Đặc sắc trong kiến trúc, chạm khắc trang trí đình làng Trù Mật là những nét cổ kính, họa tiết chạm khắc trang trí cổ, phản ánh những hiện thực đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh tron
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài
Trước các biến động của lịch sử - xã hội, dường như có rất nhiều giá trị văn hóa đã nảy sinh hoặc là quy tụ về với làng, làm cho văn hóa trở nên đa dạng, phong phú trong tính tự trị riêng của nó Trải qua bao nhiêu thăng trầm, biến cố của lịch sử, con người đã không ngừng đấu tranh để vươn lên, không ngừng sáng tạo để sản sinh ra những đứa con tinh thần cho cuộc sống Một trong những sản phẩm của sự sáng tạo đó là đình làng, nơi sản sinh, hội tụ các yếu văn hóa dân gian
Ở mỗi vùng nông thôn Việt Nam, hình ảnh cây đa, mái đình đã trở thành biểu tượng của văn hóa đời sống, gắn bó mật thiết với những hoạt động, sinh hoạt của người dân Đình làng là nơi thờ Thành Hoàng làng, người có công đầu sáng lập làng xã, hoặc các anh hùng dân tộc Ngoài ra, đình làng còn là nơi sinh hoạt văn hóa, hội hè là trụ sở hành chính của chính quyền làng xã, nơi giải quyết mọi vấn đề, mọi công việc theo quy ước của làng Do vậy, kiến trúc đình làng được trú trọng, phát triển mạnh Gắn chặt với kiến trúc là nghệ thuật trang trí đình làng Những chạm khắc đình làng đã được thể hiện trên các vì kèo, đầu bẩy, xà mà ở đó những nghệ sĩ dân gian đã gửi gắm những tâm tư, tình cảm của mình, ngoài những mảng hoa văn như một sự kế tiếp truyền thống trước đó, những đề tài như loài vật, thảo mộc Chạm khắc ở đình làng không những là tài liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường của người xưa cũng như tâm hồn người nghệ sĩ nông dân Việt Nam
Trên thực tế, có nhiều cách hiểu về hiện thực rất khác nhau: hiện thực
là cái có thực trong cuộc sống xung quanh như thiên nhiên, đồ vật, đời sống con người được mô phỏng giống hệt, y chang ngoài cuộc sống Cái đẹp ngoài thiên nhiên, cuộc sống và trong nghệ thuật phải chăng là do nghệ sĩ tạo nên trong trang trí đình làng? Cái nhìn của ông cha ta xưa kia, của nghệ sĩ dân gian, lối diễn tả hiện thực với những khát vọng về cuộc sống có gì cần phải bàn bạc đến? Cái gì qui định họ trong lối diễn tả hiện thực? Những người quan niệm rằng thực tại còn có cả đời sống tâm linh, niềm
Trang 2tin tôn giáo, các huyền thoại và truyền thuyết Đây là vấn đề cần bàn luận và cần có sự hiểu thấu đáo về nó
Nghệ thuật chạm khắc đình làng Việt Nam đóng góp những thành tựu nghệ thuật và ảnh hưởng không nhỏ cho tới nền mĩ thuật Việt Nam trong suốt
cả thế kỷ IX đến XX Trong giai đoạn hiện đại nội dung thể hiện trong các tác phẩm chạm khắc đình làng được mở rộng, đề tài sáng tác phong phú Ngôn ngữ của chạm khắc đình làng cũng vượt qua cả khái niệm chạm khắc đơn thuần Hệ thống nét, hình, phương pháp chạm khắc không còn câu nệ vào một cách làm truyền thống nào Nhiều kỹ thuật, thủ pháp làm mới được bổ sung, ngôn ngữ thay đổi làm đa dạng và phong phú thêm cho loại hình nghệ thuật này Đã có nhiều tác phẩm đạt tới sự thành công nhất định, thể hiện được vẻ đẹp tinh tế qua chất liệu, được nhìn nhận và đánh giá cao trong xu thế hội nhập và phát triển với nền hội họa thế giới
Đình làng Trù Mật là di tích lịch sử cấp quốc gia có lịch sử lâu đời lên đến 1047 năm Đền thờ Đức đại vương Kiều Công Thuận và đình là thờ Mẹ của Đức Đại Vương, không những thế người dân ở đây còn tôn vị tướng Kiều Công Thuận lên làm Thành hoàng bởi cảm phục trước tài cao đức trọng của vị tướng này
Đặc sắc trong kiến trúc, chạm khắc trang trí đình làng Trù Mật là những nét cổ kính, họa tiết chạm khắc trang trí cổ, phản ánh những hiện thực đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh trong văn hóa người dân vùng trung du Đất Tổ
Bởi kiến trúc lâu đời và trải qua nhiều biến cố lịch sử nên các họa tiết trang trí cũng như các công trình kiến trúc cũng thay đổi theo thời gian Bởi vậy em muốn nghiên cứu về những nét chạm khắc trong đình cũng như ngôi đền bên trong đình Trù Mật Em muốn tìm hiểu kĩ hơn về những nét chạm khắc trang trí cổ cũng như muốn bảo tồn những giá trị lịch sử để nó không bị lãng quên theo thời gian
Nghệ thuật ngày càng phát triển, đòi hỏi các thế hệ trẻ ngày nay phải không ngừng sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm để thừa kế những tinh hoa và vận
Trang 3dụng vào việc sáng tác Được học tập và làm quen với chất liệu này sẽ giúp cho thế hệ trẻ hiểu được cái hay cái đẹp của nghệ thuật cha ông nhằm tiếp thu
và vận dụng vào việc học tập Chính vì những lý do trên em đã chọn đề tài
“Tính hiện thực trong nghệ thuật chạm khắc trang trí cổ đình làng Trù
Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp
2 - Tình hình nghiên cứu
Đã có một số bài viết nghiên cứu về nội dung này nhưng với cách tiếp
cận khác nhau:
1 Nguyễn Kim Bảo (2014), Chạm khắc trang trí đình làng, Tạp chí Mỹ thuật
đề cập đến thủ pháp nghệ thuật trang trí của nghệ nhân
2 Hoàng Bá Hồng (2015), Hiện thực trong một số tác phẩm hội họa giai
đoạn 1975 đến nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trường ĐH Hùng
Vương nghiên cứu về hiện thực trong hội họa
3 Nguyễn Huy Oanh (2013), Lễ hội đình đền Trù Mật, Luận văn tốt nghiệp
cao học khai thác nét văn hóa lễ hội đền Trù Mật
4 Thắng Trần (2013), Nguồn gốc và chức năng đình làng Việt Nam, Website
Sở VHTT và DL tỉnh Tuyên Quang chỉ mới viết về Nguồn gốc và chức năng đình làng Việt Nam
Nội dung đề tài chạm khắc trang trí cổ cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật, mỹ học quan tâm nhưng trong đề tài này em chọn và nghiên cứu các vấn đề về: tính hiện thực trong nghệ thuật chạm khắc đình làng trên đình làng cổ Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ
Đây là đề tài nghiên cứu tìm hiểu về nghệ thuật chạm khắc đình làng nhằm vận dụng vào việc học tập và sáng tác nghệ thuật không trùng lặp với những nghiên cứu khác
3 - Mục tiêu của đề tài
Đề tài này nhằm nghiên cứu và khẳng định những giá trị đặc sắc của chạm khắc đình làng Trù Mật ở vùng trung du tỉnh Phú Thọ Nghiên cứu nội dung chạm khắc khai thác tính hiện thực trong tư tưởng thẩm mỹ của nghệ nhân vùng đất Tổ Những thủ pháp, kỹ thuật và phong cách sáng tác thể hiện
Trang 4trên chạm khắc đình làng của nghệ nhân đạt được những giá trị nổi bật, đặc biệt trong nền mỹ thuật cổ Việt Nam
Tiếp thu, kế thừa, phát huy những giá trị của một số phong cách trong tính hiện thực của nghệ thuật chạm khắc đình làng nhằm vận dụng vào học tập và sáng tác nghệ thuật
4 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung chủ yếu vào các họa tiết, hình thức trang trí chạm khắc trên kiến trúc (các yếu tố biểu cảm, biểu đạt ngôn ngữ trang trí) đình Trù Mật,
xã Văn Lung, thị xã Phú Tho., tỉnh Phú Thọ
Nghiên cứu sự biểu hiện nội dung trang trí thông qua hiển, dụng, mật từ
đó làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa cái nhìn hiện thực và cách thức diễn tả
của phong cách sáng tạo nghệ nhân
5 - Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu điền dã (lịch sử học nghệ thuật) ở những mức độ nhất định nhằm: tiếp cận, phân tích nghệ thuật chạm khắc đình làng với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính
- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm: phân tích về mặt lịch sử, phong cách, đặc thù chất liệu, tính biểu cảm nghệ thuật, ngôn ngữ tạo hình trong tính hiện thực của nghệ thuật chạm khắc đình làng
- Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia nhằm tìm ra giá trị của nghệ thuật chạm khắc đình làng
- Khai thác, sưu tầm tư liệu các sách báo nghiên cứu của các học giả Việt Nam, đặc biệt lưu ý các thông tin về nghệ thuật chạm khắc đình làng, ý
nghĩa và hình thức biểu đạt của chúng
6 - Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Báo cáo tốt nghiệp
- Là tài liệu nghiên cứu cho những người ham mê mỹ thuật truyền thống Việt muốn tìm hiểu về nhân sinh quan, vũ trụ quan, phong cách sáng, góp phần nâng cao khả năng thẩm mỹ, xây dựng hình tượng sáng tác tác phẩm
- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên mỹ thuật trường Đại học Hùng
Vương
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Khái quát lịch sử hình thành và đặc điểm của nghệ thuật
Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền Đây là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội [12;16]
Theo các già làng kể lại, thời xưa có 9 loại đình:
1/ Kiều đình (cầu mái)
Thời điểm xuất hiện và nguồn gốc của đình làng Việt Nam đến nay vẫn
có nhiều giả thuyết khác nhau Từ “đình” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỉ II, thế kỉ III Trong “Lục bộ tập kinh” của Khang Tăng
Hội có đoạn: “Đêm đến ông lặng lẽ chốn đi Đi hơn trăm dặm vào nghỉ ở một
ngôi đình trống Người giữ đình hỏi: “Ông là người nào” Ông trả lời: “Tôi
là người xin nghỉ nhờ” (Theo Hà Văn Tấn - Đình Việt Nam) Chi tiết “ngôi
đình trống” trong đoạn văn trên cho ta cơ sở khẳng định đó là trạm nghỉ chân
Trang 6dọc đường, còn chi tiết “người giữ đình” cho ta giả thiết đó là ngôi đình là nhà công cộng của làng xã Tuy nhiên, giả thiết này còn thiếu chắc chắn
