1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn toán lớp 6 theo bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

130 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế Một Số Hoạt Động Trải Nghiệm Trong Dạy Học Môn Toán Lớp 6 Theo Bộ Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống
Tác giả Đào Việt Đức
Người hướng dẫn TS. Đặng Thị Phương Thanh
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học môn Toán
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG --- ĐÀO VIỆT ĐỨC THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6 THEO BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

-

ĐÀO VIỆT ĐỨC

THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6 THEO BỘ SÁCH

KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học môn Toán

Phú Thọ - 2022

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

-

ĐÀO VIỆT ĐỨC

THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 6 THEO BỘ SÁCH

KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học môn Toán

Mã số: 8140111 Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Phương Thanh

Phú Thọ - 2022 LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

Tôi xin cam đoan, luận văn “Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Toán lớp 6 theo bộ sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống” là do tôi viết dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Thị Phương Thanh Tôi cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực

và không trùng lặp với các đề tài khác Luận văn chưa được công bố trên bất

kỳ tạp chí, phương tiện thông tin nào

Phú Thọ, tháng năm 2022

Tác giả luận văn

Đào Việt Đức

LỜI CẢM ƠN

Trang 5

Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Hùng Vương đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tác giả trong khóa học và thời gian hoàn thành luận văn

Trong thời gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài luận văn được

hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Đặng Thị Phương Thanh Tác giả xin trân trọng gửi tới cô giáo lời biết ơn chân thành và sâu

sắc

Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Ban giám hiệu, tổ Toán – Tin trường THCS Phú Hộ - Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài

Lời cảm ơn chân thành của tác giả xin dành cho gia đình, người thân, bạn bè và đặc biệt là lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán K5 trường Đại học Hùng Vương trong thời qua đã luôn đồng hành, động viên, cổ vũ, tiếp thêm động lực cho tác giả hoàn thành nhiệm vụ của mình

Tuy đã cố gắng, xong luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Phú Thọ, tháng … năm 2022

Tác giả

Đào Việt Đức

Trang 7

Phần 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết 29/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng

định: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới

nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống

và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”

Luật giáo dục 2019 cũng nêu rõ: “Hoạt động giáo dục được thực hiện

theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục

nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”

Thực hiện Nghị quyết 29/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng,

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 xác định nội dung cơ bản của chương trình Hoạt động trải nghiệm xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân HS với bản thân; giữa HS với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa HS với môi trường; giữa HS với nghề nghiệp Bốn nhóm HĐTN chính

gồm: hoạt động hướng vào bản thân, hoạt động hướng đến xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên và hoạt động hướng nghiệp Ngoài ra, nội dung

giáo dục địa phương là bắt buộc và cũng có thể tích hợp với các HĐTN

Thông tư 26/2020/TT-BGDĐT, thông tư 27/2020/TT-BGDĐT về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ

sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số

Trang 8

58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo nêu: Kết hợp giữa đánh giá bằng nhận xét và đánh giá bằng điểm

số đối với các môn học còn lại: Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ,

hành vi và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập của học sinh trong quá trình học tập môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo

dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT về ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, trong đó nhà trường được: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường theo chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong tổ chức các hoạt động giáo dục; Căn cứ chương trình các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông, khung kế hoạch thời gian năm học và điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ sở giáo dục, nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường để tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phổ thông; Các hoạt động giáo dục thực hiện theo kế hoạch giáo dục của nhà trường, được tổ chức trong và ngoài giờ lên lớp, trong và ngoài khuôn viên nhà trường, nhằm thực hiện chương trình các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Hoạt động giáo dục thông qua một số hình thức chủ yếu: học lí thuyết, làm bài tập, thực hành, thí nghiệm, thực hiện các dự án học tập, tham quan, cắm trại, đọc sách, sinh hoạt tập thể, câu lạc bộ, hoạt động phục vụ cộng đồng

Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 xác định “Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành phần cốt lõi là: năng lực tư duy

và lập luận toán học, năng lực mô hình hoa toán học, năng lực giải quyết vấn

Trang 9

đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để

HS được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn Giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với các môn học khác và giữa Toán học với đời sống thực tiễn” [1] Khi dạy toán, việc thiết kế và sử dụng các HĐTN sẽ giúp HS có cơ hội hiểu được lịch sử của toán học, sử dụng nó để giải quyết các vấn đề trong thế giới thực và hiểu

nó đến từ đâu, được phát triển từ thực tiễn và sau đó được phục vụ lại thực tiễn, giúp mọi người hiểu được giá trị của toán học trong cuộc sống hàng ngày HS được dạy khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo, giao tiếp và làm việc theo nhóm, độc lập và tự học, thông thạo ngôn ngữ, v.v thông qua các

HĐ học tập trải nghiệm

Các GV trung học hiện đang lên kế hoạch cho các cơ hội học tập trải nghiệm, chủ yếu ngoài giờ học đã lên lịch Nhà trường phối hợp với Hội phụ huynh tổ chức các chuyến đi trải nghiệm tại các làng nghề, khu du lịch sinh thái, bảo tàng,… cho HS trong năm học HĐTN mới nói chung, HĐTN môn Toán nói riêng chưa được quan tâm, đưa vào kế hoạch DH của cá nhân GV hay kế hoạch chung của nhà trường Kết quả là, khi học số học, HS thường cảm thấy chủ đề quá kỳ quặc, khô khan và không thú vị

Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ phê duyệt danh mục sách giáo khoa lớp

2 và lớp 6 sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông năm học 2021–2022, Quyết định này được công bố theo Quyết định số 886 / QĐ-UBND ngày 16 tháng 4 năm 2021 Trong đó, đối với danh mục sách giáo khoa lớp 6 sử dụng

bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành gồm: Ngữ văn, Toán, Giáo dục công dân, Tin học, Công nghệ, Khoa học tự nhiên, Nghệ thuật, Thể dục, HĐTN - Hướng nghiệp, Lịch sử và địa lý

Trang 10

Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Thiết kế một

số hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn toán lớp 6 theo bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống” để làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Lí luận

và Phương pháp DH môn Toán

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận HĐTN, trải nghiệm toán học, nội dung môn Toán lớp 6 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống và thực trạng tổ chức HĐTN toán học để thiết kế các HĐTN toán học cho HS lớp 6 nhằm nâng cao hiệu quả DH môn Toán

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

HĐTN trong chương trình Toán 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu

HĐTN Toán 6 gắn với bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành

4 Giả thuyết khoa học

Thiết kế một số HĐTN toán học trong dạy học môn Toán 6 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống góp phần nâng cao chất lượng DH nói chung và DH môn Toán nói riêng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu các một số khái niệm nền tảng như HĐ, trải nghiệm,

HĐTN toán học,

Nghiên cứu một số phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN toán học

 Nghiên cứu nội dung môn Toán lớp 6 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc

sống

Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở

Trang 11

 Nghiên cứu thực trạng tổ chức HĐTN toán học trong DH ở trường

THCS

 Đề xuất quy trình thực hiện HĐTN toán học

 Thiết kế minh hoạ một số HĐTN toán học

 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính hiệu quả của các HĐ đã thiết kế

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: Thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, các công trình nghiên cứu hoạt động trải nghiệm toán học có liên quan đến đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

