TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ---***--- KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRUNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-*** -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Hà Nội - 11/2006
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu Error! Bookmark not defined
Ch-ơng I: cơ sở lý luận chung về hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hội nhậpError! Bookmark not defined.
I Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N)Error! Bookmark not defined
1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì? Error! Bookmark not defined.
2 Phân loại Error! Bookmark not defined.
II Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế Error! Bookmark not defined.
1 DNV&N đóng góp vào sự phát triển ổn định kinh tế của các quốc gia Error! Bookmark not defined.
2 DNV&N tạo việc làm và thu nhập ổn định cho ng-ời lao động Error! Bookmark not defined.
3 DNV&N giúp khai thác, phát huy nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa ph-ơng, các nguồn tài chính của dân c- trong vùng Error! Bookmark not defined.
4 Tạo ra môi tr-ờng cạnh tranh thúc đẩy SX-KD phát triển có hiệu quả hơn Error! Bookmark not defined.
III Vấn đề hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức đối với các DNV&N việt nam trong quá trình hội nhập Error! Bookmark not defined.
1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế và tính tất yếu của xu thế hội nhập Error! Bookmark not defined.
2 Cơ hội cho các DNV&N Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế Error! Bookmark not defined.
2.1 Mở cửa thị tr-ờng với dung l-ợng lớn và nhu cầu có khả năng
thanh toán cao Error! Bookmark not defined
2.2 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và DNV&N nói riêng tiếp cận nhanh chóng với công nghệ tiên tiến hiện
đại Error! Bookmark not defined
2.3 Các DNV&N có thể tiếp cận với nguồn vốn quốc tế d-ới nhiều
hình thức Error! Bookmark not defined
Trang 32.4 Cơ hội học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng quản lý từ các n-ớc phát triển
Error! Bookmark not defined
2.5 Có điều kiện tham gia nhanh vào phân công lao động quốc tế theo các dây chuyền sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh của các
công ty đa quốc gia Error! Bookmark not defined
2.6 Hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đ-ợc đối xử bình đẳng nh-
các n-ớc khác trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Error! Bookmark not defined.
3 Thách thức đối với các DNV&N Việt Nam khi hội nhập Error! Bookmark not defined.
3.1 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam nói chung còn ở thứ bậc thấp
trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và hàng hoá Error! Bookmark not defined.
3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng cho SXKD của các DNV&N còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn, bao gồm cả giá đầu vào và
chi phí trung gian cao Error! Bookmark not defined
3.3 Việt Nam phải mở cửa thị tr-ờng, vai trò bảo hộ của Nhà n-ớc sẽ
yếu dần đi và không còn nữa Error! Bookmark not defined
3.4 Hệ thống pháp luật, chính sách, chế độ quản lý của Việt Nam ch-a thống nhất và đồng bộ, vẫn còn nhiều bất cập về pháp lý và thể
chế, về cấu trúc thị tr-ờng và hành vi cạnh tranhError! Bookmark not defined.
3.5 T- t-ởng ỷ lại của các doanh nghiệp vào sự bảo hộ của Nhà n-ớc
còn lớn Error! Bookmark not defined
3.6 Bề dày văn hoá của các DNV&N Việt Nam trong nền kinh tế thị
tr-ờng ch-a hình thành một cách rõ nétError! Bookmark not defined.
Ch-ơng ii: chính sách phát triển dnv&n trung quốc Error!
Bookmark not defined.
I Đặc điểm của các DNV&N Trung Quốc Error! Bookmark not defined.
1 Sự phát triển của DNV&N Trung Quốc Error! Bookmark not defined.
2 Đặc điểm về tài chính Error! Bookmark not defined.
Trang 4II Thách thức đối với DNV&N Trung Quốc trong quá trình hội nhập Error!
Bookmark not defined
1 Trong ngắn hạn Error! Bookmark not defined.
2 Trong dài hạn Error! Bookmark not defined.
2.1 Thách thức từ khả năng cạnh tranh kém của các DNV&N Trung
Quốc Error! Bookmark not defined 2.2 Hạn chế về khả năng của chủ các DNV&NError! Bookmark not defined.
2.3 Thách thức từ cơ cấu tổ chức DNV&NError! Bookmark not defined.
2.4 Thách thức từ tổ chức công nghiệp của DNV&N Error! Bookmark not defined.
2.5 Khó khăn trong việc chuyển đổi cách thức quản lý của Chính
phủ Error! Bookmark not defined III Chính sách phát triển dnv&n của trung quốcError! Bookmark not defined
1 Các chính sách kinh tế nói chung Error! Bookmark not defined.
1.1 Chính sách đối với kinh tế công hữuError! Bookmark not defined.
1.1.1 Cải tạo và phát triển các doanh nghiệp tập thể ở thành phố
và thị trấn d-ới nhiều hình thức Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Chuyển đổi thể chế thúc đẩy doanh nghiệp tập thể h-ơng trấn phát
triển Error! Bookmark not defined.
1.1.3 Đi sâu cải cách doanh nghiệp quốc hữu loại nhỏ thúc đẩy
kinh tế tập thể phát triển Error! Bookmark not defined.
1.2 Khuyến khích kinh tế phi công hữu phát triểnError! Bookmark not defined.
Trang 51.2.3 Khuyến khích các doanh nghiệp phi công hữu đầu t- vào các
ngành khoa học kỹ thuật Error! Bookmark not defined 1.2.4 Mở cửa thị tr-ờng cho các doanh nghiệp phi công hữu Error!
Bookmark not defined.
1.2.5 Tiến hành điều chỉnh một loạt những chính sách sau khi gia nhập
WTO Error! Bookmark not defined.
2 Các chính sách thúc đẩy DNV&N nói riêng Error! Bookmark not defined.
2.1 Hỗ trợ về thuế Error! Bookmark not defined 2.2 Hỗ trợ về tài chính Error! Bookmark not defined 2.3 Về mặt đảm bảo tín dụng Error! Bookmark not defined 2.4 Về dịch vụ xã hội Error! Bookmark not defined 2.5 Về hỗ trợ kỹ thuật Error! Bookmark not defined 2.6 Khuyến khích cá nhân thành lập doanh nghiệpError! Bookmark not defined.
2.7 Chính sách phát triển thị tr-ờng Error! Bookmark not defined
IV Những thành tựu của DNV&N Trung Quốc trong tiến trình hội nhập Error! Bookmark not defined.
ch-ơng iii: bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị để phát triển dnV&n việt nam Error! Bookmark not defined.
I Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển DNV&N Trung Quốc Error!
Bookmark not defined
1 Một số đặc điểm về sự phát triển của DNV&N Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2 Những nét t-ơng đồng giữa DNV&N Việt Nam và Trung Quốc Error! Bookmark not defined.
3 Những bài học kinh nghiệm cho DNV&N Việt Nam từ chính sách phát triển DNV&N của Trung Quốc Error! Bookmark not defined.
3.1 Thống nhất nhận thức, quan điểm về phát triển DNV&N Error! Bookmark not defined.
3.2 Thực hiện các biện pháp hỗ trợ một cách đồng bộ và triển khai
một cách nhanh chóng kịp thời từ trung -ơng đến địa ph-ơng Error! Bookmark not defined.
Trang 63.3 Mở cửa thị tr-ờng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia,
nhất là khu vực t- nhân Error! Bookmark not defined
3.4 Khuyến khích các DNV&N đầu t- vào khoa học công nghệ và
đẩy mạnh xuất khẩu Error! Bookmark not defined 3.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dụcError! Bookmark not defined.