Như vậy, đình trạm là hiện tượng phổ biến ít nhiều từ thế kỉ thứ II Thời nhà Đinh, ở cố đô Hoa Lư đã có dựng đình cho sứ thần nghỉ chân trước khi vào trầu vua Đến đời Trần, đình với tư cách là trạm nghỉ chân được ghi
trong Đại Việt sử kí toàn thư: “Thượng hoàng xuống chiếu rằng, trong nước
ta, phàm chỗ nào có đình trạm đều phải tô tượng phật để thờ Trước là tục nước ta, sau là vì nắng mưa nên làm đình để cho người ta đi đường nghỉ chân, trát vách bằng vôi trắng gọi là đình trạm” (Theo Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự - Đình Việt Nam)
Dưới thời nhà Lê, đình làng đã phát triển Một sự kiện quan trọng dưới thời Lê Thánh Tông đã được Hồng Đức thiên chính ghi chép lại về việc lập
đình như sau: “Người giàu đã bỏ tiền làm đình hay công đức làm chùa Thế
mà (người sau giữ việc hậu) không biết đền đáp ơn đức, chỉ lừa người lấy của, chẳng bao lâu, tình nhạt lễ bạc, quên cả lời đoan, sinh thói bạc ác hoặc
bỏ cả giỗ chạp, không như đời trước, hoặc là làm cỗ bàn không như khoán ước, hoặc năm thì trước năm thì sau, không đúng tháng hoặc trẻ thì lạy lớn thì không, chẳng đồng lòng Vậy con cháu đặt hậu ở đình hay ở chùa mà thấy
kẻ giữ ở hậu có trái lễ thì trình báo với nha môn để thu lại tiền công đức” (Theo Hà Văn Tấn - Đình Việt Nam).[5;48]
Đình có bia xưa nhất là đình Thanh Hà (Hà Nội), vốn xưa thuộc làng Thanh Hà cổ, nay thuộc phố ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm Bia đề năm Thuận
Thiên thứ 3 (1433) Các cứ liệu trên cho phép ta khẳng định đình làng đã có
từ thời Lê Sơ, đầu thế kỉ XV Những ngôi đình xưa nhất còn bảo tồn đến ngày nay đều có niên đại vào thời nhà Mạc, thế kỉ XVI, đó là:
- Đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội) dựng năm Đại Chính thứ 2 (1531)
- Đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang) được ghi vào niên hiệu Sùng Khang (1566 - 1577), nhiều người dự đoán vào năm 1576
- Đình Phù Lưu (Tiên Sơn, Bắc Ninh), được dựng vào cuối thế kỉ XVI
- Đình Là (Thường Tín, Hà Nội) dựng năm Diên Thành thứ 4 (1581)
Trang 7- Đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội) dựa vào phong cách kiến trúc và điêu khắc, người ta dự đoán được dựng vào thế kỉ XVI
Căn cứ vào tài liệu, bi kí, chúng ta có thể biết thêm về những ngôi đình được dựng trong thế kỉ XVI Bia đình Nghiêm Phúc (xã Lam Cầu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) dựng năm Hưng Trị thứ 4 (1591) ghi rằng đình được làm vào niên hiệu Cảnh Lịch (1548- 1553) Văn bia đình Đại Đoan (xã Đoan Bái, Gia Lương, Ninh Bình) cho biết đình dựng năm Quý Tỵ, niên hiệu Diên Thành (1583)…
Về nguồn gốc đình làng cũng có nhiều ý kiến khác nhau và cũng chưa
có giải đáp chắc chắn Có ý kiến cho rằng, đình vốn là hành cung của vua, được xây dựng dành cho vua khi đi tuần thú, sau mới thành đình làng Có ý kiến khác cho rằng, vào thời Lý ở Thăng Long, người ta xây dựng những
phương đình (có quy mô nhỏ) để dán các thông báo của chính quyền, hoặc là
nơi người ta tuyên đọc các văn kiện của nhà vua Sau đó, kiến trúc loại này tỏa về làng với chức năng như trụ sở hành chính của làng Một vài ý kiến khác cho rằng đình làng có thể bắt nguồn từ các kiến trúc thờ thần đất và thần nước Các cư dân Việt cổ trong tín ngưỡng bản địa, sùng bái thần đất và thần nước che chở nuôi sống họ
Do vậy, đình làng với tín ngưỡng của nó có thể có nguồn gốc từ việc thờ thần đất, nước, hai vị thần quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp Việt Nam Trong tiến trình lịch sử tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, thờ mẫu, thờ sức mạnh tự nhiên, và có phần ảnh hưởng không lớn lắm của đạo Phật, đạo Nho đã được bổ sung tạo ra những biến thể phong phú của Thành Hoàng làng Việt Nam
Trong các đình của người Việt, ta biết rằng đình chắc chắn đã có từ thế
kỷ 15 Về vật chất của đình làng, niên đại sớm nhất ta mới tìm thấy từ năm
1531, đó mới chỉ là niên đại trùng tu ở đình Thụy Phiêu (Ba Vì), và sau đó là các đình Tây Đằng, Lỗ Hạnh…[22;62]
Các đình đã dính đến thờ thần thành hoàng làng thì dần dần người ta lấy cái đó là yếu tố tín ngưỡng thờ cúng rất cao Từ đó, kiến trúc đình mang tư
Trang 8cách ba tầng của vũ trụ Ví dụ, tầng mái gắn với tầng trời, tầng giữa là tầng người và thần linh quan hệ và tầng dưới là tầng đất Ngôi đình làng là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng Giá trị của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc trang trí cổ Việt Nam, ở đó đã kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống của người Việt
Hay:
“Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.”
Đình là nơi diễn ra mọi hoạt động đời sống của làng Chức năng đầu
tiên khi đình được thành lập là chức năng tín ngưỡng Đình là nơi thờ thành
hoàng làng, đó có thể là những trung thần nghĩa sĩ có công với đất nước (nhân thần) hoặc các vị tiên thần trong truyền thuyết Những hương ước, luật lệ, những quyết định trọng đại về các vấn đề của làng được giải quyết trong các
cuộc họp của Hội đồng kì mục ở dưới mái đình Qua đây, chức năng hành
chính đã được thể hiện rõ rệt Không dừng lại ở đó, đình thể hiện trọn
vẹn chức năng văn hóa khi là nơi tụ họp trong những dịp hội hè đình đám, nơi
diễn ra các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa, văn nghệ của làng
Trang 9Chẳng thế mà “nghe tiếng trống chèo” giữa sân đình là người người nhà nhà lại nhanh chóng sửa soạn, í ới gọi nhau để cùng nô nức đi xem
Như vậy, đình đã trở thành mái nhà chung của cả cộng đồng, nó gắn bó khăng khít và chứng kiến mọi buồn vui trong đời sống con người từ khi thiếu thời đến lúc về già Vì lẽ thế mà dân làng rất yêu quý cái đình của làng mình Một ngôi đình khang trang, uy nghi bề thế thể hiện đời sống vật chất và tinh thần thịnh vượng, và do đó, là niềm tự hào của cả làng
“Trời lấy đình để nuôi muôn vật
Đất lấy đình để chứa muôn loài Người ta lấy đình làm nơi tụ họp”
(Ngô Thì Nhậm) Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ cúng là Thành Hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng do triều đình ban bố, gây dựng
Hình 1.1: Đình Phù Lưu( Bắc Ninh) - Ảnh: Nguồn internet
Khi tín ngưỡng Thành Hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng nảy sinh ra một số Thành Hoàng mà chức năng cũng giống như ở Trung Quốc… Các vua triều Nguyễn còn lập miếu thờ Thành Hoàng làng ở tỉnh và huyện Nhưng khi tín ngưỡng Thành Hoàng về làng, xã thì nó đã biến đổi khác với tín ngưỡng Thành Hoàng ở Trung Quốc Như vậy, tín nguỡng Thành Hoàng Trung Quốc khi du nhập vào làng xã Việt Nam thì các yếu tố văn hóa Hán, hoặc hiện tượng Hán hóa khác bị cổng làng chặn lại thì nó lại tìm thấy
Trang 10các tín ngưỡng bản địa có tính tương đồng, nên hội nhập rất thuận lợi với hệ thống tín ngưỡng đa nguyên của Việt Nam
Nguồn gốc của Thành Hoàng cũng rất phức tạp Trước hết là các thần
tự nhiên (thiên thần hay nhiên thần) được thờ ở rất nhiều đình làng Các vị
thần này đều được khoác áo nhân thần với các tiểu sử thế tục Được thờ chủ
yếu là Sơn Tinh (thần núi), Thủy Tinh (thần sông, thần biển), trong đó, Tản
Viên Sơn thánh có địa vị cao hơn cả Ngoài ra, các vị thần núi có tên như Cao Các, Quý Minh được thờ ở nhiều nơi Các thần núi ở địa phương, như: Tam Điệp Sơn, Điệp Sơn cũng được tôn làm Thành Hoàng làng
Thành Hoàng làng thứ hai là các nhân thần Các nhân vật lịch sử, như:
Lí Bôn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo… Chiếm số đông trong các nhân thần là những người ít nổi tiếng hơn như: Quan lại, nho sĩ và đặc biệt là các tướng của Hai Bà Trưng, nhất là các nữ tướng Những vị thần này thực ra là các nhân vật truyền thuyết, mang tính giả lịch sử hơn
Thành Hoàng làng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản địa, như tục thờ cây, thờ đá thời nguyên thủy
Ngoài các vị thần, ở đình làng còn thờ những người có công khai phá đất mới, lập làng, như: Hai hoàng tử thời Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương, Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Cư Trinh … Ở miền Bắc thường gặp ở các vùng ven biển dân làng thờ những người có công khai hoang lấn biển Những người gọi là “tiên hiền” là những người đến trước, “hậu hiền” là những người đến sau tiếp tục công cuộc “khai canh, khai khẩn” Thành Hoàng có thể là người xuất thân hèn kém, có người chết vào giờ thiêng cũng được thờ làm thần Trong lễ hội, người ta thường cử hành
“hèm” để nhắc lại thần tích của các vị Thành Hoàng làng này
Những người có công đóng góp cho làng sau khi chết được dân làng thờ làm “hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình Có người khi còn sống đóng góp cho làng trên cơ sở có khoán ước với làng, được ghi thành văn bản, đôi khi được khắc vào bia đá Họ được “bầu hậu” khi chết đi được thờ làm “hậu thần” và được làng hương khói hàng năm
Trang 11Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta còn thờ tổ nghề gọi là
“tiên sư” Trong miền Nam các “tiên sư” được thờ ở nhà hậu của đình làng, chỉ có một số ít “tiên sư” được thờ ở chánh điện
Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên Đó là một hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư
dân nông nghiệp (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẹ, các thần sức
