1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405

393 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật kế toán quản trị chiến lược và thành quả hoạt động tại các doanh nghiệp Việt Nam 5405
Tác giả Trần Thị Phương Lan
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Xuân Thạch, PGS.TS. Đoàn Ngọc Phi Anh
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Quản trị Chiến lược và Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 393
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[2] Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu [3] Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN đến việc vận dụng kỹ thuật KTQT

Trang 4

Tôi cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các nghiên cứu tôi có kế thừa đều được trích dẫn cụ thể, rõ ràng, số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác.

Nghiên cứu sinh

Trần Thị Phương Lan

Trang 5

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến hai Thầy hướng dẫn khoa học là PGS.TS Hà Xuân Thạch và PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh Những người đã tận tâm hướng dẫn chỉ bảo, động viên, khích lệ để tôi có thể hoàn thành luận án này.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Các quý Thầy/Cô Viện Sau Đại học, các quý Thầy/Cô Khoa Kế toán

và các Khoa khác của nhà Trường đã tạo mọi điều kiện để tôi có thểlĩnh hội những kiến thức, những phương pháp nghiên cứu cần thiết, giúp tôi hoàn thành khóa học tại trường.

Nhân đây, tôi cũng bày tỏsự biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Tài Chính Marketing, Ban lãnh đạo khoa Kế toán – Kiểm toán và các Thầy/Cô trong khoa nơi tôi công tác, đã tạo mọi điều kiện về thời gian, kinh phí hỗ trợ cho việc thực hiện luận án Đồng thời, xin cảm ơn các Thầy/Cô, bạn bè đồng nghiệp xa gần, các Cựu sinh viên và các quý DN đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu khảo sát của luận án.

Xin lời cảm ơn đến gia đình nhỏ, gia đình lớn hai bên nội ngoại của tôi, những người luôn sát cánh bên tôi để tiếp sức giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình làm luận án.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng … năm 2023

Nghiên cứu sinh

Trần Thị Phương Lan

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN……….I

Trang 8

1 Tiếng Anh

Chữ

viết tắt

Tiếng Anh / Tiếng Việt

AAMT Accounting for Advanced Manufacturing Technology/ Kế toán

cho công nghệ chế tạo tiên tiến ABC Activity base costing/ Kế toán chi phí trên cơ sở hoạt độngABM Activity base management/ Quản trị trên cơ sở hoạt độngBSC Balanced scorecard/ Thẻ điểm cân bằng

CEO Chief Executive Officer/ Giám đốc điều hành

CIM Computer Integerated Manufaturing/Hệ thống sản xuất tích

hợp máy tính CIMCFO Chief Financial Officers/ Giám đốc tài chính

EFA Exploratory Factor Analysis/ Phân tích nhân tố khám phá

FMS Flexible Manufacturing Systems/Hệ thống sản xuất linh hoạtJIT Just In Time/Cung cấp đúng lúc

PEU Perceived Environmental Uncertainty/ Cảm nhận về tính

không chắc chắn của môi trường

PLS_SEM Partial Least Squares Structural Equation Modeling / Mô hình

phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phầnROA Return on Assets/ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE Return on Equity/ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

ROI Return on Investment/ Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư

ROS Return on Sales/ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

SBU Strategic Business Unit/ Đơn vị kinh doanh chiến lược

SCM Strategic cost management/ Quản trị chi phí chiến lược

SEM Structural Equation Modeling/ Mô hình phương trình cấu trúc SMA Strategic Management Accouting/ Kế toán quản trị chiến lược

Trang 9

TQM Total Quality Management/ Quản trị chất lượng tổng thể

OPT Optimized Production Technology/ Công nghệ sản xuất tối ưu

BCTC Báo cáo tài chính

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 10

Trang

Trang 12

Đề tài: “Các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật kế toán quản trị chiến lược và thành quả hoạt động tại các doanh nghiệp Việt Nam”

Lý do nghiên cứu:

Kế toán quản trị chiến lược (KTQTCL) được xem là một hệ thống thông tin cần thiết để các DN duy trì lợi thế cạnh tranh và nâng cao thành quả hoạt động trong môi trường kinh doanh toàn cầu Việc hiểu và vận dụng KTQTCL

là rất quan trọng, nên nhiều học giả trên thế giới cũng như một số học giả tại Việt Nam đã nghiên cứu tác động giữa nhân tố đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL,và vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động tại các DN Tuy nhiên, có những phát hiện không nhất quán về số lượng các nhân tố ban đầu, về thang đo và kết quả tác động của các nhân tố ở các quốc gia khác nhau/hoặc trong cùng một quốc gia Thêm vào đó, chưa có nghiên cứu nào xem xét tác động của các nhân tố trên phương diện các nhân tố bên trong, nhân tố bên ngoài DN tác động trực tiếp và gián tiếp đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, đến thành quả hoạt động Nên cần phải có thêm những nghiên cứu

để kiểm định, bổ sung các nhân tố cũng như xây dựng mô hình toàn diện hơn

về các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, đến thành quả hoạt động, đặc biệt là cho bối cảnh các DN Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu sự tác động trực tiếp của các nhân tố

bên trong, các nhân tố bên ngoài DN đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL; đến thành quả hoạt động; và sự tác động trực tiếp và gián tiếp của việc vận dụng

kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động DN

Phương pháp nghiên cứu: Dùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp

(PPNC định tính kết hợp với PPNC định lượng), với dữ liệu khảo sát từ 262

DN phi tài chính có qui mô vừa và lớn tại Việt Nam Việc thu thập, xử lý dữ liệu thực hiện qua phần mềm Smart -PLS

Kết quả nghiên cứu: Xác định được 07 nhân tố, gồm 2 nhân tố bên ngoài

DN (mức độ cạnh tranh của môi trường; mức độ không ổn định của môi trường), và 05 nhân tố bên trong (cấu trúc sở hữu; CLKD; định hướng thị trường; cơ cấu tổ chức; CNTT) có tác động trực tiếp, thuận chiều đến vận

Trang 13

dụng kỹ thuật KTQTCL có tác động cùng chiều đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam; iii) Các nhân tố bên ngoài, nhân tố bên trong DN tác động thông qua trung gian vận dụng kỹ thuật KTQTCL làm tăng thành quả hoạt động tại các doanh nghiệp Việt Nam

Kết luận và hàm ý: Luận án đã cung cấp nền tảng lý thuyết về KTQTCL,

kết quả thực nghiệm về sự tác động của các nhân tố bên ngoài, nhân tố bên trong DN đến vận dụng KTQTCL, đến thành quả hoạt độngtại các DN Việt Nam Gợi ý các chính sách quản trị nhằm thúc đẩy việc vận dụng KTQTCL để tăng thành quả hoạt động bền vững tại các DN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Từ khóa:KTQTCL, Kỹ thuật KTQTCL, nhân tố tác động; thành quả hoạt

động

Nghiên cứu sinh

Trần Thị Phương Lan

Trang 14

Subject: "Factors affecting the application of strategic management accounting techniques and performance in Vietnamese enterprises"

Research reason:

Strategic management accounting (SMA) is considered a crucial information system for businesses to maintain a competitive advantage and enhance organizationalperformance in the global business environment Understanding and implementing SMA are essential for businesses that numerous scholars around the world, as well as in Vietnam have studied the relationships between factors affecting the application of SMA techniques and performance

in enterprises However, there are incompatible findings on the number of baseline factors, the scale, and the effects of the elements in different countries or within the same country In addition, there have been no studies examining the impact of these factors on the internal and external factors that directly and indirectly affect the application ofSMAtechniques and performance Therefore, more studies need testing and supplementing some factors, as well as creating a more comprehensive model of internal and external factors affecting the application of SMAtechniques and performance, particularly in the context of Vietnamese companies

Objectives of the study:

Determining factors and studying the impact direct and indirect of internal and external factors on apply SMA techniques; operational performance and the impact of the application of SMA techniques on performance in Vietnamese enterprises

Research Methods:

Using a mixed research method, with survey data from 262 medium and large non-financial enterprises in Vietnam Data collection and processing is done through Smart -PLS software

Research results:

Trang 15

level of the environment; unstable level of the environment), and five internal factors (ownership structure; business strategy; market orientation; organizational structure; information technology) has a positive onthe application of SMAtechniques, to the performance of Vietnamese enterprises; The application of SMA techniques has a positive impact on performance in Vietnamese enterprises; External factors, internal factors are through intermediaries applying SMA techniques to increase operational results in Vietnamese enterprises.

Conclusion and implications:

The thesis has provided the theoretical foundation of SMA, experimental results on the impact of external and internal factors on the application of SMAtechniques, and the performance in Vietnamese enterprises; Suggested policies for managers to promote the application of SMAtechniques in Vietnamese enterprises in the current period

Keywords: Strategic management accounting;Strategic management accounting technique; impact factors; Organizationalperformance.