II Một số kiến nghị nhằm phát triển DNV&N Việt NamError! Bookmark not
defined
1 Bối cảnh Kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined.
2 Một số kiến nghị nhằm phát triển DNV&N trong tiến trình hội nhập Error! Bookmark not defined.
2.1 Hoàn thiện môi tr-ờng pháp lý, cải cách thủ tục hành chính và chính sách tài chính theo h-ớng tạo môi tr-ờng kinh doanh bình
đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng cho DNV&N phát triển
Error! Bookmark not defined
2.2 Tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thiện đầy đủ các thị tr-ờng theo yêu
cầu của nền kinh tế thị tr-ờng Error! Bookmark not defined
2.3 Đồng bộ hệ thống chính sách hỗ trợ giúp phát triển DNV&N
Error! Bookmark not defined
2.4 Cần tuyên truyền để các DNV&N Việt Nam có cái nhìn toàn
diện về hội nhập kinh tế quốc tế Error! Bookmark not defined Kết luận Error! Bookmark not defined Danh mục tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế mang tính tất yếu của lịch sử và nước ta không thể đứng ngoài quy luật khách quan đó Để hội nhập thành công, Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng và phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, trong đó duy trì và phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (DNV&N) có ý nghĩa rất quan trọng
Các DNV&N vừa là phương tiện có hiệu quả để giải quyết việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội; vừa góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ; đồng thời là khu vực có khả năng thu hút tích cực nhất các nguồn vốn, nguồn lực đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưu các nguồn lực của xã hội cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Nhận thức được vị trí và vai trò của các DNV&N trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển loại hình DNV&N, đồng thời cũng đẩy mạnh công tác quản lý, kiểm tra, nắm bắt và chỉ đạo sát sao những vấn đề có liên quan đến loại hình doanh nghiệp này Tuy nhiên, do đất nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế nên hệ thống thể chế kinh tế thị trường chưa được thiết lập đầy đủ, môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp còn nhiều bất cập cần tiếp tục cải cách, bên cạnh đó kinh nghiệm tham gia kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá ít ỏi Những đặc điểm trên cùng với những hạn chế nội tại của DNV&N Việt Nam như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực .đã khiến loại hình này gặp không ít khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế Trong tình hình đó, nếu chúng ta tự mò mẫm để tìm đường đi cho các doanh nghiệp vừa tốn thời gian, vừa có thể gây ra những hậu quả đáng tiếc nếu con đường
đó không phù hợp, và đất nước ta có thể bị đánh bật khỏi sân chơi quốc tế Là
Trang 8một quốc gia đi sau trong quá trình hội nhập, đất nước ta nên đúc rút kinh nghiệm phát triển từ các quốc gia đi trước để tìm ra con đường phù hợp nhất cho nền kinh tế của mình
Trung Quốc là nước láng giềng của nước ta và có rất nhiều điểm tương đồng về văn hoá, kinh tế, chính trị Hai nước lại có cùng thời điểm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế Tuy nhiên nhờ đẩy nhanh quá trình hội nhập và có những chính sách kinh tế đúng đắn, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu rất lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, trở thành nước có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất thế giới trong vòng 2 thập kỷ qua Trung Quốc đồng thời cũng là một trong những nước đạt nhiều thành công về phát triển DNV&N trong tiến trình cải cách và phát triển kinh tế Bởi vậy, tôi
quyết định nghiên cứu về đề tài “Chính sách phát triển DNV&N Trung
Quốc và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập”
với mong muốn trên thực tiễn phát triển của DNV&N Trung Quốc tìm ra con đường hiệu quả cho các DNV&N Việt Nam khi tham gia vào hội nhập kinh
- Đúc rút một số kinh nghiệm cho DNV&N Việt Nam
- Đưa ra một số kiến nghị về định hướng phát triển và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNV&N Việt Nam trong giai đoạn tới
Kết cấu đề tài:
Trang 9Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động của DNV&N trong quá trình
hội nhập
Chương II: Chính sách phát triển DNV&N của Trung Quốc
Chương III: Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị đối với DNV&N Việt
Nam trong quá trình hội nhập Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nỗ lực hết sức để có thể có được những thông tin mới nhất cũng như những nhận xét, ý kiến đánh giá của các chuyên gia và cũng cố gắng để đưa ra quan điểm của bản thân nhằm hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt nhất Tuy nhiên, bài khoá luận vẫn còn có nhiều khuyết điểm và tôi mong nhận được sự thông cảm và đóng góp từ thầy
cô cũng như người đọc
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô giáo Thạc sỹ Bùi Liên Hà -
Giảng viên khoa Quản trị kinh doanh trường ĐH Ngoại thương Hà Nội, người
đã nhiệt tình giúp đỡ và cho tôi những chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình triển khai đề tài Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô giáo trong trường, gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện và hoàn thành bài khoá luận
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2006
Sinh viên
Hồ Lê Na
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
I KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (DNV&N)
1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ là gì?
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) chiếm một vị trí hết sức quan trọng
dù trong nền kinh tế phát triển hay đang phát triển Những doanh nghiệp này rất linh hoạt, năng động, có nhiều lợi thế phát triển nhưng cũng rất dễ tổn thương, vì thế hầu hết các nước đều ban hành những chính sách, quy định và những biện pháp hỗ trợ để phát triển loại hình DN này Để thực hiện được điều đó, trước hết cần xác định được thế nào là DNV&N từ đó mới có thể hoạch định những chính sách đúng đắn phù hợp
Các nước thường xác định DNV&N dựa trên độ lớn và quy mô của các
DN Việc phân loại DNV&N phụ thuộc vào tiêu thức sử dụng qui định giới hạn quy mô DN Các nước khác nhau có sự lựa chọn các tiêu thức đánh giá
quy mô DN và lượng hoá các tiêu thức ấy khác nhau
Đối với Việt Nam, trước năm 1998, việc xác định DNV&N chưa được quy định một cách thống nhất nên các bộ ngành, các tổ chức thường đặt ra các tiêu thức để phân loại khác nhau Chẳng hạn Ngân hàng Công thương Việt Nam coi DNV&N là những DN có số lao động dưới 500 người, giá trị tài sản
cố định dưới 10 tỷ đồng, số dư vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và doanh thu hàng tháng dưới 20 tỷ Thành phố Hồ Chí Minh coi những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, số lao động trên 100 người và doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng là doanh nghiệp vừa, còn những doanh nghiệp dưới giới hạn trên là doanh nghiệp nhỏ Ngày 20/6/1998, Thủ tướng chính phủ có quy định tạm thời DNV&N là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số
Trang 11lao động dưới 200 người Trong đó doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 30 người và vốn dưới 1 tỷ, doanh nghiệp vừa có từ 31-200 lao động và có vốn từ 1-5 tỷ Đối với doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp nhỏ có vốn dưới 1 tỷ và số lao động dưới 50 người, còn các doanh nghiệp thương mại dịch vụ thì số lao động dưới 30 người Sau này, vai trò của các DNV&N ngày càng được khẳng định nên Chính phủ đã đưa ra quy định thống nhất về cách xác định DNV&N Theo nghị định của Chính phủ về “Trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa” số 90/2001/NĐ-CP ban hành thực hiện thống nhất
ngày 23-11-2001 định nghĩa DNV&N “là cơ sở sản xuất kinh doanh độc
lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá
300 người” Việc áp dụng chỉ tiêu nào hoặc đồng thời cả hai chỉ tiêu phụ
thuộc vào tình hình KT-XH của từng ngành, từng địa phương
