1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Các câu hỏi ôn tập môn chiến lược kinh doanh quốc tế

12 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các câu hỏi ôn tập môn chiến lược kinh doanh quốc tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Chiến lược kinh doanh quốc tế
Thể loại Sách ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 44,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý thuyết phối hợp cấu trúc của M. Porter trong kinnh doanh quốc tế được phát biểu như thế nào? 1 2. Theo lý thuyết phản hồi – hội nhập của Prahalad và Doz, doanh nghiệp sẽ lựa chọn CLKDQT nào nếu hoạt động sản xuất toàn cầu yêu cầu sự tích hợp cao và áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương thấp? 2 3. Theo khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut khi doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh trong nước thì doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công ở nước ngoài không? 2 4. Theo khung phối hợp – cấu trúc của M. Porter, chiến lược và phương thức KDQT nào được thực hiện khi thị trường toàn cầu phân tán nhưng doanh nghiệp yêu cầu sự phối hợp cao các SBUs (đơn vị kinh doanh chiến lược)? 3 5. Mô hình viên kim cương cạnh tranh của M. Porter được phát biểu như thế nào? 3 6. Khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut được phát biểu như thế nào? 6

Trang 1

CÁC CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ

Contents

DẠNG CÂU HỎI SỐ 1

1 Lý thuyết phối hợp cấu trúc của M Porter trong kinnh doanh quốc tế được phát biểu như thế nào?

2 Theo lý thuyết phản hồi – hội nhập của Prahalad và Doz, doanh nghiệp sẽ lựa chọn CLKDQT nào nếu hoạt động sản xuất toàn cầu yêu cầu sự tích hợp cao và áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương thấp?

3 Theo khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut khi doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh trong nước thì doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công ở nước ngoài không?

4 Theo khung phối hợp – cấu trúc của M Porter, chiến lược và phương thức KDQT nào được thực hiện khi thị trường toàn cầu phân tán nhưng doanh nghiệp yêu cầu sự phối hợp cao các SBUs (đơn vị kinh doanh chiến lược)?

5 Mô hình viên kim cương cạnh tranh của M Porter được phát biểu như thế nào?

6 Khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut được phát biểu như thế nào?

DẠNG CÂU HỎI SỐ 2

1 Có quan điểm cho rằng: “Các tập đoàn KDQT ngày nay nên dựa trên giá trị đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Bạn hãy đánh giá về quan điểm này?

2 Hãy phân tích mối liên hệ giữa giá trị thông tin và quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp?

3 So sánh sự khác nhau trong kiểm soát CLKDQT giữa quan điểm tiếp cận hiện đại và quan điểm truyền thống?

4 Có quan điểm cho rằng: “Các tập đoàn KDQT ngày nay để thành công trên thị trường cần đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Bạn hãy đánh giá về quan điểm này?

5 Hãy trình bày quan điểm tiếp cận hiện đại trong kiểm soát chiến lược của công ty?

6 Vận dụng lý thuyết phối hợp cấu trúc của Porter để phân tích sự dịch cuyển của FDI của các tập đoàn lớn (Samsung, Foxcom…) từ các nước khác vào Việt Nam

7 Có quan điểm cho rằng môi trường bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư quốc tế của công ty Anh chị hãy nêu ý kiến của mình đối với nhận định trên

DẠNG CÂU HỎI SỐ 3

DẠNG CÂU HỎI SỐ 1

1 Lý thuyết phối hợp cấu trúc của M Porter trong kinnh doanh quốc tế được phát biểu như thế nào?

- Porter (1986) phát triển một khuôn khổ để giải quyết cách thức có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trong chuỗi giá trị của họ thông qua hai khía cạnh: configuration và coordi-nation

- Global configuration đề cập đến việc các hoạt động trong chuỗi giá trị được đặt ở đâu và

ở bao nhiêu nơi trên toàn thế giới Global coordination đề cập đến cách thức và mức độ các hoạt động chuỗi giá trị tương tự được phối hợp với nhau giữa các quốc gia để tối đa hóa lợi thế cạnh tranh

- Hình miêu ta bốn chiến lược toàn cầu Chiến lược toàn cầu “thuần túy nhất” là tập trung các hoạt động của chuỗi giá trị vào một quốc gia và phục vụ thế giới từ chính nơi này

* Khung điều phối hợp tác của Porter có thể được áp dụng trong các lĩnh vực sau đây của chiến lược hoạt động toàn cầu:

Trang 2

- Sản xuất toàn cầu: Các vấn đề chính của nó bao gồm vị trí của các cơ sở sản xuất cho các thành phần và sản phẩm cuối cùng, trong khi các vấn đề phối hợp của nó bao gồm mạng lưới các nhà máy quốc tế, chuyển giao công nghệ quy trình và sản xuất bí quyết giữa các nhà máy