 Phương pháp quan sát: Quan sát nhằm tìm hiểu đặc điểm tâm lí, lứa tuổi học sinh phổ thông

 Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm toán học ở trường phổ thông

 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về cách thức, nội dung nghiên cứu đề tài

 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhăm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng thống kê toán học để xử lí các số liệu điều tra thực trạng và thực

nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc của luận văn

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Thiết kế một số HĐTN toán học lớp 6 theo bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm đã manh nha xuất hiện từ thời

cổ đại và được dần dần phát triển bởi các nhà giáo dục trên thế giới, và được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới coi như triết lí giáo dục của quốc gia

Những tư tưởng đầu tiên về học thông qua trải nghiệm có thể kể đến: Khổng Tử (551 – 479 TCN) trong giáo dục “coi trọng thực hành và vận dụng”, J.A Cô-men-xki cho rằng “dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên”; Mác-Ăngghen và Lênin cùng quan điểm “giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất… Các quan điểm cho thấy vai trò của trải nghiệm đối với giáo dục được hiểu ở những góc độ khác nhau

Quan điểm học qua trải nghiệm chỉ trở thành tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi gắn liền với các nhà tâm lý học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers và các nhà giáo dục hiện đại sau này:

Theo John Dewey [5]:

- Lúc đầu sự truyền đạt kinh nghiệm giữa các thế hệ là trực tiếp Dần dần, việc học tập thông qua hình thức truyền đạt kinh nghiệm ngày càng khó khăn, trừ khi việc học tập ít phức tạp Những gì người lớn truyền đạt thường mang tính chất giáo điều, xa vời, dẫn tới sự dập khuôn máy móc ở người học Vì vậy, cần tổ chức các hoạt động nhằm hình thành kinh nghiệm cho người học

Trang 14

bằng những hoạt động có tổ chức, có kế hoạch, đó chính là hoạt động học tập trong nhà trường Ông là người đầu tiên đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”

- Quá trình sống và quá trình giáo dục không phải là hai quá trình mà là một quá trình Giáo dục tốt nhất phải là sự học tập trong cuộc sống Trong quá trình sống, con người không ngừng thu lượm kinh nghiệm và cải tổ kinh nghiệm Ông yêu cầu nhà trường phải là một dạng cuộc sống xã hội, trở thành một xã hội thu nhỏ, phải đem những thứ thiết yếu của xã hội vào quá trình giáo dục Ông là người đã tuyên ngôn về “học qua làm, học bắt đầu từ làm”, trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội Dạy học phải giao việc cho

HS làm, chứ không phải giao vấn đề cho HS

- Đối với người học/trẻ em, khả năng học hỏi từ kinh nghiệm hết sức có ý nghĩa, đồng thời khả năng lưu giữ kinh nghiệm sẽ giúp cho việc giải quyết khó khăn trong các tình huống mà đứa trẻ sẽ gặp trong cuộc sống sau này Điều đó có nghĩa là khả năng điều chỉnh hành vi trên cơ sở các kinh nghiệm trước đó và hình thành kinh nghiệm mới của trẻ rất quan trọng Do đó, mục đích giáo dục không phải là đào tạo người học, hay là làm cho người học phát triển phù hợp với một vài khuôn mẫu định sẵn xa vời, mà là giúp cho người học giải quyết những vấn đề được đặt ra do những tiếp xúc hằng ngày, với điều kiện tự nhiên và xã hội

- Mục đích giáo dục của giáo dục nhà trường là đảm bảo quá trình giáo dục liên tục bằng cách tổ chức hoạt động thúc đẩy sự phát triển của trẻ Xu hướng học tập từ cuộc sống là cách tốt nhất của việc tổ chức hoạt động giáo dục ở trường học Bên cạnh những hoạt động trong trường học, cần thiết kế các hoạt động xã hội khác để trẻ có hứng thú, tham gia thực hiện và tự nhận thấy ý nghĩa của chúng cũng như vai trò của mình trong đó

Trang 15

- Sự phát triển thể chất của trẻ sẽ đi trước về giác quan, theo đó trẻ hành động trước khi có nhận thức đầy đủ về hành động đó, nghĩa là trẻ thường hành động khi chưa có kinh nghiệm về hành động Do đó, trên thực tế, ý thức thực tế của trẻ có thể chưa đầy đủ hoặc hành động hấp tấp, nhưng điều đó đã cho trẻ có thêm trải nghiệm về cuộc sống Quá trình phát triển trí tuệ của người học là kết quả của sự trải nghiệm Vì vậy, để phát triển trí tuệ cho HS, phương pháp dạy học phải bằng trải nghiệm và thông qua trải nghiệm, nghĩa

là để cho trẻ được trực tiếp tham gia vào hoạt động Sự phát triển trí tuệ trước hết phải có quá trình hình thành biểu tượng Trải nghiệm sẽ cho trẻ biểu tượng trong đầu về sự vật hiện tượng đó

- Chương trình dạy học và việc dạy học phải là quá trình xâu chuỗi các thành tố trong kinh nghiệm cũ và mới của đứa trẻ Quá trình học của trẻ phải

là quá trình hình thành cái nhìn mới, hứng thú và kinh nghiệm mới

Nhìn chung, tư tưởng giáo dục của John Dewey rất tiến bộ vào thời kì đó,

và đến bây giờ tư tưởng giáo dục về “học thông qua làm, học trải nghiệm” của ông vẫn là một trong những triết lý giáo dục điển hình của nước Mỹ Ông phê phán nền giáo dục truyền thống làm đứa trẻ trở nên bị động, chấp nhận, phục tùng, thiếu sáng tạo Ông đưa ra các lý thuyết và nguyên tắc giáo dục: giáo dục là cuộc sống, nhà trường là xã hội, lấy HS làm trung tâm, coi trọng phương pháp giáo dục, học thông qua làm, học qua trải nghiệm, … Có thể nói đây là tư tưởng, cách tiếp cận quá trình giáo dục tiến bộ

Từ 1995, Conrad và Hedin đã phỏng vấn 4000 HS trong 33 chương trình học tập trải nghiệm khác nhau và rút ra được kết luận là sự học qua trải nghiệm đã đem lại kết quả tích cực đối với sự phát triển tâm lý của người học chẳng hạn như làm tăng sự tự tin vào chính mình, đem lại nhiều lợi ích cho nhà trường, năng lực tự chủ và khả năng lý luận của người học được tăng lên Bên cạnh đó, các năng lực xã hội của người học cũng được phát triển và cho

Trang 16

kết quả tích cực như phát triển cảm xúc xã hội của người học cũng như phát triển và cho kết quả tích cực như phát triển cảm xúc xã hội, có ý thức trách nhiệm với người khác, năng lực xã hội tiến triển nhanh, có ý thức và thái độ tích cực khi làm việc nhóm và làm việc với người lớn, tăng ham muốn tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt là năng lực xác nhận và giải quyết vấn đề cũng tăng đáng kể Theo Finger trong HĐTN phải để người học đóng vai như nhà nghiên cứu khoa học mà mục đích chính là xây dựng kiến thức mới một cách khách quan, theo cách “tự nhiên” được rút ra từ chính thực tế sinh động

mà người học đang trải nghiệm, kết quả thu được của người học chính là sự thích ứng mới và sự thích nghi với môi trường thực tiễn đang trải nghiệm Theo Coleman thì tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm phải trải qua 4 bước:

