Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án về động vật nguy cấp, quý, h
Trang 1PHẠM HOÀNG LAN PHƯƠNG
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC
TIỄN TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2023
Trang 2PHẠM HOÀNG LAN PHƯƠNG
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM TỪ THỰC
TIỄN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS TS Nguyễn Đức Hạnh
Hà Nội – 2023
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Phạm Hoàng Lan Phương
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 9
1.1.1 Khái niệm động vật nguy cấp, quý, hiếm 9
1.1.2 Khái niệm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 10
1.1.3 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 16
1.1.4 Đặc điểm kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 18
1.1.5 Ý nghĩa kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 19
1.2 Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 20
Trang 51.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố 21
1.3.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự 22
1.3.3 Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra 23
1.3.4 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế 27
1.3.5 Kiểm sát việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra 28
1.3.6 Kiểm sát việc kết thúc điều tra 29
1.3.7 Kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và xử lý vi phạm 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 33
2.1 Khái quát tình hình động vật nguy cấp, quý, hiếm và tội phạm liên quan đến lĩnh vực này tại Việt Nam 33
2.1.1 Tình hình động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta 33
2.1.2 Tình hình tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm ở nước ta 34
2.2 Những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong công tác kiểm sát điều tra vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam 36
2.2.1 Những kết quả đạt được 36
2.2.2 Hạn chế, bất cập và nguyên nhân 42
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 56
Trang 63.2 Tăng cường công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật và nâng cao nhận thức pháp luật 61 3.3 Tăng cường phối hợp với các cơ quan khác 64 3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp về hình sự 67 3.5 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ kiểm sát 68 3.6 Tăng cường bảo đảm cơ sở vật chất, điều kiện và phương tiện làm việc trong ngành Kiểm sát nhân dân 70 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 72 KẾT LUẬN 73
Trang 7Chữ viết tắt Nghĩa của từ
thôn
Trang 8Bảng 2.1: Thống kê số vụ án/bị can các Viện kiểm sát nhân dân trên toàn
quốc đã thụ lý kiểm sát điều tra tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Từ năm 2018 đến năm 2021) 35
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm theo vùng 37 Biểu đồ 2.2: Giai đoạn truy tố năm 2018-2021 40
Trang 92021, theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Việt Nam có 75 loài thú, 57 loài chim, 75 loài bò sát, 53 loài lưỡng cư và 136 loài cá được liệt
kê là các loài bị đe doạ (nghĩa là thuộc mức cực kỳ nguy cấp, nguy cấp và sắp nguy cấp) [17] Một phần nguyên nhân đến từ thực trạng khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, buôn bán trái phép các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng như các hoạt động sản xuất kinh tế khác phục vụ cho nhu cầu ngày càng gia tăng của con người, ảnh hưởng không nhỏ đến sự an toàn của hệ sinh
thái động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam
Đối mặt với nguy cơ đó, Việt Nam đã tham gia vào các Điều ước quốc tế cũng như xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh việc quản lý và xử lý hành vi vi phạm trong việc bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhằm cụ thể hóa chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng
về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” được nêu trong Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013,
Trang 10trong đó có Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Kể từ khi Bộ luật hình sự có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 đến hết năm 2020, đã có 374 vụ
án về động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm được khởi tố trên toàn lãnh thổ Việt Nam, riêng năm 2020 là 111 vụ [21], cho thấy nhiều chuyển biến tích cực trong công tác xử lý tội phạm về động vật hoang dã của nước ta Tuy nhiên, so với số lượng vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực này trên thực tế thì tỷ lệ các vụ án được khởi tố vẫn còn thấp, nhiều vụ việc còn gặp khó khăn ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến quá trình giải quyết vụ án
Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án về động vật nguy cấp, quý, hiếm, trong đó chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn điều tra kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi kết thúc giai đoạn điều tra, góp phần đảm bảo việc xử lý tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, trước tình trạng ngày càng gia tăng cả
về số lượng lẫn tính chất phức tạp của tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm, các quy định của pháp luật liên quan đến loại tội này còn nhiều bất cập như về công tác giám định, xử lý vật chứng… đã khiến công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra tội phạm này trên thực tiễn vẫn còn những thiếu sót, làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các vụ án, một số
vi phạm không được phát hiện triệt để, việc ban hành kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục, sửa chữa không được chính xác, nhanh chóng, kịp thời
Về mặt lý luận, đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm sát điều tra đối với các vụ án liên quan đến động vật nguy cấp, quý, hiếm mà chủ yếu là nghiên cứu chung về thực hành quyền công tố đối với
Trang 11loại án này hoặc nghiên cứu về kiểm sát điều tra đối với các tội phạm nói chung hay các tội phạm khác,do đó rất cần có công trình nghiên cứu riêng từ góc độ kiểm sát điều tra và gắn với loại tội phạm cụ thể như tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Kiểm sát điều tra vụ án Vi
phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, liên quan đến công tác kiểm sát điều tra các vụ án
Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm có thể kể đến một
số công trình tiêu biểu mang tính lý luận về tố tụng hình sự và những vấn đề
cụ thể gắn với tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm như:
*Sách tham khảo, giáo trình
- GS TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần các tội phạm), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội;
- TS Phạm Mạnh Hùng (Chủ biên) (2019), Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội;
- Trường Đại học kiểm sát Hà Nội (2017), Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ
kiểm sát Tập 2;
- PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang (2019), Báo chí điều tra về buôn
bán trái pháp luật động vật hoang dã, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội
*Công trình nghiên cứu và tham luận của chuyên gia
- Trần Thị Hải (2018), Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy
cấp, quý, hiếm, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội;
Trang 12- Ngô Trọng Mạnh (2018), Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động
vật nguy cấp, quý, hiếm theo Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;
- PGS TS Nguyễn Đức Hạnh (2018), Tham luận “Những khó khăn, vướng
mắc trong công tác truy tố các vụ án về động vật hoang dã, quý, hiếm” tại Hội
thảo nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về động vật hoang dã, quý, hiếm ở Việt Nam do Ủy ban Tư pháp của Quốc Hội và
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đồng phối hợp tổ chức tại Hải Phòng;
- TS Phạm Minh Tuyên (2014), Tham luận “Tội vi phạm các quy định
về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo
vệ - Thực tiễn xét xử ở Việt Nam” tại Hội thảo về tăng cường công tác đấu
tranh với các tội phạm về động vật hoang dã do Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV) tổ chức tại Hà Nội;
- Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2020), Sổ tay hướng dẫn Kiểm sát
viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án liên quan đến động vật hoang dã, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội
*Bài viết, bài báo khoa học
- PGS TS Nguyễn Đức Hạnh (2019), “Quản lý và xử lý vật chứng là
động vật hoang dã trong các vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án(23);
- PGS TS Nguyễn Đức Hạnh (2020), “Impacts of Wildlife trade and
sustainable development in Vietnam”, Tạp chí EDP Sciences (157);
- PGS TS Nguyễn Đức Hạnh (2020), “International cooperation and
mutual legal assistance in criminal matters in handling with transnational wildlife trafficking crimes in Vietnam”, Tạp chí EDP Sciences (164);
Trang 13- PGS TS Nguyễn Đức Hạnh (2020), “Legal framework for wildlife
farming benefits species conservation and preventing wildlife crimes in Vietnam”, Tạp chí EDP Sciences (243);
- ThS Lê Văn Sua (2020), “Bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nhìn từ
góc độ pháp luật hình sự”, Tạp chí Môi trường & Xã hội (tháng 3);
- ThS Phạm Quỳnh Nga (2020), Xác định trách nhiệm hình sự của pháp
nhân thương mại phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, https://kiemsat.vn/xac-dinh-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap- nhan- thuong-mai-pham-toi-vi-pham-quy-dinh-ve-bao-ve-dong-vat-nguy-cap-quy-hiem-
56557.html
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm ở các góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác Kiểm sát điều tra các vụ án Vi phạm quy định về bảo
vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm từ thực tiễn tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứumột số vấn đề lý luận, khảo sát thực tiễn nhằm phát hiện những bất cập trong quy định của pháp luật, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện các quy định này, cũng như nguyên nhân của nó để từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra các vụ
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các quy định pháp luật về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm;
Trang 14- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm;
- Khảo sát thực tiễn, phân tích thực trạng của công tác kiểm sát điều tra
vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khó khăn, vướng mắc gặp phải và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó;
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như việc áp dụng quy định của pháp luật đối với công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Bộ luật tố tụng hình sự quy định có rất nhiều các hoạt động điều tra khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ đề cập đến nội dung kiểm sát điều tra đối với những biện pháp điều tra cơ bản thường được áp dụng đối với các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác kiểm sát điều tra các vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 trên lãnh thổ Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Các số liệu được luận văn khảo sát và xem xét thực tiễn trong vòng 4 năm từ năm 2018 đến năm 2021
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch, quy nạp… sẽ được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng hợp… được sử dụng trong Chương 2 và 3 khi nghiên cứu về thực tiễn kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tại các Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên toàn quốc trong giai đoạn năm 2018 - 2021, trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn vì đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm Luận văn góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận về công tác kiểm sát điều tra của ngành Kiểm sát, đồng thời còn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo phục vụ cho
Trang 16việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập của các nhà nghiên cứu lập pháp, các
cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc ngành Luật
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được áp dụng
trong thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm
sát điều tra vụ án hình sự nói chung và vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động
vật nguy cấp, quý, hiếm nói riêng tại Viện kiểm sát nhân dân các cấp trên cả
nước
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm
quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Chương 2: Thực tiễn Kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo
vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra vụ
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của công tác kiểm sát điều tra vụ
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.1.1 Khái niệm động vật nguy cấp, quý, hiếm
Động vật là những sinh vật đa bào, nhân chuẩn thuộc giới Động vật.Hiện trên toàn cầu có nhiều loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, phần lớn do
bị con người săn bắt quá mức hoặc phá hoại môi trường sống Một số loài khác có nguy cơ tuyệt chủng cục bộ, nghĩa là chúng trở nên nguy cấp, quý, hiếm ở một địa phương này nhưng lại có số lượng lớn ở địa phương khác Trong số các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam, không có văn bản nào đưa ra định nghĩa cụ thể cho khái niệm “động vật nguy cấp, quý, hiếm” Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính Phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm có quy định: “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là
loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường,
số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định” [5], tuy nhiên văn bản này đã hết hiệu lực vào ngày 10/3/2019
Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội Vi phạm quy định
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật hình sự (Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP) không đưa ra định nghĩa mà chỉ xác định loài nào được
coi là động vật nguy cấp, quý, hiếm, theo đó, “động vật nguy cấp, quý, hiếm
quy định tại Điều 244 của Bộ luật Hình sự là các loài động vật thuộc Danh
Trang 18mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” [11]
Như vậy có thể hiểu, động vật nguy cấp, quý, hiếm là loài động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Việt Nam, thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
1.1.2 Khái niệm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Pháp luật hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự
Kể từ khi Việt Nam gia nhập Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (Công ước CITES) vào năm 1994 đến nay, nước ta đã rất tích cực trong việc xây dựng và ban hành các văn bản luật và dưới luật khác nhau để bảo vệ và ngăn chặn hành vi tàng trữ, buôn bán, vận chuyển động vật nguy cấp, quý, hiếm Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã dành riêng một điều luật (Điều 244) nhằm hình sự hóa hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Trang 19Tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước CITES, hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của loài động vật đó, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, làm mất cân bằng hệ sinh thái cũng như đa dạng sinh học của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm trong tự nhiên
Để xem xét một hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của một người có phải là hành vi phạm tội hay không, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải đánh giá xem hành vi đó có thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Điều 244 BLHS hay không thông qua các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, bao gồm dấu hiệu khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể
1.1.2.1 Khách thể
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi
sự xâm hại của tội phạm và bị tội phạm xâm hại đến [1, tr 82] Khách thể của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là quan hệ xã hội về chế độ quản lý của Nhà nước trong việc bảo vệ hệ cân bằng sinh thái,
đa dạng sinh học của các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước CITES nói chung và bản thân các loài động vật đó nói riêng
Trang 20Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm
bị hành vi phạm tội tác động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [10, tr 110] Như vậy, đối tượng tác động trực tiếp của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là các loài động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB theo quy định của Chính phủ hoặc Phụ lục I Công ước CITES Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được quy định trong Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ về Tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ-CP) Danh mục này sau đó được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính Phủ (Nghị định số 64/2019/NĐ-CP)
Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được quy định trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính Phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Nghị định số 06/2019/NĐ-CP), sau đó được thay thế tại Nghị định số 84/2021/NĐ-
CP ngày 22/9/2021 của Chính Phủ (Nghị định số 84/2021/NĐ-CP) Tuy nhiên, không phải loài nào thuộc danh mục này cũng là đối tượng tác động của tội phạm này mà chỉ các loài thuộc nhóm IB của Danh mục này, tức là các loài động vật rừng đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và các loài thuộc Phụ lục I CITES phân bố tự nhiên tại Việt Nam
Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, hay còn gọi là Công ước CITES, là một hiệp ước quốc tế đa phương được ký kết vào năm 1973 với mục tiêu bảo vệ các loài động, thực vật nguy
