Trước nhu cầu đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam DIV ra đời tháng 7 năm 2000 đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, kiểm soát và đảm bảo an toàn, lành mạnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
NHU CẦU HỘI NHẬP
Sinh viên thực hiện : Dương Thị Hải Anh
Lớp : Nhật 2 - K41 - KTNT
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Hoàng Ánh
HÀ NỘI, 11/2006
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, chính xác, được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy
Tác giả khóa luận
Dương Thị Hải Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀTÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI 3
I Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi 3
1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 4
2 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với nền kinh tế quốc dân 5
2.1 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin của quần chúng đối với hệ thống ngân hàng 5
2.2 Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng quốc gia phát triển 6
2.3 Bảo hiểm tiền gửi thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm phục vụ đầu tư phát triển bền vững 7
3 Hợp đồng bảo hiểm tiền gửi 8
3.1 Các bên trong hợp đồng bảo hiểm tiền gửi 9
3.2 Đối tượng được bảo hiểm (Subject – matter - insured) 11
3.3 Giá trị bảo hiểm (Insured Value) 11
3.4 Số tiền bảo hiểm (Amount Insured) 12
3.5 Phí bảo hiểm tiền gửi (Premium) 13
3.6 Quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo hiểm tiền gửi 14
II Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi tại một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 15
1 Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi thế giới 15
2 Tình hình phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ - Đức - Đài Loan 17
2.1 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ 17
2.2 Hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức 19
Trang 42.3 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Đài Loan 22
3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24
3.1 Công tác kiểm tra giám sát cần phải được quan tâm hàng đầu 24
3.2 Cần đảm bảo qui mô vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 25
3.3 Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi 25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 27
I Quá trình phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 27
1 Sự ra đời của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 27
2 Sự cần thiết phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 28
2.1 Nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường 28
2.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam 30
2.3 Nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển 32
2.4 Nhu cầu hội nhập của nền kinh tế 33
II Thực trạng hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 35
1 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 35
1.1 Quy định chung 35
1.2 Cơ cấu tổ chức 35
1.3 Quy tắc hoạt động của tổ chức 38
1.3.1 Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 38
1.3.2 Đối tượng được bảo hiểm 38
1.3.3 Hạn mức chi trả bảo hiểm 39
1.3.4 Phí bảo hiểm 40
1.4 Nội dung hoạt động 41
2 Tình hình hoạt động của Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 42
2.1 Công tác cấp chứng nhận bảo hiểm 42
2.2 Công tác giám sát từ xa 45
2.3 Công tác kiểm tra tại chỗ 45
2.4 Công tác thu phí bảo hiểm tiền gửi 47
Trang 52.5 Công tác chi trả tiền bảo hiểm và thanh lý các tổ chức tín dụng
bị giải thể 50
2.5.1 Công tác chi trả tiền bảo hiểm 50
2.5.2 Công tác thanh lý các tổ chức tín dụng bị giải thể 52
2.6 Công tác hỗ trợ tài chính 54
3 Đánh giá hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 55
3.1 Thành tựu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 55
3.1.1 Hoàn thiện công tác quản trị điều hành 55
3.1.2 Hiệu quả trong hoạt động nghiệp vụ 56
3.1.3 Phát triển nguồn nhân lực 58
3.2 Hạn chế trong hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 59
3.2.1 Cơ sở hạ tầng pháp lý chưa đồng bộ, chưa tương xứng với nhiệm vụ của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và thông lệ quốc tế 59
3.2.2 Đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động của bảo hiểm tiền gửi còn hạn hẹp 60
3.2.3 Năng lực tài chính còn yếu 61
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 63
I Chiến lược phát triển của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tới năm 2015 63
1 Xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầng pháp lý 64
2 Củng cố, tăng cường năng lực tài chính và đảm bảo tính minh bạch hệ thống 64
3 Phát triển đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và hội nhập quốc tế 65
4 Tái cấu trúc bộ máy, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản lý 66
5 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 67
Trang 6II Giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi đáp ứng
nhu cầu hội nhập 68
1 Giải pháp vĩ mô 68
1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 68
1.2 Nghiên cứu triển khai phí bảo hiểm tiền gửi không đồng hạng 71
2 Giải pháp vĩ mô 74
2.1 Cải tiến công tác kiểm tra, giám sát 74
2.2 Cải tiến công tác chi trả bảo hiểm tiền gửi 76
2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ tài chính 77
2.4 Phát triển nguồn nhân lực 78
III Kiến nghị 80
1 Kiến nghị đối với Chính phủ 80
2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 80
3 Kiến nghị đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 82
4 Kiến nghị đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7gửi Việt Nam luỹ kế đến năm 2005
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới đất nước sau gần 20 năm đã mang lại cho Việt Nam
nhiều thành công về kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng Việt Nam
vẫn chưa thực sự thoát khỏi ngưỡng một nước nghèo Để đẩy mạnh hơn nữa
phát triển kinh tế, nước ta cần tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại
hóa, phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và tranh thủ nguồn lực bên
ngoài, trong đó phát huy nguồn nội lực trong nước là yếu tố quyết định
Để phát huy nguồn nội lực, Việt Nam cần thu hút tối đa nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư để phục vụ đầu tư phát triển và trọng trách này được
giao chủ yếu cho ngành ngân hàng Do vậy, việc nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ hệ thống ngân hàng là yêu cầu quan trọng, đặc biệt xu thế mở
cửa thị trường tài chính tiền tệ hiện nay đang tạo ra những áp lực cạnh tranh
lớn giữa các ngân hàng khiến hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro
hơn Trước nhu cầu đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) ra đời
tháng 7 năm 2000 đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
gửi tiền, kiểm soát và đảm bảo an toàn, lành mạnh hoạt động hệ thống ngân
hàng nên đã tạo điều kiện thu hút tối đa được tiền tiết kiệm trong dân Sau 6
năm đi vào hoạt động, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả ban đầu đáng khích
lệ nhưng tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vẫn còn rất non trẻ và còn bộc
lộ nhiều bất cập, chưa tương xứng với vai trò của một tổ chức bảo hiểm tiền
gửi Với lý do như vậy, em lựa chọn đề tài: “Hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập” cho bài
khóa luận của mình
Xây dựng một hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả có vai trò rất quan
trọng đối với sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Tại Việt
Nam, hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luôn là vấn
đề được nhiều nhà khoa học, các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và công
Trang 9chúng quan tâm Bài khóa luận muốn thông qua việc nghiên cứu các vấn đề
có tính chất nguyên lý, chuẩn mực về bảo hiểm tiền gửi, các mô hình hoạt động bảo hiểm tiền gửi tiêu biểu trên thế giới và thực trạng hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong thời gian qua để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của tổ chức
và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế Bài khóa luận gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tiền gửi và tình
hình hoạt động bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
- Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
- Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam còn rất mới mẻ, các vấn đề
lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi là vấn đề phức tạp, chưa có nhiều thực tiễn ở nước ta Bên cạnh đó, do những hạn chế nhất định trong quá trình thu thập thông tin và hạn chế về mặt thời gian nghiên cứu nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình hoàn thành khóa luận Em xin cám ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã trang
bị cho em những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường và sự động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình tham gia viết khóa luận
Trang 10CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀTÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI
I Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
1.1 Định nghĩa
Khi gửi tiền vào các tổ chức huy động tiền gửi, người gửi tiền luôn phải
lo lắng cho số tiền gửi của mình vì nếu tổ chức nhận tiền gửi hoạt động không hiệu quả khiến bị giải thể hay phá sản thì họ sẽ bị mất toàn bộ số tiền gửi đó
Vì vậy, để làm an lòng người gửi tiền, các tổ chức huy động tiền gửi đã tham gia vào một tổ chức chuyên trách về tiền gửi có tên gọi là Tổ chức bảo hiểm tiền gửi để bảo hiểm cho số tiền gửi của người gửi tiền tại tổ chức của mình
Vậy bảo hiểm tiền gửi (BHTG) thực chất là gì? Theo tác giả John
Black định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế Oxford (1997): “BHTG (Deposit
Insurance) là dịch vụ bảo hiểm rủi ro các ngân hàng hay các trung gian tài chính bị phá sản cho người gửi tiền tại các ngân hàng hay các tổ chức trung gian tài chính đó”
Như vậy theo John Black, BHTG là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
tổ chức huy động tiền gửi đối với người gửi tiền Theo đó, khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra, tức là khi ngân hàng hay tổ chức huy động tiền gửi phá sản thì Tổ chức BHTG sẽ đứng ra thanh toán số tiền gửi gồm cả gốc và lãi cho người gửi tiền
Theo tài liệu “Hướng dẫn xây dựng một hệ thống BHTG hiệu quả (Guidance for developing effective deposit insurance system)” của Diễn đàn
ổn định tài chính (Financial Stability Forum): “BHTG là một sự đảm bảo rằng
số dư tiền gửi và lãi cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán tới một giới hạn nhất định khi các ngân hàng có khoản tiền gửi đó lâm vào tình trạng phá sản và mất khả năng thanh toán” Theo định nghĩa
Trang 11này, sẽ có một giới hạn nhất định trong việc chi trả tiền bồi thường và chỉ những khoản tiền gửi nhất định mới được bảo hiểm
Tại Việt Nam, nghị định số 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi không có định nghĩa cụ thể nào về BHTG nhưng đã nêu rõ ba mục đích cơ bản của hoạt động BHTG tại Việt Nam:
“Hoạt động BHTG tại Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người gửi tiền; góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng”
Trên cơ sở những nội dung phân tích trên về BHTG chúng ta có thể
hiểu BHTG một cách khái quát như sau: “BHTG là loại nghiệp vụ bảo hiểm
cho trường hợp tổ chức nhận tiền gửi bị phá sản, theo đó tổ chức BHTG phải tiến hành thanh toán các khoản tiền gửi thuộc phạm vi và giới hạn bảo hiểm cho những người gửi tiền của một tổ chức huy động tiền gửi được bảo hiểm khi tổ chức này bị phá sản”
1.2 Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
- BHTG là loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy
động tiền gửi đối với người gửi tiền.”Trách nhiệm dân sự” trong trường hợp này là trách nhiệm hoàn trả tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) cho ngưòi gửi tiền khi
có rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra đối với tổ chức đó
- BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc và phi thương mại Đây là loại
hình bảo hiểm bắt buộc bởi mọi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đều
phải tham gia BHTG nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và sự an toàn của
hệ thống ngân hàng và hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều có quy
định này trong Luật điều chỉnh hoạt động BHTG BHTG là hoạt động phi
thương mại vì BHTG hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà với mục tiêu
lớn nhất là bảo vệ quyền lợi của ngưòi gửi tiền và giữ vững ổn định hệ thống tài chính quốc gia
- BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG Dịch vụ BHTG thuộc
loại hàng hóa công không thuần tuý bởi loại hàng hóa này không loại trừ thụ
Trang 12hưởng một cách tuyệt đối Tính chất này của hàng hóa do BHTG cung cấp có được là do xuất phát từ mục đích của hoạt dộng BHTG là góp phần đảm bảo
sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Người hưởng lợi trực tiếp của dịch vụ BHTG là người gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi có tham gia BHTG, còn người hưởng lợi gián tiếp từ dịch vụ này là người đi vay do tính
ổn định của hệ thống tài chính đem lại Bên cạnh đó, sự ổn định của hệ thống tài chính còn giúp các ngành kinh tế khác phát triển thuận lợi hơn Như vậy, người thụ hưởng từ dịch vụ BHTG là toàn xã hội
2 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với nền kinh tế quốc dân
Mặc dù ra đời rất muộn so với lịch sử phát triển của hệ thống Ngân hàng thế giới và chỉ mới thực sự được Chính phủ các nước quan tâm phát triển từ những năm 80 của thế kỉ 20 nhưng BHTG đã và đang ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng không thể thiếu của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói chung và của thị trường tài chính thế giới nói riêng Vai trò của BHTG đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện qua các mặt sau:
2.1 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin của quần chúng đối với hệ thống ngân hàng
Trong quá trình hoạt động, công ty BHTG sẽ tiến hành việc giám sát và kiểm tra việc chấp hành các qui định của pháp luật về BHTG và an toàn trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG Công ty sẽ cung cấp cho công chúng những thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về các tổ chức tín dụng, ngăn chặn kịp thời những nguy cơ có thể làm ảnh hưởng tới tính lành mạnh và an toàn trong hoạt động ngân hàng và có các biện pháp
hỗ trợ tài chính khẩn cấp, kịp thời cho các tổ chức tín dụng này khi nhận thấy
họ gặp khó khăn, giúp các họ tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình Nếu tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG bị phá sản và mất khả năng thanh toán, BHTG sẽ đứng ra thanh toán tất cả tiền gửi cho người gửi tiền tại tổ
Trang 13chức đó Việc có một tổ chức sẵn sàng thay thế các ngân hàng đứng ra đảm bảo thanh toán các khoản tiền gửi cho người gửi tiền khi ngân hàng bị phá sản
và mất khả năng thanh toán không chỉ giúp tạo dựng và củng cố niềm tin cho người dân khi họ gửi tiền vào các ngân hàng mà còn có tác dụng lấy lại niềm tin của họ vào hệ thống ngân hàng
Như vậy, bằng các nghiệp vụ của mình BHTG giúp các tổ chức huy động tiền gửi gặp khó khăn tiếp tục thực hiện các chức năng cơ bản, duy trì và củng cố niềm tin của dân chúng vào hẹ thống ngân hàng
2.2 Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng quốc gia phát triển
Vai trò này của BHTG được thể hiện ở ba góc độ:
- BHTG tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng Trước
hết, hoạt động BHTG tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời và các ngân hàng có qui mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn
Có thể nhận thấy tâm lý chung của người gửi tiền là luôn muốn gửi tiền vào ngân hàng lớn, có uy tín lâu năm với hi vọng cho sự ổn định và an toàn cho khoản tiền gửi của mình, vì thế sẽ là rất khó khăn cho các ngân hàng có qui
mô hoạt động hạn chế và các ngân hàng mới bước chân vào thị trường tài chính Nhưng khi có hoạt động BHTG với chính sách BHTG bắt buộc, tất cả các ngân hàng đều được yêu cầu tham gia BHTG thì tiền gửi ở tất cả các ngân hàng đều được bảo hiểm như nhau, và do đó người dân sẽ không còn phải băn khoăn hay bắt buộc phải lựa chọn các ngân hàng lớn để gửi tiền như trước nữa Bên cạnh đó là những hỗ trợ tài chính cần thiết cho các ngân hàng khi ngân hàng gặp khó khăn, đặc bịêt là trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động Điều này đã tạo cơ hội cho các ngân hàng có qui mô nhỏ và ngân hàng mới đi vào hoạt động phát triển và có thể cạnh tranh được với các ngân hàng lớn
Trang 14- BHTG góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Thông qua
