1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG, VẾT LOÉT LÂU LIỀN VÙNG CẲNG CHÂN, CỔ CHÂN VÀ BÀN CHÂN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

4 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả điều trị vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân ở người cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất
Tác giả Nguyễn Tiến Lý, Võ Thành Toàn, Võ Việt Đức
Trường học Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 252,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả: 20 bệnh nhân (12 nam,8 nữ) có các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân do tai nạn giao thông(4), tai nạn sinh hoạt (6), di chứng vết thương hỏa khí (4) và do biến chứng bệnh lý mạch máu ngoại vi, đái tháo đường (5). Kích thước vết thương chủ yếu là vừa và nhỏ. Vị trí hay gặp nhiều nhất là vùng cổ chân và bàn chân. Phương pháp điều trị đã dùng: chủ yếu là can thiệp ngoại khoa (cắt lọc, rọn tổn thương, ghép da và các biện pháp tạo hình khác). Ngoài ra, các biện pháp điều trị các bệnh nền được duy trì. Kết quả các vết thương, vết loét diễn biến ổn định (liền sẹo kỳ đầu hoặc kỳ 2), không có trường hợp nào phải cắt cụt chi. Kết luận: Các vết thương, vết loét diễn ra trong thời gian dài, đều ở giai đoạn viêm mạn tính. Hầu hết các vết thương lộ gân, xương. Đa số các bệnh nhân kèm theo nhiều bệnh lý toàn thân như: tăng huyết áp, đái tháo đường… Điều trị các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân cho thấy cho thấy can thiệp ngoại khoa là chỉ định chính. Ngoài ra, việc điều trị các bệnh toàn thân có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG, VẾT LOÉT LÂU LIỀN VÙNG CẲNG

CHÂN, CỔ CHÂN VÀ BÀN CHÂN Ở NGƯỜI CAO TUỔI

TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Nguyễn Tiến Lý*, Võ Thành Toàn*, Võ Việt Đức*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm thương tổn các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và

bàn chân ở người cao tuổi tại khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Thống Nhất Đánh giá kết quả điều trị các tổn thương trên

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu Thời gian tiến hành từ 2009 – 2011 tại khoa Chấn thương

Chỉnh hình (Bệnh viện Thống Nhất) với 20 bệnh nhân độ tuổi từ 60 trở lên

Kết quả: 20 bệnh nhân (12 nam,8 nữ) có các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và

bàn chân do tai nạn giao thông(4), tai nạn sinh hoạt (6), di chứng vết thương hỏa khí (4) và do biến chứng bệnh lý mạch máu ngoại vi, đái tháo đường (5) Kích thước vết thương chủ yếu là vừa và nhỏ Vị trí hay gặp nhiều nhất là vùng cổ chân và bàn chân Phương pháp điều trị đã dùng: chủ yếu là can thiệp ngoại khoa (cắt lọc, rọn tổn thương, ghép da và các biện pháp tạo hình khác) Ngoài ra, các biện pháp điều trị các bệnh nền được duy trì Kết quả các vết thương, vết loét diễn biến ổn định (liền sẹo kỳ đầu hoặc kỳ 2), không

có trường hợp nào phải cắt cụt chi

Kết luận: Các vết thương, vết loét diễn ra trong thời gian dài, đều ở giai đoạn viêm mạn tính Hầu hết các

vết thương lộ gân, xương Đa số các bệnh nhân kèm theo nhiều bệnh lý toàn thân như: tăng huyết áp, đái tháo đường… Điều trị các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân cho thấy cho thấy can thiệp ngoại khoa là chỉ định chính Ngoài ra, việc điều trị các bệnh toàn thân có ý nghĩa rất quan trọng

Từ khóa: vết thương phần mềm

ABSTRACT

RESULTS TREATMENT OF SOFT TISSUE DEFECTS IN LEG, ANKLE AND FOOT OF THE ELDERLY

PATIENTS IN THONG NHAT HOSPITAL

Nguyen Tien Ly, Vo Thanh Toan, Vo Viet Đuc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 244 - 247

Results treatment of soft tissue defects in leg, ankle and foot of the elderly patients in Thong Nhat hospital

Objective: To study the characteristics of injury wounds, sores-regional long legs, ankles and feet in the

elderly at the Department of Orthopaedic Trauma, Thong nhat Hospital Outcomes of treatment the injury

Method: prospective study Schedule from 2009 - 2011 in the Department of Orthopaedic Trauma (Thong