Như vậy theo quy định mới nhất thì DNV&N của Việt Nam bao gồm: Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, các HTX, cá nhân và nhóm sản xuất kinh doanh có điều kiện thoả mãn quy định của Chính phủ Khái niệm DNV&N là khái niệm mang tính chất tương đối, nó thay đổi theo thời kỳ, giai đoạn phát triển KT-XH của từng quốc gia, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH và tính chất ngành nghề
2 Phân loại
Việc xác định thế nào là DNV&N ở cá quốc gia khác nhau dựa vào những tiêu thức khác nhau Song nhìn chung các tiêu thức phân loại có thể được phân thành 2 nhóm chính sau:
Tiêu thức định tính: Tiêu thức này dựa trên những đặc trưng cơ bản của
các DNV&N như: trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, mức độ áp
Trang 12dụng công nghệ Sử dụng các tiêu thức này phản ánh khá đúng bản
chất của DNV&N song khó xác định và phức tạp nên ít được sử dụng Tiêu thức định lƣợng: Các tiêu thức này bao gồm:
Các yếu tố đầu vào: Số lao động thường xuyên, vốn sản xuất
Các kết quả đầu ra: Doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng
Mỗi tiêu thức được sử dụng có những ưu điểm và nhược điểm riêng Các quốc gia có thể sử dụng các yếu tố đầu vào, kết quả đầu ra hoặc kết hợp cả hai
để xác định DNV&N Việc sử dụng các tiêu thức để phân loại DNV&N trên thế giới có những đặc điểm sau:
1) Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu thức khác nhau Phổ biến nhất là tiêu thức về vốn và lao động
2) Số lượng các tiêu thức được sử dụng ở các nước cũng khác nhau Có nước chỉ sử dụng một tiêu thức nhưng cũng có những nước sử dụng kết hợp đồng thời nhiều tiêu thức
3) Việc lượng hoá các tiêu thức thành các giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau thì khác nhau Điều này phụ thuộc vào: trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp cho DNV&N của các nước
4) Từng thời kỳ, các tiêu thức và tiêu chuẩn giới hạn có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối, chính sách, chiến lược và khả năng hỗ trợ của mỗi quốc gia Những tiêu thức này được dùng làm căn cứ thiết lập những chính sách phát triển hỗ trợ cho các DNV&N của các chính phủ
Trang 13Tổng tài sản
Doanh thu
Năng lực sản xuất
Thu nhập bình quân Ôxtrâylia
Nguồn: Profiles SMEs in APEC (1998)
Tại Trung Quốc, trước khi Chính phủ ban hành quy định mới về tiêu chuẩn DNV&N cùng với “Luật Thúc đẩy phát triển DNV&N” vào cuối năm
Trang 142002, theo tiêu chuẩn của Uỷ ban nhà nước về Kinh tế và Thương mại thì quy
mô doanh nghiệp được phân chia theo doanh thu Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có doanh thu ít hơn 50 triệu NDT, doanh nghiệp vừa có doanh thu từ
50 đến 500 triệu NDT, doanh nghiệp lớn có doanh thu từ 500 triệu NDT trở lên Theo quy định mới nhất của Chính phủ Trung Quốc thì doanh nghiệp được phân theo các lĩnh vực: Công nghiệp, Xây dựng, Dịch vụ vận tải/Logistics, Dịch vụ bưu điện, Bán buôn, Bán lẻ, Kinh doanh nhà hàng và khách sạn Các DNV&N Trung Quốc được phân chia theo các tiêu thức là: Số lượng lao động và Doanh thu, cụ thể như sau:
Bảng 2: Tiêu thức phân chia DNV&N ở Trung Quốc
Lĩnh vực Công
nghiệp
Xây dựng
Dịch vụ vận tải/Logistic
Dịch
vụ bưu điện
Bán buôn Bán lẻ
Kinh doanh nhà hàng
và khách sạn
300 người Bên cạnh cách phân loại do Chính phủ quy định, có nhiều tổ chức
Trang 15tài chính phi chính thức (không có chức năng thực thi các chính sách của Nhà nước) sử dụng các tiêu thức phân loại khác nhau để phân loại DNV&N để xác định chính sách ưu tiên
- Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ DNV&N ở Việt Nam do UNIDO tài trợ coi các doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 30 lao động trở xuống và vốn đăng ký dưới 0,1 triệu USD; doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có số lao động
từ 31-200 người, vốn đăng ký < 0.4 triệu USD
- Quỹ hỗ trợ DNV&N thuộc chương trình Việt Nam - EU quy định DNV&N được hỗ trợ gồm các doanh nghiệp có số công nhân từ 10-500 người, vốn điều lệ từ 50 000 - 300 000 USD (750 - 4.5 tỷ VND)
II VAI TRÒ CỦA DNV&N TRONG NỀN KINH TẾ
Vai trò của các DNV&N trong các nền kinh tế là không thể phủ nhận dù
đó là nền kinh tế đã hay đang phát triển Trong xu thế hội nhập như hiện nay, với sự năng động, linh hoạt của mình các DNV&N ngày càng giữ vị trí hết sức to lớn trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm trong guồng máy kinh tế mỗi nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Vai trò của các DNV&N được thể hiện trên những khía cạnh chính sau đây:
1 DNV&N đóng góp vào sự phát triển ổn định kinh tế của các quốc gia
Giá trị gia tăng do các DNV&N tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng lớn đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế Không những thế cá DNV&N còn tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu Ở nước ta, tính đến 31/12/2004, số lượng DNV&N tham gia vào kinh doanh xuất khẩu chiếm 80.6%, nhập khẩu chiếm 84.2% tổng số doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trên cả nước Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2002 của các DNV&N đạt
4 108 triệu USD, chiếm tỷ trọng 24.6%, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 4 789
Trang 16USD, chiếm tỷ trọng 23.3% so với toàn bộ kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của nền kinh tế quốc dân1
2 DNV&N tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động
Đối với những nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đô thị hoá, đặc biệt là trong giai đoạn cải cách kinh tế sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa ở các vùng nông thôn và các doanh nghiệp nhà nước tái cơ cấu Lực lượng thất nghiệp đông đảo này sẽ gây nên sự lãng phí nhân lực và gây nên những bất ổn về xã hội Sự phát triển của các DNV&N sẽ góp phần giải quyết vấn đề này Theo thống kê, các DNV&N thu hút khoản 30-60% lao động và tạo ra 20-40% giá trị gia tăng trong các nền kinh tế đang phát triển Không những tạo ra việc làm, các DNV&N còn góp phần tạo ra nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các bộ phận dân cư
và các vùng trong một quốc gia
Ở nước ta, các DNV&N đóng góp khoảng 26% tổng sản phẩm xã hội, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá, tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, thu hút khoảng 25 - 26% lực lượng lao động2
3 DNV&N giúp khai thác, phát huy nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa phương, các nguồn tài chính của dân cư trong vùng
Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm về quy mô và tính chất sở hữu của các DNV&N Có thể nói sự linh hoạt và quy mô vốn và lao động không quá lớn của các DNV&N đã giúp loại hình này phát triển rộng khắp trong các vùng và địa phương Loại hình này chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân nên nguồn vốn huy động phần lớn từ các tổ chức tín dụng địa phương, gia đình, họ hàng
1
Bộ Thương mại
2 Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Phát triển DNV&N giai đoạn 2006-2010
Trang 17và người quen Đồng thời, lực lượng lao động chủ yếu của các doanh nghiệp này cũng là con em trong địa phương
4 Tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy SX-KD phát triển có hiệu quả hơn
Sự tham gia của các DNV&N vào hoạt động SX-KD làm cho số lượng
và chủng loại hàng hoá tăng lên nhanh chóng, do vậy tăng tính cạnh tranh trên thị trường tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với môi trường mới Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang mở cửa nền kinh tế như nước
ta hiện nay
Vai trò cụ thể của các DNV&N được thể hiện qua các con số thống kê sau đây tại các nước khác nhau
Tại Mỹ, theo Small Business FAQ 12- 2000 của Cục quản lý kinh doanh
nhỏ Mỹ (SBA), trên 99.7% tổng số hãng kinh doanh có thuê nhân công là doanh nghiệp nhỏ, thu hút 52% lực lượng lao động trong khu vực tư nhân, 51% lực lượng lao động trong khu vực trợ giúp công cộng và 38% trong khu vực công nghệ cao, tạo ra 75% số việc làm mới, sản xuất ra 51% tổng sản phẩm của khu vực tư nhân, chiếm 47% tổng doanh thu bán hàng 31% doanh thu xuất khẩu hàng hoá và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hoá