nghiệp vụ giám sát thường xuyên của mình, BHTG sẽ sớm nắm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, biết được những yếu kém của
nó để có các biện pháp hỗ trợ tài chính kịp thời như cho vay vốn hoặc cho tiến hành sáp nhập với các ngân hàng khác Khi ngân hàng bị phá sản và mất khả năng thanh toán, BHTG sẽ đứng ra chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền Như vậy, Hoạt động BHTG giúp các ngân hàng yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút ra khỏi lĩnh vực kinh doanh một cách trật tự, không ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và tới hệ thống ngân hàng, do đó
đã giúp ổn định tâm lý cho người gửi tiền khi ngân hàng có dấu hiệu hoạt động không tốt, tránh được tình trạng phản ứng lan truyền rút tiền ồ ạt ra khỏi
hệ thống ngân hàng
- BHTG tạo điều kiện cho các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động
BHTG hoạt động trên nguyên tắc các thành viên cùng tương trợ, cùng giúp đỡ nhau, khi một ngân hàng gặp khó khăn, BHTG sẽ hỗ trợ tài chính để giúp ngân háng đó Nguồn hỗ trợ tài chính này chính là khoản tài chính mà các thanh viên đã đóng góp vào tổ chức BHTG Vì vậy, để tránh hiện tượng các ngân hàng khác ỷ lại vào mình, các ngân hàng sẽ thưòng xuyên giám sát hoạt động của các tổ chức thành viên, giúp đỡ các thành viên khi cần thiết, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức thành viên Và ngay bản thân các ngân hàng cũng luôn tự nâng cao chất lượng hoạt động của mình để có thể giảm thiểu phí đóng bảo hiểm hàng năm
2.3 Bảo hiểm tiền gửi thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm phục vụ đầu tư phát triển bền vững
Để nền kinh tế của một quốc gia có thể phát triển ổn định, bền vững thì trước hết chúng ta phải xây dựng được một cơ sở hạ tầng kĩ thuật tốt và vững vàng Muốn vậy thì cần phải có vốn và chắc chắn nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản không phải là nhỏ Một quốc gia có rất nhiều kênh huy động vốn
Trang 15khác nhau: huy động từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; huy động từ các nguồn viện trợ của nước ngoài và các tổ chức phi Chính phủ…Thế nhưng
để nền kinh tế quốc gia thực sự có thể phát triển ổn định lâu dài thì nguồn vốn
đó phải là nguồn vốn trong nước, được huy động từ chính nội lực của quốc gia Chúng ta có thể huy động nguồn vốn này từ tiền gửi của các tổ chức nhưng nguồn vốn từ các tổ chức thường không ổn định và có thời hạn ngắn Trong khi đó nếu chúng ta huy động được nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư thì nguồn vốn này không những lớn mà còn có tính ổn định cao, thời hạn dài
và đây thực sự mới là nguồn vốn ổn định cho đầu tư phát triển dài hạn Nhưng tiền gửi của dân cư lại phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống ngân hàng, nếu ngân hàng hoạt động tốt, hiệu quả, đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi của người dân, đồng thời lại có thể trả lãi thỏa đáng, tạo các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền và rút tiền thì chắc chắn ngân hàng đó sẽ huy động được tối đa tiền gửi từ dân cư
Như đã phân tích ở trên, thông qua các nghiệp vụ của mình BHTG đã góp phần tạo dựng và củng cố niêm tin của dân chúng vào ngân hàng đồng thời thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng Thực chất là BHTG
đã tạo môi trường thuận lợi, giúp các ngân hàng có được điều kiện thuận lợi
và thỏa đáng cho người gửi tiền, góp phần trực tiếp và gián tiếp giúp các ngân hàng huy động được tối đa nguồn tiết kiệm trong dân cư và đó cũng chính là góp phần thúc đẩy huy động tiền gửi cho đàu tư phát triển
Thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy nếu áp dụng cơ chế BHTG theo loại tiền gửi thì tốc độ huy động tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm cao hơn rất nhiều so với tốc độ huy động các loại tiền gửi khác Còn nếu
áp dụng cơ chế không phân biệt loại tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm thì tổng số tiền gửi tại các tổ chức được bảo hiểm sẽ có xu hướng tăng Tại Việt Nam, sau 5 năm Tổ chức BHTG chính thức đi vào hoạt động, tốc độ huy
Trang 16động tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng 20%/năm1
, và dự tính mức tăng này sẽ tiếp tục cao hơn nữa do BHTG VN đang có những cải cách lớn để giúp các ngân hàng cũng như các tổ chức huy động tiền gửi hoạt động có hiệu quả cao hơn
3 Hợp đồng bảo hiểm tiền gửi
Khi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đề nghị tham gia BHTG và được tổ chức BHTG chấp nhận, hợp đồng BHTG được kí kết Thực chất, hợp đồng BHTG là một cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền (gồm cả tiền gốc và lãi tích lũy) cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản và mất khả năng thanh toán Một hợp đồng BHTG bao gồm những nội dung chính sau:
3.1 Các bên trong hợp đồng bảo hiểm tiền gửi
Người bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Insurer)
Người bảo hiểm trong BHTG là tổ chức BHTG Tổ chức BHTG là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán
Tại mỗi quốc gia khác nhau, tổ chức BHTG được thành lập theo các hình thức khác nhau Nếu xét về hình thức sở hữu, tổ chức BHTG được tổ chức theo 3 loại hình sau:
- Tổ chức BHTG thuộc sở hữu Nhà nước: bản chất của hoạt động
BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hóa công nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại các ngân hàng Nhưng mục đích chung nhất của BHTG
là góp phần kiểm soát và duy trì tính ổn định và an toàn của hoạt động ngân hàng nên tại nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống BHTG dưới hình thức là
1 Bùi Khắc Sơn, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam – tầm nhìn và kỳ vọng, Tạp chí ngân hàng số 6/2005,tr.7
Trang 17một cơ quan quản lý Nhà nước Theo đó, tổ chức BHTG được thành lập dưới hình thức là một cơ quan của Chính phủ, có sự tham gia của Ngân hàng Trung ương, Bộ Tài chính
Vì là cơ quan Nhà nước nên vốn thành lập ban đầu và hỗ trợ tài chính khi cần thiết sẽ được Nhà nước đảm bảo, do đó có khả năng tạo được lòng tin với công chúng, đồng thời cũng có khả năng đáp ứng được nguồn tài chính khi có hiện tượng phá sản hàng loạt của các tổ chức tín dụng Nhìn chung, tổ chức BHTG theo hình thức sở hữu Nhà nước thường được áp dụng đặc biệt đối với các nước mới xây dựng hệ thống BHTG
- Tổ chức BHTG thuộc sở hữu tư nhân: Hình thức tổ chức này thông
thưòng được thành lập dưới hình thức là một công ty cổ phần do Hiệp hội ngân hàng của quốc gia đó lập nên, thành viên tham gia và góp vốn là các ngân hàng và tổ chức tài chính trong quốc gia đó Hình thức này thường được
áp dụng tại những nước có Hiêp hội ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành hệ thống ngân hàng và mỗi ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh
- Tổ chức BHTG theo hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân
Hình thức tổ chức này đã phát huy được những uu điểm, hạn chế được những nhược điểm của các hình thức trước, và có ưu điểm đặc biệt là có khả năng huy động vốn tối đa từ cả Chính phủ, các ngân hàng lớn và các tổ chức tín dụng Tổ chức BHTG được thành lập theo hình thức liên doanh sẽ được Nhà nước đầu tư tài chính ban đầu theo một tỷ lệ nhất định và cũng được Nhà nước hỗ trợ khi cần thiết
Người mua bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Assured)
Người mua BHTG là các tổ chức tham gia BHTG, bao gồm các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi Các tổ chức này khi tham gia BHTG phải có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và có quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền BHTG
Trang 18cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
Về cơ chế tham gia BHTG, tại mỗi nước quy định là khác nhau Có nước qui định việc tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức huy động tiền gửi, nhưng cũng có nước việc tham gia BHTG là tự nguyện Nhưng thông thường chỉ tại quốc gia mới xây dựng hệ thống BHTG mới áp dụng cơ chế tham gia tự nguyện, còn hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc
Người hưởng lợi bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Beneficiary)
Người được bảo hiểm trong BHTG là khách hàng có có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Những người gửi tiền này không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích luỹ trên tiền gửi trong hạn mức chi trả tiền BHTG (nếu chi trả tiền BHTG có xác định mức hạn mức), hoặc thanh toán toàn bộ tiền gửi (nếu chi trả tiền BHTG không xác định mức hạn mức)
