1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

212 952 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hoàng
Người hướng dẫn PGS, TS Đào Thị Phương Liên, PGS, TS Trần Xuân Hải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam những

Trang 1

NGUYỄN HOÀNG

hoàn thiện quản lý nhà nước

đối với thuế thu nhập cá nhân ở việt nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

NGUYỄN HOÀNG

hoàn thiện quản lý nhà nước

đối với thuế thu nhập cá nhân ở việt nam

Chuyờn ngành : Kinh tế chớnh trị

Mó chuyờn ngành : 62310101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS ĐÀO THỊ PHƯƠNG LIấN

2 PGS, TS TRẦN XUÂN HẢI

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên!

Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2014

Tác giả luận án

Nguyễn Hoàng

Trang 4

1.2 Kết quả rút ra và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 22

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN

2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và quản lý nhà nước đối

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân 24 2.1.2 Quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân 32 2.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến

2.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu

2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân 37 2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với thuế thu

2.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở một số

2.3.1 Tổng quan kinh nghiệm một số nước về quản lý thuế thu nhập cá nhân 51 2.3.2 Bài học về quản lý thuế thu nhập cá nhân cho Việt Nam 66

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THUẾ

3.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 70

Trang 5

3.1.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân 82 3.1.3 Thực trạng công tác tổ chức quản lý thu thuế thu nhập cá nhân 87 3.1.4 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế thu nhập cá nhân 95 3.2 Đánh giá chung về thực trạng của quản lý nhà nước đối với thuế thu

3.2.1 Những thành tựu của quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân 97 3.2.2 Những điểm bất cập, hạn chế của quản lý nhà nước đối với thuế thu

Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

4.1 Một số quan điểm định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà

4.2 Một số nhóm giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế

4.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý thu thuế TNCN 137

Trang 6

CCT

Advance Pricing AgreementChi cục Thuế

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT Công nghệ thông tin

CSDL Cơ sở dữ liệu

ĐTNT Đối tượng nộp thuế

EU Liên minh Châu Âu (Cộng đồng kinh tế Châu Âu)

European Union (European Economic Community) GTGT Giá trị gia tăng

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

International Cooperation Agency of Japan

PIT Dự án Ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân

Project management application for personal income tax

TNCN Thu nhập cá nhân

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Chamber of Commerce and Industry of Vietnam

WB Ngân hàng thế giới (The World Bank)

WTO Tổ chức Thương mại thế giới (The World Trade Organization)

Trang 7

Số hiệu Nội dung Trang

Bảng 2.1 Một số quốc gia áp dụng thuế TNCN đồng nhất một mức 64 Bảng 2.2 Xu hướng giảm số bậc thuế suất trong biểu thuế TNCN ở một số nước 65 Bảng 2.3 Tổng thu từ thuế TNCN và mức thuế suất lũy tiến cao nhất trong

Bảng 3.1 Thuế thu nhập cá nhân giai đoạn 2009 - 2012 79 Bảng 3.2 Mức thuế suất trung bình cho từng mức thu nhập khác nhau theo

Bảng 3.3 Đánh giá tính lũy tiến của hệ thống Luật thuế TNCN 2007 (Luật

Bảng 4.2 Chênh lệch số thuế phải nộp của NNT không có NPT năm 2017 127

Trang 8

Số hiệu Nội dung Trang

Hình 3.1 So sánh thuế suất bình quân của NNT không có người phụ thuộc 78

Hình 3.2 Lũy tiến thuế TNCN (tất cả các nguồn thu nhập) 81

Hình 3.3 So sánh mức độ thuận lợi về thuế của Việt Nam với các nền kinh

Hình 3.4 So sánh khoảng cách trong qui trình nghiệp vụ thuế của Việt Nam

Hình 3.6 Mức độ hao phí thời gian, chi phí cho việc kê khai, nộp thuế 111

Hình 3.8 Ảnh hưởng của chính sách thuế hiện hành đối với doanh nghiệp 113

Hình 4.1 Thuế suất bình quân đối với NNT không có NPT 128

Hình 4.2 Chênh lệch thuế suất của NNT không có NPT năm 2017 128

Hình 4.3 Thuế suất bình quân khi NNT không có NPT ở 3 kỳ sửa luật 131

Hình 4.4 Chênh lệch thuế suất của NNT không có NPT từ 2 kỳ sửa luật 132

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Sơ đồ 2.1 Mô hình các nhân tố tác động nhận thức NNT 51

Sơ đố 2.2 Quy trình quản lý rủi ro tuân thủ 56

Sơ đồ 3.2 Mô hình hoạt động quản lý thu thuế hiện tại 89

Sơ đồ 3.3 Quy trình vận hành Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại địa

phương 91

Biểu đồ 3.1 Số thu về thuế thu nhập cá nhân từ 1991 đến 2012 97

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài luận án

Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được áp dụng từ

1991 Tuy đã có nhiều tiến bộ, song qua quá trình thực hiện, Luật thuế thu nhập cá nhân

đã bộc lộ những bất cập: cơ sở thuế hẹp, quá nhiều thuế suất, không bảo đảm tính đơn giản, minh bạch về nghiệp vụ, nhiều quy định khó thực hiện, dễ dẫn đến sự tùy tiện, không công bằng khi áp dụng, mức khởi điểm chịu thuế và giảm trừ gia cảnh chưa thuyết phục, chính sách chưa hỗ trợ cho công tác quản lý, cơ chế quản lý chưa hiệu quả, Để hạn chế những bất cập, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2012 và có hiệu lực từ 1/7/2013 Cùng với sự sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và những luật cơ bản khác, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện nhiều nỗ lực vào cải cách và hiện đại hóa nhằm hoàn thiện hệ thống thuế trong quá trình hội nhập quốc tế

Trước đòi hỏi của thực tiễn về một chính sách và cơ chế quản lý thuế đồng bộ, bắt kịp sự phát triển kinh tế, xã hội, việc nghiên cứu quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân trở thành nhu cầu cấp thiết Với tư duy tiếp cận ý thức tuân thủ pháp luật phải xuất phát từ nhận thức và sự tự giác của người dân, tác giả luận án xây dựng mô hình nghiên cứu quá trình cơ quan thuế xây dựng chính sách và cơ chế quản lý thuế hiệu quả, công bằng, minh bạch, thực hiện lộ trình cải cách thủ tục hành chính giúp người nộp thuế dễ dàng thực hiện được nghĩa vụ với thời gian, chi phí tiết giảm tối đa bằng ứng dụng công nghệ thông tin quản lý tập trung, hiện đại Thông qua kết quả tích cực đó, cơ quan thuế quản lý được đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế, nâng cao hiệu quả thu ngân sách nhà nước

2 Mục đích, nội dung nghiên cứu của đề tài luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án

Nhằm đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

1) Việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp lý đối với thuế thu nhập cá nhân theo các tiêu thức đã phù hợp, minh bạch, khả thi hay chưa?

2) Việc xây dựng hệ thống quản lý thuế các cấp với cơ chế hành thu và các quy trình nghiệp vụ đã đảm bảo nâng cao năng lực cơ quan thuế, đảm bảo thực thi luật pháp công bằng?

Trang 10

3) Công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế đã đủ khả năng thực hiện theo Luật thuế thu nhập cá nhân?

Trả lời đầy đủ các câu hỏi trên nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu chủ yếu sau:

 Hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân của các nước và thực tiễn Việt Nam hiện nay

 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, tác giả áp dụng mô hình kinh tế lượng, thiết kế nghiên cứu và tiến hành điều tra tại một số địa bàn quận huyện ở Hà Nội về thái độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

 Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản

lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài luận án

- Làm rõ những nội dung lý luận vai trò của nhà nước trong việc xây dựng chính sách thuế thu nhập cá nhân và hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập

cá nhân ở Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới Chú trọng nghiên cứu những tác động đến ý thức tự giác tuân thủ của người nộp thuế

- Phân tích thực trạng vai trò của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nhà nước trong những phân tích đó cũng như các nguyên nhân của tình trạng trên Thông qua các kết quả nghiên cứu, luận án lý giải vì sao hiện nay mức độ tự giác tuân thủ của người nộp thuế còn có sự phân hóa

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập

cá nhân ở Việt Nam những năm tới, chú trọng đến việc đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, thay đổi tư duy quản lý thuế thuần túy “mệnh lệnh hành chính” sang “phục

vụ hành chính công”, coi trọng và tôn vinh giá trị đích thực những đóng góp về kinh tế - chính trị - xã hội của người nộp thuế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án hướng tới đối tượng và xem xét phạm vi nghiên cứu như sau:

Trang 11

 Đối tượng nghiên cứu: quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân được

thực hiện thông qua luật pháp, chính sách, bộ máy quản lý, biện pháp quản lý, ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế…

 Phạm vi nghiên cứu

- Về lý luận: Các vấn đề lý luận trong và ngoài nước liên quan đến thuế thu nhập

cá nhân và quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân

- Về thực tiễn:

o Kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài

o Thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

- Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ 2009 đến nay; số liệu sơ cấp thu thập

năm 2012

Luận án khảo sát hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong quá trình thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, chú trọng phân tích thời gian thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân (2009) của cơ quan thuế và người nộp thuế

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng đồng bộ, hài hòa, thích hợp các phương pháp phân tích, công cụ nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,

phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh,…

Tiến hành tham khảo những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; những tài liệu, báo cáo của các cơ quan quản lý có liên quan như Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế địa phương, ; tham khảo các báo cáo, các nghiên cứu đã công

bố, các tạp chí và sử dụng các tài liệu điều tra, khảo sát, thu thập số liệu thống kê và phân tích của các đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu đã được công bố về vấn đề có liên quan để đề xuất các căn cứ hoàn thiện các văn bản pháp quy về thuế thu nhập cá nhân

Trong quá trình thực hiện, luận án áp dụng kiến thức kinh tế lượng vào nghiên cứu thông qua việc tiến hành một cuộc điều tra thử nghiệm với 5 mẫu phiếu điều tra dựa trên mô hình kinh tế, trong đó nhân tố mục tiêu (biến phụ thuộc) là mức độ hài lòng, tự giác của dân cư (người nộp thuế), các nhân tố tác động (biến độc lập) là bốn nhóm nhân tố: (1) Chính sách hoàn thiện (minh bạch, dễ hiểu, khả thi, phù hợp); (2) Năng lực của cơ quan thuế về kiểm tra, giám sát, hỗ trợ người nộp thuế đủ khả năng tuân thủ (hướng dẫn cách thức, địa điểm, thời gian, chi tiết biểu mẫu) tác động đến mức độ tự giác, hài lòng của người nộp thuế (3) Nhận thức, trình độ dân trí xã hội về công bằng thúc đẩy tự giác tuân thủ; (4) Tình hình kinh tế xã hội và các nhân tố khác

Trang 12

Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn các nhà quản lý các cấp, các chuyên gia, các nhà khoa học để tìm hiểu các nhân tố tác động như thế nào tới tính tự giác tuân thủ của người nộp thuế Các phiếu điều tra thu được, sau khi kiểm tra làm sạch, loại bỏ những phiếu không phù hợp, đưa vào xử lý kết quả bằng phần mềm tin học chuyên dùng SPSS Số liệu được tổng hợp, phân tích và lưu trữ, góp phần vào việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu tiếp theo