Nhat Hospital) with 20 patients aged 60 or older

Results: 20 patients (12 men, 8 women) with wounds, sores inter-regional long legs, ankles and feet caused

by traffic accidents (4), accidents activities (6), sequelae wound firearms (4) and due to complications of peripheral vascular diseases, diabetes (5) Wound size are mainly small and medium The position is the most common neck

* Bệnh viện Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học

and feet The treatment used: mainly surgical (cut, skin grafts…) In addition, the treatment of diseases should

be maintained The result of wounds, ulcers stable evolution (early healing period or 2), there is no case to amputation

Conclusion: The wounds, ulcers occur in the long run, are at the stage of chronic inflammation Most of the

highway near the wound and bone The majority of patients with diseases such as hypertension, diabetes Treatment of wounds, ulcers associated region long legs, ankles and feet showed that surgical intervention is main indications In addition, the full body treatment is very important

Keywords: wounds soft tissue

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vết thương, vết loét vùng cẳng chân, cổ

chân và bàn chân là thương tổn hay gặp do

nhiều nguyên nhân như: tai nạn giao thông, tai

nạn sinh hoạt, di chứng vết thương, biến chứng

của nhiều bệnh lý

Kích thước các vết thương, vết loét này

thường không lớn Nhưng do đặc điểm giải

phẫu cũng như chức năng của vùng này nên

thường gặp khó khăn trong điều trị Các tổn

thương trên thường dẽ gây viêm xương, khớp,

lộ gân… Đặc biệt ở người già, thường kèm theo

nhiều bệnh lý như: đái tháo đường, viêm, tắc

mạch máu và các rối loạn chuyển hóa khác nên

việc điều trị càng khó khăn hơn

Về điều trị: về cơ bản là phải can thiệp bằng

ngoại khoa gồm các biện pháp như cắt lọc, rọn

sạch vết thương, vết loét Với các vết thương, vết

loét có kích thước nhỏ có thể tự liền Với các vết

thương, vết loét có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ

nhưng sâu, lộ gân, xương, khớp… thì ngoài cắt

lọc, rọn ổ viêm còn phải tiến hành các can thiệp

khác như ghép da, chuyển vạt da hoặc, thậm chí

phải cắt cụt chi Những tiến bộ của vi phẫu

thuật từ những năm 80 của thế kỷ trước và việc

phát hiện nhiều vạt da cân, cơ có cuống mạch đã

giúp ích nhiều cho việc điều trị các khuyết da,

phần mềm, xương vùng trên Tuy nhiên, khả

năng ứng dụng với đối tượng là người cao tuổi

chưa được quan tâm nhiều

Trong thời gian từ 2009 đến 2011, tại Khoa

Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Thống

Nhất đã điều trị cho 20 bệnh nhân là người

cao tuổi có các vết thương, vết loét ở vùng

cẳng chân, cổ chân và bàn chân.Tiến hành đề tài nhằm hai mục đích:

1 Nghiên cứu đặc điểm tổn thương của các vết thương, vết loét ở vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân ở người cao tuổi

2 Đánh giá kết quả điều trị vết thương, vết loét ở vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm 20 bệnh nhân

độ tuổi từ 61 đến 91, có các vết thương, vết loét ở vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân

do nhiều nguyên nhân được điều trị tại khoa Chấn thương Chỉnh hình trong thời gian từ

2009 đến 2011

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp tiến cứu

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Số lượng bệnh nhân

20 bệnh nhân Trong đó

Bảng 1: Phân loại theo tuổi và giới:

Nam: 12 BN; Nữ: 8 BN Tuổi cao nhất: 91 Tuổi ít nhất: 60

Bảng 2: Nguyên nhân tổn thương:

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012

Vị trí, kích thước và tính chất thương tổn

Bảng 3: Vị trí thương tổn

Vết thương vết loét lâu liền xảy ra chủ yếu ở

vùng cổ chân, gót chân và bàn chân (14/20 BN)

Đây là là vùng rất ít cơ, lớp mỡ dưới da mỏng,

sát xương, khớp nên rất khó liền Ngoài ra, đây

là vùng dễ va chạm, dễ tổn thương Các phương

pháp kinh điển (ghép da tự thân) thường ít phù

hợp do rất khó tạo được nền nhận tốt Ngay cả

khi mảnh da ghép có bám được thì nguy cơ trợt,

loét tái phát là rất dễ xảy ra

Kích thước thương tổn

- Dưới 20 cm2: 6 BN

- Từ 20 - 40 cm2: 9 BN

- Trên 40 cm2: 5 BN

Đa số tổn thương có kích thước vừa và nhỏ

(15/20 BN)