3.2 Đối tượng được bảo hiểm (Subject – matter - insured)
Đối tưọng được bảo hiểm trong BHTG là các khoản tiền gửi tại tổ chức tính dụng tham gia BHTG, nhưng các tổ chức BHTG cũng qui định rõ loại tiền được bảo hiểm Thông thường hệ thống BHTG các nước đều bảo hiểm cho tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn bằng nội tệ của các cá nhân,
và không bảo hiểm cho các loại tiền gửi của các tổ chức, cá nhân nắm rõ hoạt động của ngần hàng hoặc hiều rõ qui luật của thị trường như các khoản tiền gửi của các ngân hàng, các cơ quan Chính phủ, các nhà đầu tư chuyên nghiệp
và của lãnh đạo các ngân hàng BHTG cũng không bảo hiểm cho các khoản tiền gửi có lãi suất cao hoặc có bảo hiểm nhưng việc bồi thưòng được qui định trong phạm vi số tiền gốc với lãi suất thấp hơn
Trang 19BHTG chỉ bảo hiểm cho loại tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra Rủi ro được bảo hiểm là rủi ro khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền Như vậy, rủi ro của tổ chức tham gia BHTG chỉ được coi là rủi ro được bảo hiểm khi thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện sau:
- Rủi ro là rủi ro phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động
- Tổ chức tham gia BHTG được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận là mất khả năng thanh toán
3.3 Giá trị bảo hiểm (Insured Value)
Là số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG, dùng làm cơ sở tính phí bảo hiểm tại tổ chức đó Giá trị bảo hiểm có thể là toàn bộ tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG, hoặc làốtàn bộ tiền gửi thuộc đối tưọng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG, hoặc là toàn bộ tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG nhưng chỉ tính trong giới hạn chi trả bảo hiểm Việc xác định
số dư tiền gửi nào làm cơ sở tính phí bảo hiểm tùy thuộc vào chính sách BHTG tại mỗi quốc gia
3.4 Số tiền bảo hiểm (Amount Insured)
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà tổ chức BHTG phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm Có hai hình thức chi trả BHTG được
áp dụng hiện nay trên thế giới:
- Chi trả không giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả toàn bộ số tiền
gửi (gồm cả lãi) thuộc đối tượng được bảo hiểm
- Chi trả có giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả chỉ tới một giới hạn
nhất định (gọi là Hạn mức chi trả) Nếu số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo
hiểm thấp hơn hoặc bằng giới hạn đó thì người gửi tiền sẽ được hoàn trả toàn
bộ số tiền gửi (bao gồm cả lãi cộng dồn) Còn nếu số dư tiền gửi (gồm cả lãi)
Trang 20lớn hơn mức chi trả BHTG đã được qui định thì người gửi tiền chỉ nhận được khoản tiền bồi thường bằng hạn mức chi trả BHTG
Như vậy, hạn mức chi trả BHTG là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG
sẽ thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra Hiện nay có hai phương thức xác định hạn mức chi trả:
- Xác định hạn mức chi trả theo người gửi tiền: là cách xác định mức
chi tiền bảo hiểm tối đa đối với một người gửi tiền tại một tổ chức tín dụng không căn cứ vào số lượng tài khoản hoặc số tiết kiệm mà người đó có tại một ngân hàng Nếu người gửi tiền có nhiều tài khoản tại một ngân hàng nhưng tổng số tài khoản đó vượt mức chi trả bảo hiểm tối đa đối với một người gửi tiền thì người đó cũng chỉ được nhận tiền bảo hiểm tối đa bằng hạn mức chỉ trả BHTG
- Xác định hạn mức chi trả theo tài khoản: là việc định mức chi trả bảo
hiểm tối đa cho một tài khoản tiền gửi tại một tổ chức nhận tiền gửi Một người gửi tiền nếu có nhiều tài khoản tại một tổ chức tín dụng thì tiền gửi trên mỗi tài khoản đều được bảo hiểm tối đa ở mức bằng hạn mức chi trả cho một tài khoản
3.5 Phí bảo hiểm tiền gửi (Premium)
Phí BHTG là khoản đóng góp tài chính của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để được bảo hiểm cho tiền gửi tại tổ chức mình Công thức tổng quát tính mức phí bảo hiểm đối với từng tổ chức tham gia BHTG như sau:
Pa = r.D
Trong đó: Pa: là mức phí BHTG hàng năm một tổ chức tham gia BHTG
đóng
r: tỷ lệ phí BHTG áp dụng đối với tổ chức tham gia BHTG
D: Số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG
Trang 21Như vậy, mức phí bảo hiểm phụ thuộc vào 2 biến số r và D, biến số D phụ thuộc vào qui mô hoạt động của mỗi tổ chức tín dụng, biến số r phụ thuộc vào cách qui định của từng tổ chức BHTG Thông thường có hai cách tính phí BHTG:
- Hình thức tính phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí BHTG cố định: theo hình
thức này, các tổ chức tham gia BHTG phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG áp dụng cho tất các tổ chức tín dụng tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia Mức phí BHTG đóng góp được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên số dư tiền gửi của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Cách tính phí BHTG này tương đối dễ dàng nhưng lại khiến cho các tổ chức huy động tiền gửi có mức độ rủi ro thấp phải gánh chịu chi phí trong khi những tổ chức có mức độ rủi ro cao hơn được hưởng lợi nên không phản ánh được mức
độ rủi ro của các tổ chức thành viên
- Hình thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro: theo đó tổ chức BHTG
sẽ tiến hành xếp hạng các tổ chức tín dụng tham gia BHTG, tổ chức nào có mức độ rủi ro cao sẽ phải đóng phí BHTG cao hơn các tổ chức tín dụng khác Cách tính phí này khắc phục được hạn chế của hình thức trước, có tác dụng khuyến khích các thành viên tiến hành quản trị rủi ro chặt chẽ Tuy nhiên, việc xác định mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng lại rất phức tạp, đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và liên quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng hình thức tính phí bảo hiểm này
3.6 Quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo hiểm tiền gửi
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức BHTG có quyền thu phí BHTG của các tổ chức tham gia BHTG theo quy định, có quyền yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG gửi các loại báo cáo tài chính khi cần thiết, yêu cầu tổ chức thực hiện đúng các quy định an toàn trong kinh doanh và có quyền được hoàn trả lại các khoản hỗ trợ
Trang 22tài chính đã cấp cho tổ chức tín dụng tham gia BHTG khi tổ chức này gặp khó khăn Bên cạnh đó, tổ chức BHTG có các nghĩa vụ như: chi trả các khoản tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hay giải thể trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa quy định; theo dõi, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về BHTG và các quy định về an toàn trong kinh doanh của các tổ chức tham gia BHTG, cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động của tổ chức tham gia BHTG cho các bên liên quan; hỗ trợ các
tổ chức tham gia BHTG khi các tổ chức này gặp khó khăn, có nguy cơ mất khả năng chi trả
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức tham gia BHTG có quyền yêu cầu tổ chức BHTG hỗ trợ khi gặp khó khăn và yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức của mình khi tổ chức này bị phá sản, giải thể Đồng thời, tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ nộp phí BHTG theo đúng quy định, cung cấp đầy đủ các loại báo cáo tài chính khi được tổ chức BHTG yêu cầu, thực hiện đúng quy định về BHTG cũng như an toàn trong kinh doanh, theo dõi-giám sát hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG khác, hoàn trả lại các khoản vay hỗ trợ cho tổ chức BHTG
Quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền
Người gửi tiền có quyền được tổ chức BHTG bảo hiểm cho số tiền gửi tại tổ chức tín dụng tham gia BHTG, được chi trả tiền bảo hiểm trong hạn mức quy định khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, giải thể và được tổ chức BHTG cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng Người gửi tiền có nghĩa vụ cùng với tổ chức BHTG và các cơ quan chức năng theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và việc chấp hành quy định về BHTG của các tổ chức này
II Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi tại một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 231 Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi thế giới