Tại Nhật Bản, theo số liệu của Cục Quản lý và hợp tác, điều tra về doanh
nghiệp Nhật Bản, tính đến năm 1998 có khoảng trên 5 triệu DNV&N (4.48 triệu doanh nghiệp nhỏ) chiếm 99.7% số doanh nghiệp cả nước và thực hiện kinh doanh ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, tập trung lớn nhấ là lĩnh vực bán lẻ, dịch vụ và chế tác Khu vực DNV&N tạo việc làm thường xuyên cho hơn 40 triệu lao động (chiếm 70% số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp
cả nước), tạo ra hơn 40% doanh nghiệp của khu vực doanh nghiệp trong đó bán lẻ chiếm 55.7%, bán buôn chiếm 42.1%, chế tác và các khu vực khác
Trang 18chiếm chiếm 37.5% Đặc biệt là vào cuối những năm 1990, theo Báo cáo Kinh tế và Tài chính năm 2001 và số liệu của Tổng vụ công bố, nền kinh tế Nhật Bản dẫm chân tại chỗ, giảm phát và tăng trưởng âm những năm 1999-
2001, tỷ lệ thất nghiệp hoàn toàn tính đến tháng 19/2002 là 5.5%, thì vai trò của các DNV&N càng trở nên quan trọng, với 99.3% tổng số đơn vị kinh doanh là DNV&N đã tạo ra 51.2% tổng doanh thu trong khu vực chế tạo và chế biến, sử dụng 80.6% lao động (trừ các xí nghiệp kinh doanh nông lâm sản)
Tại Đài Loan, theo Sách trắng về DNV&N 1998 và 2000 của Cục quản
lý DNV&N Đài Loan, năm 1999, Đài Loan có trên 1 triệu DNV&N, chiếm 97.73% tổng số doanh nghiệp, giải quyết 78.25% lao động, doanh thu bán hàng đạt 6095 tỷ NT$, đạt 22.11% tỷ trọng nhập khẩu, nộp 44.15 tổng số thuế giá trị gia tăng
Tại Thái Lan, theo tập đoàn Tài chính Công nghiệp Thái Lan, DNV&N
chiếm khoảng 95% số doanh nghiệp công nghiệp, tuyển dụng từ 85-90% lực lượng lao động, DNV&N đóng góp trên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và xuất khẩu, phát triển kinh tế tại các vùng lạc hậu của Thái Lan và là một kết cấu hạ tầng quan trọng cho các công ty xuyên quốc gia nội địa và nước ngoài hoạt động tại Thái Lan
Trong tình hình nước ta hiện nay, vai trò của các DNV&N lại càng đặc biệt quan trọng Mặc dù nước ta đã có những bước phát triển nhanh và ổn định từ sau cải cách kinh tế, nhưng so với nhiều nước trên thế giới, nước ta là một nước có cơ sở vật chất yếu kém, trình độ công nghệ và kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị cũng như giữa các vùng trong nước cao, tốc độ đô thị hoá diễn ra còn chậm nên quá trình tạo việc làm và chuyển dịch lao động từ nông thôn sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra chậm Quá trình hội nhập kinh tế thế giới, nhất là việc tham
Trang 19gia Tổ chức Thương mại thế giới WTO trong tương lai gần đang đặt ra nhiều thách thức cho các DNV&N Trong bối cảnh đó, định hướng phát triển DNV&N với công nghệ hiện đại theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tham gia cạnh tranh, giải quyết việc làm, phát triển nông thôn cũng như tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng là nhiệm
vụ chiến lược lâu dài của đất nước Thực tế phát triển kinh tế đất nước cho thấy DNV&N đã và đang có một vai trò hết sức quan trọng và mang tính chiến lược
III VẤN ĐỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DNV&N VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế và tính tất yếu của xu thế hội nhập
Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá đã được nói đến rất nhiều Có nhiều người ủng hộ tích cực song cũng có không ít người phản đối Theo quan điểm của mỗi người sẽ có những cách hiểu và đưa ra những khái niệm khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, trên khía cạnh tích cực có thể nói
toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là sự giao thoa, hội tụ tương đối các giá trị và nguồn lực của các quốc gia, các nền kinh tế nhằm tạo ra sự đồng thuận và làm gia tăng của cải toàn cầu
Có thể nói toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu mang tính khách quan của lịch sử thế giới
Trên thực tế, hoạt động thương mại giữa các quốc gia đã phát triển từ rất sớm, các thương gia Hy Lạp, Ai Cập, ấn Độ, Trung Quốc đã vượt qua những chặng đường dài để buôn bán sản phẩm của mình hình thành nên con đường
tơ lụa nổi tiếng trong lịch sử Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng đã được đánh dấu bởi các giai đoạn phát triển của thương mại quốc tế mà theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về kinh tế quá trình vận động đã trải qua các giai
đoạn sau: Giai đoạn Thương mại (1500 - 1850): thời kỳ này bắt đầu bằng
Trang 20những cuộc phát kiến địa lý của những nhà thám hiểm Thương mại thế giới trong thời kỳ này chủ yếu gắn với hoạt động kinh doanh của các thương nhân
đi tìm kiếm của cải ở những miền đất xa lạ Giai đoạn Khai thác (1850 -
1914): Với cuộc cách mạng công nghiệp đã làm thay đổi bản chất của hoạt động kinh doanh, các thương gia tìm kiếm các nguyên liệu thô, rẻ hơn nhờ việc đầu tư nước ngoài Hiệu quả của hoạt động kinh doanh là sự kết hợp giữa
kỹ năm lao động địa phương và cách quản lý của các chủ đầu tư, từ đó phong
cách và chuẩn mực phương Tây đã bắt đầu thống trị Chuyển sang giai đoạn
Nhượng địa (1914 - 1945): tư tưởng gia của các công ty phương Tây đối với
các nước nhận đầu tư là đặc trưng cơ bản Điều này đã tạo ra sự phản kháng
và khuyến khích các chính phủ và các doanh gia tìm kiếm sự độc lập lớn hơn
cả về chính trị và thương mại, thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nước thực dân
và dẫn tới giai đoạn Dân tộc (1945 - 1970), nhiều công ty đã có cơ hội để
khai thác điều kiện kinh doanh mới trên khắp thế giới, tạo ra tầm nhìn toàn cầu cho khả năng kinh doanh Các nhà kinh doanh bắt đầu tìm kiếm cả thị trường và các yếu tố đầu vào cho sản xuất trên khắp thế giới và ý tưởng sản xuất các bộ phận chi tiết khác nhau của một sản phẩm tại những nơi khác nhau để đạt được tính hợp lý và chi phí hiệu quả bắt đầu phổ biến Và từ những năm 1960 trở lại đây, chiến lược kinh doanh toàn cầu của các công ty bắt đầu được triển khai một cách mạnh mẽ nhằm tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mới hiệu quả hơn Hợp tác kinh tế giữa các quốc gia đã cho phép các nước phát huy lợi thế của mình, tận dụng được nguồn lực của các quốc gia khác, mở rộng thị trường để tìm kiếm thêm nhiều cơ hội kinh doanh Cùng với sự phát triển của các phương tiện vận tải và thông tin liên lạc, giới hạn về không gian đã bị xoá bỏ, thị trường thế giới đã trở thành một thực thể thống nhất, nền kinh tế của các nước không thể tồn tại mà không có sự tác động, giao thoa với các nền kinh tế khác Vì vậy, xét đến cùng, toàn cầu hoá là kết quả của chính sự vận động tự thân của nền kinh tế thế giới với sự phát triển
Trang 21của các phương tiện vận tải, sự hỗ trợ của các nhân tố kỹ thuật, công nghệ truyền thông và thông tin, trên cơ sở sự nhận thức của con người có cân nhắc đến lợi ích của từng quốc gia riêng biệt và lợi ích của toàn bộ cộng đồng xã hội Trước tính tất yếu của xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia không thể không
mở cửa nền kinh tế của mình, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thực hiện tự
do hoá thương mại và đưa đất nước vào cuộc cạnh tranh mang tính chất quốc
ta đã có những chính sách, chủ trương thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước Trước những thay đổi to lớn về kinh tế thế giới, cách mạng khoa học kỹ thuật và sinh học, sự tan rã của hệ thống XHCN Đông Âu, từ
Trang 22Đại hội VII Đảng ta đã chủ trương “Độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ đối ngoại” Theo tinh thần đó, năm 1992 nước ta đã nối lại quan
hệ với các tổ chức WB, IMF, ADB Tháng 7/1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN); năm 1996 tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); tháng 3/1996 tham gia diễn đàn hợp tác á- Âu với tư cách là thành viên sáng lập; tháng 11/1998 Việt Nam trở thành viên chính thức của APEC; tháng 12/1994 Việt Nam đã nộp đơn xin vào WTO và đang đàm phán để gia nhập tổ chức này vào cuối năm 2006 Trong văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ĐCS Việt Nam đã xác định: “Toàn cầu
hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế, các công ty xuyên quốc gia Đối với nước ta, tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế trong thời gian tới được nâng lên một bước mới gắn với việc thực hiện các cam kết quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế” Để cụ thể hoá Nghị quyết ĐH IX về hội
nhập kinh tế quốc tế, ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết
07-NQ/TW chỉ rõ “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ
và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
chính là để thực hiện các mục tiêu mở rộng thị trường cho các hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam; tranh thủ vốn và công nghệ mới và kỹ năng quản lý để thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước Ngày 24/3/2002, Thủ tướng Phan
Trang 23Văn Khải đã ban hành Quyết định số 37/02/QĐ - TTg cùng với Chương trình
hành động của Chính phủ để thực hiện nghị quyết số 07 - NQ/TW
2 Cơ hội cho các DNV&N Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế
Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc
tế và xu thế này chính là chìa khoá cho sự phát triển của đất nước Liệu các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được gì khi tham gia vào một sân chơi mang tính quốc tế mà ở đó sự cạnh tranh diễn ra hết sức khốc liệt? Cơ hội cho các DN Việt Nam được thể hiện trên các phương diện:
2.1 Mở cửa thị trường với dung lượng lớn và nhu cầu có khả năng thanh toán cao
Trên một phân đoạn thị trường ở một vùng lãnh thổ, các DNV&N khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp có quy mô và tiềm lực Song khi hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận với các thị trường tiềm năng lớn như Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và các khu vực thị trường khác với hơn 5 tỷ người tiêu dùng Trên một thị trường
mở, nếu như mảng thị phần lớn dễ thuộc vào tay các doanh nghiệp lớn thì cũng luôn tồn tại cùng một lúc những đoạn thị trường của các nhóm khách hàng nhỏ, các nhóm khách hàng ngách hình thành do sự khác biệt về sức mua, thói quen, tập quán và văn hoá tiêu dùng cũng như một loạt các yếu tố khác gắn với đặc trưng nhu cầu của từng cá nhân khách hàng Ngoài ra, cùng với những nhu cầu của các thị trường lớn có thể được đáp ứng bởi các tập đoàn công ty toàn cầu lớn, uy tín và kinh nghiệm lâu năm trên thị trường thì vẫn luôn có một khoảng trống thị trường được tạo ra bởi các đợt sóng của quá trình chuyển giao của các thế hệ kỹ thuật Đây là cơ hội thuận lợi cho những người đi sau
Trang 242.2 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt nam nói chung và DNV&N nói riêng tiếp cận nhanh chóng với công nghệ tiên tiến hiện đại
Thông qua chuyển giao công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không phải trải qua những bước dò dẫm ban đầu, chỉ cần nghiên cứu đổi mới cho phù hợp với ứng dụng thực tế, do đó giảm bớt được thời gian cũng như chi phí nên thời gian để đuổi kịp trình độ phát triển của các nước phát triển sẽ giảm xuống
Có nhiều con đường để các DNV&N tiếp cận với công nghệ mới như: tiến hành liên doanh, liên kết, thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ nhờ đó có thể nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, có thể bảo vệ được thị trường nội địa khi nước ta tiến hành hội nhập sâu rộng hơn Các DNV&N với sự năng động, linh hoạt của mình chính là đối tượng dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận
và đổi mới công nghệ nhất
2.3 Các DNV&N có thể tiếp cận với nguồn vốn quốc tế dưới nhiều hình thức
Khi thị trường vốn của các nước phát triển bão hoà, lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn đầu tư giảm xuống, đồng thời các nguồn lực tự nhiên trở nên khan hiếm thì các công ty lớn và các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào các quốc gia đang phát triển nhằm tận dụng nguồn lực tự nhiên giá rẻ, khai thác thị trường còn tiềm năng và hưởng các chính sách ưu đãi từ chính phủ các nước nhận đầu tư Bên cạnh đó, khi quá trình hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá chưa được tiến hành triệt để thì đầu tư vốn vào các nước đang phát triển cũng là cách
để tránh các hàng rào thuế quan mà các nước này đánh vào hàng nhập khẩu Ngoài ra, khi tham gia vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp sẽ có
cơ hội để tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao trình độ phát triển kinh tế và chất lượng cuộc sống con người ở các quốc gia
Trang 25đang phát triển Tuy nhiên, các tổ chức này cũng yêu cầu các quốc gia phải cải cách các quy định pháp luật và hành chính phù hợp với yêu cầu luật pháp quốc tế
2.4 Cơ hội học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng quản lý từ các nước phát triển
Một trong những điều kiện để thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa là sự phát triển của công nghệ thông tin - viễn thông Hệ thống thông tin toàn cầu là điều kiện để nâng cao dân trí, mở rộng giao lưu giữa các dòng văn hoá, các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc một thế giới mở, nâng cao năng lực đổi mới và hiện đại hoá công tác quản lý, trao đổi tri thức và kinh nghiệm, tiết kiệm thời gian và nguồn lực Trong tiến trình hội nhập và mở cửa kinh tế, cùng với việc đầu tư vốn và chuyển giao công nghệ là sự thâm nhập của cách thức làm việc, quản lý của các công ty lớn Những người quản lý các DNV&N ở nước ta hiện nay chủ yếu là đội ngũ những người doanh nhân trẻ tuổi, đầy hoài bão, năng động, ham học hỏi, có khả năng nắm bắt và tiếp thu cái mới một cách nhanh chóng, do vậy tiếp nhận được kinh nghiệm và kỹ năng quản lý của những công ty lớn sẽ giúp đội ngũ những doanh nhân thế hệ mới đến với thành công trong công cuộc chinh phục thị trường quốc tế
2.5 Có điều kiện tham gia nhanh vào phân công lao động quốc tế theo các dây chuyền sản xuất hoặc các công đoạn kinh doanh của các công ty
đa quốc gia
Khi tham gia vào hội nhập quốc tê, thông thường các DNV&N đóng vai trò cung cấp các bộ phận, linh kiện cho các doanh nghiệp lớn hoặc đóng vai trò giúp tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp này Điều này sẽ giúp các DNV&N tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất
Trang 262.6 Hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam được đối xử bình đẳng như các nước khác trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Điều đó sẽ cải thiện được sức cạnh tranh của các hàng hoá cũng như doanh nghiệp và quốc gia Các hoạt động xuất nhập khẩu được mở rộng, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập quốc dân và nâng cao mức sống nhân dân
3 Thách thức đối với các DNV&N Việt Nam khi hội nhập
3.1 Năng lực cạnh tranh của Việt Nam nói chung còn ở thứ bậc thấp trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và hàng hoá
Xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2004 Việt Nam xếp thứ 77 trong tổng số 104 nước được xếp hạng Năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam vẫn còn kém so với nhiều nước khác Xét về các tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, tổ chức tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam cũng thấp hơn so với các nước khác trong khu vực và thế giới Nhiều mặt hàng được coi là có khả năng cạnh tranh như gạo, cà phê, dệt may, giày dép đang có nguy cơ giảm sút về sức cạnh tranh Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực chưa có nhiều mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn Hơn nữa, phần lớn trong số đó hiện nay đang gặp phải những vấn đề khó khăn mang tính cơ cấu như hạn chế về năng suất, diện tích canh tác, khả năng khai thác, đánh bắt Việc phát triển các mặt hàng mới đang gặp phải những khó khăn lớn về vốn, công nghệ và định hướng thị trường tiêu thụ Điều này có thể chứng minh ở sự tăng trưởng xuất khẩu thấp trong những năm đầu thế kỷ 21 - dưới 10% (những năm 90 của thế kỷ 20 bình quân là 20%) Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam phải đối đầu với cuộc cạnh tranh không cân sức vì phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp
