khi nuốt, cơ thắt giãn ra hoàn toàn trong 0,2 giây, và áp lực giảm xuống bằng áp lực lồng ngực hoặc trong lòng thực quản trong khoảng 1 giây Sự giảm áp lực này, kết hợp với co bóp của họng, giúp thức ăn dễ dàng đi qua Ngoài ra, cơ thắt thực quản trên còn có chức năng ngăn ngừa trào ngược thực quản họng thông qua phản xạ co lại khi dạ dày căng hoặc khi có acid truyền vào 1/3 trên thực quản.

Nhu động thực quản được tạo ra khi nuốt thông qua trung tâm nuốt ở hành não, dẫn đến các co bóp từ họng xuống cơ thắt thực quản dưới Sự phối hợp giữa vùng hạ họng, sụn nhẫn, cơ thắt trên và cơ vân của thực quản diễn ra thông qua cung phản xạ của trung tâm nuốt Động tác nuốt và kích thích dây X kích hoạt các nhu động trong cơ trơn 2/3 dưới thực quản, với tốc độ lan truyền từ 3-5 cm/giây Nhu động tiên phát xuất phát từ trung tâm nuốt, trong khi nhu động thứ phát do sự căng tại chỗ của thực quản do thức ăn và nước uống.

Cơ thắt thực quản dưới đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa trào ngược thức ăn và dịch dạ dày vào thực quản Nó duy trì áp lực cao hơn áp lực trong dạ dày, dao động từ 15-30 mmHg, và áp lực này tăng lên sau bữa ăn hoặc khi có sự gia tăng áp lực trong ổ bụng Khi nuốt, cơ thắt dưới giãn ra trong khoảng 2 giây và kéo dài từ 3-5 giây, cho phép thức ăn dễ dàng đi qua Trương lực co cơ của cơ thắt thực quản dưới phụ thuộc vào cơ chế hoạt động của cơ dọc.

Góc Hiss đóng lại khi phình vị đầy, giúp thực quản tiếp tuyến với thành trong dạ dày Cơ hoành cũng hỗ trợ trong quá trình hít vào, tạo áp lực lên thực quản và ngăn ngừa trào ngược dịch vị và thức ăn Ở người bình thường, trào ngược dạ dày thực quản có thể xảy ra sau bữa ăn, nhưng đây là hiện tượng sinh lý tạm thời và không gây triệu chứng.

TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Trào ngược dạ dày-thực quản (DD-TQ) là hiện tượng dịch từ dạ dày trào ngược vào thực quản qua lỗ tâm vị, xảy ra tự nhiên ở mọi người nhiều lần trong ngày, đặc biệt sau bữa ăn thịnh soạn Những đợt trào ngược này thường ngắn và không gây triệu chứng hay viêm thực quản Tuy nhiên, khi hiện tượng này xảy ra thường xuyên và kéo dài, gây ra triệu chứng và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, nó được gọi là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD).

“GERD là tình trạng bệnh lý khi chất trong dạ dày trào ngược gây triệu chứng khó chịu và/hoặc gây biến chứng”

Triệu chứng tại thực quản Triệu chứng ngoài thực quản

Các hội chứng cơ năng:

+Hội chứng trào ngược điển hình

+Hội chứng đau ngực do trào ngược.

Các HC tổn thương thực quản:

+Viêm thực quản trào ngược

+ Ung thư biểu mô tuyến.

Các triệu chứng đi kèm đã xác định:

+Viêm thanh quản do trào ngược

+Mòn răng do trào ngược.

Các bệnh lý được nghỉ là có liên quan:

+Viêm họng +Viêm xoang +Xơ hoá phổi vô căn

+Viêm tai giữa tái đi tái lại.

Triệu chứng khó chịu được định nghĩa: Là triệu chứng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, các triệu chứng nhẹ thường xảy ra

Nhiều bệnh nhân GERD trải qua triệu chứng trung bình đến nặng hơn một ngày trong tuần Nội soi có thể phát hiện viêm thực quản hoặc không viêm thực quản ở những bệnh nhân này Viêm thực quản do sự tấn công của acid và pepsin trong dịch vị vào thực quản, gây hoại tử lớp bề mặt niêm mạc, dẫn đến tổn thương (viêm thực quản loét) Tình trạng này thường xảy ra ở đoạn nối thực quản-dạ dày và có thể được nhận biết qua nội soi.

Tuy nhiên hơn 50% những bệnh nhân GERD trên nội soi không thấy viêm trợt, không có Barrett’s gọi là NERD (Non erosive reflux disease) [2],[28],[29]

Chẩn đoán bệnh trở nên dễ dàng khi có tổn thương viêm trợt thực quản với đầy đủ triệu chứng, nhưng trong một số trường hợp như NERD hoặc khi triệu chứng không điển hình, việc chẩn đoán trở nên khó khăn GERD thường gây ra các triệu chứng tại thực quản như nóng rát sau xương ức và ợ chua Tuy nhiên, khi dịch trào ngược lên họng và thanh quản, có thể xuất hiện các triệu chứng ngoài thực quản như nuốt khó, cảm giác vướng nghẹn, đau ngực không do tim, ho kéo dài, khó thở ban đêm, khàn giọng và cơn hen, dẫn đến chẩn đoán sai lệch.