Khái niệm BHTG đã được nhiều quốc gia biết đến từ lâu Khi hoạt động BHTG công khai chưa được xuất hiện, bảo vệ tiền gửi đã được nhiều quốc gia thực hiện dưới các hình thức “bảo vệ ngầm” Hình thức bảo vệ ngầm
là việc Ngân hàng Trung ương hay Chính phủ có cam kết không công khai sẽ đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người nếu có hoạt động đóng cửa ngân hàng xảy ra và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền Vì đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm giữa người gửi tiền và ngân hàng, ngân hàng và ngân hàng Trung ương hay Chính phủ Nguồn gốc ra đời BHTG là xuất phát từ hoạt động “Bảo vệ tiền gửi công khai” Bảo vệ tiền gửi công khai là chính sách đảm bảo tất cả hay một phần tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được thanh toán cho người gửi tiền
Bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ (1829) với tên gọi “Chương trình bảo vệ trách nhiệm ngân hàng” được thực hiện ở New York “Trách nhiệm” được hàm ý trong chương trình này muốn đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi Tiếp theo chương trình này, từ năm 1831-1858, 5 vùng ở Mỹ (Vermont, Indiana, Michigan, Ohio, Iowa) đã thành lập tổ chức BHTG2 với mục đích bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ bể và bảo vệ người gửi tiền cá thể và người gửi các công cụ tiền gửi Mặc dầu hệ thống BHTG Mỹ hoạt động trong giai đoạn này rất thành công nhưng do vào cuối năm 1830, sự ra đời của chính sách “Ngân hàng tự do” ở Mỹ và sự thành lập hệ thống Ngân hàng quốc gia 1886 đã tạo điều kiện một số ngân hàng rút khỏi tổ chức BHTG
Thời kỳ tiếp theo của BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm
1908-1930 Từ 1908 - 1917 ở Mỹ có 8 vùng thành lập hệ thống BHTG (Oklahoma, Kansas, Nebraska, Texas, Mississippi, South Dakota, North Dakota, và Washington) Tính đến năm 1930, cả 8 hệ thống này đã bị đóng cửa do ảnh
2 Clifford F Thies and Daniel A Gerlowski: Deposit Insurance: A history of Failure
Trang 24hưởng của điều kiện kinh tế bất lợi làm cho những ngân hàng ở cả 8 vùng đóng cửa khiến tổ chức BHTG mất khả năng thanh toán
Tình hình hoạt dộng của các ngân hàng Mỹ đầu những năm 30 tiếp tục khó khăn, đặc biệt cuộc khủng hoảng kinht tế 1929-1933 đã khiến cho hàng nghìn ngân hàng bị đóng cửa Trước tình hình đó, Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation-FDIC) ra đời vào 1/1/1934, đây là mô hình được xem là hình mẫu đầu tiên về BHTG FDIC ra đời đã lấy lại lòng tin của dân chúng sau hàng loạt các cuộc sụp đổ ngân hàng, nhờ vậy đã giúp nước Mỹ thoát khỏi những khó khăn kinh tế và tiếp tục phát triển
Trước những thành công mà FDIC mang lại cho nền kinh tế Mỹ, các quốc gia khác trên thế giới đã nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động BHTG đối với sự phát triển ổn định của nền kinh tế và cũng thành lập tổ chức BHTG cho riêng mình Trong những năm 1960 trên thế giới chỉ có 6 quốc gia xây dựng hệ thống BHTG (Ấn Độ, Nauy, Philippin, Canada, Phần Lan, Cộng hòa Dominican), những năm 70 có thêm 5 quốc gia (Achentina, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ, Áo) Hầu hết các quốc gia đều xây dựng hệ thống BHTG vào cuối những năm 1990 và tính cho đến năm 2002 trên thế giới có
74 hệ thống BHTG3
Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các thệ thống BHTG trên thế giới và để các hệ thống BHTG này hoạt động thống nhất theo mục tiêu và nguyên tắc chung trong vai trò bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế tài chính thế
giới, ngày 6/5/2002 Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (International
Associaton of Deposit Insurers - IADI) được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ
Với sự tham gia của nhiều hệ thống BHTG, IADI đã đánh dấu sự quan tâm
3
Ray.Labrosse(2004), Báo cáo thường niên lần thứ hai của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế
Trang 25chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực phát triển hoạt động này trên phạm vi toàn cầu
IADI là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo luật Thụy Sỹ, quyền hành xử lý các vấn đề của Hiệp hội thuộc về Đại hội các thành viên Hiệp hội được điều hành bởi Hội đồng điều hành gồm 21 cá nhân xuất sắc đại diện cho các hệ thống BHTG trên thế giới Chỉ qua 4 năm hoạt động, IADI đã chứng tỏ vai trò của mình với nhiệm vụ gắn kết các hệ thống BHTG trên thế giới nhằm xây dựng một nền tài chính ổn định mang tính chất toàn cầu Cho đến nay số lượng thành viên của IADI đã tăng từ 34 lên 51 thành viên4
Hàng năm hiệp hội đều tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế về BHTG nhằm tạo một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên và chuẩn bị cho những thách thức mới đối với BHTG thế giới trong bối cảnh tình hình tài chính luôn thay đổi
2 Tình hình phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ - Đức - Đài Loan
2.1 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ
Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ từ 1929 - 1990
Mỹ là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng hệ thống BHTG Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, hàng loạt các công ty bị phá sản, ngân hàng đóng cửa và sự ra đời của Công ty BHTG Liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation–FDIC) như là một sự cứu cánh nhằm củng cố niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng
Ban đầu hệ thống BHTG Mỹ bao gồm nhiều quỹ BHTG riêng rẽ thuộc
sở hữu Nhà nước như: Quỹ BHTG thuộc hội đồng các ngân hàng cho vay mua nhà của Liên bang; Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang;
4
Ray.Labrosse(2004), Báo cáo thường niên lần thứ hai của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi
quốc tế
Trang 26Công ty BHTG Liên bang Mỹ Theo qui định của Mỹ, mọi tổ chức được phép huy động tiền gửi đều phải tham gia ít nhất một tổ chức BHTG
Từ khi ra đời cho đến những năm 1980, hệ thống BHTG Mỹ đạt được nhiều thành công và đã tạo dựng được một nền kinh tế tài chính ổn định, trung bình một năm chỉ có khoảng 20 ngân hàng bị phá sản, ít hơn nhiều so với con số 1000 ngân hàng vào giai đoạn 1929-1933 Nhưng từ khi Chính phủ
Mỹ thực hiện chính sách đổi mới tài chính: nới lỏng dịch vụ ngân hàng, thả nổi lãi suất làm tăng mạnh lãi suất, đặc biệt là cho phép ngưòi gửi tiền được gửi tiền qua môi giới vì vậy người gửi tiền nhờ môi giới chia nhỏ tiền gửi vào ngân hàng khác nhau…và cùng với cuộc khủng hoảng năng lượng 1981-1982 các cuộc phá sản của ngân hàng tiếp tục tăng lên Do những sai phạm trong quá trình xử lý các ngân hàng có nguy cơ phá sản nên Quỹ BHTG thuộc hội đồng các ngân hàng cho vay mua nhà của Liên bang và Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang bị giải thể vào năm 1989 Cho đến nay, FDIC là công ty lãnh đạo duy nhất của hệ thống BHTG Liên bang Mỹ
Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC)
Kể từ khi được thành lập 1/1/1934, FDIC đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc củng cố nền tài chính Mỹ Vốn hoạt động của FDIC do Chính phủ và các ngân hàng Nhà nước đóng góp, tỷ lệ phí đồng hạng đựơc áp dụng trong
59 năm và từ năm 1993 Mỹ áp dụng tỷ lệ phí không đồng hạng, và tỷ lệ này được xác định lại 2 lần/năm Hạn mức bảo hiểm từ 2500 USD/người qua nhiều lần thay đổi cho đến nay tăng lên 100.000 USD/người
Ttong quá trình hoạt động của mình, FDIC đặc biêt coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và đây được xem là yếu tố quyết định thành công của tổ chức này Ngay từ khi mới thành lập, FDIC đã có tới 4000 nhân viên giám sát-kiểm tra nhằm đánh giá các tiêu chí là thành viên của FDIC, đến năm
1995 con số này là 8000 nhân viên (so với Nhật Bản cả hệ thống BHTG chỉ
có 400 nhân viên) Chính nhờ có hệ thống kiểm tra-giám sát hữu hiệu này mà
Trang 27các ngân hàng Mỹ đã hoạt động thực sự hiệu quả Tuy nhiên cuộc khủng hoảng 1981-1982 cũng đã có tác động không nhỏ tới FDIC, các khoản chi phí
dự phòng và tổn thất đều tăng vọt khiến cho Quỹ BHTG bắt đầu bị thâm hụt
và FDIC đã bị giới tài chính chỉ trích rất nhiều
Để củng cố cho hoạt động của FDIC, năm 1991 Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật củng cố FDIC, cho phép FDIC vay từ kho bạc Mỹ tối đa 30 tỷ USD và được hoàn trả trong 15 năm với mức lãi suất như phí BHTG áp dụng cho các ngân hàng FDIC cũng được vay vốn lưu động tối đa 45 tỷ USD thế chấp bằng tài sản và số thanh toán các khoản nợ bằng nguồn vốn nhận từ phát mại tài sản của các ngân hàng bị phá sản Nhờ vậy FDIC đang ngày càng hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của các ngân hàng
