Tuy nhiên, trong quá trìnhphát triển, du lịch còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế cần quan tâm, như phát triển dulịch thiếu tính bền vững, phát triển du lịch chưa giải quyết tốt vấn đề bảo vệ m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -TRẦN THỊ TRÂM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ
PHÚ THỌ - 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Giới thiệu cấu trúc của đề tài 11
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HOÁ 12
1.1 Các khái niệm chung 12
1.1.1 Khái niệm du lịch 12
1.1.2 Khái niệm loại hình du lịch 14
1.2 Các loại hình du lịch 15
1.3 Du lịch văn hóa 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Vai trò của du lịch văn hóa trong giai đoạn hiện nay 19
1.3.3 Các loại hình du lịch văn hóa 21
1.3.4 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa 21
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ 30
2.1 Vị trí địa lý 30
2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 31
2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa 31
2.2.2 Lễ hội truyền thống 36
2.2.3 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn khác 38
2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 42
2.3.1 Mạng lưới giao thông 42
2.3.2 Thông tin liên lạc 45
2.3.3 Hệ thống điện nước 46
2.4 Dân cư – lao động 47
2.3.1 Dân cư 47
2.3.2 Lao động 47
2.5 Các nhân tố khác 49
2.5.1 Y tế 49
2.5.2 Đường lối chính sách 50
2.6 Nhận xét chung 51
2.6.1 Thuận lợi 51
2.6.2 Khó khăn 52
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ 54
3.1 Khái quát chung 54
Trang 33.2 Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa 54
3.2.1 Khách du lịch 54
3.2.2 Lao động du lịch 57
3.2.3 Doanh thu từ du lịch 59
3.2.4 Đầu tư cho du lịch văn hóa 60
3.2.5 Cơ sở kĩ thuật phục vụ cho du lịch 63
3.2.6 Sản phẩm du lịch văn hóa 66
3.2.7 Hiện trạng tổ chức không gian của các tuyến, điểm du lịch văn hoá 69
3.2.8 Nhận xét chung 72
3.3 Đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ 75
3.3.1 Định hướng phát triển du lịch văn hóa 75
3.3.2 Một số giải pháp để phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa 76
3.3.2.1 Giải pháp về tuyên truyền, quảng bá 76
3.3.2.2 Giải pháp về đầu tư phát triển nguồn nhân lực 76
3.2.2.3 Giải pháp về quy hoạch du lịch 77
3.3.2.4 Giải pháp về vốn đầu tư và các chính sách huy động vốn 78
3.3.2.5 Giải pháp về quản lý 79
3.3.2.6 Giải pháp về phát triển các sản phẩm du lịch 80
3.3.2.7 Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, kinh doanh dịch vụ du lịch 81
3.3.2.8 Giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch văn hóa 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và
từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khámphá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏamãn nhu cầu của họ Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là TháiLan, Indonesia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
Ở Việt Nam, du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếutrong đời sống sinh hoạt Xã hội, làm cho đời sống Xã hội ngày một phong phú, lýthú và bổ ích hơn Về phương diện kinh tế, ngành du lịch đã được Đảng và nhànước xác định là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược pháttriển kinh tế - Xã hội của đất nước và chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong thu nhậpkinh tế quốc dân Du lịch giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho hàng triệu laođộng Du lịch còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắcdân tộc, quảng bá được hình ảnh về thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam
Hạ Hoà là một huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ Phía TâyBắc giáp các huyện Trấn Yên, Yên Bình của tỉnh Yên Bái Phía Đông Bắc giáphuyện Đoan Hùng Phía Đông Nam giáp huyện Thanh Ba Đây là mảnh đất có
bề dày lịch sử Ở huyện Hạ Hoà, loại hình du lịch văn hoá là loại hình có lợi thế
so sánh trong tương quan với các loại hình du lịch khác Với hệ thống tài nguyên
du lịch văn hoá phong phú gồm có các di tích lịch sử văn hoá như khu di tíchĐền Mẫu Âu Cơ, Đền Chu Hưng, Đền Nghè, hệ thống các lễ hội tiêu biểu như lễhội Đền Mẫu Âu Cơ, lễ hội Đền Chu Hưng các nét văn hoá ẩm thực và nghệthuật của đồng bào dân tộc thiểu số Dao và Cao Lan Huyện đã và đang tập
Trang 5trung đầu tư, định hướng phát triển nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tếmũi nhọn của huyện Cùng với thành tựu trong công cuộc đổi mới, du lịchhuyện Hạ Hoà đã có bước phát triển đáng kể về mặt số lượng cũng như chấtlượng Sự phát triển du lịch, đặc biệt du lịch văn hoá đã tác động tích cực đến sựphát triển kinh tế - Xã hội của huyện, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạocông ăn việc làm góp phần xoá đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu với bên ngoài,quảng bá giới thiệu thiên nhiên và con người Hạ Hoà Tuy nhiên, trong quá trìnhphát triển, du lịch còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế cần quan tâm, như phát triển dulịch thiếu tính bền vững, phát triển du lịch chưa giải quyết tốt vấn đề bảo vệ môitrường sinh thái, chưa gắn kết chặt chẽ với việc trùng tu, bảo vệ và phát huy cácgiá trị văn hoá, thậm chí xâm hại đến di sản văn hoá.
Do vậy, việc nghiên cứu loại hình du lịch văn hoá ở huyện Hạ Hoà, là mộtvấn đề có tính cấp thiết, giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về tiềmnăng và hiện trạng phát triển du lịch văn hoá của huyện, phân tích những mặt đãđạt được, những mặt còn tồn tại Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lý luận
và thực tiễn, là cơ sở để đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm đưa du lịchvăn hoá Hạ Hoà phát triển đúng với tiềm năng sẵn có và nhanh chóng hội nhậpvới sự phát triển du lịch trong tỉnh Phú Thọ và cả nước Đó cũng là lí do chúng
tôi chọn đề tài “Nghiên cứu du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ” làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp
(2009), đề án phát triển của trường Đại học kinh tế quốc dân Lê Thị Vân
Trang 6(2008), Giáo trình văn hóa du lịch, NXB Hà Nội Nội dung cơ bản của các công
trình trên nhằm đánh giá tiềm năng, giới thiệu các điểm du lịch trên khắp đấtnước Từ đó cũng có một số công trình đưa ra những định hướng nhằm pháttriển ngành du lịch của Việt Nam trong tương lai Trong hầu hết các công trìnhnghiên cứu trên, tỉnh Phú Thọ luôn được nhắc đến như một mảnh đất giàu tiềmnăng trong việc phát triển du lịch đặc biệt loại hình du lịch văn hóa
Ở tỉnh Phú Thọ, đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau nhằm tìm racách đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển tài nguyên du lịch văn hóa ở tỉnhPhú Thọ, từ đó đưa ra những định hướng để phát triển loại hình du lịch văn hóatương xứng với tiềm năng của tỉnh như: Sở Văn hóa Thông tin và Du lịch Phú
Thọ đã đưa ra bản Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn
2000 – 2010 và định hướng đến năm 2020 với các nội dung chính:
- Thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ trong thời gian qua
- Tiềm năng, nguồn nhân lực phát triển du lịch Phú Thọ
- Điểm mạnh – điểm yếu và cơ hội – thách thức
- Đề xuất phát triển du lịch Phú Thọ
- Đề xuất kế hoạch phát triển du lịch Phú Thọ 2000 – 2010
- Đề xuất một số chính sách nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Phú Thọ quacác phân kỳ
Đặc biệt từ năm 2005 chương trình “ Du lịch hướng về cội nguồn” của 3tỉnh Phú Thọ - Yên Bái – Lào Cai được thực hiện nhằm khai thác tài nguyên dulịch của 3 tỉnh, đưa du lịch trở thành “ngành kinh tế mũi nhọn” ở 3 tỉnh Ngoài
ra, năm 2008 UBND 3 tỉnh Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai có cuốn kỉ yếu “Hộithảo nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch” Trên báo Văn hóa, Thể thao và Du
lịch Phú Thọ số 02 năm 2009 có bài: Du lịch văn hóa – Lịch sử đất tổ Hùng Vương tiềm năng, triển vọng của thạc sĩ Nguyễn Phi Nga, số báo 01 năm 2010
có bài: Lễ hội – sức hút của du lịch Phú Thọ, tác giả Quách Sinh, bài Du lịch Phú Thọ theo góc nhìn tổng quan văn hoá của tác giả Nguyễn Ngọc Ân Ngoài
ra, năm 2010 ở trường Đại học Hùng Vương, tác giả Trần Văn Thục trong cuốn
Trang 7sách “Những làng văn hoá, văn nghệ dân gian đặc sắc ở tỉnh Phú Thọ” đã giới
thiệu về các nét văn hóa, nghệ thuật của tỉnh Phú Thọ, trong đó có đề cập đếnmột số lễ hội trong tỉnh Phú Thọ Năm 2011, có khóa luận tốt nghiệp của sinh
viên Nguyễn Diệu Thu, trường Đại học Hùng Vương nghiên cứu về “Tiềm năng
và thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Phú Thọ”
Có thể khái quát những bài viết này thành những vấn đề sau:
- Nghiên cứu về tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm du lịch văn hóa vậtthể, du lịch văn hóa phi vật thể
- Nghiên cứu các điều kiện nhằm phát triển loại hình du lịch văn hóa chủyếu đề cập đến điều kiện tự nhiên
- Nghiên cứu thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa
- Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa.Tuy vậy đây cũng chỉ là những bài viết, công trình nghiên cứu nhỏ lẻ.Huyện Hạ Hòa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ là nơi có nhiều ditích lịch sử văn hóa gắn với truyền thuyết thời dựng nước như: Đền Mẫu Âu Cơ,Đền Nghè, Đền Chu Hưng…các địa danh này đã và đang được quy hoạch, từngbước đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường xây dựng đa dạng hóa sảnphẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống Đại hội Đảng bộ huyệnlần XXI đã xác định: Du lịch dịch vụ là một ngành kinh tế mũi nhọn được ưutiên trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện Theo đó, đã xây dựng “ Đề án phát triển
du lịch huyện Hạ Hoà ” gồm 2 giai đoạn lớn: Từ năm 2005 - 2010 tập trung pháttriển cơ sở hạ tầng và từ năm 2010 sẽ khai thác các dịch vụ tại cơ sở du lịch Cáctác giả Nguyễn Văn Khỏe, Đoàn Mạnh Phương, Tạ Văn Nhã, Nguyễn Công
Chính trong cuốn “Hạ Hòa – Tiềm năng và cơ hội đầu tư” (xuất bản năm 2005)
có viết về một số tài nguyên du lịch đặc biệt tài nguyên phục vụ du lịch văn hóacủa huyện như: Đền Mẫu Âu Cơ, chiến khu 10 Đại Phạm, chiến khu Vần – HiềnLương Trong đó có đoạn viết về những điểm nhấn trong kế hoạch kinh tế Xãhội huyện Hạ Hòa giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020: “Tạo sựtăng trưởng mạnh mẽ trong các ngành dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng
Trang 8hướng Tổ chức hình thành các mô hình dịch vụ hoàn chỉnh (từ sản xuất, phânphối đến tiêu dùng), phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ đó là: Dịch vụ dulịch sinh thái, du lịch văn hóa, nhà hàng, khách sạn…Tăng cường quảng bá vănhóa, du lịch để thu hút đầu tư và khách tham quan du lịch, hình thành các khu dulịch khép kín”, nhưng chưa có nội dung nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề pháttriển loại hình du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa Năm 2011 sinh viên Bùi Thị