Viêm trợt thực quản trong GERD có thể gây hẹp thực quản, Barrett thực quản là cơ sở cho sự phát triển ung thư thực quản [2],[30],[31]

1.5.2 Nguyên nhân của trào ngược dạ dày- thực quản:

Hiện nay, nguyên nhân gây GERD còn chưa được rõ song người ta tìm thấy những yếu tố nguy cơ sau:

- Tuổi: Thường gặp nhiều ở tuổi > 40 [2],[32],[33]

- Giới: Nam gặp nhiều hơn Nữ [2],[33]

Chế độ sinh hoạt không điều độ, bao gồm việc hút thuốc lá, uống rượu, bia, cà phê, chocolate, và tiêu thụ các thực phẩm nhiều gia vị, cũng như sử dụng các loại thuốc như thuốc chống viêm không steroid, theophylline và thuốc chẹn kênh canxi, đều có tác động tiêu cực đến khả năng TNDDTQ.

+ Hút thuốc lá: ĐỊNH NGHĨA NGHIỆN THUỐC LÁ

 Trạng thái rối loạn tâm thần – hành vi do tương tác giữa cơ thể với nicotin trong thuốc lá

 Biểu hiện bằng cảm giác thôi thúc mạnh mẽ buộc người nghiện phải hút thuốc lá

 Hành vi hút thuốc lá giúp người nghiện có được cảm giác sảng khoái và tránh được cảm giác khó chịu vì thiếu thuốc

 Hành vi hút thuốc lá tiếp tục ngay cả khi người nghiện biết rõ hay thậm chí là bị các tác hại do thuốc lá gây ra

THANG ĐIỂM FAGERSTROM CHẨN ĐOÁN MỨC ĐỘ NGHIỆN THỰC THỂ

1 Anh bắt đầu hút thuốc lá sau khi thức dậy vào buổi sáng bao lâu?

2 Anh có cảm thấy khó chịu khi phải nhịn hút ở nơi cấm hút thuốc lá?

3 Anh cảm thấy khó nhịn điếu thuốc nào nhất trong ngày?

- Điếu đầu tiên trong ngày 1 đ

- Không phải điếu đầu tiên 0 đ

4 Anh hút bao nhiêu điếu thuốc lá mỗi ngày?

5 Anh hút thuốc lá khi vừa thức dậy nhiều hơn thời điểm khác trong ngày?

6 Anh vẫn tiếp tục hút thuốc lá ngay cả khi có bệnh phải không?

THANG ĐIỂM FAGERSTROM THU GỌN 1/ Anh bắt đầu hút thuốc lá sau khi thức dậy vào buổi sáng bao lâu ?

2/ Anh hút bao nhiêu điếu thuốc lá mỗi ngày ?

- Lệ thuộc rượu: dùng nhiều rượu đến nỗi gây tác hại đến sức khỏe, thể chất, tinh thần có 3 dạng thường gặp:

1 Liên tục dùng lượng rượu nhiều

2 Chỉ dùng nhiều rượu vào cuối tuần hoặc có trục trặc trong công việc

3 Dùng rất nhiều rượu kéo dài vài ngày đến cả tuần xen kẽ với các giai đoạn không uống,

Lạm dụng rượu là việc sử dụng rượu một cách liên tục đến mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động cá nhân, dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào rượu Thuật ngữ này thường được áp dụng cho những người tiêu thụ rượu nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán lệ thuộc rượu.

1 Đã bao giờ anh cố gắng giảm lượng rượu anh đang dùng chưa?

2 Mọi người đã bao giờ kêu ca và chê trách anh vì uống chưa?

3 Đã bao giờ anh cảm thấy xấu hổ về việc anh uống rượu chưa?

4 Đã bao giờ dùng rượu khi vừa mới tỉnh dậy vào buổi sáng chưa?

Có ≥ 2 câu cần cai rượu

- Yếu tố giải phẫu: Một số người có thực quản ngắn, thoát vị hoành, u thực quản dễ mắc bệnh này

- Yếu tố gia đình: Một số gia đình có nhiều người cùng mắc bệnh trào ngược [2],[33]

Béo phì được xác định qua chỉ số BMI, với công thức tính là cân nặng chia cho bình phương chiều cao Những người có chỉ số BMI từ 25 trở lên thường có nguy cơ cao mắc bệnh GERD Theo tiêu chuẩn Châu Á năm 2000, ngưỡng BMI để chẩn đoán dư cân và béo phì là 25.

- Bệnh nhân có tăng bài tiết acid ở dạ dày [18],[32]

- Vai trò của Helicobacter pylori [32]

1.5.3 Bệnh sinh các tổn thương ở thực quản do trào ngược

TNDDTQ là một hiện tượng sinh lý bình thường, nhưng khi biểu mô thực quản tiếp xúc quá mức với các chất trào ngược từ dạ dày, nó có thể gây tổn thương niêm mạc hoặc xuất hiện các triệu chứng liên quan, từ đó được gọi là bệnh.

Mặc dù mật và men tuỵ có thể góp phần gây bệnh ở một số bệnh nhân, nhưng acid và pepsin là hai yếu tố gây tổn thương nghiêm trọng nhất.

Sinh lý bệnh của GERD rất phức tạp, liên quan đến sự mất thăng bằng giữa các yếu tố bảo vệ thực quản và các yếu tố tấn công từ dạ dày Các yếu tố bảo vệ bao gồm cơ thắt thực quản dưới, thoát vị khe hoành, và các cơ chế làm sạch trong lòng thực quản như trọng lượng, nhu động, và bicarbonate trong nước bọt Ngược lại, các yếu tố tấn công đến từ dịch dạ dày có tính acid, thể tích dạ dày, và các thành phần trong tá tràng.