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

[1] Sự cấp thiết của nghiên cứu

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra những cơ hội và thách thức đối với các DN trên thế giới nói chung và các DN Việt Nam nói riêng Để tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các DN phải biết vận dụng các công cụ quản trị hiện đại và có CLKD phù hợp nhằm mang lại lợi ích cho cả hai phía - DN và khách hàng Trong môi trường như vậy, các kỹ thuật KTQTCL đã ra đời nhằm đáp ứng các thông tin cần thiết cho các nhà quản trị trong việc xây dựng, thực hiện, đánh giá và ra các quyết định chiến lược để đạt được các lợi thế cạnh tranh như chất lượng, thời gian, hiệu suất sử dụng hàng tồn kho,

sự thay đổi và cải thiện về chi phí, giá trị tăng thêm hay sự thỏa mãn của khách hàng … Các kỹ thuật KTQTCL được xem là công cụ hữu hiệu để thực hiện quá trình quản trị chiến lược trong các DN (Roslender, 1995) Với vai trò cung cấp các thông tin tài chính, phi tài chính, dài hạn và trọng tâm hướng ra bên ngoài đã giúp các nhà quản trị có thể thực hiện việc kiểm soát tốt chi phí sản xuất, duy trì được các lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động cho các DN (Cadez và Guilding, 2008; AlMaryani và Sadik, 2012; Dmitrović-Šaponja và Suljović, 2017) Nhận thức được vai trò của KTQTCL trong quá trình quản trị chiến lược, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện để xem xét các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động nhằm thúc đẩy việc vận dụng các kỹ thuật này trong các DN Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có rất nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động DN, song còn có những ý kiến trái ngược nhau

Tại Việt Nam, trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các DN Việt Nam bên cạnh những cơ hội còn phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn, đặc biệt là các áp lực cạnh tranh từ chính môi trường kinh doanh trong nước và cả nước ngoài Các DN Việt Nam với những hạn chế về vốn, nguồn lực lao động, thiếu các lao động có tay nghề, các kỹ thuật công nghệ sản xuất tiên tiến, dẫn đến việc cạnh tranh càng khó khăn hơn.Nhằm giảm bớt các

áp lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh và gia tăng các lợi thế, nhiều DN Việt Nam đã bắt đầu thay đổi cách quản lý và vận dụng KTQT nhiều hơn trong đó có các kỹ thuật của KTQTCL Theo một số kết quả nghiên cứu trước cho thấy, việc vận dụng các kỹ thuật KTQTCL đã tác động tích cực đến việc giảm chi phí cho DN (Lê Hiếu Học), có tác động tích cực đến thành quả hoạt động của DN (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012; Trinh, 2019; Bùi Thị Trúc Quy, 2020; Lê Thị Mỹ Nương, 2020) Tuy

Trang 17

nhiên, các kỹ thuật KTQTCL còn khá mới nên chưa được các DN Việt Nam quan tâm và áp dụng phổ biến Để nâng cao hiểu biết về các kỹ thuật của KTQTCL và giúp đẩy nhanh tiến trình vận dụng chúng, rất cần có những nghiên cứu về KTQTCL, về các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Nhưng đến thời điểm hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả, mặc dù đã có một vài bài báo khoa học và luận án tiến sĩ liên quan đến nội dung này ở cả khía cạnh lý thuyết và kiểm định thực tế thông qua khảo sát Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn có những hạn chế nhất định như: Chỉ xem xét một vài nhân tố đơn lẻ tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL như nhân tố cạnh tranh và phân cấp quản lý trong bài báo của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), vốn trí tuệ Trinh (2019) hoặc khám phá nhiều nhân tố cùng tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL nhưng mỗi nhân tố chỉ được khai thác trên một khía cạnh/ hoặc chỉ tập trung vào một vài kỹ thuật KTQTCL (Bùi Thị Trúc Quy, 2020; Lê Thị Mỹ Nương, 2020) Hơn nữa các nghiên cứu hiện có chỉ khám phá tác động trực tiếp của các nhân tố đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, và việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL ảnh hưởng đến thành quả hoạt động mà chưa xét đến tác động trực tiếp của các nhân

tố đến thành quả hoạt động Mặt khác, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào khảo sát lĩnh vực sản xuất, mà chưa xem xét cho nhiều lĩnh vực để đại diện cho

các DN Việt Nam Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Các nhân

tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động tại các

DN Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Luận án nhằm xác định

các nhân tố bên trong, bên ngoài DN và sự tác động trực tiếp, gián tiếp của các nhân tố này đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, đến thành quả hoạt động cũng như vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Trên cơ

sở đó, tác giả có những đề xuất khuyến nghị đối với nhà quản trị DN trong việc nhận thức khả năng, điều kiện của DN khi vận dụng kỹ thuật KTQTCL, và những giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình vận dụng chúng, góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh, mang lại thành quả hoạt động bền vững cho các DN trong môi trường kinh doanh hiện nay

[2] Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

[3] Mục tiêu tổng quát:

Luận án nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL thông qua đó ảnh hưởng đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố đó đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam

[4] Mục tiêu cụ thể:

Trang 18

Từ mục tiêu tổng quát trên, tác giả xác định các MQH của các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN và mức độ tác động của từng nhân tố trực tiếp đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, và gián tiếp tác động đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam, các mục tiêu cụ thể như sau:

1 Xác định các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN tác động trực tiếp đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam

2 Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN tác động trực tiếp đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam

3 Xác định mức độ tác động trực tiếp của vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam

4.Xác định mức độ tác động gián tiếp của các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN đến thành quả hoạt động thông qua trung gian vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Việt Nam

[5] Câu hỏi nghiên cứu:

Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra phải giải quyết được các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu, nên từ bốn mục tiêu cụ thể nói trên, tác giả xác định bốn câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong DN nào tác động trực tiếp đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam?

Câu hỏi 2: Mức độ tác động trực tiếp của các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong DN đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL, đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 3: Mức độ tác động trực tiếp của vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam như thế nào?

Câu hỏi 4: Mức độ tác động gián tiếp của các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong DN đến thành quả hoạt động thông qua trung gian vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Việt Nam như thế nào?

[6] Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Trang 19

Đối tượng nghiên cứu của luận án là kế toán hành vi, nghiên cứu các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động tại các DN

Đối tượng khảo sát là các DN Việt Nam thông qua khảo sát những người làm công tác KTTC/KTQT, hoặc các nhà quản lý cấp cao, hoặc các nhà quản lý cấp trung tại các DN này

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các DN phi tài chính,

có quy mô vừa và lớn tại Việt Nam

Thời gian thực hiện: Nghiên cứu định tính được thực hiện từ 01/9/2020 đến 30/01/2021 Nghiên cứu định lượng gồm 02 giai đoạn: (i) khảo sát sơ bộ từ 22/02/2021 đến 20/4/2021; (ii) khảo sát chính thức từ 20/5/2021 đến 20/7/2021

[7] Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu ở trên, PPNC hỗn hợp được sử dụng trong luận án với nghiên cứu định tính trước, nghiên cứu định lượng sau, cụ thể:

PPNC định tính

Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia nhằm nhận diện các nhân tố tác động bên ngoài, các nhân tố tác động bên trong DN đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Đồng thời xác định lại và điều chỉnh các thang đo của các nhân tố cho phù hợp với môi trường nghiên cứu tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu định tính sẽ đưa ra mô hình nghiên cứu dự kiến để thực hiện nghiên cứu định lượng

Trang 20

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:

8.1 Về mặt lý thuyết:

Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu của luận án dự kiến các đóng góp

về mặt lý thuyết như sau:

- Luận án sẽ bổ sung vào dòng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Trong đó nghiên cứu tập trung vào các nhân tố bên trong và bên ngoài

DN ảnh hưởng đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động (bao gồm thành quả hoạt động tài chính và thành quả hoạt động phi tài chính) tại các DN Việt Nam

- Luận án đã bổ sung thêm mô hình nghiên cứu với các nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam một cách trực tiếp và gián tiếp Các nghiên cứu trước tại Việt Nam mới chỉ thực hiện mô hình nghiên cứu hai cấp gián tiếp, chưa thấy mô hình nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp về vấn đề như nghiên cứu của luận án Đồng thời, phát triển thêm nhân tố mới là cấu trúc sở hữu có tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam

- Luận án cũng đề xuất thang đo đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và đến thành quả hoạt động tại các DN Việt Nam Các thang đo đề xuất đều được kế thừa

từ các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, tuy nhiên, luận án có điều chỉnh, bổ sung các thang đo đối với một số nhân tố đã được nghiên cứu sao cho phù hợp với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam và đặc điểm các DN tại Việt Nam

Trang 21

quản trị để đẩy nhanh tiến trình vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng vận dụng

kỹ thuật KTQTCL làm tăng thành quả hoạt động của DN Với kết quả này, luận án góp phần nâng cao nhận thức của nhà quản trị về lợi ích của kỹ thuật KTQTCL Từ đó, các nhà quản trị sẽ chủ động trong việc lập kế hoạch, thiết kế, triển khai áp dụng và cải tiến áp dụng các kỹ thuật KTQTCL nhằm nâng cao thành quả hoạt động ở cả phương diện tài chính và phi tài chính của DN

- Luận án là sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có ích cho nhà nghiên cứu, giảng dạy về mảng đề tài các kỹ thuật KTQT, vận dụng kỹ thuật KTQTCL

[9] Kết cấu luận án

Kết cấu luận án gồm 5 chương, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học đã công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước: Trình bày tổng quan các nghiên

cứu nước ngoài và trong nước về các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCLvà thành quả hoạt động

Chương 2: Cở sở lý thuyết: Trình bày khái niệm, lý thuyết nền liên quan, nhận

diện các nhân tố, xây dựng giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khái quát về PPNC, thiết kế

nghiên cứu định tính, và nghiên cứu định lượng

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Trình bày kết quả nghiên cứu định

tính, định lượng, sau đó thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Kết luận và nêu những đóng góp, hạn

chế của luận án, từ đó đề xuất những chính sách đối với các nhà quản lý DN

Trang 22

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương 1 trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và tại Việt Nam liên quan đến ba nội dung là: (1) Các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL; (2) Các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến thành quả hoạt động;(3) Tác động của việc vận dụng

kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động.Qua đó, tác giả rút ra nhận xét về các nghiên cứu trước, tìm khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án.