- Dịch vụ toàn cầu: Các vấn đề liên quan đến định lượng bao gồm vị trí của tổ chức dịch

vụ, trong khi các vấn đề phối hợp bao gồm sự giống nhau của dịch vụ, tiêu chuẩn dịch vụ

và thủ tục trên toàn thế giới

- Phát triển công nghệ toàn cầu: Các vấn đề về định lượng bao gồm số lượng và vị trí của các trung tâm R & D, trong khi các vấn đề phối hợp bao gồm việc thay đổi giữa các trung tâm R & D phân tán, phát triển sản phẩm để đáp ứng với địa phương thị trường và trình tự giới thiệu sản phẩm trên thế giới

2 Theo lý thuyết phản hồi – hội nhập của Prahalad và Doz, doanh nghiệp sẽ lựa chọn CLKDQT nào nếu hoạt động sản xuất toàn cầu yêu cầu sự tích hợp cao và áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương thấp?

- Global integration chiến lược này sẽ được áp dụng để làm nổi bật sự phối hợp toàn cầu Roth và Morrison (1990) chỉ ra rằng chiến lược này được đặc trưng bởi sự cạnh tranh gay gắt với đối thủ cạnh tranh trong nước và toàn cầu

- Khả năng đáp ứng yêu cầu địa phương(Local responsive): trong chiến lược này, khả năng đáp ứng của địa phương sẽ được nhấn mạnh nếu áp lực của ngành chủ yếu được nhận thức ở cấp trong nước Roth và Morrison (1990) mô tả chiến lược này bằng mức độ cao của dịch vụ khách hàng cần thiết và chi phí nhân tố thay đổi giữa các địa điểm

- Đa điểm (multifocal): Khi cả khả năng đáp ứng của địa phương và hội nhập toàn cầu được coi là quan trọng, một chiến lược đa điểm sẽ được sử dụng để đáp ứng cả 2 chiều.Mặc dù chiến lược này được đặc trưng bởi sự hợp tác gay gắt và sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh toàn cầu, nhưng ít sản phẩmtiêu chuẩn hóa tồn tại

 Theo lý thuyết phản hồi – hội nhập của Prahalad và Doz, nếu hoạt động sản xuất toàn cầu yêu cầu sự tích hợp cao và áp lực đáp ứng yêu cầu địa phương thấp thì DN sẽ lựa chọn chiến lược Global integration

3 Theo khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut khi doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh trong nước thì doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công ở nước ngoài không?

- Kogut (1985) nghiên cứu sự khác biệt giữa lợi thế so sánh theo vị trí và lợi thế cạnh tranh

và đưa ra một khái niệm chính về “lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh”, đặc biệt hữu ích trong các hoạt động toàn cầu, bao gồm cả chuỗi giá trị toàn cầu

- Kogut cho rằng việc thiết kế các chiến lược toàn cầu dựa trên “tác động qua lại giữa lợi thế so sánh của các quốc gia và lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”

- Ba phương thức cạnh tranh toàn cầu của Kogut:

+ Phương thức cạnh tranh (I) chủ yếu liên quan đến lợi thế so sánh giữa các quốc gia

Trang 3

+ Phương thức cạnh tranh II dựa trên sự khác biệt trong chuỗi lợi thế so sánh giữa các quốc gia

+ Phương thức cạnh tranh III có liên quan đến tác động qua lại giữa cạnh tranh và lợi thế

so sánh theo chuỗi giá trị gia tăng

 Theo khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut thì khi doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh ở trong nước thì doanh nghiệp có thể kinh doanh thành công ở nước ngoài

4 Theo khung phối hợp – cấu trúc của M Porter, chiến lược và phương thức KDQT nào được thực hiện khi thị trường toàn cầu phân tán nhưng doanh nghiệp yêu cầu

sự phối hợp cao các SBUs (đơn vị kinh doanh chiến lược)?

- Theo khung phối hợp – cấu trúc của M Porter, chiến lược và phương thức KDQT được thực hiện khi thị trường toàn cầu phân tán nhưng DN yêu cầu sự phối hợp cao các SBUs

là chiến lược Global configuration

5 Mô hình viên kim cương cạnh tranh của M Porter được phát biểu như thế nào?

Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó Những thuộc tính đó là:

- Thành phần 1 – Factor endowments – Những điều kiện về nhân tố sản xuất: Vị thế của

quốc gia theo những yếu tố sản xuất như lao động có kỹ năng, cơ sở hạ tầng … cần thiết

để cạnh trannh cho các ngành

- Thành phần thứ 2 – Demand conditions – Những điều kiện về nhu cầu: đặc trưng của nhu cầu thị trường đối với những sản phẩm hay dịch vụ