- Yếu tố bảo vệ thực quản:

+ Giãn cơ thắt thực quản dưới thoáng qua

Cơ thắt thực quản dưới có cấu trúc gồm cơ trơn bên trong và cơ vân bên ngoài, tạo thành một lớp cơ dày và chắc chắn Vùng này có áp lực cao hơn áp lực trong dạ dày nhờ vào lớp niêm mạc dày, giúp ngăn chặn trào ngược từ dạ dày lên thực quản Tuy nhiên, khi cơ thắt suy yếu và giãn ra lâu dài không liên quan đến nuốt, dịch dạ dày có thể trào lên thực quản.

Thoát vị khe hoành xảy ra khi lỗ tâm hoành bao quanh cơ thắt thực quản dưới, giúp tăng cường chức năng của cơ thắt này như một gọng kìm Khi cơ hoành co lại, lỗ tâm hoành khép chặt hơn, ngăn ngừa tình trạng trào ngược khi có áp lực tăng trong ổ bụng do các hoạt động như ho hoặc hắt hơi Giảm trương lực cơ thắt có thể dẫn đến thoát vị khe hoành và hình thành túi dịch, từ đó thúc đẩy tình trạng trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) Thoát vị khe hoành cũng thường gặp trong các trường hợp viêm TNDDTQ và có thể làm giảm chức năng của cơ vòng thực quản dưới Tuy nhiên, không phải lúc nào thoát vị khe hoành cũng đồng nghĩa với việc bị TNDDTQ.

Van flap là cấu trúc được hình thành từ nếp cơ niêm mạc của thực quản, hướng vào trong dạ dày dọc theo bờ cong nhỏ Sự sắp xếp giải phẫu này giúp giảm góc His khi áp lực trong dạ dày hoặc áp lực bụng tăng lên, từ đó chèn ép phần dưới cơ hoành của thực quản và ngăn chặn hiện tượng trào ngược.

Khả năng thải trừ acid của thực quản có thể bị suy giảm, ảnh hưởng đến khoảng 30% trường hợp Sự suy giảm này thường xảy ra do giảm lượng nước bọt và nhu động thực quản, trong khi tư thế ngồi có thể làm tăng tốc độ trào ngược acid trở lại dạ dày Nhu động thực quản đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch acid, không chỉ khi đứng mà còn khi nằm Nhu động tiên phát, xuất hiện qua động tác nuốt, giúp đưa thức ăn xuống dạ dày nhanh chóng, trong khi nhu động thứ phát diễn ra tự nhiên và thường xuyên, không phụ thuộc vào việc nuốt, đảm bảo rằng thực quản vẫn được làm sạch ngay cả khi chúng ta đang ngủ.

Nước bọt đóng vai trò quan trọng trong việc trung hòa acid trào ngược, mặc dù nhu động thực quản giúp đẩy các chất trào ngược xuống dạ dày, vẫn có một lượng nhỏ acid bám lại trên thành thực quản Bicarbonate trong nước bọt giúp trung hòa acid này Khi nhu động thực quản bị rối loạn hoặc lượng nước bọt giảm, cơ chế thanh thải acid sẽ bị ảnh hưởng Các dữ kiện lâm sàng cho thấy rằng sự thải acid kéo dài liên quan đến mức độ nặng của viêm thực quản và sự hiện diện của dị sản Barrett.

- Yếu tố tấn công: Chất trong dạ dày

Sự chậm thoát thức ăn là nguyên nhân chính gây ra trào ngược, chiếm 40% các trường hợp, với acid và pepsin là hai chất quan trọng trong dạ dày gây ra tình trạng này Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng acid và pepsin là tác nhân chính gây viêm thực quản và tần suất trào ngược Tổn thương thực quản gia tăng khi pH giảm và thời gian trào ngược kéo dài, ảnh hưởng cả ngày lẫn đêm, dẫn đến tổn thương nghiêm trọng hơn.

BẢNG GERD Q TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Bộ câu hỏi GERD Q đã được Việt hóa bởi công ty Astra-Zeneca, đảm bảo giữ nguyên ý nghĩa của bảng gốc tiếng Anh thông qua phương pháp dịch ngược Nghiên cứu đa trung tâm Diamond đã xác nhận tính chính xác của bảng câu hỏi GERD này.

Nghiên cứu của John Dent và cộng sự, đăng trên tạp chí Scandinavian Journal of Gastroenterology năm 2008, đã sử dụng một bộ câu hỏi gồm 6 câu, trong đó có 4 câu về triệu chứng và 2 câu về tác động của bệnh đối với bệnh nhân Bộ câu hỏi này được bệnh nhân tự điền và bác sĩ kiểm tra lại Các câu trả lời được thiết kế theo thang điểm lựa chọn từ “không bao giờ” đến “4-7 ngày” Độ nhạy của GERD Q đạt 65% và độ đặc hiệu là 71% trong chẩn đoán GERD.

A Các triệu chứng khác biệt tùy theo từng người: Được cho điểm từ 0-3

1 Ông/ bà có thường cảm thấy bị nóng rát giữa ngực sau xương ức hay không (ợ nóng)?

2 Ông/ bà có thường bị ợ nước chua hay thức ăn từ dạ dày lên cổ họng hoặc miệng hay không (ợ chua)?

B Các triệu chứng khác biệt tùy theo từng người: Được cho điểm từ 3-0

1 Ông/ bà có thường bị đau ở giữa vùng bụng trên hay không?

2 Ông/ bà có thường bị buồn nôn hay không?

3 Câu hỏi về mức tác động: Được cho điểm từ 0-3

1 Ông/ bà có thường bị khó ngủ vào ban đêm do cảm giác nóng rát sau xương ức và/ hoặc ợ hay không?

2 Ông/ bà có thường phải uống thêm thuốc khác ngoài thuốc bác sĩ đã kê toa (chẳng hạn như Phosphalugel, Maalox) để trị chứng ợ nóng và/ hoặc ợ chua hay không?