Ngoài ra, một mô hình khác được sử dụng trong luận án khi đánh giá tác động của việc thay đổi chính sách thuế tới nghĩa vụ thuế của các cá nhân ứng với từng khoản thu nhập thông qua mô hình đơn

5 Đóng góp của đề tài luận án

 Những phát hiện của nghiên cứu: Nghiên cứu đã đưa ra những tiến bộ và

hạn chế của chính sách, cũng như những tồn tại của cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân

ở Việt Nam

 Điểm khác biệt của nghiên cứu: Nghiên cứu đã cập nhật được thành tựu và

chi ra những hạn chế của quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam thông qua nghiên cứu sâu về chính sách và cơ chế quản lý thu hiện hành, với sự tham gia của các chuyên gia và các đối tác quốc tế Nghiên cứu còn áp dụng mô hình kinh tế lượng trong thiết kế nghiên cứu, điều tra khảo sát thử nghiệm về tuân thủ thuế trên địa bàn Hà Nội Nghiên cứu cũng đề xuất lộ trình cải cách chính sách thuế với việc rút gọn dần số thuế suất vào 2 kỳ cải cách thuế tiếp theo năm 2017 và 2022, sử dụng mô hình toán đánh giá tác động của việc cải cách đến nghĩa vụ ngân sách của người nộp thuế

 Điểm mạnh và đóng góp mới của nghiên cứu: Nghiên cứu đã hệ thống được

kinh nghiệm của các nước trên thế giới, chỉ ra được những tồn tại của chính sách và cơ chế quản lý của Việt Nam, trong đó có những nghiên cứu của các tổ chức quốc tế đang

hỗ trợ Việt Nam cải cách hệ thống thuế như WB, IMF, OECD, EU, JICA

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với

thuế thu nhập cá nhân

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân

ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuế và thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở nước ngoài

Trong các nghiên cứu cổ điển sớm nhất về thuế, có thể kể đến học thuyết không tưởng và học thuyết bài thuế Học thuyết không tưởng cho rằng cần hướng tới xây dựng một loại thuế đơn nhất hay duy nhất, vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa tránh được sự phức tạp hoá chính sách thuế với nhiều loại thuế khác nhau, làm giảm gánh nặng thuế khoá cho dân chúng Các học giả theo trường phái bài thuế lại cố gắng xây dựng hình ảnh về một xã hội không có thuế

Kế thừa tinh hoa cổ điển, các học thuyết thuế hiện đại không phê phán mà tìm cách khẳng định vai trò của thuế, điển hình là học thuyết thuế-trao đổi, học thuyết thuế-đoàn kết và học thuyết thuế-bù đắp Học thuyết thuế-trao đổi bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XVII Tư tưởng cốt lõi của học thuyết này coi thuế là cái giá người nộp thuế phải trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hoá công cộng do nhà nước cung ứng Các đại biểu là John Locke, Jean - Jacques Rousseau, Adam Smith và Montesquieu Học thuyết thuế -đoàn kết, dựa trên tư tưởng về chủ nghĩa đoàn kết cộng đồng Học thuyết này phát triển rất mạnh vào cuối thế kỉ XIX, tuyên truyền cho tư tưởng tương trợ lẫn nhau và đoàn kết cộng đồng, với tư tưởng đòi hỏi người nộp thuế chấp nhận hi sinh lợi ích của mình cho nhà nước, nộp thuế theo sự ấn định thuế Tư tưởng chủ đạo của học thuyết thuế-bù đắp là cần thiết phải có sự hi sinh, tương trợ của những người có khả năng đóng thuế đối với nhóm người không có khả năng đóng thuế, dựa trên tinh thần đoàn kết và tương trợ cộng đồng Học thuyết về thuế-bù đắp ngày càng được ủng hộ và giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống thuế quốc gia

Trong công trình nghiên cứu “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết

thuế cổ điển và hiện đại”, in tại Tạp chí Luật học tháng 4, 2009, TS Nguyễn Văn Tuyến,

Đại học Luật Việt Nam đã nêu bật những ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại đối với quá trình phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam Những đổi mới đã làm cho chính sách thuế ở Việt Nam tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển chung Việc ban hành Luật quản lý thuế năm 2006 đã giảm dần tính mệnh lệnh hành chính trong quan hệ thuế, trao quyền chủ động nhiều hơn cho người nộp thuế Quyền đối kháng của người nộp thuế được ghi nhận với quyền khiếu nại và khởi kiện về thuế đối với cơ quan

Trang 14

thuế Nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước cho người nộp thuế khi họ bị thiệt hại do hành

vi thu thuế không đúng luật của cơ quan thuế thể hiện sự ảnh hưởng của học thuyết trao đổi đối với tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam Với biểu thuế lũy tiến của chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam, người có khả năng tài chính tốt hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn, phản ánh quan điểm chủ đạo của học thuyết thuế-bù đắp, kêu gọi

thuế-sự sẻ chia của những người có khả năng đóng thuế cho những người không có khả năng đóng thuế trên tinh thần đoàn kết xã hội và tương trợ cộng đồng

Với cuốn Nhập môn luật thuế đại cương và học thuyết thuế, Trung tâm nghiên

cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm 1963, Giáo sư Michel Bouvier nhấn mạnh sự cân bằng lợi ích giữa nhà nước với công dân trong quan hệ nộp thuế của học thuyết về thuế-trao đổi, dựa trên nguyên tắc trao đổi công bằng giữa hai bên và điều ngược lại ở học thuyết về thuế-đoàn kết: coi trọng “sự hi sinh” từ phía người nộp thuế đối với cộng đồng, dựa trên ý thức tương trợ lẫn nhau và đoàn kết cộng đồng

Cuốn “Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” (An Inquiry

into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được Adam Smith viết và xuất bản

lần đầu năm 1776 Ngoài nội dung xem xét nguồn gốc và công dụng của tiền tệ, giá cả của các loại hàng hóa, tiền công của lao động,… tác phẩm đã đề cập đến các nguyên tắc

thuế vụ và hệ thống thu ngân sách, với bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế

hợp lý: thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác; thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp thuế; các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất

Trong cuốn “Kinh tế học” (Economics) của Paul A Samuelson và William D

Naudhaus [39, tr.630], ở chương 17, “Thuế và chi tiêu của chính phủ”, các tác giả đã chỉ

ra “các nguyên tắc đánh thuế”, với các nguyên tắc được xem xét dưới nhiều góc độ là

”lợi ích”, “khả năng thanh toán”, “công bằng ngang và công bằng dọc” Tác giả đặc biệt nhấn mạnh về “thuế và tính hiệu quả” Xét đến hiệu quả, thuế suất sẽ ảnh hưởng đến tiết

kiệm và đầu tư “ảnh hưởng đến số giờ làm việc, chuyển hướng luồng đầu tư và tiết kiệm,

thay đổi thời điểm luồng thu nhập”

Vấn đề về thuế thu nhập cá nhân cũng đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học quốc tế hiện đại

“Tax Administration in Developing Countries:an Economic Perspective” (Quản lý thuế ở các nước đang phát triển: Một triển vọng kinh tế), năm 1987 của tác

giả Charles Y Mansfield thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khảo sát nghiên cứu về

Trang 15

hành chính thuế ở các nước đang phát triển, xem xét sự tác động của chính sách thuế, phương thức áp dụng những công cụ đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế, vai trò của quản lý thuế Hành chính thuế được xem như vấn đề vận dụng pháp luật vào đời sống kinh tế tài chính, có những bổ trợ cho chính sách phát triển quốc gia Tài liệu cung cấp các hướng dẫn về phương thức quản trị thuế để có thể giúp thực hiện các hệ thống thuế hiệu quả và công bằng hơn

“Presumptive Income Taxation-Administrative, Efficiency and Equity Aspects” (Thuế thu nhập cơ sở, quản lý, hiệu quả và khía cạnh công bằng) năm 1987 của hai tác

giả Vito Tanzi and Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF Nghiên cứu này thảo luận

về đánh giá đối với thu nhập trên cơ sở các chỉ số hiệu quả Phương pháp thuế thu nhập khoán được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, tuy nhiên, nó không được chú trọng trong lý thuyết tài chính công Nghiên cứu lập luận rằng cần sự chú ý nhiều hơn tới các tác động hiệu quả của phương pháp thuế khoán

“Tax in Developing Countries” (Thuế ở các nước đang phát triển), Baltimore,

Nxb Johns Hopkins phát hành năm 1990, hai tác giả Richard M Bird và Oliver Oldman

đã nêu vấn đề trốn thuế không chỉ là vấn nạn của riêng các quốc gia kém phát triển Tại một số nước đang phát triển, tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập tiềm năng không phải là tình trạng cá biệt Có vô số những người giàu có lại hoàn toàn nằm ngoài phạm vi quản lý hoặc những người nằm trong hệ thống thuế nhưng lại kê khai

thu nhập thấp đến mức vô lý Giải quyết những vấn đề này, các tác giả khẳng định, trước

hết, những người đóng thuế phải được xác định, hay đăng ký, đồng thời, cải thiện sự tuân thủ thuế của những người nộp thuế

“Improving Tax Administration in Developing Countries” (Cải thiện quản lý thuế ở các nước đang phát triển) năm 1992 của hai tác giả Richard M.Bird và Milka

Casanegra de Jantscher thuộc IMF Nghiên cứu về xu hướng phát triển cải cách chính

sách thuế, chú trọng tới các quy định hành chính thuế, kết quả cải cách thuế ở một số

nước (Bolivia, Uruguay, Colombia, Trinidat…), đề xuất giải pháp phù hợp người nộp thuế, đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện sự tuân thủ của người nộp thuế

“Fundamental reform of personal income tax in OECD countries: trends and recent experiences” (Cải cách cơ bản thuế thu nhập cá nhân ở các nước OECD: những

xu hướng và kinh nghiệm mới nhất) năm 2006 của tác giả Bert Brys and Christopher

Heady thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế OECD Nghiên cứu xem xét các xu thế hiện nay trong hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các nước thành viên tổ chức OECD Hơn thế nữa, nghiên cứu đã trình bày các kinh nghiệm về thuế cân bằng và

Trang 16

hệ thống thuế thu nhập cá nhân; đồng thời cung cấp các hiểu biết sâu sắc đối với quá trình cải cách các hệ thống thuế thu nhập cá nhân

Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và Price Waterhouse and Cooper PWC cùng tham gia xuất bản những ấn phẩm

đánh giá hệ thống thuế toàn thế giới: “Full Paying taxes 2011, 2012”, (Nộp thuê 2011,

2012: Bức tranh toàn cảnh)

Báo cáo thực hiện nghiên cứu tại 183 quốc gia nhằm đánh giá các hệ thống thuế trên toàn thế giới từ quan điểm của doanh nghiệp trong giai đoạn 6 năm Nghiên cứu này xem xét tác động của thuế tới doanh nghiệp trên cả khía cạnh số thuế phải nộp và gánh nặng tuân thủ Các chính phủ bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến kết quả của nghiên cứu vì

nó cung cấp các thông tin cần thiết để họ thực hiện so sánh với các nước láng giềng theo khu vực địa lý và trong nhóm các nước có điều kiện kinh tế tương đồng Nghiên cứu này

