TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN BÙI THỊ THU GIANG BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC DỊCH CHIẾT ETHYL ACETATE CÂY THẠCH VĨ PYRRHOSIA LINGUA THUNB.. TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÙI THỊ THU GIANG
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC DỊCH CHIẾT ETHYL ACETATE CÂY THẠCH VĨ
(PYRRHOSIA LINGUA (THUNB.) FARWELL) HỌ
DƯƠNG XỈ (POLYPODIACEAE) TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Hóa học
Phú Thọ, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÙI THỊ THU GIANG
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
DỊCH CHIẾT ETHYL ACETATE CÂY THẠCH VĨ
(PYRRHOSIA LINGUA (THUNB.) FARWELL)HỌ
DƯƠNG XỈ (POLYPODIACEAE) TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Thầy hướng dẫn
khoa học: ThS Nguyễn Thị Bình Yên -Trường Đại học Hùng Vương đã chỉ
ra hướng nghiên cứu và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô, các nhà khoa học Trường Đại học Hùng Vương đã giảng dạy và hướng dẫn em thực hiện các thực nghiệm hóa học
Nhân dịp này em xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo Trường Đại học Hùng Vương, Khoa Khoa học Tự nhiên - Trường Đại học Hùng Vương đã tạo cho em một môi trường học tập khoa học, nghiêm túc
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và các bạn sinh viên K10 ĐHSP Hóa học-Trường Đại học Hùng Vương đã hỗ trợ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện Đề tài
Phú Thọ, ngày 18 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Bùi Thị Thu Giang
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
Lý do lựa chọn đề tài 1
Mục tiêu của đề tài 2
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về chi Pyrrhosia 3
1.2 Đặc điểm thực vật loài Thạch vĩ 4
1.3 Các nghiên cứu về hóa thực vật chi Pyrrhosia 5
1.4 Sơ lược về lớp chất steroid 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI ÊN C Ứ U 9
2.1 Đối tượng nghiên cứu 9
2.2 Nguyên vật liệu và thiết bị 9
2.2.1 Nguyên vật liệu 9
2.2.1.1 Mẫu nghiên cứu 9
2.2.1.2 Hóa chất 9
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu 9
2.3 Phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Phương pháp ngâm chiết 12
2.3.2 Phương pháp sắc ký 13
2.3.2.1 Phương pháp sắc ký lớp mỏng 13
2.3.2.2 Phương pháp sắc ký cột 13
2.3.3 Phương pháp kết tinh 14
2.3.4 Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân(NMR) 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
Trang 53.1 Quá trình điều chế cặn dịch chiết EtOAc cây Thạch vĩ 18
3.2 Quá trình phân lập các chất từ dịch chiết EtOAc cây Thạch vĩ 19
3.1.1 Khảo sát thành phần định tính và lựa chọn dung môi 19
3.2.1 Quá trình phân lập các chất 21
3.3 Xác định cấu trúc hợp chất phân lập đƣợc 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
Kết luận 37
Kiến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hình ảnh cây Thạch vĩ 4
Hình 1.2 Cấu tạo khung steroid 5
Hình 1.3 Cấu trúc khung steroid 7
Hình 1.4 Cấu dạng của steroid 7
Hình 2.1 Cây Thạch vĩ (tại Lâm Thao) 9
Hình 2.2.Máy cất quay chân không 10
Hình 2.3 Cột sắc ký với kích thước khác nhau 10