Trang 21cấp thông qua việc đảm bảo rằng các hoạt động thương mại quốc tế đối với mẫu vật của các loài động, thực vật này không làm đe dọa đến sự sống còn của loài đó trong tự nhiên Công ước CITES bao gồm ba phụ lục, lần lượt là Phụ lục I, II và III, trong đó Phụ lục I liệt kê những loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng, bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển và quá cảnh mẫu vật khai thác từ tự nhiên vì mục đích thương mại [6] Chỉ những loài thuộc Phụ lục I của Công ước CITES mới là đối tượng tác động của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.1.2.2 Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, đó
là hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội, hậu quả thiệt hại cho
xã hội do hành vi khách quan gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả, và các điều kiện bên ngoài khác gắn liền với hành vi khách quan như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm phạm tội… [12, tr 115]
Đối với hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội, theo quy định của Điều 244 BLHS, người phạm tội có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan sau:
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES mà không thuộc loài trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07
cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác;
Trang 22- Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống của từ 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 cá thể đến 15 cá thể động vật lớp khác thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục
I Công ước CITES mà không thuộc loài trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Ngà voi có khối lượng từ 02 kilôgam đến dưới 20 kilôgam; sừng tê giác có khối lượng từ 50 gam đến dưới 01 kilôgam;
- Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoặc tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật có số lượng dưới mức quy định nêu trên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trên hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Hậu quả của tội phạm này là sự đe dọa đến đa dạng sinh học và sự phát triển bình thường của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm vốn đã đứng trên
bờ vực tuyệt chủng Điều 244 BLHS không mô tả hậu quả của tội phạm này nhưng đã cụ thể hóa bằng các tình tiết định lượng như khối lượng, số lượng cá thể hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống Hậu quả của tội phạm này phải trực tiếp do các hành vi khách quan nêu trên gây ra
Một số biểu hiện bên ngoài khác của mặt khách quan được quy định là
dấu hiệu định khung tăng nặng của tội này như: “Sử dụng công cụ hoặc
phương tiện săn bắt bị cấm”, “Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm”, “Buôn bán, vận chuyển qua biên giới”…
1.1.2.3 Chủ thể
Chủ thể của tội phạm là người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt những điều
Trang 23kiện nhất định do luật hình sự quy định [1, tr 116].Như vậy, chủ thể của tội phạm này phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tức là không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, và phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Khoản 1 Điều 244 BLHS quy định cấu thành cơ bản của tội này có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, do đó người thực hiện hành vi chỉ cần từ đủ 16 tuổi trở lên là phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này
Theo Điều 76 BLHS thì tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nằm trong phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, do đó pháp nhân thương mại cũng là một chủ thể của tội phạm này
1.1.2.4 Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi ấy, biểu hiện ở dấu hiệu lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội [1, tr 130].Người thực hiện hành vi Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm phải có lỗi cố ý trực tiếp, tức là người đó nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra
1.1.2.5 So sánh tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã
Tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm và tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã ở BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 được quy định chung trong một điều luật do có khách thể đều
là động vật, tuy nhiên đến BLHS năm 2015 chúng lại được các nhà làm luật tách thành hai điều luật khác nhau ở hai chương khác nhau: Tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã nằm ở Điều 234 thuộc Chương XVIII Các
Trang 24tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, còn tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là Điều 244 thuộc Chương XIX Các tội phạm
về môi trường Sở dĩ hai tội này tuy cùng chung tính chất nhưng lại được quy định ở hai chương khác nhau là do Điều 234 hành vi phạm tội cần có dấu hiệu định lượng về mặt trị giá còn ở Điều 244 thì không cần, do đó Điều 234 được xếp vào Chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Ngoài ra, sự khác biệt rõ rệt nhất của hai tội này nằm ở khách thể, nếu như Điều 244 có khách thể là động vật nguy cấp quý, hiếm được quy định tại Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước CITES thì Điều 234 có khách thể là động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước CITES hoặc động vật hoang dã khác
1.1.3 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Vụ án hình sự là vụ án được thụ lý và giải quyết theo thủ tục do Bộ luật
Tố tụng hình sự quy định Vụ án hình sự phát sinh khi có quyết định khởi tố
vụ án và kết thúc khi vụ án bị đình chỉ hoặc khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật [9]
Căn cứ vào Hiến pháp năm 1959, vào ngày 15/7/1960 Quốc hội khóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự chính thức ra đời của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), trong đó quy định rõ về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND Qua các lần sửa đổi Hiến pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp vẫn được khẳng định là một trong hai chức năng của VKSND tại Điều 107 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013, theo đó, “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,
Trang 25kiểm sát hoạt động tư pháp”[13] Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động