đề cập đến cách thức chính phủ đang phấn đấu để cải thiện hệ thống thuế nước mình như thế nào và nhấn mạnh đến các thông lệ quốc tế tốt nhất và một số cách thức để đạt được kết quả đó với xu hướng tập trung vào việc cải thiện công tác hành chính của hệ thống thuế, bao gồm: ứng dụng hệ thống kê khai, nộp thuế điện tử, giảm số lượng các sắc thuế đánh trên một cơ sở tính thuế và sử dụng quy trình tự kê khai tự nộp thuế

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

1.1.2.1 Giáo trình thuế và các công trình nghiên cứu về chính sách hoặc cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân

Đặt nền móng cho những lý thuyết về kinh tế nói chung và thuế nói riêng được

thể hiện trong “Giáo trình thuế”, Tổng cục Thuế, 1991, “Giáo trình thuế và hệ thống

thuế ở Việt Nam”, GS.TS Bùi Xuân Lưu, TS Nguyễn Hữu Khải, ThS Nguyễn Xuân Nữ,

NXB Giáo dục, 2003; “Giáo trình quản lý thuế”, TS Nguyễn Thị Bất-TS Vũ Duy Hào (2002), Nxb Thống kê, Hà Nội Về quản lý nhà nước có “Giáo trình quản lý nhà nước về

kinh tế”, TS Mai Văn Bưu-TS Đoàn Thị Thu Hà (1999), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà

Nội; “Giáo trình khoa học quản lý” (tập I, tập II), TS Đoàn Thị Thu Hà-TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2001), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội; “Quản lý nhà nước về kinh tế”

(Giáo trình sau đại học), TS Mai Văn Bưu-TS Phan Kim Chiến (2001), Nxb Khoa học

và Kỹ thuật, Hà Nội

Ngoài ra, có một số công trình, đề tài, luận án nghiên cứu xung quanh vấn đề xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân Những công trình này ở mức độ khác nhau cũng đã đề cập đến vai trò của Nhà nước

Trang 17

Đề tài “Mô hình áp dụng thuế thu nhập ở Việt Nam” năm 1994, chủ nhiệm đề tài:

Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, thư ký đề tài TS Đỗ Thị Thìn, TS Quách Đức Pháp… nêu lên mục tiêu chính của thuế thu nhập là điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng nên việc đánh thuế thường dựa trên khả năng thu nhập của các chủ thể, xuất phát từ sự đánh giá toàn cục theo bề dọc (thu nhập cao nộp thuế nhiều hơn) Một điểm đề tài tập trung phân tích là tính công bằng phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của việc thực thi chính sách thuế trong thực tiễn

Đề tài “Mô hình thuế tài sản ở Việt Nam” năm 1995, chủ nhiệm đề tài là Tổng

cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, các thư ký đề tài TS Đỗ Thị Thìn, TS Bạch Minh Huyền… đưa ra cơ sở tồn tại khách quan của thuế tài sản, phạm vi điều chỉnh của thuế đánh vào sở hữu tài sản và chuyển dịch tài sản, nhằm động viên cho NSNN, góp phần quản lý tài sản và đề xuất về hệ thống thuế tài sản của Việt Nam

Đề tài “Điều tra về thu nhập, tiết kiệm và đầu tư của dân cư” năm 1998, TS

Hoàng Công Thi, TS Nguyễn Ngọc Thanh…đã cho thấy kết quả điều tra thu nhập bình quân đầu người năm đó là 291.420đ/người/tháng, đạt 313USD/người/năm, thu nhập của dân cư thành thị cao gấp 2,04 lần nông thôn, ước tiền tiết kiệm 1997 từ dân cư 64 nghìn

tỷ đồng Đầu tư từ khu vực thành thị cao gấp 4 lần nông thôn, đầu tư trực tiếp vào sản xuất chỉ đạt 46% tổng đầu tư, đầu tư chứng khoán rất thấp, cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hầu như không có

Đề tài “Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân trong tình hình mới” năm 2000, chủ

nhiệm đề tài Vũ Quỳnh Hương, cộng tác viên Huỳnh Huy Quế Công cuộc đổi mới 1986 xuất hiện những người có thu nhập, đến cuối 1990 đã ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (chương trình cải cách thuế bước I) để động viên 1 phần vào NSNN và người dân quen dần với loại thuế này 10 năm, kết quả đáng khích lệ và có cả nhược điểm: chưa bao quát hết nguồn thu, diện đóng góp hạn chế, số thu chưa tương xứng, năng lực quản lý hạn chế, còn thất thu Đề tài khái quát các vấn đề lý luận về thuế thu nhập

cá nhân, cơ cấu hình thành thu nhập để đánh thuế, lý giải các vấn đề về ngưỡng thu nhập, lựa chọn chi phí miễn trừ, thuế suất… khái quát thực trạng, ưu điểm, tồn tại, đề xuất ý kiến

về mục tiêu, yêu cầu, quan điểm và hướng hoàn thiện: thay bằng thuế thu nhập cá nhân

Sách chuyên khảo: “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng

ở Việt Nam” năm 2002 của TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh khái quát về các chính sách

và cơ chế quản lý thu của nhiều nền kinh tế, từ đó xây dựng định hướng vận dụng cho Việt Nam

Trang 18

“Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt nam trong điều kiện hiện nay” (2003), của PGS TS Nguyễn Thị Bất là một đề tài nghiên cứu cấp Bộ có chất

lượng Đề tài đã hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về quản lý thuế và phân tích thực trạng về quản lý thuế ở Việt nam Đề tài đưa ra những giải pháp mang tính đột phá, phù hợp thực tiễn và khả thi ở Việt Nam tại thời điểm 2003

“Vietnamese Personal Income Tax Reform” (Cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam) năm 2006 của Shigeki Kunieda (Đại học Hitotsubashi) và Đỗ Ngọc Huỳnh

(Bộ Tài chính) Nghiên cứu đánh giá tình hình cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất đề cương cho một chính sách thuế thu nhập hiện đại áp dụng tại Việt Nam trong giai đoạn trung và dài hạn Chính sách thuế thu nhập cá nhân trong nghiên cứu này cũng được thiết kế nhằm tập trung chủ yếu vào tính đơn giản và khả thi của chính sách thuế trong hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện tại

và tương lai

“Đề án xây dựng luật Thuế thu nhập cá nhân” năm 2007 do Vụ Chính sách

Thuế - Bộ Tài chính chủ trì nêu lên hiện trạng của chính sách thuế thu nhập cao và bộ máy quản lý hiện hành, đánh giá những hạn chế: Mức điều tiết về thuế còn chưa hợp lý, thu nhập được điều chỉnh bởi các sắc thuế khác nhau, mức điều tiết thuế mang bình quân không tính đến yếu tố hoàn cảnh của người nộp thuế, phân biệt đối xử giữa người Việt Nam và người nước ngoài, chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế từ

đó đưa ra phương hướng khắc phục bằng Luật thuế thu nhập cá nhân

Các luận án tiến sĩ:“Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt

Nam” năm 2007 của tác giả Lê Duy Thành, “Hoàn thiện chính sách thuế thu nhập ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2007 của tác giả Nguyễn

Xuân Sơn, “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế” của tác giả Lý Phương Duyên năm 2009, “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều

kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương 2011 đều đề cập đến

hiện trạng chính sách thuế, quản lý thuế và đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp với quá trình nền kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế

Ngoài ra, nhiều nhà khoa học đã công bố các nghiên cứu về thu nhập dân cư, thuế thu nhập cao từ 2008 trở về trước, thuế thu nhập cá nhân, đánh giá tình hình triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân, các vấn đề phục vụ cải cách hành chính thuế, hiện đại hoá ngành thuế từ trung ương đến các địa phương trên các tạp chí khoa học chuyên ngành (Tạp chí Thuế Nhà nước, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Kiểm toán ) như:

Trang 19

“Đánh giá thuế thu nhập cá nhân hiện hành ở Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn

Văn Phụng, Đỗ Ngọc Huỳnh, tạp chí Tài chính số 7 năm 2005 Các tác giả viết về Pháp lệnh thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao, qua các lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2003, nội dung sửa đổi, bổ sung như cấu trúc bậc thuế, thuế suất, phân loại thu nhập thường xuyên và không thường xuyên Những vấn đề cơ bản như tính công bằng, hiệu quả và yêu cầu đảm bảo cơ cấu nguồn thu ổn định lâu dài cho ngân sách nhà nước chưa được giải quyết Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện hành, kết hợp với việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, bài viết đề xuất xây dựng một chính sách thuế thu

nhập cá nhân hiện đại để áp dụng trong tương lai ở Việt Nam

“Trăn trở về thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài lưu trú ngắn hạn tại Việt Nam”, Tạp chí Tài chính số 77 ngày 15/11/2009 đề cập đến những trăn trở trong

việc quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài vào Việt Nam làm việc Vướng mắc về khái niệm “thu nhập phát sinh tại Việt Nam” chưa thật rõ ràng Quy định trách nhiệm khấu trừ thuế tại nguồn đối với cơ quan chi trả thu nhập có trụ sở tại Việt Nam khi trả thu nhập cho cá nhân không cư trú nhưng lại thiếu quy định trách nhiệm của

cá nhân người không cư trú phải kê khai thuế tại cơ quan thuế địa phương nơi cá nhân đang làm việc, hay khai thuế thông qua cơ quan là bên đối tác Việt Nam

“Lượng hoá sự khác biệt tiền lương giữa các khu vực kinh tế”, Từ Thúy Anh và

Đào Nguyên Thắng, Tạp chí Tài chính số 545 tháng 3 năm 2010 Nhóm tác giả đưa ra nghiên cứu về sự khác biệt về tiền lương giữa 3 khu vực kinh tế: khu vực Nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực vốn đầu tư nước ngoài Giữa các khu vực, có sự khác biệt đáng

kể về đánh giá trình độ giáo dục, kinh nghiệm, về giới Nếu như khu vực Nhà nước đánh giá cao trình độ giáo dục của người lao động thì lại đánh giá rất thấp kinh nghiệm, hay việc căn cứ vào trình độ học vấn để trả lương cho người lao động đang tăng lên ở cả

3 khu vực trong thời gian qua Một thống kê nữa là tiền lương trả cho người lao động nam cao hơn lao động nữ ở cả 3 khu vực

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu của các đối tác quốc tế

Hội nhập quốc tế là một thách thức nhưng cũng đem đến nhiều cơ hội cho nền kinh tế đang chuyển đổi từng bước sang nền kinh tế thị trường và cho các nhà quản lý Trong quá trình cải cách hệ thống thuế, Việt Nam nhận được sự tham gia và tài trợ của các đối tác quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Cơ quan Hợp tác Quốc

tế Nhật Bản (JICA)

Trang 20

Các đối tác này đã tiến hành nhiều nghiên cứu khách quan, khoa học và có những khuyến nghị xác đáng và xây dựng đối với tiến trình cải cách hệ thống thuế của Việt Nam