Hình 2.4 Bộ chưng cất dung môi 11
Hình 2.5 Máy soi UV 11
Hình 2.6 Sơ đồ chung của phương pháp ngâm chiết 12
Hình 2.7 Minh họa sắc ký lớp mỏng 13
Hình 2.8 Minh họa sắc ký cột 14
Hình 2.9 Độ chuyển dịch hóa học của proton 15
Hình 2.10 Sự tách vạch phổ 16
Hình 2.11 Ví dụ minh họa về sự tách vạch phổ 16
Hình 2.12 Một số ví dụ về 2J, 3J 17
Hình 3.1 Quá trình lọc dung dịch 18
Hình 3.2 Cặn EtOAc Thạch vĩ 19
Hình 3.3 Kết quả khảo sát TLC cặn chiết EtOAc Thạch vĩ 20
Hình 3.4 TLC cặn EtOAc Thạch vĩ với hệ dung môi (III) 21
Hình 3.5 Cột tổng silica gel cặn EtOAc 22
Hình 3.6 Hình ảnh TLC các lọ từ 55 – 81 của phân đoạn F4 23
Hình 3.7 Hình ảnh TLC các phân đoạn F1÷F7 26
Hình 3.8 Cột phân đoạn F4 27
Hình 3.9 Hình ảnh TLC các lọ từ 228 – 251 của phân đoạn F4.6 30
Hình 3.10 Sơ đồ phân lập dịch chiết EtOAc câyThạch vĩ 31
Hình 3.11 Hình ảnh chất PLEA2 và sắc ký đồ TLC 32
Trang 8Hình 3.12 TLC so sánh PLEA2 với hỗn hợp -Sitosterol+Stigmasterol 32
Hình 3.13 Phổ 1H-NMR của hợp chất PLEA2 33
Hình 3.14 Phổ 1H-NMR giãn rộng 1 của hợp chất PLEA2 34
Hình 3.15 Phổ 1H-NMR giãn rộng 2 của PLEA2 35
Hình 3.16 Cấu trúc của hợp chất PLEA2 36
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Giá trị Rf và màu sắc các vệt chất trên bản mỏng 21 Bảng 3.2 Kết quả các phân đoạn thu đƣợc từ cột tổng EtOAc 24 Bảng 3.3 Kết quả các phân đoạn thu đƣợc từ phân đoạn F4 27
Trang 10MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài:
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, là sức sống, là niềm tin
và là sức mạnh mà không gì có thể so sánh bằng Con người ai cũng có nhiều
mơ ước nhưng khi ốm đau, bệnh tật thì chỉ còn một điều ước duy nhất đó là
có sức khỏe Nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe, ngay từ xa xưa cổ đại, ông cha ta đã nghĩ đến việc chăm lo và bảo vệ sức khỏe, sử dụng các loại cây có sẵn trong tự nhiên để bồi bổ cũng như chữa trị bệnh, làm mỹ phẩm, hoặc sử dụng trong sản xuất nông nghiệp,…
Ngày nay, việc dùng các loài thuốc có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được ưa chuộng và các công trình nghiên cứu về chúng cũng ngày càng phát triển để có thể khám phá, tiếp cận và tìm ra nhiều hơn nữa công dụng của các loại cây trong y học một cách nghiêm túc, chi tiết và rõ ràng.Cùng với sự phát triển của công nghệ tổng hợp hóa dược tạo ra các biệt dược, các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm hiểu, khám phá các hoạt tính sinh học khác nhau của các hợp chất có nguồn gốc từ nhiều loài thực vật khác nhau
Việt Nam là đường giao lưu hai chiều giữa thực vật chúng phong phú của miền Nam Trung Quốc, của Malaysia, của Inđônêxia Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, không có sa mạc, không bao giờ chìm ngập dưới biển và không bị giá băng phủ xua đuổi các loài nên rất thuận lợi cho sự sinh sôi, nảy
nở của cây cỏ [2] Với những đặc thù về khí hậu thiên nhiên như vậy, Việt Nam có một hệ thực vật phong phú và đa dạng với trên 12.000 loài, trong đó
có trên 3.200 loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong Y học dân gian; mở
