Xung đột sắc tộc, tôn giáo đang là chủ đề có tính thời sự ở nhiều khu vực, quốc gia trên thế giới, nhất là khi đặt vấn đề này trong mối liên hệ với vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai đến nay, các nước thuộc địa nói chung, Indonesia nói riêng dù ít hay nhiều đều đang phải đối mặt với vấn đề ly khai và những bất ổn an ninh, chính trị có nguồn gốc từ những bất đồng về sắc tộc và tôn giáo. Việc giành được độc lập đã khó, song việc giữ được độc lập thực sự, nhất là về chính trị, kinh tế còn khó hơn rất nhiều. Để phát triển bền vững, mỗi quốc gia phải giải quyết tốt các mâu thuẫn xã hội, tạo lập môi trường hòa bình, ổn định trong nước, phải giữ cho lòng dân yên, hạn chế đến mức tối đa sự bất bình đẳng, sự chênh lệch về mức sống giữa các cộng đồng dân cư, ngăn ngừa và giải quyết tốt các mâu thuẫn có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo giữa các cộng đồng dân cư.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xung đột sắc tộc, tôn giáo đang là chủ đề có tính thời sự ở nhiều khuvực, quốc gia trên thế giới, nhất là khi đặt vấn đề này trong mối liên hệ vớivấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia Từ sau Chiến tranhthế giới lần thứ Hai đến nay, các nước thuộc địa nói chung, Indonesia nóiriêng dù ít hay nhiều đều đang phải đối mặt với vấn đề ly khai và những bất
ổn an ninh, chính trị có nguồn gốc từ những bất đồng về sắc tộc và tôn giáo.Việc giành được độc lập đã khó, song việc giữ được độc lập thực sự, nhất là
về chính trị, kinh tế còn khó hơn rất nhiều Để phát triển bền vững, mỗi quốcgia phải giải quyết tốt các mâu thuẫn xã hội, tạo lập môi trường hòa bình, ổnđịnh trong nước, phải giữ cho lòng dân yên, hạn chế đến mức tối đa sự bấtbình đẳng, sự chênh lệch về mức sống giữa các cộng đồng dân cư, ngăn ngừa
và giải quyết tốt các mâu thuẫn có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo giữa cáccộng đồng dân cư
Indonesia không chỉ là quốc gia nhiều đảo nhất mà còn là quốc gia có
số dân theo đạo Hồi đông nhất thế giới Đất nước của hơn 18 nghìn hòn đảonày là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau Ngoài việc có đa số ngườidân theo đạo Hồi, thì ở Indonesia còn có nhiều nhóm dân cư theo các tôn giáo
và tín ngưỡng khác nhau Kể từ khi Indonesia trở thành quốc gia độc lập(1945), cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia đã trảiqua rất nhiều thử thách, khó khăn liên quan đến việc giải quyết các mâu thuẫnsắc tộc, tôn giáo của các chính phủ Indonesia, nhằm không chỉ duy trì sự toànvẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia mà còn hướng đến tạo lập một môi trườnghòa bình để phát triển bền vững
Sau Chiến tranh Lạnh, nhất là từ khi bước sang thế kỷ XXI đến nay,việc giải quyết xung đột sắc tộc và tôn giáo luôn là sự quan tâm hàng đầu củacác chính phủ Indonesia, do nước này vẫn tiếp tục phải đối diện với các vấn
Trang 2đề xung đột sắc tộc, tôn giáo, cả cũ và mới Nền độc lập dân tộc, toàn vẹnlãnh thổ của Indonesia, một lần nữa, lại bị đe dọa trước phong trào li khai ởnhiều địa phương của nước này, đặc biệt là ở Aceh.
Việt Nam cũng là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưIndonesia Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ViệtNam luôn quan tâm đến việc đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa các cộng đồngdân cư, cho dù họ thuộc dân tộc thiểu số hay đa số, theo tôn giáo hay tínngưỡng nào Đoàn kết là nền tảng để tạo lập môi trường hòa bình, pháttriển bền vững Trên cơ sở đó, việc tham khảo kinh nghiệm xử lý, giảiquyết các vấn đề có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo, xung đột sắc tộc và tôngiáo ở Indonesia sẽ cung cấp những bài học rất có giá trị cho các quốc giatrong khu vực trong đó có Việt Nam
Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu xung đột sắc tộc, tôn giáo
và quá trình giải quyết các vấn đề trên sẽ giúp trả lời hàng loạt câu hỏi khoahọc như: liệu bản thân các tôn giáo, sắc tộc có phải là nguyên nhân tạo nênxung đột sắc tộc, tôn giáo không hay những xung đột đó là do chúng bị chínhtrị hóa? Tại sao một quốc gia Hồi giáo ôn hòa như Indonesia lại có đất cho sựphát triển của chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo như đã thấy hiện nay? Đâu lànhững giải pháp hiệu quả để khắc phục những xung đột sắc tộc, tôn giáo ởIndonesia cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới? Việc trả lời các câu hỏikhông chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà có cả ý nghĩa thực tiễn cấp bách
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: "Cộng hòa Indonesia giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giai đoạn 1991- 2015" làm hướng nghiên cứu cho đề tài luận án Tiến sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dântộc
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Luận án đi sâu phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôngiáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc từ năm
Trang 31991 đến năm 2015, rút ra ý nghĩa và những kinh nghiệm cho việc giải quyếtcác vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Namtrong bối cảnh hiện nay.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụchủ yếu sau:
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm về xung đột sắc tộc, tôn giáo, về độc
lập dân tộc, bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triểnsau Chiến tranh Lạnh
Thứ hai, phân tích các nhân tố tác động đến tình trạng xung đột sắc tộc,
tôn giáo tại Cộng hòa Indonesia từ năm 1991 đến năm 2015
Thứ ba, làm rõ thực trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, đồng thời, phân
tích ý nghĩa của việc giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo đối với nhiệm vụbảo vệ, củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia từ năm 1991 đến năm 2015
Thứ tư, đưa ra nhận xét và rút ra những kinh nghiệm cho việc giải
quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của các nướcĐông Nam Á và Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xung đột sắc tộc tôngiáo ở Indonesia, những thách thức từ các cuộc xung đột đó đối với độc lậpdân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Indonesia và các nỗ lực giải quyết của chínhphủ nước này nhằm giải quyết các vấn đề trên
Xung đột sắc tộc và tôn giáo tại Indonesia đã xuất hiện từ những thế kỷtrước với phạm vi rộng lớn, phức tạp Trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, đề tàichỉ tập trung nghiên cứu một số điểm xung đột sắc tộc-tôn giáo, ly khai dântộc điển hình ở Indonesia như: Đông Timor; Ache; Irian Jaya; Maluku; xungđột giữa người Hoa và người bản địa từ năm 1991 đến năm 2015 Từ đó luận
án đi sâu phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo của Cộnghòa Indonesia trong giai đoạn này nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc
Trang 4Về không gian: toàn bộ lãnh thổ Indonesia bao gồm khu vực trung tâm
và các đảo, quần đảo của nước này
Về thời gian: từ 1991 đến 2015
+ Đề tài lấy mốc năm 1991 vì đây là thời kỳ Trật tự thế giới 2 cực kếtthúc, Liên xô tan rã, tình hình chính trị, an ninh khu vực và thế giới có nhiềubiến động lớn ảnh hưởng đến công cuộc củng cố độc lập của các quốc giađang phát triển nói chung và ở Cộng hòa Indonesia nói riêng
+ Mốc năm 2015 là mốc Indonesia có sự chuyển giao quyền lực từTổng thống Susilo Bambang Yudhoyono sang Tổng thống Joko Widodo, làthời điểm có những thay đổi về bối cảnh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc(trong Cộng đồng ASEAN), năm đó cũng là năm vấn đề xung đột tôn giáo sắctộc ở Indonesia được giải quyết một cách cơ bản
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở hệ thống các quan điểm và phươngpháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Hình thái kinh tế-xã hội; về Nhànước và giai cấp; về thời đại, vấn đề dân tộc và quyền tự quyết dân tộc…Đồng thời, vận dụng những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ ChíMinh về độc lập dân tộc; các chủ trương chính sách được nêu trong cươnglĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam để tiếp cận,nghiên cứu thực hiện mục tiêu và những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra choluận án
Ngoài ra, tác giả luận án còn nghiên cứu và sử dụng một số quan điểm
lý luận của các học giả tư sản và các học giả mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa
để phân tích và nghiên cứu về một số vấn đề như: nền dân chủ tư sản, vai tròcủa nhà nước pháp quyền tư sản trong việc ban hành các giải pháp nhằm giảiquyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc trong nước, củng cố vàbảo vệ nền độc lập dân tộc của quốc gia
Trang 54.2 Phương pháp nghiên cứu
Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, cùng với hệthống phương pháp luận sử học mác xít là những cơ sở chính để hình thànhphương pháp nghiên cứu luận án
- Phương pháp lịch sử: đề tài nghiên cứu được đặt trong tiến trình lịch
sử cụ thể, không gian, thời gian đó là bối cảnh của Indonesia nói riêng; củatình hình thế giới, khu vực từ năm 1991 đến năm 2015; theo giai đoạn pháttriển nhất định; phù hợp với logic lịch sử
- Phương pháp phân tích địa - chính trị: luận án được xem xét các vấn
đề xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng ảnh hưởng của nó trước hết dưới góc độđịa - chính trị, trong không gian địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn của khuvực, từ đây thấy rõ lợi ích, mục tiêu chính trị, nguyên nhân, biểu hiện… củaxung đột sắc tộc, tôn giáo và những tác động của nó tới Indonesia
- Phương pháp lôgic, nghiên cứu tình huống, so sánh hệ thống: Các
nghiên cứu sẽ phải từ những diễn biến, những xung đột sắc tộc, tôn giáo đã
và đang xảy ra để phân tích, làm rõ những giải pháp giải quyết xung độtsắc tộc, tôn giáo tại Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lậpdân tộc, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc giải quyết các vấn đề dântộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam trong bối cảnhhiện nay