Hoa trường Đại học Hùng Vương có khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về “Khả năng phát triển loại hình du lịch sinh thái – văn hóa ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ” Ngoài ra, trên báo Phú Thọ cũng có một số bài viết đề cập đến việc phát
triển du lịch huyện Hạ Hòa Tuy nhiên đây chỉ mang tính chất những bài viếtnhỏ lẻ, chỉ đề cập khái quát chứ chưa ở mức độ nghiên cứu chuyên sâu, chưathật sự chú trọng đến việc phát triển loại hình du lịch văn hóa, biến loại hình nàytrở thành một mô hình đưa vào kinh doanh
Nhìn chung lại, đây chỉ là những bài viết nhỏ lẻ, việc nghiên cứu tìm hiểumột cách hệ thống về du lịch văn hoá huyện Hạ Hoà cho đến nay vẫn chưa cótác giả nào thực hiện Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá, phân tích về loại hình dulịch này, chúng tôi sẽ tổng hợp được tất cả các tiềm năng cơ bản nhất, đánh giáđúng hiện trạng phát triển du lịch văn hoá huyện Hạ Hoà Từ đó đưa ra các giảipháp nhằm phát triển loại hình du lịch văn hoá ở huyện miền núi phía Tây Bắc
của tỉnh Phú Thọ Vì thế, việc thực hiện “Nghiên cứu du lịch văn hoá huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ” cũng có thể xem là một đóng góp mới của đề tài.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc tổng quan cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa, đề tài tậptrung phân tích những điều kiện và hiện trạng phát triển du lịch văn hoá huyện
Hạ Hoà, từ đó đề tài bước đầu đưa ra các giải pháp phát triển du lịch văn hoá ởhuyện Hạ Hoà tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 9- Tổng quan cơ sở lý luận về du lịch và loại hình du lịch văn hoá.
- Phân tích điều kiện phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa
- Phân tích hiện trạng phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hoà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy loại hình du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ làm đốitượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng pháttriển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
- Về không gian: địa bàn huyện Hạ Hòa
- Về thời gian: từ năm 2000 đến nay
5 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
5 1 Quan quan điểm nghiên cứu
Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặttrong vị trí tương quan với nhiều vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn vàtrong cấp phân vị thấp hơn Du lịch văn hóa Hạ Hoà là một mắt xích quan trọngtrong hệ thống du lịch văn hóa của tỉnh Phú Thọ Vì vậy, hoạt động du lịch vănhóa có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - Xã hội của huyện Hạ Hoà và tỉnhPhú Thọ Đồng thời, du lịch văn hóa chỉ là một loại hình nằm trong hệ thống các
Trang 10loại hình du lịch khác của huyện Hạ Hòa Du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa cònđược xem xét trong mối quan hệ với sự phát triển du lịch văn hóa của tỉnh PhúThọ và trong các mối quan hệ với du lịch liên vùng của tỉnh Phú Thọ.
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Sự phân hóa của các điều kiện vị trí địa lí, tài nguyên du lịch văn hóa vàcác điều kiện phát triển của mỗi lãnh thổ khác nhau, vì thế, sự phát triển của cácloại hình du lịch văn hóa ở mỗi địa phương sẽ khác nhau
Vận dụng quan điểm lãnh thổ đòi hỏi phải đặt sự phát triển loại hình dulịch văn hóa của huyện Hạ Hòa phải đặt trong điều kiện nhất định về lãnh thổcủa huyện Hạ Hòa
5.1.3 Quan điểm tổng hợp
Sử dụng quan điểm tổng hợp đòi hỏi phải nhìn nhận vấn đề một cách tổngquát Phân tích đối tượng nghiên cứu như một hệ thống trong mối liên hệ biệnchứng giữa đối tượng với chính thể mà bản thân nó là một bộ phận cấu thành
Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện, tài nguyên du lịch, các yếu tố kinh tế
- Xã hội, sự phân bố và biến động của chúng
Nghiên cứu loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa phảiđược nhìn nhận một cách tổng hợp
5.1.4 Quan điểm lịch sử
Trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định, mỗi một đối tượng khách quanđều có sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc Xem xét quá trình diễnbiến lịch sử để tìm ra quy luật tất yếu của sự phát triển lịch sử đó
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Nghiên cứu những biện pháp để khai thác các tiềm năng phát triển du lịchvăn hóa ở Hạ Hoà nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện tại mà không làmảnh hưởng đến tương lai (không làm cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn tài nguyên)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Để thực hiện đề tài tôi tiến hành nhiều đợt điều tra tại các điểm du lịch văn
Trang 11hóa của huyện Hạ Hòa, làm việc với các cơ quan địa phương từ các xã, huyện
Hạ Hòa đến tỉnh Phú Thọ thu thập tư liệu, quan sát trực tiếp các hoạt động về dulịch văn hóa ở huyện Hạ Hoà Kết quả điều tra thực địa là cơ sở ban đầu để thẩmđịnh lại một số nhận định trong quá trình nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Qua các lần khảo sát thực địa tôi tiến hành điều tra phỏng vấn đối vớingười dân, chủ các cơ sở kinh doanh và các nhà quản lý Từ đó thấy đượcnhững ảnh hưởng của hoạt động du lịch văn hóa đến sự phát triển kinh tế - xãhội của huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ
5.2.3 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử dụngtrong nghiên cứu Địa lí kinh tế – Xã hội Việc thu thập tài liệu phải thông quanhiều nguồn, từ đó phân tích, chọn lọc để có những tài liệu cần thiết Việc thuthập tài liệu của đề tài chủ yếu từ các Phòng, ban, ngành của huyện Hạ Hòa như:Phòng Văn hóa, phòng thống kê, phòng kinh tế…và Sở, ban, ngành của tỉnh PhúThọ như: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục thống kê tỉnh Phú Thọ…Các
số liệu được thu thập từ 1996 – nay
5.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Sau khi đã thu thập số liệu và điều tra thực tế, phương pháp thống kê toánđược sử dụng để xử lí các số liệu phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.Phương pháp thống kê toán học giúp cho việc đảm bảo tính định lượng của đềtài, thể hiện ở việc đảm bảo tính định lượng trong phân tích các điều kiện vàhiện trạng phát triển du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa
5.2.5 Phương pháp so sánh bản đồ, biểu đồ
Từ các bản đồ, biểu đồ, các kiến thức địa lí được thu thập có giá trị tổngthể và toàn diện hơn, sâu sắc hơn Các biểu đồ giúp cho việc so sánh các đốitượng nghiên cứu một cách dễ dàng hơn, từ đó, các kết luận được rút ra trongqua trình nghiên cứu loại hình du lịch văn hóa ở huyện Hạ Hòa
Đồng thời, từ việc nghiên cứu, phân tích các bản đồ như bản đồ hành
Trang 12chính huyện Hạ Hòa, bản đồ tài nguyên du lịch huyện Hạ Hòa , giúp choviệc phân tích các điều kiện và hiện trạng phát triển du lịch văn hóa của huyện
Hạ Hòa khách quan hơn
Bên cạnh việc sử dụng các bản đồ như những tài liệu tham khảo thu thậpđược, các kết quả nghiên cứu được thể hiện trên các bản đồ: bản đồ tài nguyên
du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa, bản đồ hiện trạng phát triển du lịch văn hóacủa huyện Hạ Hòa
6 Giới thiệu cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa đề tài tập trung trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hoá
Chương 2: Điều kiện phát triển du lịch văn hóa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú ThọChương 3: Hiện trạng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa huyện HạHòa, tỉnh Phú Thọ
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HOÁ
1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm du lịch
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt, du lịch manglại ý nghĩa thông thường từ việc đi lại của con người với mục đích vui chơi giảitrí, nghỉ ngơi…Mặt khác du lịch được nhìn nhận như là hoạt động gắn chặt vớinhững kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra
Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch là một hoạt động không thể thiếuđược trong hoạt động bình thường của mỗi người dân Trong các chuyến du lịchnội địa hoặc ra nước ngoài, con người không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí
mà còn nhằm thỏa mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần Thông qua việcphát triển du lịch quốc tế, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới
sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức vănhoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế vàvăn hoá (I.I Piogionic – 1985 )
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách, du lịch là một trongnhững hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ một nướcnày sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc
Trang 14Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụphục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp vớicác hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.Theo học giả Mỹ McIntosh và Goeldner du lịch là một ngành tổng hợp của cáclĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu thành khác kể
cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ nhu cầu và mong muốn của khách du lịch
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách thì du lịch là một sản phẩm tất yếucủa sự phát triển kinh tế - Xã hội của loài người đến một giai đoạn nhất định, chỉtrong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầungười, tăng thời gian rỗi do tiến bộ khoa học – công nghệ, phương tiện giaothông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, thamquan du lịch của con người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạm để cảmnhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hóa cao Tiếp cận du lịchdưới góc độ nhu cầu của con người thì du lịch được hiểu là một hiện tượng.Trước thế kỉ XIX, đến tận đầu thế kỉ XX du lịch vẫn được coi là đặc quyền củatầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệttrong đời sống kinh tế - X.hội Các giáo sư Thụy Sĩ là Hunziker và Krapf đãkhái quát: “ Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từviệc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương, những người không cómục đích định cư và không liên quan đến bất kì hoạt động kiếm tiền nào”
Như vậy có khá nhiều khái niệm về du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy dulịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi cư trú thườngxuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạngnhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của
cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của các cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng
Trang 15thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình.