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về nhân tố tác động đến vận dụng

kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động

Công trình nghiên cứu về các nhân tố bên ngoài và bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

9.1.1.1 Các nhân tố bên ngoài DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Theo Gordon và Narayanan (1984), môi trường kinh doanh bên ngoài DN là một biến ngữ cảnh, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực KT/KTQT dựa trên lý thuyết bất định Khía cạnh được tập trung xem xét rộng rãi nhất của môi trường bên ngoài

DN là sự không chắc chắn (sự khó đoán trước được về môi trường bên ngoài) Trong kế toán, sự không chắc chắn có liên quan đến tính hữu ích của thông tin phạm vi rộng và nó được thể hiện qua tính cạnh tranh, sự khó dự đoán trước của

mô trường bên ngoài cùng các yếu tố thay đổi (Gordon & Narayanan, 1984

Qua khảo cứu các nghiên cứu trước, khi xem xét tác động giữa các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài với vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả cho thấy, nhân tố được đề cập nhiều nhất là mức độ cạnh tranh và cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) (Phụ lục 1.1)

[10] Mức độ cạnh tranh và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Cạnh tranh là điều tất yếu trong nền kinh tế thị trường Cường độ cạnh tranh là mức độ ảnh hưởng bên ngoài đe dọa sự thành công của các tổ chức (Mia và Clarke, 1999) Khi hoạt động trong thị trường cạnh tranh các DN phải luôn phải theo dõi sự thay đổi, những bất ổn của môi trường để đưa ra những quyết sách

Trang 23

phù hợp, vì thế mà một hệ thống kiểm soát và các kỹ thuật KTQT phức tạp hơn là rất cần thiết (Libby và Waterhouse, 1996; Anderson và Lanen, 1999) Khi mức độ cạnh tranh cao, để giảm thiểu các mối đe dọa từ phía bên ngoài và tăng lợi thế cạnh tranh, các DN cần tập trung vào khách hàng; phân tích hiệu quả hoạt động của khách hàng theo cách phù hợp nhằm hiểu rõ khách hàng và tạo ra giá trị tăng thêm cho khách hàng (Kohli và Jaworski 1990); ngoài ra Cesconvà cộng sự (2019) nhận thấy ngoài việc tập trung vào khách hàng, các DN cần phải còn phải xét đến ảnh hưởng của nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm thay thế trên thị trường, đây cũng là yếu tố quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh Do đó, khi môi trường cạnh tranh của DN trở nên khốc liệt, cần phải có một hệ thống kiểm soát và các kỹ thuật KTQTCL để giúp cho việc cải thiện quá trình ra quyết định quản lý của

DN Trong các nghiên cứu thực nghiệm, mức độ cạnh tranh đã được đo lường khác nhau và kết quả tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL cũng có sự không thống nhất, cụ thể:

Guilding và McManus (2002) đã điều tra ảnh hưởng của mức độ cạnh tranh và định hướng thị trường đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL (nhóm kế toán khách hàng) tại 124 DNSX niêm yết Úc Guilding và McManus đã xem xét nhân tố mức

độ cạnh tranh thông qua thang đo Likert 7 mức độ, với 5 biến quan sát (cạnh tranh

để bán và phân phối sản phẩm; về chất lượng; sự đa dạng của sản phẩm và giá cả; thị phần sản phẩm; dịch vụ khách hàng) Sử dụng PPNC định lượng và phân tích hồi quy, với dữ liệu được khảo sát qua thư gửi đến 95 kế toán trưởng và 53 giám đốc marketing của các DN này Kết quả nghiên cứu xác định: mức độ cạnh tranh của thị trường ảnh hưởng thuận chiều đến việc sử dụng một trong năm kỹ thuật kế toán khách hàng (Phân tích lợi nhuận của phân khúc khách hàng) tại các

DN Úc

Cũng tại Úc,McManus (2013) khi khảo sát trực tiếp 165 nhà quản trị các DN kinh doanh khách sạn, để kiểm định tác động các nhân tố ngẫu nhiên (cạnh tranh, PEU, định hướng thị trường, cơ cấu tổ chức và CLKD) tới việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL PPNC định lượng và phân tích mô hình cấu trúc SEM được sử dụng, qua đó, McManus (2013) cũng khẳng định một số kỹ thuật KTQTCL (kế toán khách hàng) bị ảnh hưởng bởi mức độ cạnh tranh, nghĩa là ở các DN kinh doanh khách sạn có mức độ cạnh tranh cao hơn thì các kỹ thuật kế toán khách hàng được vận dụng nhiều hơn

Tương tự như Guilding và McManus (2002); McManus (2013), nghiên cứu của Cescon và cộng sự (2019) cũng xem xét tác động giữa mức độ cạnh tranh gồm 5 biến quan sát (mối đe dọa gia nhập, mối đe dọa của sản phẩm thay thế, quyền lực

Trang 24

của người mua, quyền lực của nhà cung cấp, và cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh) với việc vận dụng 12 kỹ thuật KTQTCL tại 55 DNSX lớn của Ý Sử dụng PPNC định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, thực hiện khảo sát và phỏng vấn tám chuyên gia là các CFO và CEO trong bốn ngành công nghiệp khác nhau, nhóm tác giả đưa ra kết luận rằng việc vận dụng các kỹ thuật KTQTCL tại các DNSX Ý bị tác động bởi mức độ cạnh tranh cụ thể: (i) Mối đe dọa gia nhập tác động tích cực đến việc sử dụng kỹ thuật định giá chiến lược, BSC; (ii) Mối đe dọa của sản phẩm thay thế có ảnh hưởng đáng kể đến sử dụng kỹ thuật về chi phí vòng đời, BSC; (iii) Quyền lực nhà cung cấp có ảnh hưởng tích cực đến sử dụng định giá chiến lược; (iv) Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh làm tăng việc sử dụng các kỹ thuật như chi phí mục tiêu, BSC

Tại Palestine, một quốc gia đang phát triển, kết quả nghiên cứu của Ojra (2014) khi thực hiện điều tra tác động giữa các nhân tố ngẫu nhiên (mức độ cạnh tranh, PEU, CLKD, quy mô, công nghệ, cơ cấu tổ chức) với vận dụng 16 kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động Dữ liệu khảo sát tại 175 DN lớn nhất của Palestine và sử dụng PPNC định lượng, phân tích mô hình cấu trúc SEM để thực hiện nghiên cứu Ojra xem xét tác động của mức độ cạnh tranh với vận dụng KTQTCL và cho thấy cũng có kết quả tương đồng với kết quả các nghiên cứu tại

Úc, Ý như trình bày ở trên, khi khẳng định mức độ cạnh tranh càng gia tăng thì mức độ sử dụng kỹ thuật KTQTCL (kỹ thuật kế toán đối thủ cạnh tranh, kỹ thuật kế toán khách hàng) càng nhiều trong các DN Palestine

Tuy nhiên, trong phạm vi các DN Canada hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, Quon (2020) khảo sát tại 101 DN có quy mô từ nhỏ đến rất lớn của Canada, cho thấy mặc dù có mức độ tương quan đáng kể nhưng lại không có bằng chứng

để khẳng định rằng mức độ cạnh tranh càng cao thì DN càng vận dụng nhiều kỹ thuật KTQTCL

[11] Cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) và vận dụng

kỹ thuật KTQTCL

Môi trường kinh doanh bên ngoài DN với sự thay đổi không ngừng, do đó sự cảm nhận về tính không chắc chắn của môi trường (PEU) được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm xem xét trong quá trình ra quyết định chiến lược với mục tiêu điều chỉnh các hoạt động của DN cho phù hợp với các cơ hội của môi trường PEU

có liên quan đến việc các nhà quản trị không dự đoán chính xác được các hành động liên quan đến đối thủ cạnh tranh trên thị trường, nhu cầu khách hàng, những thay đổi của yếu tố kinh tế, công nghệ và pháp lý Nhiều học giả cho rằng môi

Trang 25

trường bên ngoài mà các nhà quản trị phản ứng lại là môi trường mà họ cảm nhận được chứ không phải môi trường thực tế bên ngoài, và khi các nhà quản trị càng nhận thức được ảnh hưởng của PEU đối với hoạt động của DN, họ càng cần phải

sử dụng các thông tin của KTQTCL nhiều hơn để cung cấp thêm thông tin tài chính, phi tài chính, thông tin bên ngoài, giúp nhà quản trị có thể chủ động đối phó với các tình huống không chắc chắn của môi trường kinh doanh Do vậy PEU được xem là một yếu tố dẫn đến sự thay đổi thiết kế hệ thống thông tin KTQTCL (McManus, 2013)

Pavlatos (2015) tiến hành điều tra tác động giữa các nhân tố ngẫu nhiên đến vận dụng 11 kỹ thuật KTQTCL và hiệu quả tài chính quá khứ tại 106 khách sạn hàng đầu Hy Lạp Bằng PPNC định lượng, sử dụng mô hình PLS SEM, Pavlatos

đã xem xét nhân tố PEU, sử dụng thang đo Likert 7 mức độ với 6 biến quan sát (cạnh tranh về giá, môi trường kinh tế bên ngoài, sự xuất hiện của dịch vụ mới, hoạt động của đối thủ cạnh tranh, thị hiếu khách hàng, ràng buộc về luật pháp, quản lý nhà nước và kinh tế) Kết quả nghiên cứu tiết lộ PEU có tác động thuận chiều đến kỹ thuật KTQTCL, nghĩa là khi mức bất ổn môi trường càng cao thì kỹ thuật KTQTCL được DN sử dụng nhiều hơn để giảm sự không chắc chắn và cải tiến việc ra quyết định quản trị, lên kế hoạch quản trị và kiểm soát Điều này cũng đúng như kết quả công bố của Cescon và cộng sự (2019) tại Ý,khi thấy có sựtác động tích cực, thuận chiều của PEU đến vận dụng KTQTCL PEU cao làm tăng cường vận dụng kỹ thuật KTQTCL và làm tăng hiệu quả hoạt động (Al-Mawali, 2015)