Tính chất thương tổn

- Tổn thương phần mềm đơn thuần: 9

- Tổn thương phần mềm kèm tổn thương

gân: 9 (gân gót: 4; gân duỗi ngón chân:2)

- Tổn thương phần mềm kèm viêm xương: 2

(viêm xương chầy mạn tính)

Có 4 BN vết thương mất da vùng gót, gần

điểm bám tận của gân Achille 2 BN hoại tử da

mu chân do biến chứng tắc mạch ngoại vi do

biến chứng đái tháo đường Hai bệnh nhân bị lộ

gân duỗi ngón chân phải cắt bỏ hoại tử, thay

băng chờ tổ chức hạt mọc và ghép da

Thời gian

- dưới 1 tháng: 2 Bn bị vết thương do tai nạn

giao thông mất da vùng gót và bàn chân

- 1 tháng - 1 năm: 10 BN

- trên 1 năm: 8 BN; bệnh nhân có thời gian

dài nhất là trên 40 năm Chủ yếu là nhóm bệnh

xấu vùng cẳng chân, gân Achille, vết thương thường có nhiều đợt tái phát

Đặc điểm chung của các bệnh nhân là đều trải qua một thời gian dài vết thương bị nhiễm khuẩn, đã được điều trị nhiều lần bằng phẫu thuật, kháng sinh

Các bệnh lý kèm theo

- Tăng huyết áp: 15/20 BN

- Đái tháo đường: 10/15 BN

- Suy van tĩnh mạch: 5/15 BN

- Bệnh mạch vành: một BN có bệnh mạnh vành 3 nhánh đã phẫu thuật bắc cầu

Đặc điểm chung của các bệnh nhân có vết thương vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân

và bàn chân là độ tuổi cao, nhiều bệnh lý mạn tính (2-3 bệnh) Do đó khi điều trị cần phối hợp các chuyên khoa nhằm đưa các chỉ số về gần giới hạn bình thường như: đường máu, huyết áp… và duy trì suốt trong quá trình điều trị

Phương pháp điều trị đã sử dụng

Tất cả các vết thương đều được cắt lọc, rọn

sạch sau đó

- Ghép da mỏng tự thân: 10 BN

+ Chuyển vạt da cân có cuống mạch nuôi (vạt hiển): 4 BN

+ Chuyển vạt da cân cẳng chân: 1 BN

+ Chuyển vạt cân mỡ: 1 BN

+ Vạt cơ sinh đôi trong: 1 BN

+ Tự liền: 3 BN

Chỉ định sử dụng phương pháp điều trị căn

cứ chủ yếu vào tình trạng thương tổn, kích thước, vị trí tổn thương và nơi lấy chất liệu che phủ Ngoài ra, còn căn cứ vào độ tuổi của bệnh nhân Các bệnh nhân trên 80 tuổi chủ yếu sử dụng phương pháp kinh điển (ghép da tự thân)

Kết quả điều trị

- 10 BN được ghép da mỏng tự thân: da ghép sống 75 - 100% Các bệnh nhân này có các vết thương do biến chứng của đái tháo đường gây hoại tử da, lộ gân duỗi bàn chân Đã được cắt lọc hoại tử, săn sóc vết thương Sau khi có tổ