- Thành phần thứ 3 – Related and Supporting Industries – Những ngành phụ trợ và liên quan: sự có hay thiếu của những nhà cung cấp, những nhà thầu phụ để gia tăng cạnh tranh quốc tế cho các doanh nghiệp của quốc gia

- Thành phần thứ 4 – Firm Strategy, Structure, and Rivalry – Những đặc trưng về cạnh tranh, cấu trúc, chiến lược công ty địa phương – những điều kiện mà trong đó các doanh nghiệp của quốc gia sáng tạo, quản lý, tổ chức như thế nào cũng như đặc trưng của các đối thủ cạnh tranh nội địa

Ví dụ: Phân tích lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam theo mô hình Porter.

a Thành phần 1 – Những điều kiện về nhân tố sản xuất

- Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây, phía Đông giáp biển Đông Việt Nam có diện tích 330,212 km2 Việt Nam có nhiều vùng có đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho việc phát triển nông sản Việt Nam có bờ biển dài thuận lợi cho giao thông và chuyên chở đường biển, thuận lợi cho xuất khẩu nông sản ra nước ngoài

Trang 4

- Đất đai của Việt Nam mình thì rất phì nhiêu, màu mỡ những yếu tố này có ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng Và Việt Nam là mội nơi rất thích hợp cho việc phát triển nông sản

- Việt Nam là nước có lao động chiếm tỷ lệ cao Thu nhập bình quân đầu người thấp, giá nhân công rẻ Điều này làm cho các sản phẩm nông sản Việt Nam có giá thành thấp, tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

- Hiện nay thì Việt Nam có nhiều viện nghiên cứu, ngoài ra còn có các trường Đại học như Đại học Nông lâm Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, … nghiên cứu và phát triển các loại nông sản mới Và các viện nghiên cứu đều được trang bị các thiết bị hiện đại nhằm phục

vụ tốt các viện nghiên cứu

- Hiện nay, nước ta có hệ thống hồ, kênh mương trong cả nước rất đa dạng và phong phú cung cấp đủ lượng nước cần cho tưới tiêu để có thể phát triển nông sản

b Thành phần 2 - Những điều kiện về nhu cầu.

- Nông sản là nguồn lương thực chủ yếu của Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển, phát triển trên thế giới

- Tình hình thương mại nông sản trên thế giới bị chi phối bời các yếu tố:

+ Đa số các nước trên thế giới đều trực tiếp tham gia hoạch định chính sách can thiệp vào sản xuất, xuất nhập khẩu nông sản và quốc gia nào cũng chú trọng trong xây dựng chính sách dự trữ quốc gia và chính sách bảo hộ nền nông nghiệp trong nước

+ Các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, … chi phối rất lớn đến tình hình thương mại lương thực quốc tế trong đó có các mặt hàng nông sản

+ Nông sản là mặt hàng có tính chiến lược nên vấn đề thương mại mặt hàng này được thực hiện thông qua các hiệp định giữa các nước với nhau

- Tình hình sản xuất và thương mại mặt hàng nông sản Việt Nam trên thế giới phụ thuộc vào tình hình thu hoạch của các quốc gia xuất khẩu mặt hàng nông sản

- Không chỉ vậy còn bị phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện về khả năng thanh toán của các quốc gia nhập khẩu nông sản Việt Nam

- Mỗi quốc gia, thị trường có thị hiếu, nhu cầu không hoàn toàn giống nhau vì vậy các mặt hàng nông sản Việt Nam cần bắt được nhu cầu và thị hiếu của thị trường nông sản ở các quốc gia và thị trường đó

VD: Như ở các thị trường châu Âu, châu Mỹ thì họ đòi hỏi các mặt hàng nông sản phải có chất lượng cao, hay ở các thị trường Trung Đông họ có tiêu chuẩn rất cao về độ lẫn tạp chất rất khắt khe Hoặc là ở thị trường châu Phi thì đây là thị trường có tiêu chuẩn về mặt hàng nông sản thấp do tình hình thu nhập của quốc gia, …

c Thành phần 3 – Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan

- Thứ nhất là về công nghệ bảo quản sau thu hoạch

Trang 5

+ Khâu thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch có ý nghĩa rất quan trọng vì cũng chi phối trực tiếp đến chất lượng nông sản nước ta Thì hiện nay, công nghệ sau thu hoạch của Việt Nam vẫn chưa được đầu tư đúng mức Việc thu hoạch nông sản chủ yếu vẫn được tiến hành thủ công Và trong khâu bảo quản thì hiện còn quá ít các phương tiện phòng chống vi sinh vật gây hại cho nông sản

- Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan thứ hai đến nông sản Việt Nam là công nghệ chế tạo máy