 Bước 1: Người học tham gia vào một hoạt động trong tình huống cụ thể, bối cảnh đặc biệt mà người học có thể thấy ngay được hiệu quả của hoạt động này

 Bước 2: Người học tìm cách hiểu bản chất của các hiệu quả trong tình huống hoạt động vừa đem lại, theo cách mà người học phải đưa ra các dự đoán là cái gì đã diễn ra và nó sẽ diễn ra như thế nào trong các tình huống tương tự hoặc trong các tình huống gần giống với tình huống đã hoạt động

 Bước 3: Người học phải tìm cách hiểu những nguyên lý chính, nguyên

lý chung nhất mà khi hoạt động nó sinh ra kết quả như trên trong một lớp các tình huống như vậy Điều này đòi hỏi người học phải có một số suy luận về sự thay đổi đa dạng hành động của mình để dự đoán hoặc quan sát kết quả mà mỗi thay đổi đó đem lại

 Bước 4: Cuối cùng, người học phải khái quát hóa nguyên lý thu được trong quan hệ nhân quả vừa qua làm cơ sở để xử lý các tình huống mới hoặc

Trang 17

các tình huống có những sự khác biệt thì người học phải đưa ra được các tiên đoán về quan hệ nhân quả của nó để thể chế hóa kiến thức mà mình thu được Những tư tưởng về học gắn với làm đã có ở Việt Nam cũng từ khá sớm gắn với quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, và cũng được thể hiện rõ trong Nguyên lý giáo dục của nước ta Cụ thể là:

- Bác Hồ đã dạy “học với hành phải đi đôi; học mà không hành thì học vô ích; hành mà không học thì hành không trôi chảy” Ngoài ra, Bác còn chỉ rõ nội dung của sự kết học và hành trong từng bậc học, cấp học:

+) Đại học thì cần kết hợp lí luận khoa học với thực hành, ra sự chọ tập lí luận và khoa học tiên tiến của các nước, kết hợp với thực tiễn của nước ta để thiết thực, giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà

+) Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần kiến thức không cần thiết với đời sống thực tế

+) Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn, phải đặc biệt giữ sức khỏe của các cháu

- Luật Giáo dục Việt Nam [29] quy định: “Hoạt động giáo dục được thực

hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo

dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Đây cũng chính là nguyên lý giáo dục của Việt Nam Trong 3 nội dung giáo dục thì giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là yêu cầu cao nhất và khó khăn nhất Cao nhất vì trong trường hợp này giáo dục sẽ góp phần trực tiếp vào việc sản xuất

ra của cải vật chất và cải tạo xã hội Mặt khác, qua lao động sản xuất, con người sẽ có điều kiện đào sâu kiến thức, rèn luyện tay nghề, nâng cao phẩm

Trang 18

chất đạo đức cũng như tinh thần trách nhiệm, tính thận trọng, chính xác, … Qua lao động sản xuất, HS sẽ được tổ chức hoạt động một cách nghiêm túc,

có mục đích, có kế hoạch Nguyên lý giáo dục này chi phối sự vận hành của các loại hình hoạt động giáo dục trong đó bao gồm cả HĐTN

Các chủ đề về HĐTN, hướng nghiệp ở trường phổ thông rất phong phú như: Trường học, Văn hóa du lịch, Nội trợ/Gia đình, Công nghiệp, Nông nghiệp, Ngư nghiệp, y tế, Thể dục thể thao, Khoa học công nghệ, [3] Hình thức tổ chức cũng rất đa dạng gồm có: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia, ), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội, [3]

Hoạt động tập huấn các kĩ năng về tổ chức HĐTN xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt, nội dung chương trình, cách thức tổ chức, đánh giá trong HĐTN) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức cho GV từ năm 2015 [3] Đến năm 2017, Bộ GD&ĐT đã xác định HĐTN là một hoạt động bắt buộc, xuyên suốt từ bậc Tiểu học cho tới bậc THPT trong Chương trình GDPT tổng thể ban hành tháng 12/2018 Theo đó, ở bậc Tiểu học thời lượng cho HĐTN là 105 tiết bằng thời lượng cho môn Toán lớp 1), gấp 1,5 lần thời lượng dành cho các môn Tự nhiên và xã hội, Tin học và Công nghệ, Ở bậc Trung học cơ sở, Trung học phổ thông HĐTN cùng với hoạt động hướng nghiệp - hai hoạt động này chiếm 105 tiết gấp 3 lần thời lượng dạy môn Công nghệ, Tin học, gấp 1,5 lần thời lượng môn Giáo dục thể chất, nghệ thuật và bằng thời lượng với môn Ngoại ngữ, Lịch sử và Địa lí,

Dựa trên sự phân tích HĐ nhận thức trong sự thành công, thất bại của quá trình tổ chức HĐ học tập trải nghiệm, có thể đưa ra 5 giai đoạn nhận thức

Trang 19

để định hướng tổ chức HĐ học tập trải nghiệm đó là người học được “Khám phá”, được “Suy nghĩ”, phải “Trừu tượng hoá”, trở thành “Người xác nhận”,

và trở thành người “Quản lí” Đối với định hướng phát triển nhận thức, HĐ học tập trải nghiệm tương ứng với quá trình HĐ nhận thức hướng tới sự sáng tạo và xử lí thông tin trong các tình huống học tập

Đối với định hướng phát triển hành động, HĐ học tập trải nghiệm hướng đến ý thức xử lí, xây dựng kế hoạch HĐ, hành động và điều chỉnh hành động theo bối cảnh, đánh giá hành động tương ứng

Kết quả là, quá trình lập kế hoạch HĐTN sáng tạo dựa trên các kỹ thuật

DH tích cực và huy động cảm xúc và kinh nghiệm của mỗi người học phù hợp với bối cảnh của HĐ Trong suốt quá trình này, người học học cách bày

tỏ cảm xúc và giá trị của mình thông qua các thử thách, thách thức, đam mê,

so sánh, sự hài lòng, kích thích, xác nhận và khẳng định để chia sẻ ấn tượng của họ

Trang 20

Theo Legendre (2007): “Phương pháp tổ chức HĐTN sáng tạo phải dựa trên mô hình học tập khuyến khích sự tham gia của người học vào trong các

HĐ Các HĐ học tập của HS phải được xây dựng dựa trên các bối cảnh, tình huống gần gũi nhất có thể với kiến thức, nhận thức, năng lực của HS và với

sự cố gắng của mình, HS có thể đạt được mục tiêu học tập, qua đó HS sẽ thay đổi thái độ, cảm xúc, giá trị và hình thành năng lực mới” [6]

1.2 Một số khái niệm nền tảng

1.2.1 Hoạt động

Theo Từ điển tiếng Việt [13] “HĐ là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể; HĐ là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, một lĩnh vực nhất định”

Theo A.N.Leontiev: "HĐ là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của HĐ là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể"

Theo quan điểm trên, con người là đối tượng của HĐ Con người chủ động phối hợp và quản lý các hành động có tác động đến các đối tượng (sự vật, tri thức, ) Mục tiêu của HĐ con người đặt nó ngoài mục tiêu của động vật

- Tính chủ thể: HĐ có chủ thể luôn là HĐ liên quan đến một đối tượng thiết lập mối liên hệ giữa chủ thể và môi trường Tính tích cực của chủ thể bộc lộ bản chất của chủ thể trực tiếp Để tồn tại và phát triển, chủ thể nỗ lực kiểm soát đối tượng trong các hành động hàng ngày của mình