ra tiềm năng nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên từ các loài thực vật của Việt Nam [3]
Chi Pyrrhosia ở Việt Nam có 17 loài và các loài này đã được sử dụng
trong y học cổ truyền [1] mở ra tiềm năng nghiên cứu hóa thực vật về các loài này
Trang 11Dựa trên các tài liệu tham khảo cho thấy đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào công bố về thành phần hóa học của cây Thạch vĩ Nhằm mục tiêu tìm kiếm các hợp chất thiên nhiên từ các loài thực vật của Việt Nam, tôi
lựa chọn đề tài“Bước đầu nghiên cứu thành phần hóa học dịch chiết ethyl
acetate cây Thạch vĩ (Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell) họ Dương xỉ (Polypodiaceae) trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ”
Mục tiêu của đề tài:
- Điều chế cặn dịch chiết EtOAc (ethyl acetate) của cây Thạch vĩ
- Khảo sát thành phần hóa học định tính cặn dịch chiết EtOAc của cây Thạch vĩ bằng sắc ký lớp mỏng
- Phân lập chất sạch từ các phân đoạn của dịch chiết EtOAc cây Thạch
+ Cho biết thành phần hóa học của các loài thực vật
+Cung cấp dữ liệu về phổ cộng hưởng từ hạt nhân của một số hợp chất thiên nhiên từ thực vật
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về chi Pyrrhosia
Pyrrhosia Mirb, họ Ráng – Polypodiaceae [Từ chữ Hy Lạp pyros; lửa; ổ
túi bào tử phủ kín mặt dưới phiến lá, nhìn xa nom như màu lửa] – Ráng tai chuột, Thạch Vĩ
Ổ túi bào tử tròn hoặc thuôn và xếp thành nhiều hàng, chéo gốc với gân giữa và gần sát vào nhau, phủ gần kín mặt dưới của phiến lá Có hai loại lông hình sao, đều có cuống dài
Gồm khoảng 100 loài, chủ yếu ở vùng ôn đới và nhiệt đới, một số ít loài mọc ở châu Phi và Ôxtrâylia Ở Việt Nam có 17 loài [1]
Pyrrhosia clavata (Baker) Ching - Ráng tai chuột Loài này có ở Trung
Quốc, Lào và Việt Nam
Pyrrosia lanceolata(L.) Farw [P adnascens (Sw.) Ching] – Ráng tai
chuột thường, Lưỡi mèo tai chuột Phân bố Nam Trung Quốc và các nước nhiệt đới châu Á Ở nước ta, cây mọc phổ biến ở các miền núi, trung du và đồng bằng
Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell – Thạch vĩ, Ráng tai chuột lưỡi
dao.Phân bố ở Nhật Bản, Đài Loan, Nam Trung Quốc và Việt Nam Ở nước
ta, gặp nhiều nơi từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Hà Tây, đến Thừa Thiên – Huế và Lâm Đồng
Pyrrhosia mollis (G Kunze) Ching – Ráng tai chuột mềm, Thạch vĩ
lông mềm Phân bố ở Trung Quốc và nhiều nước nhiệt đới châu Á: Ấn Độ, Mianma, Lào, Việt Nam, Inđônêxia, Phillipin Ở nước ta, có gặp tại Lào Cai (Sa Pa), Lâm Đồng (Đà Lạt)
Pyrrhosia petiolosa (Christ) Ching – Ráng tai chuột cuống, Thạch vĩ lá
có cuống Loài này có ở Trung Quốc và Việt Nam Ở nước ta có gặp tại rừng Vĩnh Phúc (Tam Đảo)
Pyrrhosia piloselloides (L.) M G Price [Drymoglossum piloselloides
(L.) C Presl] – Ráng tai chuột vẩy ốc Phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái
Trang 13Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Phillippin và Iran Ở nước ta có gặp từ Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định tới Khánh Hòa và Lâm Đồng
Pyrrhosia porosa (C Presl) Hovenkamp var tonkinensis (Giesenh.)