+ Đây là một trong những ngành hỗ trợ quan trọng đối với các nông sản Việt Nam Hiện nay có rất nhiều các thiết bị tại các nhà máy chế biến nông sản do các công ty, cơ sở sản xuất trong nước chế biến

- Thứ 3 là về ngành phân bón

+ Hiện nay ngành phân bón Việt Nam đang trên đà phát triển, dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào nhập khẩu Tuy nhiên, ngành phân bón hiện nay vẫn còn khá nhiều bất cập vì xuất hiện các phân bón giả, kém chất lượng đưa ra thị trường điều này có thể làm cho nông sản nước ta sản xuất ra kém hiệu quả

- Các kênh phân phối xuất nhập khẩu

- Ngành thuốc bảo vệ thực vật

+ Ngành sản xuất các loại hóa chất tổng hợp dùng cho bảo vệ thực vật trong nước hiện nay chưa phát triển Điều này cũng ảnh hưởng tới tình hình phát triển nông sản của Việt Nam

d Thành phần 4 - Những đặc trưng về cạnh tranh, cấu trúc, chiến lược công ty địa phương.

- Thứ nhất về chiến lược xuất khẩu nông sản Việt Nam

+ Việt Nam theo đuổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu thường ổn định và tập trung

+ Đảm bảo an ninh trong việc xuất nhập khẩu các mặt hàng nông sản

- Thứ 2 là về cấu trúc các công ty

+ Những năm qua cũng có xu hướng các hợp đồng xuất khẩu nông sản tập trung chủ yếu

do một số doanh nghiệp lớn thực hiện

+ Các doanh nghiệp nhỏ, lẻ thì vẫn còn bị hạn chế trong việc tham gia xuất khẩu các mặt hàng nông sản Các doanh nghiệp này phải đi thu mua nông sản trong nông dân Rồi bán lại cho các công ty, doanh nghiệp lớn khác

- Thứ 3 là sự cạnh tranh các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu nông sản

+ Sự ưu tiên cho các doanh nghiệp lớn sẽ hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, hạn chế sự cạnh tranh trong nội bộ ngành Do sự hạn chế cạnh tranh này, nên các doanh nghiệp đổi mới và chậm nâng cao năng lực tài chính, kho bãi, khả năng vận chuyển Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam

Trang 6

+ Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp nước ngoài mua lại doanh nghiệp kinh doanh nông sản nhỏ lẻ, thì họ sẽ trở thành hệ thống chân rết, giúp doanh nghiệp nước ngoài mau chóng thâm nhập thị trường Việc này, sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản lớn của Việt Nam Khi đó, sự cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ khốc liệt hơn

Tóm lại: Lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam hiện nay vẫn chưa cao do các vấn đề

về kỹ thuật, công nghiệp bảo quản, chế biến, … còn chưa cao và các vấn đề cạnh tranh nông sản của quốc gia khác làm cho việc cạnh tranh nông sản Việt Nam so với các nước khác còn thấp

6 Khung lợi thế cạnh tranh – so sánh của Kogut được phát biểu như thế nào?

- Kogut (1985) nghiên cứu sự khác biệt giữa lợi thế so sánh theo vị trí và lợi thế cạnh tranh

và đưa ra một khái niệm chính về “lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh”, đặc biệt hữu ích trong các hoạt động toàn cầu, bao gồm cả chuỗi giá trị toàn cầu

- Kogut cho rằng việc thiết kế các chiến lược toàn cầu dựa trên “tác động qua lại giữa lợi thế so sánh của các quốc gia và lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”

- Ba phương thức cạnh tranh toàn cầu của Kogut:

+ Phương thức cạnh tranh (I) chủ yếu liên quan đến lợi thế so sánh giữa các quốc gia + Phương thức cạnh tranh II dựa trên sự khác biệt trong chuỗi lợi thế so sánh giữa các quốc gia

+ Phương thức cạnh tranh III có liên quan đến tác động qua lại giữa cạnh tranh và lợi thế

so sánh theo chuỗi giá trị gia tăng

DẠNG CÂU HỎI SỐ 2

1 Có quan điểm cho rằng: “Các tập đoàn KDQT ngày nay nên dựa trên giá trị đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Bạn hãy đánh giá về quan điểm này?

Theo em thì quan điểm này là Đúng Lấy VD ở Starbucks (Hãng Starbucks Coffee Company)

- Hiện nay các doanh nghiệp bắt đầu có xu hướng muốn mở rộng thị trường vượt ra khỏi lãnh thổ quốc gia của họ Sự xuất hiện của thương mại điện tử cùng với các phương pháp digital và social marketing đã góp phần mang lại một sân chơi cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp và khách hàng Cuộc chiến về giá đang dần trở nên phổ biến hơn trong khi các thương hiệu lâu đời đang có nguy cơ bị đe dọa bởi những thương hiệu mới nổi

- Trước sự phát triển của các mô hình cạnh tranh và tăng trưởng mới, câu hỏi được đặt ra

là làm thế nào để cho các doanh nghiệp có thể duy trì bản sắc thương hiệu cốt lõi của mình? Ngoài yếu tố cạnh tranh trên thị trường, các yếu tố tác động bên ngoài như suy thoái kinh tế toàn cầu cũng gây ra tác động nặng nề đến các doanh nghiệp địa phương và

toàn cầu. 