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được tác giả sử dụng trong thu
thập, xử lý và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, các công trìnhnghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài
Thêm vào đó, tác giả luận án cũng sử dụng các phương pháp như: sưutầm tư liệu, hệ thống, phân loại, thống kê, phương pháp phỏng vấn chuyêngia, phương pháp liên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, chính trị quốc tế nhằm
hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu chính
Trang 65 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống về nguyên nhân, thực
trạng và tác động của xung đột sắc tộc, tôn giáo đối với độc lập dân tộc và toànvẹn lãnh thổ của Indonesia trong giai đoạn từ 1991 đến 2015
Hai là, luận án đã làm rõ những nỗ lực của Chính phủ Indonesia trong
quá trình giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo ở nước họ, chỉ ra những thànhtựu và hạn chế của các nỗ lực đó
Ba là , tìm ra được những đặc điểm chính của xung đột sắc tộc tôn giáo
ở Indonesia, trong so sánh với các cuộc xung đột tương tự ở một số nước ĐôngNam Á khác
Bốn là, góp thêm những cứ liệu từ thực tiễn giải quyết xung đột sắc tộc,
tôn giáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc choViệt Nam trong hoạch định, triển khai thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáonhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: luận án khẳng định xung đột tôn giáo, sắc tộc ở Indonesia
không phải là sự va chạm giữa văn minh Hồi giáo và Thiên chúa giáo Nguồncội của các cuộc xung đột đó là kết quả của sự chính trị hóa tôn giáo của một
số thế lực chính trị ở Indonesia nhằm phục vụ cho lợi ích riêng mà thôi
- Về thực tiễn: Qua phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn
giáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giaiđoạn 1991-2015, luận án góp phần gợi mở một số vấn đề thực tiễn trong việchoạch định và triển khai các chính sách dân tộc, tôn giáo cùng chính sách đốingoại của Việt Nam thông qua hợp tác giải quyết vấn đề xung đột sắc tộc, tôngiáo trong bối cảnh những biến đổi của môi trường địa - chính trị khu vựchiện nay
- Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác nghiên cứu,giảng dạy môn Lịch sử Phong trào Cộng sản, Công nhân quốc tế và giải
Trang 7phóng dân tộc; môn Quan hệ quốc tế; các môn: lịch sử thế giới hiện đại; lịch
sử Đông Nam Á; lịch sử Quan hệ quốc tế…
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục chữ viết tắt, tài liệutham khảo, nội dung đề tài dự định kết cấu thành 4 chương, 09 tiết
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án
- Chương 2: Những nhân tố tác động đến xung đột sắc tộc, tôn giáo
trong công cuộc bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Indonesia giaiđoạn 1991-2015
- Chương 3: Thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo nhằm bảo
vệ và củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Indonesia giai đoạn 1991-2015
- Chương 4: Nhận xét và những kinh nghiệm rút ra
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong nghiên cứu, tác giả luận án đãtiếp cận với một khối lượng tài liệu tham khảo lớn của các nhà nghiên cứuIndonesia, các học giả nước ngoài và các nhà khoa học Việt Nam liên quanđến vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo ở đất nước này Nguồn tài liệu đó tậptrung nghiên cứu trên nhiều phương diện: địa lý, lịch sử, văn hoá, dân tộc, tôngiáo, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế vĩ mô của Indonesia Nguồn tài liệu đã tiếp cận được là cơ sở và cứ liệu quan trọnggiúp nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề mà luận áncần tập trung giải quyết
1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ INDONESIA 1.1.1 Những công trình nghiên cứu về Indonesia của các học giả quốc tế
Đông Nam Á là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng của thế giớinên luôn giành được sự chú ý nghiên cứu của nhiều học giả với những góc
độ tiếp cận đa dạng Indonesia là một nước lớn trong khu vực, có nhữngnét đặc thù về điều kiện tự nhiên, dân cư, nhưng cũng có lịch sử đấu tranhgiải phóng dân tộc, củng cố độc lập dân tộc, phong cách ứng xử cũng nhưtrình độ phát triển xã hội khá tương đồng so với các quốc gia khác cùngkhu vực Indonesia cũng là một trong những nước sáng lập ASEAN vàđóng vai trò lãnh đạo Hiệp hội này trong thực tế cho tới năm 1998, khiTổng thống nước này là Suharto bị lật đổ Đối với thế giới, đặc biệt là cácnước lớn, vị trí địa-chiến lược của Indonesia có vai trò vô cùng quan trọng.Không một nước lớn nào không mong muốn xác lập được ảnh hưởng ưuthế ở quốc gia "vạn đảo" này
Trang 9Vì thế, Indonesia được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm Về tổngquát có thể phân các công trình nghiên cứu về Indonesia ở ngoài nước thànhcác nhóm sau:
- Thứ nhất, những nghiên cứu về lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và củng cố độc lập dân tộc của Indonesia.
Cuốn sách "Histoire de l’Indonésie" (Lịch sử Indonesia) của Giáo sư
Jean Bruhat [16] Cuốn sách gồm 5 chương, chương 1 và 2 trình bày kháiquát về đất nước Indonesia trong thời kỳ là thuộc địa của thực dân Hà Lan.Chương 3;4;5 thông qua những mốc lịch sử chủ yếu trong sự vận động, pháttriển của Indonesia, tác giả đi sâu phân tích diễn biến của các phong trào dântộc trong tiến trình đấu tranh giành, giữ và củng cố độc lập dân tộc đến năm
1975 Cuốn sách là công trình nghiên cứu Indonesia về lịch sử, nên tác giả đãlựa chọn, đề cập, phân tích những sự kiện tiêu biểu, đánh giá những đặc điểmvăn hóa, xã hội, dân cư, tộc người, tôn giáo…Đây là tài liệu tham khảo rất giátrị cho tác giả khi thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu luận án của mình
Cuốn "Lịch sử Đông Nam Á" của tác giả người Anh - D.G.E.Hall [42].
Tác giả là giáo sư danh dự thuộc trường Đại học Luân Đôn, ông được coi làchuyên gia hàng đầu về Lịch sử Đông Nam Á Cuốn sách đã phác hoạ nênmột bức tranh khá rõ nét và đầy sinh động về lịch sử ra đời, phát triển, quátrình bị thực dân phương Tây xâm lược và sự thiết lập chế độ cai trị thuộc địacủa Hà Lan tại Indonesia Tất cả các nội dung này được trình bày trong 3
phần đầu của cuốn sách Ở phần thứ tư, tác giả tập trung nghiên cứu về cuộc
đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Indonesia năm 1945 cùng vớinhững diễn biến phức tạp của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược (HàLan), trong từng chương riêng (chương 43, 45, 48, 50, 51, 52) Để làm nênthành công của cuốn sách, Giáo sư D.G.E Hall đã khai thác nhiều nguồn tàiliệu phong phú từ kho lưu trữ, văn bia, tham khảo nhiều tác phẩm của các nhànghiên cứu đi trước với sự phê phán và chọn lọc Vì vậy đây là một công trình
Trang 10khoa học nghiêm túc và có giá trị Tuy nhiên, cuốn sách dừng sự nghiên cứuvào năm 1950, đây là thời điểm có nhiều sự kiện đang tiếp diễn với tính đadạng và chằng chéo, là sự chuẩn bị cho những thay đổi lớn trên chính trườngIndonesia Nhưng giá trị của cuốn sách mà tác giả luận án quan tâm là, khinhìn nhận về quá trình đấu tranh giành độc lập của Indonesia, D.G.E Hall đãchỉ ra được vai trò của lực lượng tư sản cấp tiến với những nỗ lực tích hợp lợiích đa dạng của các sắc tộc, tôn giáo để đạt được sự đồng thuận về mục tiêuxây dựng một nhà nước Cộng hòa độc lập.
Cuốn sách "Chủ nghĩa thực dân là một thứ cần phải loại trừ khỏi thế
giới" của Sukarno [111] Ông Sukarno, một nhà lãnh đạo đầy uy tín của nhân
dân Indonesia trong giai đoạn mới thành lập nước Cộng hoà Trong tác phẩmnày, Sukarno đứng trên quan điểm của đại bộ phận nhân dân Indonesia đểnhìn nhận về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của đất nước mình.Ông cho rằng thực dân là kẻ thù chung của nhân dân các dân tộc bị áp bứctrên toàn thế giới, đặc biệt là nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc và cầnxác lập một mối liên hệ, hợp tác giữa các dân tộc thuộc địa để chống thựcdân Tác phẩm đã giúp chúng ta hiểu quan điểm của những nhà lãnh đạoIndonesia trong việc định hướng và lựa chọn các chính sách phát triển đấtnước, trong đó có chính sách đối ngoại
Cuốn sách "Suharto A political biography" (Suharto: Một tiểu sử chính
trị) của tác giả R.E.Elson [193] Đây là công trình nghiên cứu về vị Tổngthống thứ hai của nhân dân Indonesia, một người mà trong cách đánh giá củacác nhà nghiên cứu hiện nay trên thế giới luôn cho là đầy mâu thuẫn giữacông và tội Với cách tiếp cận nghiên cứu của mình, Elson đã tập trung phântích về đường lối chính trị mà Tổng thống Suharto đã thực hiện trong hơn 30năm giữ cương vị là người đứng đầu đất nước Trên cơ sở đó, tác giả đưa ramột số nhận xét, đánh giá trên hai mặt thành công và hạn chế về những việc
mà vị Tổng thống này đã làm Trong quá trình nghiên cứu, để đưa ra những
Trang 11đánh giá xác thực nhất, tác giả đã căn cứ vào nguồn tài liệu gốc củaIndonesia, đó là những chính sách chính trị, ngoại giao; kinh tế, xã hội; anninh quốc phòng mà Tổng thống Suharto đã ban hành trong giai đoạn 1967 -
1998 Vì vậy, cuốn sách là nguồn tư liệu rất quan trọng để nghiên cứu sinhtham khảo trong quá trình hoàn thành đề tài luận án
- Thứ hai, những nghiên cứu về vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập ở Indonesia.
Công trình "The Indonesian killings 1965-1966: Studies from Java and
Bali" (Tàn sát người ở Indonesia 1965-1966: những nghiên cứu ở Java và
Bali) của Centre of Southeast Asia Studies [111] Công trình đã phân tíchnhững mâu thuẫn xã hội ở Indonesia trước cuộc đảo chính quân sự năm 1965của Suharto, làm rõ nguyên nhân của những cuộc thanh trừng, tàn sát đối vớicác đảng viên cộng sản nói riêng và người dân vô tội ở Java và Bali nóichung Hướng tiếp cận nghiên cứu, lý giải của các tác giả trong công trình đãcung cấp cho tác giả luận án thêm một "góc nhìn đa chiều" khi xem xét, đánhgiá các xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng ảnh hưởng của nó đến xã hộiIndonesia trong giai đoạn được nghiên cứu khi thực hiện luận án
Cuốn sách "Lịch sử Đông Nam Á hiện đại" của Clive J.Christie [19].