mạnh tự nhiên…) với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người anh hùng và
có phần ảnh hưởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho
Đình làng thực sự là trụ sở hành chính - nơi mọi công việc về hành
chính của làng đều được tiến hành ở đó Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh
Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương kì, kì mục Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc hương ước Hương ước là một hình thức luật tục Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các
bộ luật nhà nước không thể bao quát được
Các làng đều có hương ước riêng với nội dung rất cụ thể khác nhau Tuy nhiên, hương ước làng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Những qui ước về ruộng đất: việc phân cấp công điền, công thổ theo
định kì và qui ước về việc đóng góp (tiền và thóc)
+ Qui ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, duy trì đê đập, cấm lạm sát trâu bò, cấm bỏ ruộng hoang, chặt cây bừa bãi
+ Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng Việc xác định chức dịch trong làng nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền hành và thế lực để mưu lợi riêng
+ Những quy định về văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng Đó là những quy ước nhằm đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng, được duy trì tốt đẹp Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công
Trang 12vào việc sửa chữa, xây dựng đình, chùa, điện, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, khao vọng, lễ ra làng, lễ nộp cheo…
Hương ước còn có những quy định về hình phạt đối với ai vi phạm Vi phạm mức độ nào thì nộp phạt hoặc phải làm cỗ ở đình làng để tạ tội với Thành Hoàng làng Hình phạt cao nhất là bị đuổi ra khỏi làng
Có thể nói, hương ước là một bộ luật của làng xã Về cơ bản, hương ước chứa đựng nhiều giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp, được hình thành lâu đời và nếu được chắt lọc có thể phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống làng xã hiện nay
Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động hành chính và quản lí của làng xã được tiến hành có hiệu quả Đình làng với
tư cách là trụ sở hành chính đã trở thành biểu tượng của tính tự trị và sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của mình
Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng “Cây đa, bến
nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê Đỉnh cao của các hoạt
động văn hóa ở đình làng là lễ hội Làng vào hội cũng được gọi là vào đám, là hoạt động có quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:
+ Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng
+ Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn Lễ hội phần lớn vào tháng Giêng, có nơi vào thành hai, tháng ba âm lịch Lễ hội thu thường vào tháng bẩy, tháng tám Đó là hai
lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng lễ Thành Hoàng làng
Lễ cúng Thành Hoàng làng trong khi mở hội có quy trình như sau:
- Lễ trộc dục: Lễ tắm tượng thần hay thần vị
Trang 13- Lễ tế Gia quan tức là lễ mặc áo, đội mũ cho tượng thần Nếu chỉ có thần vị thì đặt áo, mũ lên ngai
- Rước thân: Khi mở hội, người ta rước thần từ đền ra đình Khi kết thúc hội thì lại rước thần về đền Ở nhiều làng, người ta thờ Thành Hoàng làng ngay trong đình Trong ngày hội, người ta rước thần đi vòng quanh làng và quay về đình
- Đại tế: Là lễ tế quan trọng nhất Có một người đứng chủ trì lễ (chủ tế),
còn gọi là mạnh bái Ngoài ra còn có hai hoặc bốn người bồi tế, hai người đồng xướng, hai người nội tán, mười đến mười hai người chấp sự
Sau buổi đại tế, người ta coi thần luôn có mặt ở đình nên các chức sắc
và bô lão phải thay nhau túc trực Mở hội gọi là nhập tịch, hết hội gọi là ngày xuất tịch hay còn gọi là ngày dã đám
Sau phần tế lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí Sân đình trở thành sân khấu diễn xướng, ca hát Ở những hội làng Bắc Bộ, sân đình thường có chiếu chèo, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang sân đình gắn với hội hát quan họ
Mỗi địa phương có trò chơi khác nhau, thỏa mãn con người với nhiều
nhu cầu như: Nhu cầu tâm linh (các trò chơi gắn với cầu mưa, cầu mùa, cầu
ngư ), nhu cầu cộng cảm, nhu cầu thể hiện sức mạnh, sự tài trí Các trò chơi
gắn liền với nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, như: Cướp cầu, kéo co, đua thuyền… Cho đến nay, cúng đình và lễ hội vẫn là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu ấn tượng nhất của làng xã Trong sinh hoạt tín ngưỡng đó, người dân vẫn tin vào sự phù hộ của các vị thần trong mùa màng và đời sống Hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ sau một thời gian bị đứt đoạn đã có sự phục hồi nhanh chóng, chứng tỏ dân làng vẫn có nhu cầu về tâm linh Điều đó cũng chứng tỏ sức sống bền bỉ của tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
Tóm lại, đồng bằng trung du Bắc Bộ là cái nôi của nền văn hóa Việt Nam Những nhân tố tự nhiên và xã hội đã hình thành nên làng, một cộng đồng làng, lối sống làng Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời
từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền
Trang 14Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội
Ngôi đình làng là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của làng
xã trong thời trung cận đại Đây là nơi thờ Thành hoàng Làng để cầu mong được chở che, ngăn tai giáng phúc, là nơi diễn ra lễ hội Nhập tịch Tàng câu của làng, nơi kỳ lão chức sắc hội họp bàn bạc và giải quyết việc làng, nơi tất
cả đinh nam trong làng cùng thực hiện lễ Hương ẩm tửu mỗi khi có việc tế tự cầu cúng Nơi tiếp đón quan lại triều đình khi có việc công hoặc khách khứa
của làng… Điều này cho thấy ngôi đình làng là một địa điểm công cộng quan
trọng không thể thiếu của cộng đồng làng xã xưa kia
Trước khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, các tín ngưỡng dân gian đã
ngự trị trong đời sống tinh thần người Việt Để chấn an mình trước những hiện tượng tự nhiên không thể lý giải, để được che chở, để có cuộc sống bình
yên, người Việt cổ từ lâu đời đã thờ cúng các vị Nhiên thần như các thần núi
sông, cây đá, đặc biệt, do là vùng đất nhiều sông nước, người dân sống bám
dọc theo các triền sông nên thủy thần là vị thần được thờ phụng khắp nơi Việc thờ cúng ban đầu diễn ra ngoài trời, ngay tại gốc cây, bờ nước, về sau
khuynh hướng nhân hóa thần linh phát triển, người chết có những biểu hiện
thiêng bắt đầu được thờ cúng, nhiều vị đã trở thành phúc thần bảo hộ cho
cộng đồng, người ta đã dựng lên những ngôi miếu, ngôi đền nhỏ để thờ Dần dần những nơi này trở thành địa điểm sinh hoạt cộng đồng, không chỉ cầu
cúng xin được chở che, đừng gây tai giáng họa mà các hoạt động khác trong cộng đồng như xử lý các vi phạm luật lệ của cộng đồng, ăn thề, xử các vụ tranh chấp nhỏ… cũng diễn ra tại đây trước sự chứng kiến của thần linh và dân làng
Vào đầu công nguyên, khi bị nhà Hán xâm lược, văn hóa Hán dần xâm
nhập vào nước ta, tín ngưỡng thờ Xã thần du nhập theo chân các cư dân Hán
Các đàn thờ xã thần (xã đàn) được lập lên tại các làng xóm Xã ban đầu chỉ là một cái nền đất đắp cao, xung quanh trồng một số loài cây làm biểu tượng cho
sự no đủ Hàng năm vào các tháng trọng xuân và trọng thu, người ta tổ chức
Trang 15cúng tế tại đây để báo đáp công sinh dưỡng vạn vật của đất đai Về sau, tín
ngưỡng xã thần diễn biến dần, chuyển hóa thành tín ngưỡng thờ thần đất
(thần thổ địa) – vị thần có quyền lực chở che coi sóc cho một địa phương,
mang nhiều chức năng xã hội hơn Dần dần, miếu thờ Thổ địa được dựng lên
thay thế Xã đàn Cùng với những miếu thờ thần linh bản địa khác, miếu Thổ địa trở thành một trong những địa điểm sinh hoạt cộng đồng của làng Vào các dịp lễ tết, dân chúng tụ tập đến trước những đền miếu này làm lễ tế thần,
ca hát vui chơi
Đầu thế kỷ XV, tục thờ Thành hoàng làng cũng bắt đầu phát triển Trên
thực tế, tín ngưỡng Thành hoàng đã được truyền đến nước ta vào thời Đường
- Tống, tuy nhiên cho đến thế kỷ XIV, vẫn chỉ có Đô thành hoàng, chưa có Thành hoàng làng Để tín ngưỡng Thành hoàng trở thành tục thờ Thành hoàng làng đậm màu sắc Việt thì phải tính từ thế kỷ XV sau khi nhà Minh
chiếm được nước ta Một số chính sách về thờ cúng tế tự được ban hành,
trong đó mệnh lệnh lập thêm Thành hoàng ở các phủ châu huyện được thực thi, kể từ đó tín ngưỡng Thành hoàng phát triển mạnh ở nước ta và đây chính
là thời kỳ Thổ địa và Phúc thần địa phương được nâng cấp thành Thành
hoàng làng
Vậy là cho đến trước khi có dấu vết tồn tại của ngôi đình (cuối thế kỷ
XV), lễ Nhập tịch Tàng câu, tục thờ Thành hoàng và các sinh hoạt cộng đồng
khác của người Việt như xử lý việc làng, bao gồm xử các tranh chấp kiện cáo nhỏ trong làng, các hành vi vi phạm lệ làng, giải quyết các vấn đề về thuế má quan dịch Cả việc tập họp dân làng để nghe các lệnh lệ của triều đình đều đã tồn tại và được thực hiện từ lâu đời tại các địa điểm công cộng của làng như các đền miếu thờ thần linh, thổ địa và sân chùa, trên thực tế, nhu cầu về một địa điểm dành cho tất cả các hoạt động này không đến mức buộc phải có Vậy điều gì thúc đẩy sự xuất hiện của ngôi đình làng?