- Starbucks được thành lập vào những năm 1971 tại thành phố Seattle, Hoa Kỳ, thương hiệu này đã thay đổi cách thế giới thưởng thức cà phê bên ngoài gia đình và nơi làm việc

- Sự mở rộng toàn cầu của Starbucks diễn ra vô cùng nhanh chóng và mang tính chiến lược Starbucks mở cửa hàng quốc tế đầu tiên ở Tokyo vào năm 1996, tại Vương quốc Anh vào năm 1998 và mở cửa hàng Mỹ Latinh đầu tiên ở Mexico City vào năm 2002 Dấu

Trang 7

chân của Starbucks đã bao phủ khắp nước Nga vào năm 2007 và nó đã mở cửa hàng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam vào năm 2013

- Kể từ những ngày đầu thành lập năm 1990, Starbucks đã nỗ lực xây dựng bản sắc thương hiệu của mình bằng cách mang đến cho khách hàng những trải nghiệm thư giãn và thú vị Ngay từ đầu, bản sắc của thương hiệu đã được triển khai nhất quán và hiệu quả tại tất cả các cửa hàng trên toàn thế giới Ngoài ra, Starbucks cũng xây dựng thương hiệu của mình dựa trên những ưu điểm vượt trội mà họ có so với các đối thủ khác Trong khi các công ty khác liên tục thực hiện các chiến dịch quảng cáo rầm rộ, thì Starbucks lại quyết định nói không với quảng cáo Khi cắt giảm chi phí trở thành xu hướng của ngành thì Starbucks lại chọn đi theo một quy trình đặc biệt để tạo ra sự hứng thú cho các nhân viên pha chế thay vì tinh giản các thủ tục để giảm thiểu chi phí Không giống như hầu hết các công ty khác, Starbucks đã biến nhân viên trở thành đối tác của mình bằng cách cung cấp cho họ quyền chọn mua cổ phiếu và bảo hiểm sức khỏe

- Cách tiếp cận của Starbucks đối với việc thu thập thông tin chi tiết về khách hàng cũng khá độc đáo và khác biệt so với những chiến lược marketing trị giá hàng triệu đô la mà các

tổ chức toàn cầu khác đang sử dụng Thay vì thực hiện các cuộc khảo sát ý kiến khách hàng nghiêm ngặt và phức tạp, Starbucks chọn tổ chức các buổi trò chuyện bình thường

và thân mật với khách hàng để nắm bắt tâm lý chung, hiểu rõ hơn trải nghiệm của khách hàng với cửa hàng và thu thập các phản hồi có giá trị

- Chiến lược thương hiệu của công ty đang dần thay đổi theo thời gian và tận dụng các nền tảng tương tác với khách hàng mới để phát triển Công ty hiện đang vận hành một website tên là ideas.starbucks.com, nơi khách hàng có thể để lại ý tưởng cho công ty giúp

mở rộng và cải thiện sản phẩm cũng như trải nghiệm của khách hàng, tăng cường sự gắn

bó với cộng đồng và nâng cao trách nhiệm xã hội Điều này cũng giống với mô hình

“crowd-sourcing” trong lĩnh vực kinh doanh

- Thương hiệu này hiện có một mạng lưới social media và digital presence khá lớn, đã nhận được sự chú ý của khách hàng trong những năm gần đây Điều này cũng giúp thúc đẩy nhu cầu tương tác với khách hàng được tốt hơn đồng thời giúp cho sản phẩm được hiển thị trên các nền tảng nơi khách hàng mục tiêu hoặc khách hàng tương lai dành thời gian để theo dõi trực tuyến Thương hiệu này cũng có một trang Facebook riêng đang hoạt động, tài khoản Twitter, trang Instagram, cộng đồng Google+, trang Pinterest và kênh video trên YouTube Vào năm 2015, Starbucks đã hợp tác với Duracell Powermat để triển khai tính năng sạc không dây tại các cửa hàng ở Vương quốc Anh, qua đó bổ sung thêm trải nghiệm cho khách hàng và đưa sự đổi mới kỹ thuật số vào các cửa hàng của mình

- Starbucks đã thực hiện đầu tư mạnh mẽ vào mobile marketing Họ đã áp dụng sự đổi mới

kỹ thuật số vào việc phát triển và tung ra ứng dụng Starbucks để giúp cho khách hàng dễ dàng thanh toán các sản phẩm, tiền boa cho nhân viên pha chế, kiếm và đổi phần thưởng