Năm 2008, nghiên cứu hệ thống thuế thu nhập cá nhân Việt Nam, các nhà nghiên cứu John Brondolo, Kiyoshi Nakayama, Frank Bosch, Allan Foubister và Judy Tomaso

thuộc Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đã cho ra mắt Báo cáo “Việt Nam thực hiện thuế thu

nhập cá nhân” Báo cáo này mô tả các đặc điểm cơ bản của thuế TNCN mới ở Việt

Nam và những ảnh hưởng của nó đối với quản lý thuế, rà soát cách tiếp cận hiện hành của cơ quan thuế Việt Nam đối với việc quản lý thuế TNCN Tổng hợp các kinh nghiệm

từ các quốc gia và vùng lãnh thổ, Báo cáo cũng mô tả các quy trình chung về quản lý thuế TNCN IMF cho rằng hệ thống thuế có thể đạt được mức độ cao về tuân thủ thuế TNCN với chi phí tương đối thấp thông qua việc kiểm soát hiệu quả việc khấu trừ thuế trên tiền lương của các cơ quan chi trả và một hệ thống nộp tờ khai thuế hạn chế

Liên minh Châu Âu EU bắt đầu một dự án vào tháng 3 năm 2006 Dự án cung

cấp hỗ trợ kỹ thuật về quản lý dự án, dự toán số thu, xây dựng tính liêm chính, trong đó

có thanh tra nội bộ, xây dựng chính sách và pháp luật cho một số sắc thuế và Luật Quản

lý Thuế Năm 2007, nghiên cứu về một số vấn đề quản lý thuế xung quanh việc giới thiệu Luật thuế TNCN mới ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Kevin Holmes của Liên minh

Châu Âu đã công bố công trình “Quản lý Luật thuế thu nhập cá nhân mới” Các vấn đề

được đề cập: đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho NNT; khấu trừ thuế tại nguồn bởi chủ lao động; kê khai và tính thuế hàng năm của NNT; cơ chế thu thuế, kiểm tra kê khai, khiếu nại, vi phạm và xử phạt Các vấn đề về thủ tục cần được giải quyết, chẳng hạn như: CQT tiếp nhận và xử lý thông tin về NNT, kiểm tra kê khai (post-assessment review), khiếu nại, và thu nợ thuế Báo cáo khuyến nghị cơ quan thuế cần đưa ra được một chiến lược quản lý thuế toàn diện và dài hạn dựa trên cơ sở ban đầu khuyến khích NNT tuân thủ và sau đó tăng tỉ lệ tuân thủ Chiến lược quản lý thuế cần đảm bảo trên sự tuân thủ dễ dàng của NNT

Ngân hàng Thế giới WB xây dựng một dự án hỗ trợ kỹ thuật 5 năm trị giá hàng

chục triệu đôla bắt đầu từ năm 2007, hỗ trợ cho việc tái cơ cấu Tổng cục Thuế, phân tích chính sách thuế và Luật Quản lý Thuế, đề xuất cải tiến các quy trình nghiệp vụ thuế, thực hiện hệ thống quản lý thuế tích hợp và mạng tin học đi kèm Xem xét, đánh giá tác động của tiến trình cải cách tới hệ thống thuế ở Việt Nam nhằm thu thập thông tin và đưa ra nhận định cho quá trình cải cách trong tương lai, nhóm nghiên cứu Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn của Ngân hàng Thế giới

Trang 21

(WB) năm 2011 đã cho ra mắt công trình “Cải cách Thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ

thống Hiệu quả và Công bằng hơn”

Nghiên cứu đánh giá chính sách của Việt Nam đã được hiện đại hóa theo xu hướng toàn cầu và khu vực, hỗ trợ hiệu quả cho việc tuân thủ thuế của khu vực tư nhân Quá trình cải cách đã tạo ra các điều kiện pháp lý cần thiết cho việc gia nhập WTO với các bước đi nhằm tăng cường quản lý hệ thống thuế song song với các cải cách chính sách thuế Cải cách cơ bản về cơ cấu tổ chức quản lý thuế đã được thực hiện, những chức năng hoạt động chính đã được hiện đại hóa, và các dịch vụ và hỗ trợ người nộp thuế đã giúp tăng cường sự tuân thủ tự nguyện với hệ thống thuế và giảm các chi phí tuân thủ Kết quả hoạt động thu thuế được cải thiện đáng kể, nguồn thu ròng tăng gần gấp đôi từ năm 2006 đến năm 2010 Nghiên cứu khuyến nghị cần tiếp tục xây dựng và sử dụng hệ thống thuế để đảm bảo việc bảo vệ môi trường tốt hơn

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản JICA với những dự án cung cấp hỗ trợ kỹ

thuật về dịch vụ người nộp thuế, các kỹ thuật thanh tra, và xây dựng năng lực cho Tổng cục Thuế trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuế quốc tế Với mục đích tăng cường môi trường tuân thủ tự nguyện cho người nộp thuế thông qua việc hoàn thiện hệ thống

thuế, các nhà nghiên cứu thuộc Dự án “Cải cách hành chính thuế” của JICA đã khảo sát

đội ngũ công chức thực thi thuế quốc tế của ngành thuế, lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thuế quốc tế, thiết kế và triển khai một chương trình đào tạo toàn diện cho công chức thuế cả về nghiệp vụ, kỹ năng, văn bản pháp quy, tiếng Anh và một số kỹ năng mềm khác để đáp ứng với nhu cầu về công chức thuế quốc tế trong các kế hoạch 3, 5, 10 năm tới

JICA cũng tập trung hỗ trợ nhằm tăng cường năng lực của ngành thuế trong việc quản lý và hỗ trợ các đại lý thuế, từ đó mở rộng khả năng của mạng lưới đại lý thuế trong việc hỗ trợ người nộp thuế tự nguyện tuân thủ luật thuế

“Quản lý rủi ro tuân thủ: Quản lý và nâng cao tuân thủ thuế”,tàilệu p áthành năm 2 04 của Uỷ ban các vấn đề về thuế thuộc OECD Nghiên cứu tình hình thực tiễn của các cơ quan thuế quốc gia ở một số nước thành viên, OECD thể hiện quan điểm chung của các chuyên gia về một quy trình hiệu quả để quản lý rủi ro tuân thủ về thuế

Để đạt được mức độ tuân thủ cao nhất, tài liệu hướng dẫn các cơ quan thuế phải sử dụng hợp lý nguồn lực hạn chế, đưa ra các quyết định chính xác về cách thức và phương pháp

sử dụng nguồn lực để đạt được kết quả tốt nhất, khuyến khích các cơ quan quản lý thuế thực hiện quy trình quản lý rủi ro tuân thủ trong tài liệu Tài liệu hướng dẫn này mô tả

Trang 22

từng bước của quy trình chiến lược nhằm xác định và xử lý các rủi ro tuân thủ về thuế, và các biện pháp giám sát và đánh giá cần thiết để đánh giá tính hiệu lực của các chiến lược

xử lý đã được thực hiện Bên cạnh việc mô tả các nguyên tắc cơ bản của việc quản lý rủi

ro trên phương diện tuân thủ về thuế, tài liệu này còn đưa ra nhiều ví dụ thực tế rút ra từ các cơ quan quản lý thu ở các nước thành viên OECD để minh chứng cho các phương pháp tiếp cận cụ thể và tác động của các phương pháp này

Cục Thu Nội địa Hoa Kỳ IRS cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong việc xây dựng năng lực

để tiến hành thanh tra công vụ và xây dựng các bảng mô tả công việc cho Tổng Cục Thuế

1.1.2.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước, về cải cách hành chính và cải cách thuế

Đề tài “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2000 - 2010” năm 1999, chủ

nhiệm đề tài: Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Trần Xuân Thắng, thư ký đề tài TS Đỗ Thị Thìn, Th.S Lê Hồng Hải… đánh giá kết quả 10 năm 1990 -1999 đã hợp nhất bộ máy thu thành công từ 3 cơ quan thu khác nhau là thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp, thu thuế nông nghiệp, xây dựng được hệ thống chính sách vĩ mô, đặc biệt là triển khai thành công thuế giá trị gia tăng thay thế thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế thuế lợi tức và cơ chế thu hoạt động đều khắp Đề tài đưa ra chiến lược cải cách thuế cho 10 năm tiếp theo nhằm cải cách hệ thống thuế theo hướng hiện đại hóa, tăng cường hiệu quả trong quản lý thu

Đề tài “Thuế và cải cách thuế giai đoạn II ở Việt Nam” năm 1996, chủ nhiệm đề

tài: Vũ Quỳnh Hương, các cộng tác viên: TS Bạch Minh Huyền, TS Quách Đức Pháp, đưa ra lý luận cơ bản về thuế, các yêu cầu của một hệ thống thuế tốt: đảm bảo nguồn thu, công cụ điều tiết vĩ mô, phân phối thu nhập, đồng thời phải đơn giản, cụ thể, dễ làm, dễ quản lý

Bên cạnh những đề tài khoa học, các trang web, trang mạng như Chính phủ.vn, TTHC.vn, ictnews.vn, VNEconomy, VNExpress, các tạp chí chuyên ngành như Thuế Nhà nước, Tạp chí Tài chính, Thông tin Tài chính cũng có nhiều nghiên cứu, nhiều bài viết được công bố

“Ứng dụng công nghệ thông tin trên diện rộng đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại” , Tạp chí Thuế Nhà nước, số 10 kỳ 2 tháng 3 năm 2009 Thực hiện minh

bạch hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, hướng tới thực hiện Chính phủ điện tử, ngành thuế đã lựa chọn giải pháp đột phá: đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin quản lý

Trang 23

“Triển khai ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí Thuế Nhà

nước, số 9 kỳ 1 tháng 3 năm 2009 cho biết: Để hỗ trợ các doanh nghiệp, Tổng cục Thuế

đã nâng cấp và phát triển phần mềm Hỗ trợ kê khai sử dụng công nghệ mã vạch phiên bản 2.0, nhằm đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ kê khai thuế thu nhập cá nhân Theo đó, bắt đầu từ tháng 2/2009, khi nộp tờ khai có áp dụng công nghệ mã vạch, người nộp thuế (doanh nghiệp, cá nhân) sẽ sử dụng các mẫu tờ khai tại phiên bản 2.0 thay cho phiên bản

1.3.1 trước đây

“Vận hành hệ thống cấp mã số thuế cá nhân”, 03/08/2009, Tạp chí Thuế Nhà

nước số tháng 8 năm 2009 Sau nhiều tháng nỗ lực, triển khai, Dự án Ứng dụng Quản lý thuế thu nhập cá nhân (PIT) đã hoàn tất công tác chuẩn bị phục vụ cho việc đăng ký thuế

2009 Hệ thống cấp mã số thuế (MST) theo giải pháp cấp tập trung đã chính thức vận hành

và cho ra đời lô mã số đầu tiên vào ngày 29/6/2009 Dự án đã nhận được dữ liệu đăng ký thuế từ các cơ quan thuế, tổ chức trả thu nhập của 63 tỉnh thành trên cả nước Tác giả dự kiến đến tháng 10/2009, 10 triệu lao động làm công hưởng lương sẽ được cấp MST và đảm bảo quản lý được thông tin đăng ký và nộp thuế cho 15 triệu người có MST vào năm