Trang 21

1.2.2 Trải nghiệm

Theo Từ điển tiếng Việt [13], “trải nghiệm có nghĩa là trải qua, kinh qua” Trải nghiệm để giúp cuộc sống thêm một lần nữa Mọi người tương tác với thực tế trong một xã hội chân chính và chia sẻ thông tin, điều này giúp họ học hỏi và trải nghiệm cuộc sống Bằng cách đó, mọi người sẽ cải thiện dần dần cuộc sống của họ, thế giới xung quanh và chính họ Kết quả là, trải nghiệm và sống là hai khái niệm luôn bổ sung và hoàn thiện cho nhau

*) Đặc điểm của trải nghiệm

- Mọi người có thể chủ động hình thành các mối quan hệ và tham gia vào nhiều HĐ trực tiếp khác nhau

- Mọi người có thể khám phá và tương tác với chính họ trong thế giới thực tế, điều này giúp họ nắm bắt rõ hơn họ là ai và họ có những kỹ năng gì

- Mọi người có thể tham gia, giao tiếp và làm việc với những người khác, cộng đồng, các vật phẩm, hiện tượng và những thứ khác trong cuộc sống

- Con người thực sự là một sinh vật rất bận rộn, có tư duy cầu tiến và sáng tạo

- Hành động và cảm xúc là hai thành phần cơ bản của trải nghiệm Nó không thể HĐ nếu không có một trong hai yếu tố này

- Kinh nghiệm dẫn đến sự phát triển của kinh nghiệm, hiểu biết, năng lực, thái độ và giá trị mới, cùng những thứ khác

1.2.3 Hoạt động trải nghiệm

Theo Đỗ Thanh Hương 2016): “Thông qua các thao tác, HĐ, hành động của con người với môi trường xã hội, môi trường sống, môi trường tự nhiên , người học tham gia vào quá trình học tập trải nghiệm, phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực Nền tảng của HĐ này là ứng dụng kiến thức cá nhân có được thông qua kinh nghiệm sống của bản thân Để trải nghiệm thực

Trang 22

tế cuộc sống ở trường, ở nhà, HĐTN là HĐ giáo dục mà HS dựa vào sự huy động rộng rãi thông tin và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau, tham gia tư vấn nghề nghiệp và công việc tình nguyện trong khi được giám sát và tổ chức bởi các nhà giáo dục, phát triển năng lực cốt lõi của họ cũng như các năng lực thành phần chuyên biệt nhất định của HĐ này bao gồm khả năng lập kế hoạch và tổ chức các HĐ, tập trung vào một công việc, linh hoạt khi đối mặt với sự thay đổi và các kỹ năng sống khác”.[7]

Như vậy, HĐTN thực chất là tạo cho HS các hoạt động, các cơ hội để

HS trải qua, kinh qua các vấn đề thực tiễn cuộc sống Trong quá trình đó, HS được nhúng trải sự tương tác giữa con người với con người, giữa con người với môi trường thông qua các giác quan, các hoạt động nhằm tạo nên những biến đổi trong thế giới quan của các em Từ đó, các kiến thức, năng lực của

HS được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm trên cơ sở kết hợp lí luận - thực tiễn Học từ HĐTN luôn gắn kiến thức với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân của HS trong từng bối cảnh Đó là một trong những điều kiện cần thiết giúp phát triển nội lực, phẩm chất HS phù hợp với năng khiếu, sở trường của từng em HĐTN là một trong những hoạt động giáo dục tiềm năng trong việc hoàn thiện nhân cách, phát triển kĩ năng sống cho HS, hướng đích trọng tâm thực hiện mục tiêu giáo dục

1.2.4 Hoạt động trải nghiệm toán học

Theo Nguyễn Thị Liên [11]: “HĐTN toán học có thể được hiểu là các HĐTN được tổ chức trong giờ học toán, nơi HS trải nghiệm và học tập để thu nhận thông tin một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Các HĐ này được tổ chức và giám sát bởi GV, tiếp tục sử dụng kiến thức toán học hiện có để góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn

HĐTN toán học phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 23

- Đảm bảo tính chính xác và khoa học: HĐTN toán học hỗ trợ HS học toán thông qua ứng dụng thực tế Do đó, các HĐ học tập trải nghiệm phải được thiết kế để hỗ trợ HS nâng cao khả năng tư duy phản biện và xây dựng kiến thức toán học một cách chính xác, logic và khoa học

- Đảm bảo mục tiêu DH: Mục tiêu bài học, mục tiêu chủ đề hay chương, mục tiêu môn học đều được đảm bảo thông qua bài tập thực nghiệm toán học HS học toán thông qua học tập trải nghiệm theo một phương pháp

dễ nhớ, tự nhiên và dễ hiểu Sự phát triển của khả năng tư duy, kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, độc lập và tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, cùng với các kỹ năng khác, sẽ được hỗ trợ thông qua học tập trải nghiệm

- Đảm bảo tính thực tiễn: HS học cách sử dụng các kỹ năng toán học có được để giải quyết các vấn đề trong thế giới thực thông qua các HĐ học tập trải nghiệm toán học Do đó, các HĐTN được phát triển phải dựa trên thực tế

và có nhiều ứng dụng trong thế giới thực HS có được kinh nghiệm và thực hành toán học thông qua các HĐ thực hành

- Đảm bảo tính sư phạm: Phải đảm bảo tính sư phạm và các tiêu chuẩn của HĐ DH và HĐ giáo dục thông qua các HĐTN toán học Các bài tập trải nghiệm trong toán học giúp phát triển, rèn luyện và củng cố kiến thức toán học, đồng thời khơi dậy hứng thú học tập và gắn lý thuyết với thực hành

- Đảm bảo tính vừa sức: Các bài tập trải nghiệm toán học đảm bảo hình thành tâm lý của HS là phù hợp và đầy đủ Chủ đề của HĐTN toán học phải phù hợp với cuộc sống hàng ngày của HS, đặc trưng của môn học và liên quan đến tài liệu học tập”

1.3 Một số phương pháp dạy học hỗ trợ tổ chức hoạt động trải nghiệm toán học

1.3.1 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3.1.1 Tình huống gợi vấn đề

Trang 24

- Một tình huống có vấn đề là một tình huống đặt ra cho HS những thách thức lý thuyết hoặc thực tế mà họ tin rằng cần phải có và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay lập tức do một thuật toán phải chủ động suy nghĩ và hành động để thay đổi đối tượng hiện tại hoặc sửa đổi kiến thức sẵn

- Một tình huống là tình huống gợi vấn đề khi thỏa mãn 3 điều kiện sau: Tồn tại vấn đề: Cá nhân phải nhận thức được một thách thức trong suy nghĩ hoặc việc làm mà thông tin hiện có không đủ để vượt qua Tình tiết phải thể hiện sự mâu thuẫn giữa thực tế và trình độ nhận thức Sau khi dạy HS các dấu hiệu của phép chia hết, GV có thể yêu cầu các em đánh giá xem một tổng hoặc hiệu có chia hết cho một số nhất định hay không