Khác với các quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoatoàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành haiphần riêng biệt
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích chuyến đi): Du lịch là mộtdạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú vớimục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, côngtrình văn hóa, nghệ thuật…
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinhdoanh có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyềnthống lịch sử và văn hóa dân tộc từ đó góp phần tăng thêm tình yêu quê hươngđất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặtkinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi làhình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phầnthúc đẩy sự phát triển du lịch
Theo điểm 1, điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam (14/06/2005): “Dulịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trúthường xuyên của mình nhằm đáp ứng yêu cầu tham quan Tìm hiểu, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [9]
Như vậy có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch Tuy nhiêntheo thời gian các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước tahiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trìnhbày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
1.1.2 Khái niệm loại hình du lịch
Để có thể đưa ra các định hướng và chính sách phát triển đúng đắn về dulịch các nhà quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp dulịch cần phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau Việc phân loại sẽ
Trang 16đảm bảo tính hệ thống khi có quan điểm thống nhất về khái niệm loại hình dulịch Phân loại các loại hình du lịch giúp xác định được những đóng góp về kinh
tế cũng như hạn chế của từng loại hình du lịch, trên cơ sở đó các tổ chức quản lý
du lịch sẽ hoạch định những chính phù hợp để khuyến khích hoặc hạn chế đốivới từng thể loại du lịch tùy theo mục tiêu và chính sách phát triển chung củamột vùng, một địa phương hay một quốc gia Phân loại các loại hình du lịch làm
cơ sở cho hoạt động Marketing của các nơi đến và các tổ chức kinh doanh dulịch Mỗi loại hình du lịch có các đặc trưng riêng của nhóm khách du lịch.Thông qua việc phân tích các loại hình du lịch, mỗi vùng, mỗi địa phương, quốcgia có thể xác định được điểm mạnh, điểm yếu của mình để lựa chọn kháchhàng mục tiêu phù hợp
Theo Trương Sỹ Quý (2002) khái niệm loại hình du lịch có thể được địnhnghĩa như sau: “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch
có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn nhu cầu, động cơ dulịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng cócùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chúng vàomột mức giá bán nào đó”
1.2 Các loại hình du lịch
Du lịch bắt nguồn từ mong muốn được sống sót, khát vọng chinh phụcnhững vùng đất mới và ước mơ muốn mở rộng hoạt động kinh doanh buôn bán.Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm – các thể loại du lịchtheo những tiêu thức khác nhau nhằm một mục đích nào đó Thể loại du lịchbiểu hiện những nét đặc trưng của một nhóm khách du lịch Có nhiều cách phânloại các hoạt động du lịch như căn cứ vào mục đích chuyến đi, căn cứ vào phạm
vi lãnh thổ, căn cứ vào sự tương tác của khách du lịch đối với nơi đến du lịch…Tác giả Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ và những người khác (năm 2010)trong “Địa lí Du lịch Việt Nam” đã chia các loại hình du lịch như sau:
- Phân loại theo mục đích chuyến đi chia thành: du lịch thuần tuý và du lịchkết hợp
Trang 17Du lịch thuần tuý: Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạm để cảm nhận
những giá trị vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao Chuyến du ngoạn đó cóthể có mục đích thuần tuý là tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức vềthế giới xung quanh Du lịch thuần tuý có thể bao gồm: Du lịch tham quan, dulịch giải trí, du lịch thể thao không chuyên, du lịch khám phá, du lịch nghỉ dưỡng
Du lịch kết hợp: Ngoài mục đích du lịch thuần tuý cũng có nhiều cuộc hành
trình tham quan vì các lý do khác nhau như học tập, công tác, hội nghị, tôngiáo…Trong cuộc hành trình này, không ít người đã sử dụng các dịch vụ du lịchnhư lưu trú, ăn uống tại khách sạn – nhà hàng và tranh thủ thời gian rỗi để rhamquan, nghỉ ngơi, ngắm cảnh, nhằm cảm nhận tại chỗ các giái trị thiên nhiên, vănhoá ở nơi đến Du lịch kết hợp bao gồm các loại hình du lịch tôn giáo, du lịchhọc tập, nghiên cứu, du lịch thể thao kết hợp, du lịch công vụ, du lịch chữa bệnh,
du lịch thăm thân [17, 22]
Theo tài nguyên du lịch, du lịch được chia thành hai hình thức: Du lịch vănhoá và du lịch sinh thái
Du lịch văn hoá: Theo điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch
văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham giacủa cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
Du lịch sinh thái: Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) “Du lịch sinh thái là
hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sựtham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [9]
- Theo pham vi lãnh thổ, du lịch được chia ra làm hai loại hình du lịch:
Du lịch trong nước: Là một loại hình du lịch có phạm vi hẹp, chỉ giới hạn
trong phạm vi của một nước, một quốc gia, chi phí phải trả cho những chuyến
du lịch là tiền trong nước không phải ngoại tệ
Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch có phạm vi rộng, không chỉ giới hạn
trong nước mà mở rộng sang các quốc gia khác trên thế giới Du lịch quốc tếphân ra làm hai loại: du lịch chủ động là loại hình du lịch trực tiếp chủ động đónkhách du lịch nước ngoài và tăng thêm doanh thu ngoại tệ; du lịch bị động là
Trang 18loại hình du lịch mà nước gửi khách đi du lịch sang nước khác phải mất mộtkhoản ngoại tệ nhất định Tất cả các nước đều muốn phát triển du lịch chủ độnghơn là loại hình du lịch bị động vì doanh thu sẽ cao hơn mà không phải mấtngoại tệ khi gửi khách du lịch sang nước khác.
- Phân loại theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch:
Du lịch nghỉ biển: Là các cơ sở du lịch đóng tại vùng ven biển với mục đích
đón khách tới du lịch nghỉ mát và tắm biển
Du lịch nghỉ núi: Là các cơ sở du lịch đóng trên núi với mục đích thu hút
khách du lịch leo núi, ngắm cảnh thư giãn tăng cường sức khỏe
Bên cạnh đó còn có các loại hình du lịch thành phố và du lịch nông thôn
- Theo thời gian của cuộc hành trình (độ dài của chuyến đi) chia thành:
Du lịch ngắn ngày: Là loại hình du lịch thường vào cuối tuần hoặc vào
những ngày nghỉ không kéo dài quá 1- 2 ngày
Du lịch dài ngày: Là loại hình du lịch thường được tổ chức vào các dịp
nghỉ dài ngày như những thời gian nghỉ phép, thời gian nghỉ đông, thời giannghỉ hè
- Phân loại theo các phương tiện giao thông gồm:
Du lịch đi bộ: Loại hình du lịch này du khách có thể tổ chức đi theo các
đoàn với mục đích tham quan một số các địa điểm du lịch nào đó gần nơi ở
Du lịch đi xe đạp: Là loại hình du lịch thường được tổ chức vào cuối tuần,
có đủ thời gian để đi đến một số nơi nào đó gần nơi ở của mình, vừa có thể tăngcường sức khỏe vừa có thể ngắm cảnh thiên nhiên có tác dụng thư giãn saunhững thời gian mệt mỏi
Du lịch ô tô: Là loại hình du lịch phát triển mạnh có số du khách đông nhất
trong toàn bộ lượng khách du lịch hiện hay do nhu cầu và chất lượng cuộc sốngngày càng được nâng cao, đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của con người
Du lịch máy bay: Là loại hình du lịch tiên tiến nhất, loại hình du lịch này
nhằm đáp ứng nhu cầu của các du khách ở xa Tuy nhiên đây lại là hình thức dulịch có giá thành vận chuyển rất cao, không thể phù hợp với tầng lớp Xã hội có thu
Trang 19nhập thấp [17, 16]
Ngoài các cách phân loại nêu trên, người ta còn sử dụng nhiều cách phânloại khác nhau như: Phân loại theo hình thức tổ chức chia thành: Du lịch có tổchức, du lịch cá nhân, du lịch gia đình Theo vị trí địa lí chia thành: Du lịch biển,
du lịch núi, du lịch đồng quê, du lịch đô thị Chia theo lứa tuổi - đối tượngkhách, theo phương thức hợp đồng, theo địa điểm lưu trú…
1.3 Du lịch văn hóa
1.3.1 Khái niệm
Khái niệm du lịch văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cậpđến Theo Pijoinik, du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, tùy vàomôi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành 2 nhóm du lịch là
du lịch văn hóa và du lịch sinh thái
Người ta gọi du lịch văn hóa là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trongmôi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên
du lịch nhân văn Quan điểm này đề cập đến việc khai thác các tài nguyên dulịch nhân văn trong phát triển du lịch văn hoá
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục đích chính là nhằm nâng caohiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế
độ xã hội, cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước dulịch Như vậy chúng ta có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch màmục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, thông qua các chuyến du lịchđến những vùng đất mới để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiếntrúc, văn hóa nghệ thuật, kinh tế, chế độ Xã hội, cuộc sống và phong tục tập quáncủa địa phương, đất nước đến du lịch hoặc kết hợp với nhiều mục đích khác
Du lịch vừa là phương tiện, vừa là mục đích của kinh doanh du lịch Dulịch văn hóa nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa, các giá trị vật chất cũng nhưtinh thần cho hoạt động du lịch, là phương thức hấp dẫn vì nó giải quyết nhữngnhu cầu về cảm thụ cảnh quan của quốc gia và du lịch văn hóa thường dành chonhững du khách có trình độ cao trong Xã hội
Trang 20Như vậy du lịch văn hoá theo quan điểm này thì được xem là một hiệntượng văn hóa Những cố gắng thu hút khách ở các điểm du lịch phải mang tínhvăn hóa Du lịch văn hóa thường thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếucủa họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật củanơi đến.