2010 theo yêu cầu của Ban chỉ đạo Trung ương triển khai Luật Thuế TNCN

“Thủ tục thuế: khoảng cách và cải cách”, Tạp chí Thuế Nhà nước, kỳ 2 tháng 9

năm 2010 Tác giả Lê Khắc đã đưa ra nhận định về khoảng cách lớn giữa trình độ của ngành thuế nước ta với trình độ khu vực, khoảng cách giữa thủ tục và thực thi thực tế mặc dù ngành thuế đã có nhiều cải cách Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng thừa nhận điều này Để cải cách thủ tục, yêu cầu cải cách con người thực hiện là một đòi hỏi không thể

bỏ qua Điều đó đòi hỏi những nỗ lực cải cách mạnh mẽ hơn

“Ứng dụng công nghệ thông tin trên diện rộng đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 10 kỳ 2 tháng 3 năm 2009 Thực hiện minh bạch

hoá, hiện đại hoá và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, hướng tới thực hiện Chính phủ điện tử, ngành thuế đã lựa chọn giải pháp đột phá: đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin quản lý Theo ước tính, đến cuối 2008 đã có trên 80% số đầu công việc trong toàn ngành thuế đã được tin học hóa Tổng cục Thuế đã xây dựng và triển khai các ứng dụng cho các nhóm bài toán nghiệp vụ, bài toán quản lý nội bộ, xây dựng và triển khai hệ thống kho cơ sở dữ liệu dùng chung để phục vụ tốt hơn cho công tác chỉ đạo, điều hành,

ra quyết định và công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách trong toàn ngành Mặt khác,

hệ thống ứng dụng ngành thuế đã được kết nối với một số ngành hải quan, kho bạc, kế hoạch và đầu tư, để phối hợp trao đổi thông tin, nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 24

“Công nghệ thông tin quyết định sự thành công cải cách thuế”, Tạp chí thuế nhà

nước kỳ 1 số 21, tháng 6 năm 2011, đưa tin về hội nghị ngày 27/5/2011 tại Khánh Hoà tổng kết công tác ứng dụng công nghệ thông tin ngành thuế giai đoạn 2005-2010 và bàn

kế hoạch triển khai đến 2020 Gần 400 đại biểu tham dự dưới sự chủ trì của thứ trưởng

Bộ Tài chính và Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Những số liệu: hệ thống công nghệ thông tin có tới 1.800 cán bộ, 1.650 máy chủ với 39.595 máy tính (95% CB sử dụng máy tính cho công việc hàng ngày) đã để lại những dấu ấn của những bước đột phá Máy tính

và những ứng dụng đã tạo ra môi trường văn minh, thân thiện mà bộ phận một cửa, trang WEB của ngành và cơ quan thuế các địa phương, Kios thông tin và ứng dụng kê khai mã vạch 2 chiều là những điểm sáng

“90% chức năng quản lý thuế đã ứng dụng CNTT”, Tạp chí Thuế Nhà nước, số

21 (431), ngày 23/5/2013 Tác giả Thanh Mai thông báo đến hết năm 2012, ngành thuế

đã hoàn thành giai đoạn 2 việc mở rộng cơ sở dữ liệu DN tập trung tại Tổng cục Thuế để toàn ngành khai thác, phục vụ cho công tác quản lý; đáp ứng kịp thời các yêu cầu của chính sách thuế mới và các quy trình quản lý thuế cải cách; Dự kiến đến năm 2014, toàn

bộ dữ liệu về kê khai, nộp thuế, kế toán thuế, nợ thuế của tất cả người nộp thuế được xử

lý tập trung và lưu giữ tại Tổng cục Thuế Hệ thống ứng dụng CNTT của ngành thuế hiện tại đã đáp ứng khoảng 85% nhu cầu xử lý thông tin quản lý thuế và 90% các chức năng quản lý thuế được ứng dụng CNTT Thực hiện cung cấp dịch vụ kê khai thuế điện

tử kết hợp đồng bộ với việc cải cách thủ tục kê khai thuế; mở rộng hệ thống gửi tờ khai qua mạng, kê khai trực tuyến; nộp thuế qua ngân hàng; mở rộng hệ thống cung cấp dịch

vụ kê khai, tra cứu thông tin thuế Cuối 2012, dịch vụ kê khai thuế điện tử đã được cung cấp tới 231 nghìn DN, đạt trên 50% DN cả nước; 80% tờ khai thuế của các DN lớn và vừa trong cả nước đã được nộp qua mạng, đã hoàn thành việc triển khai hệ thống ứng dụng quản lý thuế TNCN trên diện rộng để xử lý thông tin đăng ký thuế và xử lý tờ khai, chứng từ và thông tin quản lý thuế của trên 10 triệu cá nhân có thu nhập Kết quả này đã góp phần để dịch vụ kê khai thuế qua mạng của ngành thuế được Bộ Thông tin - Truyền thông xếp hạng mức 4 về dịch vụ công điện tử.,

“Mở rộng thu thuế qua ngân hàng đối với hộ kinh doanh”, web Tạp chí thuế

online, đăng ngày 25 Tháng 3 2013 Thực hiện Luật Quản lý thuế, công tác uỷ nhiệm thu (UNT) được triển khai trên 63 tỉnh, thành phố ở 92,15% Chi cục Thuế Đánh giá lại công tác này, ngành thuế nhận thấy có nhiều hạn chế Năm 2013, chính sách thuế đối với hộ kinh doanh thay đổi nên số lượng HKD phát sinh thuế phải nộp hàng tháng hàng, quý

Trang 25

giảm đáng kể Để phù hợp với tiến độ triển khai dự án thu thuế qua NHTM, cơ quan thuế cũng điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành, tăng cường quản lý HKD về doanh

số, triển khai rộng rãi dự án thu thuế qua NHTM, đảm bảo các HKD đều được cấp mã số thuế và lập bộ trên các ứng dụng của ngành, rà soát, sắp xếp lại các đội thuế liên xã, phường tiến tới chấm dứt việc UNT đối với HKD từ 01/01/2014

“Năm 2013: cải cách thuế theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản

lý”, web Tạp chí Thuế online, đăng ngày 28 tháng 1 năm 2013 Tác giả đã tóm lược các

hoạt dộng xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách thuế năm 2012 và 2013: tham mưu cấp thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và các Luật thuế cùng các văn bản hướng dẫn, ban hành Tuyên ngôn ngành thuế Việt Nam Cơ quan thuế cũng hoàn thiện công tác quản lý thuế giúp DN tiết giảm công sức, thời gian, chi phí cho việc tuân thủ pháp luật thuế: Đa dạng hoá các hình thức, biện pháp hỗ trợ, thực hiện đăng ký thuế, kê khai thuế qua mạng Internet; thực hiện việc giảm tần suất khai thuế; kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đào tạo; xây dựng và áp dụng hệ thống chỉ số đánh giá hoạt động quản lý thuế

“Hà Nội sẵn sàng cho kỳ quyết toán thuế 2012”, web Tạp chí Thuế online, đăng

ngày 25 tháng 3/2013 Tác giả đã nêu lên các giải pháp Cục Thuế Hà Nội triển khai nhằm hướng dẫn và hỗ trợ trên 90.000 DN, 10.000 đơn vị hành chính sự nghiệp chi trả thu nhập cho người lao động thực hiện quyết toán và nộp các tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của năm 2012 đúng hạn trong tháng 3

Các chính sách thuế mới được phổ biến, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn về giãn, giảm thuế Các phương án tiếp nhận hồ sơ quyết toán thuế 2012 được triển khai Công tác hỗ trợ được chú trong, gần 30 số điện thoại đường dây nóng được công bố Trong giai đoạn cao điểm, việc tiếp nhận hồ sơ được thực hiện tất cả các ngày trong tuần

Mặt khác, vấn đề cải cách hành chính công, trong đó có cải cách hành chính thuế đang được Chính phủ và người dân đặc biệt quan tâm Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu, một số bài viết:

Trang 26

“Cải cách thủ tục hành chính theo đề án 30: cơ sở thực tiễn khẳng định tính đúng đắn trong việc huy động sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện và giám sát

việc thực hiện thủ tục hành chính ở nước ta”, Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị,

Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Tổ trưởng Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục

hành chính của Thủ tướng, web tthc.vn 29/9/2010, khẳng định tính đúng đắn trong việc

huy động sự tham gia của nhân dân vào việc thực hiện và giám sát thực hiện thủ tục hành chính ở nước ta Tác giả khẳng định thủ tục hành chính có một vai trò quan trọng trong đời sống, là công cụ để đưa chính sách và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, cũng như để người dân và doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời chỉ ra cải cách thủ tục hành chính gắn với thực hiện cơ chế một cửa, công khai hoá, minh bạch hoá các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính được rà soát, sửa đổi, bãi bỏ theo hướng đơn giản hoá, tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp

“Cải cách thủ tục hành chính: cần sự vào cuộc của các doanh nghiệp” (TS Ngô

Hải Phan - Tổ phó thường trực Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của

Thủ tướng Chính phủ) tác giả cho biết đến 9/2010, Đề án 30 đã hoàn thành giai đoạn 2

về rà soát các thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 24 Bộ, ngành

Theo đó, sau khi tiến hành rà soát 5.421 thủ tục hành chính, đã đề xuất sửa đổi, bổ sung 4.146 thủ tục, bãi bỏ 480 thủ tục, đồng thời kiến nghị thay thế 192 thủ tục, đạt tỷ lệ đơn giản hóa trung bình là 88% Quan trọng hơn, các phương án cải cách đã được gắn với việc cắt giảm các chi phí tuân thủ cho cá nhân, tổ chức, bảo đảm việc đạt được chỉ tiêu cắt giảm 30% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính do Thủ tướng giao, ứng với gần 30.000

tỷ đồng mỗi năm

“Cải cách thủ tục hành chính thuế phải song hành với chống thất thu ngân

sách”- Bài viết về kiến nghị của Đoàn giám sát cải cách thủ tục hành chính đã đề xuất tại

phiên họp thứ 35 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 28/9/2010, bên cạnh những kết quả ngành thuế đạt được trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính, cần triển khai

quyết liệt các biện pháp sửa đổi chính sách, cải tiến các biện pháp tổ chức thu, đảm bảo

công cuộc cải cách thủ tục hành chính thuế phải song hành với tăng cường công tác

thanh, kiểm tra, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế

“Ngành thuế - hải quan: hướng cải cách năm 2010” PC World News, Cải cách

hành chính đối với ngành thuế và hải quan đóng vai trò quan trọng trong phát triển của

nền kinh tế đất nước Theo báo cáo môi trường kinh doanh hàng năm, các tổ chức quốc

tế xếp thứ hạng về thuế của Việt Nam ở mức 140/182 nước (Singapore thứ 5, Malaysia