Hovenkamp [P.tonkinensis (Giesenh.) Ching] – Ráng tai chuột Bắc, Thạch vĩ
Bắc Bộ Loài của Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc Ở nước ta có gặp tại
Hà Tây (Ba Vì), Lào Cai (Sa Pa) và Ninh Bình (Cúc Phương)
Pyrrhosia sheareri (Baker) Ching – Ráng tai chuột Sheare, Thạch vĩ cụt
Loài của Trung Quốc và Bắc Việt Nam Ở nước ta có gặp tại Lai Châu, Lào Cai, Ninh Bình
Theo tác giả Võ Văn Chi, một loài thuộc chi Pyrrhosia của Việt Nam
được sử dụng làm thuốc trong y học dân giân như cây Thạch vĩ được dùng để làm thuốc lợi tiểu, chữa ung nhọt,…
1.2 Đặc điểm thực vật loài Thạch vĩ
Cây Thạch vĩ (Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell.) có dạng cây thảo
sống nhiều năm, cao 10 – 30cm, có thân rễ bò dài mang vẩy thon, mép gợn sóng Cuống 2 – 10 cm, mảnh, có đốt ở gốc; phiến hơi đa dạng, tròn dài, nhỏ hay hẹp thon, dài 8 – 18cm, rộng 2 – 5cm, dai, gân phụ rõ, mặt trên gần như không lông, mặt dưới có lông hình sao vàng hoe
Hình 1.1 Hình ảnh cây Thạch vĩ
Trang 14Ổ bào tử phủ kín mặt dưới, màu đỏ đậm; bào tử xoan, nâu nhạt
Cây phụ sinh trên thân cây và bám trên đá trong rừng ở độ cao 100 – 1800m Có nơi cây mọc thành những đám rất lớn [1]
1.3 Các nghiên cứu về hóa thực vật chi Pyrrhosia
Dựa trên các tài liệu tham khảo cho thấy đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào công bố chi tiết về thành phần hóa học của cây Thạch vĩ
Theo Từ điển thực vật thông dụng của tác giả Võ Văn Chi chỉ ra cho
thấy cây Thạch vĩ có chứa steroid như β – sitosterol (1) [1]
1.4 Sơ lược về lớp chất steroid
Steroid là nhóm hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong giới động vật
và thực vật, với cấu trúc tổng quát là hệ thống vòng cyclopentanohydrophenanthrene [9] hoặc trong một vài trường hợp hiếm gặp
là dạng biến đổi của vòng nói trên
Hình 1.2 Cấu tạo khung steroid
Một trong các steroid được biết đến sớm nhất là cholesterol (2) Hợp
chất này được phân lập lần đầu tiên vào năm 1770 nhưng mãi đến tận những năm 1920 mới xác định được cấu trúc của nó [9]
Trang 15(2)
Nhiều hợp chất steroid trong thiên nhiên là các hormone như hormone
giới tính nam testosterone (3), hormone giới tính nữ estradiol (4) [9]
Trong các phân tử steroid các vòng A và B nối với nhau theo kiểu cis
hoặc trans tương tự cis/trans-Decalin (5), (6)
(5)
(6)
Phần lớn các steroid trong thiên nhiên có dạng lập thể của các vòng
A/B-H 9 /C 10-B/C-C/D ở dạng trans-anti-trans-trans hoặc cis-anti-trans-trans
Trang 16Hình 1.3 Cấu trúc khung steroid
Trang 17Steroid có nguồn gốc sinh tổng hợp giống như triterpene với chất liệu cơ bản là pharnesyl pyrophotphat
Quá trình sinh tổng hợp để tạo thành các steroid hoặc các triterpen năm vòng được trình bày như sau: giai đoạn đầu tiên của sự sinh tổng hợp là do enzyme monooxygenase oxid hóa hợp chất squalene tạo thành 2,3– epoxysqualene, tiếp theo là sự đóng vòng Tùy theo việc các phân tử squalen gấp khúc, xếp nếp, với cấu hình trong không gian theo kiểu dạng ghế hoặc dạng tàu mà khi đóng vòng, sẽ tạo ra sản phẩm có dạng khác nhau Khi phân