Trái ngược với các kết quả kể trên, McManus (2013)khi khảo sát tại 165 cơ sở kinh doanh khách sạn lớn của Úc McManus (2013) xem xét PEU thông qua thang

đo Likert 7 mức độ,với 5 biến quan sát (các yếu tố bên ngoài: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, quản lý nhà nước, và công nghệ), lại kết luận rằng chưa

có cơ sở để khẳng định là PEU có tác động thuận chiều với vận dụng các kỹ thuật KTQTCL Điều này lại tiếp tục đượcHoque (2004), Ojra (2014), Quon (2020) khẳng định: PEU không dẫn đến việc vận dụng KTQTCL cao hơn trong các công ty tại Úc, Palestine, Canada

11.1.1.1 Các nhân tố bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Tổng hợp các nghiên cứu trước, các nhân tố bên trong DN thường tập trung ở các nhân tố như: CLKD; định hướng thị trường; Cơ cấu tổ chức; Công nghệ thông

Trang 26

tin; Văn hóa tổ chức; Kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược; Ngành kinh doanh; Quy mô DN; …(Phụ lục 1.1)

Guilding (1999), tiến hành điều tra sự tác động giữa chiến lược với vận dụng 05

kỹ thuật KTQTCL qua khảo sát 112 DN lớn tại New Zealand Guilding xem xét chiến lược trên hai khía cạnh là mô hình chiến lược (người tiên phong/ người đi sau) và mục tiêu chiến lược (xây dựng/ thu hoạch) Trong đó, mô hình chiến lược liên quan đến cách thức mà các DN cạnh tranh, còn mục tiêu chiến lược được thiết

kế để xác định vị thế của DN trên phạm vi từ theo đuổi thị phần cao (xây dựng) đến theo đuổi lợi nhuận trong ngắn hạn (thu hoạch) Bằng việc việc gửi câu hỏi khảo sát các kế toán trưởng ở các DN lớn tại New Zealand, Guilding sử dụng PPNC định lượng và phân tích nhân tố EFA, kết quả nghiên cứu đã khẳng định: chiến lược (mô hình chiến lược và mục tiêu chiến lược) đều có động tác tích cực thuận chiều đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL trong đó các DN áp dụng chiến lược người tiên phong/ xây dựng sẽ có mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL cao hơn so với các

DN áp dụng các chiến lược người đi sau/ thu hoạch Điều này được lý giải rằng DN

áp dụng chiến lược người tiên phong/ xây dựng cần nhiều thông tin về môi trường

và thị trường hơn so với DN áp dụng chiến lược người đi sau/thu hoạch, vì thế các

kỹ thuật KTQTCL đặc biệt là các kỹ thuật về kế toán đối thủ cạnh tranh, định giá chiến lược, kế toán về chi phí chiến lược được sử dụng nhiều hơn nhằm đáp ứng được các thông tin này tốt hơn

Trang 27

Cadezvà Guilding (2008) tiến hành thực hiện 10 cuộc phỏng vấn các chuyên gia

là các nhà quản lý cấp cao và khảo sát 193 DN lớn nhất tại Slovenia bằng bảng câu hỏi được gửi đến các kế toán trưởng/kiểm soát viên/ CEO nhằm kiểm định các nhân tố ngẫu nhiên gồm (CLKD; xây dựng chiến lược có chủ ý; định hướng thị trường, qui mô DN) tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL (16 kỹ thuật) Nhóm tác giả sử dụng PPNC định tính kết hợp PPNC định lượng và mô hình cấu trúc SEM để thực hiện nghiên cứu Kết quả về sự tác động giữa CLKD (mô hình chiến lược); xây dựng chiến lược có chủ ý và vận dụng kỹ thuật KTQTCL được tác giả công bố: i) Có sự tác động tích cực thuận chiều giữa mô hình chiến lược đến vận dụng các kỹ thuật KTQTCL tại các DN Slovenia, trong đó các DN theo đuổi chiến lược người tiên phong có nhu cầu sử dụng các kỹ thuật KTQTCL cao hơn các DN theo dạng chiến lược người đi sau Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Guilding (1999); ii) xây dựng CLKD có chủ ý tác động tích cực, thuận chiều đến vận dụng các kỹ thuật KTQTCL Điều này cho thấy, các DN Slovenia có tính thận trọng, có chủ ý càng cao khi xây dựng chiến lược thì có mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL càng lớn

Tiếp đó, Cinquini và Tenucci (2007, 2010) cũng đã xem xét tác động của chiến lược với vận dụng 14 kỹ thuật KTQTCL nhưng trên ba khía cạnh là mô hình chiến lược (người tiên phong/người đi sau); mục tiêu chiến lược (xây dựng/thu hoạch) và

vị thế chiến lược (khác biệt hóa/dẫn đầu về chi phí) Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua internet bằng hình thức gửi email cho kế toán trưởng/CEO/nhà quản lý tại

92 DNSX lớn nhất của Ý PPNC định lượng và phân tích hồi qui được sử dụng để phân tích dữ liệu với kết quả là: Hai trong ba khía cạnh của CLKD(mục tiêu chiến lược; vị thế chiến lược) có tác động đến việc vận dụng các kỹ thuật KTQTCL, bởi kết quả hồi qui cho thấy các DN đang áp dụng chiến lược xây dựngvà chiến lược dẫn đầu về chi phí đều có xu hướng sử dụng các kỹ thuật KTQTCL (các kỹ thuật

về kế toán khách hàng/ về chi phí) để giải quyết thông tin về khách hàng, chi phí nhiều hơn so với các DN áp dụng các loại chiến lược khác Còn đối với loại mô hình chiến lược(người tiên phong/người đi sau), chưa có bằng chứng để khẳng định loại chiến lược này có tác động cùng chiều với vận dụng kỹ thuật KTQTCL điều này tương tự với kết quả nghiên cứu của McManus (2013) tại các khách sạn

ở Úc, và Quon (2020) tại các DN ở Canada, nhưng lại trái ngược với kết quả của Guilding(1999)

Ngoài ra, một số kết quả đồng thuận với sự tác động cùng chiều giữa chiến lược với kỹ thuật KTQTCL được thực hiện bởi một số tác giả khác như: Hoque (2004); Ojra (2014); Teeratansirikool và cộng sự (2013) (CLKD); Turner et al (2017) (chiến lược dẫn đầu về chất lượng); Quon (2020) (Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm)

Trang 28

[12] Định hướng thị trường và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Định hướng thị trường là một loại văn hóa DN, thường gắn với thông tin liên quan đến nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, làm nền tảng quan trọng cho các hoạt động để tạo ra giá trị tốt hơn cho khách hàng, đồng thời, các thông tin của khách hàng được cung cấp cho các bộ phận chức năng, phối hợp để có những ứng phó kịp thời với các cơ hội thị trường sẽ dẫn đến sự thành công lâu dài của DN, vì vậy việc các DN càng gia tăng sự định hướng theo thị trường thì thành quả hoạt động trên thị trường càng được cải thiện (Kohli và Jaworski, 1990) Còn Narver & Slater (1990) kết luận rằng định hướng thị trường là sự kết hợp giữa định hướng khách hàng- đối thủ cạnh tranh - và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng.Khi các DN lựa chọn định hướng thị trường mạnh mẽ sẽ có xu hướng coi trọng việc thu thập thông tin hướng ra bên ngoài, trong đó đặc biệt là thông tin tập trung vào khách hàng/ đối thủ cạnh tranh Dựa trên quan điểm này, Guilding và McManus (2002) đã xây dựng và kiểm định giả thuyết về sự tác động của định hướng thị trường đối với việc vận dụng các kỹ thuậtKTQTCL (kế toán khách hàng) tại các DN Úc Sử dụng thang đo Likert 7 mức độ, gồm 4 biến quan sát, nhóm tác giả đã công bố kết quả cho thấy định hướng thị trường có tác động tích cực, thuận chiều đến ba trong năm kỹ thuật KTQTCL (kế toán khách hàng, phân tích khả năng lợi nhuận của khách hàng trọn đời và định giá khách hàng/ hoặc nhóm khách hàng như tài sản Điều này được giải thích rằng, khi các DN có định hướng thị trường cao hơn sẽ có trọng tâm thông tin hướng ra bên ngoài mạnh hơn, đặc biệt là sự quan tâm đến khách hàng nên có mức độ vận dụng các kỹ thuật về kế toán khách hàng lớn hơn Sau đó, Turnervà cộng sự (2017) tiếp tục công bố bằng chứng cho thấy có MQH thuận chiều giữa định hướng thị trường với mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại 95DN kinh doanh khách sạn Mỹ

Bất đồng với đa số các kết quả nghiên cứu trên, Cadezvà Guilding (2008), Quon (2020) khẳng định rằng không có bằng chứng cho thấy định hướng thị trường làm tăng mức vận dụng kỹ thuật KTQTCL (kế toán khách hàng) tại các DN Slovenia và Canada

[13] Cơ cấu tổ chức và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Cũng giống CLKD, cơ cấu tổ chức được xem là một tác nhân làm ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQTCL Cơ cấu tổ chức được nhìn dưới nhiều góc độ, chủ yếu bao gồm: (i) sự phân quyền; (ii) sự chính thức hóa

Sự phân quyền /hay sự phân cấp quản lý(Decentralization) thể hiện mức độ

phân chia quyền quyết định cho một số lượng lớn các nhà quản lý cấp dưới ở DN

Trang 29

Nhân tố này còn được gọi là “Mức độ tập trung quyền quản lý” (centralization), nhìn dưới góc độ này nó thể hiện mức độ phân quyền ở chiều ngược lại, khi đó cơ cấu

tổ chức tập trung quyền ra quyết định ở tầng cao cấp chỉ với số ít người quản lý Abernethy và Bouwens (2005) nhận thấy rằng phân quyền quản lý là một yếu tố góp phần vào việc thực hiện hiệu quả các đổi mới kế toán