Như vậy, có nhiều cách nhìn nhận và quan niệm về du lịch văn hóa theonhiều góc độ khác nhau Đến nay, ở Việt Nam du lịch văn hóa ngày càng đượcquan tâm, phát triển Hiện nay, Luật du lịch của nước ta đã cụ thể hóa khái niệm
du lịch văn hóa Theo điều 4, chương I, Luật du lịch Việt Nam (14/06/2005) : “Dulịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham giacủa cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.[9]Luật Du lịch đề cập đến khía cạnh kết hợp khai thác các bản sắc văn hoá dân tộcvới việc bảo tồn các bản sắc văn hoá đó trong việc phát triển du lịch văn hoá
Như vậy từ việc phân tích các quan điểm về du lịch văn hoá ta có thểhiểu: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách
về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - Xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi họđến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa, bảotang, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao
1.3.2 Vai trò của du lịch văn hóa trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh loại hình du lịch du lịch sinh thái gần đây du lịch văn hóa đượcxem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách
du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa,những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạosức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách
du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa,thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động dulịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa Khách
du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổchức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia
Trang 21du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của ngườidân địa phương Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảngphát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm dulịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bảnsắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch,nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng Xã hội Nhữngquốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia,Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
Với hình thức du lịch văn hóa, khách du lịch được đi tìm hiểu các giá trịvăn hóa truyền thống của đân tộc, về những nơi linh thiêng của đất nước để thểhiện thái độ thành kính lòng biết ơn đối với những người có công với dân tộcvới đất nước, nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân đối với các giá trị văn hóadân tộc, thể hiện đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn ”, tưởng nhớ tôn vinh công laocủa các vị tướng, những người có công dựng nước và giữ gìn đất nước Du lịchvăn hóa là đem lại các giá trị nhân văn của các cộng đồng, các dân tộc cho mọingười, để cùng và giúp mọi người khám phá những giá trị của văn hóa, hướngmọi người đến Chân - Thiện - Mỹ thông qua các sản phẩm du lịch
Nói tóm lại du lịch văn hóa mang đến những lợi ích Xã hội sau:
- Người đi được chiêm ngưỡng các cảnh đẹp quê hương, có thái độ thànhkính đối với những người có công với đất nước, có công tôn tạo chùa chiềnthành các cảnh đẹp của quê hương đất nước
- Người địa phương có nhiều công ăn việc làm từ dịch vụ du lịch, cải thiệnđời sống, xóa đói giảm nghèo
- Giới thiệu được các đặc sản, sản phẩm thủ công mỹ nghệ ở địa phương
- Tạo tình cảm tốt đẹp, kết nối những con người quá khứ và hiện tại thànhnhững người yêu quê hương, yêu đất nước, ham học hỏi, hăng say phục vụ đấtnước và dân tộc
- Thỏa mãn óc tò mò ham học hỏi của du khách
Trang 221.3.3 Các loại hình du lịch văn hóa
Dựa vào nhiều mục đích khác nhau chia ra các hình thức du lịch văn hóakhác nhau
- Theo mục đích chuyến đi, du lịch văn hóa được chia thành:
+ Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa: Khách đi tìm hiểu các nền văn hóa
chủ yếu Mục đích của chuyến đi là tìm hiểu, nghiên cứu Đối tượng khách chủyếu là các nhà nghiên cứu khoa học, học sinh, sinh viên Đó là các chương trình
du lịch dã ngoại đến các bảo tàng dân tộc ít người…
+ Du lịch tham quan văn hóa: Đây là loại hình du lịch kết hợp giữa tham
quan với nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa trong một chuyến đi
Đối tượng tham gia phong phú gồm cả khách đi vừa để tham quan, vừa đểnghiên cứu và những khách chỉ để chiêm ngưỡng, để biết và thỏa mãn sự tò mò
có trào lưu
- Theo mức độ cụ thể hay tổng hợp của chuyến đi, du lịch văn hóa đượcchia thành 2 loại:
+ Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: Khách du lịch thuộc thể loại này
thường đi với mục đích đã định sẵn Thường họ là các cán bộ khoa học, sinhviên và chuyên gia
+ Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: Gồm đông đảo những người
thích mở mang về kiến thức thế giới và thỏa mãn tò mò của mình
Nhìn chung cách phân chia loại hình du lịch văn hóa có ý nghĩa tươngđối Vì thế trên thực tế, khách du lịch thường kết hợp du lịch văn hóa với nhiềumục đích khác nhau
1.3.4 Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa
Các điều kiện phát triển du lịch văn hóa nhìn chung tương tự như các điềukiện phát triển du lịch nói chung Tuy nhiên đối với loại hình du lịch văn hóacần có các điều kiện cụ thể như sau:
1.3.4.1 Tài nguyên du lịch văn hóa
Một quốc gia muốn phát triển du lịch văn hóa trước hết phải có tài nguyên
Trang 23du lịch văn hóa Các đặc điểm của tài nguyên du lịch văn hóa nhìn chung cũngmang những đặc điểm như tài nguyên du lịch nói chung.
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tàinguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch,đến việc hình thành chuyên môn hóa của vùng du lịch và hiệu quả kinh tế củahoạt động du lịch Như vậy tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển
du lịch Thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc baonhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu
Theo Luật du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch được hiểu là “ cảnh quan
tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao độngsáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sức hấpdẫn du lịch ”
Tài nguyên du lịch được phân chia thành 2 nhóm: Tài nguyên du lịch tựnhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong đó với rất nhiều quan điểm của cácnhà nghiên cứu, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốcnhân tạo, nghĩa là do con người tạo ra Toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vậtchất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sảnphẩm văn hóa
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di sản thế giới và di tích lịch sử
- văn hoá, lễ hội truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, làngnghề thủ công truyền thống
Như vậy tài nguyên du lịch nhân văn cũng được coi là tài nguyên du lịchvăn hóa Để phát triển du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch nhân văn là điều kiệnđầu tiên và cần thiết để phát triển du lịch văn hóa
1.3.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị
- Dân cư – nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xãhội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch
Trang 24Số dân càng đông thì số dân tham gia vào hoạt động du lịch càng lớn.
Với việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sựphân bố, mật độ dân cư có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển du lịch Nhu cầu dulịch của con người tùy thuộc vào đặc điểm Xã hội và nhân khẩu của dân cư Cơcấu nghề nghiệp của dân cư cũng là một điều kiện để thúc đẩy phát triển du lịchvăn hóa Sự tập trung đông dân cư vào các điểm du lịch, các thành phố…liênquan mật thiết đến lao động cho ngành du lịch của một địa phương
- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh vàphát triển du lịch là điều kiện điều kiện kinh tế chung
Nền kinh tế chung phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của cácngành kinh tế du lịch Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của nhândân, thu nhập của nhân dân có thể đi du lịch
Sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm là cơ sở cungcấp nguồn hàng hóa nhất cho du lịch Ngành công nghiệp dệt cung cấp cho các
xí nghiệp du lịch các loại vải để trang bị văn phòng, ngành công nghiệp chế biến
gỗ trang bị đồ gỗ cho các văn phòng, cơ sở lưu trú
Mặt thứ 2 có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người căn
cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp
- An ninh chính trị và an toàn xã hội
Du lịch bên cạnh việc nghỉ ngơi là thẩm nhận những giá trị vật chất tinhthần độc đáo, khác lạ với quê hương mình Điều này đòi hỏi sự đi lại giao lưucủa du khách giữa các quốc gia, các vùng miền Bầu chính trị hòa bình sẽ kích
Trang 25thích sự phát triển của du lịch quốc tế Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột
về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch tức là không làm tròn “
sứ mệnh ” đối với du lịch, gây nên nỗi hoài nghi, tâm lí sợ hãi cho du khách.Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược làm hủyhoại tài nguyên du lịch, các công trình kiến trúc do loài người sáng tạo nên
Ngoài ra những thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịchtrong đó có du lịch văn hóa
- Trình độ dân trí
Ngoài những điều kiện chung giúp cho du lịch được phát triển như sự ổnđịnh về chính trị, nền kinh tế ngày càng phát triển, giao thông vận tải thuận lợi,thời gian rỗi, những chính sách du lịch hợp lí thì du lịch văn hóa còn có nhữngđiều kiện riêng để có thể phát triển trong đó quan trọng nhất là do trình độ dântrí được nâng cao So với du lịch tự nhiên, loại hình du lịch văn hóa có tác dụngnhận thức nhiều hơn, giải trí là thứ yếu
Khi trình độ dân trí được nâng cao ngoài việc tiếp thu cái mới của cuộcsống hiện tại thì việc quay về tìm hiểu những giá trị văn hóa truyền thống đangđược đẩy mạnh Đó là một nhu cầu mang tính thời đại Cuộc sống hiện tại củamỗi người bắt nguồn từ từ quá khứ và thế hệ ngày nay muốn tìm hiểu những đặcđiểm quan trọng hình thành và phát triển của chính tổ tiên mình Du lịch văn hóagiải quyết và đáp ứng được tất cả những nhu cầu đó Hơn thế nữa, thông qua dulịch văn hóa tạo ra sự két nối giữa quá khứ và hiện tại từ đó có một hướng pháttriển chung cho Xã hội tương lai
1.3.4.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
- Cơ sở hạ tầng
Có ý nghĩa đặc biệt đối việc đẩy mạnh du lịch Du lịch trong đó có du lịchvăn hóa gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Nóphụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông Chỉ có thông qualưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổbiến trong Xã hội
Trang 26Giao thông là bộ phận của cơ sở hạ tầng kĩ thuật ngoài ra còn có cácphương tiện vận chuyển chuyên dụng để phục vụ nhu cầu du lịch Mạng lướiđường và các phương tiện giao thông phát triển và hiện đại góp phần làm cho sựphát triển du lịch trong đó có du lịch văn hóa ngày càng nhanh chóng và thuậntiện hơn.