có quy mô vừa và nhỏ và tham gia thị trường quốc tế muộn Theo số liệu điều
Trang 27tra của Tổng cục thống kê, tại thời điểm 31/12/2004, Việt Nam có 79 420 doanh nghiệp có tổng số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, chiếm 86.6% tổng số doanh nghiệp cả nước 3 Hơn nữa, vốn kinh doanh lại rất hạn chế trong khi phải trải rộng phạm vi kinh doanh cả trong và ngoài nước nên khó có khả năng đầu tư vào quy trình công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, cạnh tranh được với các sản phẩm ngoại có tiêu chuẩn quốc tế Về
cơ sở vật chất, so với nhiều quốc gia khác trong khu vực, các DNV&N Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu (so với Thái Lan, nước ta tụt hậu khoảng 25 - 30 năm) khiến cho năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, giá đầu vào cao khiến khó cạnh tranh về giá thành Tiềm lực vật chất nghèo nàn dễ dẫn đến hạn chế tầm nhìn cho các chương trình phát triển chiến lược Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có trình độ hạn chế đã gây khó khăn cho việc tiếp nhận và sử dụng công nghệ mới, do vậy tới nay Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết lợi thế của người đi sau Trình độ quản lý và kinh nghiệm hoạt động trên thị trường quốc tế của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam cũng là thách thức trong điều kiện hội nhập Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nguy cơ không theo kịp yêu cầu cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường
3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng cho SXKD của các DNV&N còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn, bao gồm cả giá đầu vào và chi phí trung gian cao
Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam phải sử dụng trên 40% nguyên phụ liệu nhập khẩu, thậm chí trong một số ngành tỷ lệ này lên đến 70 - 80% khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị phụ thuộc, hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu thấp Ngoài ra, các chi phí trung gian như giá cước vận chuyển, chi
3
Tổng cục Thống kê
Trang 28phí hải quan, điện nước, thông tin liên lạc và các khoản “lót tay” đã làm tăng đáng kể chi phí của các doanh nghiệp
3.3 Việt Nam phải mở cửa thị trường, vai trò bảo hộ của Nhà nước sẽ yếu dần đi và không còn nữa
Nước ta đã và đang tham gia vào các tổ chức quốc tế, các liên minh, hiệp hội kinh tế, điều này đã khiến chúng ta có một sân chơi bình đẳng với các quốc gia khác song cũng khiến cho các DNV&N còn non trẻ có ít cơ hội nhận được sự bảo hộ của Nhà nước, dẫn đến việc suy giảm khả năng bảo vệ thị trường nội địa Các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải cạnh tranh không những ở thị trường nước ngoài mà còn ngay tại thị trường trong nước Các đối thủ tiềm năng chính của các doanh nghiệp Việt Nam là các nước ASEAN và Trung Quốc Cơ cấu sản phẩm xuất sang các nước chủ yếu như Nhật Bản và
Mỹ của các nước ASEAN cũng tương tự như Việt Nam, nhưng các nước đó lại có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam khoảng 10 năm Ngoài ra, các nước ASEAN đã chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn như linh kiện điện tử, chíp, bộ nhớ Trung Quốc cũng
có thể mạnh hơn Việt Nam về giá nhân công rẻ và lực lượng lao động dồi dào Hơn nữa các doanh nghiệp Trung Quốc đã có tỷ lệ nội địa hoá khá cao trong các mặt hàng đang có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mạnh như viễn thông, vô tuyến điện và các hàng hoá khác Việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO, quan hệ láng giềng thân thiện với Việt Nam ngày càng được cải thiện vừa tạo sức ép to lớn, nhưng cũng tạo ra nhiều lực đẩy đối với các doanh nghiệp Việt Nam Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, việc Trung Quốc gia nhập WTO đặt ra cho Việt Nam những thách thức lớn về xuất khẩu sang nước thứ ba do khả năng cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc được tăng cường sau khi được hưởng những điều kiện thương mại bình đẳng và ưu đãi của WTO Trong đó 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Trang 29của Trung Quốc (hàng dệt may, giày dép, sản phẩm điện tử bán dẫn, đồ dùng nội địa, đồ chơi, trang thiết bị thể thao ) cũng chính là những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam Nhìn chung, cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc và Việt Nam khá tương đồng và tập trung vào những sản phẩm sử dụng nhiều lao động Đồng thời những đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc (Nhật, Mỹ, EU, ASEAN, Hàn Quốc, .) cũng chính là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam Trung Quốc đổi mới mở cửa trước Việt Nam nên có nhiều kinh nghiệm tiếp cận thị trường cạnh tranh quốc tế hơn Việt Nam
3.4 Hệ thống pháp luật, chính sách, chế độ quản lý của Việt Nam chưa thống nhất và đồng bộ, vẫn còn nhiều bất cập về pháp lý và thể chế,
về cấu trúc thị trường và hành vi cạnh tranh
Quá trình hội nhập đòi hỏi phải có sự điều chỉnh lớn về chính sách và pháp luật để phù hợp với các cam kết, thông lệ và chuẩn mực quốc tế đảm bảo cho tự do cạnh tranh Các doanh nghiệp thương mại Việt Nam đang tham gia tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện của nền kinh tế quá độ, có
sự chênh lệch lớn về năng lực tổ chức, sự thiếu đồng bộ về hệ thống pháp luật
Với đặc trưng của nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ như thể chế hành chính và luật pháp còn cồng kềnh, chồng chéo, phức tạp, chưa đồng bộ, kém hiệu quả, chẳng hạn như một số thủ tục liên quan đến giải phóng mặt bằng, đất đai, triển khai dự án đầu tư đã tạo điều kiện cho một số quan chức nhà nước sách nhiễu doanh nghiệp, gây ra các hiện tượng tiêu cực Đồng thời
do yêu cầu của việc sửa đổi luật pháp cho phù hợp với luật pháp quốc tế, nhiều văn bản luật của nước ta còn mang tính chất thử nghiệm, không nhất quán, không ổn định, nhiều khi mâu thuẫn khiến cho các doanh nghiệp nản lòng không thực hiện các dự án đầu tư lớn mang tính chất dài hạn
Trang 303.5 Tư tưởng ỷ lại của các doanh nghiệp vào sự bảo hộ của Nhà nước còn lớn
Nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp vẫn còn coi việc hội nhập kinh tế là của Nhà nước, của Chính phủ Trong khi đó các cam kết hội nhập yêu cầu Việt Nam phải xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng theo xu hướng xoá bỏ phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, xoá bỏ những biện pháp bảo hộ, trợ cấp không phù hợp với thông
lệ quốc tế Nhiều nhà phân tích nhận định, hiện nay các DNV&N Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho hội nhập kinh tế quốc tế Tư tưởng cũng như hiểu biết của các doanh nghiệp về một sân chơi mới bình đẳng, cạnh tranh chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ
3.6 Bề dày văn hoá của các DNV&N Việt Nam trong nền kinh tế thị trường chưa hình thành một cách rõ nét
Đất nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu với lối tư duy manh mún, thêm vào đó là một khoảng thời gian dài thực hiện nền kinh tế tập trung, bao cấp đã hình thành nên những thói quen, những cách nghĩ không phù hợp với lối tư duy tự chủ, năng động trong một nền kinh tế mở Với sự phát triển của các DNV&N và sự tham gia của một đội ngũ doanh nhân trẻ, chúng ta đang dần dần thay đổi cách nghĩ, lối tư duy và thói quen làm việc truyền thống, song thời gian chưa đủ để có thể xoá bỏ hết văn hoá kinh doanh cũ Tư tưởng phụ thuộc và ỷ lại vẫn còn tồn tại, các doanh nghiệp vẫn chưa chủ động
và chưa dám chấp nhận thử thách để tìm kiếm những cơ hội mới
Hội nhập kinh tế quốc tế đang đến gần, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất
là DNV&N cần phải tìm cách khắc phục những hạn chế và phát huy những lợi thế của mình để đứng vững trong môi trường cạnh tranh quốc tế, luôn giữ vai trò chiến lược trong sự phát triền kinh tế đất nước Chính phủ cần nỗ lực hơn nữa để tạo một môi trường pháp lý bình đẳng, có lợi cho các doanh