Mô hình Thân minh đình thời Lê sơ Ở lễ hội này, người ta tế thần,
chúc tụng, vui chơi, hát xướng, yến hưởng… Hầu hết các hoạt động vốn có trong cộng đồng thường được thực hiện ở đền miếu trước khi có sự xuất hiện
Trang 16của ngôi đình thì vào cuối thế kỷ XV đã được diễn ra tại đình làng Điều đó
có nghĩa là trước thời Lê chưa thấy sự xuất hiện của ngôi đình, nhưng chỉ sau vài chục năm, ngôi đình đã hiện diện tại hầu khắp các làng xã và mang trong
nó rất nhiều chức năng xã hội quan trọng Điều này cho phép suy luận, có thể đình làng được diễn biến từ một hiện tượng văn hóa hoặc được ra đời theo một mệnh lệnh nào đó ở thời kỳ này
Kiến trúc ngôi đình thế kỷ XVI khá giản đơn, chỉ có một tòa nhà ba
gian hai chái với sân đình phía trước và trước sân có giếng, chưa có hậu cung,
cũng chưa có tòa tiền tế để cúng thờ Thành hoàng Rõ ràng là ngôi đình thế
kỷ 16 được dựng lên chưa có chức năng thờ Thành hoàng, bởi thần đã có miếu để thờ, điều đó cũng có nghĩa là ở thời Mạc ngôi đình chưa mang chức năng tôn giáo Thực tế ngôi đình ở thời kỳ mới xuất hiện (thế kỷ XV - XVI)
chỉ dùng làm nơi thực hiện lễ Kỳ phúc hàng năm và để tổ chức lễ hội, đồng
thời, việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp đã xuất hiện ở đình Làng từ thời
kỳ này
Khi chỉ mang những chức năng hành chính, ngôi Thân minh đình
đương nhiên chỉ được làm đơn giản, điều này lý giải về kiến trúc đơn giản của ngôi đình thời Mạc Nhiều văn bia cũng cho biết, trước khi dựng ngôi đình kiên cố, ngôi đình cũ chỉ bằng tranh tre nứa lá Đồng thời lễ Kỳ phúc cũng như việc phân ngôi thứ để thụ lộc và hội họp ở ngôi đình thời Mạc đều hoàn toàn khớp với những gì diễn ra tại Thân minh đình với lễ Hương ẩm tửu thời thuộc Minh và Lê sơ
Do mỗi lần có việc, cả làng tụ họp rất đông, vì vậy Thân minh đình
thường được dựng lên ở những nơi rộng rãi và thuận tiện qua lại Về sau để lấy bóng mát, người ta cho trồng các loại cây lớn như cây đa, cây muỗm, sau nhiều năm tháng, cây đa dần trở thành một bộ phận gắn bó với ngôi đình Khi Thân minh đình đã trở thành một địa điểm quen thuộc của làng, dần dần để tiện gọi, Thân minh đình chỉ còn được gọi ngắn gọn là “đình”
Về sau mỗi khi làng vào đám (Nhập tịch Tàng câu), người ta rước Thành hoàng làng đến đây làm lễ tế, rồi nhiều làng để thuận tiện cho việc
Trang 17cúng tế, để ngôi đình trở nên uy nghiêm hơn đã cho nhập hẳn miếu Thành hoàng vào đình, mở thêm phần hậu cung làm chỗ thờ thần Như vậy qua nhiều diễn biến của phong tục, tập quán, ngôi đình làng mới dần mang thêm chức năng tôn giáo
Vào thế kỷ XVII - XVIII, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế văn hóa, tại hầu khắp các làng xã, người ta đua nhau xây dựng đình làng với kiến trúc to
lớn vững chãi Kể từ giai đoạn này, ngôi đình làng mới thực sự hoàn thiện cả
về kiến trúc cũng như các chức năng xã hội của nó, trở thành một biểu tượng
văn hóa đặc sắc của làng xã Việt Nam
1.2 Tổng quan về làng Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ
1.2.1 Vị trí địa lý
Thị xã Phú Thọ ngày nay là một vùng đất cổ thuộc trung du miền núi phía Bắc Đây là một vùng gồm những dải đồi thấp, xen lẫn đầm hồ và đồng ruộng, nằm ven sông Thao, có đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi, trung du, cách thành phố Việt Trì khoảng 35 km, cách thủ đô Hà Nội 100 km, về phía Tây Bắc Phía bắc và đông bắc giáp huyện Phù Ninh, phía tây và tây nam giáp huyện Thanh Ba, phía nam giáp huyện Tam Nông (bên kia sông Hồng), phía đông nam giáp huyện Lâm Thao
Thị xã Phú Thọ có diện tích đất tự nhiên là 64,6 km2 với địa hình bán sơn địa, điển hình theo dạng “bát úp”, nằm trên vùng giáp ranh giới giữa Đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi thấp Địa hình cao dần về phía Bắc và Tây Bắc, thấp dần về phía sông Hồng Khí hậu có nhiều đặc điểm gần với vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình 2301 Lượng mưa ngày lớn nhất 701,2 mm, trung bình năm 1.850mm Số giờ nắng trung bình năm 1.571 giờ
Làng Trù Mật thuộc xã Văn Lung nằm cách trung tâm Thị xã Phú Thọ khoảng 1 km với tổng diện tích đất tự nhiên là 633,49 ha Trong đó đất nông nghiệp: 454,89 ha, đất phi nông nghiệp:151,43 ha, đất chưa sử dụng: 27,17
Trang 18ha Phía Đông giáp xã Hà Lộc; Phía Nam giáp xã Hà Thạch, phường Trường Thịnh, Phía Tây giáp xã Thanh Vinh; Phía Bắc giáp xã Đông Thành huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
1.2.2 Lịch sử hình thành làng
Khi chưa thành tỉnh lỵ, làng Phú Thọ là khu vực có nhiều đồi gò rậm rạp, nhiều luỹ tre xanh xen kẽ từ phía trên xuống phía dưới với bạt ngàn cỏ tranh, tế, cây trám, cây dọc, cây cọ và sim mua Đường đi lối lại chật hẹp quanh co với các xóm Mận, xóm Đông, xóm Sở, thôn Liêm, Gò Mua, Gò Sỏi;
có năm con suối nhỏ chảy qua làng
Ngoài khu trung tâm, làng còn có một số khu vực liên quan gồm:
Thôn Cao Bang (động cao), có thời kỳ gọi là xóm Bâng (trước thuộc
làng Thanh Lâu, Tổng Hạ Mạo) Đây là một khu đất giáp sông Thao với phong cảnh sơn thuỷ hữu tình Sau khi Pháp lập thành tỉnh Phú Thọ, một số gia đình ở Trù Mật, Tân Hưng gia nhập trở thành thôn
Thôn Phú Liêm: Thời Hùng Vương, nơi đây và An Ninh Thượng được
gọi là động An Khi Pháp lấy đất để xây tỉnh lỵ Phú Thọ, cả xóm Khuân (động Cờ) di chuyển lên đây và lập thành xóm Liêm
Thôn Phú Lợi: Thời tiền sử, nơi đây không có người vì xung quanh các
quả đồi quanh năm úng nước đi lại khó khăn Có triền đất bằng phẳng cao hơn mặt nước thì cây cối um tùm, cỏ mọc rậm rạp Trước khi pháp lập thành tỉnh Phú Thọ có đôi ba người làng Phú Thọ ra lập trang trại Từ khi Pháp xây tỉnh lỵ Phú Thọ, mở rộng đường sá trong khu trung tâm để thành lập các phố, nông dân trong làng di chuyển ra đây và thành lập xóm Gò- sau này cư dân nội thị chuyển đến ngày càng đông đúc hơn và thôn được gọi là thôn Phú lợi
Làng Cao Du: Dân làng Cao Du hầu hết là những người làm nghề chài
lưới từ dưới xuôi lên, gặp đất ven sông làng Mè, nơi thuận tiện cho việc làm
ăn sinh sống của họ, họ đã thành lập xóm Vạn Chài Về sau, họ mua đất làm nhà lập nên làng Cao Du dọc theo bờ sông Thao, từ khu chùa Thắng Sơn (cũ) đến hết khu vực dưới chợ Mè
Trang 19Do nhu cầu xây dựng ngày càng tăng, dân các nơi đến làm ăn đông hơn nên làng Cao Du dần trở thành một tụ điểm buôn bán trên bến dưới thuyền tấp nập: các thuyền bè từ miền ngược chở lâm thổ sản (tre, gỗ, lá cọ, nứa, măng, mộc nhĩ, nấm hương…) về đỗ tại bến sông và các tàu thuyền của Pháp cũng thường xuyên đỗ ở bến sông để trao đổi hàng hoá Dân làng Cao Du chuyển hẳn sang nghề buôn bán lâm thổ sản, vật liệu xây dựng và định cư lâu dài ở khu vực này
Xét về mặt địa chất, các dải đồi thấp và đồng ruộng xung quanh thị xã Phú Thọ đều thuộc loại đất đá tân sinh đại, bao gồm hai kỷ Đệ tam và Đệ tứ,
có từ khoảng 50 triệu năm trở lại đây Ngoài ra còn xen kẽ đất đá Trung sinh đại, Cổ sinh đại (200-300 triệu năm)
Sông Thao đoạn chảy qua thị xã, lòng rộng tới 200-300 mét, lại lọt vào vùng địa hình thấp dưới 25 mét nên nước lũ thường tràn ngập vào các vùng xung quanh Công việc đắp và bồi trúc đê đã được quan tâm khá sớm, nhưng những vùng thấp trũng không được bồi đắp tiếp nên lầy lụt quanh năm Chế
độ dòng chảy của sông phụ thuộc vào chế độ mưa Mùa mưa bao giờ cũng đi liền mùa lũ, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10; lượng dòng chảy chiếm khoảng 70,3 - 71,6% Mùa khô đồng thời cũng đi kèm mùa hạn, chiếm khoảng 28,4 - 28,7% Mưa bão và mưa giông thường gây ra lũ lụt lớn trên sông vào tháng 7, tháng 8 và có khi cả tháng 10 Dòng chảy cát bùn trên sông Thao vào loại lớn nhất Bắc Bộ, tuy độ đục giảm dần từ thượng lưu về hạ lưu Mức nước sông Thao theo cốt ở thị xã, trung bình hằng năm một lần lên cao + 17,5 m đến 18,2 m, cao nhất là 20,4 m Mức nước trên bên trong đê, theo cốt cống Lò Lợn là 17,1 m Thị xã còn có năm suối nhỏ chảy qua cùng nhiều ao hồ, đập nhỏ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, nhưng khi tới mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng Mực nước ngầm phân bố không đều, độ sâu gặp nước từ 6 đến