tử squalene gấp khúc để bố trí các vòng ABCD theo kiểu ghế – tàu – tàu – ghế sẽ tạo cycloartenol, từ đó có thể biến đổi thành phytosterol và các dẫn xuất steroid Còn khi phân tử squalen gấp khúc các vòng ABCD theo kiểu ghế – ghế – tàu – tàu sẽ tạo ra triterpen năm vòng
Các phytosterol là đặc trưng của giới thực vật Ở giới động vật, “sự đóng vòng” theo kiểu khác để tạo thành lanosterol rồi thành cholesterol
Trong quá trình sinh tổng hợp các phytosterol, còn có thêm sự hiđrogen hóa một phần, sự tạo ra thêm các chức alcol, sự mất đi ba nhóm metyl (giai đoạn chung của tất cả các sterol), “sự ankyl hóa” để gắn thêm nhánh hở ở cuối mạch, tại carbon C–24, một nhánh nhỏ metyl hoặc etyl Nhánh nhỏ này giúp phân biệt các loại phytosterol với các sterol động vật Ở các loại nấm,
“sự đóng vòng” theo kiểu để tạo thành lanosterol, cũng được ankyl hóa tại C–
24 giống như phytosterol nhưng vẫn giữ khung sườn của lanosterol
Các phytosterol được gặp nhiều nhất trong tự nhiên là stigmasterol, các β- và γ-sitosterol
Trong giới thực vật, có loại phytosterol mang thêm những vòng phụ: các sapogenin steroid của họ Khoai ngọt (Dioscoreaceae), các alkaloid steroid họ
Cà (Solanaceae), phần genin trợ tim của họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)[5]
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NG H IÊ N C Ứ U
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây Thạch vĩ được thu hái tại Thị trấn Lâm Thao – Huyện Lâm Thao – Tỉnh Phú Thọ vào tháng 6/2015
Hình 2.1 Cây Thạch vĩ (tại Lâm Thao)
2.2 Nguyên vật liệu và thiết bị
2.2.1 Nguyên vật liệu
2.2.1.1 Mẫu nghiên cứu
Dịch chiết EtOAc của cây Thạch vĩ
2.2.1.2 Hóa chất
Dung môi được sử dụng như n-hexane, CH2Cl2, EtOAc, MeOH, acetone đều là các hóa chất kỹ thuật của Việt Nam, Hàn Quốc được chưng cất lại
trước khi sử dụng
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu
Quá trình ngâm chiết được thực hiện trong các bình thủy tinh có dung tích 5 lít Sau quá trình ngâm chiết, dung môi được thu hồi bằng máy cất quay chân không IKA®RV 10 của Anh
Trang 19Hình 2.2.Máy cất quay chân không
Việc tinh chế các hỗn hợp sản phẩm đƣợc thực hiện bằng sắc ký cột siica gel và sắc ký lớp mỏng Với sắc ký cột silica gel thì tùy vào lƣợng mẫu chất ta
sử dụng các cột sắc ký có kích cỡ khác nhau: 1; 2; 2,5; 4; 10 Chất nhồi cột sắc ký là silica gel 60 (0,063 – 0,200 mm) (70 – 230 mesh astm) đều là của Merck còn sắc ký lớp mỏng sử dụng bình sắc ký lớp mỏng Camag của Đức và bản mỏng sắc ký tráng silicagel 60 F254 trên tấm nhôm 20 × 20 cm của Đức
Hình 2.3 Cột sắc ký với kích thước khác nhau
Trang 20Dung môi được chưng cất trước khi sử dụng bằng bộ chưng cất dung môi của hãng IKA
Hình 2.4 Bộ chưng cất dung môi
Hiện màu dưới bước sóng UV 254, 366 nm được thực hiện trên hệ thống đèn UV CAMAG
Hình 2.5 Máy soi UV
Trang 212.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp ngâm chiết
Do cấu tạo của cây cỏ hoặc sinh khối thường là những chất liệu đại phân