Bên cạnh đó, thông tin liên lạc cũng là một phần quan trọng trong cơ sở
hạ tầng của hoạt động du lịch Nó là điều kiện để đảm bảo thông tin từ du kháchtới nơi có tài nguyên du lịch văn hóa
Trong cơ sở hạ tầng du lịch phải đề cập đến hệ thống các công trình cấpđiện, cấp nước mà sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trícho khách du lịch Rõ ràng cơ sở hạ tầng là tiền đề và trở thành đòn bẩy của dulịch trong đó có du lịch văn hóa
- Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở kĩ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm dulịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch văn hóa nhằmthỏa mãn nhu cầu của du khách Vì thế sự phát triển của ngành du lịch bao giờcũng gắn với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch trong đó có sự phát triển của dulịch văn hóa bao gồm nhiều thành phần với những chức năng khác nhau và có ýnghĩa nhất định đối với việc tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa Với mục đíchđáp ứng cho việc tham quan du lịch trên quy mô lớn, cần phải xây dựng cơ sởvật chất kĩ thuật tương ứng như khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu, trạm cung cấpxăng, trạm y tế, nơi vui chơi thể thao…khâu trung tâm của cơ sở vật chất kĩthuật là các cơ sở phục vụ cho việc ăn nghỉ của khách và các cơ sở vui chơi giảitrí liền kề với các khu vực có tài nguyên du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ phát triển ngành du lịch gồm:
+ Cơ sở lưu trú du lịch
Theo điều 4, khoản 12, Luật du lịch Việt Nam (2005) “Cơ sở lưu trú dulịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ
Trang 27khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu” Có nhiềuloại hình cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung các cơ sở lưu trú bao gồm: “ Kháchsạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ
du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịchkhác.(điều 62, mục 4, chương IV, Luật du lịch Việt Nam)
+ Mạng lưới cửa hàng ăn uống dịch vụ thương mại
Đây là một bộ phận trong cơ cấu cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch.Mục đích của chúng là đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa củakhách du lịch (trong nước cũng như quốc tế) bằng việc bán các mặt hàng đặctrưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác
+ Cơ sở thể thao
Cơ sở thể thao là một bộ phận của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch Chúng
có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kì nghỉ của du khách, làm cho kì nghỉ đótrở nên tích cực hơn Ngày nay công trình thể thao là bộ phận không thể tách rờikhỏi cơ cấu vật chất kĩ thuật của các trung tâm du lịch Chúng làm tăng hiệu quả
sử dụng của khách sạn, khu nghỉ ngơi và làm phong phú thêm các loại hình hoạtđộng du lịch Đối với du lịch văn hóa, điều này giúp cho loại hình du lịch vănhóa có thể kết hợp phát triển với các loại hình du lịch khác
+ Cơ sở vui chơi giải trí, hoạt động thông tin văn hóa
Các cơ sở này nhằm mục đích giúp cho khách vui chơi, giải trí, mở rộngkiến thức văn hóa, xã hội, tạo điều kiện giao tiếp quảng bá về truyền thống,thành tựu văn hóa của các dân tộc Chúng bao gồm cơ sở vui chơi giải trí cũngnhư các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ,phòng triển lãm có thể được bố trí hoặc trong khách sạn hoặc hoạt động độc lậptại các trung tâm du lịch
Hoạt động văn hóa thông tin có thể được tổ chức thông qua các buổi dạhội hữu nghị, hội hóa trang, đêm ca nhạc, tuần lễ biển, buổi chiếu phim, Các cơ
sở này có ý nghĩa nhất định đối với quá trình phục vụ du lịch Chúng giúp cho
du khách kéo dài thời gian lưu trú hoặc sử dụng thời gian một cách hợp lý, làm
Trang 28cho họ thoải mái trong chuyến du lịch.
+ Các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác
Các cơ sở này là điều kiện bổ sung giúp cho khách du lịch sử dụng hiệuquả hơn với thời gian du lịch, tạo thêm sự thuận tiện khi họ lưu trú tại điểm dulịch Các dịch vụ bổ sung gồm: Trạm xăng dầu, tiệm thẩm mĩ Tại các điểm dulịch, chúng làm tăng tính đồng bộ của hệ thống phục vụ du lịch Mặc dù chúngtồn tại độc lập nhưng chính các dịch vụ này góp phần nâng cao tính đồng bộ,tính hấp dẫn của du lịch văn hóa
1.3.4.4 Điều kiện khác
- Quỹ thời gian rỗi
Là khoảng thời gian rảnh rỗi của khách mà họ có thể sử dụng cho mụcđích đi du lịch Quỹ thời gian rỗi của con người thường được tính trên một đơn
vị thời gian nào đó, có thể là trong một ngày hay một tuần, một năm…Trong đó
có ý nghĩa nhất về mặt du lịch là quỹ thời gian rỗi trong một năm Các nhànghiên cứu thường chia quỹ thời gian trong năm của con người thành hai phần:thời gian làm việc và thời gian ngoài giờ làm việc trong đó bao gồm thời gianrảnh rỗi Đây là khoảng thời gian dành cho các hoạt động xã hội, tự học tập
và nâng cao hiểu biết và hoạt động sáng tạo: nghỉ ngơi tinh thần tích cực
- Động cơ đi du lịch
Con người làm bất cứ việc gì cũng cần có động cơ Động cơ là sự thúcđấy con người thực hiện hoạt động theo mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn cácnhu cầu đặt ra Do đó vấn đề then chốt để hiểu động cơ du lịch là xem chuyến đi
có thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn hay không Một người đi du lịch
là họ muốn được đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đặc trưng Điều này có ýnghĩa hết sức quan trọng trong kinh doanh du lịch Động cơ chính là nhu cầumạnh nhất của con người trong một thời điểm nhất định và nhu cầu này quyếtđịnh hành động của con người Nhu cầu du lịch nói chung rất phức tạp, đa dạng,mang tính các nhân và chủ quan Tuy nhiên có thể tập trung thành 3 nhóm: Nhucầu đặc trưng: thỏa mãn sự hiếu kỳ, nâng cao sự hiểu biết, thu nhận kinh
Trang 29nghiệm, thưởng thức, giải trí…là động lực chính cho chuyến đi; Nhóm nhu cầu
cơ bản: ăn uống, nghỉ ngơi, di chuyển…gắn liền với sự tồn tại của con người dùđang ở nơi cư trú hay đi du lịch; Nhóm nhu cầu bổ sung; Thỏa mãn các nhu cầusinh hoạt cá nhân khác ngoài hai nhóm trên trong chuyến đi
Động cơ du lịch mang tính chủ quan nên rất khó xác định Động cơ dulịch vừa có cả thuộc tính văn hóa lẫn tâm lí – Xã hội Khách du lịch có thể bịhấp dẫn bởi một sự kiện văn hóa hoặc tính độc đáo, riêng có của nơi đến du lịch.Với một số người khác, các nơi đến ít khi có vai trò như là động lực thúc đẩy sựthỏa mãn nhu cầu đi du lịch
- Khả năng tài chính của khách du lịch
Khả năng tài chính trong du lịch là lượng tiền mà khách có và sẵn sàng bỏ
ra để chi trả cho các dịch vụ du lịch Khả năng thanh toán của khách du lịchthường được thể hiện qua hai chỉ số cơ bản là mức chi bình quân dành cho mỗichuyến đi và mức chi bình quân mỗi ngày của khách Những đặc điểm ảnhhưởng đến khả năng chi tiêu của khách bao gồm: nghề nghiệp, quốc tịch, độtuổi, giới tính
Nghề nghiệp là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng chi tiêu thông qua thunhập Những người mà nghề nghiệp có cơ hội chi tiêu bằng công quỹ thường íttính toán hơn so với những trường hợp phải tự bỏ tiền túi ra chi
Độ tuổi con người nếu xét theo vòng đời thì giai đoạn 40 – 55 tuổi, lúc concái đã lớn, công việc ổn định và có địa vị trong Xã hội là giai đoạn có mức thunhập ổn định và cao nhất, có nhu cầu đi du lịch và thời gian đi du lịch nhiều nhất
Về giới tính: Thông thường nam giới đi du lịch nhiều hơn nữ giới bởi họ
có thu nhập nhiều hơn nữ giới và có sức khỏa tốt hơn, có nhiều thời gian hơn dokhông vướng mắc công việc gia đình
Quốc tịch cũng là yếu tố chi phối ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu.Những nước phát triển có khách du lịch có khả năng chi tiêu cao hơn gấp nhiềulần so với những nước đang phát triển
Nhìn chung, có rất nhiều điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành và phát
Trang 30triển du lịch, trong đó có du lịch văn hóa Tuy nhiên, những điều kiện nêu trên lànhững điều kiện tạo điều kiện cần và đủ để phát triển du lịch và du lịch văn hóa.