Trang 27

thứ 21, Thái Lan thứ 82); thời gian doanh nghiệp làm các thủ tục về thuế và các nghĩa vụ với ngân sách là 1.050 giờ (trong đó bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế chiếm 400 giờ), trong khi Singapore là 84 giờ, Indonesia 266 giờ, Malaysia 145 giờ, Thái Lan 264 giờ Mục tiêu của Bộ Tài chính phấn đấu đến năm 2010 phải giảm được tối thiểu 30% số thủ tục hành chính đang có Nâng xếp hạng ngành Thuế đứng thứ 120 thế giới; giảm số giờ nộp thuế cho doanh nghiệp từ 1.050 giờ hiện nay xuống còn 600 giờ Giảm thời gian thông quan xuống còn 1,5 lần so với các nước trong khu vực và đến năm 2011 phải bằng khu vực Công tác cải cách hành chính và chống tiêu cực phải được đẩy nhanh, thực hiện

một cách bài bản và quyết liệt hơn

“Đòi hỏi cải cách thuế ở Việt Nam hiện nay”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày

13 tháng 4 năm 2010 Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài trong nhiều năm chưa có triển vọng được cải thiện, trong khi lại phải thực hiện các gói kích thích kinh tế quy mô lớn, đã làm cho thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay lớn hơn bao giờ hết Bài này phân tích sự cần thiết phải tiến hành cải cách thuế, những trở ngại trong việc cải cách thuế ở Việt Nam hiện nay; đưa ra những nguyên lý cơ bản của cải cách thuế và một số bài học kinh nghiệm

1.1.2.4 Các nghiên cứu về thực trạng thi hành và kiến nghị sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân

“Thuế thu nhập cá nhân còn có những điều chưa hợp lý”, Dân trí, 21 tháng 04

năm 2010, kiến nghị xem xét lại việc tạm thu dưới hình thức khấu trừ thuế 10% từ một khoản thu nhập phụ là tiền nhuận bút với quan điểm coi trọng và khuyến khích lao động trí tuệ Nếu người phải nộp thuế thực sự là những người “độc thân” có thu nhập trên 4 Triệu đồng/tháng thì với cơ chế “tạm thu” từ những khoản trên 500.000 đồng/lần chi trả

đã phát sinh hàng ngàn người chưa đến mức nộp thuế nhưng vẫn có thu nhập bị động viên vào ngân sách

Trần Xuân Thắng “Luật Thuế thu nhập cá nhân cần sửa nhiều nội dung cơ bản”,

Tạp chí Thuế nhà nước số 12 (370) ngày 22/3/2012 Tác giả đánh giá bên cạnh 2 ưu điểm cơ bản: quy định giảm trừ gia cảnh và điều tiết thống nhất thu nhập của người VN

và người nước ngoài, Luật thuế thu nhập cá nhân bộc lộ nhiều bất cập: hiệu quả tài chính thấp (Chi phí thực hiện luật lớn trong khi nguồn thu cho ngân sách giảm), nghiệp vụ phức tạp (không bảo đảm tính đơn giản, minh bạch), tác động xã hội (quy định phức tạp,

dễ dẫn đến sự tùy tiện, không công bằng khi áp dụng) Tác giả đưa ra 3 bước đi để khắc phục tồn tại, đảm bảo mục tiêu công bằng, nâng dần tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong thu ngân sách

Trang 28

“Chiết trừ gia cảnh nên áp dụng theo lương cơ bản”, Tạp chí Thuế nhà nước số

14 ra ngày 5/4/2012 Tác giả TS Nguyễn Minh Phong đánh giá về dự thảo sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân của Bộ Tài chính không có đủ cơ sở vững chắc, nên không nhận được sự đồng thuận của dư luận xã hội trên nhiều mặt, từ đó đưa ra khuyến nghị cần sớm thể chế hóa lại mức khởi điểm tính thuế theo hướng vừa tăng mức tính khởi điểm, vừa tạo linh hoạt trong áp dụng của đơn vị, đối tượng chịu thuế và cơ quan thuế

“Biểu thuế điều chỉnh tăng theo mức giảm trừ gia cảnh”, Tạp chí Thuế nhà nước

số 16 (374) ngày 19/4/2012 Theo tác giả Nguyễn Thị Cúc, để tạo sự công bằng về mức điều tiết giữa các loại thuế trực thu, tổng mức điều tiết của thuế TNCN chỉ nên xác định tương đương với thuế TNDN Biểu thuế nếu không giãn các bậc mà giữ như hiện hành thì nên tăng mức điều chỉnh bằng tiền của các bậc thuế từ bậc 2 trở lên là 50%, tương ứng mức tăng GTGC cho NNT (4 triệu lên 6 triệu) và người phụ thuộc (1,6 triệu lên 2,4 triệu); đồng thời co hẹp bậc thuế từ 7 xuống 6 bậc

“Luật thuế thu nhập cá nhân, kết quả 3 năm, bất cập và giải pháp”,

Vietnamnet.VN 22/06/2012 Ths Hà Thị Hương Lan đánh giá việc ban hành đầy đủ các văn bản chính sách đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực thi các quy định, chế tài nhằm đưa Luật thuế thu nhập cá nhân đi vào cuộc sống Với kết quả thu 3 năm, do còn một số bất cập và chưa theo kịp diễn biến phức tạp của thị trường, dự

án Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, bổ sung đã được triển khai nhằm đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập, động viên hợp lý thu nhập dân cư, góp phần ổn định, nâng cao đời sống của người nộp thuế, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng; đảm bảo không làm ảnh hưởng lớn đến số thu ngân sách nhà nước; đảm bảo đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, hiện đại hoá công tác quản lý thuế Việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần tăng tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực, các nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam, phù hợp với xu thế cải cách thuế và thông lệ quốc tế

Trịnh Thị Thu Thủy “Góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân: Kiến

nghị từ Cục Thuế TP HCM” Tạp chí Thuế nhà nước số 17+18 (375+376) ra ngày

3/5/3012 Tác giả đánh giá: sau 3 năm thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân với sự chủ động trong việc đăng ký, kê khai, khấu trừ và nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn, Cục Thuế TP HCM đã cấp hơn 2,5 triệu mã số thuế thu nhập cá nhân, đưa tỷ trọng của sắc thuế này so với tổng thu ngân sách trên địa bàn ngày càng tăng, từ 4,7% năm

Trang 29

2009 lên 13,2% năm 2011 Từ thực tiễn quản lý cho thấy một số nội dung bất cập của chính sách thuế thu nhập cá nhân như quy định phức tạp, không đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, tác giả đưa ra 4 kiến nghị: nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 9 triệu đồng/người/tháng; điều chỉnh biểu thuế suất với giãn cách lớn, thuế suất đầu tiên là 3%; cho người Việt Nam được hưởng khoản phụ cấp được trừ như người nước ngoài đối với khoản học phí cho con và vé máy bay nghỉ phép năm; điều chỉnh phương thức quản

lý thuế, quyết toán thuế đối với hộ cá thể, cá nhân kinh doanh

Anh Vũ, “Từ 1.7.2013, thu nhập chịu thuế trên 9 triệu đồng mới phải nộp thuế”,

Thanh niên 22/11/2012 Tác giả đưa tin sáng 22.11.2012, Quốc hội nhất trí thông qua toàn bộ luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi với 444/462 đại biểu tán thành Theo đó, mức giảm trừ gia cảnh được nâng lên kể từ ngày 1.7.2013 khi luật này có hiệu lực Cụ thể mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm) và mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng Như vậy cá nhân người nộp thuế, từ 1.7.2013 nếu có thu nhập chịu thuế trên 9 triệu đồng mới phải nộp thuế Luật mới cũng quy định, trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20%

so với thời điểm luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản này phù hợp với biến động của giá tiêu dùng để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo

Tác giả Ánh Hồng, trong bài “Nhọc nhằn giáo sư xin hoàn thuế” đăng trên Tuổi

trẻ ngày 11/06/2013, đã phản ánh tâm sự bức xúc của giáo sư tiến sĩ, nhạc sĩ cao tuổi Nguyễn Văn Nam, công tác tại Nhạc viện TP.HCM phải đi lại nhiều lần, mất hơn 2 tháng (từ 2/4 đến 10/6) mới được hoàn thuế, sau khi có những ý kiến từ công luận Một điều đáng phải suy ngẫm là tác giả cũng chia sẻ những khó khăn của cơ quan thuế và cơ quan chi trả: Cục Thuế TP HCM và các chi cục thuế quận, huyện đã nhận hơn 14.000 hồ

sơ hoàn thuế TNCN trong năm tháng đầu năm 2013, trong khi số hồ sơ hoàn thuế cả năm 2012 chỉ là 10.000 Số lượng hồ sơ tăng theo cấp số nhân nên dù cơ quan thuế đã tập trung lực lượng giải quyết hồ sơ nhưng khó đảm bảo thời gian theo quy định

Thanh Xuân, trong 2 bài đăng trên Thanh niên, ngày 12/07/2013 “5 ca sĩ, nghệ sĩ

bị truy thu thêm 1,3 tỉ đồng tiền thuế”, và 24/7/2013: “Đại gia bị truy thu thuế cá nhân”,

phản ánh biện pháp, quyết tâm của Cơ quan thuế TP HCM đấu tranh truy thu thuế của các ca sỹ, đại gia

Có thể thấy, xét về tổng quan, thuế thu nhập cá nhân đã được sự quan tâm của giới học thuật và các phương tiện truyền thông Nếu những bài báo nóng hổi tính thời sự,

Trang 30

phản ảnh sâu sắc lo lắng của nhân dân về nền kinh tế khó khăn, về tính pháp lý của các quy định, về nền hành chính nước nhà thì các công trình nghiên cứu lại đi sâu phân tích chính sách hoặc cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân Chưa có công trình nghiên cứu cả 2 khía cạnh quản lý nhà nước: chính sách và cơ chế quản lý để đi sâu phân tích, chỉ ra tồn tại,

từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân Xuất phát từ đánh giá này, tác giả đã thấy hé lộ một khoảng trống cần nghiên cứu

Nghiên cứu các công trình này, ta thấy các giả thiết lý luận dẫn dắt cho các công trình này rất phong phú với nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng, cho kết quả rất tích cực cho việc thiết kế các chính sách, cơ chế quản lý thu, các quy trình quy phạm, góp phần đổi mới quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong những năm thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và 4 năm triển khai thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

1.2 Kết quả rút ra và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Qua những công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các học giả đã hệ thống được nhiều vấn đề học thuật về thuế, tập trung vào những nghiên cứu về quản lý nhà nước, về cải cách hành chính và cải cách thuế, nghiên cứu về thực trạng thi hành và kiến nghị sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân

Nếu như các học thuyết không tưởng về thuế, học thuyết thuế đơn nhất, trường phái bài thuế của các học thuyết cổ điển đặt nền móng thì các học thuyết thuế hiện đại điển hình như học thuyết về thuế-trao đổi và học thuyết về thuế-đoàn kết, học thuyết về thuế-bù đắp ngày càng nhận được sự ủng hộ của rất nhiều học giả thuộc lĩnh vực tài chính công, ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống thuế quốc gia Ở phương diện nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân, các công trình trong và ngoài nước cũng đã phân tích sâu sắc các góc độ quản lý nhà nước, hoặc là về chính sách, hoặc là về cơ chế quản lý thu ngay từ khi thuế thu nhập cá nhân được thi hành với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế chuyển quyền sử dụng đất Đặc biệt, trong những năm gần đây, từ khi thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân, khi các phương tiện truyền thông theo sát quá trình đổi mới, cải cách hành chính hay thi hành, sửa đổi luật, hàng loạt công trình nghiên cứu và những bài báo đã có đóng góp lớn lao vào tiến trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Tham gia tích cực vào cải cách và hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam, các công trình của các đối tác quốc tế như WB, IMF, EU, OECD, JICA chiếm vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình này