Gợi nhu cầu nhận thức: HS sẽ không cảm thấy thôi thúc điều tra và giải quyết một vấn đề nếu họ thấy nó kỳ lạ hoặc không liên quan đến bản thân vì bất kỳ lý do gì, điều đó cho thấy rằng tình huống đó không gợi ý chủ đề Vì vậy, khi HS tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh, các em phải nhận ra sự cần thiết phải giải quyết, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện kiến thức và năng lực của mình

Khơi dậy niềm tin ở khả năng của bản thân: HS sẽ không tham gia giải quyết một vấn đề nếu họ cảm thấy nó quá khó hoặc vượt quá khả năng của họ mặc dù thực tế là họ cần phải giải quyết vấn đề đó Do đó, hoàn cảnh phải truyền cảm hứng cho HS tin tưởng vào kỹ năng của chính mình Họ sẽ phát hiện ra rằng ngay cả khi không có cách sửa chữa nhanh chóng, họ vẫn trải qua một quá trình suy nghĩ, chuyển đổi vật liệu và huy động thông tin, các vấn đề

có sẵn có thể giải quyết được

1.3.1.2 Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

GV đưa ra các tình huống vấn đề, hướng HS xác định khó khăn, khuyến khích thay đổi đối tượng tự nguyện, huy động kiến thức để giải quyết

Trang 25

vấn đề, v.v Quá trình này xây dựng kiến thức và phát triển các kỹ năng cần thiết để đáp ứng các mục tiêu học tập

DH phát hiện và giải quyết vấn đề có những đặc điểm sau:

- Thay vì được tạo cơ hội để học hỏi từ thông tin hiện có, HS được gợi ý các vấn đề

- Thay vì chỉ ngồi nghe giảng, HS tự giác, chủ động, sáng tạo, tích cực vận dụng kiến thức và kỹ năng giải quyết vấn đề của mình

- Mục đích của việc DH là giúp HS không chỉ hiểu được kết quả của quá trình giải quyết và khám phá vấn đề mà còn giúp HS có được các kỹ năng cần thiết để thực hiện các HĐ đó HS do đó tiếp thu kiến thức về học tập

1.3.1.3 Quy trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

DH phát hiện và giải quyết vấn đề tác giả thực hiện theo 4 bước:

Bước 1 Phát hiện và thâm nhập vấn đề

Tìm vấn đề trong một tình huống mà người hướng dẫn đã thiết lập để nêu vấn đề Để hiểu đầy đủ vấn đề đang bàn, hãy đưa ra lời giải thích và nếu được yêu cầu, hãy khắc phục tình hình Bước tiếp theo là giải thích vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết nó

Bước 2 Tìm giải pháp

Kiểm tra vấn đề để tạo liên kết giữa các giải pháp được cung cấp và những giải pháp mong muốn Trong toán học, nó thường dựa vào kiến thức toán học đã thu được trước đó và sử dụng các định nghĩa và định lý thích hợp Người ta thường sử dụng các phương pháp và kỹ thuật nhận thức, dự đoán và suy luận như định hướng mục tiêu, lạ về quen, chuyên biệt, chuyển sang các trường hợp suy biến, tương tự, tổng quát hóa, xem xét các mối quan

hệ và phụ thuộc, v.v khi đề xuất và thực hiện phương pháp giải quyết vấn đề cùng với việc thu thập và sắp xếp dữ liệu, huy động kiến thức

Trang 26

Quá trình hành động được đề xuất không cố định; nó có thể được sửa đổi, từ chối và chuyển hướng khi cần thiết Giải pháp là kết quả của việc đưa

ra và thực hiện một chiến lược giải quyết vấn đề

Bước tiếp theo là kiểm tra giải pháp để xem liệu giải pháp gợi ý có chính xác hay không Nếu giải pháp là chính xác, việc tìm kiếm kết thúc; nếu không, quy trình được lặp lại cho đến khi phát hiện ra câu trả lời lý tưởng

Tuy nhiên, khi một giải pháp đã được tìm thấy, nó có thể được kiểm tra

để tìm ra các giải pháp khác

Bước 3 Trình bày giải pháp

HS diễn đạt lại toàn bộ vấn đề thành lời giải sau khi tìm ra lời giải Không cần phải xử lý lại vấn đề có nếu nó đã tồn tại Điều quan trọng là phải tuân theo các hướng dẫn do nhà trường thiết lập và truyền đạt bài học một cách rõ ràng, logic và ngắn gọn

Bước 4 Nghiên cứu sâu giải pháp

Kiểm tra các ứng dụng tiềm năng của các phát hiện Tạo các vấn đề mới, có liên quan bằng cách sử dụng phép loại suy, khái quát hóa, đảo ngược, v.v và giải quyết chúng nếu có thể

1.3.2 Dạy học theo thuyết kiến tạo

1.3.2.1 Khái niệm

Giáo dục kiến tạo là một triết lý trong đó các HĐ của HS phải được xây dựng dựa trên thông tin thu được trước đó và kinh nghiệm trong thế giới thực Kết quả là, HS phát triển kiến thức của riêng mình về thế giới chúng ta đang sống Học tập là quá trình thay đổi thói quen của một người để nhường chỗ cho những trải nghiệm mới

1.3.2.2 Đặc điểm của dạy học theo thuyết kiến tạo

- HS là những người học tích cực xây dựng kiến thức của mình thông qua kinh nghiệm hoặc thông tin hiện có Quá trình học chỉ có thể có ý nghĩa

Trang 27

khi thông tin mới và cũ được kết nối một cách tự nhiên, khi kiến thức và cấu trúc hiện tại được căn chỉnh hoặc khi chúng được sửa đổi một cách thích hợp

- Quá trình thu nhận thông tin là duy nhất đối với mỗi người; ngay cả trong cùng một bối cảnh, mỗi người học sẽ tạo ra kiến thức của họ theo một cách khác biệt Vì vậy, cần phải cấu trúc quá trình học tập để mỗi HS có thể

sử dụng tối đa các kỹ năng của mình

- Xây dựng một bầu không khí học tập nơi các em được khuyến khích chia sẻ, nói chuyện, khám phá, học hỏi và giải quyết các thách thức là điều cần thiết

- Thay vì cố gắng giúp HS nắm bắt chủ đề toán học bằng cách giải thích, làm sáng tỏ hoặc chia sẻ các thuật toán hiện có, GV giáo dục kiến tạo tập trung vào việc tạo ra một môi trường học tập tích cực và áp dụng một cách máy móc

- Mục tiêu chính của việc giảng dạy không chỉ là truyền đạt kiến thức; đúng hơn, đó là thay đổi hoặc phát triển khung khái niệm của HS để các em

có thể tạo ra kiến thức mới đồng thời nâng cao trí tuệ và nhân cách của chính các em

1.3.2.3 Quy trình dạy học theo thuyết kiến tạo

DH theo thuyết kiến tạo có thể được thực hiện theo 5 bước sau:

Bước 1: Tiếp cận vấn đề và đảm bảo rằng mọi người đều biết về vấn đề

đó có thể từ GV hoặc từ HS)

Bước 2: Kết nối kiến thức và khả năng có sẵn, sau đó khơi gợi suy nghĩ của HS về vấn đề đang bàn

Bước 3: Thảo luận và đưa ra một giả thuyết Thu thập các đề xuất từ

HS So sánh các khái niệm và đưa ra ý tưởng của lớp hoặc nhóm

Bước 4: Kiểm tra các phát hiện và xem xét chúng HS đưa lý thuyết vào bài kiểm tra và sau đó xem xét các kết quả Nếu nó không chính xác ở