McManus (2013)xem xét tác động của cơ cấu tổ chức trên góc độ “sự phân cấp quản lý” với 7 biến quan sát (phát triển sản phẩm mới, mua công cụ vốn, tuyển dụng và sa thải nhân viên, tìm nguồn cung ứng đầu vào, thực hiện các giải pháp và

kế hoạch, định giá dịch vụ, cung cấp dịch vụ và thay đổi ngân sách kỳ hiện tại), sử dụng thang đo Likert để đo lường tác động của “sự phân cấp quản lý” đến mức độ vận dụng KTQTCL tại các cơ sở kinh doanh khách sạn Úc.McManus (2013) đã khẳng định sự phân cấp quản lý có ảnh hưởng cùng chiều đến vận dụng các kỹ thuật kế toán khách hàng Kết quả này cũng giống với kết quả của Pavlatos (2015) được khảo sát tại các khách sạn Hy Lạp khi nhận thấy mức độ phân cấp quản lý càng lớn được thì càng đòi hỏi nhiều thông tin để đáp ứng cho việc ra quyết định quản lý ở các cấp thấp hơn so với các DN kinh doanh khách sạn có mức độ tập trung quyền quản lý cao, do vậy càng yêu cầu thông tin do kế toán khách hàng cung cấp nhiều hơn

Trái ngược với McManus (2013) và Pavlatos (2015), tại các DN Canada, (Quon, 2020) sử dụng thang đo 7 mức độ đánh giá sự phân cấp quản lý/tập trung quyền lực ở các mặt hoạt động, kết quả xác định, không có sự tác động thuận chiều giữa

sự phân cấp quản lý và mức độ vận dụng KTQTCL

Sự chính thức hóa (Formalization) là các công việc và hoạt động của người

lao động trong tổ chức được xây dựng thành tiêu chuẩn hóa thông qua các luật lệ

và chính sách trong tổ chức Xem xét sự chính thức hóa đến mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN, Ojra (2014) kết luận rằng chưa đủ bằng chứng chứng tỏ

sự chính thức hóa có tác động thuận chiều đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Palestine

[14] Công nghệ thông tin và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Để đáp ứng với môi trường kinh doanh thay đổi và tạo được lợi thế cạnh tranh, các DN đã phát triển các chiến lược và áp dụng công nghệ hiện đại(sản xuất/thông tin, gọi tắt là CNTT) để thực hiện quản lý và điều hành hoạt động SXKD nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Việc sử dụng công nghệ hiện đạitrong mỗi tổ chức đã tăng lên đáng kể phù hợp với sự phát triển của công nghệ sản xuất tiên tiến, sự ra đời của Internet, công nghệ truyền thông, phần mềm và cơ sở dữ liệu Sự thay đổi này

Trang 30

đã làm thay đổi quá trình sản xuất, thay đổi cấu trúc tổ chức và ảnh hưởng đến việc vận dụng các kỹ thuật KTQT hiện đại (Roslender, 1995; Baines vàLangfield Smith, 2003) CNTT là một trong những nhân tố bên trong có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán tại các DN, nó đã được chứng minh bằng thực nghiệm trong nhiều nghiên cứu trước đây, ở cả các nước đã phát triển và các nước đang phát triển Dựa trên kết quả các nghiên cứu trước, Ojra (2014) đã tiến hành kiểm định tác động giữa CNTT và vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Palestine Với 4 biến quan sát về vai trò của CNTT trong: hệ thống sản xuất; kỹ thuật sản xuất, hệ thống thông tin kế toán; phần mềm đóng gói dùng trong kế toán

và hệ thống điều hành hoạt động, nghiên cứu đã phát hiện CNTT có tác động cùng chiều đến KTQTCL,và CNTT có vai trò cao thì mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN càng lớn

[15] Văn hóa tổ chức và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Văn hóa tổ chức (văn hóa DN) có vai trò quan trọng trong duy trì hoạt động của doanh nghiệp, nó tạo nên một khung chuẩn mực cho phép các cá nhân tuân thủ và chia sẻ những giá trị chung và quyết định hành vi của họ trong DN; từ đó có thể tác động đáng kể đến hiệu quả tổ chức Văn hóa tổ chức có thể được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau, ví dụ như: văn hóa đổi mới và học hỏi, hay văn hóa hỗ trợ Xuất phát từ quan điểm cho rằng: (i) các kỹ thuật KTQTCL là khá mới, các DN có văn hóa dễ tiếp thu các ý tưởng mới sẽ sẵn sàng vận dụng kỹ thuật KTQTCL hơn;

và (ii) DN sẽ đạt được sự hiểu biết đầy đủ về yêu cầu của khách hàng, phản ứng của đối thủ cạnh tranh, sự phát triển của công nghệ thông qua tận tâm học hỏi, Quon (2020) đã xem xét về MQH của văn hóa đổi mới và học hỏi của DN đến mức

độ vận dụng KTQTCL Sử dụng thang đo Likert 7 mức độ, với 6 biến quan sát về văn hóa đổi mới và 4 biến quan sát về văn hóa học hỏi, kết quả cuối cùng cho thấy văn hóa tổ chức (đổi mới và học hỏi) có ảnh hưởng tích cực đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN Canada

[16] Kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Một số nhà nghiên cứu cho rằng vai trò của KTQT đã thay đổi trong những thập

kỷ qua, nó chuyển từ một nhà cung cấp thông tin đơn giản thành cố vấn tích cực trong các vấn đề chiến lược, là nguồn thông tin quan trọng của quá trình ra quyết định (Scott, Tiessen 1999; Rowe và cộng sự, 2008).Sự tham gia nhiều hơn vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược của kế toán sẽ làm tăng sự hiểu biết sâu sắc hơn về nhu cầu thông tin để phục vụ cho ra các quyết định quản trị chiến lược,

Trang 31

điều này thúc đẩy người kế toán đổi mới công tác kế toán; đồng thời giúp đánh giá cao hơn tính hợp lý của việc sử dụng các nguồn lực của DN để vận hành, duy trì

và phát triển hệ thống KTQT/KTQTCL (Abernethy và Bouwens, 2005).Tuy nhiên, các hiểu biết về cách kế toán tham gia vào các vấn đề chiến lược vẫn còn hạn chế

và thiếu bằng chứng về cách các kỹ thuật KTQTCL này đã được các tổ chức chấp nhận (hoặc từ chối) và các quy trình của việc chấp nhận (hoặc từ chối) này (Tillman và Goddard, 2008) Các lý thuyết về quá trình áp dụng các kỹ thuật KTQTCL và sự thay đổi vai trò của KTQT là tương đối khan hiếm Như Langfield -Smith (2008) đã chỉ ra rằng sẽ rất hữu ích nếu hiểu cách các kỹ thuật KTQTCL lan tỏa vào thực tiễn chung và vào các quy trình tổ chức của DN.Cadezvà Guilding (2008) cũng tìm thấy sự tác động tích cực cùng chiều giữa việc kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược và vận dụng KTQTCL Ma vàTayles (2009)

sử dụng lý thuyết thể chế và chủ nghĩa tân thể chế để giải thích những ảnh hưởng bên ngoài và bên trong đối với sự thay đổi vai trò của nhân viên KTQT và kết quả công việc của họ Qua nghiên cứu, các tác giả cho rằng các kế toán viên bên cạnh mối quan tâm thuần túy về tài chính cần xem xét các vấn đề kinh doanh trong DN một cách tổng quát hơn Các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề xung quanh sự thay đổi trong vai trò của nhân viên kế toán và điều này cho phép việc áp dụng các kỹ thuật KTQTCL và việc định vị lại vị trí của các nhân viên KTQT đối với chiến lược của DN Kết quả nghiên cứu cho thấy KTQT đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin cho việc ra quyết định chiến lược, và áp dụng kỹ thuật KTQTCL tại

DN Điều này một lần nữa được khẳng định tại các DN Canada qua nghiên cứu của Quon (2020) về việc kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược

và tác động đến mức độ vận dụng KTQTCL

[17] Ngành kinh doanh và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Dựa trên quan điểm các ngành kinh doanh xuất phát từ sự cạnh tranh và công nghệ công nghệ đặc trưng càng cao thì càng có ảnh hưởng đến thiết kế và sử dụng hệ thống thông tin KTQT, và khả năng vận dụng các kỹ thuật KTQTCL sẽ nhiềuhơn,Guilding (1999) đã phân loại các DN được khảo sát thành 10 ngành kinh doanh, gồm: (i) dầu, (ii) khí, (iii) khoáng sản, (iv) sản xuất cơ bản, (v) sản xuất, (vi) bảo hiểm, (vii) thực phẩm chế biến và đồ uống, (viii) bán lẻ, (ix) bán buôn và (x) phân phối Kết quả nghiên cứu thể hiện, ít có bằng chứng để khẳng định rằng có MQH giữa ngành kinh doanh tham gia hoạt động với mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN New Zealand Cinquini và Tenucci (2007) cũng đưa ra ý kiến tương tự: Chưa thể chắc chắn có MQH giữa ngành kinh doanh với vận dụng kỹ thuật KTQTCL trong các DN Ý Ngoài hai nghiên cứu ở các nước đã phát triển

Trang 32

(New Zealand và Ý), các nghiên cứu còn lại mà tác giả tổng hợp được không xem xét “ngành kinh doanh” như một nhân tố độc lập tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN.