tư pháp để bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Phạm vi của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp rất rộng, được thể hiện trong khái niệm của hoạt động này tại Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2014: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của
Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay
từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [15] Như
vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, mà cụ thể hơn là trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một phần của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát (VKS)
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự là hoạt động của VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý do luật định đảm bảo tính hợp pháp đối với các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự
Như vậy ta có thể hiểu khái niệm công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là: Kiểm sát điều tra
vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là hoạt động
Trang 26của VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý do luật định đảm bảo tính hợp pháp đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra), các chủ thể có thẩm quyền điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự
1.1.4 Đặc điểm kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm có một số đặc điểm sau đây:
- Là hoạt động chỉ có thể được thực hiện bởi VKSND theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021 (BLTTHS) Trong quá trình kiểm sát, Kiểm sát viên chỉ được áp dụng các biện pháp kiểm sát quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014 và BLTTHS;
- Luôn gắn với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng như phòng ngừa, đấu tranh và
xử lý tội phạm về động vật nguy cấp, quý, hiếm, được nêu trong các văn bản như Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Kết luận số 56-KL/TW ngày 23/8/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI, Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 23/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách quản lý động vật hoang dã…
- Bắt đầu ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong suốt quá trình khởi tố, điều tra cho đến khi kết thúc
Trang 27điều tra vụ án hình sự Việc kết thúc điều tra vụ án có thể bằng Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra vụ án Xuyên suốt quá trình này, Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát điều tra bám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra (CQĐT), thể hiện mối quan hệ phối hợp và chế ước với cơ quan này;
- Do có đối tượng tác động đều là động vật nên tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm thường dễ bị nhầm lẫn với tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã quy định tại Điều 234 BLHS;
- Luôn kết hợp chặt chẽ với chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, bởi lẽ mục đích của cả chức năng kiểm sát và thực hành quyền công tố đều là nhằm phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật hành vi phạm tội, bảo đảm việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử được đúng người, đúng tội, không oan sai, bỏ lọt tội phạm Nếu như thực hành quyền công tố là bảo đảm mọi tội phạm đều phải được xử lý thì kiểm sát điều tra đảm bảo việc xử lý tội phạm phải được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng luật định
1.1.5 Ý nghĩa kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Công tác kiểm sát điều tra vụ án nói chung và vụ án Vi phạm quy định
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nói riêng giúp bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm việc khởi tố, điều tra phải kịp thời, khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật Ngoài ra, nó cũng đảm bảo không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật
Trang 28Công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng, hoàn thiện cũng như tuyên truyền pháp luật Quy định của pháp luật có phù hợp hay không, có căn cứ hay không, có cần phải sửa đổi, bổ sung quy định nào không thì cần phải thông qua quá trình áp dụng pháp luật của những người tiến hành
tố tụng mà cụ thể là các Kiểm sát viên (KSV), Điều tra viên (ĐTV) Đồng thời, trong quá trình kiểm sát điều tra, VKS thường có kiến nghị phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật nói chung cũng như đối với vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm nói riêng, giúp tác động không nhỏ tới nhận thức pháp luật của người dân cũng như việc áp dụng pháp luật của người làm luật
Công tác kiểm sát điều tra cũng góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm vì nó góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời, giúp phát hiện các vi phạm, sai phạm để kịp thời yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm, sai phạm đó đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự tuân thủ đúng quy định pháp luật, được giải quyết đúng đắn nhanh chóng kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng đấu tranh với tội phạm
1.2 Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
Kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố đều là chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự, được thực hiện ngay từ quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự Tuy là hai chức năng khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ biện chứng hết sức mật thiết, gắn bó với nhau trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật tố tụng hình
sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong khi thực hành quyền
Trang 29công tố đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội thì kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo việc giải quyết nguồn tin cũng như điều tra vụ án hình sự được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, mọi vi phạm trong hoạt động điều tra phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Từ đó, không để người nào
bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật Hai chức năng kiểm sát điều tra và thực hành quyền công
tố khi kết hợp lại sẽ bổ sung cho nhau đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình
sự được thực hiện một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
1.3 Nội dung kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
1.3.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Do tính chất của hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm là cần phải tiến hành giám định cá thể, mẫu vật thu giữ được mới
có thể xác định có phạm tội hay không nên hầu hết các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đều sẽ được tiếp nhận và thụ lý trước hết dưới dạng tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố (gọi chung là nguồn tin về tội phạm) Nguồn tin về tội phạm có thể do VKS trực tiếp tiếp nhận hoặc do CQĐT tiếp nhận, VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại và giải quyết nguồn tin
về tội phạm của CQĐT đối với cả hai loại nguồn tin này
Trường hợp phát hiện nguồn tin về tội phạm được tiếp nhận, thụ lý không đúng thẩm quyền, VKS phải có văn bản yêu cầu cơ quan đã tiếp nhận, đang tiến hành kiểm tra, xác minh chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đồng thời thông báo đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện
Trang 30việc kiểm sát Nếu xảy ra tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc giải quyết được thực hiện theo quy định tại Điều 150 BLTTHS
Quá trình CQĐT tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, VKS phải kiểm sát chặt chẽ các biện pháp kiểm tra, xác minh mà CQĐT tiến hành, nếu thấy cần phải kiểm tra tính xác thực của nguồn tin về tội phạm; thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu, đồ vật để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 và Điều 441
Bộ luật Tố tụng hình sự, VKS phải kịp thời đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh [25]
1.3.2 Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự
Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ kết quả giải quyết của CQĐT theo quy định của pháp luật Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, nếu CQĐT không ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTHS thì VKS yêu cầu CQĐT ban hành một trong các quyết định đó
Sau khi CQĐT ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, VKS phải kiểm tra xem quyết định đó có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại Điều 157 BLTTHS không, nếu không thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi
tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đó không thực hiện thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự [25]
Tương tự, khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố
vụ án hình sự mà VKS thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm
rõ, nếu thấy không có căn cứ thì VKS ra văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không nhất trí thì VKS ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự
Trang 31Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn
có tội phạm khác chưa được khởi tố thì VKS yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không có căn cứ thì VKS yêu cầu CQĐThủy bỏ quyết định đó Nếu cơ quan đã ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự không hủy bỏ thì VKS trực tiếp ra quyết định hủy bỏ [25]
1.3.3 Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra
BLTTHS quy định hệ thống các biện pháp điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, định giá, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra… Có thể hiểu, biện pháp điều tra là hệ thống những thủ thuật có mối liên hệ với nhau
do Điều tra viên và những người theo luật định tiến hành nhằm phát hiện, thu thập theo trình tự của Tố tụng hình sự những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm [12, tr 13] Tuy nhiên, do đặc điểm, tính chất của tội phạm nên trong vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm không tiến hành biện pháp điều tra lấy lời khai người bị hại và khám nghiệm tử thi
1.3.3.1 Kiểm sát việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Hỏi cung và lấy lời khai là những biện pháp điều tra phổ biến, được tiến hành ở mọi vụ án, do người theo luật định tiến hành bằng cách thu thập, mô tả theo trình tự tố tụng hình sự lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
Trang 32quan về vụ án, hành vi phạm tội của bị can cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm
Nhìn chung, VKS có thể tiến hành kiểm sát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các hoạt động này Kiểm sát gián tiếp việc hỏi cung, lấy lời khai là công tác kiểm sát thông qua biên bản hỏi cung, lấy lời khai hoặc dữ liệu ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với hoạt động hỏi cung KSV cần kiểm sát chặt chẽ về mặt nội dung và hình thức biên bản
Trong trường hợp cần thiết, KSV có thể trực tiếp tham gia vào việc hỏi cung bị can của ĐTV hoặc tự mình tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trước khi tiến hành hỏi cung, lấy lời khai, KSV cần nghiên cứu kĩ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ việc, lên kế hoạchvà yêu cầu đối với việc hỏi cung, lấy lời khai Trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai, KSV phải thực hiện đúng các quy định tại các điều từ Điều 183 đến 188 BLTTHS
1.3.3.2 Kiểm sát việc trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản
Trưng cầu giám định là một biện pháp điều tra đóng vai trò hết sức quan trọng trong các vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm do muốn xác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không thì nhất thiết cần tiến hành trưng cầu giám định đối với cá thể động vật, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật thu giữ được xem có phải là động vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định hay không Thông thường, việc trưng cầu giám định mẫu vật động vật hoang dã được tiến hành ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm để làm căn cứ khởi tố vụ