Tổng điểm Điểm tác động Chẩn đoán Viêm trợt

Chẩn đoán GERD có nhiều phương pháp, trong đó đo pH 24 giờ được coi là hiệu quả nhất Tuy nhiên, phương pháp này khó thực hiện do yêu cầu trang thiết bị đắt tiền và không thể áp dụng cho nhiều bệnh nhân.

Chẩn đoán GERD hiện nay chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và các bảng câu hỏi như GIS và GERD Q Bảng GIS có cấu trúc câu hỏi phức tạp, trong khi bảng GERD Q dễ hiểu hơn, giúp thầy thuốc theo dõi hiệu quả và xác định rõ ràng thời gian chẩn đoán mà không gây nhầm lẫn.

Như vậy GERD Q là 1 công cụ đơn giản và đã được chứng minh hổ trợ giúp:

- Chẩn đoán GERD chính xác

- Đánh giá tác động của triệu chứng

- Theo dõi đáp ứng điều trị

Tiên đoán viêm trợt và tăng tiết acid bất thường thông qua tổng số điểm triệu chứng lâm sàng và ảnh hưởng của các triệu chứng đến cuộc sống hàng ngày là rất quan trọng GERD Q hỗ trợ bác sĩ xác định mức độ nặng nhẹ của GERD, từ đó quyết định phương thức điều trị phù hợp cho bệnh nhân Sau khi điều trị, việc đánh giá lại để xem bệnh có đáp ứng với phương pháp điều trị hay không cũng rất cần thiết.

Những nghiên cứu trong và ngoài nước về áp dụng bảng GERD Q trong chẩn đoán và theo dõi điều trị: a Nước ngoài:

Nghiên cứu của Marcellus Simadibrata và cộng sự trên 40 bệnh nhân nội soi có viêm thực quản cho thấy GERD Q, được sử dụng bằng ngôn ngữ Indonesia, có thể chẩn đoán GERD dựa vào các triệu chứng.

Nghiên cứu của Jonasson C và cộng sự trên 344 bệnh nhân cho thấy việc chẩn đoán GERD dựa vào triệu chứng qua GERD Q, sau khi loại trừ các triệu chứng báo động, không chỉ giúp giảm chi phí thuốc điều trị mà còn duy trì hiệu quả tốt GERD Q có thể trở thành một công cụ hữu ích cho các thầy thuốc trong việc chăm sóc bệnh nhân.

Nghiên cứu của Quách Trọng Đức và Hồ Xuân Linh (2012) trên 201 bệnh nhân cho thấy GERD Q có khả năng hỗ trợ chẩn đoán bệnh TNDDTQ hiệu quả tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Giá trị điểm cắt để chẩn đoán bệnh TNDDTQ được xác định là 6, trong khi đó, điểm GERD Q ≥ 9 có thể giúp định hướng chỉ định nội soi để đánh giá mức độ viêm TNDDTQ.

Nghiên cứu của Bồ Kim Phượng và Đào Văn Long trên 104 bệnh nhân cho thấy viêm thực quản qua nội soi có độ đặc hiệu cao từ 90-95% cho bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), nhưng độ nhạy chỉ khoảng 50% Điều này cho phép các bác sĩ sử dụng bảng GERDQ để theo dõi tình trạng bệnh nhân viêm thực quản tại những cơ sở chưa có máy nội soi hoặc ở các phòng khám tư.

Nghiên cứu cho thấy GERD Q là công cụ hữu ích trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi chất lượng sống của bệnh nhân Gần đây, bảng GERD Q đã được áp dụng rộng rãi tại một số bệnh viện ở Việt Nam, tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu xác định vai trò và giá trị của nó trong thực hành lâm sàng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Gồm 50 bệnh nhân đến khám tại khoa Nội soi Bệnh Viện Tai Mũi Họng Trung Ương và bệnh viên Đại học y Hà Nội được chẩn đoán là GERD từ tháng 01/2014 – 08/2014

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân có triệu chứng nóng rát vùng thượng vị sau xương ức hoặc vùng ngực, kèm theo hoặc không kèm theo ợ chua, kéo dài từ 2 ngày trở lên trong tuần trước.

- Những bệnh nhân có các triệu chứng ở tai mũi họng nghi ngờ do nguyên nhân trào ngược dạ dày thực quản

- Được điền đầy đủ vào bộ câu hỏi GERD Q

- Được bác sĩ đánh giá vào bảng điểm bộ câu hỏi GERD Q

- Kết quả đánh giá ≥ 8 điểm

- Được nội soi thực quản

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bệnh nhân có một trong các chống chỉ định[48]:

*Các bệnh lý ở thực quản có nguy cơ làm thủng thực quản do hóa chất và thuốc gây hẹp thực quản

* Phồng dãn động mạch chủ

* Khó thở do bất cứ nguyên nhân gì

* Cổ chướng to, bụng chướng hơi nhiều

- Đã được chẩn đoán GERD trước đó và có can thiệp nội soi và hoặc phẫu thuật

- Đã phẫu thuật ở thực quản

- Có kèm theo 1 bệnh lý khác của thực quản

- Loét dạ dày, loét hành tá tràng

- Trào ngược DD-TQ do các nguyên nhân thực thể (tắc ruột cao, u dạ dày, hẹp môn vị)

- Có dùng kháng viêm trong vòng 7 ngày trước

- Bệnh nhân không hợp tác.

PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Áp dụng phương pháp mô tả từng trường hợp cắt ngang, ứng dụng khảo sát điều tra bộ câu hỏi GERDQ

Tất cả các bệnh nhân nằm trong nhóm nghiên cứu được thực hiện theo thứ tự các bước như sau:

Bước 1: Phỏng vấn tất cả bệnh nhân trong tiêu chuẩn

Bệnh nhân tự điền vào bảng câu hỏi GERD Q, và sau khi hoàn thành, tổng điểm và điểm tác động sẽ được tính dựa trên các câu trả lời của họ.

Trong phỏng vấn theo mẫu bệnh án nghiên cứu, các triệu chứng cơ năng được ghi nhận bao gồm ợ chua, nóng rát vùng thượng vị sau xương ức, buồn nôn, khó nuốt, nuốt nghẹn, khàn tiếng và ho Ngoài ra, thông tin về nghề nghiệp, địa chỉ, tiền sử bệnh, thói quen hút thuốc lá và uống rượu, bia cũng được thu thập.

- Bệnh nhân được đo chiều cao và cân nặng, tính BMI

Bước 2: Nội soi Tai Mũi Họng

 Chuẩn bị và kiểm tra máy nội soi

 Chuẩn bị bệnh nhân (giải thích cho bênh nhân những khó chịu và sự hợp tác của bệnh nhân khi soi)

 Tiến hành soi cho bệnh nhân

 Ghi kết quả soi vào phiếu nội soi và bệnh án mẫu

Bước 3: Nội soi thực quản– dạ dày– tá tràng

* Chuẩn bị và kiểm tra máy nội soi

- Tất cả những bệnh nhân nội soi đều được nhịn ăn từ đêm trước khi nội soi tức khoảng 10-12 giờ

- Giải thích rõ về những khó chịu khi nội soi và những vấn đề cần sự hợp tác của người bệnh

- Gây tê vùng họng cho bệnh nhân bằng Xylocain 6% dạng spray trong vòng 3-5 phút

- Tư thế: Nằm nghiêng trái, tay phải để xuôi theo thân người, tay trái ôm bụng, chân phải co, chân trái duỗi

- Đặt ống hình Ovan nhựa vào giữa 2 cung răng cho bệnh nhân ngậm chặt để không làm hư máy

Tiến hành nội soi bao gồm việc đưa ống soi qua họng vào thực quản, bơm hơi và quan sát niêm mạc thực quản từ trên xuống dưới Quá trình này dừng lại tại điểm nối dạ dày thực quản (đường Z) để kiểm tra các tổn thương như viêm trợt, nấm, loét và Barrett thực quản Sau khi hoàn tất, ống soi sẽ được rút ra và tổn thương sẽ được quan sát lại.

Sau khi hoàn tất quá trình nội soi, cần ghi chép kết quả vào bệnh án nghiên cứu, bao gồm thông tin về dịch trào ngược, tổn thương thực quản theo phân độ LA, cũng như các biến chứng như Barrett, hẹp và loét nếu có.

Sau khi có kết quả nội soi thì tiến hành điều trị

Bước 4: Đối chiếu tổn thương ở thực quản với bảng điểm GERD Q

2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu

- Triệu chứng cơ năng: Nóng rát vùng thượng vị sau xương ức, ợ chua, khó ngủ, đau thượng vị, buồn nôn, ho khi nằm, đau rát họng, ợ hơi

- Tính điểm bảng GERD Q của bác sĩ và bệnh nhân

- Các tổn thương của tai, mũi, họng

- Triệu chứng thực thể: Nội soi DD-TQ được đánh giá tổn thương thực quản do trào ngược theo phân loại Los Angeles 1999:

+ Độ A: có một hoặc nhiều tổn thương không kéo dài quá 5 mm, không kéo dài giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc

+ Độ B: có một hoặc nhiều tổn thương kéo dài quá 5 mm, không kéo dài giữa 2 đỉnh nếp niêm mạc

+ Độ C: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc nối liền giữa 2 đỉnh của 2 hay nhiều nếp niêm mạc nhưng không xâm phạm quá 75 % chu vi ống thực quản

+ Độ D: có một hoặc nhiều tổn thương niêm mạc xâm phạm quá 75 % chu vi ống thực quản

- Đối chiếu các tổn thương thực quản với bảng điểm GERD Q ở từng bệnh nhân

Khoa Nội soi, Bệnh viện TMH Trung Ương: Địa chỉ 78 Giải phóng, Đống Đa, Hà Nội

Khoa Quốc tế, Bệnh viên Đại học Y Hà Nội: Địa chỉ 01 Tôn Thất Tùng, Trung Tự, Hà Nội

Thời gian nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 8 năm 2014

Bộ dụng cụ nội soi tai mũi họng bao gồm: Nguồn sáng, dây dẫn sáng, camera, màn hình, bộ xử lý chụp ảnh, optique 0 0, 70 0

Bộ dụng cụ nội soi dạ dày thực quản bao gồm máy nội soi ống mềm thẳng V70 của hãng Olympus, Fujinon 440, cùng với hệ thống camera kết nối máy vi tính để lưu trữ hình ảnh tổn thương đại thể.

Thuốc gây tê họng: Lidocain 10% dạng spray

Cân bàn nhỏ, thước đo

Các bệnh nhân trong đối tượng nghiên cứu đều được giải thích rõ ràng và đồng ý hợp tác nghiên cứu Các thông tin được khai thác trung thực.