Trang 31

Tuy đã có rất nhiều tiến bộ so với thưở ban đầu, cả chính sách thuế và cơ chế quản lý thu thuế thu nhập cá nhân đều còn những tồn tại Nhìn ra quốc tế, Luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam vẫn còn quá nhiều thuế suất, bộ máy hành thu hoạt động chưa hiệu quả, vận hành chưa thống nhất; hơn 3,2 triệu hộ kinh doanh với thu nhập thường xuyên không hạch toán rõ ràng nằm trong diện điều chỉnh của Luật gây nhiều tranh cãi; đánh giá của các đối tác quốc tế về tham nhũng trong hệ thống thuế vẫn còn nặng nề… Những yếu tố trên đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý về sự cấp thiết của một công cuộc cải cách mới cho ngành thuế nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Phải nói rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu về Thuế thu nhập cá nhân, quản

lý nhà nước, cải cách hành chính về thuế… Tuy nhiên một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về quản lý nhà nước đối với Thuế thu nhập cá nhân, từ lý luận đến khảo sát

về thực trạng, rồi đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp thì vẫn chưa có công trình nào Vì vậy đề tài mà NCS lựa chọn không trùng lắp với các kết quả nghiên cứu đã được công bố

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân và quan niệm quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân

2.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

a) Khái niệm thuế thu nhập

“Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh (các thể nhân hoặc các pháp nhân) trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh” [54, tr.185] Tính chất của loại thuế này thể

hiện ở sự thống nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế, người nộp thuế đồng thời cũng là người thực sự phải gánh chịu khoản thuế này

b) Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

“Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định (thường là một năm) không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập” [54, tr.330]

Cá nhân gánh chịu khoản thuế này khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác Việc trích một phần thu nhập của mình nộp thuế cho Nhà nước mọi người đều phải chấp nhận vì việc nộp thuế cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của mỗi công dân Thực tiễn, việc nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập đã được thực hiện

ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Mục tiêu đặt ra của thuế thu nhập cá nhân là nhằm điều tiết thu nhập các thể nhân, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội nên việc đánh thuế thường dựa trên nguyên tắc theo khả năng của đối tượng nộp thuế

2.1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Là một sắc thuế trong hệ thống thuế, ngoài những đặc điểm chung, thuế thu nhập

cá nhân cũng có những đặc điểm riêng sau đây:

- Thuế TNCN là thuế trực thu chỉ đánh vào người có thu nhập đến mức phải chịu thuế Thuế TNCN là thuế có độ nhạy cảm cao, vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích

cụ thể của người nộp thuế và liên quan trực tiếp đến hầu hết mọi cá nhân và thường được gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia

Trang 33

- Thuế TNCN mang tính lũy tiến cao (thu nhập càng cao càng phải nộp nhiều thuế) Thuế TNCN đánh theo nguyên tắc khả năng trả thuế và thuế suất của nó thường được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng trả thuế Là sắc thuế đảm bảo công bằng theo chiều dọc (khắc phục nhược điểm của sắc thuế gián thu là chỉ công bằng theo chiều ngang), nghĩa là người

có thu nhập cao (người giàu) sẽ phải nộp thuế nhiều, người nghèo có thu nhập thấp không phải nộp thuế

- Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá

cả hàng hóa, dịch vụ

2.1.1.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là nguồn thu quan trọng trong tổng thu NSNN Nó kiểm soát thu nhập, góp phần hạn chế tham nhũng, đảm bảo công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo Tác dụng điều chỉnh, phân phối thu nhập được thể hiện với việc nhà nước huy động thu nhập của người có thu nhập cao để chi cho các chương trình phúc lợi công cộng, phục vụ trở lại xã hội, chuyển bớt một phần thu nhập của các tầng lớp giàu có sang các tầng lớp nghèo, mức sống thấp

Thuế thu nhập cá nhân quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc tăng cường hay giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, tác động tới tổng cầu xã hội, từ đó co hẹp hay kích thích kinh tế Sử dụng chính sách thuế thu nhập cá nhân, nhà nước có thể chi phối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng cho phù hợp với đường lối kinh

tế của chính phủ

Chính sách thuế thu nhập cá nhân hợp lý kích thích người lao động tăng thu nhập thông qua cơ chế tuyên dương khen thưởng kịp thời, động viên sự đóng góp của người giàu để xây dựng đất nước, là công cụ để nhà nước thực hiện kiểm soát, thống kê thu nhập của dân cư

2.1.1.4 Những nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân

a) Người nộp thuế

Người nộp thuế theo quy định của luật thuế TNCN là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm nộp thuế TNCN cho Nhà nước Nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế chính là người chịu thuế, nhưng cũng có trường hợp người nộp thuế không phải là người chịu thuế như trường hợp cá nhân/cơ quan chi trả có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay cho người chịu thuế

Trang 34

Ví dụ: Ông A là ca sĩ có thu nhập, là chủ thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế TNCN và có nghĩa vụ phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân cho mình Tuy nhiên, khi tham gia chương trình biểu diễn, theo quy định khấu trừ tại nguồn, ông B là người phụ trách chương trình phải khấu trừ và mang tiền đến cơ quan thuế nộp cho ông A Dù ông

B là người trực tiếp khai và nộp thuế cho kho bạc nhưng ông B không phải là người chịu thuế mà ông A mới là chủ thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế TNCN Trường hợp này người nộp thuế không trùng với người chịu thuế

Ở một ví dụ khác, cá nhân kinh doanh khai và nộp thuế cho thu nhập từ kinh doanh của mình, người chịu thuế trùng với người nộp thuế

Gắn liền với khái niệm người nộp thuế là khái niệm cư trú Theo thông lệ quốc tế,

cá nhân cư trú là người có mặt tại/hiện diện trên quốc gia/lãnh thổ từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt/làm việc tại quốc gia/lãnh thổ đó; nhiều quốc gia/lãnh thổ có quy định thêm về nơi ở thường xuyên/đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú khi xác định cá nhân cư trú để phân định quyền đánh/thu thuế đối với các loại thu nhập

Cá nhân cư trú nộp thuế đối với thu nhập toàn cầu Cá nhân không cư trú nộp thuế trên thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại quốc gia/lãnh thổ sở tại Các biểu thuế có

sự phân biệt nhất định

b) Đối tượng chịu thuế

Trong các luật thuế, đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để tính thuế Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hoá hay tài sản Mỗi một sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, thường thì tên gọi của một sắc thuế bắt nguồn

từ đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó Ví dụ: thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặc một đơn vị vật lý Theo nghĩa này, các nước cho rằng đây là đối tượng tính thuế Đối tượng chịu thuế theo quan điểm của nhiều nước là những người phải lấy từ thu nhập của mình

ra để trả thuế cho Nhà nước thông qua hành vi tiêu dùng hoặc hành vi tìm kiếm thu nhập Đối tượng chịu thuế thường ngầm hiểu trong các loại thuế mà không đưa vào nội dung của luật, trong khi đối tượng tính thuế phải được đưa vào luật để từ đó xác định cơ sở thuế hay cơ sở tính thuế

c) Cơ sở tính thuế, hoặc cơ sở thuế hoặc căn cứ tính thuế

Luật thuế quy định thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước được xác định trên các căn cứ nhất định Những căn cứ dùng để xác định số thuế phải nộp của một loại thuế

Trang 35

cho từng đối tượng nộp thuế được gọi là cơ sở thuế hoặc căn cứ tính thuế của loại thuế

đó Cơ sở thuế của một loại thuế thường gồm các yếu tố sau:

- Đối tượng tính thuế

Đối tượng tính thuế là loại hàng hoá, dịch vụ hoặc một yếu tố khác có thể đo lường được như: độ ồn, độ ô nhiễm Mỗi loại thuế có một đối tượng tính thuế riêng, chẳng hạn như: Thuế tiêu thụ đặc biệt có đối tượng tính thuế là hàng hoá, dịch vụ tính thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng có đối tượng tính thuế là hàng hoá, dịch vụ tính thuế giá trị gia tăng, thuế sử dụng đất nông nghiệp có đối tượng tính thuế là diện tích đất nông nghiệp, còn thuế thu nhập cá nhân có đối tượng tính thuế là thu nhập mà cá nhân kiếm được

Đối tượng tính thuế thu nhập cá nhân thường bao gồm:

 Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

 Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thù lao nhận được dưới các hình thức; tiền thưởng, tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức khác; các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền;

 Thu nhập từ đầu tư vốn: Tiền lãi cho vay; lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập lãi trái phiếu Chính phủ

 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác

 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền

sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản

 Thu nhập từ trúng thưởng: Trúng thưởng xổ số; trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại; trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác

 Thu nhập từ bản quyền: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công nghệ

 Thu nhập từ nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng

Trang 36

- Giá tính thuế

Trong việc xác định cơ sở thuế, giá tính thuế cũng được quy định cụ thể Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các khoản thuế đều được thu bằng tiền Vì vậy, để xác định được số thuế phải nộp, hàng hoá, dịch vụ chịu thuế phải được tính thành tiền Giá tính thuế được quy định để xác định giá trị tính thuế của hàng hoá, dịch vụ Thông thường giá tính thuế được quy định là giá chưa có loại thuế đó của hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, tùy theo tính chất của từng loại thuế mà trong giá tính thuế của loại này có thuế của loại kia, hoặc giá tính thuế là giá bán ra hay giá mua vào, hoặc có kèm theo các khoản phụ thu được hưởng hay không Giá tính thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế chưa có thuế thu nhập cá nhân, nhưng đôi khi, là thu nhập đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp như trường hợp tiền thưởng của cá nhân làm công ăn lương được doanh nghiệp chi từ nguồn quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng trích lập từ thu nhập sau khi đã nộp

thuế thu nhập doanh nghiệp

- Các khoản giảm trừ:

Để xác định thu nhập chịu thuế, giá tính thuế, chính sách thuế TNCN quy định những khoản giảm trừ, có thể gắn với ngưỡng khởi điểm chịu thuế như giảm trừ gia cảnh, giảm trừ cho người phụ thuộc, hoặc gắn với chính sách xã hội như giảm trừ cho mục đích nhân đạo, từ thiện, khuyến học…

 Giảm trừ gia cảnh: là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của người chịu thuế và người phụ thuộc Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng như con cái, cha mẹ theo quy định cụ thể của pháp luật từng quốc gia/lãnh thổ

 Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học: Đóng

góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học

d) Thuế suất hay định suất thuế

Thuế suất/định suất thuế là linh hồn của một loại thuế, vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước Nó cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Việc xác định thuế suất hay định suất thuế trong một loại thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích chính đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng và tích lũy trong việc sử dụng công cụ thuế