Kể từ năm 1994, để giảm bớt gánh nặng cho Chính phủ, FDIC đã nghiên cứu tính khả thi đối với vấn đề BHTG tư nhân và xây dựng mô hình BHTG tư nhân và BHTG Nhà nước cùng tồn tại song song Đồng thời, để tăng cường sự giám sát hoạt động các ngân hàng nhận tiền gửi, FDIC đang
nghiên cứu áp dụng hình thức đồng bảo hiểm Theo đó, người gửi tiền có tiền
gửi trong giới hạn bảo hiểm vẫn phải chịu một phần tổn thất khi ngân hàng bi phá sản, do vậy họ sẽ đầu tư nhiều thời gian hơn để tìm hiểu tình trạng kinh doanh của ngân hàng nhận tiền gửi và lựa chọn ngân hàng ít rủi ro hơn FDIC cũng tiến hành xếp hạng các tổ chức được bảo hiểm và xếp 11 ngân hàng lớn nhất vào loại không thể phá sản, tức là nếu các ngân hàng này có dấu hiệu mất khả năng thanh toán FDIC sẽ rót những khoản tiền khổng lồ để cứu trợ Thực hiện chính sách này, FDIC không đặt vấn đề chi phí lên hàng đầu mà ưu tiên cho mục tiêu ổn định hệ thống tài chính, nhưng chính sách này vô hình chung
đã tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng lớn và cản trở hoạt động của các ngân hàng nhỏ
2.2 Hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
Mô hình hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
Trang 28Một trong những đặc trưng của hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức và là yếu tố cơ bản nhất mang lại thành công cho hệ thống là đã kết hợp được sự ủng hộ của Chính phủ và nguồn lực của bản thân các ngân hàng để giải quyết các vụ ngân hàng phá sản, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ một cách tối đa và hệ thống ngân hàng phát triển ổn định, lành mạnh Chính sự kết hợp này đã tạo cho hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức có được nguồn vốn hoạt động khổng lồ mà theo họ nhận xét, nếu có ngân hàng lớn nhất của Đức bị phá sản thì tổ chức bảo toàn tiền gửi vẫn có khả năng chi trả toàn bộ cho người gửi tiền Vì vậy, BHTG Đức được xem là mô hình BHTG hoạt động hiệu quả nhất hiện nay, và vì xuất phát từ mục đích đảm bảo an toàn cho toàn bộ tiền gửi tại
tổ chức được bảo hiểm nên Hệ thống BHTG Đức lấy tên là Hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức (BTTG)
Trong mô hình phát triển hệ thống BTTG Đức có ba loại hình bảo toàn cùng tồn tại:
- Hình thức bảo toàn tiền gửi của Nhà nước, thành lập 1/8/1998, công
ty đền bù cho khách hàng gửi tiền với giới hạn là 90% số dư tiền gửi
- Hình thức hệ thống bảo toàn chung thuộc công ty bảo hiểm toàn liên bang
- Hình thức bảo toàn do các tổ chức tín dụng kết hợp với nhau gồm: Quỹ bảo toàn tiền gửi thuộc Hiệp hội ngân hàng hợp tác xã (1930); Quỹ bảo toàn tiền gửi của quỹ tiết kiệm Đức (1966) và Quỹ bảo toàn tiền gửi thuộc Hiệp hội các ngân hàng tư nhân Đức (1974)
Như vậy, khác với hệ thống BHTG Mỹ chỉ bao gồm một công ty BHTG duy nhất, hệ thống BTTG Đức bao gồm nhiều loại hình quỹ bảo toàn tiền gửi khác nhau Chính sự đa dạng này đã cho phép hệ thống BTTG sử dụng được nguồn vốn của Chính phủ, tận dụng được năng lực tài chính của các tổ chức tham gia BTTG và đồng thời thúc đẩy các tổ chức cùng cung cấp dịch vụ BTTG cạnh tranh lẫn nhau nâng cao chất lượng dịch vụ
Ưu điểm - nhược điểm của hệ thống bảo toàn tiền gửi Đức
Trang 29Hệ thống BTTG Đức hoạt động phi lợi nhuận, tự nguyện trên tinh thần trợ giúp nhau vượt khó khăn Ở hệ thống này mức tiền gửi đựơc bảo hiểm gần như toàn bộ, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ tới mức tối đa, giới hạn bảo hiểm lên tới 30% vốn tự có pháp định của một ngân hàng Quan tâm hàng đầu của tổ chức BTTG không phải đợi đến lúc ngân hàng thành viên phá sản rồi mới bù đắp ít nhiều thiệt hại cho người gửi tiền Họ nắm vững tình hình hoạt động của các ngân hàng (qua hệ thống kiểm toán của Hiệp hội Ngân hàng), khi một ngân hàng gặp khó khăn, họ hỗ trợ tài chính giúp các ngân hàng đứng vững và phát triển trở lại bằng các khoản vay không lãi suất hoặc với lãi suất thấp bằng 50% lãi suất thông thường cùng kì hạn với thời hạn từ 6 tháng đến 1 năm Bên cạnh đó, vì hoạt động của quỹ mang tính chất tương hỗ, phi lợi nhuận nên quỹ thường xuyên có chính sách miễn giảm phí đối với thành viên gặp khó khăn, và khi quỹ phát triển dến mức độ có thể bù đắp toàn
bộ số tiền gửi của ngân hàng thành viên thì các thành viên sẽ không phải đóng phí Một ưu điểm nữa của Quỹ BTTG là khi rủi ro xảy ra thì việc chi trả tiền gửi thường diễn ra nhanh chóng, kịp thời Thực tế trên 50 năm hoạt động không có ngân hàng nào bị phá sản, tổ chức BTTG phải bù đắp cho người gửi tiền Họ quả quyết rằng, sắp tới nếu có ngân hàng lớn nhất lâm vào phá sản thì tổ chức BTTG vẫn có khả năng trả toàn bộ cho người gửi tiền Đây là sự khác nhau cơ bản giữa BHTG và BTTG
Với những ưu điểm của mình, Quỹ BTTG Đức đã góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng và tài chính quốc gia, tuy nhiên bên cạnh đó, Quỹ BTTG cũng bộc lộ những nhược điểm không tránh khỏi Vốn của Quỹ là do các ngân hàng thành viên tự nguyện đóng góp và thuộc sở hữu chung của các ngân hàng thành viên nên phụ thuộc rất lớn vào khả năng đóng góp của các ngân hàng thành viên, do đó, đối với những nước
mà hệ thống ngân hàng nhỏ bé và chưa phát triển thì qui mô vốn của quỹ là rất hạn chế Hơn nữa, Quỹ BTTG do không có tư cách pháp nhân nên có
Trang 30nhiều khó khăn trong các giao dịch tài chính trong quá trình hỗ trợ các ngân hàng thành viên và thanh lý tài sản của các ngân hàng bị phá sản Quỹ BTTG không được dân chúng tin tưởng bằng tổ chức BHTG Nhà nước vì đây chỉ là
sự cam kết của các chủ ngân hàng đối với người gửi tiền
2.3 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Đài Loan
Vào đầu những năm 1985, một số sự kiện hoảng loạn ngân hàng đã xảy
ra gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của Đài Loan đã đánh dấu sự khẩn thiết cần có một hệ thống BHTG để ổn định nền kinh tê tài chính đất nước Bộ tài chính và Ngân hàng Trung ương đã tổ chức và tài trợ thành lập Tổng công ty bảo hiểm Trung ương Đài Loan (CDIC) và khai trương hoạt động vào ngày 17/9/19855
Ban đầu hệ thống BHTG Đài Loan thực hiện cơ chế tự nguyện tham gia BHTG nhưng cơ chế này tỏ ra không hiệu quả Vì vậy, tháng 8/1995, Chính phủ Đài Loan đã sửa đổi Luật BHTG, chuyển cơ chế tham gia BHTG
tự nguyện sang cơ chế tham gia bắt buộc và số lượng tổ chức tham gia CDIC tăng lên rõ rệt từ 79 tổ chức (1986) lên 387 tổ chức (2006)
Nhờ ưu thế của một nước đi sau, trong quá trình xây dựng hệ thống BHTG, Đài Loan có cơ hội đầu tư nghiên cứu, thừa kế kinh nghiệm của các
hệ thống BHTG ra đời trước và đã đạt được nhiều thành công nhất định Cho đến nay, Đài Loan là quốc gia đầu tiên ở châu Á thành công trong việc áp dụng phí BHTG theo rủi ro và xây dựng Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính rất hiệu quả Để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, bài khóa luận xin đi sâu phân tích việc triển khai thu phí bảo hiểm theo rủi ro và Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính của Đài Loan
Triển khai thu phí bảo hiểm theo rủi ro
Thành công lớn nhất của CDIC là triển khai thu phí BHTG theo rủi ro Phí bảo hiểm đồng hạng được áp dụng từ khi thành lập tới tháng 7/1999 với
5 www.cdic.gov\aboutus (8/9/2006)
Trang 31mức phí là 0,05% tính trên số dư tiền gửi tính phí và lần lượt được giảm xuống còn 0,04%(1987) và 0,015%(1988) để tăng cường tính tự nguyện tham gia BHTG của các tổ chức tài chính
Cùng với việc thực hiện hệ thống BHTG bắt buộc, từ ngày 1/7/1999 CDIC triển khai chương trình hướng dẫn tính phí theo rủi ro Hệ thống tính phí theo rủi ro sử dụng 2 loại chỉ số: (1) chỉ số về mức độ đáp ứng yêu cầu về vốn hoạt động của tổ chức tham gia BHTG và (2) chỉ số tổng hợp theo kết quả phân loại số liệu kiểm tra của Hệ thống Cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính CDIC dành nhiều nguồn lực nghiên cứu và xác định tỷ lệ phí cho các
tổ chức tham gia BHTG đáp ứng sự công bằng và minh bạch tối đa và mức phí áp dụng cho từng tổ chức được giữ bí mật để giảm thiều rủi ro đạo đức
Có 3 mức phí và các mức phí cũng được tâng dần từ 0,015%, 0,0175%, 0,02% lên thành 0,05%, 0,055%, 0,06% để tăng tích lũy nguồn dự trữ.