Trang 31nghiệp trong cuộc chơi và đặc biệt có những chính sách hỗ trợ thích hợp để thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này Chúng ta hãy xem Trung Quốc - đất nước có rất nhiều điểm tương đồng với chúng ta về văn hóa, kinh tế, chính trị - đã làm gì để phát triển các DNV&N trong quá trình hội nhập
Trang 32CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DNV&N TRUNG QUỐC
I ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DNV&N TRUNG QUỐC
1 Sự phát triển của DNV&N Trung Quốc
Trước khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, các DNV&N Trung Quốc, đặc biệt là khu vực tư nhân không có cơ hội tồn tại và phát triển vì bị kiềm chế bởi những lý do chính trị
Từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa, các DNV&N đã có một môi trường thuận lợi để tăng trưởng và phát triển Bằng cách chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc đã nới lỏng những giới hạn, tạo điều kiện cho các DNV&N bao gồm doanh nghiệp tập thể ở các thành thị, doanh nghiệp hương trấn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển một cách nhanh chóng Với tốc độ phát triển chóng mặt của nền kinh tế Trung Quốc, nhiều loại hình DNV&N đã được thành lập Năm 1980, số lượng doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu tập thể thuộc các làng, trấn (xí nghiệp hương trấn) khoảng 377 300 doanh nghiệp Trong số đó có 1400 doanh nghiệp lớn, 3400 doanh nghiệp loại vừa và 372 500 doanh nghiệp nhỏ, với tỷ
lệ lần lượt là 0.37%, 0.90%, 98.73% 4 Cùng năm đó, Trung Quốc có 1.81 triệu doanh nghiệp thương mại (bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân), trên 99% trong số đó là DNV&N Số doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân là 686 000 doanh nghiệp
Kinh tế Trung Quốc đã có sự tăng trưởng rất nhanh vào những năm
1980, theo đó là sự bùng nổ số lượng DNV&N Trong năm 1990, tổng số doanh nghiệp công nghiệp đạt 7 957 800 doanh nghiệp, tỷ lệ doanh nghiệp
4
Niên giám Thống kê Trung Quốc 1981
Trang 33lớn, vừa và nhỏ lần lượt là 0.95%, 2.27%, 96.78% Sự tăng nhanh về số lượng các DNV&N phản ảnh thực tế phát triển nhanh chóng của DNV&N Bên cạnh
sự tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp công nghiệp, số lượng doanh nghiệp xây dựng, thương mại, thực phẩm và đồ uống, dịch vụ cũng không ngừng tăng lên so với năm 1980 năm 1990 đã tăng lên 300% 5
Trong thập kỷ 90, kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì xu hướng phát triển nhanh và ổn định, quy mô của toàn bộ nền kinh tế không ngừng được mở rộng Theo tiêu chuẩn mới về quy mô doanh nghiệp được ban hành năm 1998,
cả nước có 7 864 doanh nghiệp lớn, 14 371 doanh nghiệp vừa và 139 798 doanh nghiệp nhỏ, chiếm tỷ lệ lần lượt là 4.85%, 8.87%, 86.28% trong tổng
số doanh nghiệp6 So sánh với những con số giữa năm 1980 và 1990, trong khi tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa tăng lên thì tỷ lệ doanh nghiệp
có quy mô nhỏ giảm đi 10% Có một số nguyên nhân: (1) Số lượng doanh nghiệp lớn và vừa tăng sau khi điều chỉnh cơ cấu, hợp nhất và sát nhập; (2) Với sự thay đổi quy định về quy mô doanh nghiệp, một số lượng lớn DNV&N trước đây không được đưa vào thống kê do quy mô quá nhỏ; (3) Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã chuyển từ nền kinh tế khan hiếm sang nền kinh tế dư thừa Việc đẩy mạnh chính sách mở cửa và cuộc khủng hoảng kinh
tế châu á đã đặt các doanh nghiệp Trung Quốc vào sự cạnh tranh quốc tế khốc liệt hơn Do tiến hành cải cách, số lượng DNV&N quốc doanh bị cắt giảm rất nhiều Nhiều DNV&N ngoài quốc doanh cũng để mất thị trường do nhiều nguyên nhân, bao gồm: áp lực của việc bảo vệ môi trường, khó khăn về vốn, gánh nặng thuế tăng lên, cạnh tranh trên thị trường khốc liệt Tóm lại, để duy trì đà tăng trưởng số lượng DNV&N như đã thấy trong những năm 1980,
Trang 34Trong những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đã nhận thấy được tầm quan trọng của DNV&N trong nền kinh tế vì thế đã không ngừng nỗ lực tạo môi trường pháp lý ổn định và thuận lợi, đồng thời có những chính sách
hỗ trợ cho các DNV&N phát triển Gần đây nhất là việc ban hành “Luật Thúc
đẩy phát triển DNV&N” có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2003
Hiện nay, DNV&N vẫn đang phát triển mạnh mẽ và tiếp tục đóng góp vào
sự phát triển kinh tế - xã hội Trung Quốc Các DNV&N Trung Quốc cũng có những chức năng như các DNV&N ở các quốc gia khác: tạo việc làm, cải tiến công nghệ, đào tạo đội ngũ doanh nhân mới năng động, phát triển quan hệ kinh
tế quốc tế, tạo ra môi trường cạnh tranh để duy trì sức sống cho nền kinh tế, bên cạnh đó DNV&N còn có những tác động đặc biệt đối với sự chuyển đổi hệ thống kinh tế và cơ cấu xã hội của Trung Quốc Ví dụ như sự phát triển của DNV&N ngoài quốc doanh không chỉ thay đổi cơ cấu sở hữu mà còn đặt nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế thị trường ở Trung Quốc Hiện tại, số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã vượt xa số lượng doanh nghiệp nhà nước Ngoại trừ hơn 20 triệu doanh nghiệp một chủ, tỷ lệ doanh nghiệp có tư cách pháp nhân ngoài quốc doanh đã đăng ký tăng từ 26.1-59.5% từ năm 1996 đến 2001 Đóng góp của doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng đã vượt xa so với các doanh nghiệp quốc doanh, theo con số thống kê về sản lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp thì trong 3 tháng đầu năm 2003, khu vực nhà nước và tập thể chỉ chiếm 30% trong khi khu vực ngoài quốc doanh là 70%
Trang 35Quốc - tiến hành với 2 cuộc nghiên cứu độc lập vào năm 1998 lần lượt với
2000 và 14 000 DNV&N Số câu hỏi đưa ra trong 2 cuộc điều tra lần lượt là
303 và 3 027 Cuộc khảo sát đầu tiên cho thấy phần lớn nguồn vốn (trên 50% tổng nguồn vốn) của 3/4 DNV&N được hỏi là do tự tích luỹ, 53.5 % doanh nghiệp (tương đương với 162 doanh nghiệp) nhận được vốn vay từ ngân hàng; trong số doanh nghiệp được khảo sát, 66.7% số doanh nghiệp nhà nước, 47.1% số doanh nghiệp tập thể, 53.7% số doanh nghiệp tư nhân, 34.5% số doanh nghiệp liên doanh vay được vốn từ ngân hàng, hầu hết là từ ngân hàng thương mại nhà nước Cuộc khảo sát này cũng cho thấy trong số những doanh nghiệp được vay vốn, 94% trong tổng số doanh nghiệp nhà nước, 70% trong tổng số doanh nghiệp liên doanh là có được khoản vay từ ngân hàng thương mại nhà nước; 58.3% trong tổng số doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể vay từ ngân hàng nhà nước, 25% vay từ các tổ chức hợp tác tín dụng nông thôn (RCCs); 40.9% trong tổng số doanh nghiệp tư nhân có được khoản vay từ các ngân hàng thương mại nhà nước và 25% vay từ các cá thể hoặc các tổ chức phi tài chính.7
Mẫu của cuộc khảo sát thứ 2 có quy mô hơn nhưng kết quả của 2 cuộc khảo sát về tình hính tài chính của các DNV&N Trung Quốc lại giống nhau Trong tổng số các doanh nghiệp được nghiên cứu, 55% doanh nghiệp (tương đương với 1666 doanh nghiệp) có được các khoản vay tuy nhiên các dự án đầu tư và vốn lưu động của các doanh nghiệp này chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn tự có Cuộc điều tra thứ 2 đã cho thấy 67% DNV&N được khảo sát tăng đầu tư vào tài sản cố định bằng chính vốn tự huy động; chỉ có 3% doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố định ban đầu hoàn toàn bằng khoản vay từ các tổ chức tài chính Số doanh nghiệp vay vốn để đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn số doanh nghiệp vay vốn đầu tư vào tài sản cố định, nguồn vốn vay
7
Financing Difficulties and Structural Characteristics of SMEs in China - Yanzhong Wang
Trang 36cho tài sản lưu động nhiều hơn cho tài sản cố định Liên quan đến nguồn vốn lưu động, 55% doanh nghiệp được khảo sát có 100% vốn lưu động là vốn tự có; 24% doanh nghiệp có trên 50% vốn lưu động là vốn tự có; 12% có ít hơn
50% vốn lưu động là vốn tự có, chỉ 9% có vốn lưu động là vốn vay (Bảng 3)
Bảng 3: Tỷ lệ nguồn vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp đƣợc khảo sát
Vốn vay (%)
Nguồn khác (%)
Vốn tự
có (%)