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Nghiên cứu các số liệu thu thập được lập mối liên quan, tương quan thành các bảng biểu theo mục tiêu đề tài

Xử lý, kiểm định các số liệu theo chương trình SPSS 16

Có triệu chứng nóng rát ≥ 2 ngày /tuần và hoặc kèm ợ chua Đánh giá theo bảng GERD Q

Nội soi TQ-DD Không nội soi

Có tổn thương Không tổn thương Độ A,B Độ C,D

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM CHUNG

- Tuổi trung bình của nghiên cứu là 42.74 ± 12.9

- Gặp nhiều ở nhóm tuổi 30-39 chiếm tới 30%

- Ít gặp ở nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 10%

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới

- BN nam có 27/50 chiếm tỷ lệ 54%

- BN nữ có 23/50 chiếm tỷ lệ 46%

- Số BN nam và BN nữ là gần như nhau

- p = 0.672 cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ

Bảng 3.2 Phân bố nghề nghiệp

Nghề nghiệp Kết quả Tỷ lệ %

- Cao nhất là nhóm công chức viên chức có 19 BN

- Tiếp theo là nhóm nông dân có 14 BN

- Hai nhóm nghề nghiệp buôn bán và nhóm khác có số BN gần bằng nhau là 8 và 9 BN

- Không có sự khác biệt về nghề nghiệp giữa các BN (p > 0.05)

3.1.4 Các yếu tố nguy cơ;

3.1.4.1 Phân bố chỉ số khối cơ thể:

Công thức tính BMI: BMI = cân nặng / (chiều cao * chiều cao)

- Chủ yếu nhóm cân nặng bình thường có 35/50 BN chiếm 70%

- Nhóm thừa cân có 10/50 BN chiếm 20%

- Béo phì chỉ gặp 3/50 BN chiếm 6%

- Thấp nhất nhóm thiếu cân có 2/50 BN chiếm 4%

- Sự khác biệt về cân nặng có ý nghĩa thống kê với p < 0.05

3.1.4.2 Yếu tố nguy cơ uống rượu

Bảng 3.4 Nguy cơ uống rượu n Tỷ lệ %

Nhận xét: BN uống rượu là 17/50 chiếm 34% thấp hơn BN không uống rượu là 33/50 chiếm 66%, với p = 0.007 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

3.1.4.3 Yếu tố nguy cơ hút thuốc lá

Bảng 3.5 Nguy cơ hút thuốc lá

Nhận xét: Có 15/50 BN hút thuốc chiếm 30%, có 35 BN không hút thuốc chiếm 70% (p = 0.017) có ý nghĩa thống kê

3.1.4.4 Phân bố các yếu tố nghuy cơ

Bảng 3.6 Phân bố các yếu tố nguy cơ (N = 50)

BMI Uống rượu Hút thuốc n 13 17 15

*BMI chỉ ghi nhận thừa cân và béo phì

- Có 17/50 BN uống rượu chiếm tỷ lệ cao nhất 34%

- Thấp hơn có 15/50 BN hút thuốc chiếm 30%

- Thấp nhất có 13/50 BN thừa cân và béo phì chiếm 26%

3.1.5 Thời gian mắc bệnh

Biểu đồ 3.2 Phân bố thời gian mắc bệnh (N = 50)

- Trong 50 BN đến khám có 22 BN thời gian mắc bệnh < 1 năm chiếm 44%

- Có 19/50 BN thời gian mắc bệnh 1-5 năm chiếm 38%

- Có 9/50 BN thời gian mắc bệnh > 5 năm chiếm 18 %

3.1.6 Các triệu chứng cơ năng

Bảng 3.7 Các triệu chứng cơ năng

Nóng rát 50 100 0.05

Nhận xét: Trong nghiên cứu này thấy có liên quan của triệu chứng cơ năng nóng rát và khó ngủ với tổn thương thực quản

Bảng 3.16 Đối chiếu tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng khác

Triệu chứng Tổn thương Không tổn thương p

Ho, khó thở 30 3 >0.05 Đau ngực 9 3 >0.05

Nghiên cứu này chỉ ra mối liên hệ giữa triệu chứng khàn tiếng và nuốt khó với tổn thương thực quản Hình ảnh 3.3 minh họa hạ họng thanh quản của bệnh nhân mắc GERD nặng.

Mã bệnh nhân: 14-540559 b Đối chiếu mức độ tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng

Bảng 3.17 Đối chiếu mức độ tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng trong bảng GERD Q (N = 50)

Triệu chứng Độ O Độ A Độ B Độ C Độ D p

Nóng rát 5 23 6 6 10 >0.05 Ợ chua 4 16 4 4 6 >0.05 Đau thượng vị 5 9 4 5 4 >0.05

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi không thấy có liên quan của triệu chứng cơ năng trong bảng GERD Q với mức độ tổn thương thực quản

Bảng 3.18 Đối chiếu mức độ tổn thương thực quản với triệu chứng cơ năng khác (N = 50)

Triệu chứng Độ O Độ A Độ B Độ C Độ D p

Nhận xét: Ở bảng trên không thấy có liên quan của các triệu chứng cơ năng như khàn tiếng, nuốt khó, đau ngực với mức độ tổn thương thực quản

3.3 ĐỐI CHIẾU GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ HÌNH ẢNH NỘI SOI Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY – THỰC QUẢN

Bảng 3.19 Đối chiếu điểm GERD Q và hình ảnh nội soi

Tổng điểm GERD Q n Tỷ lệ %

Hình ảnh nội soi Độ 0 3 2 5 10 Độ A 22 1 23 46 Độ B 5 1 6 12 Độ C 3 3 6 12 Độ D 8 2 10 20

- Tổn thương thực quản độ A có 23/50 BN, trong đó 22 BN có điểm

GERD Q = 8-10 chiếm 46% và 1 BN có điểm GERD Q ≥11 chiếm 2%

- Tổn thương thực quản độ B có 5/50 BN có điểm GERD Q = 8-10 chiếm 10%, 1/50 BN có điểm GERD Q ≥11 chiếm 2%