15 mét.[12;12]
Thị xã Phú Thọ với các tên gọi truyền thống là làng Phú An (động Phú An), vốn là một làng Việt cổ có lịch sử hàng nghìn năm Cái tên “làng Mè” lưu truyền trong dân gian xuất phát từ tên của một dòng họ Mè (Ma)
Trang 20Theo các cứ liệu khảo cổ học, con người có mặt ở vùng này khá sớm, tại khu vực Cao Bang (động Cao), giới nghiên cứu khảo cổ đã thu lượm được nhiều di vật của nền văn hoá Sơn Vi, cho biết muộn nhất là vào thời kì đồ đá cũ- tức là từ hơn một vạn năm trước, thị xã Phú Thọ đã có người nguyên thuỷ đến cư trú Lúc này người Sơn Vi sống giữa một vùng gò đồi, tự tạo ra các mái che mưa nắng và dùng các gò đồi này để chống chọi với nạn úng ngập…
do sông Thao vẫn gây ra hằng năm Để có thể tồn tại và phát triển được, họ đã dùng đá cuội có hình dáng thích hợp, ghè đẽo qua loa hoặc đập thành nhiều miếng để tạo ra các loại công cụ chủ yếu như: công cụ dùng để chặt, thường
có rìa lưỡi được tạo ra từ những viên cuội hình bầu dục, được ghè đẽo theo phía dọc rìa cạnh từ ngoài vào trong, tạo ra cạnh sắc được gia công, còn các phần khác vẫn giữ nguyên vỏ đá đá cuội, dùng để chặt cây nhỏ, chặt cành cây, cắt xương thịt Công cụ dùng để nạo: được tách ra từ các loại cuội lớn để lấy các mảnh sắc bén Công cụ để giã và nghiền: thường chọn cuội dài có hình trụ, hình nấm, hình bầu dục để tán bột, chà sát vỏ cứng của các loại hạt, kết hợp với hòn ghè Người Sơn Vi đã biết giữ lửa thiên nhiên, ăn thức ăn được nướng chín Trải qua nhiều thiên niên kỷ, người Sơn Vi đã tách ra thành hai nhóm cư dân chính là người Việt - Mường, những thành viên chủ yếu của địa phương có mặt trong các thời đại Vua Hùng dựng nước Văn Lang đến các triều đại phong kiến sau này Theo tộc phả của một số họ lớn cư trú lâu đời và niên đại còn lưu trên bia đá, chuông đồng của đền, chùa cùng các ngôi mộ tổ của các dòng họ táng tại làng Phú Thọ thì một họ định cư ở thị xã lâu đời nhất, từ cách đây trên 1.000 năm là họ Ma (Mè) sau đến họ Kiều, họ Đinh Một số họ đến sau cũng đã cách đây từ 300 năm đến 500 năm như họ Phạm, Nguyễn, Trần, Lê Sau đó các dòng họ trên đã phân chia thành nhiều chi nhánh Từng chi gắn bó, sinh hoạt riêng, thờ cúng ông tổ của chi nhánh phân chia Từ bao đời nay, các dòng họ vẫn đoàn kết trong tình làng nghĩa xóm phi nội tất ngoại bởi những cuộc hôn nhân đan xen qua nhiều thế hệ
Theo hương ước của làng Phú Thọ, dân số của làng vào đầu thế kỷ XX mới có khoảng 420 suất đinh Sau khi Pháp dời tỉnh lỵ từ Hưng Hoá về làng
Trang 21Phú Thọ, cùng với những biến đổi về hành chính, kinh tế, văn hoá…, một quá trình xáo trộn, thay đổi về dân cư đã diễn ra ở thị xã Phú Thọ, tạo nên sự phong phú về thành phần, nguồn gốc Tuy vậy, dân số của làng Phú Thọ không tăng lên nhiều lắm
Làng Phú Thọ có một số ngôi đình, đền được nhân dân xây dựng để thờ các vị thần của làng Trải qua sự thăng trầm của hàng nghìn năm lịch sử đã huỷ hoại đa số các di tích này
Sau hai cuộc kháng chiến trong thế kỷ XX, đền trù Mật là ngôi đền cổ kính duy nhất còn lại trong khu vực thị xã Phú Thọ Đền Trù Mật (đền Lăng) chính thức có từ năm Canh Ngọ (970), niên hiệu Thái Bình năm thứ nhất thời Đinh Tiên Hoàng, Đền Trù Mật vừa là lăng tẩm, vừa là đền thờ sứ quân Kiều Công Thuận Kiều Công Thuận (không rõ năm sinh, mất năm 968) là quan dưới Vương triều Ngô Quyền và được giao cai quản vùng đất Phú Thọ Trong thời gian làm việc tại địa phương, ông thường làm nhiều việc giúp dân trừ ác, trừ gian tà, che trở, bảo vệ người dân làng Phú An và Trù Mật Khi có loạn 12
sứ quân gây ra cảnh loạn ly, đau lòng trước cảnh binh đao ông đã tuẫn tiết bảo toàn danh dự Cảm phục trước tài cao đức trọng của ông, nhân dân hai làng Phú An và Trù Mật, thường xuyên hương khói tưởng nhớ một người có công với dân làng, coi ông như thành hoàng làng Năm Canh Ngọ (970), Đinh Tiên Hoàng đã ban sắc truy phong cho ông là “Cương nghị đại vương thượng đẳng thần” Phía trước đền Trù Mật là đền thờ thân mẫu của ông là bà Dương Thị Thuần Mỹ
Trải qua bao thế hệ, bao triều đại, nhân dân hai làng Phú An, Trù Mật vẫn đồng lòng nhất trí xây dựng, tu tạo, giữ gìn và hằng năm hương khói phụng thờ Trong thời gian nắm quyền cát cứ, Kiều Công Thuận thường tổ chức mở đại tiệc vào những năm mưa thuận gió hoà, nhân khang vật thịnh Sau vụ mùa thắng lợi, nhân dân ở các động nô nức về dự hội mang theo vật phẩm góp phần để lãnh chúa khao quân Ngày nay các nghi lễ cổ truyền trong những kỳ lễ hội vẫn được duy trì đều đặn và thành kính Nhân dân vùng phụ
Trang 22cận và các nơi xa gần, những ngày lễ cầu, mở hội đều về dự lễ dâng hương tưởng nhớ ân đức người xưa
Năm 1999, ngôi đền được Bộ Văn Hoá- Thông tin công nhận là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật (Đền Trù Mật có một bản thần tích và bốn đạo sắc phong trước kia lưu giữ tại Viện Viễn Đông bác cổ, nay lưu giữ tại Bộ Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam)
Ở Cao Bang xưa, nhân dân đã lập một ngôi đền thờ hai vị trong tứ trụ đại thần đời Hùng Vương thứ 18 là hai anh em Cao Sơn (Nguyễn Hiền) và Quý Minh (Nguyễn Sùng) Hằng năm, nhân dân chọn giao thừa sang xuân mới để xin lửa cầu may tại cửa đền với ước nguyện ban phúc lộc cho nhân dân
Đình Nhạp (đình Lập) trước ở xóm Khuôn, sau chuyển lên xây dựng ở
thôn Liêm, đình Nhạp thờ vọng đức đại vương Kiều Công Thuận
Theo những truyền tích và văn bản còn lưu giữ được, dân cư của làng Phú Thọ thời kỳ hoang sơ còn thưa thớt, cư trú ở các khu vực nhỏ gọi là động gồm: động Tiên - trung tâm của làng (khu vực ga ngày nay), động Cờ (khu trường Đại học Hùng Vương ngày nay) và động Cao (khu Cao Bang ngày nay) Phía nam làng là sông Thao, phía trên và phía dưới làng đều chưa có đê ngăn nước, mỗi mùa nước lớn, làng như một hòn đảo nhỏ nổi giữa biển nước
Tương truyền vào thời Vua Hùng Vương thứ 18, người con trưởng của Bảo Quốc Công đại tướng Ma Khê đã đưa một bộ phận họ Ma từ núi Đọi (Cẩm Khê) sang cư trú và lập thành động riêng, người họ Ma làm động trưởng, về sau hợp nhất với động Tiên liên kết với động Cao, động Cờ gọi chung là động Phú An Động trưởng họ Ma xây thành đắp luỹ để đề phòng thú dữ (còn gọi là Ma thành) Cứ như vậy hàng chục thế kỷ sau, con cháu họ
Ma vẫn làm động trưởng
Từ giữa thế kỷ X, hậu duệ đời thứ 43 của Bảo Quốc Công đại tướng
Ma Khê là động trưởng Ma Xuân Trường nắm quyền cai quản vùng này Đầu năm 945, Kiều Công Thuận, nguyên là Trưởng quản ngân khố triều Ngô, làm
Trang 23thủ lĩnh đất Hoa Khê (Chương Xá - Cẩm Khê ngày nay) đã mở rộng địa bàn, liên kết với động trưởng Ma Xuân Trường xây dựng bảo vệ động Phú An
Cuối thời Lê Chiêu Tông (1516 - 1522), anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật (người Gia Phúc - Hải Dương) lên lánh nạn ở Đại Đồng - châu Thu Vật (Tuyên Quang) rồi trở thành lãnh chúa trong vùng Sau khi Lê Chiêu Tông mất, triều đình suy yếu, không còn quản lý các vùng biên viễn chặt chẽ như trước nữa, Lê Cung Hoàng (1522-1527) phải ban tước vị cho Vũ Văn Mật cho phép tuyển mộ binh lính để trấn giữ Tuyên Quang Vũ Văn Mật đã
mở rộng phạm vi kiểm soát của mình sang nhiều phủ, huyện của Sơn Tây và Hưng Hoá Lúc Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), Vũ Văn Mật tuyên
bố chống Mạc, xây đắp hàng loạt toà thành trong đó có toà thành ở Phú An - Sơn Vi gọi là thành nhà Bầu Công việc xây thành còn đang dở dang thì Vũ Văn Mật cho dừng, rút toàn bộ quân về đại bản doanh ở Tuyên Quang Bởi vậy, ở thị xã ngày nay con lưu truyền về 99 cái giếng, 99 cây ngô đồng và cái giếng còn in dấu chân người khổng lồ
Năm 1548, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đi qua vùng này, thấy phế
thành mọc đầy dâu gai nên đổi gọi là Tang Ma Thành Sách Đại Nam nhất
thống chí (tập 4) ghi rằng “Thành cổ Tang Ma, tục gọi là thành Nhà Bầu, ở địa phận xã Phú An, huyện Sơn Vi, nền cũ vẫn còn… tương truyền đầu đời Lê Trung Hưng, Trấn thủ Tuyên Quang là Vũ Văn Mật đắp thành này” Có thể
những viên đá xanh nguyên khối có kích thước 20cm x 30cm x 50cm tìm được khi xây dựng cửa hàng bách hoá thị xã sau này chính là nguyên liệu của phế thành Tang Ma
Suốt trong thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê cái tên Phú An được giữ nguyên, khi thì gọi là Phú An bộ, Phú An xã, khi thì gọi là làng Phú An Cái tên Phú An còn được ghi trong thần tích, sắc phong của các triều đại Các bản thần tích do bộ lễ duyệt, nhà vua sắc phong Hiện làng Phú An còn một bản thần tích và bốn đạo sắc phong đang được giữ tại Viện Thông tin khoa học xã hội Việt Nam
Trang 24Phú An là tên gọi chính thức của làng Phú Thọ thời xa xưa Đến năm
1890, vua Thành Thái chuẩn y cho đổi tên làng Phú An thành làng Phú Thọ, nằm trong tổng Phú Thọ Ngày 8-9-1891 toàn quyền Đông Dương Đờlanétxăng (Delanessan) ra nghị định điều chỉnh địa giới một số tỉnh ở Bắc
Kỳ, thành lập tỉnh Hưng Hoá mới Theo đó, phủ Lâm Thao tỉnh Sơn Tây về tỉnh Hưng Hoá Làng Phú Thọ trở thành đơn vị hành chính cơ sở thuộc địa bàn tỉnh Hưng Hoá Việc điều chỉnh địa giới còn diễn ra nhiều lần sau này đã làm cho làng Phú Thọ ở vào vị trí trung tâm của tỉnh Hưng Hoá
Trong sách Tên làng xã Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX chưa có địa danh
Văn Lung Theo lời kể của cụ Phạm Văn Ba 93 tuổi - Thủ nhang đền, đình Trù Mật “Tương truyền Văn Lung được thành lập sau Cách mạng tháng Tám
1945 bằng việc sáp nhập các thôn An Ninh Thượng, An Ninh Hạ và Trù Mật
Có một thuyết cho rằng, thời Pháp thuộc có một cố đạo tên là Thái Văn Lung,
từ miền Nam ra truyền đạo, thành lập ở đây một làng Công giáo toàn tòng (hiện nay vẫn còn), xây dựng nhà thờ, mở mang đường sá và sáp nhập các thôn nói trên thành một xã, người ta đã lấy tên Văn Lung đặt tên cho xã để ghi nhớ”,
1.3 Nét khái quát về nghệ thuật chạm khắc đình làng Việt Nam ở Bắc Bộ 1.3.1 Khái quát về nghệ thuật chạm khắc trang trí cổ
Khái niệm nghệ thuật chỉ những hoạt động khéo léo, đạt đến một trình
độ điêu luyện, có tay nghề cao Ðây là nghĩa đen, nghĩa rộng nhất của từ nghệ thuật Theo từ nguyên, kĩ là kĩ năng, tài năng, thuật là hoạt động, là kỹ thuật Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, từ Art cũng có nghĩa ban đầu là kỹ xảo, khéo léo
Chỉ những hoạt động và sản phẩm hài hòa, đẹp mắt, có thể mang lại cho người ta khoái cảm thẩm mĩ Ðây là nghĩa được sử dụng khá phổ biến hiện nay Theo nghĩa này, người ta có thể coi một bộ bàn ghế trang trí đẹp, trang nhã, một số đồ thủ công mĩ nghệ là những tác phẩm nghệ thuật, là những công trình nghệ thuật Thể dục thể hình, trượt băng nghệ thuật, bơi nghệ thuật, nhảy dù nghệ thuật là những hoạt động nghệ thuật Khái niệm
Trang 25nghệ thuật ở đây gần với nghĩa đẹp mắt, tạo được sự chú ý ở người thưởng thức
Chỉ một hoạt động đặc thù của con người nhằm tạo ra một loại sản phẩm đặc biệt, không những chỉ đẹp mắt, êm tai, gây được sự hứng thú về cái đẹp mà còn có ý nghĩa tư tưởng, tình cảm sâu sắc Ở đây, mỗi loại hình nghệ thuật khác nhau sẽ sử dụng những phương tiện và chất liệu khác nhau để hình thành nên tác phẩm của mình nhằm biểu đạt một tư tưởng, tình cảm, một chân
lí nghệ thuật Trong ý nghĩa này, khái niệm nghệ thuật được dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật sau đây: Văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu, múa, điện ảnh, ảnh nghệ thuật Trong chương này, khái niệm nghệ thuật được hiểu theo nghĩa này Nghệ thuật là nơi cao nhất tập trung mối quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực Nói đến nghệ thuật là nói đến cái đẹp
Nghệ thuật chạm khắc đình làng ở Phú Thọ bao gồm: Chạm khắc trên
gỗ: ở các thành phần chịu lực và không chịu lực ( tượng người trên cột, chạm
khắc trên: ván, cốn, kẻ, bẩy, xà )Điêu khắc trên đá: ở cột trụ trên cổng, trên mái (phượng , lân, kìm, ) Đắp nổi vôi vữa: ở tường (voi, ngựa), phù điêu ở cổng (phượng, lân, con người, mây hóa, phượng hóa ) Tượng tròn: tượng thờ
(tượng Hai Bà Trưng – tượng cũ), tượng trên kiến trúc gỗ (trong các mảng
chạm và cả trên cột, xà ) Tranh vẽ màu trên gỗ: ở tường, ở ván gỗ trên kiến trúc trong đình Với Đề tài sinh hoạt của con người: vua hùng đi săn, đấu
vật… Đề tài Lễ hội dân gian truyền thống: chèo thuyền, bơi chải, rước kiệu,
đấu vật… Các tích truyện: ngũ lão đăng sơn, cờ lau tập trận, mả táng hàm rồng, Hai Bà Trưng đánh giặc, thầy trò đường tăng đi tây trúc thỉnh kinh… Đề
tài tứ quý, tứ linh: Tùng – Trúc – Cúc – Mai; Long – Ly – Quy – Phượng, cá
hóa rồng, phượng hàm thư, rồng ngậm ngọc…Đề tài ca ngợi tình mẫu tử:
rồng ổ, rồng ấp, rồng leo… Ngoài ra đề tài còn miêu tả hoạt động của các con
vật khác như: chuột, thạch sùng, trâu, ngựa, voi, khỉ, rắn, rùa… Toàn bộ các
chạm khắc được tạo tác thông qua hình ảnh trai gái, người đàn ông uống
rượu, người đàn ông thổi sáo, hình cô tiên, Quan Công, hình ảnh Hai Bà
Trang 26Trưng, hình tượng Đinh Bộ Linh khi còn bé, hình ảnh thầy trò đường tăng
Họa tiết cho đề tài tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng) cùng một số con vật thiêng khác: hình ảnh rồng mẹ rồng con, hình ảnh cá vờn hoa sen, phượng
hàm thư, long quấn thủy, quần long tụ hội, phượng, hạc, rùa, cá hóa rồng
Họa tiết về tứ quý (Tùng – Cúc – Trúc - Mai) và các loài hoa khác như sen, hoa chanh, hoa thị Họa tiết mây, sóng nước, cùng các con vật nhỏ bé:chuột,
thạch sùng,
Nghệ thuật là một hình thái ý thức đặc thù của con người Nghệ thuật không chỉ gắn liền với cái đẹp mà còn là nơi con người gửi gắm tâm sự, suy tưởng về cuộc đời Chính vì vậy, nghệ thuật có nhiều chức năng khác nhau:
giáo dục, nhận thức, thông báo, giao tiếp, giải trí, thẩm mĩ
1.3.2 Khái quát về nghệ thuật đình làng Trù Mật, xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ
Ở làng xã của Việt Nam đình làng là nơi bảo lưu nhiều vốn nghệ thuật
dân gian của dân tộc ta Kiến trúc sư Trọng Hồi đã nói: “ Đình làng là một
bảo tàng sống của thời đại”
Khi bước vào bên trong đình, không khí mát dịu làm ta như trút bỏ vướng mắc của đời sống, chìm vào không gian tâm linh bao bọc xung quanh
để tĩnh trí mà chiêm bái trước đức Thành Hoàng làng, nhìn ngắm những hình chạm khắc trên kiến trúc Và ta hiểu rằng ngôi đình đang ôm vào bên trong, thầm lặng giữ gìn một di sản nghệ thuật vô giá, mà đến ngày hôm nay nhìn ngắm nó vẫn thấy hiển hiện, xôn xao đời sống xã hội mấy trăm năm về trước
và để lại những giá trị lớn về văn hóa lịch sử và nghệ thuật
Ở thành phố cho đến huyện mỗi nét chạm khắc ở mỗi đình lại có những nét riêng biệt và đặc sắc riêng Tiêu biểu cho những nét chạm khắc về rồng và thiên nhiên thì không thể không kể đến đình làng Trù Mật, xã Văn Lung, thị
xã Phú Thọ
Tiểu kết chương 1
Đối với người Phú Thọ, hiện thực tự nhiên chỉ là đối tác, lấy tâm hồn
là nội hàm Từ ngàn xưa, họ không có tư tưởng cho mình với vũ trụ, thiên
Trang 27nhiên có gì ngăn cách xa lạ nên người nghệ sỹ thường mượn cảnh nói tình, lấy núi sông, trời đất, cỏ cây hoa lá để biểu hiện tư tưởng của mình Vì vậy, trong nghệ thuật chạm khắc họ mở ra cho chúng ta một thế giới đầy mơ mộng nhưng được xây dựng bằng trí tuệ, không vay mượn hiện thực mà là những điều được gợi lên từ cái nhìn bên trong của người nghệ sỹ dân gian