án
KSV được phân công phải kiểm sát chặt chẽ nội dung và hình thức của quyết định trưng cầu giám định như căn cứ, đối tượng, phạm vi trưng cầu,
Trang 33thời hạn, và đặc biệt là tổ chức được trưng cầu giám định Đối với mẫu vật động vật hoang dã, theo Điều 34 Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, chỉ Cơ quan khoa học CITES Việt Nam có thẩm quyền tiến hành giám định đối với mẫu vật động vật hoang dã Theo Quyết định số 2249/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/6/2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNNPTNT) về Chỉ định Cơ quan Khoa học CITES Việt Nam, các cơ quan cụ thể có thẩm quyền giám định mẫu vật động vật hoang dã là: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Viện Nghiên cứu Hải sản [4]
Việc tiến hành giám định, thời hạn giám định và trả kết luận giám định cũng phải được KSV kiểm sát chặt chẽ đảm bảo theo đúng quy định tại Điều
208, Điều 209 BLTTHS năm 2015, Luật Giám định tư pháp năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 (Luật Giám định tư pháp năm 2012) và các quy định pháp luật có liên quan
Sau khi nhận được kết luận giám định, KSV cần đối chiếu với các yêu cầu giám định đã đề ra trong quyết định trưng cầu giám định, vật chứng, tài liệu có liên quan để đánh giá kết quả giám định, trường hợp cần thiết phải yêu cầu tổ chức tiến hành giám định giải thích kết luận giám định hoặc trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại
Kết quả của hoạt động yêu cầu định giá tài sản trong vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm tuy không phải là căn cứ để định tội nhưng KSV vẫn cần phải kiểm sát chặt chẽ tương tự như đối với hoạt động trưng cầu giám định
1.3.3.3 Kiểm sát việc khám xét, tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm
Khám xét là một biện pháp điều tra quan trọng trong quá trình điều tra
vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, chỉ được thực hiện sau khi đã khởi tố vụ án
Trang 34KSV phải đảm bảo thẩm quyền và trường hợp khám xét được thực hiện theo đúng quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 193 và Khoản 3 Điều 194 BLTTHS Việc khám xét phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành, trong trường hợp khẩn cấp thì có thể tiến hành khám xét luôn nhưng trong thời hạn
24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho VKS biết Khi khám xét, KSV phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc khám xét mà cụ thể là kiểm sát về thành phần tham gia, trình tự, thủ tục thực hiện, đối tượng khám xét, việc tạm giữ, thu giữ… đồ vật, tài liệu khi khám xét Trong trường hợp KSV không trực tiếp kiểm sát việc khám xét hoặc khám xét khẩn cấp, KSV cần kiểm sát thông qua biên bản khám xét, biên bản tạm giữ và các tài liệu có liên quan
Đối với hoạt động thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, ngay sau khi ĐTV thực hiện việc thu giữ, KSV phải yêu cầu ĐTV chuyển ngay biên bản thu giữ và các tài liệu liên quan cho KSV để kiểm sát về mặt hình thức, nội dung biên bản, trình tự, thủ tục thi hành lệnh thu giữ…
1.3.3.4 Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, KSV phải trực tiếp đến hiện trường và kiểm sát thành phần tham gia khám nghiệm, trình tự, thủ tục khám nghiệm hiện trường theo đúng quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều
201 BLTTHS KSV phải ghi chép các tình tiết, đặc điểm, vị trí của dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu quan trọng tại hiện trường để kiểm tra, đối chiếu với biên bản, sơ đồ khám nghiệm Trong quá trình kiểm sát, KSV cũng có thể
đề ra yêu cầu khám nghiệm bằng lời nói đối với ĐTV, giám định viên… đồng thời phải đảm bảo việc lập biên bản khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ, chụp ảnh, đo dạc, mô tả thực trạng hiện trường… của ĐTV, Cán bộ điều tra phải vẽ tại nơi khám nghiệm đúng theo thực trạng hiện trường và theo quy định của BLTTHS
Trang 351.3.3.5 Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói
Trong quá trình kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, nếu thấy việc thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói là cần thiết mà CQĐT chưa tiến hành thì VKS
ra văn bản yêu cầu CQĐT tiến hành KSV phải có mặt để kiểm sát thành phần tham gia, trình tự, thủ tục thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói theo đúng quy định tại BLTTHS và Quy chế số 111 Sau khi kết thúc các hoạt động này, KSV cần lưu ý kiểm sát nội dung và hình thức của biên bản thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, đảm bảo hoạt động này được phản ánh đầy đủ, chính xác vào biên bản
1.3.4 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp được quy định trong BLTTHS do các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, áp dụng đối với người bị buộc tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây cản trở cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và
để bảo đảm thi hành án hình sự [23, tr 57], bao gồm các biện pháp: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh
Tương tự, biện pháp cưỡng chế là biện pháp được quy định trong BLTTHS do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị buộc tội và một số người tham gia tố tụng khác để đảm bảo hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bao gồm các biện pháp: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản Công tác kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của CQĐT luôn được thực hiện song song với
Trang 36hoạt động thực hành quyền công tố, trong đó KSV cần phải kiểm sát chặt chẽ hình thức, nội dung của các lệnh, quyết định, văn bản đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế cũng như căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn… áp dụng Ngoài ra, KSV cũng cần kiểm sát việc CQĐT chuyển các lệnh, quyết định, văn bản đề nghị cũng như hồ sơ, tài liệu cần thiết đến VKS có đúng thời hạn theo quy định không
1.3.5 Kiểm sát việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra
Đối với các vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra là một vấn đề quan trọng và cần được kiểm sát một cách chặt chẽ do vật chứng trong các vụ án này thường là các cá thể (còn sống hoặc đã chết), bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật nguy cấp, quý, hiếm Về bản chất, động vật hoang
dã bị thu giữ là tài sản nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, do đó, để xử lý loại tài sản này, ngoài các quy định chuyên ngành về động vật hoang dã, KSV cũng cần nắm chắc các quy định về trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân
về tài sản tại Nghị định số 29/2018/NĐ-CP ngày 05/3/2018 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân và quy định về xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân tại Luật Quản lý sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn thi hành Nhìn chung, có ba phương án để xử lý vật chứng là cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống hoặc sản phẩm của động vật nguy cấp, quý, hiếm gồm giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành, tiêu hủy hoặc bán
Theo Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP, vật chứng là động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm còn sống thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để trả về tự nhiên, giao cho trung tâm cứu hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia hoặc giao
Trang 37cho cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật Vật chứng là cá thể động vật chết hoặc sản phẩm động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản thì tiêu hủy hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật Vật chứng khác thì tịch thu hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật [11]
1.3.6 Kiểm sát việc kết thúc điều tra
Việc điều tra kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra Lúc này, KSV phối hợp với ĐTV giao nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra vụ án và vật chứng (nếu có) theo đúng quy định tại Điều 232 hoặc Điều 238 BLTTHS KSV phải kiểm sát chặt chẽ nội dung, hình thức của bản kết luận điều tra
đề nghị truy tố, bản kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, bảo đảm có đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 132, khoản 2 Điều 230, khoản 3 Điều 232, Điều 233, Điều 234 BLTTHS
và được lập theo Mẫu số 227, 230, 233, 235, 236 ban hành kèm theo Thông tư
số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự Ngoài ra, KSV cũng cần kiểm sát việc CQĐT chấp hành thời hạn giao, gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho VKS, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ [27, tr 201]
Riêng đối với trường hợp đình chỉ điều tra, ngoài những mục trên, KSV còn cần phải kiểm sát chặt chẽ các trường hợp, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra, đảm bảo đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 230 và khoản 1 Điều 443 BLTTHS [27, tr 206]
Trang 381.3.7 Kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và xử lý vi phạm
VKSND thực hiện kiểm sát điều tra thông qua hai cách thức là kiểm sát trực tiếp và kiểm sát gián tiếp Trong đó, KSV kiểm sát trực tiếp các hoạt động điều tra bằng cách cùng với CQĐT tham gia các hoạt động điều tra theo quy định, trực tiếp chứng kiến quá trình thực hiện biện pháp điều tra của ĐTV như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, nhận biết giọng nói, đối chất, nhận dạng, khám xét hay trực tiếp giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra nhằm đảm bảo các hoạt động điều tra được tiến hành theo pháp luật tố tụng hình sự Ngoài ra, KSV còn thực hiện gián tiếp kiểm sát điều tra qua công tác kiểm sát hồ sơ; nghiên cứu, đánh giá kết quả của ĐTV thực hiện theo yêu cầu điều tra được đề ra, nếu cần thiết yêu cầu CQĐT tiếp tục cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra đạt hiệu quả cao
Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi phát hiện CQĐT vi phạm pháp luật, VKS có thể áp dụng các quyền năng pháp lýbao gồm quyền yêu cầu, quyền kiến nghị và quyền kháng nghị
VKS có quyền yêu cầu CQĐT thực hiện hoạt động điều tra theo đúng quy định của pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành hoạt động điều tra và thông báo kết quả cho VKSND; cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKSNDkiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong hoạt động điều tra; yêu cầu CQĐT khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra Quyền kháng nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành vi, quyết định của CQĐT có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân Khi nhận được kháng nghị của VKSND cơ quan, người có
Trang 39thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật
Tương tự, quyền kiến nghị được VKSND thực hiện khi phát hiện hành
vi, quyết định của CQĐT có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị nêu trên thì VKSND phải kiến nghị CQĐT khắc phục
vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị CQĐT khắc phục
và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Khi nhận được kiến nghị của VKSND,CQĐT liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật [15]
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật xoay quanh công tác kiểm sát điều tra vụ án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, đưa ra khái niệm về động vật nguy cấp, quý, hiếm, khái niệm của tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, trình bày dấu hiệu pháp lý của tội này; trình bày khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa cũng như nội dung của công tác kiểm sát điều tra vụ
án Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của VKSND như: Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp điều tra, kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, kiểm sát việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, kiểm sát việc kết thúc điều tra cũng như kiểm sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc
xử lý vi phạm