Tiểu kết chương 1
Trong chương I, khái niệm du lịch được đề cập đến trong quá trình nghiêncứu của nhiều tác giả trong nước, cũng như ngoài nước Đặc biệt ở trong nước,khái niệm du lịch được đề cập đến trong quá trinh nghiên cứu các vấn đề du lịch
ở Việt Nam, được trích theo điểm 1, điều 4, chương I Luật Du lịch Việt Nam(14/06/2005): “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của conngười ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng yêu cầu thamquan Tìm hiểu, giả trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Khái niệm du lịch văn hóa cũng được đề cập đến trong Luật Du lịch ViệtNam, tại chương I, điều 4: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắcvăn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống”
Từ việc phân tích các quan điểm, khái niệm về du lịch văn hoá ta có thểhiểu: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách
về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - Xã hội, lối sống và phong tục tập quán ở nơi họđến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa, bảotàng, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao
Nhìn chung, các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa đều có nét chungvới điều kiện phát triển du lịch nói chung Tuy nhiên ở điều kiện phát triển dulịch văn hóa, thì tài nguyên du lịch văn hóa đóng vai trò quan trọng nhất, đây lànhững điều kiện cơ bản nhất, là tiềm năng để có thể phát triển loại hình du lịchvăn hóa, góp phần tạo ra các sản phẩm du lịch văn hoá
Du lịch văn hóa đóng vai trò quan trọng đưa con người đi tìm hiểu các giátrị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa đó
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Vị trí địa lý
Là một huyện phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, gồm 33 xã, 1 thị trấn nằm ở
2 bên bờ sông Thao, huyện có diện tích tự nhiên là 339,94 km2, thị trấn huyệncách thành phố Việt Trì 70 km
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính của huyện Hạ Hòa
STT Tên đơn vị
hành chính
Diện tích(ha)
Dân số(người) STT
Tên đơn vịhành chính
Diệntích (ha)
Dân số(người)
7 X.Đan Hà 594,11 2.226 24 X.Minh Côi 962,10 2.364
8 X.Gia Điền 1.227,34 3.331 25 X.Văn Lang 1.076,9 3.423
9 X.Y Sơn 787,17 2.246 26 X.Vô Tranh 2.504,7 4.556
10 X.Lang Sơn 898,53 3.480 27 X.Bằng Giã 836,48 3.594
11 X.Chính Công 713,84 1.996 28 X.Chuế Lưu 1.126 2.835
12 X.Yên Luật 701,51 3.130 29 X.Xuân Áng 2.472 4.148
13 X.Yên Kì 1.508,19 4.841 30 X.Lâm Lợi 930,42 2.407
14 X.Mai Tùng 287,21 1.307 31 X.Động Lâm 730,08 3.792
15 X.LiênPhương 413,44 2.111 32 X.Quân Khê 2.138,1 2.273
16 X.Hà Lương 1.051,51 2.644 33 X.Hiền Lương 711,49 3.248
17 X.Lệnh Khanh 1.023,53 2.144
(Nguồn: Niên giám thống kê 2010 tỉnh Phú Thọ)
Phía Tây Bắc giáp các huyện Trấn Yên, Yên Bình của tỉnh Yên Bái Phía
Trang 32Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng Phía Đông Nam giáp huyện Thanh Ba.
Như vậy huyện Hạ Hoà có vị trí thuận lợi là cửa ngõ của tỉnh Phú Thọ,nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây, có các tuyến giao thông quan trọng điqua đó là quốc lộ 32C, tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai và trong tương lai cóthêm tuyến đường bộ xuyên Việt chạy qua địa bàn huyện, tạo điều kiện giaothương trong và ngoài vùng, gần với điểm du lịch văn hóa trong và ngoài tỉnh,thuận lợi cho phát triển du lịch đặc biệt du lịch văn hóa Tuy nhiên do huyệnnằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ nên xa trung tâm tỉnh, điều kiện phát triểnkinh tế - Xã hội còn gặp nhiều khó khăn Điều này gây khó khăn cho phát triển
du lịch của huyện, đặc biệt là vấn đề thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch
2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo các nhà kinh doanh du lịch quan niệm, văn hoá - lịch sử cũng làkinh tế, hay nói đúng hơn đó là một kho báu mà nếu chúng ta tìm được cáchkhai thác chúng thì đó sẽ là một kho báu vô tận Khi tìm hiểu động cơ chủ yếu
để đi du lịch, khách du lịch thường đề cập đến sự khao khát hiểu biết và pháttriển nhận thức về các nền văn hoá, nghệ thuật, nghề thủ công, tập quán sinhhoạt của các dân tộc khác nhau, địa phương khác nhau Điều đó rất phù hợp vớithời đại ngày nay, việc khai thác các tiềm năng văn hoá truyền thống trong kinhdoanh du lịch cũng là một cách để bảo tồn và tôn tạo các tài nguyên này
Tài nguyên du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa gồm có các di tích lịch sửvăn hóa, các lễ hội truyền thống và một số loại tài nguyên du lịch văn hóa khácnhư văn hóa ẩm thực, văn hóa nghệ thuật…Những loại tài nguyên này là nhữngđiều kiện cơ bản nhất, là tiềm năng để có thể phát triển loại hình du lịch văn hóa ởhuyện Hạ Hòa
2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa
Tính đến nay huyện Hạ Hòa có 27 di tích được nhà nước công nhận là ditích lịch sử văn hóa và các nhà kinh doanh du lịch đã và đang khai thác các giátrị của những di tích này phục vụ cho mục đích kinh doanh du lịch Từ đó loạihình du lịch văn hóa có điều kiện phát triển
Trang 33Trong hệ thống các di tích lịch sử văn hóa của huyện Hạ Hòa, khu di tích ĐềnMẫu Âu Cơ là di tích lịch sử văn hoá nổi bật nhất trong hệ thống các di tích lịch
sử văn hoá, tất cả đều là tài nguyên quý báu để huyện Hạ Hòa phát triển du lịchvăn hóa.
2.2.1.1 Ðền Mẫu Âu Cơ
Ðền Mẫu Âu Cơ là một di tích lịch sử văn hóa lâu đời gắn với truyền
thuyết Âu Cơ- Lạc Long Quân thuộc xã Hiền Lương, cách Ðền Hùng khoảng 50
km về phía Bắc Truyền thuyết kể lại, khi mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi,
đi đến đâu cũng truyền dạy dân cấy lúa, nuôi tằm, dệt vải Khi Mẹ đến xã HiềnLương Mẹ thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp, Mẹ cho khai hoang, lập ấp, dạy dântrồng lúa, trồng dâu, dệt lụa Khi Mẹ cùng bầy tiên nữ bay về trời đã để lại dảiyếm lụa dưới gốc đa và nơi đây, nhân dân đã lập đền thờ, giữ gìn hương khóiđời này sang đời khác Ngôi Đền nằm ẩn dưới một gốc đa cổ thụ, mặt quay vềhướng chính Nam bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng Xưa kia đềndựng kiểu năm gian thờ dọc, mái lợp ngói mũi hài cổ kính Các cột đều làmbằng gỗ tứ thiết được sơn son vẽ thiếp hình rồng cuốn rất trang nghiêm Kết cấu
vì kèo theo kiểu chồng rường - hạ bẩy Trên các đầu dư, đầy bẩy, xà ngang, câuđầu được đục chạm tỉ mỉ hình tứ linh và hoa lá Đặc biệt các bức chạm trên cốn
mê, cửa võng và diềm xung quanh cửa thượng cung thể hiện hết sức công phuhình ảnh tứ linh, tứ quý là đề tài chủ yếu của nền nghệ thuật chính thống đươngthời Các bức chạm này dùng kĩ thuật đục bong, chạm nổi điêu luyện và đượcsơn son, thiếp vàng uy nghiêm
Gian trong cùng của ngôi Đền tạo dựng một thượng cung thờ cao 2,2 mrất bề thế Trên đặt khám thờ lồng kính ba mặt Diềm xung quanh cửa khámchạm thủng nhiều lớp theo đề tài tứ quý: Tùng, cúc, trúc, mai rất đẹp mắt vàmềm mại Trong lòng khám đặt tượng Mẫu Âu Cơ ngồi uy nghi trên ngai.Tượng cao 0.95 m, hình ảnh Mẫu Âu Cơ mình mặc áo đỏ, yếm trắng, đầu đội
mũ lấp lánh kim cương, một tay cầm viên ngọc, tay kia đặt trên gối thư thái Đây
là pho tượng tròn được tạo tác vào thời Lê, có giá trị cao về nghệ thuật tạo hình
Trang 34và thẩm mỹ Ngoài ra trong Đền có nhiều di vật quý khác như tượng Đức Ôngnhiều long gai, sập thờ, án giao được đục trạm tỉ mỉ và tinh tế.