Họ coi tâm hồn của một người là tâm hồn của trời đất Cái lý của một vật là cái lý chung cho cả vạn vật, vận chuyển của một hơi thở cũng như vận chuyển của một ngày
Trang 28Chương 2:
Tính hiện thực trong nghệ thuật chạm khắc đình làng Trù Mật
2.1 Hiện thực trong đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh làng Trù Mật
Những chi tiết tinh tế của nét chạm khắc, với sự uyển chuyển của cảm xúc đã gợi tả được những biến đổi của tự nhiên, cuộc sống… Sự biến đổi từng trạng thái đường nét cũng gợi lên những biến đổi tinh tế của nhịp điệu tự nhiên
Ở Việt Nam, các nghệ nhân cũng rất quan tâm đến những quy luật tạo hình và thụ cảm của phương Đông nói chung và dân tộc nói riêng Điều này
đã góp phần làm nên giá trị hiện đại và dân tộc của nghệ thuật ở nhiều thế hệ nghệ nhân Những thành tựu chạm khắc trang trí là những đóng góp đặc sắc của nền mỹ thuật cổ Việt Nam vào kho tàng giá trị nghệ thuật thế giới Ở những chất liệu tạo hình truyền thống, các nghệ nhân Việt Nam đã áp dụng tài tình mỹ cảm và kỹ năng nghề nghiệp điêu luyện để sáng tác những tác phẩm mỹ thuật hiện đại nhưng vẫn mang hồn phương Đông và hơi thở cuộc sống đương thời
Hình 2.1: Hình nghê trên cột bên ngoài cửa đền thờ Đức Đại Vương
Trang 29Chạm nông, chạm bong trên hình tượng nghê, sự phức tạp hóa chạm khắc (thời sau trùng tu) Hình thực hơn và các đầu họa tiết nhọn, sắc cạnh hơn trên bờm, cũng mang tính áp chế hơn đời trước nó
Hình 2.2: Hình nghê trên cột bên ngoài cửa Nghê, nhân vật hư cấu và cũng là những điều mong ước được thể hiện khéo léo mang đấ ấn thời Nguyễn sau khi trùng tu với nhịp điệu chuyển động không nhỏ làm rung chuyển cả bố cục trên bẩy kiến trúc Đó cũng là khát vọng nghệ nhân khi thấu hiểu văn hóa tâm linh vùng đất Tổ
Nghệ thuật chạm khắc trang trí đình làng chứa đựng những giá trị tạo hình độc đáo, thể hiện xu hướng có tính lưỡng nguyên, đó là xu hướng nhập thế và thoát ly Hai xu hướng này đan xen vào nhau, tuy đậm nhạt có mỗi lúc khác nhau Ở Thế kỷ 16, 17 xu hướng nhập thế thể hiện tính trội, khi các hoạt cảnh của đời sống tràn vào các ngôi đình với cảm hứng dạt dào Chính nó đã làm nên giá trị độc đáo nhất của điêu khắc đình làng Từ thế kỷ 18 trở đi, xu hướng nhập thế giảm dần nhường chỗ cho xu hướng thoát ly có nhiều nhiều yếu tố tâm linh, tín ngưỡng Xu hướng thoát ly được tăng cường cùng với việc sử dụng nhiều mô típ trang trí có tính biểu tượng, nhằm sùng bái và linh thiêng hóa vị Thành hoàng Làng
Trang 30Hình 2.3 : Họa tiết trên vì kèo Các nhân vật cứ ôm lấy cột, mái, đây cũng là nơi đi về thông tam giới của trời - đất - người Khi ánh sáng chiếu vào, các hình tượng hiện rõ trên mặt phù điêu Với các nhân vật huyền thoại, sự tinh tế của ngệ nhân làm cho hình tượng thoắt ẩn, thoắt hiện, nhằm tạo một không gian tâm linh
Hình 2.4: Họa tiết trên vì kèo Các nhịp điệu uyển chuyển, mềm mại của hoa lá, mây như lời cầu nguyện của cư dân Trù Mật
Về mặt kiến trúc, đồng thời nghệ sĩ cũng là các nhà điêu khắc tài hoa Các tác phẩm điêu khắc phủ kín các kết cấu kiến trúc khôn khéo tạo chỗ đứng cho tác phẩm trên các cốn, trên các đầu dư Phần lớn các bức chạm đều mang một hình dung về vật không có thật trong vũ trụ nhưng nó tồn tại trong tâm tư
cư dân nông nghiệp
2.2 Tính hiện thực trong nội dung, hình thức nghệ thuật chạm khắc đình làng Trù Mật thông qua các mô típ trang trí
Trang 31Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Câu
đó có nghĩa là dù nghệ thuật phản ánh đúng hay phản ánh sai, nó đều gắn liền với tồn tại, có quan hệ chặt chẽ với tồn tại Nhưng chúng ta thường không nói: “Văn học nghệ thuật phản ánh tồn tại” mà lại nói: “ Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực” Điều đó có ý nghĩa tồn tại và hiện thực có chỗ khác
nhau Lênin đã nhắc tới định nghĩa rất đúng của Hêghen về hiện thực:“Hiện
thực là sự thống nhất giữa hiện thực và tồn tại” và “Hiện thực cao hơn tồn tại”
2.2.1 Trong nội dung chạm khắc trang trí
2.2.1.1 Hiện thực hữu hình
Tính hiện thực với nghĩa rộng, thuật ngữ này biểu hiện thuộc tính của
văn học trong mối liên hệ với hiện thực, khẳng định sự phụ thuộc của văn học vào hiện thực khách quan Với nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ mối tương quan phù hợp như thật giữa phản ánh hiện thực của văn học với hiện thực đời sống được miêu tả; ở trường hợp này tính hiện thực sẽ đối lập với khái niệm tính ước lệ (Khái niệm được trích từ “Từ điển thuật ngữ văn học” - Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi)
Hiện thực mang tính hồn nhiên, mộc mạc, sinh động trong phản ánh hiện thực Sự tưởng tượng để tạo ra những hình dáng và họa tiết độc đáo với thủ pháp chạm bong, chạm nông, nhiều điểm nhìn liên tưởng tới nghệ thuật trung đại Việt Nam như tranh Ngũ hổ (Hàng Trống - Hà Nội) Những bờm lửa gợi nhớ các họa tiết trang trí thời Mạc thế kỷ XVI ở Phú Thọ và đồng bằng Bắc bộ Việt Nam
Trang 32Hình 2.5: Hình nghê được trùng tu lại
Hình họa tiết nghê được trùng tu sau này cũng rất sáo rỗng, nó không hòa vào tự nhiên mà những sức mạnh vốn có như thân hình, móng vuốt gào thét trên mây nước, hoa lá Nó cứ muốn leo lên ngọn cột, xà, không như thời trước đó của các chạm khắc khác cùng thành phần kiến trúc Nhịp chuyển động có vẻ hỗn loạn trên màu son thẫm đậm chất dân gian Việt
Hình 2.6: Họa tiết chạm Rồng
Trang 33Họa tiết chạm Rồng, Mây dày đặc trên đầu xà nhưng không hỗn độn, chứa những xúc cảm về tự nhiên của nghệ nhân điêu khắc Hình Mây được cách điệu khéo léo, dày đặc nhưng vẫn nhẹ nhàng, làm nền cho hình tượng chính Rồng Bố cục mang tính độc lập, tính chuyển động chậm rãi, nối tiếp nhau và biến hóa đến vô cùng
Khi giao lưu với văn hóa Trung Hoa, người Việt tiếp thu nhiều môtíp trang trí có tính biểu tượng Thủ pháp sử dụng những môtíp trang trí có tính biểu tượng được người nghệ nhân dân gian thể hiện tập trung trong những ngôi đình muộn, nhất là những đình làng thời Nguyễn Với thủ pháp này, nhiều đề án trang trí có tính biểu tượng đã được sử dụng Đứng đầu Tứ linh là
con rồng với nhiều lớp nghĩa Lớp nghĩa đầu tiên con rồng là biểu tượng cho
mây, mưa, sấm chớp với tâm thức cầu mưa của cư dân nông nghiệp, sau khi
tiếp thu văn hóa Trung Hoa thì con rồng mang biểu tượng cho uy quyền của
bậc quân vương Ở những ngôi đình thế kỷ XVI, môtíp rồng đã được chạm
khắc rất nhiều trên kiến trúc; sau đó môtíp rồng - tiên có biểu tượng cho ý nghĩa cội nguồn “con rồng cháu tiên” Trong đình làng, con rồng làm tăng “uy quyền” của Thành Hoàng làng, vị vua tinh thần của làng Con lân, linh vật huyền thoại, biểu trưng cho ước vọng thái bình; quy (rùa) biểu tượng cho sự trường tồn, trường thọ và phượng biểu tượng cho hạnh phúc, sang quý Có một điều chúng ta nhận thấy: hiếm khi 4 linh vật được sử dụng trong một đề
án trang trí mà thường sử dụng cặp đôi như rồng - phượng hoặc lân - quy
Các bức chạm nối tiếp nhau đan xen khung cảnh và đề tài với cách thức biểu cảm đặc sắc Tất cả việc làng, chuyện làng, đời sống làng với những ước nguyện được các nghệ sĩ làng thể hiện tuỳ hứng Sự không ràng buộc đã làm cho các nghệ sĩ dân gian phát huy được hứng khởi tài năng và sáng tạo nghệ thuật Những mảng thủng trong điêu khắc chạm lộng đã tạo nhịp điệu, sự cân bằng về mặt thẩm mỹ trong tác phẩm
Sự độc đáo của nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng thể hiện ở tính khái quát cao trong thủ pháp xây dựng tác phẩm: nhấn mạnh trọng tâm, chọn những vấn đề quan tâm nhất để diễn tả, phản ánh, giản lược về hình thức