Nhu cầu đổi mới liên tục: Cổng thông tin điện tử Starbucks Idea là một khởi đầu tốt đẹp,

nhưng Starbucks cần phải có một chiến lược đổi mới mạnh mẽ hơn để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế

Đổi mới dường như đã trở thành một từ ngữ vô cùng quen thuộc đối với các doanh nghiệp Mặc dù đổi mới có thể được định nghĩa theo nhiều cách, nhưng trong trường hợp này, nó được sử dụng để chỉ một quá trình diễn ra liên tục, có quy mô tổ chức rõ ràng, trong quá trình đổi mới các công ty sẽ thực hiện cải tiến đối với những sản phẩm và dịch vụ hiện có, đồng thời đầu tư vào việc phát triển để tạo những sản phẩm có tính đột phá

Có thể nói đổi mới chính là nền tảng phát triển của các thương hiệu Đó là lý do vì sao mà các thương hiệu hàng đầu luôn cố gắng tạo ra sự đổi mới trong chiến lược phát triển lâu

Trang 8

dài của họ Các chiến lược thương hiệu được hình dung sự đổi mới như một trong những yếu tố cốt lõi mang lại cho thương hiệu một lợi thế cạnh tranh lâu dài, thậm chí có thể chịu được những cú sốc lớn như suy thoái nền kinh tế

Các đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng thực hiện sao chép các khái niệm đổi mới trong

ngành cà phê, bao gồm việc cho ra mắt các loại cà phê espresso có xuất xứ khác nhau, đồ

uống theo mùa, hương vị và phụ gia mới và các chương trình khuyến mãi Đối với Starbucks, đổi mới không nên chỉ giới hạn trong việc đưa sản phẩm mới ra thị trường mà nên mở rộng ở nhiều khía cạnh khác nhau như đổi mới trong giao tiếp kênh (với khách hàng và các bên liên quan khác), đổi mới trong văn hóa tổ chức (thực tiễn công việc và thực tiễn thương hiệu nội bộ) và đổi mới trong việc thực hiện các chiến lược cắt giảm chi phí và nâng cao hiệu quả Đổi mới sẽ giúp cho các doanh nghiệp đạt được nhiều mục đích khác đồng thời mang lại lợi thế cạnh tranh cho thương hiệu của mình

Một ví dụ về đổi mới trong giao tiếp kênh là việc ra mắt tính năng tặng quà trên mạng xã hội ‘Yong Xing Shuo’ (Say it with Starbucks) vào tháng 2 năm 2017 trên Weixin, một sản phẩm chị em của WeChat nhắm đến người dùng nội địa Trung Quốc Chương trình này sẽ khuyến khích khách hàng đưa người thân và bạn bè đến trải nghiệm tại cửa hàng, cho

phép người dùng nhận quà tặng ngay lập tức hoặc nhận các thẻ quà tặng của Starbucks.

Cần đa dạng hóa: Starbucks đã bắt đầu áp dụng chiến lược đa dạng hóa cho thương hiệu

của mình bằng cách thiết kế lại logo của mình vào năm 2011 Năm 2014, họ chính thức ra mắt một chương trình có tên Starbucks Evenings, khách hàng sẽ lần đầu tiên chứng kiến hàng nghìn cửa hàng của công ty bán đồ uống có cồn trong vài năm tới Rõ ràng thương hiệu này đang coi việc đa dạng hóa như một chiến lược để xác định và mở rộng cơ hội tăng trưởng trong tương lai

Ngoài việc mở rộng danh mục sản phẩm bao gồm đồ uống có cồn, Starbucks dự định sẽ tiếp tục đổi mới các món ăn phục vụ trong các cửa hàng của mình Nhiều đối thủ toàn cầu của Starbucks tự định vị mình không chỉ là coffee outlets mà còn giống như một quán cafes thu nhỏ Đổi mới trong thực phẩm là điều đặc biệt quan trọng đối với Starbucks để tạo dựng chỗ đứng tại các thị trường mới nổi hoặc nơi văn hóa uống cà phê đang trong giai đoạn sơ khai Ở nhiều nước châu Á và châu Mỹ Latinh, uống cà phê là một nghi thức trong bữa ăn, nơi tầm quan trọng của việc tiêu thụ thực phẩm là rất cao Để củng cố năng lực cạnh tranh ở những thị trường như vậy, việc cung cấp đa dạng các loại thực phẩm khác nhau trong các cửa hàng của mình là rất cần thiết đối với Starbucks