Nhìn chung Đền Mẫu Âu Cơ quy mô không gían không lớn nhưng có giátrị cao về nghệ thuật chạm khắc, thể hiện ở trang trí kiến trúc và trên các cổ vậtcòn lại Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Hiền Lương được xây dựng lại hành mộtcăn cứ cách mạng lớn, nhiều cuộc họp quan trọng của chi bộ Đảng đã được tổchức tại đình, đền, chùa Hiền Lương Trải qua hơn năm thế kỉ từ khi vua LêThánh Tông cho xây dựng Đền Mẫu âu Cơ đã xuống cấp nghiêm trọng, đầu năm
1998 Bộ văn hoá thông tin, Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã cho trùng tu lạingôi Đền nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của nhân dân
Năm 1991, Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) đã xếp hạng và cấp bằng di tích lịch
sử - văn hóa cấp quốc gia Ðền Mẫu Âu Cơ Năm 1998, chính quyền và nhân dân
xã Hiền Lương tổ chức khởi công trùng tu lần một và đến năm 2007 đã hoàn thànhvới khuôn viên mở rộng, xây dựng mới to đẹp, bền vững tôn vinh vẻ uy nghi, tônkính của Ðền Mẫu Âu Cơ Hằng năm, nhân dân Hạ Hòa mở lễ hội Ðền Mẫu Âu Cơvào đầu tháng giêng âm lịch để tưởng nhớ tới công ơn của Mẹ Âu Cơ.[7,291]
2.2.1.2 Đền Chu Hưng
Qua tài liệu, thư tịch cổ để lại, đền Chu Hưng được dựng vào thời nhàNguyễn dưới triều Vua Gia Long với quy mô rộng lớn Do hoàn cảnh lịch sử,điều kiện thời tiết và chiến tranh ngôi Đền xưa, đã bị hư hỏng nặng Trải quabao biến cố của lịch sử, đến nay ngôi Đền vẫn còn lưu giữ được 11 đạo sắc vàmột cuốn Ngọc phả "Chu Hưng - Thánh Tích" của các triều đại phong kiến xưa,tôn vinh công đức của đức thánh Côn Nhạc Đại Vương, vị thần có công giúpVua Hùng Vương thứ 18 đánh giặc phương Bắc và dạy cách lập ấp, cấy trồng Sau khi ông mất, nhân dân trong vùng tôn làm thành hoàng làng và lập đền thờ
để nghìn năm hương khói Đến năm 1995, nhân dân đóng góp công sức xâydựng lại, và ngôi Đền đã được công nhận Di tích lịch sử Truyền thuyết kể rằng:Khi Hùng Duệ Vương lên ngôi trị vì đất nước, vua đã phân phong sơn hà giaocho ba người em là Côn Luân, Côn Lang và Côn Nhạc về hùng trấn ở mỗi
Trang 35phương Côn Nhạc được giao cai quản trấn địa hạt Chu Hưng, ông có công khaiphá điền hoang, chiêu dân lập ấp Cuộc sống đang yên bình, giặc phương Bắckéo quân sang đánh chiếm Văn Lang, Vua Hùng hạ sắc chiếu chỉ chiêu mộ hiềntài, tu bổ khí giới đánh đuổi quân xâm lược Côn Luân, Côn Lang kéo quân vềtrấn thủ sông Thao, sông Đà, còn Côn Nhạc kéo quân trấn giữ vùng biên giớihiểm trở Trong cuộc chiến ác liệt ở vùng Bảo Ái, tiếng quân Côn Nhạc đã lậpcông chiến thắng oai hùng Khi bờ cõi thu về một mối, Vua Hùng mở tiệc khaoquân, ban thưởng cho Côn Nhạc là 'Quốc thái gia phong, sắc rồng Côn Nhạcchính tông hùng trấn đại vương, thượng tướng nhất phương cảnh vũ'.
Hằng năm, tại đền Chu Hưng diễn ra ba kỳ lễ hội là ngày mồng 7 thángGiêng, ngày mồng 8 tháng 2 là ngày giỗ của Côn Nhạc Đại Vương và ngày 15tháng 8 là ngày hội khao quân của Ngài Nhưng kỳ lễ trọng là kỳ hội xuân vàongày mồng 7 tháng Giêng với những nghi lễ truyền thống
2.2.1.3 Chiến khu Vần - Hiền Lương
Chiến khu Vần - Hiền Lương (Phú Thọ - Yên Bái) ra đời tháng 5/1945nơi giáp ranh hai tỉnh Yên Bái - Phú Thọ, đồng thời là một vùng đất hiểm trở,hẻo lánh, kẻ địch ít chú ý Trong cuốn sách "Căn cứ địa Việt Bắc" của HoàngQuang Khánh, Lê Hồng, Hoàng Ngọc La do Nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1976thì chiến khu Vần - Hiền Lương có liên quan mật thiết với căn cứ địa Việt Bắcdưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, đặc biệt là sự quan tâm của Bác
Hồ Từ căn cứ Vần - Hiền Lương, quân dân Phú Thọ - Yên Bái đã nhận Chỉ thị
"Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Trung ương Đảng, đặcbiệt là lời căn dặn của Bác Hồ với đồng bào cả nước: "Lúc này thời cơ thuận lợi
đã đến, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phảikiên quyết giành cho được độc lập" Quân dân Phú Thọ - Yên Bái cùng cả nước
đã từ các vùng căn cứ địa cách mạng phối hợp với đồng bào đứng dậy Tổngkhởi nghĩa, làm nên Cách mạng tháng Tám lịch sử, lập nên nước Việt Nam dânchủ cộng hòa Ngày nay, chiến khu Vần - Hiền Lương được nhà nước công nhận
là di tích lịch sử văn hoá.[7,149]
Trang 362.2.1.4 Chiến khu 10 – Đại Phạm
Ngày 19 tháng 10 năm 1946, chiến khu 10 được thành lập nhằm trực tiếpchỉ đạo và xây dựng lực lượng vũ trang, phá tan âm mưu xâm lược của giặcPháp ở miền Tây Bắc Địa bàn khu 10 bao gồm 6 tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Yên, HàGiag, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái do đồng chí Trần Quốc Hoàn làm bí thưkhu ủy Khu bộ thành lập gồm có văn phòng, phòng tham mưu, phòng chínhtrị do yêu cầu và hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, các cơ quan của khu bộnhiều lần di chuyển địa điểm qua Phong Châu, Thanh Ba, nhiều X.thượng huyện
Hạ Hòa như Gia Diền, Đan Thượng và đến ngày 1 tháng 3 năm 1947, khu bộkhu 10 chính thức chuyển về Đại Phạm Nơi đây có địa hình thuận lợi cho việcphòng thủ và phát triển lực lượng trong cuộc kháng chiến lâu dài
Cùng với việc xây dựng khu bộ và tổ chức các hội nghị quan trọng, tạichiến khu 10 còn xây dựng được một hệ thống các cơ sở phục vụ kháng chiếnkhắp trong vùng Đó là một loạt các kho quân nhu, kho lương thực, các xưởngquân giới sản xuất, lắp ráp vũ khí tại Đại Phạm, Gia Điền, Hà Lương Từ căn cứtại Hạ Hòa, bộ đội khu 10 đã xuất quân lên khắp mặt trận khắp vùng Ty Bắc, bẻgãy gọng kìm phía Tây làm thất bại âm mưu tấn công lên Việt Bắc của giặc Pháp.Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhiều sự kiện đã lùi vào quá khứ nhưng những dấu tíchcủa căn cứ địa khu 10 vẫn còn tồn tại với thời gian Nhiều ngôi nhà tạo Đại Phạm,Gia Điền, Hiền Lương đã từng là nơi khu bộ và các đồng chí lãnh đạo ở hoặcdùng làm kho, nhà in, trạm vũ khí đến nay vẫn giữ được nền móng hoặc đã đượcnhân dân xây dựng lại trên nền cũ Nhiều địa điểm cong giữ được nguyên vẹn nhưbãi tập và các giao thông hào của đại đoàn 312 tại Hiền Lương, hang Dơi – nơiđóng quân của bộ đội và cung cấp nguyên liệu cho xưởng quân khí ở Đại Phạm
và một số hiện vật lưu giữ tại đây như vũ khí của xưởng quân giới, bộ máy phátđiện tại Hiền Lương, bộ phận máy in báo cứu quốc tại Gia Điền, hộp đựng bôngbăng thuốc tiêm của quân y vụ tại Đại Phạm Những dấu tích và hiện vật đó làminh chúng cho sự tồn tại của chiến khu 10 trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Năm 1995, khu trung tâm căn cứ địa chiến khu 10 tại X.Đại Phạm, huyện Hạ
Trang 37Hòa, tỉnh Phú Thọ đã được Nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóaQuốc gia và trở thành một điểm du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa.[7,155]
Ngoài ra Hạ Hoà có hệ thống các di tích được xếp di tích lịch sử văn hoánhư: Đền Nguyễn (xã Vụ Cầu), Đình Trắng (xã Hậu Bổng), Đền Thượng (xãĐan Thượng), Đình Phú Yên (xã Bằng Giã), Đền Nghè (xã Văn Lang), Đền ĐứcThánh Bà (thị trấn Hạ Hòa) và hệ thống chùa ở các xã, tiêu biểu như chùa Lạnh(xã Y Sơn), chùa Lệnh Khanh, chùa Lang Sơn Các di tích lịch sử văn hóa, cácchiến khu cách mạng, các chùa ghi dấu các kỉ niệm tưởng nhớ những người cócông với đất nước, ghi dấu các chiến công chống xâm lược Là tài nguyên dulịch nhân văn có giá trị đối với việc phát triển du lịch văn hóa Tuy nhiên, theothời gian các di tích lịch sử đang bị xuống cấp, hư hỏng cần được trùng tu lại
2.2.2 Lễ hội truyền thống
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển trong
xã hội loài người, hầu như quốc gia nào cũng có Tại Việt Nam lễ hội gắn bó vớilàng xã như một thành tố gần gũi thiêng liêng Theo thống kê, huyện Hạ Hòa có
20 lễ hội, trong đó có 12 lễ hội được tổ chức thường niên Hầu hết các lễ hội đều
là hội làng Lễ hội là nơi phản ánh đời sống tâm linh của con người, một hìnhthức sinh hoạt tập thể của người dân sau những giờ lao động mệt mỏi, là dịp đểmội người hướng về những sự kiện trọng đại hoặc liên quan đến sinh hoạt tín ngưỡng
Thông qua các hoạt động du lịch văn hóa, lễ hội góp phần giáo dục nhận thứccủa du khách và cộng đồng dân cư địa phương trân trọng, giữ gìn, bảo vệ và pháttriển các di sản văn hóa của dân tộc Kinh phí thu được từ các hoạt động du lịch gópphần tu bổ, tôn tạo di tích, phục dựng lễ hội, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
- Xã hội của địa phương Một trong các yếu tố khách quan vô cùng quan trọng đòihỏi phải tập trung xây dựng các điểm du lịch lễ hội là do nhu cầu thưởng thức cácsản phẩm du lịch văn hóa nói chung và các sản phẩm du lịch văn hóa lễ hội nói riêngcủa nhân loại ngày càng tăng Văn hóa lễ hội gắn với văn hóa du lịch ngày nay làhướng bảo tồn và phát triển khả thi nhất Lễ hội chính là nguồn tài nguyên có giá trịnhất để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa thu hút khách du lịch
Trang 38Huyện Hạ Hòa có nhiều lễ hội truyền thống Một số lễ hội chính như lễ hộiĐền Mẫu Âu Cơ, lễ hội Đền Nghè, lễ hội Đền Chu Hưng, lễ hội Đền Thượng.