[18] Quy mô DN và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Quan điểm xem quy mô DN là nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN, xuất phát từ chỗ các học giả cho rằngcác DN có quy mô lớn hơn sẽ có chi phí để thực hiện KTQTCL tính trên mỗi đồng doanh thu, mỗi nhân viên thấp hơn, nên sẽ nhận được lợi ích nhiều hơn khi vận dụng KTQTCL; các DN có quy mô càng lớn đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ hơn về môi trường và

sự gia tăng nguồn lực của DN, nên nhu cầu thu nhập được thông tin chất lượng từ môi trường bên ngoài càng cao, khả năng vận dụng kỹ thuật KTQTCL càng nhiều, thông tin KTQTCL cung cấp càng có giá trị hơn(Guilding, 1999) Kết quả của nhiều nghiên cứu tại các nước đã phát triển và đang phát triển cũng đã cho thấy quy mô

DN có liên quan tích cực đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL (Guilding, 1999; Hoque và James, 2000; Cadez vàGuilding, 2008; Quon, 2020; Ojra, 2014)

Guilding (1999) trong nghiên cứu tại các DN New Zealand, khi sử dụng tổng tài sản làm thang đo quy mô DN,kết quả nghiên cứu củaGuildingcho thấyquy mô DN

có tác động thuận chiều đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL (kỹ thuật kế toán tập trung vào đối thủ cạnh tranh) và việc vận dụng các kỹ thuật KTQTCL nhiều hơn sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn cho DN.Hoque và James (2000) tiến hành xem xét tác động của các nhân tố ngẫu nhiên (quy mô DN; vòng đời sản phẩm; vị thế trên thị trường) đến việc sử dụng 01 kỹ thuật KTQTCL (BSC) làm ảnh hưởng đến thành quả hoạt động, thực hiện khảo sát tại 66 DNSX Úc Nhân tố quy mô trong nghiên cứu của Hoque và James (2000) đo lường với 3 biến quan sát (tổng doanh thu, tổng tài sản

và tổng số lao động) Tiếp cận lý thuyết bất định, sử dụng PPNC định lượng, và phân tích hồi qui, kết quả chỉ ra rằng các DN có quy mô càng lớn thì mức độ vận dụng kỹ thuật BSC càng cao tại DNSX Úc

Tại Slovenia, Cadezvà Guilding (2008) sử dụng tổng doanh thu làm thang đo quy mô DN, cho rằng mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL có quan hệ cùng chiều với quy mô của các DN, điều này được khẳng định thông qua Kết quả NC định lượng lẫn định tính.Tại Canada,Quon (2020) đo lường quy mô DN qua 3 biến quan sát (số lượng lao động, doanh thu, hàng hóa xuất khẩu), và công bố kết quả quy

mô DN có tác động thuận chiều với vận dụng kỹ thuật KTQTCL.Tại Palestine, Ojra (2014) đo lường quy mô DN thông qua tổng doanh thu, cũng cho thấy mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL chịu sự tác động thuận chiều bởi quy mô DN khi đưa ra kết

Trang 33

luận rằng các DN có quy mô lớn hơn vận dụng kỹ thuật KTQTCL nhiều hơn các

DN nhỏ hơn

[19] Một số nhân tố khác và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Ngoài các nhân tố được nhiều nghiên cứu quan tâm như đã liệt kê ở phần trên, còn một số các nhân tố khác cũng được tìm hiểu rải rác ở các nghiên cứu khác nhau, tại các quốc gia khác nhau

[20] Chất lượng của hệ thống thông tin và KTQTCL

Dựa trên quan điểm việc nâng cao chất lượng hệ thống thông tin sẽ làm tăng tính hữu ích của các hệ thống ra quyết định và việc vận dụng các kỹ thuật KTQT, Pavlatos (2015) đã kiểm định MQH cùng chiều giữa chất lượng hệ thống thông tin

và mức độ vận dụng KTQTCL Kết quả xác nhận chất lượng hệ thống thông tin có ảnh hưởng tích cực đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các khách sạn Hy Lạp

[21] Vị thế trên thị trường và KTQTCL

Hoque và James (2000), xem vị thế thị trường như là thị phần doanh thu của một DN so với các đối thủ cạnh tranh của nó trong một thị trường cụ thể Họ đã tiến hành kiểm định MQH giữa vị thế thị trường với việc vận dụng BSC tại các DN

Úc Bằng việc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, từ 1 (Thị phần doanh thu của DN bạn là nhỏ và không đáng kể so với các DN hàng đầu) đến 5 (Doanh thu của DN bạn là thống trị trong phân khúc thị trường của DN), kết quả thể hiện rằng có sự tác động, nhưng không có bằng chứng để khẳng định DN có vị thế thị trường cao hơn thì vận dụng BSC nhiều hơn Các DN ở vị thế thị trường thấp vẫn có thể vận dụng BSC để kiểm soát nội bộ và thực hiện chiến lược mới của mình

[22] Hướng địa lý và KTQTCL

Hướng địa lý (địa bàn/thị trường kinh doanh) được Cescon và cộng sự (2019) xem như một phần của CLKD trong DN Ý Bên cạnh quyết định phương thức cạnh tranh trên thị trường, CLKD của DN còn phải lựa chọn thị trường mà DN theo đuổi

DN theo đuổi thị trường hướng ra quốc tế, chỉ tập trung vào thị trường nội địa hay coi trọng cả quốc tế lẫn nội địa có thể sẽ có mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL khác nhau do nhu cầu thông tin khác nhau Kết quả nghiên cứu của Cescon là không có đủ bằng chứng để xác nhận sự tác động giữa định hướng thị trường quốc tế và trong nước với mức độ sử dụng các kỹ thuật KTQTCL; Tuy nhiên DN đặt trọng tâm vào thị trường trong nước có ảnh hưởng đến vận dụng kỹ thuật về

Trang 34

chi phí chất lượng và định giá thương hiệu, nhưng không có ảnh hưởng đến kỹ thuật kế toán chi phí và ra quyết định khác của KTQTCL.

[23] Hiệu quả tài chính quá khứ và KTQTCL

Dựa trên quan điểm cho rằng có MQH giữa thiết kế hệ thống quản trị hiệu quả hoạt động đến hiệu quả hoạt động quá khứ, Pavlatos (2015) thực hiện nghiên cứu tại các khách sạn Hy Lạp Với dữ liệu về hiệu quả hoạt động thực tế trong 3 năm trước thời điểm bắt đầu nghiên cứu Tác giả đã xác định các khách sạn tại Hy Lạp

có hiệu quả tài chính quá khứ thấp hơn thì có mức sử dụng KTQTCL cao hơn

[24] Đặc điểm của CEO và KTQTCL

Tổng hợp từ các nghiên cứu trước, Kalkhouran và cộng sự (2017) cho rằng trình độ học vấn và kinh nghiệm là hai trong số các đặc điểm quan trọng của CEO

mà có thể định lượng và quan sát được Vai trò của hai đặc điểm này đến tồn tại và phát triển của DN đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả Hơn nữa, nó còn rất có thể ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của DN Trình độ học vấn và kinh nghiệm của CEO cao hơn cho thấy họ có khả năng cao hơn trong việc phát triển các quyết định chiến lược, đổi mới và xử lý thông tin Tuy nhiên khi thực hiện nghiên cứu ở các DN nhỏ và vừa tại Malaysia, Kalkhouran và cộng sự (2017) cho thấy chỉ có trình độ học vấn có quan hệ cùng chiều với mức độ vận dụng KTQTCL, còn kinh nghiệm làm việc không ảnh hưởng

[25] Sự tham gia vào mạng lưới và KTQTCL

Kalkhouran và cộng sự (2017) đã tiến hành xây dựng và kiểm định ảnh hưởng của việc tham gia vào mạng lưới đến việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN vừa và nhỏ tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tham gia của CEO vào mạng lưới có tác động trực tiếp, thuận chiều đến mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN

[26] Các nhân tố đặc điểm của nhóm lãnh đạo cấp cao/đặc điểm quản trị của

DN và KTQTCL

Theo lý thuyết quản trị cấp cao và lý thuyết vai trò, nhân tố đặc điểm của nhóm lãnh đạo cấp cao (tuổi, nhiệm kỳ, nền tảng đào tạo, tính sáng tạo) có ảnh hưởng đến việc vận dụng các kỹ thuật quản lý tiên tiến, đến việc lựa chọn chiến lược và đến cả thành quả hoạt động của đơn vị Pavlatos và Kostakis (2018) khi khảo sát tại 108 DNSX lớn nhất Hy Lạp, đã xác định về MQH cùng chiều giữa việc vận dụng

kỹ thuật KTQTCL và độ tuổi, độ dài của nhiệm kỳ, nền tảng học vấn liên quan đến

Trang 35

kinh tế của nhóm lãnh đạo cấp cao (CFO, CEO, giám đốc marketing) thông qua việc sử dụng PPNC định lượng và phân tích PLS SEM Cũng trên quan điểm đặc điểm của bộ máy quản trị sẽ tác động đến KTQTCL, kết hợp lý thuyết đại diện, lý thuyết dựa trên nguồn lực và lý thuyết người quản lý, Arunruangsirilert và Chonglerttham (2017) xác định các nhân tố thuộc đặc điểm bộ máy quản trị bao gồm: tính độc lập, tính chủ động của chủ tịch, ban giám đốc, ủy ban kiểm toán tại các DN Thái Lan có tác động thuận chiều đến mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL.