Trang 28

giai đoạn này, hãy lặp lại quy trình; nếu nó là chính xác, hãy tiếp tục sang phần tiếp theo

Bước 5: Rút ra những hiểu biết và khả năng mới HS phân tích kết quả, trình bày trước các nhóm nhỏ hoặc cả lớp và rút ra kết luận chung, đánh giá

lý thuyết và thực hành để sản xuất sản phẩm có thể giới thiệu Phương pháp

cơ bản của học tập dựa trên dự án là làm việc nhóm

Kết quả là, trong học tập dựa trên dự án, HS phải hoàn thành các dự án học tập đầy thách thức đan xen giữa lý thuyết và thực hành; họ cũng phải kết hợp kiến thức, khả năng và kinh nghiệm thực tế của họ từ nhiều lĩnh vực khác nhau Tại thời điểm đó, HS được yêu cầu thiết kế, thực hiện, đánh giá kết quả một cách độc lập và sau đó sản xuất các sản phẩm phù hợp với các mục đích

và yêu cầu đã nêu Kết quả cuối cùng của việc học tập dựa trên dự án là vô cùng phong phú và đa dạng Đó có thể là một bài phát biểu, buổi biểu diễn, bài báo hoặc trang web

Học tập dựa trên dự án khuyến khích sinh viên thu thập thông tin và phát triển các kỹ năng khi họ làm việc để giải quyết các vấn đề khó khăn Các

dự án học tập cung cấp cho sinh viên khả năng học tập bổ sung, nhiều chủ đề

và quy mô dự án hơn, và sự linh hoạt để tổ chức chúng một cách rộng rãi ở các cấp học khác nhau Các HĐ học tập cung cấp cho sinh viên cơ hội để đảm nhận các vai trò tích cực như điều tra viên, giải pháp vấn đề hoặc người viết

Trang 29

báo cáo Người học làm những công việc này với mức độ độc lập cao trong suốt quá trình chương trình giáo dục

1.3.3.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án

- Định hướng thực tiễn: Các chủ đề của dự án học tập được rút ra từ

thực tế xã hội, thực hành nghề nghiệp và các sự kiện cuộc sống hàng ngày Những khó khăn trong dự án học tập cần phù hợp với trình độ và năng khiếu của người học Các dự án học tập giúp kết nối hướng dẫn trong lớp với xã hội

và các tình huống trong thế giới thực Việc thực hiện các sáng kiến học tập có tiềm năng cải thiện xã hội trong những điều kiện thích hợp

- Định hướng hứng thú người học: Các chủ đề và tài liệu học tập phù

hợp nhất với từng kỹ năng và sở thích của người học do người học tự lựa chọn Ngoài ra, khi các sáng kiến học tập được thực hiện, lợi ích của người học cần được liên tục nuôi dưỡng

- Định hướng hành động: Việc nghiên cứu lý thuyết và áp dụng lý

thuyết vào thực tế và hành động thực tế được kết hợp trong suốt quá trình thực hiện dự án học tập Kết quả là, sự hiểu biết lý thuyết của người học được kiểm tra, củng cố và mở rộng đồng thời nhận được sự hướng dẫn về các kỹ năng ứng dụng thực tế

- Tính tự lực cao của người học: Người học phải độc lập và tích cực

tham gia vào tất cả các khía cạnh của quá trình giáo dục trong học tập theo dự

án Ngoài ra, nó thúc đẩy và kêu gọi người học có trách nhiệm và sáng tạo Các trách nhiệm chính của GV bao gồm tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ HS Tuy nhiên, mức độ độc lập cần phù hợp với năng lực, kỹ năng của người học

và mức độ phức tạp của công việc

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo

nhóm, nơi các cá nhân hợp tác và phân chia công việc Sự sẵn sàng và khả năng cộng tác với những người tham gia khác, người học, GV và các yếu tố

xã hội khác tham gia vào dự án học tập là cần thiết cho việc học tập dựa trên

Trang 30

dự án và được phát triển Học tập xã hội là một tên gọi khác của đặc điểm này

- Định hướng sản phẩm: Sản phẩm học tập nhóm được sản xuất khi các

sáng kiến học tập đang được thực hiện Sản lượng này không bị giới hạn đối với thu hoạch theo lý thuyết; thay vào đó, các sáng kiến học tập thường mang lại kết quả hữu hình từ công việc thực tế Các kết quả của các sáng kiến giáo dục này có thể được công bố, sử dụng và trình bày

Theo tác giả, ngoài các đặc điểm như trên, DH theo dự án còn có

thêm một số đặc điểm sau:

- Có khả năng tích hợp cao: Trong học tập dựa trên dự án, việc phối

hợp với nhiều phương pháp giảng dạy và phong cách giảng dạy khác nhau là khả thi, bao gồm đào tạo HS xác định và giải quyết vấn đề, giáo dục HS trong các nhóm hợp tác, DH trong môi trường công cộng, v.v

- Không bị ràng buộc chặt chẽ về không gian, thời gian: Học tập dựa

trên dự án có thể diễn ra trong một nhóm hoặc lớp học, nhưng nó cũng có thể diễn ra bên ngoài những môi trường như vậy Tùy thuộc vào quy mô và phạm

vi của từng dự án học tập, thời gian thực hiện có thể là một ngày, vài ngày hoặc thậm chí một tuần Cùng một tài liệu, nhưng mỗi thành viên trong nhóm

có thể tiếp cận nó theo cách khác nhau tùy thuộc vào kỹ năng, sở thích và hoàn cảnh hiện tại của họ

- Tạo ra môi trường học tập tương tác: Học tập dựa trên dự án sẽ thúc

đẩy bầu không khí có lợi cho các HĐ tương tác đa chiều, bao gồm tương tác giữa dạy và học, người học và người học, người học và xã hội, và tương tác giữa các thành phần của quá trình DH

Trang 31

1.3.3.3 Tiến trình của DH theo dự án

Dựa trên tiến trình của phương pháp, có thể chia tiến trình của DH theo dự

án thành nhiều giai đoạn khác nhau

Trang 33

Giai đoạn 1 Khởi động

GV và HS cùng nhau đề xuất ý tưởng, chọn chủ đề dự án và đặt mục tiêu dự án Phải thiết lập một hoàn cảnh ban đầu, một vấn đề hay một nhiệm

vụ phải hoàn thành, và nó phải gắn liền với tình hình thực tế GV có thể đưa

ra nhiều chủ đề khác nhau để HS lựa chọn và cụ thể hóa Người học có thể chủ động lựa chọn môn học trong những trường hợp phù hợp

Giai đoạn 2 Xây dựng kế hoạch

HS lập một kế hoạch thực hiện dự án với sự hỗ trợ của các GV của họ Tất cả công việc phải thực hiện, khung thời gian dự kiến, chiến lược thực hiện, nguyên vật liệu, phân bổ nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm, ngân sách nếu cần) và các yếu tố khác đều phải được xem xét trong khi lập

kế hoạch

Giai đoạn 3 Thực hiện dự án

Các thành viên trong nhóm HĐ phù hợp với kế hoạch HĐ của tập thể

và cá nhân HS làm việc trên cả hai nhiệm vụ học tập và thực hành trong suốt giai đoạn này, chuyển đổi giữa chúng và tương tác với nhau Việc áp dụng sự hiểu biết lý thuyết và các kỹ thuật giải quyết vấn đề được kiểm tra Các sản phẩm và dữ liệu mới của dự án được tạo ra trong quá trình này