Tác giả Clive J.Christie là người Pháp, một chuyên gia nghiên cứu về các vấn
đề dân tộc, sắc tộc và tôn giáo nên công trình đã tập trung đi sâu nghiên cứucác khía cạnh liên quan đến các vấn đề này Cuốn sách được cấu trúc thành
hai phần, trong đó phần thứ hai tập trung nghiên cứu quá trình phi thực dân
hoá và chủ nghĩa ly khai trong khu vực Hồi giáo ở Đông Nam Á Trong đóIndonesia được đề cập tương đối rõ vì đây là nơi có nhiều cư dân theo đạoHồi sinh sống Clive J.Christie đã dành nhiều thời gian để khắc hoạ vềIndonesia như là một "ngôi nhà đạo Hồi", với tất cả tính tích cực cùng nhữngtác động phức tạp của nó đối với Indonesia nói riêng, cả khu vực Đông Nam
Trang 12Á nói chung Đặc biệt, cuộc nổi dậy của người Aceh được tác giả đề cập khá
kỹ (từ trang 231 đến 248), từ đó lột tả được phần nào những khúc mắc trongvấn đề Aceh - một vấn đề rất phức tạp của Indonesia trong quá khứ và hiệntại Khi công bố cuốn "Lịch sử Đông Nam Á hiện đại", tác giả CliveJ.Christie dự định thông qua nghiên cứu các phong trào ly khai và khởi nghĩakhác, để làm rõ tiến trình chung về phi thực dân hoá ở Đông Nam Á, lịch sử
và hậu quả của nó Nhưng đây là những vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm vàhiện đang gây tranh cãi trong giới khoa học, vì vậy những đánh giá trongcuốn sách được coi là quan điểm riêng của tác giả Tuy nhiên, với quan điểmnghiên cứu "thuần tuý mang tính lịch sử và lập luận cơ bản của nó là cácphong trào ly khai khác nhau" và dựa trên nguồn tư liệu đã qua kiểm định,cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh khi tìmhiểu về những vấn đề liên quan đến nội dung luận án
Cuốn sách "Indonesia Today - Challenges of History" (Indonesia ngày
nay - Những thách thức của lịch sử) của Grayson Lloyd và Shannon Smith[178], là một công trình nghiên cứu tổng hợp về lịch sử phát triển củaIndonesia từ 1945 đến đầu thế kỷ XXI Gồm nhiều bài viết nhỏ với những chủ
đề riêng biệt, được kết cấu thành 5 chương nội dung, trong đó ba chươngchính đề cập đến 3 lĩnh vực chủ yếu là chính trị, kinh tế và văn hoá Bằngcách tiếp cận theo hướng kết hợp giữa trình bày sự kiện với những nhận định,đánh giá, so sánh đan xen nhau…, các tác giả đã chỉ ra những mặt làm được
và chưa làm được của các Tổng thống Indonesia (từ năm 1945 đến 2000);đồng thời vẽ lên một bức tranh khá đầy đủ về đất nước Indonesia trong mộtgiai đoạn tương đối dài với những thành công, hạn chế trong con đường pháttriển của mình Giai đoạn 1967 - 1998 với sự lãnh đạo của Tổng thốngSuharto ở Indonesia được phân tích, đánh giá, so sánh với các giai đoạn trước
và sau; thông qua các cứ liệu lịch sử cụ thể để nhìn nhận về những thànhcông, hạn chế của Suharto một cách khách quan Cuốn sách đã đem lại những
Trang 13thông tin và cách tiếp cận đa chiều về Indonesia trong một giai đoạn lịch sử
mà tác giả có thể tham khảo tốt trong quá trình thực hiện luận án
Công trình "Ethnic Conflics in Southeast Asia" (Xung đột tộc người ởĐông Nam Á) của Adrian Vicker [160] Công trình đã đề cập một trongnhững vấn đề nổi cộm của nền chính trị khu vực và thế giới hiện nay, đó làvấn đề ly khai dân tộc Công trình khẳng định ly khai tộc người ở Đông Nam
Á có liên quan chặt chẽ đến vấn đề dân tộc, một vấn đề phức tạp và nhạy cảm
ở các quốc gia đa dân tộc trong quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc.Nhóm nghiên cứu công trình còn nâng vấn đề ly khai dân tộc thành chủ nghĩa
ly khai, một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc trong quá trình phát triển của cácquốc gia đa dân tộc Theo các tác giả, bước sang thế kỷ XXI, hệ tư tưởngkhông còn là nhân tố chính của những xung đột dân tộc trên thế giới Hiệnnay, hầu hết các khu vực trên thế giới, từ các nước phát triển đến các nướcđang phát triển (trong đó có Đông Nam Á và Indonesia), nhiều quốc gia phảiđối phó với vấn đề ly khai dân tộc trong quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dântộc Nhóm tác giả cho rằng, vấn đề ly khai dân tộc là một trong những trởngại mà các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia phải tìm ra những giảipháp hữu hiệu để khắc phục, vượt qua đem lại sự ổn định và phát triển
Công trình nghiên cứu "A History Modern Indonesia 1200 - 2004"
(Lịch sử Indonesia hiện đại 1200 - 2004) của tác giả M.C.Ricklefs [188], làmột kho tư liệu với nhiều sự kiện phản ánh trung thực về lịch sử Indonesiahiện đại: Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của cácvương triều phong kiến; sự thâm nhập của các luồng văn hoá Đông - Tâythông qua quá trình giao thương buôn bán ở Eo biển Malacca; sự xuất hiệncủa những đoàn truyền giáo với mục tiêu chính trị, cuộc chiến để tranh giànhthuộc địa giữa các nước thực dân phương Tây (Anh, Tây Ban Nha, Bồ ĐàoNha và Hà Lan) và sự thắng thế của thực dân Hà Lan; sự cai trị hà khắc vàcác cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia chống lại ách đô hộ của thực dân
Trang 14Hà Lan Thông tin quan trọng mà tác giả luận án tham khảo từ cuốn sách là,những vấn đề sắc tộc, tôn giáo ở Indonesia được M.C.Ricklefs khắc họa mộtcách sinh động thông qua việc phân tích hàng loạt các sự kiện, xung đột chỉ ranguyên nhân cùng những tác động đến diễn tiến lịch sử Indonesia.
Bài viết: "Behind Indonesia’s Red Scare" (Đằng sau nỗi sợ Đỏ của
Indonesia ) của tác giả Gatra Priyandita [175] Gatra Priyandita là nghiên cứusinh tiến sĩ tại Trường Văn hóa, Lịch sử và Ngôn ngữ tại Đại Học Quốc giaAustralia Nghiên cứu của ông tập trung vào ngoại giao công chúng củaIndonesia và chính trị Indonesia thời hậu Suharto Bài viết đã khái quát cuộctàn sát năm 1965-1966 (hàng trăm ngàn người bị nghi ngờ là cộng sản hay có
tư tưởng ủng hộ cộng sản đã bị cầm tù và giết hại) và các vụ vi phạm nhânquyền khác như cuộc thảm sát Talangsari vào năm 1989, cuộc bạo loạn ởJakarta vào năm 1998, và những vụ giết người ở Aceh và Papua Đồng thờinêu vấn đề đáng suy ngẫm: phần lớn các thủ phạm chính của những sự kiệnhay xung đột trên ngày nay vẫn còn sống, vẫn tiếp tục có ảnh hưởng chính trị
và sẽ không phải đối mặt với công lý trong tương lai gần, và người dânIndonesia, những người mà quyền tự do dân sự của họ ngày càng bị hạn chế
Cuốn sách: "Why Terrorists Quit: The Disengagement of Indonesian
Jihadists" (Vì sao bọn khủng bố bỏ cuộc: Gỡ bỏ cam kết với lực lượng Jihad
Indonesia) của Julie Chernov Hwang [184] Trong tác phẩm Julie Hwang đãtìm ra bốn yếu tố chung khiến các phần tử khủng bố rời bỏ tổ chức cực đoan.Theo bà Hwang, đó là sự thất vọng khi những phần tử khủng bố nhận ra rằngcái lợi thu được không đáng với cái giá mà họ phải trả Từ nhận xét trên, tácgiả kết luận rằng để rời bỏ phong trào cực đoan hoàn toàn và tái hòa nhập xãhội, sự hỗ trợ của bạn bè và gia đình là một nhân tố then chốt đối với cácphần tử này
Cuốn sách: "BTI 2018: Indonesia Country Report" (BTI 2018 - Báo
cáo quốc gia Indonesia) [190] Đây là tài liệu gốc của chính phủ Indonesia
Trang 15vừa công bố Báo cáo dài 45 trang dịch, đã tổng kết quá trình chuyển đổi dânchủ của Indonesia bắt đầu vào tháng 5 năm 1998, khi nhà độc đoán lâu nămSuharto từ chức tổng thống sau 32 năm tại vị, phân tích những điểm mạnh,hạn chế của các đời tổng thống tiếp theo ở Indonesia Báo cáo tổng kết hoạtđộng của Indonesia qua 20 năm và đưa ra chiến lược phát triển đất nước trongnhững năm tiếp theo Cuối cùng Báo cáo đưa ra nhận định, Indonesia cần pháttriển hơn nữa hệ thống phúc lợi của mình để cung cấp các dịch vụ cơ bản, đặcbiệt là trong lĩnh vực y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng Vấn đề này phải đượcthực hiện với quản trị tốt ở tất cả các cấp Nó cũng đòi hỏi sự hợp lực của vaitrò của nhà nước, khu vực tư nhân và xã hội dân sự Đây là tài liệu gốc, cậpnhật rất quí giúp tác giả thực hiện luận án.
Ngoài các công trình của các học giả Phương Tây được công bố bằngtiếng Anh, nhiều học giả người Hoa cũng quan tâm nghiên cứu về xung độttôn giáo, sắc tộc ở Indonesia Sau đây là một số công trình đáng chú ý
+ Bài viết: "Bước đầu tìm hiểu thích ứng văn hóa cộng đồng dân tộc
Hoa ở Indonesia trong gần 30 năm qua" của tác giả Trần Tú Dung [28] Bài
viết khái quát, nhìn lại những nguyên nhân lịch sử trên phương diện này, phântích những đóng góp của tộc người Hoa tại Indonesia đối với những tiến bộ,phồn vinh trong các lĩnh vực sản xuất, y tế, thể thao, đoàn thể, tôn giáo bằngnhững tư duy dân tộc và chuẩn mực hành vi của tộc người Hoa Đồng thời,bài viết cũng chỉ ra, vai trò và chính sách của chính phủ Indonesia đóng vaitrò then chốt trong việc đảm bảo người Hoa ở Indonesia với tư cách là mộtdân tộc thiểu số tại Indonesia có thể được hưởng những quyền lợi bình đẳngdân tộc, được hưởng sự bảo vệ và tôn trọng từ chính phủ Indonesia
+ Bài báo: "Religious beliefs of Chinese people in Indonesia" (Tín
ngưỡng tôn giáo của người Hoa ở Indonesia) của tác giả Andyni Khosasih[160] Bài viết xuất phát từ những góc nhìn khác nhau về lịch sử và hiệnthực, tiến hành khảo sát trên cơ sở tổng hợp về tôn giáo của người Hoa ở
Trang 16Indonesia, tình hình căn bản, những tồn tại trong thực tế, phân tích các đặctính, kết quả phiếu khảo sát để đưa ra những phát hiện về xu hướng tươnglai của vấn đề này Người Hoa ở Indonesia có dân số lên đến gần 7 triệungười Những thành tựu kinh tế của người Hoa ở đây gắn liền với văn hóangười Hoa Do vậy, muốn hiểu được văn hóa người Hoa và cộng đồngngười Hoa ở Indonesia cần phải gắn liền với việc phân tích tín ngưỡng củangười Hoa.