- Tổn thương thực quản độ C có 3/50 BN ở cả điểm GERD Q = 8-10 và ≥11 chiếm 6% mỗi trường hợp

- Tổn thương thực quản độ D có 8/50 BN có điểm GERD Q = 8-10 chiếm 16%, 2/50 BN có điểm GERD Q ≥11 chiếm 4%

- Có 5/50 BN không có tổn thương thực quản chiếm 10 % trong đó có 3

BN điểm GERD Q = 8-10 và 2 BN điểm GERD Q ≥11

- Với p > 0.05 ta thấy điểm GERD Q và hình ảnh nội soi không có sự khác biệt

Bảng 3.20 Đối chiếu điểm GERD Q với tổn thương thực quản Điểm GERD Q n Tỷ lệ 8-10 ≥11 %

- Với tổng điểm GERD Q = 8-10 bị tổn thương thực quản có 38/50 BN chiếm 76% và 3/50 BN không tổn thương thực quản chiếm 6%

- Với tổng điểm GERD Q ≥11 có 7/50 BN có tổn thương thực quản, 2/50 BN không tổn thương thực quản

- Với p < 0.05 có sự khác biệt giữa điểm GERD Q với tổn thương thực quản

Bảng 3.21 Đối chiếu tổn thương thực quản với điểm tác động GERD Q

Phân loại điểm tác động

- Điểm tác động < 3 có 37/50 BN trong đó tổn thương có 34/50 BN chiếm 68%, không tổn thương có 3/50 BN chiếm 6%

- Điểm tác động ≥3 có 13/50 BN trong đó tổn thương có 11/50 BN chiếm 22%, không tổn thương có 2/50 BN chiếm 4%

- Với p = 0.033 tổn thương thực quản có sự khác biệt giữa điểm tác động < 3 và ≥3

3.4 MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Bảng 3.22 Một số yếu tố liên quan đến tổng điểm GERD Q

Yếu tố liên quan Tổng điểm GERD Q p

Nhận xét: Trong nghiên cứu này thấy có liên quan của yếu tố nguy cơ

BMI và uống rượu với tổng điểm GERDQ

3.5 MỐI LIÊN QUAN CỦA LOÉT THỰC QUẢN VỚI MỘT SỐ YẾU

TỐ NGUY CƠ GÂY TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Bảng 3.23 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tổn thương thực quản

Yếu tố liên quan Tổn thương thực quản

Uống rượu Có uống rượu 16 1

Hút thuốc lá Có hút thuốc 14 1

Nhận xét: Trong nghiên cứu này thấy có liên quan của yếu tố nguy cơ

BMI và uống rượu với tổn thương loét thực quản.

MỐI LIÊN QUAN GIỮA ĐIỂM GERD Q VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

Bảng 3.22 Một số yếu tố liên quan đến tổng điểm GERD Q

Yếu tố liên quan Tổng điểm GERD Q p

Nhận xét: Trong nghiên cứu này thấy có liên quan của yếu tố nguy cơ

BMI và uống rượu với tổng điểm GERDQ

3.5 MỐI LIÊN QUAN CỦA LOÉT THỰC QUẢN VỚI MỘT SỐ YẾU

TỐ NGUY CƠ GÂY TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Bảng 3.23 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tổn thương thực quản