Giai đoạn 4 Trình bày sản phẩm của dự án

Kết quả của việc thực hiện một dự án có thể được ghi lại trong các báo cáo, giấy tờ, thu hoạch, v.v Các HĐ thực hành được sử dụng trong nhiều dự

án để đạt được các kết quả hữu hình Cũng có thể các sản phẩm hành động của dự án là các HĐ phi vật chất Sản phẩm từ dự án có thể được chia sẻ với các nhóm HS trong lớp, trong trường, ngoài trường, v.v

Giai đoạn 5 Đánh giá dự án

Quy trình thực hiện, kết quả và kinh nghiệm thu được đều được đánh giá bởi GV và HS Từ đó có được kiến thức cho bài làm sau Kết quả của dự

án cũng có thể được đánh giá bên ngoài

Trang 34

1.3.4 Dạy học hợp tác theo nhóm

1.3.4.1 Khái niệm

Cụm từ "DH theo nhóm hợp tác" mô tả một phương pháp giảng dạy trong đó HS được phân nhóm phù hợp, được giao các nhiệm vụ và được khuyến khích cộng tác, hướng dẫn và thảo luận với nhau vì lợi ích của việc hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm

- HS chia sẻ kiến thức với nhau, xây dựng kết nối với nhau và nuôi dưỡng cảm giác tin tưởng trong quá trình giáo dục

- Sự thành công của HĐ nhóm phụ thuộc vào từng thành viên tham gia Nhóm sẽ có sự chậm trễ và kết quả kém nếu có bất kỳ HS nào thiếu thái độ hợp tác hoặc không thể hoàn thành công việc của mình

Về phía GV

- GV đóng vai trò quan trọng trong việc giúp HS học tập bằng cách đóng vai trò là người lập kế hoạch, người lãnh đạo HĐ, người cố vấn và là nguồn tư vấn, truyền cảm hứng và hỗ trợ

- Khi soạn giáo án, lựa chọn thông tin thực sự phù hợp với HĐ nhóm, tạo hình thức truyền tải nội dung vào HĐ nhóm cho HS, GV phải lên kế hoạch tỉ mỉ

- GV phải có năng lực sư phạm vững vàng để tạo ra các hình thức HĐ nhóm hiệu quả, giám sát và khuyến khích HS trong quá trình HĐ nhóm, giúp

Trang 35

HS nâng cao kỹ năng trình bày và phản xạ, logic, khả năng làm việc nhóm,

- GV phải có khả năng đánh giá và xử lý thông tin mạnh mẽ vì họ phải nhanh chóng tiêu hóa và truyền đạt nhiều loại thông tin mà họ nhận được từ

HS và nhóm

- GV sẽ gặp khó khăn khi lập kế hoạch học tập hợp tác trong nhóm cho các lớp đông các em vì việc bao quát, điều tiết và hỗ trợ các nhóm HĐ tốt sẽ

vô cùng khó khăn

1.3.1.1 Quy trình dạy học hợp tác theo nhóm

DH hợp tác theo nhóm thường được thực hiện theo các bước sau

Bước 1 Làm việc chung cả lớp

GV nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức; tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm và hướng dẫn cách làm việc nhóm

Bước 2 HĐ nhóm

Mỗi nhóm hợp tác với các nhóm khác trong một môi trường cạnh tranh Mỗi thành viên của nhóm chia sẻ ý tưởng, phân công nhiệm vụ và sau đó mỗi thành viên làm việc phù hợp với nhiệm vụ đó trong khi tham gia vào các cuộc trò chuyện và trao đổi cụ thể khi cần thiết Các HĐ nhóm và HS đơn lẻ được giám sát bởi GV

Bước 3 Thảo luận, tổng kết trước cả lớp

Sau khi các nhóm hoàn thành bài tập, GV yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện lên thuyết trình trước toàn lớp đồng thời nêu hướng dẫn thực hiện Mỗi

Trang 36

nhóm sẽ lần lượt trình bày nếu các nhóm được giao nhiệm vụ khác nhau; Nếu các nhóm được giao nhiệm vụ giống nhau, một số nhóm sẽ được mời trình bày trong khi các nhóm khác sẽ nhận xét, bổ sung, đối chiếu và so sánh kết quả; nếu nhiều nhóm được giao nhiệm vụ giống nhau, một nhóm nên trình bày cho mỗi nhiệm vụ

Các nhận xét và đóng góp của nhóm rất quan trọng vì chúng thể hiện sự tham gia của nhóm và sự thống nhất của cả lớp trong việc theo đuổi mục tiêu chung của nhiệm vụ học tập GV đưa ra quan điểm của mình để chính thức hóa kết quả của HS trước nhóm sau khi mỗi nhóm trình bày và nhận thêm phản hồi từ HS ngoài nhóm

GV tóm tắt và kết luận những điểm chính sau khi tất cả các nhóm đã hoàn thành báo cáo sau khi họ đã kết thúc phần trình bày của mình GV nên kịp thời tuyên dương những cá nhân và nhóm đã thực hiện thành công các

HĐ, đồng thời kêu gọi sự chú ý của những người không làm việc chăm chỉ hoặc tích cực

1.4 H nh thức tổ chức hoạt động trải nghiệm toán học

1.4.1 Hoạt động câu lạc bộ toán học

Dưới sự lãnh đạo của GV, các nhóm HS có cùng sở thích, nhu cầu, khả năng, v.v tham gia vào các HĐ ngoại khóa gọi là "câu lạc bộ toán học" nhằm thúc đẩy sự tương tác dễ chịu và mang tính xây dựng giữa HS cũng như giữa các em với GV hướng dẫn và những người lớn khác HĐ của câu lạc bộ toán học giúp HS có cơ hội chia sẻ kiến thức và hiểu biết về các chủ đề mà các em quan tâm, giúp các em phát triển các kỹ năng như giao tiếp, lắng nghe người khác và bày tỏ ý kiến của mình, trình bày ý tưởng, viết, chụp ảnh, hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng ra quyết định và giải quyết vấn đề Câu lạc bộ

có lịch tổ chức các sự kiện, được điều hành hoàn toàn trên cơ sở tình nguyện

và có thể được thiết lập theo nhiều cách khác nhau

T chức tr chơi toán học

Trang 37

Trò chơi là một loại HĐ giải trí và giảm căng thẳng Chúng là món ăn tinh thần vô cùng bổ ích và cần thiết trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là đối với HS Trò chơi toán học là một cách để lập kế hoạch cho các HĐ thú vị bao gồm kiến thức toán học, với mục tiêu "chơi để học, học mà chơi" làm tác động giáo dục của nó

Trò chơi toán học có thể được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh học tập trải nghiệm khác nhau, bao gồm làm quen, khởi động, giới thiệu tài liệu học tập, đưa và nhận thông tin, đánh giá kết quả, rèn luyện kỹ năng, củng cố kiến thức đã học, v.v Trò chơi khuyến khích tính sáng tạo, tính hấp dẫn của HS,

và sự nhiệt tình đồng thời giúp các em dễ dàng tiếp thu thông tin mới, truyền

bá kiến thức cho nhiều đối tượng khác nhau, nuôi dưỡng một môi trường chào đón, làm cho các em nhanh nhẹn,