Công trình nghiên cứu về các nhân tố bên ngoài và bên trong DN tác động đến thành quả hoạt động

26.1.1.1 Các nhân tố bên ngoài DN tác động đến thành quả hoạt động

[1] Mức độ cạnh tranh và thành quả hoạt động

Hệ thống thông tin của KTQT với vai trò chính là hỗ trợ nhà quản trị trong việc

ra quyết định và kiểm soát hoạt động (Abernethy& Bouwens, 2005) Khi các DN đối mặt với môi trường cạnh tranh hơn hoặc hoạt động trong các điều kiện không chắc chắn của môi trường, việc cung cấp thông tin tốt hơn sẽ làm cải thiện phân bổ nguồn lực và khả năng kết quả hoạt động của tổ chức được nâng lên (Baines

&Langfield-Smith, 2003).Mia và Clarke (1999) đã tìm thấy mối liên hệ gián tiếp giữa mức độ cạnh tranh trên thị trường và thành quả hoạt động DN thông qua việc sử dụng thông tin KTQT Ojra (2014) khi kiểm định MQH giữa mức độ cạnh tranh và thành quả hoạt động tại các DNSX Palestine cũng đã khẳng định là mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng cùng chiều đến thành quả phi tài chính

[27] PEU và thành quả hoạt động

Hoque (2004) tiến hành điều tra MQH giữa PEU và thành quả phi tài chính, khi thực hiện khảo sát 52 CEO tại các DNSX của New Zealand, kết quả là không có bằng chứng chứng tỏ có MQH tác động tích cực giữa PEU và thành quả thông qua thước đo hiệu quả phi tài chính tại các DN này Kết quả này cũng tương tự như của Ojra (2014) khi khẳng định PEU không tác động đến thành quả hoạt động

27.1.1.1 Các nhân tố bên trongDN tác động đến thành quả hoạt động

Các nghiên cứu đánh giá, kiểm định tác động của các nhân tố đến thành quả hoạt động thường không được nghiên cứu riêng mà được xem xét trong các nghiên cứu liên quan giữa các nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL Một số nhân tố được xem xét cụ thể như sau:

Trang 36

[1] Chiến lược kinh doanh và thành quả hoạt động

Mỗi DN đều có những kế hoạch chiến lược khác nhau để đạt mục tiêu của mình, tuy nhiên, DN cần lựa chọn những chiến lược phù hợp với các điều kiện và môi trường mới có thể nâng cao thành quả hoạt động (Baines vàLangfield Smith, 2003).Dựa trên quan điểm cho rằng thành quả hoạt động chịu sự tác động lớn của việc lựa chọn CLKD, Ojra (2014) đã tiến hành kiểm định MQH giữa CLKD và thành quả hoạt động tại các DN Palestine Kết quả nghiên cứu tiết lộ DN càng hướng đến

sử dụng chiến lược người tiên phong sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành quả hoạt động tài chính, nhưng loại chiến lược này lại không ảnh hưởng đến thành quả hoạt động phi tài chính Nghiên cứu của Teeratansirikool và cộng sự (2013) về ảnh hưởng của nhân tố CLKD (chiến lược khác biệt hóa và chiến lược dẫn đầu về chi phí) đến thành quả hoạt động của DN thông qua kỹ thuật KTQTCL là thước đo hiệu suất (hiệu quả tài chính và phi tài chính), dữ liệu được khảo sát tại 101 DN niêm yết Thái Lan Đối tượng khảo sát là các CEO/ nhà quản lý cấp cao trong các bộ phận chiến lược/ nhà quản lý cấp cao về nguồn nhân lực Sử dụng PPNC định lượng, phương pháp phân tích nhân tố, nhóm tác giả đã xác định nhân tố CLKD nhìn chung đều thúc đẩy nâng cao thành quả hoạt động, trong đó, chiến lược dẫn đầu về chi phí dù không tác động trực tiếp nhưng có ảnh hưởng gián tiếp đáng kể đến thành quả hoạt động thông qua việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL là các thước

đo hiệu quả tài chính Còn chiến lược khác biệt hóa không những tác động trực tiếp tích cực mà còn tác động gián tiếp, đáng kể đến thành quả hoạt động thông qua vận dụng kỹ thuật KTQTCL

[28] Định hướng thị trường và thành quả hoạt động

Xem xét MQH của nhân tố định hướng thị trường với vận dụng kỹ thuật KTQTCL được nhiều học giả quan tâm, nhưng lại rất ít học giả xem xét tác động của định hướng thị trường đến thành quả hoạt động, tuy nhiên trong nghiên cứu của Cadez vàGuilding (2008), McManus (2013) cho thấy định hướng thị trường có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động DN

[29] Cơ cấu tổ chức và thành quả hoạt động

Farhanghi và cộng sự (2013), khi xem xét ảnh hưởng của CNTT đối với cơ cấu

tổ chức và thành quả hoạt động khảo sát tại 242 DN ở Iran, một quốc gia đang phát triển Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm để kết nối MQH giữa thành quả hoạt động của DN và cơ cấu tổ chức Tuy nhiên, Ojra (2014)khi kiểm định MQH giữa cơ cấu tổ chức (theo hai khía cạnh mức độ phân quyền và sự chính thức hóa) và thành quả hoạt động, kết quả của Ojra (2014) khẳng định rằng chưa

Trang 37

đủ bằng chứng để kết luận cơ cấu tổ chức có tác động cùng chiều đến thành quả hoạt động ở các DN Palestine.

[30] Công nghệ thông tin và thành quả hoạt động

CNTT là một nhân tố quan trọng và cơ bản để hỗ trợ, duy trì và phát triển DN Farhanghi và cộng sự (2013), cũng đã khẳng định CNTT có tác động trực tiếp và gián tiếp đến thành quả hoạt động tại các DN Iran

[31] Kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược và thành quả hoạt động

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và không chắc chắn, việc KTQT có thể cung cấp các thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định, và sự tham gia tích cực của kế toán kết hợp với thành lập các nhóm trong một tổ chức có thể cải thiện tốc độ và chất lượng của những phản ứng đối với thay đổi môi trường, do đó cải thiện được hiệu quả hoạt động (Scott và Tiessen, 1999, Rowe và cộng sự, 2008) Sự tham gia của kế toán vào quá trình phát triển KTQT

có thể dẫn đến việc sử dụng KTQT nhiều hơn từ các nhà quản lý chức năng với việc cập nhật hệ thống thường xuyên hơn (Pierce và O’Dea, 2003)

Quá trình quản trị chiến lược nếu có sự tham gia nhiều hơn của kế toán sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động của tổ chức cao hơn (Dixon, 1998) Tuy nhiên, Cadez vàGuilding (2008) khẳng định chưa đủ bằng chứng để kết luận kế toán tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược có tác động tích cực đến thành quả hoạt động

Các nghiên cứu về tác động của vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động

Nhiều học giả ở các quốc gia đã và đang phát triển luôn quan tâm đến ảnh

hưởng của việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động (Phụ lục

1.2) Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài đều xem xét ảnh hưởng của

việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động dựa trên lý thuyết bất định là chủ yếu

Khi khám phá tác động trực tiếp của vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động, Hoque và James (2000) khẳng định việc thực hiện kỹ thuật BSC có tác động thuận chiều đến thảnh quả hoạt động trong các DNSX Úc Cadez và Guilding (2008) khi khảo sát tại 193 DN Slovenia cũng phát hiện vận dụng KTQTCL có tác động làm tăng thành quả hoạt động Họ giải thích rằng các kỹ thuật KTQTCL cung

Trang 38

cấp thông tin kịp thời, chính xác và đáng tin cậy cho nhà quản trị về yếu tố mang lại thành công trong và ngoài tổ chức, do đó vận dụng các kỹ thuật KTQTCL này sẽ cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và chức năng ra quyết định làm tăng thành quả hoạt động

Tiếp sau đó, các nghiên cứu củaOjra (2014); Al-Mawali (2015); Kalkhouran và cộng sự (2017); Turnervà cộng sự (2017) cũng khẳng định việc vận dụng các kỹ thuật của KTQTCL có sự tác động thuận chiều đến thành quả hoạt động theo cả thước đo tài chính lẫn phi tài chính Bên cạnh đó, vẫn còn những kết quả khác biệt cho thấy việc vận dụng kỹ thuật KTQTCL/ hoặc một số kỹ thuật KTQTCL cụ thể không tác động trực tiếp đến thành quả hoạt động của DN (McManus, 2013; Aykan

và Aksoylu, 2013; Noordin và cộng sự, 2015)

Không chỉ xem xétsựtác động trực tiếpcủa vận dụng kỹ thuật KTQTCL đến thành quả hoạt động, một số học giả đã xem xét việc vận dụng kỹ thuật KTQTCLvới vai trò là trung gian tác động của các nhân tố đến thành quả hoạt động DN.Các nhân tố được xem xét trong MQH tác động đến thành quả thông qua trung gian vận dụng kỹ thuật KTQTCL gồm: Chiến lược, PEU, cơ cấu tổ chức, đặc điểm CEO, sự tham gia vào mạng lưới (Hoque, 2004; Cadez vàGuilding, 2008, 2012; Teeratansirikool và cộng sự, 2013; Al-Mawali, 2015; Kalkhouran và cộng sự, 2017) Kết quả là, các nhân tố trên đều tác động tích cực đến thành quả thông qua vận dụng kỹ thuật KTQTCL, ngoại trừ PEU thì chưa có sự thống nhất, cụ thể: Al-Mawali (2015) lại khẳng định PEU làm tăng thành quả hoạt động thông qua vận dụng kỹ thuật KTQTCL trong khi Hoque (2004) khẳng định chưa có bằng chứng kết luận PEU có tác động tích cực đến thành quả hoạt động thông qua vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về nhân tố tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động