Để triển khai phí BHTG theo rủi ro, CDIC đã có chương trình tranh thủ
sự đồng thuận của các tổ chức tham gia BHTG và các đối tác có liên quan hết
sức hấp dẫn Họ đưa tới đối tác thông điệp có tính thuyết phục cao: “nhằm
xây dựng một hệ thống BHTG tốt đẹp, những gì huy động đóng góp từ ngành tài chính được sử dụng cho quyền lợi của ngành” CDIC cũng đã tổ chức các
hội thảo để giải thích cặn kẽ tới tổ chức tham gia BHTG, Hiệp hội ngân hàng…Tiền thu phí bảo hiểm là nguồn chính để chi trả BHTG và để phù hợp với rủi ro tăng lên, CDIC đã tăng số tiền dành cho Quỹ chi trả từ 60% lên 90% số tiền thu phí
Hệ thống Cảnh báo sớm Quốc gia về tài chính
Hoạt động kiểm tra tài chính của CDIC cũng rất được quan tâm, từ năm
1996 CDIC đã tiến hành kiểm tra tất cả các tổ chức tài chính cộng đồng Hoạt động kiểm tra và hỗ trợ tài chính của CDIC đã có đóng góp to lớn trong duy trì ổn định hoạt động ngân hàng tại Đài Loan, cho đến nay chưa có tổ chức tham gia BHTG nào bị đóng cửa và đã có 54 tổ chức huy động tiền gửi đã
Trang 32được hỗ trợ vượt qua khó khăn Nhằm kiểm soát hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, CDIC ngay từ đầu đã thành lập Hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia
Hệ thống này sử dụng 2 công cụ giám sát chính là Hệ thống phân loại dữ liệu kiểm tra và Hệ thống phân loại Báo cáo thu nhập Nhờ vậy, CDIC đã có thể
cảnh báo sớm tình hình tài chính của các tổ chức thành viên Việc xây dựng và
phát triền thành công Hệ thống cảnh báo sớm quốc gia về tài chính được đánh giá là thành công to lớn của CDIC, góp phần quan trọng cho việc áp dụng thành công phí BHTG theo rủi ro ở Đài Loan
3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong quá trình xây dựng hệ thống BHTG, mỗi quốc gia với đặc điểm
và lợi thế riêng đều tìm cho mình những hướng đi mang màu sắc riêng, phù hợp với thực tế phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Từ kinh nghiệm của 3 hệ thống BHTG tiêu biểu trên thế giới: hệ thống BHTG Liên bang Mỹ-
hệ thống BHTG đầu tiên trên thế giới; hệ thống BHTG Đài Loan-hệ thống BHTG châu Á đầu tiên áp dụng thành công thu phí bảo hiểm theo rủi ro tín đụng; hệ thống BHTG Đức- hệ thống BHTG được đánh giá là thành công nhất thế giới hiện nay, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau cho Việt Nam trong việc lựa chọn và xây dựng mô hình BHTG phù hợp với tình hình phát triển của riêng quốc gia mình
3.1 Công tác kiểm tra giám sát cần phải được quan tâm hàng đầu
Có thể nhận thấy tất cả các hệ thống BHTG của cả Mỹ, Đức, Đài Loan đều đề cao vai trò của công tác kiểm tra và khẳng định đó là yếu tố quyết định tới thành công của các hệ thống BHTG Kiểm tra giám sát thường xuyên sẽ kịp thời uốn nắn và ngăn chặn các hoạt động làm ảnh hưởng tới tính an toàn,
ổn định của hệ thống ngân hàng Nếu công tác giám sát-kiểm tra có hiệu quả thì BHTG sẽ là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới đảm bảo an toàn tài chính quốc gia Thực tế đã cho thấy, thất bại của hệ thống ngân hàng Mỹ trong thế kỷ 19 chủ yếu là do Mỹ đã không làm tốt công tác kiểm tra giám sát
Trang 33nên đã không chấn chỉnh kịp thời hoạt động của các ngân hàng (người Mỹ gọi
3.2 Cần đảm bảo qui mô vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Kinh nghiệm của hệ thống BTTG Đức đã cho thấy qui mô vốn trong triển khai hoạt động của một tổ chức BHTG là rất quan trọng Ví dụ Đài Loan, qui mô vốn cũng đã được tăng từ 2 tỷ Đài tệ lên 5 tỷ Đài tệ Nhưng để huy động được một nguồn vốn lớn ngay từ đầu quả thực không phải là vấn đề đơn giản, tổ chức BHTG cần phải tranh thủ những đóng góp từ nhiều đối tác như Chính phủ, các ngân hàng lớn, các tổ chức tài chính, tổ chức bảo hiểm quốc tế… Đặc biệt cần tránh tình trạng nóng lòng tăng vốn bằng cách huy động vốn đóng góp quá cao từ các tổ chức tham gia BHTG vì có thể gây khó khăn cho các tổ chức trong khi họ lại đang mong muốn có được sự hỗ trợ để vượt qua kho khăn Đồng thời trong quá trình hoạt động cũng cần tạo cơ chế cho phép tổ chức BHTG huy động tài chính trong những trường hợp đặc biệt
Ví dụ Quốc hội Mỹ cho phép FDIC vay từ kho bạc tối đa 30 tỷ USD và được hoàn trả trong 15 năm, và cho phép FDIC vay vốn lưu động tối đa 45 tỷ USD Luật BHTG Đài Loan qui định CDIC được vay tài chính ngắn hạn đặc biệt từ
Ngân hàng Trung ương trong khuôn khổ bảo lãnh kí quĩ
6 Clifford F Thies and Daniel A Gerlowski: Deposit Insurance: A history of Failure
Trang 343.3 Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Cùng với xu thế nâng cao tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh và giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào các hoạt động cụ thể của các thành phần kinh tế, đối với các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường như Việt Nam, lựa chọn mô hình tổ chức cho tổ chức BHTG là một trong các vấn để có tầm quan trọng đặc biệt Trong qua trình xem xét để đi tới quyết định, chúng ta cần lưu tâm tới bản chất của dịch vụ BHTG là loại hàng hoá công Để hàng hóa này thích ứng với người tiêu dùng, tổ chức cung cấp hàng hóa đó cần có một nguồn tài chính lớn, cộng đồng đóng góp và hoạt động vì mục đích của cả cộng đồng Không đơn thuần một tổ chức hay một nhóm tổ chức có thể cung cấp được loại hình dịch vụ thuộc hàng hoá công này khi tổ chức đó chưa hội
tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết nhất định như khả năng củng cố và duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng, khả năng đáp ứng về tài chính, khả năng tiếp cận các thông tin về các tổ chức tham gia BHTG…
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM
I Quá trình phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
1 Sự ra đời của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Với cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn trước năm 1986 gặp rất nhiều khó khăn Trước yêu cầu cấp bách của tình hình kinh tế-xã hội, năm 1986 Đảng và Nhà nước đã đề ra công cuộc đổi mới đất nước, đến năm 1988 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng đã triển khai kế hoạch đổi mới toàn diện nhằm khắc phục tình trạng lạm phát phi mã, khôi phục nền kinh tế Nhưng tình trạng bất ổn của xã hội trong giai đoạn này
đã dẫn đến hàng loạt các cuộc đổ vỡ mang tính dây chuyền của các Hợp tác
xã tín dụng nông thôn và Quỹ tín dụng đô thị trên toàn quốc (gần 8000 Hợp tác xã và Quỹ tín dụng phải đóng cửa)
Trong bối cảnh đó, để lấy lại niềm tin của nhân dân, hoạt động BHTG
đã được khởi đầu bằng Quyết định 101/TCQĐ-BHTG ngày 01/02/1994 của
Bộ tài chính Theo Quyết định này, công ty bảo hiểm Bảo Việt có trách nhiệm bảo hiểm đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại các quỹ tín dụng nhân dân Tuy nhiên hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trong giai đoạn này phát triển chậm, mới chỉ triển khai được với một số lượng khách hàng rất nhỏ (chỉ
có khoảng 30% Quỹ tín dụng nhân dân tham gia, còn các loại hình tổ chức tín dụng khác có huy động tiền gửi nhưng không tham gia) Hoạt động BHTG cũng bộc lộ nhiều hạn chế, không đảm bảo các yếu tố quyết định thành công đối với hoạt động này trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam như: quy định tham gia bảo hiểm là tự nguyện, hoạt động BHTG là vì mục đích lợi nhuận, không có các hoạt động hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG, lợi ích duy nhất mà tổ chức tham gia BHTG có được là được chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi
tổ chức đó phá sản và không có khả năng thanh toán
Trang 36Trong điều kiện của quá trình đổi mới đang diễn ra tại Việt Nam, hoạt động ngân hàng đang ngày càng phát triển, số lượng các đơn bị tham gia trong lĩnh vực ngân hàng, tham gia huy động tiền gửi ngày càng tăng, đi đôi với nó là yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh này cũng ngày càng trở nên phức tạp Những vấn đề đó đã dặt ra yêu cầu cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời và ngày 01/09/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-