+ Bài viết: "Nghiên cứu vấn đề chia rẽ dân tộc Aceh ở Indonesia dưới góc độ chỉnh hợp quốc gia" của Chu Tuấn Hoa [54] Bài viết nội dung chính
đề cập đến vấn đề: Chỉnh hợp quốc gia là một nhiệm vụ lâu dài và gian khổ
mà một quốc gia đa dân tộc phải đối mặt Phần lớn các quốc gia Đông Nam Áhiện nay đều là các quốc gia đa sắc tộc Về mặt địa lý, các nước đều tồn tạiđặc trưng bởi "phân mảnh hóa", quá trình chỉnh hợp quốc gia gặp nhiều khókhăn Sự chia tách của nhóm dân tộc Aceh ở Indonesia mang tính đại biểu và
là một cửa sổ để nghiên cứu các vấn đề dân tộc và chỉnh hợp quốc gia ở ĐôngNam Á Từ góc độ chỉnh hợp quốc gia, tác giả bài viết xem xét vấn đề chia rẽsắc tộc ở Indonesia, "vành đai địa lý phân mảnh" mang tính đa sắc tộc, đa tôngiáo, đa văn hóa, địa lý Sự mất cân bằng trong phát triển kinh tế giữa các dântộc khác nhau, và những nguy cơ tiềm ẩn trong lịch sử của chế độ thực dânkhiến cho quá trình chỉnh hợp dân tộc tại đây rất khó thực hiện, tạo thành sựchia rẽ sắc tộc Mặt khác, sự phân chia quyền lực chính trị tại Indonesia sauđộc lập không đồng đều, phân bố cấu trúc mất cân bằng, tâm lý tôn giáo dântộc mạnh mẽ, trong khi ý thức quốc gia không có được sự quy chuẩn vàhướng dẫn chính xác Thêm vào đó, những mâu thuẫn giữa chính quyền trungương và địa phương, những sai lầm của chính sách dân tộc ở một mức độ nhấtđịnh, đã làm tan biến bản sắc dân tộc vốn đã khá suy yếu và cản trở quá trìnhchỉnh hợp quốc gia của Indonesia và việc giải quyết sự chia rẽ của dân tộcAceh Từ đó đưa ra nhận định, việc giải quyết vấn đề chia rẽ dân tộc, cần bắt
Trang 17đầu từ củng cố sự chỉnh hợp quốc gia và phụ thuộc vào nhiều nhân tố thuộcnhiều phương diện.
+ Bài viết: "Chỉnh hợp chính trị ở các nước đa dân tộc đang phát triển:
điểm chung, khó khăn và cách hóa giải - trên cơ sở so sánh giữa Indonesia và Nigeria" của tác giả Dư Xuân Dương [30] Đây là bài viết của một học giả
Trung quốc nghiên cứu vấn đề chỉnh hợp chính trị của các nước đa dân tộcđang phát triển đòi hỏi phải xuất phát từ góc độ so sánh cấp quốc gia Thôngqua so sánh tiến trình chỉnh hợp chính trị của Indonesia và Nigeria từ khithành lập nước đến nay, rút ra những điểm chung chủ yếu mà hai nước gặpphải trong quá trình chỉnh hợp chính trị Theo tác giả bài báo, cách thức hóagiải những khó khăn trên chủ yếu bao gồm: 1/ Tìm kiếm điểm trùng hợptrong nhận thức chung, tôn trọng những khác biệt văn hóa, xây dựng cộngđồng dân tộc quốc gia; 2/ Tìm kiếm, xây dựng thể chế, cơ chế chính trị đảmbảo gắn kết về lợi ích, chia sẻ thành quả; 3/ Xóa bỏ những ảnh hưởng củaquân nhân, quân đội trong đời sống chính trị, trừng trị nghiêm khắc hành vitham nhũng; 4/ Tìm kiếm và thúc đẩy nhưng chính sách hòa hợp dân tộc vàhòa hợp tôn giáo đa ngôn ngữ
Đây là những tài liệu từ nguồn tiếng Trung đã được dịch sang tiếngViệt, những tài liệu này gợi ý cho tác giả luận án nắm bắt về chính sách quản
lý, giải quyết những vấn đề có liên quan đến người Hoa ở quốc gia này, qua
đó liên hệ, so sánh sự giống và khác nhau trong giải quyết xung đột sắc tộc ởcác nước đang phát triển có đa dân tộc cùng sinh sống Những tài liệu nàyphục vụ tác giả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra ở chương 3 và chương 4của luận án
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả Indonesia
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến năm 2015 là quãng thời gian tương đốidài trong quá trình phát triển của Cộng hòa Indonesia Đây cũng là thời kỳ thếgiới và khu vực có nhiều biến động Trong bối cảnh đó, Cộng hòa Indonesia là
Trang 18quốc gia điển hình về tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộctrong khu vực Việc quốc gia này xử lý các xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khaidân tộc cùng những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp củng cố độc lập dân tộctrong thời gian này đã được nhiều nhà nghiên cứu Indonesia thực hiện Cáccông trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án tiêu biểu mà tác giả cóthể tiếp cận:
+ Tập hợp các bài phỏng vấn về kinh tế và chính trị về "Indonesia yang
Berubah" (Indonesia đang thay đổi) của các tác giả Gunawan Haryono, Daddi
Prianto, Agus Sukapti, Sri, Yulia Nuraini và Ratna [180]
+ Bài viết "Budaya Indonesia, Kajian Arkeologi, Seni, dan Sejarah"
(Văn hoá Indonesia, đánh giá khảo cổ, nghệ thuật và lịch sử) của tác giảSedyawati Edi [199] Tác phẩm đã trình bày khá chi tiết về lịch sử phát triểnvăn hóa Indonesia thông qua những đánh giá về khảo cổ và nghệ thuật kiếntrúc của nước này
+ Cuốn sách "Politik Indonesia dalam Perspektif Sejarah" (Chính trị
Indonesia trong bối cảnh lịch sử) của tác giả Warday T.Baskara [204]
+ "Military Politics, Ethnicity and Conflict in Indonesia" (Chính trị
quân sự, sắc tộc và xung đột ở Indonesia) của tác giả Ikrar Nusa Bhakti, SriYanuarti và Moamad Nurhasim [192] Các tác giả Ikrar Nusa Bhakti, SriYanuarti và Mochamad Nurhasim, là những nhà nghiên cứu tại Trung tâmNghiên cứu chính trị tại Viện Khoa học Indonesia (LIPI) Trong tập tài liệunày, nhóm tác giả đã hệ thống, phân tích về vai trò của quân đội trong chínhtrị Indonesia: 1945-2004 Đặc biệt, tài liệu đã làm rõ vai trò của quân độitrong xử lý vấn đề ly khai ở Papua (1998-2004); các phản ứng của quân độiđối với Phong trào Aceh tự do (1976-1998) Đây là những tài liệu rất quí màtác giả đã khai thác phục vụ đề tài luận án
+ "Lessons learned from Indonesia's conflicts: Aceh, Poso and
Papua " (Bài học rút ra từ các cuộc xung đột của Indonesia: Aceh, Poso và
Papua ) của tác giả Sidney Jones [201] là Viện trưởng Viện Phân tích Chính
Trang 19sách Xung đột (IPAC) Tác giả đề cập trong bài nội dung về: ba cuộc xungđột mà chính phủ Indonesia đã cố gắng giải quyết đưa ra một số bài họcnghiêm túc cho tổng thống tiếp theo của đất nước Đó là: một thỏa thuận hòabình ở Aceh đã ngăn chặn một cuộc nổi dậy nhưng các cựu phiến quân tỏ ra
là những nhà lãnh đạo chính trị tồi tệ Một thỏa thuận ở Poso đã ngăn chặncuộc chiến giữa Thiên chúa giáo - Hồi giáo nhưng để lại một mạng lưới cựcđoan tại chỗ vẫn tiếp tục hoạt động Và một bộ máy chính quyền mới đã đượcthành lập cho Papua đã thất bại khi chỉ tập trung vào phát triển kinh tế, trongkhi các bước ban đầu để đối thoại với Jakarta dường như bị đình trệ Tác giảJones đã phân tích lý do của những kết quả trên và đưa ra nhận định về những
gì một chính quyền mới có thể cố gắng tiến lên Đây là những thông tin rấtquan trọng mà tác giả luận án đã khai thác và đề cập trong chương 3
+ "Religion Conflicts in Indonesia Problems and Solutions" (Xung đột
tôn giáo ở Indonesia các vấn đề và các giải pháp) của tác giả: SinthaWahjusaputri [202] Bài viết phân tích những xung đột tôn giáo ở Indonesia
và đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này
+ Bài viết: "Harmony in Diversity: A Government Policy and Mutual
Effort of " (Sự hài hòa trong đa dạng: Chính sách của chính phủ và nỗ lực
chung của những người tôn giáo ở Indonesia) của Dede Rosyada [173].Thông qua tiếp cận và phân tích nhiều văn bản gốc của chính phủ Indonesia,tác giả Dede Rosyada đã đưa ra nhận định: những người sáng lập của đấtnước đã đặt ra thỏa thuận ngay từ đầu, rằng họ khác nhau về sắc tộc, tôn giáo
và văn hóa, nhưng họ có một mục tiêu chung là trở thành một quốc gia độclập có thể thiết lập đất nước của mình để tạo ra chủ nghĩa lý tưởng lẫn nhau
để trở thành một xã hội phát triển, công bằng và thịnh vượng Để trở thànhmột quốc gia phát triển có thể đứng ngang hàng với các quốc gia khác trên thếgiới và quản lý toàn bộ tiềm năng của quốc gia, sự ổn định chính trị, sự thamgia của công chúng và sức mạnh của nguồn nhân lực đáng tin cậy là cần thiết
Trang 20+ "Religion in Indonesia" (Tôn giáo ở Indonesia) của Indonesia [191].