tử tương đối trơ, không hòa tan trong dung môi hữu cơ nên việc khảo sát hợp chất tự nhiên chính là việc chiết lấy và khảo sát các chất thứ cấp có trọng lượng phân tử nhỏ Nguyên tắc tổng quát là lựa chọn dung môi và quy trình phù hợp để chiết tách hợp chất ra khỏi mẫu cây, điều này tùy thuộc vào đặc tính của chất thứ cấp có trong cây mà người khảo sát mong muốn tách cô lập: cấu trúc hóa học đa dạng, tính chất phân cực khác biệt, … Muốn chiết hợp chất ra khỏi cây cỏ cần chọn dung môi phù hợp có độ phân cực tăng dần (n-hexane, CH2Cl2, EtOAc, MeOH, …), sử dụng kỹ thuật chiết tách phù hợp bằng cách ngâm dầm rồi lọc Sau khi lọc, phần bã cây hoặc sinh khối còn lại được lọc bỏ Dung môi qua lọc được thu hồi bằng máy cô quay chân không ở nhiệt độ thấp khoảng 30-45oC vì thực hiện ở nhiệt độ cao có thể làm hư hại một vài hợp chất kém bền nhiệt [5]
Hình 2.6.Sơ đồ chung của phương pháp ngâm chiết
Trang 22một số dung môi thông dụng như n-hexane, CH2Cl2, EtOAc, acetone, MeOH Thuốc thử hiện màu được sử dụng là ceri sulfate
Cơ sở lý thuyết của phương pháp sắc ký silica gel nói chung là dựa trên khả năng hấp phụ khác nhau của các chất trên silica gel (pha tĩnh) sẽ được dung môi rửa giải (pha động) khi đi lên theo lực mao quản sẽ phân tách (giải hấp) ở các vị trí khác nhau trên đường đi của dung môi Chất có độ phân cực kém hơn sẽ đi lên nhanh hơn chất có độ phân cực cao hơn [8]
Độ linh động của chất được đánh giá thông qua hệ số Rf
Rf = ã đ
ã đ ô
Trong trường hợp minh họa ở hình vẽ trên: Rf(A) = ; Rf(B) =
Hai chất A, B được coi là tách riêng khỏi nhau khi triển khai sắc ký TLC, Rf(A) ≠ Rf(B) Từ hệ dung môi khi khảo sát TLC làm cơ sở để lựa chọn
hệ dung môi cho sắc ký cột silica gel
2.3.2.2 Phương pháp sắc ký cột
Trang 23Kích cỡ của cột sắc ký tùy thuộc vào lƣợng mẫu chất cần phân tích
Trang 24quan trọng, sao cho chất hữu cơ cần tinh chế tan nhiều khi đun nóng và ít tan khi để nguội, còn tạp chất thì hoặc là tan tốt hơn sản phẩm chính hoặc là tách
ra từ dung dịch trước hoặc sau hẳn sản phẩm chính Thường thường phải kết tinh lại nhiều lần và sử dụng những dung môi khác nhau [6]
2.3.4 Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân(NMR)
Cơ sở lý thuyết của phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân dựa trên tương tác của hạt nhân từ (1
H, 13C, …) với từ trường ngoài [7]
Phổ cộng hưởng từ nhân proton (1
H-NMR):
- Số lượng tín hiệu (vạch phổ), vị trí vạch phổ (độ chuyển dịch hóa học,
H) xác nhận các loại proton khác nhau và môi trường bao quanh mỗi proton trong phân tử
- Vị trí của tín hiệu cho biết proton thuộc loại proton nào: thơm, béo, bậc một, bậc hai, bậc ba,… Các proton khác nhau này có các môi trường electron bao quanh khác nhau, và chính môi trường electron bao quanh xác định proton hấp thụ ở đâu trong miền phổ
Trên phổ 1
H-NMR tín hiệu các proton được ghi nhận thông qua độ chuyển dịch hóa học ( = /0= Hz/MHz = 106 ppm), trong đó chất nội chuẩn TMS được gán = 0 ppm
Hình 2.9 Độ chuyển dịch hóa học của proton