Trang 34Con rồng trong dân gian gắn với vũ trụ, với những ước vọng của người dân Chạm khắc dân gian không thể hiện qua lời nói mà được thể hiện ở những hình chạm hoa văn về những biểu hiện của tự nhiên, của cuộc sống và những sinh hoạt thường ngày của người dân được thể hiện một cách rõ nét
Nghệ nhân xưa kia đã biết tìm tòi, sáng tạo những đường nét tuy đơn
giản nhưng lại sống động và hấp dẫn Nét độc đáo trang trí ở đình Trù Mật là
những bức chạm khắc trong các cấu kiện kiến trúc với những đề tài về thiên nhiên, hoa cỏ tất cả đều tự nhiên, mộc mạc bộc lộ cá tính của tác giả và mang đậm tính chất dân tộc
Những hình tượng rồng, phượng, hoa lá, đặc biệt là chim thú, con người được thẩm mỹ dân gian chấp nhận để trở thành mẫu mực trang trí Với
sự phát triển mạnh mẽ thẩm mỹ dân gian, những hình chạm thế kỷ 17, 18 đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình cổ Việt Nam
Trong trang trí, tính chất dân dã thể hiện qua đề tài con người là sâu
đậm nhất Hầu như trong bất kể hình thức nào tính chất đó cũng được bộc lộ
rõ ràng
Nhìn một cách khái quát, nghệ thuật điêu khắc đình Làng phát triển từ những bước đầu tiên ở thế kỷ 16, đạt dấu ấn rực rỡ đỉnh cao ở thế kỷ 17, chững lại, chín muồi ở thế kỷ 18 Điêu khắc đình làng của 2 thế kỷ này đại diện điển hình nhất cho toàn bộ nghệ thuật điêu khắc ở đồng bằng Bắc Bộ
Ngôi đình là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng Giá trị bất hủ của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đó đã kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống
Những ngôi đình này, tuỳ theo từng thời đại mà mức độ chạm khắc có khác nhau kỹ thuật khi chạm nông, lúc chạm nổi, kênh, bong, lộng nhưng tất cả đều thể hiện tài nghệ của các nghệ nhân xưa vừa giỏi kiến trúc vừa tài hoa chạm khắc
Trang 35Tính uyển nhã và mộc mạc gần gũi chính là lý do để ngôi đình gắn bó
với tâm hồn người Việt Các phù điêu và chạm khắc trang trí đình làng là biểu tượng độc nhất vô nhị về truyền thống nghệ thuật của ông cha ta
Một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật đình làng không thể thấy ở kiến trúc cổ nào của Việt Nam là sự sắp xếp các phù điêu gắn vào khung gỗ chịu lực phía trên của đình Phía trên các vì kèo và các xà ngang là nơi điêu khắc đình làng ngự trị Nó gắn kết các cấu kiện gỗ ngang, dọc và chéo theo mái, lấp đầy các khoảng trống giữa các cấu kiện Sự kết hợp tôn trọng và bổ sung cho kết cấu kiến trúc gỗ là đặc điểm thứ nhất của điêu khắc đình làng Thứ hai
là các bức phù điêu được chạm khắc một cách mạnh, đơn giản với quan niệm không gian thoải mái khác hẳn so với điêu khắc nơi chùa chiền hay cung điện
Không gian đồng hiện ở điêu khắc đình làng Trù Mật là một kiểu thức
có tính Barốc gắn bó hữu cơ với kiến trúc, là một bộ phận của kiến trúc, không phải mang tính trang trí đơn thuần Gắn chặt với kết cấu kiến trúc,
chạm lộng chú trọng phương pháp thể hiện khái quát chủ yếu diễn tả nội
dung, tạo điểm nhấn phóng dụ, bố cục luôn luôn chú ý sự liên hoàn giữa các
bộ phận các mảng đặc, thủng được cân nhắc tạo sự hài hoà mềm mại nhưng vẫn đảm bảo sự vững chắc của bề mặt tác phẩm Nghệ sĩ làng bằng cảm hứng phong phú đã tìm thấy sự biến hoá của nhát đục chạm với những hiệu quả lớn
về nghệ thuật, mang tính nhân văn sâu sắc Nhìn vào cấu trúc ngôi đình, nếu chạm khắc “vàng son” ở gian giữa đã giàu biến tấu tự do, thì tại các gian bên, tài hoa ngẫu hứng của các nghệ nhân xuất sắc càng rộng đất nở rộ Bởi vì trong đình, hầu như tất cả các mặt gỗ trừ cột và cân đầu, đều được đục chạm
đủ dạng: Rường, xà, cốn, lá gió các thanh kẻ, bẩy, v.v… Các đầu dư phía trên cột các đầu bẩy, đầu kẻ dưới gờ mái, ván lá gió và các cốn cũng như ván lá
đề, đều là đế gỗ rộng cho nghệ nhân thả sức tung hoành chạm khắc
Nghệ thuật chạm khắc dân gian và nghệ thuật chạm khắc chính thống không có sự phân định rõ rệt, có chăng chỉ ở những chi tiết rất nhỏ như hình tượng con rồng gắn với vua chúa thì có 5 móng biểu hiện quyền hành của vua với 5 phương, còn con rồng trong dân gian gắn với vũ trụ, với những ước
Trang 36vọng của người dân nên chỉ có từ 4 móng trở xuống Hệ tư tưởng phong kiến thống trị có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật chạm khắc, nhưng khi ảnh hưởng của nó đã suy giảm thì nghệ thuật dân gian lại nở rộ Khác với các loại hình nghệ thuật khác như dân ca, tục ngữ ca dao được thể hiện bằng lời nói, chạm khắc dân gian không thể hiện qua lời nói mà được thể hiện ở những hình chạm hoa văn về những biểu hiện của tự nhiên, của cuộc sống và những sinh hoạt thường ngày của người dân được thể hiện một cách rõ nét Ta có thể nhận thấy nghệ thuật chạm khắc dân gian có một lịch sử phát triển khá phong phú với những hình tượng độc đáo về thiên nhiên, về con người Việt Nam từng thời kỳ dưới dạng thần linh hay con người thế tục
Từ thời sơ sử đến thời Lý-Trần, Mạc, Nguyễn mỗi thời kỳ đó, họa tiết chạm khắc lại mang một phong cách đặc trưng riêng Thời kỳ này người ta không đặt ra quan niệm rành mạch thế nào là nghệ thuật dân gian Vào thời tiền sử, các hoa văn được trang trí trên đồ gốm rất đơn giản dưới dạng hoa văn dập, hoa văn dấu nan đan, hoa văn khắc vạch hình đường thẳng, hình sóng, hoa văn ấn nép vỏ sò Các hoa văn này biểu tượng cho sức mạnh,
quyền lực và thể hiện những khao khát ước mơ của người dân thời ấy
2.2.1.2 Hiện thực hư cấu, cách điệu với những con vật trong tưởng tượng
Con rồng tượng trưng cho sức mạnh thiên nhiên, là nước cho công việc đồng áng Con rồng thần thoại Việt Nam, theo quan niệm dân gian nó gần gũi với con người trần thế Con rồng trong điêu khắc cổ được hiểu như là thú linh tượng trưng cho vương quyền tôn quý, nó còn tượng trưng cho khát vọng thăng hoa vươn tới của nhân dân
Trang 37Hình 2.7: Hình trang trí rồng chầu trên bờ nóc đình Trù Mật với chất liệu xi
măng
Với thế giới quan coi con người và thế giới đều cấu trúc theo mô hình
âm - dương mang tính phổ quát, người Việt sớm tìm một lối sống hòa đồng với tự nhiên, tự coi mình là bộ phận của tự nhiên Nguyên tắc xem xét thế giới với tính cách một thế giới hoàn chỉnh trong sự kết hợp hài hòa âm-dương, được xác lập bởi các thành tố thiên-địa-nhân đã quán xuyến mọi quan
hệ, không chỉ trong cách thức ứng xử với tự nhiên mà cả trong quan hệ, cách thức ứng xử giữa con người với con người và cách ăn, mặc, ở đến quan niệm về trạng thái tồn tại của mọi sự vật - hiện tượng
Hình 2.8: Mái của đình Trù Mật
Trang 38Mái kiến trúc góc nghiêng phù hợp với thiết kế và việc tránh mưa gió theo tự nhiên, hướng chảy xuôi, cột cổng vươn thẳng với nghê đội đầu còn các chạm khắc đắp nổi với bố cục zích zắc quanh đây dung hòa các yếu tố âm dương trên kiến trúc đình, đền Trù Mật Nó giữ cho mái ngói thêm chắc chắn
và ổn định Tất cả đều mang tính hoài cổ trong mỹ thuật truyền thống Việt
Hình 2.9: Nghê trên nóc đình Trù Mật
Trang 39Con nghê có ý nghĩa tâm linh cao và mang ý nghĩa trấn giữ long mạch cũng như trấn giữ cổng đình đền Con nghê ở đình làng Trù Mật cũng vậy, con nghê ở trên cổng và bờ giải của đình nơi thờ Đức Đại Vương, con nghê được chạm ở đây như để trấn giữ cho nơi thờ của vị tướng dưới triều Ngô Quyền Hình chạm khắc con nghê với các nét chạm đục, khắc đẽo rõ ràng và oai vệ
và đầy oai nghiêm Con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc Mặt Nghê ngắn Mình Nghê thon dài, rất thanh tú, cổ ngửng thẳng Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma Tai Nghê lớn Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng
2.2.1.3 Kết hợp huyền thoại và hiện thực, trang trí và tả thực
Hình 2.11: Họa tiết trên vì kèo
Hình 2.12: Họa tiết hoa lá