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học

chức hạt được ghép da mỏng tự thân Những

trường hợp này có chỉ định sử dụng vạt có

cuống nhưng không thực hiện được do điều

kiện toàn thân (tuổi cao) và tại chỗ (bệnh lý

mạch máu ngoại vi) không cho phép lấy vạt

- 4 BN được chuyển vạt hiển che phủ tổn

khuyết: 3 vạt sống hoàn toàn; 1 bị hoại tử một

phần nhưng không phải can thiệp bổ sung

Trường hợp này là một bệnh nhân bị vết thương

mất da gót, lộ gân Achille có tiền sử bệnh mạch

vành ba nhánh, suy van tĩnh mạch chi dưới

- 1 Bn chuyển vạt da cân cẳng chân cuống

ngoại vi sống hoàn toàn Bệnh nhân bị loét lâu

liền vùng mắt cá ngoài do biến chứng đái tháo

đường, tăng huyết áp Vạt da cân sống hoàn

toàn Vết mổ liền kỳ đầu Kiểm tra sau 6 tháng

kết quả tốt

- 1 BN chuyển vạt cân mỡ (che phủ gân

Achille): vết thương chậm liền Tự liền sau 2

tháng Bệnh nhân bị di chứng vết thương hỏa

khí (>40 năm) lộ và viêm gân gót

- 1 BN chuyển vạt cơ sinh đôi trong: vạt

sống, nhưng rò kéo dài Nguyên nhân do viêm

xương chầy mãn tính nhiều năm

Sử dụng các vạt có cuống mạch dưới dạng

vạt da cân như Ponten(4), cuống cân mỡ như

Masquelet(3) hay vạt hiển như một số tác giả đã

sử dụng(1,2,5,6) là một trong những giải pháp tốt,

có hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng các vạt này như

thế nào đối với bệnh nhân cao tuổi, có nhiều

bệnh lý toàn thân và tại chỗ thì ít được đề cập

Kết quả điều trị cho thấy ngoài những

trường hợp khuyết da nhỏ có thể tự liền thì một

số khuyết da ở lứa tuổi trẻ hơn có thể chỉ định

các vạt có cuống mạch liền hay tự do nhưng ở

người cao tuổi chỉ định cũng rất cân nhắc

Nguyên nhân là do có nhiều bệnh lý toàn thân

như: tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch

vành… và nguyên nhân tại chỗ: bệnh viêm, tắc

mạch máu, suy van tĩnh mạch… Để chỉ định các

vạt cần phải điều trị các bệnh toàn thân ổn định

Đó thực sự là vấn đề khó

KẾT LUẬN

Đặc điểm lâm sàng các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân trong nghiên cứu: kích thước chủ yếu vừa và nhỏ; Nguyên nhân đa dạng: di chứng vết thương hỏa khí, tai nạn sinh hoạt, biến chứng đái tháo đường Vị trí hay gặp nhất là ở cổ chân

và bàn chân Các vết thương, vết loét diễn ra trong thời gian dài, đều ở giai đoạn viêm mạn tính Hầu hết các vết thương lộ gân, xương Đa

số các bệnh nhân kèm theo nhiều bệnh lý toàn thân như: tăng huyết áp, đái tháo đường… Kết quả điều trị các vết thương, vết loét lâu liền vùng cẳng chân, cổ chân và bàn chân cho thấy cho thấy can thiệp ngoại khoa là chỉ định chính Các vết thương, vết loét đều phải được rọn sạch, dùng kháng sinh, bất động Vấn đề che phủ các khuyết hổng sau cắt lọc bằng các biện pháp như: ghép da tự thân, chuyển vạt da có cuống mạch tại chỗ và cắt cụt chi Ngoài ra, việc điều trị các bệnh toàn thân có ý nghĩa rất quan trọng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hong G, Stephens K, Wang FB (1989): reconstruction of the lower and foot with the reverse pedicled posterior tibial fasiocutaneous flaps Br J Plast Surg.; 42: 512-6

2 Lê văn Đoàn, Nguyễn Việt Tiến, Lưu Hồng Hải và CS (2006): Kết quả sử dụng các vạt cơ có cuống mạch nuôi trong điều trị tổn khuyết vùng gối, cẳng chân, cổ chân và bàn chân Tạp chí Y dược lâm sàng 108- Hà Nội, Tr 51-56

3 .Masquelet AC, RomanaMC, Wolf G (1992): Skin island flaps supplied by the vascular axis ò the sensitive superficial nerves: anatomic study and clinical experience in the leg Plast Reconstr Surg; 89: 1115-20

4 Poten B: fasiocutaneous flaps (1981): its use in soft tissue defects of the lower leg Br J Plast Surg; 34: 215-20

5 Touam C, Roustoucher P, Bhatia A, Oberlin C (2001): Comparative study of two series of distally based fasiocutaneous flaps for coverage of the lower one-fourth of the leg, ankle, and the foot Plast Reconstr Surg Feb; 107 (2): 383 – 92

6 Tăng Hà Nam Anh, T Bauer, F Rimarnex, A Lortat-Jacob (2006): Che phủ khuyết hổng phần mềm vùng cẳng chân và cổ chân bằng vạt da – cân cẳng chân cuống mạch xa Tạp chí Y dược lâm sàng 108- Hà Nội;Tr 39 -45

Ngày đăng: 05/07/2023, 04:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân loại theo tuổi và giới: - KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG, VẾT LOÉT LÂU LIỀN VÙNG CẲNG CHÂN, CỔ CHÂN VÀ BÀN CHÂN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT
Bảng 1 Phân loại theo tuổi và giới: (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w