Đây là bài viết đăng trên trang điện tử đầu tư, mục văn hóa của Indonesia Bàiviết đề cập: Indonesia là một quốc gia dân chủ thế tục có dân số đa số Hồigiáo Hiến pháp Indonesia đảm bảo tất cả mọi người ở Indonesia có quyền tự
do thờ cúng, mỗi người theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của riêng mình Nócũng quy định rằng nhà nước sẽ dựa trên niềm tin vào "Thiên Chúa duy nhất
và duy nhất" (một điều kiện cũng hình thành nguyên tắc đầu tiên củaPancasila, triết lý nhà nước Indonesia được Sukarno đưa ra vào năm 1945).Bài báo nhận định, Mặc dù Indonesia không phải là một quốc gia Hồi giáo,các nguyên tắc Hồi giáo có ảnh hưởng đến việc ra quyết định chính trị Hơnnữa, một số nhóm Hồi giáo nhất định đã có thể ảnh hưởng đến việc ra quyếtđịnh chính trị và tư pháp thông qua (mối đe dọa) bạo lực Điểm đặc biệt trongchính sách của chính phủ Indonesia đối với tôn giáo (tự do) được bài báo rút
ra là nó chỉ công nhận sáu tôn giáo chính thức (là Hồi giáo, Tin lành, Thiênchúa giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo và Nho giáo) Mỗi người Indonesia đượcyêu cầu phải nắm lấy một trong những tôn giáo này vì đây là dữ liệu cá nhânbắt buộc được đề cập trong các tài liệu chính thức như hộ chiếu và thẻ nhậndạng khác
+ Ngoài ra, các bài viết này đều đã được dịch sang tiếng Việt có thể tìmđọc tại thư viện Viện nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Hàn lâm Khoa học xãhội Việt Nam hoặc trên trang website http://nghiencuuquocte.org
Các công trình nêu trên đã tiếp cận ở nhiều góc độ, phân tích, lý giải,những khía cạnh khác nhau về nguyên nhân, thực trạng xung đột sắc tộc, tôngiáo, ly khai dân tộc ở Indonesia và bước đầu làm sáng tỏ việc quốc gia này
xử lý các xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc cùng những ảnh hưởngcủa nó đến sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc trong thời gian từ sau Chiếntranh Lạnh đến năm 2015 Vì vậy, đây chính là nguồn tư liệu quan trọng cungcấp những cứ liệu tham khảo sát, khách quan, khoa học để tác giả tham khảothực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trang 211.1.3 Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã công bố một số lượng lớn cáccông trình về Indonesia nói chung, xung đột sắc tộc, tôn giáo ở nước này nóiriêng Sau đây là một số công trình tiêu biểu:
Cuốn: "Indonesia những chặng đường lịch sử" của tác giả Ngô Văn
Doanh [25] Từ việc cho ra mắt những công trình mang tính giới thiệu về vănhoá, nghệ thuật của Indonesia, tác giả đã mở rộng hơn phạm vi nghiên cứukhi cho ra đời những công trình đề cập đến các giai đoạn phát triển của lịch sửIndonesia, hoặc đi sâu nghiên cứu về một vấn đề cụ thể Cuốn Indonesianhững chặng đường lịch sử là công trình nghiên cứu công phu và khá toàndiện về sự phát triển của Indonesia đến những năm 90 của thế kỷ XX Đượctrình bày theo từng giai đoạn lịch sử, cuốn sách bổ sung nguồn tư liệu quantrọng để nghiên cứu sinh tìm hiểu thêm về đất nước, con người và lịch sử pháttriển của Indonesia
Cuốn "Lịch sử Đông Nam Á" của Lương Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần
Thị Vinh [103] là công trình nghiên cứu về đại cương lịch sử Đông Nam Á,được trình bày theo những lát cắt thời gian Trong tác phẩm, các sự việc, sựkiện được mô tả trung thực và độc lập, khắc họa được những nét đặc thù nhưngvẫn phản ánh được sự liên kết mang tính hệ thống của từng quốc gia trong khuvực Trong tác phẩm này, Indonesia từ thời tiền sử đến năm 2005 tuy đượctrình bày một cách khái quát nhưng đã thể hiện được những nét cơ bản nhấtcủa lịch sử phát triển và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Indonesia
Công trình nghiên cứu về lịch sử đương đại Đông Nam Á được Nhàxuất bản Khoa học Xã hội ấn hành vào năm 2012 tại Hà nội Đây là Tập VIcủa bộ Thông sử Đông Nam Á do các học giả của Viện nghiên cứu Đông nam
Á, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn Tập này có tựa
đề " Đông Nam Á trong thời kỳ hòa bình, phát triển và hội nhập" do NguyễnThu Mỹ Chủ biên, Sách dày 774 trang, bao gồm 10 chương đề cập tới những
Trang 22tiến triển cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và hộinhập quốc tế của Đông Nam Á trong 2 thập niên đầu của thời kỳ sau Chiếntranh Phần viết về Indonesia được đề cập ở hầu hết các chương (từ chương 2
và 10) Ở các chương này, các tác giả đã phân tích tình hình Indonesia, với tưcách một bộ phận không thể tách rời của khu vực Đông nam Á, khi bước vàothời kỳ sau Chiến tranh lạnh; những nỗ lực của Indonesia trong công cuộcphục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chinh tiền tệ và chống lại các hoạt động
li khai khủng bố nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và củng cố độc lập dân tộccủa Indonesia Xuất phát từ nhận thức rằng hiện tượng li khai khủng bố ởIndonesia cũng như ở một số nước Đông Nam Á khác có nguyên nhân sâu xa
từ chính sách ưu tiên dân tộc đa số và phân biệt đối xử với các dân tộc ítngười, là sự phân phối không công bằng các lợi ích từ sự phát triển kinh tếcủa đất nước, nên khi viết về các hoạt động chống li khai khủng bố của chínhphủ Indonesia, các tác giả không chỉ dừng lại ở việc trình bày các hoạt động
vũ trang chống khủng bố mà còn phân tích sâu các cải cách chính trị, kinh tế,
xã hội nhằm giải quyết các nguyên nhân gốc rễ dẫn tới xung đột sắc tộc, tôngiáo ở quốc gia này
Cuốn sách: "Một số vấn đề về xung đột sắc tộc và tôn giáo ở Đông
Nam Á" của Phạm Thị Vinh [155] Đây là một tập hợp các bài viết của các tác
giả về xung đột, tôn giáo, sắc tộc ở Indonesia, Malaysia, Philippines, Mianma
và Thái Lan Trong các bài viết đó, các giả đã phân tích khá sâu về cácnguyên nhân của tình trạng li khai ở một số nước Đông Nam Á hiện nay vànhững biện pháp khắc phục của chính phủ các nước trên
Những bài nghiên cứu về những vấn đề "nóng" ở Indonesia như: "Vấn
đề Aceh ở Indonesia" của Phạm Thị Vinh, Nguyễn Huy Hồng [156]; "Xung đột giữa người Dayak và Madura ở Tây Kalimantan (Borneo), Indonesia" của
Lê Thanh Hương [69]; "Indonesia trong cuộc chiến chống khủng bố" của
Nguyễn Huy Hồng [63] Với những góc độ tiếp cận khác nhau cùng những
Trang 23phân tích cụ thể, đây là nguồn tài liệu tham khảo rất tốt để nghiên cứu sinhtiếp cận với một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứutrên thế giới và trong nước liên quan đến nội dung luận án.
Ngoài ra còn có khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
như: "Một số vấn đề trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa Indonesia dưới
chế độ Tổng thống Sukarno" của Nguyễn Thị Thanh Thủy [134]; "Indonesia:
Lý thuyết điều chỉnh chính sách - cách nhìn lịch sử và bài học kinh nghiệm"
của Nguyễn Văn Hồng [65]; "Đầu tư trực tiếp của các nền kinh tế công
nghiệp mới châu Á (NICs) trong nền kinh tế Indonesia gần đây" của Lưu
Ngọc Trịnh [141]; "Thành tựu, kinh nghiệm và những vấn đề phát triển kinh
tế của Thái Lan, Malaysia, Philippin và Indonesia" của Nguyễn Mai Trung
[143]; "Indonesia qua những con số" của Trần Trọng Ngợi [95]; "Cải cách
kinh tế Indonesia từ đầu thập kỷ 80 đến nay và Tác động xã hội của khủng hoảng tài chính ở Indonesia" của tác giả Nguyễn Văn Hà [43]; :Indonesia - Tiếp bước trên con đường dân chủ và Đảng Goikar trên chính trường Indonesia" của tác giả Nguyễn Huy Hồng [62]; "Người Hoa ở Indonesia với cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ" của Châu Thị Hải [47]; "Chính sách ngôn ngữ ở Indonesia trong hai thập kỷ qua" của Đoàn Văn Phúc [107]; "Tác động của sự mất ổn định ở Indonesia đối với Đông Nam Á" của Phạm Văn
Đức [41]; các bài nghiên cứu của các tác giả tham gia Hội thảo: "Việt Nam
-Indonesia: Vì hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở Đông Nam Á" [154];
Những bài viết tham gia các hội thảo khoa học nhân dịp kỷ niệm 30 năm(1997) và 40 năm (2007) tồn tại, phát triển của ASEAN do Trung tâm Khoahọc xã hội và nhân văn quốc gia (Việt Nam) tổ chức…
- Bài viết: "Tôn giáo và chính sách tôn giáo của Indonesia" của tác giả
Phong Phong [105] Bài viết sau khi đề cập tóm tắt tình hình tôn giáo ởIndonesia, đã đưa ra nhận định: việc chính trị hóa sắc tộc và tôn giáo có nguy
cơ gây chia rẽ chủ yếu trong nền chính trị quốc gia này Chính phủ Indonesia
Trang 24sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về sự thống nhất Một trong những ưutiên là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các tôn giáo, xây dựng các mốitương quan liên tôn giáo hài hòa; thừa nhận sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo,tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Đồng thời, cầnthực hiện các biện pháp phát triển kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo để cóthể hạn chế được phần nào các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo thông qua giảiquyết sự bất bình đẳng và bất công Đây là những tư liệu tốt cho tác giả khinghiên cứu và đánh giá về vấn đề này.
1.1.4 Các luận văn, luận án về Indonesia
Bên cạnh những công trình khoa học do các nhà nghiên cứu thực hiệntại các trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, trong những nămgần đây, nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh cũng chọn các vấn đề sắctộc, tôn giáo ở Indonesia làm đề tài Thạc sỹ hoặc Tiến sỹ
+ "Vấn đề ly khai dân tộc ở Đông Nam Á và những tác động của nó tới
khu vực từ 1991 đến năm 2000" của Nguyễn Kim Minh [90] Luận văn đề cập
và phân tích về tình hình ly khai dân tộc ở Đông Nam Á, trong đó tập trunglàm rõ nguyên nhân, thực trạng và một số giải pháp mà các chính phủIndonesia, Philippines và Thái lan đã thực hiện trong giải quyết các vấn đề lykhai ở nước mình
+ "Quá trình đấu tranh củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa
Indonesia (1967 - 1998)" của Đinh Thanh Tú [146] Luận án nghiên cứu và
trình bày, luận giải rõ các chính sách phát triển nhằm nâng cao sức mạnh đấtnước, củng cố độc lập dân tộc và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ mà Indonesia đãthực hiện trong giai đoạn 1967 - 1998; đánh giá những thành công, hạn chế vàchỉ ra mối liên quan giữa chúng đối với những vấn đề cần giải quyết củaIndonesia hiện nay; rút ra một số bài học về việc kết hợp để thực hiện có hiệuquả các chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong đấu tranh củng cố độc lậpdân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của các nước đang phát triển trong bối cảnh hiệnnay
Trang 25+ "Vấn đề xung đột sắc tộc-tôn giáo trong sự nghiệp bảo vệ độc lập
dân tộc của Indonesia từ năm 1945 đến 2005" của Bùi Huy Thành [119].