CP về BHTG và tổ chức BHTG Việt Nam đã chính thức được thành lập Hoạt động BHTG ở Việt Nam từ đây được phổ cập hóa, được công nhận là một trong những giải pháp tích cực bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, kiểm soát rủi
ro hoạt động của các tổ chức tín dụng, khắc phục được những hạn chế của hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trước đây
BHTG Việt Nam là đại diện Nhà nước trong việc bảo vệ người gửi tiền, bảo vệ người tiêu dùng trong sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng Với cơ chế BHTG bắt buộc hiện nay, người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG thông qua việc họ được BHTG Việt Nam chi trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán
2 Sự cần thiết phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
Vai trò và tác dụng tích cực của hoạt động BHTG đối với sự ổn định và phát triển của nền tài chính, ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế, xã hội nói chung đã được cả thế giới công nhận Trong thời gian tới, sự phát triển mang tính chất toàn cầu hóa của hoạt động này là một yêu cầu tất yếu Không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, việc phát triển hoạt động BHTG tại Việt Nam là một yêu cầu khách quan được xuất phát từ chính sự đòi hỏi của tình hình kinh té, xã hội thực tế tại Việt Nam
2.1 Nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường
Từ năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương và dẫn dắt nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
Trang 37trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Với quy luật cạnh tranh, chọn lọc tự nhiên, phá sản là điều không thể tránh khỏi và nó gắn liền với nền kinh tế thị trường Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền tại các ngân hàng, Việt Nam cần phải xây dựng một Hệ thống BHTG hiệu quả
Hơn nữa, quy luật của nền kinh tế thị trường là ưu thế luôn thuộc về các ông lớn Tham gia vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay gồm có Ngân hàng Nhà nứoc, 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 50 Ngân hàng thương mại cổ phần, hơn 900 Quỹ tín dụng nhân dân, 5 công ty tài chính, 8 công ty cho thuê tài chính; trong đó Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là ngân hàng trung tâm-cơ quan quản lý toàn bộ hoạt động ngân hàng, còn các ngân hàng khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh Nhưng các ngân hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam rất khác nhau cả về qui mô vốn và khả năng hoạt động nên sức cạnh tranh cũng cách biệt nhau rất lớn Có thể thấy rõ điều này khi phân tích bảng số liệu về tình hình huy động vốn của các ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng Việt Nam dưới đây
Bảng 1: Huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng
Số tiền (nghìn tỷ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (nghìn tỷ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (nghìn tỷ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (nghìn tỷ)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (nghìn tỷ)
Tỷ trọng (%)
Trang 38Từ bảng số liệu chúng ta thấy, trong hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam gia đoạn 2000-2004, huy động vốn của Ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, trong đó 3 năm từ 2000-2002 chiếm trên 78% tổng mức huy động vốn toàn hệ thống, nhưng từ năm 2003-
2004, tỷ trọng này đã có xu hướng giảm và giữ ở mức 75% Thị phần nhỏ bé còn lại được chia đều cho các ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh–các tổ chức tín dụng không phải là doanh nghiệp của Nhà nước
Như vậy, BHTG Việt Nam ra đời một mặt sẽ góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt giúp các ngân hàng có qui mô vốn nhỏ với thời gian hoạt động chưa lâu bình đẳng hơn với các ngân hàng lớn trong việc huy động vốn Mặt khác, đối với các ngân hàng lớn, việc tham gia BHTG sẽ giúp họ có được một phương thức đảm bảo hoạt động an toàn ở qui mô lớn hơn và có tính hiệu quả hơn
2.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong quá trình hoạt động, Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn còn rất nhiều yếu kém, bất cập, khả năng cạnh tranh thấp thể hiện trên những mặt sau:
- Qui mô vốn nhỏ: tình hình chung của các ngân hàng thương mại Việt
Nam là nhỏ bé về quy mô và vốn hoạt động Các ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm 75% thị phần tín dụng nhưng chỉ có vốn khoảng 15.500 tỷ đồng (bình quân khoảng 3.100 tỷ đồng/ngân hàng), tương đương 1 tỷ USD So với vốn bình quân của các ngân hàng trong khu vực, quy mô vốn bình quân của ngân hàng Việt Nam còn quá nhỏ bé Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quy mô vốn lớn nhất cũng vào khoảng 6000 tỷ đồng (khoảng 400 triệu USD, vốn của các ngân hàng thương mại Nhà nước còn lại bình quân khoảng từ 450–600 tỷ đồng Trong đó, trong vốn tự có của ngân
Trang 39hàng Việt Nam hiện nay, khoảng 50% là vốn danh nghĩa do Bộ Tài Chính cấp bằng trái phiếu đặc biệt
Tỷ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có của các ngân hàng (ROE-Return
on Equity) ở mức thấp, chỉ bằng 43,6% so với chuẩn quốc tế, đạt 6,54% trong khi quốc tế trung bình đạt 15% Tỷ lệ lợi nhuận ròng sau thuế trên tổng tài sản (ROA–Return on Assets) của các ngân hàng Việt Nam bình quân là 0,65% trong khi tỷ lệ này ở các nước châu Á-Thái Bình Dương là 0,94%, ở các nước Đông Nam Á là 0,77% Hệ số ROA trung bình của các ngân hàng Việt Nam mới bằng 38% so với mức đạt yêu cầu quốc tế
- Tỷ lệ nợ xấu lớn: theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước, tổng nợ khó
đòi của các ngân hàng thương mại Nhà nước năm 2005 là 57.582 tỷ đồng, chiếm 20,7% tổng dư nợ (tăng 9,62% so với năm 2004)
Bảng 2: Tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại
Trang 40tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại Nhà nước Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn khá cao so với khu vực và thế giới Hơn nữa, việc phân loại nợ của các ngân hàng Nhà nước hiện chưa phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng, không phù hợp với kết quả phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp Đến nay đã có 14 ngân hàng thương mại cổ phần bị sáp nhập hoặc rút giấy phép hoạt động do tỷ lệ nợ xấu lớn và hoạt động kém hiệu quả
- Mức độ an toàn vốn thấp: trong hoạt động kinh doanh các ngân hàng
phải đảm bảo một hệ số an toàn vốn (CAR–Capital Adequacy Ratio) nhất định Hệ số an toàn vốn của các ngân hàng trong nước còn thấp, bình quân chỉ đạt 4,5%, trong khi chuẩn mực quốc tế tối thiểu là 8%, và hệ số an toàn vốn của các nước châu Á - Thái Bình Dương là 13,1%, của các nước Đông Nam á như Thái Lan, Malaysia, Philippin là 12,3% Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, chỉ riêng 5 ngân hàng thương mại Nhà nước, để đạt được hệ số an toàn 8% vào năm 2010 thì phải có lượng vốn tăng thêm từ 65-70 nghìn tỷ đồng Trong những năm qua các ngân hàng thương mại Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh mức vốn điều lệ, nhưng nhìn chung quy mô vốn vẫn còn hạn chế Riêng với các ngân hàng thương mại Nhà nước, Bộ Tài Chính cũng
đã nỗ lực tăng vốn bằng trái phiếu chuyển đổi, nhưng các ngân hàng này chưa nhận được đồng vốn thực nào vì thực chất đó là vốn danh nghĩa Vì thế, hệ số
an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam khó có thể bằng hệ số an toàn vốn của các nước trong khu vực
2.3 Nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển
Kể từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, trong những năm qua Việt Nam đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành công nhất định Hiện nay, Việt Nam đang
là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất ở châu Á, tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao: từ 7,1% năm 2000, đến năm 2004 là 7,7% và đến năm 2005 đạt 8,4% Tổ chức xếp hạng BMI (Business Monitor