Yếu tố liên quan Tổn thương thực quản

Uống rượu Có uống rượu 16 1

Hút thuốc lá Có hút thuốc 14 1

Nhận xét: Trong nghiên cứu này thấy có liên quan của yếu tố nguy cơ

BMI và uống rượu với tổn thương loét thực quản.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 05/07/2023, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thanh Tùng, Võ Lâm Phước, Nguyễn Tư Thế (2009). Bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, Trường Đại học Y Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản
Tác giả: Lê Thanh Tùng, Võ Lâm Phước, Nguyễn Tư Thế
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Huế
Năm: 2009
2. Bồ Kim Phượng (2011). Nghiên cứu ứng dụng bảng GERD Q trong chẩn đoán và theo dõi đáp ứng điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản, Luận án bác sĩ CKII, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng bảng GERD Q trong chẩn đoán và theo dõi đáp ứng điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản
Tác giả: Bồ Kim Phượng
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
3. Muramatsu A, Azuma T, Okajima T et al (2004). Evaluation of treatment for gastro-oesophageal reflux disease with a proton pump inhibitor, and relationship between gastro-oesophageal relux disease and Helicobacter pylori infection in Japan. Aliment Pharmacol Ther, 102(6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of treatment for gastro-oesophageal reflux disease with a proton pump inhibitor, and relationship between gastro-oesophageal relux disease and Helicobacter pylori infection in Japan
Tác giả: Muramatsu A, Azuma T, Okajima T
Nhà XB: Aliment Pharmacol Ther
Năm: 2004
4. Peter J, Kahrilas M.D (2008). Gastroesophageal Reflux Disease. The New England Journal of Medicine, 359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gastroesophageal Reflux Disease
Tác giả: Peter J, Kahrilas M.D
Nhà XB: The New England Journal of Medicine
Năm: 2008
5. Prateek S, William C, Richard H et al (2009). Endoscopy of the esophagus in gastroesophageal reflux disease: are we losing sight of symptoms? Another perspective. Diseases of the Esophagus, 22(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endoscopy of the esophagus in gastroesophageal reflux disease: are we losing sight of symptoms? Another perspective
Tác giả: Prateek S, William C, Richard H
Nhà XB: Diseases of the Esophagus
Năm: 2009
6. Berthold B, Guido S Hartmut S et al (2004). A Training Manual: Endoscopy of the Upper GI Tract, Stuttgart , New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Training Manual: Endoscopy of the Upper GI Tract
Tác giả: Berthold B, Guido S, Hartmut S
Nhà XB: Stuttgart
Năm: 2004
7. David R, Brooks D, Raquel D et al. 2007 Role of endoscopy in the management of GERD. gastrointestinal endoscopy, 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of endoscopy in the management of GERD
Tác giả: David R, Brooks D, Raquel D
Nhà XB: gastrointestinal endoscopy
Năm: 2007
8. Kenneth R DeVault, Donald O (2005). Update Guidelines for the Diagnosis and Treatment of Gastroesophageal Reflux Disease. Am J Gastroenterol, 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Update Guidelines for the Diagnosis and Treatment of Gastroesophageal Reflux Disease
Tác giả: Kenneth R DeVault, Donald O
Nhà XB: Am J Gastroenterol
Năm: 2005
9. Lê Văn Dũng (2001). Nhận xét hình ảnh nội soi - mô bệnh học thực quản ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng trào ngược dạ dày - thực quản, Luận văn thạc sỹ y học, Trường ĐH Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét hình ảnh nội soi - mô bệnh học thực quản ở những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng trào ngược dạ dày - thực quản
Tác giả: Lê Văn Dũng
Nhà XB: Trường ĐH Y Hà Nội
Năm: 2001
10. Quách Trọng Đức (2013). Bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở Việt Nam: Một số đặc điểm dịch tễ học và các thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Tạp chí khoa học tiêu hóa Việt Nam, 33(8), 2158-2159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh trào ngược dạ dày thực quản ở Việt Nam: Một số đặc điểm dịch tễ học và các thách thức trong chẩn đoán và điều trị
Tác giả: Quách Trọng Đức
Nhà XB: Tạp chí khoa học tiêu hóa Việt Nam
Năm: 2013
11. Ngô Ngọc Liễn (2009). Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) trong tai mũi họng. Tạp chí Tai Mũi Họng Hà Nội, 2&amp;3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trào ngược dạ dày thực quản (GERD) trong tai mũi họng
Tác giả: Ngô Ngọc Liễn
Nhà XB: Tạp chí Tai Mũi Họng Hà Nội
Năm: 2009
12. Quách Trọng Đức, Hồ Xuân Linh (2012). Giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán các trường hợp bệnh trào ngược dạ dày thực quản có hội chứng thực quản. Tạp Chí Y Học Hồ Chí Minh, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán các trường hợp bệnh trào ngược dạ dày thực quản có hội chứng thực quản
Tác giả: Quách Trọng Đức, Hồ Xuân Linh
Nhà XB: Tạp Chí Y Học Hồ Chí Minh
Năm: 2012
13. Quách Trọng Đức, Phan Thanh Hương (2012). Khảo sát ý kiến về các phương pháp chẩn đoán hiện tại và giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày - thực quản. Tạp chí Y học Hồ Chí Minh, 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ý kiến về các phương pháp chẩn đoán hiện tại và giá trị của bộ câu hỏi GERD Q trong chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày - thực quản
Tác giả: Quách Trọng Đức, Phan Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí Y học Hồ Chí Minh
Năm: 2012
14. Nguyễn Tuấn Đức (2008). Nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh nội soi TMH trong bệnh trào ngược DD-TQ ở người lớn. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh nội soi TMH trong bệnh trào ngược DD-TQ ở người lớn
Tác giả: Nguyễn Tuấn Đức
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2008
15. AnnL.Edmunds (2007). Reflux Laryngitis &lt; http://emedicine.medscape. com /article/864864&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reflux Laryngitis
Tác giả: Ann L. Edmunds
Năm: 2007
16. Đào Văn Long (2009). Những tiến bộ trong chẩn đóan và điều trị GERD. Hội thảo khoa học tại ĐBSCL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiến bộ trong chẩn đóan và điều trị GERD
Tác giả: Đào Văn Long
Nhà XB: Hội thảo khoa học tại ĐBSCL
Năm: 2009
17. ChangchengW, Richard H. Hunt et al (2008). Medical Management of Gastroesophageal Reflux Disease. Gastroenterol Clin N Am, 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical Management of Gastroesophageal Reflux Disease
Tác giả: ChangchengW, Richard H. Hunt
Nhà XB: Gastroenterol Clin N Am
Năm: 2008
18. Marc N, Joachim L, Daniel J et al (2007). Association of body mass index with heartburn, regurgitation and esophagitis: Results of the Progression of stroesophageal Reflux Disease study. Gastroenterology and Hepatology, 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association of body mass index with heartburn, regurgitation and esophagitis: Results of the Progression of stroesophageal Reflux Disease study
Tác giả: Marc N, Joachim L, Daniel J
Nhà XB: Gastroenterology and Hepatology
Năm: 2007
19. Richter Joel E (2009). Gastroesophageal reflux disease, Text book of Gastroenterology edited by Tadataka Yamada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Text book of Gastroenterology
Tác giả: Richter Joel E
Nhà XB: Tadataka Yamada
Năm: 2009
20. Furukawa N, Ryuichi I et al (1999). Proportion of reflux esophagitis in 6010 Japanese adults:prospective evaluation by endoscopy. J Gastroenterol, 34, 441-444 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proportion of reflux esophagitis in 6010 Japanese adults:prospective evaluation by endoscopy
Tác giả: Furukawa N, Ryuichi I
Nhà XB: J Gastroenterol
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w