Luận án đã đi sâu phân tích làm rõ thực trạng xung đột sắc tộc-tôn giáo ởIndonesia: điển hình là xung đột tại Đông Timo, Aceh, Irian Giaya, Maluku,xung đột giữa người Hoa và người bản địa…Luận án rút ra nhận định: thựctrạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: nguyên nhân sâu
xa từ Indonesia là một quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, đồng thời cũng làđất nước đa tôn giáo, đa dân tộc, đa ngôn ngữ với khoảng 400 tộc người và
200 ngôn ngữ khác nhau và cùng với chính sách chia để trị của chủ nghĩathực dân trong nhiều thập niên khi đất nước này bị chiếm làm thuộc địa.Nguyên nhân trực tiếp bao gồm nhiều yếu tố như: 1) Bất công là nguồn gốckinh tế của xung đột giữa các nhóm sắc tộc hoặc các nhóm tôn giáo trong xãhội 2) Chênh lệch về trình độ phát triển giữa các sắc tộc hoặc các tôn giáo.3) Nhà nước Indonesia có sự phân biệt đối xử giữa các sắc tộc hoặc các tôngiáo 4) Sự can thiệp từ bên ngoài… Các mâu thuẫn và xung đột sắc tộc-tôngiáo này đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội cũng như đe dọanền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của Indonesia
Cuối cùng, luận án đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho các quốcgia đang phát triển và Việt Nam
+ "Quá trình dân chủ hóa ở Indonesia từ năm 1945 đến nay- nhìn từ
góc độ giai cấp trung lưu và xã hội dân sự" của Hồ Thị Thành [120] Luận án
này đã tập trung giải quyết các vấn đề: 1) Làm rõ quá trình dân chủ hóa vàcác mô hình dân chủ được vận dụng ở Indonesia từ năm 1945 đến 2014, 2)Phân tích ảnh hưởng của giai cấp trung lưu và các tổ chức xã hội dân sự đốivới quá trình dân chủ hóa 3) Đưa ra một số ngụ ý của dân chủ hóa ởIndonesia đối với khu vực Đông Nam Á và Việt Nam
+ "Quá trình đấu tranh giành và củng cố độc lập ở Indonesia
(1927-1965)" của Phạm Thị Huyền Trang [140] Luận án phân tích sâu các nhân tố
Trang 26quốc tế và trong nước tác động tới quá trình đấu tranh giành và củng cố độclập dân tộc của Indonesia qua hai giai đoạn chính: 1927-1945 và 1945-1965.Luận án đã phân tích đầy đủ, toàn diện các hình thức đấu tranh đa dạng vàphong phú và làm rõ sự khác nhau giữa các hình thức trong mỗi giai đoạn củaquá trình đấu tranh giành và củng cố nền độc lập dân tộc của nhân dânIndonesia Trong chương cuối cùng, luận đã làm rõ được các thành tựu, hạnchế của cuộc đấu tranh giành và củng cố độc lập của Indonesia, đồng thời chỉ
ra nguyên nhân dẫn tới những thành tựu và hạn chế đó Luận án cũng làm rõnhững đặc điểm của cuộc đấu tranh giành và củng cố độc lập dân tộc củaIndonesia trong so sánh với sự nghiệp tương tự của Việt nam Mặc dù luận ánkhông đề cập trực tiếp tới các vấn đề xung đột sắc tộc tôn giáo ở Indonesiahiện nay, các kết quả nghiên cứu của luận án đã cung cấp sự hiểu biết nhấtđịnh về nguyên nhân lịch sử của các xung đột sắc tộc, tôn giáo ở Indonesia,đặc biệt là ở Aceh
1.2 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ KHOA HỌC MÀ LUẬN ÁN SẼ
KẾ THỪA TỪ NGHIÊN CỨU CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐI TRƯỚC
Các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây đã tiếp cận vấn đềnghiên cứu từ nhiều góc độ, phân tích, lý giải những khía cạnh khác nhau vềnguyên nhân, thực trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc ởIndonesia và bước đầu làm sáng tỏ việc quốc gia này xử lý các xung đột sắctộc, tôn giáo, ly khai dân tộc cùng những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệpcủng cố độc lập dân tộc trong thời gian từ sau Chiến tranh Lạnh đến năm
2015 Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quý để NCS tham khảo, phục vụcho việc nghiên cứu đề tài luận án Những kết quả nghiên cứu mà luận án cóthể kế thừa từ những công trình trên bao gồm:
Thứ nhất, đã làm rõ các khái niệm về sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân
tộc phân tích những tác động của nó đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hộicủa Indonesia
Trang 27Thứ hai, đã làm rõ nguyên nhân, diễn biến và một số giải pháp xử lý các
xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc ở Indonesia từ sau Chiến tranh Lạnh
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên bước đầu đã rút ra một số kinh
nghiệm mang tính phổ quát về xử lý xung đột, ly khai dân tộc ở Indonesia
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU HOẶC LÀM SÂU SẮC HƠN
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiêncứu trước, luận án sẽ tập trung giải quyết và làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
Một là, một số khái niệm xung quanh vấn đề giải quyết xung đột sắc
tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của các nước đa dân tộc, đa tôngiáo trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay
Hai là, những nhân tố nào tác động đến xung đột sắc tộc, tôn giáo và
việc giải quyết nó nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Cộng hòaIndonesia giai đoạn 1991-2015
Ba là, ý nghĩa và những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giải quyết xung
đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc ở Indonesia đối với các quốc gia trongkhu vực, trong đó có Việt Nam
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, do nhữngđiều kiện chủ quan và khách quan, tác giả tự nhận thấy có những vấn đề nêu
ra mới chỉ giải quyết được một phần hoặc có những vẫn đề nghiên cứu chưasâu Tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tiếp theo
Tiểu kết chương 1
Tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan cho thấy, các công trìnhnghiên cứu rất đa dạng cả về nội dung, hình thức và cách tiếp cận Các côngtrình đã tiếp cận ở nhiều góc độ, phân tích, lý giải, những khía cạnh khácnhau về nguyên nhân, thực trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc ởIndonesia và bước đầu làm sáng tỏ việc quốc gia này xử lý các xung đột sắctộc, tôn giáo, ly khai dân tộc cùng những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp
Trang 28củng cố độc lập dân tộc trong thời gian từ sau Chiến tranh Lạnh đến năm
2015 Luận án tiếp thu, kế thừa kết quả của các công trình trước, vận dụng vàphát triển trong nghiên cứu, phục vụ cho việc làm rõ các vấn đề theo chủ đềcủa đề tài luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu, theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu,cho thấy còn thiếu hụt trên nhiều vấn đề, mà luận án phải tiếp tục giải quyết
Đó là: thống nhất một số khái niệm liên quan đến nội dung luận án; nhữngnhân tố nào tác động đến xung đột sắc tộc, tôn giáo và việc giải quyết nónhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Cộng hòa Indonesia giai đoạn 1991-2015; ý nghĩa và những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giải quyết xung đột sắctộc, tôn giáo, ly khai dân tộc ở Indonesia đối với các quốc gia trong khu vực,trong đó có Việt Nam
Trang 29Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO TRONG CÔNG CUỘC BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA INDONESIA
GIAI ĐOẠN 1991-2015
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO
VÀ BẢO VỆ, CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC THÔNG QUA GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO
2.1.1 Một số vấn đề lý luận về xung đột sắc tộc, tôn giáo và ảnh hưởng của nó đến độc lập dân tộc
2.1.1.1 Khái niệm "dân tộc", "tộc người"
- Khái niệm "Dân tộc" (Nation)
Dân tộc là sản phẩm của một quá trình lâu dài trong lịch sử xã hội loàingười Trước khi xuất hiện dân tộc, loài người đã trải qua những hình thứccộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Dân tộc là khái niệm chỉcộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sựphân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Về mặt xã hội, khái niệm dân tộckhông phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa là mộtcộng đồng chính trị
- xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc
(hiếm có, như trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn lànhững quốc gia gồm nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh mộtdân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử) Cũng cótình hình là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốcgia khác nhau Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất khôngđồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển
Khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, khái niệm dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng tộc
người (ethnic) trong lịch sử Đây là khái niệm chỉ một cộng đồng người có
Trang 30mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữriêng, có những nét đặc thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừaphát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành
ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó
Theo nghĩa này, dân tộc là một cộng đồng người hình thành và phát
triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có mối liên hệ tương đối bền vững về kinh tế, ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá và ý thức tự giác dân tộc thông qua tự nhận tên gọi của dân tộc mình, như dân tộc Tày, dân tộc
Mường, dân tộc Chứt Trong cách nói thông dụng, từ dân tộc có thể thaybằng từ "người" như người Tày, người Hoa, người Êđê… đều để chỉ dân tộcTày, dân tộc Hoa, dân tộc Êđê… ở Việt Nam [135]
Dân tộc theo nghĩa tộc người được nhận biết qua các đặc trưng là: 1),
các thành viên trong cùng một dân tộc có chung một phương thức sinh hoạtkinh tế làm cơ sở liên kết các thành viên trong dân tộc, tạo nền tảng cho dântộc tồn tại và phát triển; 2) có một ngôn ngữ chung (thường là tiếng mẹ đẻ)
để giao tiếp nội bộ và ngăn cách, phân biệt với dân tộc khác; 3), có chung đặc
điểm sinh hoạt văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc, phân biệt vớivăn hóa các dân tộc khác; thứ tư, có chung một ý thức tự giác dân tộc, tự thừanhận mình thuộc về một cộng đồng dân tộc, luôn tự hào, bảo lưu gìn giữ ngônngữ, văn hóa, lãnh thổ, lợi ích của dân tộc mình, được biểu hiện cao nhất ởviệc tự nhận tên gọi của dân tộc mình
Một dân tộc được biểu hiện ở phức hợp các đặc trưng, tiêu chí trêntrong mối quan hệ với nhau Trên thực tế, có thể có dân tộc có đầy đủ đặctrưng, nhưng có dân tộc không còn đủ các đặc trưng đó, ý thức tự giác dân tộc