Tính nhất quán trong trải nghiệm thương hiệu: Starbucks chú trọng nhiều vào việc tạo

ra các cấp độ trải nghiệm thương hiệu một cách nhất quán trong từng cửa hàng của mình trên toàn thế giới Có thể nói việc cẩn thận và chú ý đến từng chi tiết nhỏ của Starbucks là

một điều rất đáng khen ngợi. Tuy nhiên, việc tạo ra trải nghiệm thương hiệu cần phải gắn

chặt với văn hóa và thông lệ của quốc gia cụ thể

Starbucks không phải là một công ty xa lạ trong việc tạo ra trải nghiệm uống cà phê hay thậm chí là giáo dục một bộ phận người tiêu dùng về cách uống cà phê bên ngoài gia đình

và nơi làm việc Nhưng sự khác biệt về văn hóa và cách thức dành thời gian bên ngoài cho những trải nghiệm đó có thể rào cản cho chiến lược local marketing của thương hiệu Vì vậy, nếu giá trị cốt lõi của thương hiệu là tạo ra một nơi thứ ba để uống cà phê, gặp gỡ, chào hỏi bạn bè và có một trải nghiệm thư giãn, thì những trải nghiệm này nên phù hợp với văn hóa địa phương

Một ví dụ điển hình là sự mở rộng của Starbucks sang thị trường Trung Quốc – làm thế nào mà thương hiệu cà phê này có thể ra mắt thành công trong một nền văn hóa chủ yếu

là những người uống trà? Điều quan trọng để tạo nên thành công đó chính là nghiên cứu

Trang 9

thị trường Để làm cho thực đơn của mình phù hợp hơn với người tiêu dùng Trung Quốc, Starbucks đã giới thiệu đồ uống bao gồm các nguyên liệu làm từ trà địa phương Nghiên cứu thị trường cho thấy trải nghiệm của Starbucks hấp dẫn những người khao khát các tiêu chuẩn phương Tây hoặc những người đã ở trên nấc cao xã hội với nguồn thu nhập ổn định Ngoài ra, công ty cũng phát hiện ra rằng thị trường Trung Quốc không phải là một thị trường thuần nhất, đặc biệt là về sức chi tiêu Để đáp ứng điều này, Starbucks đã bắt đầu hợp tác với các công ty cà phê địa phương để hiểu rõ hơn về sự phức tạp trong khẩu vị và

sở thích địa phương

- Để thành công trong chiến lược mở rộng và tăng trưởng quốc tế, Starbucks cần phải có

tư duy đổi mới mạnh mẽ và khả năng nhạy bén để cung cấp các sản phẩm phù hợp và định vị các cửa hàng của mình Thương hiệu này đã có những bước tiến nhanh chóng trong việc thực hiện chiến lược đổi mới toàn tổ chức bằng cách đầu tư vào công nghệ mới, thiết kế lại bố cục cửa hàng và đầu tư vào các ý tưởng mới

Ngoài việc cải thiện trải nghiệm của khách hàng, vốn luôn là lĩnh vực trọng tâm hàng đầu của công ty, các lĩnh vực trọng tâm đổi mới trong tương lai cũng cần phải xoay quanh việc cung cấp sản phẩm của doanh nghiệp cho khách hàng

Không còn nghi ngờ gì nữa Starbucks đích thực là một marketer toàn cầu thành công với kinh nghiệm dày dặn trong việc thâm nhập và tạo dựng bản sắc thương hiệu ở các thị trường mới Tuy nhiên khi thực hiện mở rộng và phát triển thị trường, Starbucks cần phải đánh giá lại mọi thứ và tìm hiểu về sở thích của người tiêu dùng bản địa Có thể nói đổi mới và cải tiến hoạt động hiệu quả sẽ là hai nền tảng giúp Starbucks tiếp tục đạt được thành công trên thị trường quốc tế và cả ở các thị trường hiện có

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, thương hiệu này cần liên tục phát triển và nâng cao trải nghiệm của khách hàng khi uống cà phê tại các cửa hàng của mình Điều này rất quan trọng vì nhu cầu khách hàng liên tục thay đổi và mức độ kỳ vọng của họ về trải nghiệm cũng liên tục được nâng cao Những trải nghiệm thương hiệu độc nhất ngày hôm nay có thể sẽ trở thành trải nghiệm thường xuyên vào ngày mai Vì vậy Starbucks phải luôn dẫn đầu xu hướng này để có thể liên tục cạnh tranh và tạo nên sự khác biệt trong mắt khách hàng

2 Hãy phân tích mối liên hệ giữa giá trị thông tin và quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp?

3 So sánh sự khác nhau trong kiểm soát CLKDQT giữa quan điểm tiếp cận hiện đại

và quan điểm truyền thống?

4 Có quan điểm cho rằng: “Các tập đoàn KDQT ngày nay để thành công trên thị trường cần đáp ứng nhu cầu của khách hàng” Bạn hãy đánh giá về quan điểm này?