Trang 37

Tuỳ theo quy định của từng loại thuế mà người ta áp dụng các loại thuế suất khác nhau Trong thực tế có nhiều loại thuế suất, nhưng nhìn chung có các loại sau:

- Thuế suất thống nhất: là loại thuế suất quy định mức nộp thuế như nhau cho tất

cả đối tượng tính thuế Loại thuế suất này thường gặp ở thuế thân, nhưng hiện nay loại thuế này ít được áp dụng

- Thuế suất phân biệt: là loại thuế suất quy định các mức khác nhau cho từng đối tượng nộp thuế và đối tượng tính thuế tuỳ theo định hướng phát triển kinh tế của mỗi nước

- Thuế suất đơn vị (hay còn gọi là định suất) là một loại thuế suất được quy định theo đơn vị vật lý của đối tượng tính thuế Loại thuế này không phụ thuộc vào giá trị của đối tượng chịu thuế

- Thuế suất theo giá trị là loại thuế suất quy định tỷ lệ phần trăm huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng tính thuế Thuế suất theo giá trị có các dạng cụ thể sau:

+ Thuế suất theo tỷ lệ là loại thuế suất áp dụng một tỷ lệ (%) cố định không thay đổi trong mọi trường hợp tăng giảm của cơ sở tính thuế

+ Thuế suất luỹ tiến là loại thuế mà mức thuế tăng theo mức tăng của cơ sở tính thuế Thuế suất luỹ tiến bao gồm thuế suất luỹ tiến toàn phần và thuế suất luỹ tiến từng phần

Thuế suất luỹ tiến từng phần: áp dụng với mức thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở đánh thuế Với các sắc thuế áp dụng loại thuế suất này trong biểu thuế suất, cơ sở tính thuế được chia thành nhiều bậc theo mức độ tăng dần Ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế đó là một mức thuế suất Số thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp bằng tổng số thuế tính theo từng bậc Việc tính toán và kiểm tra loại thuế này nhìn chung khá phức tạp, nhưng nó đảm bảo số thuế phải nộp tăng từ từ, không bị đột biến cùng tốc độ tăng của cơ sở tính thuế Do đó, đảm bảo được tính công bằng theo chiều dọc và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập Chính vì vậy, thuế thu nhập cá nhân đang được áp dụng trên thế giới thường là loại thuế áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần

Thuế suất luỹ tiến toàn phần: Biểu thuế suất cũng chia làm nhiều bậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất, nhưng toàn bộ cơ sở đánh thuế được áp dụng một mức thuế suất chung tương ứng Thuế suất luỹ tiến toàn phần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng Tuy vậy, nó cũng có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến về tổng số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế ở những mức thu nhập cận biên giữa hai bậc thuế Mặc dù gíá trị của cơ sở đánh thuế thay đổi không

Trang 38

đáng kể, nhưng sự thay đổi về số thuế phải nộp rất đáng kể do phải áp dụng các mức thuế khác nhau trên toàn bộ cơ sở đánh thuế Chính vì vậy, áp dụng thuế suất luỹ tiến toàn phần dễ dẫn đến sự phản ứng từ phía các đối tượng nộp thuế và như vậy tất yếu làm giảm vai trò của thuế Hiện nay, thuế suất luỹ tiến toàn phần rất ít được áp dụng trên thế giới

+ Thuế suất luỹ thoái: là loại thuế suất có tính chất ngược lại với thuế suất luỹ tiến, tức là mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần Ở một số nước trên thế giới, để khuyến khích các công ty vừa và nhỏ phát triển thành những công ty có quy mô lớn hơn, người ta đã áp dụng thuế suất luỹ thoái như ở Mỹ, áp dụng theo luật thuế thu nhập công ty năm 1991 Nói chung, thuế suất luỹ thoái là loại thuế suất không được áp dụng phổ biến

e) Miễn, giảm thuế

Miễn giảm thuế là một yếu tố ngoại lệ được quy định trong luật thuế Chế độ miễn, giảm thuế thường được viết thành một chương riêng của luật, quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế cho Nhà nước, gọi là miễn thuế hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó, gọi là giảm thuế

Thông thường, những lý do để người nộp thuế được Nhà nước cho phép miễn thuế, giảm thuế quy định trong luật thuế là:

- Do nguyên nhân khách quan mà người nộp thuế gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc bị giảm sút thu nhập

- Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế của Nhà nước như: khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn

Tuy nhiên, thực hiện việc miễn giảm thuế cũng có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập chính sách thuế, không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, việc miễn giảm thuế là phương tiện quan trọng để ưu đãi, khuyến khích phát triển sản xuất trong nước khi các rào cản thuế quan bị bãi bỏ Tuy nhiên, việc miễn giảm thuế nếu không đúng thông lệ quốc tế, được các tổ chức kinh tế quốc tế chấp thuận, sẽ được xem là một khoản trợ cấp và sẽ bị áp

Trang 39

dụng các biện pháp đối kháng hoặc trả đũa

f) Chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế

Chế độ kê khai thuế quy định trong Luật thuế thể hiện các quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc chấp hành sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ và cung cấp tài liệu, sổ sách kế toán, chứng từ hoá đơn liên quan đến việc tính và thu thuế Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế mà Luật thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy định nội dung pháp lý về nghĩa vụ kê khai của đối tượng nộp thuế

Chế độ nộp thuế bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế thực hiện với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Hành vi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế được thể hiện ở việc nộp đủ và đúng thời hạn số thuế phải nộp Thời hạn nộp thuế quy định trong các Luật thuế và các văn bản pháp luật thuế được xác định phù hợp với nội dung, tính chất của từng loại thuế

Chế độ thu thuế là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong Luật thuế có các quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nước Nhà nước trong việc thực hiện hoạt động thu thuế như cơ quan thuế, cơ quan hải quan, kho bạc Nhà nước Ngoài ra, trong Luật thuế còn quy định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, cơ quan Nhà nước có liên quan trong quá trình thực hiện việc thu thuế hoặc trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức và cá nhân thực hiện ủy nhiệm việc thu thuế

g) Chế độ xử lý vi phạm và khen thưởng

Ðể đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện một cách triệt để, tập trung, đúng,

đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào ngân sách Nhà nước, Luật thuế quy định các biện pháp chế tài của Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân vi phạm Luật thuế, khen thưởng đối với các thể nhân, pháp nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thu thuế

Các biện pháp chế tài được áp dụng để đảm bảo sự tuân thủ Luật thuế bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp

Luật thuế sẽ quy định cụ thể cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong quá trình áp dụng Luật thuế

Ở nhiều nước, các quy phạm mang tính quản lý thuế như: chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế, chế độ xử lý vi phạm và khen thưởng được quy định thống nhất trong luật quản lý thuế, tránh sự chồng chéo và/hoặc áp dụng không nhất quán về mặt chính sách giữa các luật thuế

Trang 40

2.1.2 Quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân

2.1.2.1 Quan niệm về QLNN đối với thuế thu nhập cá nhân

a) Quản lý nhà nước đối với thuế

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp, bao gồm: hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp Trong đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp, sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước tiến hành để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước

Quản lý thuế là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế được thực hiện thông qua việc xây dựng chính sách thuế và quản lý thu thuế; xây dựng chiến lược quản lý thuế từng kỳ; tổ chức thực thi pháp luật thuế, điều hành, tác động và giám sát nhằm đảm bảo NNT chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật

Quản lý nhà nước đối với thuế là quá trình tác động có mục đích, có ý thức của nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức, điều hành các hoạt động, động viên nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước, thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong từng thời kỳ; hướng dẫn người dân thực hiện đúng các quy định pháp luật về thuế, phí, lệ phí

và các khoản thu khác (gọi chung là thuế) vào ngân sách nhà nước; phối hợp với tổ chức,

cá nhân trong xã hội thực hiện các quy định pháp luật về thuế

Nội dung quản lý nhà nước đối với thuế bao gồm: (1) Hoạch định chính sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; (2) Xây dựng tổ chức bộ máy ngành Thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý thuế; (3) Xây dựng quy trình tổ chức, quản lý thu thuế bao gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, thu thập thông tin từ đối tượng nộp thuế, xác định mực thu, tổ chức thu; (4) Thanh tra, kiểm tra thuế

Khái niệm nêu trên cho thấy, trong quản lý nhà nước đối với thuế:

Chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, trong đó cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống các cơ quan chuyên môn

Ngày đăng: 28/05/2014, 14:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 2.1: MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG NHẬN THỨC NNT - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
SƠ ĐỒ 2.1 MÔ HÌNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG NHẬN THỨC NNT (Trang 59)
Sơ đồ 2.1. Quy trình quản lý rủi ro tuân thủ  Nguồn: Quản lý rủi ro tuân thủ, OECD - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1. Quy trình quản lý rủi ro tuân thủ Nguồn: Quản lý rủi ro tuân thủ, OECD (Trang 64)
Hình 3.2. Lũy tiến thuế TNCN (tất cả các nguồn thu nhập) - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 3.2. Lũy tiến thuế TNCN (tất cả các nguồn thu nhập) (Trang 89)
Sơ đồ 3.1. Tổ chức bộ máy quản lý thuế - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Sơ đồ 3.1. Tổ chức bộ máy quản lý thuế (Trang 90)
Sơ đồ 3.2. Mô hình hoạt động quản lý thu thuế hiện tại - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Sơ đồ 3.2. Mô hình hoạt động quản lý thu thuế hiện tại (Trang 97)
Sơ đồ 3.3: Quy trình vận hành Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại địa phương - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Sơ đồ 3.3 Quy trình vận hành Quản lý thuế thu nhập cá nhân tại địa phương (Trang 99)
Hình 3.3. Số thu về thuế thu nhập cá nhân từ 1991 đến 2012 - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 3.3. Số thu về thuế thu nhập cá nhân từ 1991 đến 2012 (Trang 106)
Hình 3.4. So sánh mức độ thuận lợi về thuế của Việt Nam với - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 3.4. So sánh mức độ thuận lợi về thuế của Việt Nam với (Trang 112)
Hình 3.9. Ảnh hưởng của chính sách thuế hiện hành đối với doanh nghiệp - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 3.9. Ảnh hưởng của chính sách thuế hiện hành đối với doanh nghiệp (Trang 121)
Hình 1. Thuế suất bình quân đối với NNT không có NPT - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 1. Thuế suất bình quân đối với NNT không có NPT (Trang 202)
Hình 4. Chênh lệch thuế suất của NNT không có NPT từ 2 kỳ sửa luật - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 4. Chênh lệch thuế suất của NNT không có NPT từ 2 kỳ sửa luật (Trang 207)
Hình 3. Thuế suất bình quân khi NNT không có NPT ở 3 kỳ sửa luật - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 3. Thuế suất bình quân khi NNT không có NPT ở 3 kỳ sửa luật (Trang 207)
Hình 5. Biểu đồ thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2012 - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 5. Biểu đồ thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2012 (Trang 209)
Hình 6. Thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2017 - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 6. Thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2017 (Trang 210)
Hình 7. Thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2022 - Luận án Tiến Sĩ Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Hình 7. Thuế suất bình quân 6 đối tượng năm 2022 (Trang 211)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w