sẽ là tiêu chí còn lại cuối cùng của dân tộc, khi các đặc trưng, các tiêu chí trên
có thể bị mai một, bị đồng hóa
Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cùng sinh
sống trong một quốc gia dân tộc (State -Nation) Theo quan điểm mácxít, dântộc
Trang 31là một cộng đồng người xác định dựa trên cộng đồng về lãnh thổ, ngôn ngữ,tâm lý dân tộc, một thị trường dân tộc thống nhất trong một "nhà nước dân tộc"
nhất định Theo nghĩa này, dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội, thiết
lập trên một lãnh thổ nhất định, bao gồm một hay nhiều tộc người, được quản
lý, chỉ đạo bởi một nhà nước chung, thống nhất Như vậy, dân tộc là một cộng
đồng người ổn định làm thành nhân dân của một nước, có lãnh thổ quốc gia,nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất củamình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá vàtruyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước vàgiữ nước Dân tộc là dân cư của một quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc,như: dân tộc Pháp, dân tộc Việt Nam, dân tộc Campuchia, dân tộc Indonesia
Như vậy, với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận trong dân tộc quốcgia đa tộc người; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc giadân tộc đó
Sự hình thành dân tộc trải qua quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với sựphát triển của sản xuất, điều kiện tự nhiên, xã hội Ở các nước phương Tây,dân tộc quốc gia ra đời gắn liền với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản và sựhình thành thị trường dân tộc Ở các nước phương Đông, sự hình thành dântộc có nhiều khác biệt, do điều kiện tự nhiên, xã hội mà trực tiếp là do nhucầu trị thủy và chống ngoại xâm nên dân tộc quốc gia ra đời sớm hơn cácdân tộc ở phương Tây Sự khác nhau về quá trình hình thành dân tộc ởphương Tây và phương Đông, dẫn đến những khác biệt về đặc điểm dântộc của từng nơi
Dân tộc xuất hiện, vấn đề dân tộc cũng xuất hiện Vấn đề dân tộc đượcxem xét như là một lĩnh vực của đời sống xã hội Đó là những vấn đề nảy sinhtrong quan hệ giữa các tộc người (có thể trong nội bộ quốc gia đa dân tộc,hoặc trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc với nhau) trên các lĩnh vực củađời sống xã hội, đòi hỏi các nhà nước phải quan tâm giải quyết
Trang 32- Khái niệm "tộc người"
Tộc người là khái niệm xã hội phức hợp, có thể hiểu theo nghĩa hẹp vàtheo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, tộc người có thể được hiểu là một cộng người có
chung tiếng mẹ đẻ Như vậy, theo khái niệm này tộc người tương đương vớinhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc - ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ họcgọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ Theo khái niệm này, tộc người là khái niệmdùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau và có chungcác đặc điểm về văn hoá mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc sử dụngmột ngôn ngữ Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đâu đó trênthế giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ, song lại cách xa nhau về nhiều mặt,như về mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc giakhác nhau), về mặt chủng tộc (thuộc các nguồn gốc khác nhau)…, thì liệu họ
có cùng một tộc người không, hay họ là những tộc người khác nhau có cùngmột ngôn ngữ, hay họ là một tộc người được chia ra nhiều tộc người nhỏ?…Đây là một vấn đề cần làm rõ, mà trong khuôn khổ luận án này chưa thể giảiquyết thấu đáo được
Theo nghĩa rộng, tộc người được hiểu là một cộng đồng người liên kết
với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt nhân chủng, ngônngữ, chính trị,… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng,một cấu trúc mang tính văn hoá chủ yếu - một nền văn hoá cộng đồng riêngbiệt Nói một cách ngắn gọn, tộc người là một khái niệm chỉ một tập thể, hayđúng hơn là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hoácộng đồng riêng biệt Theo khái niệm này, các yếu tố trong hệ thống tộcngười có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặtcủa một trong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ táchkhỏi nhóm tộc người của mình Hiểu theo nghĩa rộng cho phép bao quát tốthơn các nhóm cộng đồng tộc người hiện đang tồn tại Ở đây, mặc dù có
Trang 33những ranh giới không rõ ràng, nhưng chúng vẫn là thực thể thực tế so vớinhững con số về các cá nhân chỉ được xác định theo một tiêu chuẩn duy nhất.
Để nhận thức chính xác, sâu sắc về tộc người, hay nhóm tộc người(group ethnique), điều quan trọng là phải hiểu được những đặc điểm của các
yếu tố cấu thành, đó là: Thứ nhất, yếu tố nhân chủng là yếu tố nền tảng của
việc xác định nguồn gốc tộc người Căn cứ vào yếu tố này chúng ta có thể xácđịnh được các tộc người được sinh ra từ những bộ phận nào của nhân loại;chúng xuất hiện khi nào và hoà nhập vào nhau ra sao… Khi căn cứ vào yếu tốđặc trưng này, điều quan trọng là phải nghiên cứu các thành phần lịch sử khácnhau của cư dân trong tộc người, chứ không phải chỉ là thu thập và phân tíchcác dữ liệu nhân chủng trực quan Những thành phần cư dân ít nhiều có tínhnguyên gốc, cùng với những thành phần cư dân đóng góp về sau làm thành cơ
sở cho quá trình phát triển tộc người Các phương hướng pha tạp, kết hợp kếcận hay chồng chéo của các thành phần cư dân sẽ soi sáng cho tình trạng hiện
tại của tộc người Thứ hai, yếu tố dân số; bất cứ tộc người nào cũng đều được
xác định bằng số lượng người mà nó tập hợp Chính vì vậy, những số liệuthống kê về dân số là đặc biệt quý giá để đo lường cả về mức độ tiến hoá củatộc người Mặt hhác, chúng còn soi sáng cả về quá trình phát sinh, phát triển
hay triển vọng của tộc người Thứ ba, yếu tố ngôn ngữ, là tiêu chí cơ bản để
phân biệt tộc người này với tộc người khác Nó là sợi dây liên hệ đặc biệtgiữa các thành viên của tộc người Ngôn ngữ vừa là dấu hiệu bên ngoài, vừa
là một yếu tố cấu kết bên trong của cộng đồng tộc người; là sở hữu, tài sảnchung của tộc người, là phương tiện chuyển tải nền văn hoá của tộc người
Thứ tư, yếu tố lãnh thổ, với tư cách là một xã hội toàn vẹn và tự lập, mỗi tộc
người đều chiếm một phần lãnh thổ riêng trên bề mặt trái đất Lãnh thổ là cáikhung vật chất mà trong đó tộc người được cố định, thích nghi và cải biếnmôi trường tự nhiên Lãnh thổ của các tộc người có sự khác nhau về hình thức
và tuỳ thuộc vào khả năng và cung cách sinh sống của họ Thứ năm, yếu
Trang 34tố phương thức sản xuất; mỗi tộc người đều hình thành trong nó một lối sốngnhất định Lối sống đó phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên, phương thứcsản xuất của riêng nó Đó là công nghệ, tri thức, tín ngưỡng,…Phương thứcsản xuất có khả năng chấn chỉnh lại lối sống tổng thể; là cái dễ biến đổi,nhưng là cái làm cho mỗi tộc người mang đặc trưng riêng, làm cho nó trởthành thuần nhất có cấu trúc riêng và phân biệt nó với các tộc người khác.
Thứ sáu, yếu tố ý thức tộc người trong văn hoá tộc người là những cái "phi
vật chất" bao gồm những di sản tinh thần của cộng đồng tộc người dưới tất cảcác hình thức của nó; dựa trên cái giá đỡ đặc biệt là ngôn ngữ Bất cứ mộtthành viên nào của tộc người mà về mặt tinh thần được hình thành trước hếtbởi ngôn ngữ thì đều có thể hoàn thiện thế giới quan thông qua sự thanh lọccủa văn hoá tộc người; nó tạo cho thành viên một tập hợp những tri giác, tìnhcảm và sự nhận biết về giá trị chung của cộng đồng tộc người; đó chính là ýthức tộc người [122]
* Khái niệm "xung đột sắc tộc"
Khái niệm xung đột sắc tộc theo tác giả chỉ phù hợp với các xã hội cómàu da khác nhau như ở Mỹ Còn ở Indonesia về cơ bản các tộc người ở đâyđều có một màu da : đen hoặc ngăm ngăm đen Do cách dịch của người Việtnên dù dịch là xung đột sắc tộc hay tộc người thì đều xuất phát từ tiếng Anh(Ethnic Conflict)
Vấn đề xung đột dân tộc, tộc người là một hiện tượng lịch sử có từhàng ngàn năm nay, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cácdân tộc Xung đột dân tộc, tộc người có thể dẫn đến chiến tranh với các khảnăng đồng hóa, hợp nhất, thống nhất hoặc li khai dân tộc Nhân loại không thểđếm xuể các cuộc xung đột dân tộc, tộc người từ xưa đến nay
Xung đột, theo tính chất chặt chẽ, khoa học, khái niệm xung đột (tiếngLatinh là Confliktus) bao gồm nghĩa mâu thuẫn (giữa các bên, các ý kiến, cácthế lực) Nguyên nhân của nó là do có những mâu thuẫn gay gắt nhất trong
Trang 35đời sống xã hội Chẳng hạn, mâu thuẫn về vật chất, về các giá trị và cácphương thức sống chủ yếu nhất, về quyền lực (vấn đề quyền khống chế), vềnhững khác biệt địa vị, vai trò trong cơ cấu xã hội, về những khác biệt cánhân (trong đó có các khác biệt về tình cảm - tâm lý), v.v Như vậy, xung độtbao trùm mọi phạm vi hoạt động sống của con người, mọi quan hệ xã hội,mọi sự tương tác xã hội Xung đột thực chất là một trong số những kiểu tươngtác xã hội mà các bên tham gia là các cá thể đơn lẻ, các tập đoàn, các tổ chức
xã hội lớn hoặc nhỏ khác nhau [122] … Tuy nhiên, chỉ có các tương tác tạo ra
sự đối đầu giữa các bên, tức các bên tham gia có những hành động chống đốinhau, mới là xung đột
Sắc tộc là khái niệm chỉ xuất hiện trong nghiên cứu Dân tộc học ởmiền Bắc Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước Trong thực tế khái niệmhay khái niệm xung đột tộc người đều được dịch từ cụm từ tiếng Anh là
"Ethnic conflict) Theo Nhà dân tộc học Nguyễn Duy Thiệu làm việc ở Bảotàng các Dân tộc Việt Nam "Sắc tộc là cách dân gian gọi các tộc người (theonghĩa các cộng đồng có màu da khác nhau) Cách gọi này không sai nhưngkhông chuẩn về học thuật" Trong luận án tác giả sử dụng khái niệm xung độtsắc tộc với cùng nội hàm như "xung đột - tộc người"
Xung đột sắc tộc cũng giống như nội chiến, nhưng ở qui mô nhỏ hơn.Xung đột sắc tộc là sự va chạm, tranh chấp, đụng độ về các lợi ích kinh tếhoặc các giá trị văn hóa giữa các cộng đồng tộc người
Từ những luận chứng trên, có thể quan niệm: Xung đột sắc tộc là xung
đột giữa các dân tộc khác nhau (có khi cùng một quốc gia, cùng một tôn giáo ) xuất phát từ yêu cầu giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng giữa các dân tộc với nhau.