- Quan điềm này là Đúng Ví dụ trong các Tài liệu khác

5 Hãy trình bày quan điểm tiếp cận hiện đại trong kiểm soát chiến lược của công ty?

- Phân tích các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Cách thức xây dựng, ý nghĩa và sử dụng ma trận bên ngoài EFE

- Phân tích các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Cách thức xây dựng, ý nghĩa và sử dụng ma trận bên trong IFA

- Cách thức xây dựng và sử dụng các ma trận hình ảnh cạnh tranh CPM, ma trận SWOT,

ma trận BCG, … đối với các chiến lược thực hiện KDQT của doanh nghiệp

- Các lý thuyết về chiến lược đẩy và chiến lược kéo trong kinh doanh

Trang 10

6 Vận dụng lý thuyết phối hợp cấu trúc của Porter để phân tích sự dịch cuyển của FDI của các tập đoàn lớn (Samsung, Foxcom…) từ các nước khác vào Việt Nam.

- Sản xuất toàn cầu: Các vấn đề chính của nó bao gồm vị trí của các cơ sở sản xuất cho các thành phần và sản phẩm cuối cùng, trong khi các vấn đề phối hợp của nó bao gồm mạng lưới các nhà máy quốc tế, chuyển giao công nghệ quy trình và sản xuất bí quyết giữa các nhà máy

+ SamSung là một thương hiệu điện tử nổi tiếng của Hàn Quốc Và xây dựng nhà máy sản xuất đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2008 Hiện nay, SamSung có 9 nhà máy sản xuất điện thoại được đặt tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam hiện có 2 nhà máy đặt tại Bắc Ninh là SEV (Công ty TNHH SamSung Electronics Việt Nam) và nhà máy tại Thái Nguyên là SEVT (Công ty TNHH SamSung Electronics Thái Nguyên) Và trong tổng số 9 nhà máy mà Tập đoàn SamSung Hàn Quốc sở hữu thì 2 nhà máy sản xuất tại Việt Nam sản xuất gần 1/3 sản lượng sản phẩm toàn cầu của công ty Và Tập đoàn SamSung đã đầu tư tổng cộng khoảng 17 tỷ USD ở Việt Nam 2 nhà máy này chịu trách nhiệm sản xuất linh kiện và lắp ráp điện thoại di động lớn nhất và hiện đại nhất của Samsung Electronics trên toàn cầu,

+ Việc chuyển giao công nghệ quy trình và sản xuất của Samsung tại Việt Nam hiện thì không có Mặc dù Việt Nam mình đã nhiều lần đề nghị nhưng việc chuyển giao này vẫn chưa xảy ra

- Dịch vụ toàn cầu: Các vấn đề liên quan đến định lượng bao gồm vị trí của tổ chức dịch

vụ, trong khi các vấn đề phối hợp bao gồm sự giống nhau của dịch vụ, tiêu chuẩn dịch vụ

và thủ tục trên toàn thế giới

+ Khi vào Việt Nam, ngoài cho sản xuất các linh kiện và ra mắt các sản phẩm mới thì dịch

vụ của Samsung đối với Việt Nam cũng quan trọng không kém Samsung luôn có một dịch

vụ chăm sóc khách hàng một cách thông minh và tận tình Như là sửa chữa phần cứng; Gửi máy cần hỗ trợ tới Bào Hành Samsung&Nhận lại ngay tại cửa hàng hay là các dịch vụ Nâng cấp phần mềm

- Phát triển công nghệ toàn cầu: Các vấn đề về định lượng bao gồm số lượng và vị trí của các trung tâm R & D, trong khi các vấn đề phối hợp bao gồm việc thay đổi giữa các trung tâm R & D phân tán, phát triển sản phẩm để đáp ứng với địa phương thị trường và trình tự giới thiệu sản phẩm trên thế giới

+ SamSung có một trung tâm R&D tại Việt Nam đó là SVMC (Trung tâm R&D lớn nhất của SamSung tại Đông Nam Á ở thời điểm hiện tại) Trung tâm này được đặt tãi khu vực Tây

Hồ Tây

+ Từ khi ra đời đến nay công ty SamSung đã cho ra mắt hàng nghìn các loại sản phẩm điện tử khác nhau Sự đa dạng về mặt chủng loại, mẫu mã đến chức năng, tiện ích đã giúp doanh nghiệp nhận được rất nhiều sự ủng hộ của người tiêu dùng Chúng ta hãy cùng

xem qua một số sản phẩm tiêu biểu dưới đây để biết Samsung sản xuất những gì?

 Điện thoại thông minh: SamSung Galaxy, SamSung Galaxy Note series, SamSung

Galaxy Tab series

 Máy tính SamSung: PC, Laptop

Ngày đăng: 05/07/2023, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w