T chức di n đàn toán học

Thông qua việc bày tỏ trực tiếp và tích cực những suy nghĩ của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường và giáo sư, HS tham gia diễn đàn toán học được khuyến khích tham gia vào lớp học, các nhà giáo dục, cha mẹ và những người có trách nhiệm khác Một trong những phương pháp hữu ích nhất để hướng dẫn thực hành là diễn đàn HS có cơ hội chia sẻ ý tưởng, khái niệm, câu hỏi và nhận xét của họ về một vấn đề cụ thể liên quan đến nhu cầu, sở thích và mục tiêu của họ thông qua diễn đàn toán học Các em có cơ hội chia

sẻ ý tưởng và học hỏi lẫn nhau trong thời gian này Do đó, diễn đàn đóng vai trò như một sân chơi, nơi sinh viên có thể tự do bày tỏ suy nghĩ của mình với một nhóm rộng rãi bạn bè và những người khác Các diễn đàn toán học thường xuyên được thiết lập một cách linh hoạt, đa dạng và phong phú với các HĐ phù hợp với từng lứa tuổi HS

Mục tiêu của việc thành lập diễn đàn toán học là cung cấp cho HS cơ hội và bối cảnh để nói lên suy nghĩ của mình về các chủ đề mà các em quan tâm, hỗ trợ các em khẳng định tiếng nói và vai trò của mình cũng như đưa ra

Trang 38

ý kiến của riêng mình Để khẳng định bản thân, hãy suy nghĩ và hành động tích cực GV, cha mẹ và những người lớn có liên quan khác có thể tìm hiểu về những lo lắng, quan tâm và mong đợi của các em liên quan đến bạn bè, GV, gia đình và các cơ hội tiếp xúc khác giữa các em và người lớn

Th m qu n, dã ngoại

Dã ngoại là một tổ chức thú vị để HS tham gia vào việc học thực hành Chuyến tham quan và dã ngoại nhằm tạo cơ hội cho các em tham quan, tìm hiểu, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, các công trình kiến trúc, nhà máy xa nhà Điều này sẽ cho phép họ học hỏi và giúp họ có được kinh nghiệm thực tế mà sau đó họ có thể sử dụng trong cuộc sống của mình

1.5 Mục tiêu, nội dung môn Toán lớp 6

5 Mục tiêu

Theo chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo): “DH Toán 6 nhằm giúp HS:

a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học thông qua việc thể hiện các năng lực sau: khả năng sử dụng các mô hình toán học công thức toán học, phương trình đại số, biểu diễn, ) để mô tả các tình huống xuất hiện trong nhiều bài toán thực tế mà không quá phức tạp; khả năng chứng minh các mệnh đề toán học không quá phức tạp; có khả năng trình bày ý tưởng và biết sử dụng các công cụ, phương tiện toán học để thực hiện nhiệm vụ học tập hoặc phát biểu các luận điểm, chứng minh toán học; có khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để diễn đạt các nội dung toán học cũng như chứng minh bằng chứng, phương pháp và kết quả lập luận

b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản về:

– Số và Đại số: Hệ thống số từ số tự nhiên đến số thực); tính toán và

sử dụng máy tính bỏ túi; ngôn ngữ đại số và ký hiệu; biến đổi các biểu thức

Trang 39

đại số, phương trình, hệ phương trình và bất phương trình; sử dụng ngôn ngữ chức năng để mô tả mô hình) một loạt các quá trình và hiện tượng trong thế giới thực

– Hình học và Đo lường: Ở cấp độ này, hình học trực quan và hình học phẳng là một trong những chủ đề được đề cập trong hình học và đo lường Ngoài việc tạo ra một số mô hình hình học thông thường, tính toán một số yếu

tố hình học và phát triển trí tưởng tượng không gian, hình học trực quan cũng tiếp tục cung cấp ngôn ngữ, ký hiệu và mô tả ở cấp độ trực quan) về các đối tượng vật lý của thực tế mặt phẳng, hình khối) Nó cũng giải quyết một số vấn đề thực tế đơn giản liên quan đến hình học và đo lường Kiến thức và khả năng về các liên kết hình học và một số hình phẳng thông dụng điểm, đường thẳng, tia, đoạn thẳng, góc, hai đường thẳng song song, tam giác, tứ giác, đường tròn) được cung cấp bởi hình học phẳng ở cấp độ suy luận lôgic) – Thống kê và Xác suất: thu thập, phân loại, biểu diễn, xử lý và phân tích dữ liệu thống kê; đánh giá dữ liệu thống kê sử dụng tần suất và tần suất tương đối; và xác định một số nguyên tắc thống kê cơ bản trong HĐ Sử dụng

số liệu thống kê để hiểu những ý tưởng cơ bản về khả năng xảy ra và xác suất thực nghiệm của nó; hiểu được tầm quan trọng thực tế của xác suất

c) Giúp HS phát triển kiến thức cơ bản về các nghề liên quan đến toán học; cung cấp cho họ tư vấn nghề nghiệp dựa trên các kỹ năng, sở thích và tình huống độc đáo của họ; theo học trung học cơ sở, theo định hướng phân luồng tiếp tục học lên, học nghề hoặc đi làm)”

Trang 40

- Biểu diễn số tự nhiên trong hệ thập phân

- Dùng chữ số La mã để biểu diễn các số tự nhiên từ 1 đến 30

- Xác định thứ tự quan hệ) của tập hợp số tự nhiên; So sánh hai số tự nhiên cho trước

- Thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trên tập hợp số tự nhiên

- Khi cộng các số trong phép tính, hãy sử dụng các khía cạnh giao hoán, kết hợp và phân phối của phép nhân

- Sử dụng số mũ tự nhiên khi tính lũy thừa và cùng cơ số với số mũ tự nhiên để nhân và chia lũy thừa

- Hiểu tiến trình của các phép tính

- Sử dụng các tính năng của tính toán, chẳng hạn như lũy thừa với số mũ

tự nhiên, để thực hiện các phép tính trong đầu của bạn một cách nhanh chóng

và chính xác Giải quyết các vấn đề thực tế liên quan đến làm toán ví dụ, tính giá mua hàng, tính số lượng hàng hóa được mua từ tiền hiện có, )

- Nêu được mối liên hệ giữa phép chia hết, số chia hết và bội số

- Dùng các dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 9, 3 để kiểm tra xem một số nguyên

đã cho có chia hết cho các số đó hay không

- Có kiến thức về số nguyên tố và hợp số Trong trường hợp cơ bản, có thể phân tích một số tự nhiên lớn hơn 1 như là tích của các thừa số nguyên tố

- Nhận biết các phân số đơn giản, ước chung lớn nhất, bội chung và bội chung nhỏ nhất của hai hoặc ba số nguyên tự nhiên; Sử dụng ước số chung lớn nhất và bội số chung nhỏ nhất để cộng và trừ phân số

- Hiểu được phép chia có dư và định lý phép chia có dư

- Sử dụng các kỹ năng toán học để giải quyết các vấn đề trong thế giới thực ví dụ, tính toán số tiền hoặc số lượng hàng hóa khi mua sắm, xác định

số lượng đồ vật cần thiết để sắp xếp chúng theo các quy tắc cho trước, )

b) Số nguyên

- Nhận biết tập hợp các số được gọi là số nguyên âm

Ngày đăng: 04/07/2023, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w