Nguyên nhân sâu xa cũng chỉ vì quyền lợi nhưng lại được che đậy bởinhững lý do mỹ miều để bao biện cho hành động của mình Nguyên nhânxung đột sắc tộc chính vẫn là tranh giành quyền lực, đất đai của những tộc
Trang 36người thiểu số khác biệt đôi khi trái ngược nhau về ngôn ngữ, tôn giáo nhưnglại sinh sống gần nhau Hậu quả thì bao giờ mà không bi thảm: người chết, tàisản hư hao, xã hội rối ren.
* Khái niệm "tôn giáo"
Tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội phức tạp, xuất hiện từrất sớm trong đời sống nhân loại Trong tiến trình phát triển của nhân loại, tôngiáo và tín ngưỡng đã trở thành một thành tố của sự phát triển Bất cứ một tôngiáo nào, với hình thái phát triển của nó, cũng đều bao gồm: ý thức tôn giáo(thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng với những tín ngưỡng tươngứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng những hoạt động mang tính chất nghithức tín ngưỡng của nó Tôn giáo đã và đang ảnh hưởng đến chính trị - xã hộitheo hai cách: một là, định hình thế giới quan của các tín đồ; hai là, các tổchức tôn giáo tác động đến các tiến trình chính trị
Từ khi xuất hiện đến nay, tôn giáo luôn luôn biến động, phản ánh sựbiến đổi của lịch sử và luôn song hành cùng với đời sống của nhân loại Tôngiáo là một hiện tượng xã hội sẽ còn tồn tại lâu dài Thực chất giải quyết vấn
đề tôn giáo là giải quyết những mâu thuẫn, xung đột lợi ích nảy sinh giữa cáctôn giáo, giữa người có tôn giáo và không có tôn giáo, giữa người có tôn giáo
ở trong nước và người có tôn giáo ở nước ngoài, giữa các quốc gia trong cáchthức giải quyết những mâu thuẫn, xung đột liên quan đến tôn giáo như: Việcbảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo; sự khác biệt về tín ngưỡng tôn giáo, giữatôn giáo bản địa và tôn giáo nước ngoài du nhập vào; mâu thuẫn, cạnh tranhtrong hoạt động của các tôn giáo để truyền đạo và phát triển tín đồ; việc thừanhận hay không thừa nhận tư cách pháp nhân đối với hoạt động của các tôngiáo của nhà nước…
Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôngiáo: Các nhà thần học cho rằng "Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh vàcon người" Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: "Tôn giáo là
Trang 37niềm tin vào cái siêu nhiên" Một số nhà tâm lý học lại cho rằng "Tôn giáo là
sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn,nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo" Khái niệm mangkhía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác, đó là: "Tôn giáo là tiếngthở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó
là tinh thần của trật tự không có tinh thần" [89, tr.570]
Từ thực tiễn hoạt động của tín ngưỡng, tôn giáo và quán triệt quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách tôngiáo của Đảng, Nhà nước, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam đưa ra kháiniệm: Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm vàhoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức[108]
Tôn giáo không phải là hiện tượng tự nhiên tồn tại trước con người,ngoài xã hội loài người, mà nó là sản phẩm của xã hội, của những mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa người với người Chínhcon người sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sinh ra con người Sự rađời, tồn tại, phát triển của tôn giáo gắn với những điều kiện nhận thức, tâm lý,
xã hội nhất định và nó sẽ mất đi khi điều kiện đó không còn
Một tôn giáo cụ thể thường bao gồm ba yếu tố: ý thức tôn giáo, hoạtđộng tôn giáo và tổ chức tôn giáo
Ý thức tôn giáo là sự thống nhất giữa tâm lý tôn giáo và hệ tư tưởng tôngiáo, được thể hiện ở các giáo lý của tôn giáo Tâm lý tôn giáo là toàn bộ cảmgiác, tri giác, tình cảm, biểu tượng tôn giáo, niềm tin tôn giáo phản ánh trựctiếp sự bất lực của con người trong các hoạt động thực tiễn Nhưng đó là niềmtin mê muội, mù quáng, hoang đường, phi lôgic Các tín đồ tôn giáo khôngchỉ tin tưởng vào sự tồn tại của đấng siêu nhiên, mà còn cầu mong đấng siêunhiên giúp đỡ, che chở Tuy nhiên, các nhu cầu này không bao giờ, chưa baogiờ được thực hiện Nhưng trên cơ sở niềm tin tuyệt đối mang tính hư ảo cùngvới những nghi lễ thờ cúng và sự tác động của những lời rao giảng của các
Trang 38chức sắc, nhà tu hành chuyên nghiệp về sức mạnh của đấng siêu nhiên, thìchính những nhu cầu không được thực hiện lại luôn là động lực thôi thúc cáctín đồ hoạt động Vì thế, niềm tin tôn giáo mang tính hư ảo, phi lôgic nhưnglại có tính bền vững khá sâu sắc, ăn sâu vào trong tư tưởng, tình cảm của conngười Nó không chỉ thấm sâu trong tâm khảm của mỗi cá nhân mà còn đượclưu truyền qua các thế hệ con người Hệ tư tưởng tôn giáo là hệ thống quanniệm, tín điều nhằm luận giải sự tồn tại, tính hoàn thiện, hoàn mỹ, sức mạnh
vô biên của đấng siêu nhiên và con đường, biện pháp để xây dựng, củng cố,phát triển niềm tin tôn giáo
Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành củamột tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước côngnhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo Đây là phương thức tồn tại củatôn giáo, mà nội dung cơ bản của nó là toàn bộ các mối quan hệ và trình tựsắp xếp, thứ bậc các tín đồ, chức sắc cùng quy trình giải quyết các mối quan
hệ đó Tổ chức tôn giáo rất đa dạng phức tạp, mỗi tôn giáo có tổ chức khácnhau Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, đượcthành lập theo hiến chương, điều lệ, giáo luật, quy định của tổ chức tôn giáo
Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ
sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo
Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo
và quản lý tổ chức của tôn giáo Đây là hoạt động của các tín đồ nhằm hướngtới đấng siêu nhiên, phục vụ đấng siêu nhiên Hoạt động tôn giáo gồm nhiềuloại hình phong phú, nhưng quan trọng nhất là các hoạt động lễ nghi, thờphụng, biên soạn, tuyên truyền giáo lý, giáo luật Sinh hoạt tôn giáo là việcbày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo
Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấutranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mấtmình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy
Trang 39vọng tuyệt đối, vào một cuộc đời thánh thiện, một cuộc đời mà quá khứ, hiệntại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hy vọng vào con người, dù cóphần ảo tưởng để mà yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thếgiới trần gian có nhiều bất bình đẳng, bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin của con người vào các đấng siêu nhiên,được thừa nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằmgiải thích những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đóđược biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những giai đoạn lịch sử, văn hóakhác nhau
* Khái niệm "xung đột tôn giáo"
Xung đột tôn giáo được coi là một trong nguồn tiềm tàng của xung độtquốc tế Xung đột tôn giáo liên quan đến các giá trị tinh thần và niềm tin tuyệtđối Những bất đồng văn hoá/tôn giáo và việc giữ gìn bản sắc vẫn tiếp tục làvấn đề trong quan hệ quốc tế Nhưng do tôn giáo không còn chi phối chínhquyền như trước kia, nên khó có lợi ích tôn giáo nào được đặt lên trên lợi íchquốc gia dân tộc
Trong tình hình phần lớn quốc gia là đa tôn giáo, lợi ích của các tôngiáo chỉ là lợi ích nhóm nên càng khó bị lôi kéo vào xung đột liên quốc gia.Trong quan hệ quốc tế ngày nay, lợi ích chính trị và kinh tế vẫn chiếm địa vị
ưu tiên nên nhiều khi đã góp phần kiềm chế các xung đột tinh thần
Từ dẫn luận trên có thể quan niệm: Xung đột tôn giáo là sự va chạm,
tranh chấp, đụng độ về giá trị tôn giáo giữa các cộng đồng tôn giáo.
Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế, xung đột tôn giáo ngàycàng dễ trở thành vấn đề trong quan hệ giữa các quốc gia, rất nhiều xung độttôn giáo xảy ra do liên quan đến chính trị Trong qúa trình hình thành và pháttriển của tôn giáo, sự tác động qua lại giữa tôn giáo với chính trị đã đem lại
cả nguyên nhân lẫn điều kiện cho xung đột tôn giáo Là điều kiện khi chính trịđược tôn giáo lợi dụng để phát triển thế lực và ảnh hưởng Là nguyên nhân
Trang 40khi chính trị lợi dụng tôn giáo để nhằm đạt được mục tiêu của mình Mâuthuẫn tôn giáo được chính trị tiếp sức sẽ làm cho nó trở nên phức tạp và trầmtrọng thêm Ngược lại, mâu thuẫn chính trị đi cùng tôn giáo lại gây ra xungđột tôn giáo.
Xung đột tôn giáo có nhiều nguyên nhân Có thể có những nguyênnhân nhìn từ góc độ kinh tế; những nguyên nhân nhìn từ góc độ bản sắc dântộc, tôn giáo và văn hóa; những nguyên nhân nhìn từ góc độ lịch sử; nhữngnguyên nhân xuất phát từ chính sách của chính phủ đối với người dân; vànhững nguyên nhân khác
Trong lịch sử, đã diễn ra nhiều cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo lớn trênthế giới; mà xung đột giữa Thiên chúa giáo với Hồi giáo ở Indonesia là mộttrong những ví dụ điển hình
Xung đột tôn giáo rất dễ bị quốc tế hóa và trở thành xung đột quốc tế
do nhiều nguyên nhân Thứ nhất, các giáo phái trong cuộc xung đột thường có
mối liên hệ khá chặt chẽ với các nhóm sắc tộc, tôn giáo tương đồng sinh sống
ở các quốc gia khác Thứ hai, các lực lượng tôn giáo tham gia xung đột nội bộ
thường có xu hướng tìm cách tận dụng các diễn đàn quốc tế để tuyên truyền
về tính chính đáng, tìm kiếm sức ép quốc tế lên các chính phủ để đạt được
mục đích đề ra Thứ ba, sự lớn mạnh không ngừng của các phương tiện truyền
thông quốc tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự truyền bá thông tin vềcác vụ xung đột trên khắp thế giới Và sự thành công của một nhóm sắc tộc,tôn giáo trong hoạt động ly khai có thể khuyến khích các nhóm sắc tộc, tôn
giáo tương tự ở các khu vực khác nổi dậy Thứ tư, các xung đột này thường
gây ra hậu quả về tị nạn quốc tế Việc giải quyết những vấn đề của dòngngười tị nạn đã khiến cho xung đột bị quốc tế hóa bởi quá trình này dính líuđến các quốc gia láng giềng và đòi hỏi có sự tham gia của các tổ chức quốc tếnhư Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn và các tổ chức phi chính phủ cóliên quan