Tại Việt Nam, các kỹ thuật KTQTCL còn khá mới, nên số lượng các nghiên cứu một cách đầy đủ về các kỹ thuật KTQTCL, ảnh hưởng giữa các nhân tố đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động còn ít Mới chỉ có vài công trình nghiên cứu hàn lâm liên quan đến nội dung này (Trinh, 2019; Bùi Thị Trúc Quy và của Lê Thị Mỹ Nương cùng trong năm 2020) Hầu như các công trình nghiên cứu

về nội dung này đều dựa trên lý thuyết bất định để xác định các nhân tố tác động, bên cạnh đó cũng có sử dụng một số lý thuyết khác như lý thuyết thể chế, cấp trên,

Trang 39

đại diện, dựa trên năng lực Tuy nhiên, các nhân tố tác động được xem xét trong mỗi nghiên cứu và kết quả tác động cũng chưa thống nhất

Công trình nghiên cứu về các nhân tố bên ngoài và bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

31.1.1.1 Các nhân tố bên ngoài DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

[1] Mức độ cạnh tranh với vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Mức độ cạnh tranh là nhân tố ngữ cảnh bên ngoài, được cho là có ảnh hưởng đến hoạt động của DN bởi các nhà quản trị cho rằng khi cạnh tranh tăng đòi hỏi DN phải sử dụng nguồn lực và ra các quyết định hiệu quả hơn, mang tính chiến lược hơn nên phát sinh nhu cầu về thông tin phục vụ quản lý nhiều hơn, vì thế các kỹ thuật KTQTCL sẽ được DN vận dụng tích cực hơn để có thể đáp ứng nhu cầu này.Tại Việt Nam, Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) đã tiến hành khảo sát tại 220 DN qui

mô vừa và lớnđể kiểm định MQH tác động của nhân tố cạnh tranh và phân cấp quản lý đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và thành quả hoạt động.Sử dụng lý thuyết bất định, PPNC định lượng và mô hình cấu trúc SEM, tác giả xét ảnh hưởng của nhân tố cạnh tranh đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL với 6 biến quan sát gồm cạnh tranh về: Nguồn nguyên liệu; chất lượng; giá cả; kênh phân phối; sự đa dạng sản phẩm/dịch vụ; các khía cạnh khác, thông qua thang đo Likert 5 mức độ Kết quả đã tiết lộ, có sự tác động thuận chiều giữa cạnh tranh và vận dụng kỹ thuật KTQTCL

và khi mức độ cạnh tranh trên thị trường càng lớn thì nhu cầu vận dụng kỹ thuật KTQTCL tại các DN này càng cao, bởi lẽ các nhà quản trị DN muốn có lợi thế hơn thì càng cần nhiều thông hơn, đặc biệt là thông tin bên ngoài như thông tin về khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp để có thể ra các quyết định chiến lược Thái Anh Tuấn (2019), khi điều tra MQH tác động của năm nhân tố bất định gồm:Mức độ cạnh tranh, phân cấp quản lý, CNTT, trình độ nhân viên KTQT, mức

độ quan tâm của nhà quản trị đến vận dụng KTQT/KTQTCL, thông quaviệc khảo sát tại 437 DN miền Bắc Việt Nam Sử dụnglý thuyết bất định, PPNC hỗn hợp và phân tích nhân tố khám phá EFA, tác giả cũng có kết quả tương tự như kết quả của Đoàn Ngọc Phi Anh về mức độ cạnh tranh

Tiếp đó, Bùi Thị Trúc Quy (2020) cũng xem xét nhân tố mức độ cạnh tranh trên các khía cạnh như đề cập của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), khi khảo sát 321 DNSX khu vực miền Đông Nam Bộ Việt Nam để điều tratác động của 6 nhân tố gồm: Mức

độ cạnh tranh, CLKD, phân quyền quản lý, quy mô, trình độ công nghệ, trình độ nhân viên kế toán đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và làm ảnh hưởng đến thành quả hoạt động Dựa trên lý thuyết bất định, lý thuyết đại diện, sử dụng PPNC hỗn

Trang 40

hợp, và mô hình SEM, tác giả đã xác định yếu tố cạnh tranh có ảnh hưởng thuận chiều đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL.Tương tựNguyen La Soa và cộng sự (2022) cũng tiến hành xác định các nhân tố tác động đến thực hiện kỹ thuật KTQTCL, nghiên cứu thực nghiệm tại 235 DN Việt Nam có quy mô vừa Nhóm tác giả đã sử dụng PPNC hỗn hợp, vận dụng các lý thuyết bất định, đại diện, thể chế để xác định

và kiểm định bảy yếu tố tác động (mức độ cạnh tranh; trình độ của nhân viên kế toán; trình độ công nghệ: CLKD; rủi ro kinh doanh; văn hóa DN; quản lý phi tập trung) đến việc thực hiện KTQTCL Kết quả của nghiên cứu này đã khẳng định nhân tố mức độ cạnh tranh, rủi ro kinh doanh có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụngcác kỹ thuật KTQTCL Họ cũng khẳng định rằng khi DN áp dụng KTQTCL sẽ giúp nhà quản trị dễ dàng đề ra các các phương án đối phó với các rủi ro kinh doanh, làm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường

[32] PEU với vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Phạm Ngọc Toàn&Lê Thị Mỹ Nương (2018a) trong một nghiên cứu về các nhân

tố tác động đến thực hiện KTQTCL tại được khảo sát tại 125 DNSX Việt Nam Sử dụng PPNC hỗn hợp, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá/ kiểm định mô hình hồi quy, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã khẳng định nhà quản trị trong DNSX càng có nhận thức cao về sự biến động của môi trường thì việc thực hiện kỹ thuật KTQTCL càng thành công Tương tự Lê Thị Mỹ Nương (2020) thực hiện khảo sát tại 301 DNSX Việt Nam, tác giả đã vận dụng lý thuyết bất định, thể chế, lý thuyết cấp trên, cùng với việc sử dụng PPNC hỗn hợp và mô hình SEM để thực hiện nghiên cứu với sáu nhân tố tác động được đề xuất có tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL gồm: CLKD, CNTT; văn hóa DN, phân cấp quản lý, PEU, trình độ nhân viên kế toán, trong đó, nhân tố PEU đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ với 6 biến quan sát: cạnh tranh về thị phần; môi trường kinh doanh; cạnh tranh về giá; chất lượng/cải tiến sản phẩm; khả năng dự đoán nhu cầu của người mua; nhu cầu của người mua tiềm năng Tác giả đã khẳng định PEU là một trong sáu nhân

tố có tác động thuận chiều đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL và khi nhận thức của lãnh đạo về môi trường không chắc chắn càng cao ở DNSX Việt Nam thì khả năng vận dụng kỹ thuật KTQTCL càng tăng

32.1.1.1 Các nhân tố bên trong DN tác động đến vận dụng kỹ thuật KTQTCL

Ngày đăng: 04/07/2023, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Các giai đoạnquản trị chiến lược theo David (2011) - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 2.1 Các giai đoạnquản trị chiến lược theo David (2011) (Trang 56)
Hình 2.2. Quá trình vận dụng kỹ thuật KTQTCL gắn với chức năng của nhà - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 2.2. Quá trình vận dụng kỹ thuật KTQTCL gắn với chức năng của nhà (Trang 71)
Hình 2.5. Ba loại vấn đề có thể phát sinh từ sự tách biệt giữa người chủ sở - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 2.5. Ba loại vấn đề có thể phát sinh từ sự tách biệt giữa người chủ sở (Trang 82)
Hình 2.6. Mô hình đơn giản về lý thuyết đại diện theo Lambert (2001) - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 2.6. Mô hình đơn giản về lý thuyết đại diện theo Lambert (2001) (Trang 83)
Hình 3.2. Quy trình nghiên cứu của luận án - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 3.2. Quy trình nghiên cứu của luận án (Trang 113)
Bảng 3.2. Biến quan sát của “Mức độ cạnh tranh” dự kiến - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 3.2. Biến quan sát của “Mức độ cạnh tranh” dự kiến (Trang 125)
Bảng   3.4.   Biến   quan   sát   của   “Cấu   trúc   sở   hữu”   dự   kiến   (trước nghiên cứu định tính). - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
ng 3.4. Biến quan sát của “Cấu trúc sở hữu” dự kiến (trước nghiên cứu định tính) (Trang 128)
Hình 4.1. Mô hình đường dẫn (sơ bộ) - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 4.1. Mô hình đường dẫn (sơ bộ) (Trang 152)
Bảng 4.13. Mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL các DN được khảo sát - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.13. Mức độ vận dụng kỹ thuật KTQTCL các DN được khảo sát (Trang 166)
Bảng 4.18. CLKD của các DN được khảo sát - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.18. CLKD của các DN được khảo sát (Trang 174)
Bảng 4.20. Cơ cấu tổ chức của các DN được khảo sát - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.20. Cơ cấu tổ chức của các DN được khảo sát (Trang 176)
Bảng 4.24. Kết quả đánh giá mô hình đo lường kết quả - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.24. Kết quả đánh giá mô hình đo lường kết quả (Trang 178)
Bảng 4.25. Kết quả kiểm định ý nghĩa của trọng số ngoài của biến nghiên cứu - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.25. Kết quả kiểm định ý nghĩa của trọng số ngoài của biến nghiên cứu (Trang 180)
Bảng 4.28. Tác động trực tiếp và gián tiếp của các MQH - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Bảng 4.28. Tác động trực tiếp và gián tiếp của các MQH (Trang 186)
Hình 4.3. Mô hình đường dẫn sau bước đánh giá mô hình cấu trúc với các giá - Cac nhan to tac dong den van dung ky thuat ke toan quan tri chien luoc va thanh qua hoat dong tai cac doanh nghiep viet nam 5405
Hình 4.3. Mô hình đường dẫn sau bước đánh giá mô hình cấu trúc với các giá (Trang 188)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w