2.2.2.1 Lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ
Ngày lễ chính của Đền Mẫu Âu Cơ là ngày “Tiên giáng” mùng 7 thánggiêng, ngoài ra trong năm còn có các ngày lễ khác là ngày 10 – 11 tháng 2, ngày
12 tháng 3, ngày “Tiên thăng” 23 tháng 12 Sau tết Nguyên đán, người dânchuẩn bị cho lễ hội, tập tế nam, tế nữ, tập rước kiệu, làm bánh ngọt, thứ bánhtruyền thống của địa phương được phân công mỗi năm một “giáp” đảm nhiệm.Bánh làm bằng bột gạo nếp thơm và mật ngon, nhào kĩ lăn thành hình tròn dàirồi cắt thành từng đoạn như đốt tre hấp chín Một trăm cầu bánh ngọt là lễ vậtmột trăm người con dâng lên mẹ Âu Cơ
Sáng sớm mùng 7 tháng giêng, trên sân đình mở đầu lễ hội là lễ tế ThànhHoàng ở đình, đây là đội tế toàn nam giới, sau đó là rước kiệu từ đình vào đền,
đi đầu là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc, các bô lão mặc áothụng xanh, áo dài khăn xếp rồi đến du khách và người dân đi lễ hội Đúng giờthin (từ 7 giờ đến 9 giờ) lễ rước vào đến sân đền - phường bát âm gồm: đàn, sáo,nhị, trống phách, sinh tiền…vang lên trong không khí tôn nghiêm Sau lễ dânghương và lễ vật gồm 100 cầu bánh ngọt, 100 phẩm oản, hoa quả thì đến tế nữ.Đội tế nữ gồm 12 cô gái thanh tân có nhan sắc và học vấn Các cô gái mặc áo dàivới các màu vàng, hồng, xanh, tím, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu, thắtlưng lụa, riêng chủ tế trang phục toàn màu đỏ Tế nữ là khâu thu hút sự chú ý trongphần lễ Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, sau khi tế nữ xong thì nhân dân địa phươngđến lễ Mẫu, dâng hương, dâng sớ, ngoài sân đền diễn ra các trò chơi dân tộc như đutiên, cờ người, chọi gà, tở tôm…Ngày thứ 3 sau khi tế nữ xong là rước kiệu từ đềntrở về đình kết thúc lễ hội Nhân dân địa phương và khách du lịch tiếp tục hànhhương về lễ tổ Mẫu hết tháng giêng, tháng hai và rải rác trong cả năm.[7,297]
Từ nhiều năm nay, nhân dân xã Hiền Lương vẫn duy trì lễ hội mùng 7tháng giêng, nghi lễ chỉ dùng cỗ chay, ngũ quả, tiền giấy, ngũ sắc, không dùngthịt xôi tổ chức cỗ bàn ăn uống Đây là một nét đẹp văn hoá đặc sắc Lễ hội có ý
Trang 39nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa cho lớp lớp con cháu.Biết ơn tổ tiên, nhớ về cội nguồn dân tộc là đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn” củadân tộc ta.
2.2.2.2 Lễ hội Đền Chu Hưng
Hằng năm, tại đền Chu Hưng diễn ra ba kỳ lễ hội là ngày mồng 7 thángGiêng, ngày mồng 8 tháng 2 là ngày giỗ của Côn Nhạc Ðại Vương và ngày 15tháng 8 là ngày hội khao quân của Ngài Nhưng kỳ lễ quan trọng là kỳ hội xuânvào ngày mồng 7 tháng Giêng với những nghi lễ truyền thống
Ngày hội là dịp để dân làng tỏ lòng thành kính trước đức thánh Côn NhạcÐại Vương và dâng lên Thánh những sản vật ngon nhất được chuẩn bị cầu kỳ,công phu, với ước nguyện cầu mong phù hộ cho gia đình, họ tộc, dân làng mộtnăm mới được khỏe mạnh, bình yên, mùa màng bội thu
2.2.2.3 Lễ hội Ðình Ðông- Ðền Nghè xã Văn Lang
Hằng năm lễ hội được tổ chức ngày 9 - 10/1 để tưởng nhớ nhị vị Tướngquân Lê Anh Tuấn và Lê Ả Lan có công với đất nước, lễ hội đón hàng nghìnlượt du khách về dự lễ hội rước nước độc đáo và tham gia các trò chơi như bóngtruyền, đu quay, bóng bàn…
Du lịch lễ hội thu hút đông đảo khách du lịch trong thời gian ngắn tạo lợinhuận cho ngành du lịch của huyện Trong những năm qua huyện Hạ Hòa đã vàđang khai thác các lễ hội phục vụ mục đích du lịch của huyện, khẳng định tínhhấp dẫn của truyền thống văn hóa lâu đời trên địa bàn huyện Tuy nhiên hầu hếtcác lễ hội diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, 2- 3 ngày như lễ hội Đền Mẫu
Âu Cơ, hay một ngày như lễ hội Đền Thượng nên chưa tạo điều kiện thuận lợi
để du khách có thể tìm hiểu sâu các giá trị văn hoá của lễ hội và địa phương,cũng như việc tiêu dùng các dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện
2.2.3 Các loại tài nguyên du lịch nhân văn khác
Bên cạnh các di tích lịch sử văn hóa và các lễ hội truyền thống, góp phầnvào sự phong phú về tài nguyên du lịch văn hóa của huyện Hạ Hòa còn phải kểđến các nét văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Hạ Hòa, ngoài dân
Trang 40tộc Kinh ở huyện Hạ Hòa còn có sự cư trú của 2 dân tộc thiểu số là dân tộc Dao
và dân tộc Cao Lan, nét văn hóa của 2 dân tộc này cũng là một loại tài nguyên
du lịch văn hóa góp phần vào sự đa dạng của tài nguyên du lịch văn hóa ở huyện
Hạ Hòa
2.2.3.1 Văn hoá nghệ thuật
Văn nghệ dân gian của huyện Hạ Hoà hết sức phong phú, nhân dân HạHhoà rất ưa ca hát đã sáng tạo nên các loại hình hát ví đồi chè rất độc đáo Cácphường chèo Minh Côi, Xuân Áng, Mai Tùng, Vĩnh Chân khá nổi tiếng trongvùng Ngoài ra còn có các nét văn hoá nghệ thuật của 2 dân tộc thiểu số Dao vàCao Lan cũng góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá của huyện Hạ Hoà
Đồng bào Dao có nhiều phong tục kỳ lạ như trong hôn nhân, Nam giớiphải ở rể từ hai đến ba năm, có khi ở luôn nhà vợ (nếu ở luôn nhà vợ thì phải đổi
họ bên vợ) Họ còn có tục dùng bạc trắng để định giá cô dâu, theo nghĩa đen làmua và gả bán, số bạc ấy sau này sẽ là của đôi vợ chồng trẻ Ngày cưới, cô dâutrang điểm rất đẹp, đội mũ màu đỏ, có hoa văn; cổ và tay đeo nhiều vòng bạc.Ngày cưới, đoàn đưa cô dâu, có cả thầy cúng, và thổi kèn, đánh chiêng, khuatrống, rung nhạc Tới nhà chồng, cô dâu phải qua nhà tạm, khi được giờ thì mớiđược vào nhà chồng Lên tới nhà chồng, cô dâu phải “rửa tay”, bước qua chậuthan hồng và nhiều nghi thức khác trước sự chứng kiến của hai họ rồi mớibước qua cửa vào nhà với ý nghĩa là “Từ nay đoạn tuyệt với con ma họ ngoại và
từ nay theo con ma họ nhà nội” Sau khi vợ chồng lấy nhau, khi sinh con đầulòng thì họ đẻ ngay tại buồng ngủ của mình Ba ngày đầu, các cửa ra vào đềuphải cắm lá kiêng không cho người lạ vào nhà Gia đình dân tộc Dao tồn tại bềnvững theo chế độ phụ quyền, người con gái không có tên trong chúc thư, khôngđược thừa kế tài sản của gia đình
Tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” mangdấu ấn của Nho giáo và Đạo giáo chính thống Tư tưởng Nho giáo được thể hiện
rõ trong cách phân định tôn ti, trật tự, theo thứ bậc ở mỗi gia đình, mỗi dòng họ.Đồng thời, Đạo giáo ảnh hưởng bao trùm hầu hết các phong tục tập quán thờ