Vốn vay (%)
Nguồn khác (%)
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của nhóm Lin Hanchuan, 2003
Nhóm dự án của Chương trình nghiên cứu doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc do hiệp hội Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc cùng với Uỷ ban nghiên cứu Kinh tế tư nhân Trung Quốc tiến hành 5 mẫu nghiên cứu trên cả nước đối với các doanh nghiệp tư nhân vào các năm 1993, 1995, 1997, 2000,
2002 Hai cuộc điều tra đầu tiên cho thấy rằng quy mô của doanh nghiệp tư nhân rất nhỏ và vốn đăng ký trung bình là 0.286 triệu nhân dân tệ (NDT) vào năm 1993 và 1.4 triệu NDT vào năm 1995 Khi thành lập doanh nghiệp tư nhân, 65.5% vốn là do tự tích luỹ, 21% từ các khoản vay ngân hàng và các tổ chức hợp tác tín dụng nông thôn (RCCs), 13.5% vay từ bạn bè, họ hàng và người quen Cuộc điều tra năm 2002 cho thấy vốn trung bình của doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên 2.5 triệu NDT, nhưng nguồn vốn tự tích luỹ vẫn là nguồn chủ yếu để thành lập doanh nghiệp (chiếm 55% nguồn vốn) Khi bắt
Trang 37đầu kinh doanh, hầu hết nguồn vốn cần thiết là từ tớch luỹ và vay mượn từ cỏc
cỏ nhõn chứ khụng phải từ ngõn hàng Trong số 3 258 doanh nghiệp được nghiờn cứu, 31.6% (tương đương với 1029 doanh nghiệp) vay vốn từ cỏc cỏ nhõn, 23.4% (tương đương với 760 doanh nghiệp) vay từ ngõn hàng và cỏc tổ chức hợp tỏc tớn dụng nụng thụn (RCCs) Trong số 954 doanh nghiệp vay vốn
từ ngõn hàng và RCCs thỡ 30% vay dưới 100 000 NDT, 73.4% vay ớt hơn 1
triệu NDT từ ngõn hàng để bắt đầu kinh doanh (Bảng 4)
Bảng 4: Nguồn vốn cỏc doanh nghiệp tƣ nhõn vay từ cỏc ngõn hàng và
RCCs khi bắt đầu hoạt động kinh doanh
Đơn vị: 10 000 Nhõn dõn tệ
Giỏ trị khoản vay %
Số lượng doanh nghiệp
Giỏ trị khoản vay %
Số lượng doanh nghiệp
>1000
Tổng
11.84 11.74 4.51 15.51 3.14 3.46
Nguồn: Nhóm dự án Nghiên cứu doanh nghiệp t- nhân Trung Quốc, 2003
Các khoản vay từ ngân hàng đã chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn vốn của các doanh nghiệp h-ơng trấn (TVEs), nh-ng đã giảm xuống trong những năm cuối
thập niên 1990 (Bảng 5) Điều này đã cho thấy rằng cải cách quyền về tài sản của
các xí nghiệp h-ơng trấn mà cụ thể là việc khoán, cho thuê hoặc giao cho t- nhân quản lý các xí nghiệp này và chuyển sang chế độ tự hạch toán kinh doanh đã khiến chuyển h-ớng nguồn vốn đầu t- Theo kết quả một cuộc khảo sát 116
Trang 38DNV&N (trong đó có trên 80% là doanh nghiệp tập thể) ở miền bắc tỉnh Giang Tô đ-ợc tiến hành bởi Viện KT-XH Giang Tô vào năm 1998 về nguồn vốn đầu t- cho các dự án quan trọng, 25.4% doanh nghiệp đ-ợc khảo sát (30 doanh nghiệp) thực hiện những dự án đầu t- quan trọng từ vốn vay ngân hàng; 23.7% (28 doanh nghiệp) từ nguồn vốn huy động từ công nhân; 16.9% (20 doanh nghiệp) từ nguồn vốn huy động từ ng-ời dân của các làng xã; 16.1% (19 doanh nghiệp) từ nguồn vốn tự tích luỹ; 6.7% (8 doanh nghiệp) từ các khoản vay cá nhân và 11% (13 doanh nghiệp) từ các nguồn vay khác
Bảng 5: Nguồn vốn đầu t- của các xí nghiệp h-ơng trấn (1992-1997)
Năm Vay Ngõn
hàng (%)
Vốn tự cú (%)
Vốn trong nước (%)
Vốn nước ngoài (%)
Vốn hỗ trợ của chớnh phủ (%)
1992
1997
38.9 22.6
33.1 42.7
7.9 12.1
5.9 11.4
6.0 6.2
Nguồn: Viện phỏt triển nụng thụn của Học viện KH - XH Trung Quốc, 2001
Qua kết quả những cuộc khảo sỏt trờn, ta cú thể rỳt ra một số kết luận về đặc điểm tài chớnh của cỏc DNV&N Trung Quốc như sau:
Thứ nhất, quy mụ nguồn vốn của cỏc DNV&N Trung Quốc đó tăng lờn
theo từng năm Năm 1993, vốn đăng ký trung bỡnh của doanh nghiệp tư nhõn
là 0.286 triệu NDT, năm 1995 tăng lờn 1.4 triệu NDT và đến năm 2002 thỡ đạt con số 2.5 triệu NDT
Thứ hai, nguồn vốn chủ yếu của cỏc DNV&N vẫn là nguồn vốn tự cú, tiếp
đú là vốn vay từ cỏc cỏ nhõn Nguồn vốn vay từ cỏc ngõn hàng, nhất là ngõn hàng nhà nước rất khiờm tốn và hầu hết là giành cho cỏc doanh nghiệp tập thể và doanh nghiệp nhà nước Theo một vài nhận xột từ cỏc nghiờn cứu của cỏc nhà kinh tế thỡ cỏc DNV&N làm đơn xin cỏc ngõn hàng cấp vốn chỉ chiếm 30% tổng
số doanh nghiệp, thậm chớ tỷ lệ này cú đạt 100% thỡ cũng chỉ cú 30 - 40% nhu cầu vay vốn được thoả món Điều này cú nghĩa là một lượng lớn doanh nghiệp
Trang 39không được các ngân hàng cấp vốn Trong một cuộc điều tra do Lin Hanchuan dẫn đầu cho kết quả 53.8% doanh nghiệp được hỏi chọn “Khan hiếm vốn” là khó khăn lớn nhất đối với sự phát triển của doanh nghiệp Như vậy, kênh huy động vốn của cá DNV&N vẫn chưa thực sự được mở rộng, không có điều kiện
để các DNV&N tiếp cận được với các nguồn vốn khác trên thị trường tài chính
và lượng vốn huy động được do không phải từ các tổ chức tín dụng (như ngân hàng hay RCCs) nên giá trị khoản vốn huy động không cao
Thứ ba, vẫn còn một thực tế là có sự đối xử bất bình đẳng với các doanh
nghiệp tư nhân trong việc cấp tín dụng Các Ngân hàng thương mại nhà nước vẫn ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập thể trong khi
số lượng doanh nghiệp tư nhân chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng số DNV&N Việc các DNV&N rất khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân hàng, nếu có thì chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập
thể có rất nhiều nguyên nhân: Một là, các doanh nghiệp tập thể và doanh
nghiệp nhà nước có được sự bảo trợ của nhà nước nên khả năng thu hồi vốn
vay cao hơn so với doanh nghiệp tư nhân; Hai là, hệ thống tài chính kế toán
của các DNV&N cho đến nay vẫn chưa thực sự thống nhất và công khai hoá nên để cấp một khoản vay cho các DNV&N, chi phí để đánh giá khả năng tài
chính của các doanh nghiệp này rất cao; Ba là, quy mô của các DNV&N nhỏ
nên giá trị khoản vay thường bé, không đủ lớn để các ngân hàng thu lời
Thứ tư, trong việc sử dụng vốn để đầu tư của các DNV&N, hầu hết
nguồn vốn được giành cho đầu tư tài sản lưu động Nhiều doanh nghiệp chưa đầu tư đúng mức vào hoạt động nghiên cứu và phát triển Theo báo cáo của
Uỷ ban Cải cách và Phát triển nhà nước, trong nửa đầu năm 2004, các DNV&N chỉ trích 20.85% lợi nhuận cho hoạt động nghiên cứu và phát triển8
Xu thế này sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tồn tại và phát triển dài hạn cũng
8
Nguồn Xinhuanet
Trang 40như khả năng cạnh tranh của các DNV&N khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế
II THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DNV&N TRUNG QUỐC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
Hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc thể hiện rõ nhất trong việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc
sẽ tham gia vào các hoạt động kinh tế của thế giới với tư cách là một thành viên của cộng đồng kinh tế thế giới Rõ ràng, điều này sẽ mang đến cơ hội đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế thế giới của đất nước được mệnh danh là
“công xưởng của Thế giới” này nhưng đồng thời cũng mang đến rất nhiều thách thức
1 Trong ngắn hạn
Theo các quy tắc cơ bản của WTO và những cam kết của chính phủ Trung Quốc về cắt giảm thuế nhập khẩu, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa dần dần lĩnh vực dịch vụ, trong ngắn hạn, những thách thức mà các DNV&N Trung Quốc phải đối mặt chủ yếu là do những yếu tố về thị trường Các DNV&N Trung Quốc có lợi thế so sánh về các ngành công nghiệp
có yêu cầu sử dụng nhiều lao động như dệt may, thuộc da, chế biến thực phẩm, đồ gỗ, cao su, các sản phẩm nhựa Những ngành công nghiệp này, nhất
là ngành may mặc và dệt, là những nguồn quan trọng mang lại thặng dư thương mại cho Trung Quốc Nhưng Trung Quốc thiếu các lợi thế so sánh về
kỹ năng tay nghề, vốn, công nghệ và trang thiết bị Do đó, các sản phẩm chất lượng thuộc loại cao cấp và vừa trong những ngành này sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu từ các nước phát triển Do những hạn chế
về nguồn lực tự nhiên, các ngành công nghiệp chế biến của Trung Quốc như chế biến gỗ sẽ phải đối mặt với thách thức từ những nước có nguồn lực dư thừa Đồng thời DNV&N Trung Quốc cũng sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh