CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Tín dụng ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục tiêu lợi nhuận, chủ yếu hoạt động bằng cách nhận tiền gửi từ khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu Hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên chế độ hạch toán kinh tế, cho phép thực hiện nhiều loại nghiệp vụ như nhận tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, dịch vụ thanh toán, và huy động vốn qua phát hành chứng chỉ nhận nợ.
2.1.1.1 Chức năng của Ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Văn Tiến và cộng sự (2012), ngân hàng thương mại có các chức năng sau:
Chức năng trung gian tín dụng:
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn
Chức năng này mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan Đối với khách hàng, họ có thể thu lợi từ tiền lãi trên số vốn nhàn rỗi, đồng thời đảm bảo an toàn cho tiền gửi và tận hưởng tiện ích Người vay được hỗ trợ trong việc đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và an toàn Đối với ngân hàng, chức năng này là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển, tạo ra lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và tiền gửi, đồng thời góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế.
Chức năng điều hoà vốn tiền tệ trong nền kinh tế giúp chuyển giao nguồn lực từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo tiền cho nền kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Bằng cách sử dụng nguồn vốn huy động được, ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tín dụng, cho vay và đưa tiền vào nền kinh tế thông qua việc mua hàng hóa Đồng thời, những người có số dư tài khoản tiếp tục tiêu dùng qua các hình thức thanh toán như thẻ.
Ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, bao gồm việc nhận tiền gửi, giữ và bảo quản tiền, cũng như thực hiện các yêu cầu rút tiền và chi tiền cho khách hàng.
Chức năng thủ quỹ mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan Đối với khách hàng, nó không chỉ đảm bảo an toàn cho tài sản mà còn giúp sinh lời từ vốn tạm thời thừa Ngân hàng cũng được hưởng lợi khi có nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng và trung gian thanh toán Hơn nữa, chức năng thủ quỹ khuyến khích tích lũy trong xã hội và tập trung nguồn vốn tạm thời thừa, góp phần vào sự phát triển kinh tế.
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (2010):
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, trong đó quyền sử dụng giá trị hoặc hiện vật được chuyển nhượng theo thỏa thuận Tín dụng ngân hàng đề cập đến quan hệ cấp tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng đồng ý cho tổ chức hoặc cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng khoản tiền đó.
Có 9 tắc có hoàn trả liên quan đến các nghiệp vụ tài chính như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức cấp tín dụng khác.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện các hoạt động ngân hàng, bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã Ngân hàng thương mại hoạt động với mục tiêu lợi nhuận, thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và kinh doanh khác Một trong những hoạt động chính của ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi từ tổ chức và cá nhân dưới nhiều hình thức như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, và phát hành chứng chỉ tiền gửi, với cam kết hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi theo thỏa thuận.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, ngoại trừ việc nhận tiền gửi từ cá nhân và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản Các tổ chức này bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
Tổ chức tín dụng nước ngoài là những tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và có thể hiện diện tại Việt Nam thông qua các hình thức như văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài là hai loại hình ngân hàng thương mại Tương tự, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài thuộc về loại hình công ty tài chính Cuối cùng, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài là các hình thức của công ty cho thuê tài chính.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân Ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm đảm bảo mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh này.
Hoạt động ngân hàng bao gồm việc kinh doanh và cung ứng các dịch vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, thường được gọi là doanh nghiệp vừa và nhỏ, là những doanh nghiệp có quy mô hạn chế về vốn và lao động.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại thành ba loại dựa trên quy mô, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại thành ba nhóm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 10 người Ngoài ra, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp này cũng không quá 10 tỷ đồng, hoặc tổng nguồn vốn không vượt quá 3 tỷ đồng.
2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội trung bình hàng năm không vượt quá 50 người, với tổng doanh thu hàng năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.
3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 100 người Tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp này không quá 300 tỷ đồng, hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.
14 không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản
Như vậy, theo quy định mới của pháp luật thì tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có sự thay đổi như:
Doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là những doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 10 người, tổng doanh thu hàng năm không quá 10 tỷ đồng, hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân không quá
50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ
Doanh nghiệp vừa được định nghĩa là doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không vượt quá 100 người, và tổng doanh thu hàng năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.
Vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tổng nguồn vốn của năm được xác định trong bảng cân đối kế toán và thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế, được tính tại thời điểm cuối năm.
Doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm cần xác định tổng nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán tại thời điểm cuối quý liền kề với thời điểm đăng ký hưởng hỗ trợ.
Doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp bao gồm doanh thu từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, được xác định dựa trên Báo cáo tài chính của năm trước mà doanh nghiệp đã nộp cho cơ quan quản lý thuế.
Doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm hoặc trên 01 năm nhưng chưa có doanh thu cần dựa vào tiêu chí tổng nguồn vốn theo Điều 8 Nghị định 39/2018/NĐ-CP để xác định phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại Việt Nam và trên toàn thế giới nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Wagema G Mukiri (2011) đã áp dụng phân tích cluster để nhóm các đối tượng dựa trên đặc điểm của chủ doanh nghiệp, cho thấy rằng tuổi tác, trình độ và kinh nghiệm kinh doanh của họ ảnh hưởng đến định hướng trong việc hoạch định chiến lược vay vốn Tuy nhiên, phương pháp này còn hạn chế ở chỗ không chỉ ra mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng yếu tố đến khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng.
Nghiên cứu của Wahab & Abdesamed (2012) về khả năng tiếp cận tín dụng của các DNNVV tại Libya đã chỉ ra rằng, trong hai giai đoạn khởi nghiệp và trưởng thành, các doanh nghiệp này chủ yếu sử dụng các khoản vay từ ngân hàng Kết quả khảo sát 76 DNNVV cho thấy, các doanh nghiệp sẵn sàng vay vốn để phục vụ nhu cầu kinh doanh, trong đó lãi suất là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng tiếp cận tín dụng.
Nghiên cứu của Erdogan (2019) chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở các quốc gia hội nhập, với mẫu nghiên cứu gồm 492 DNNVV tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả cho thấy, các doanh nghiệp cải tiến và có hơn hai chủ sở hữu có khả năng tiếp cận tín dụng tốt hơn so với những doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu Hơn nữa, hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là lợi nhuận cao, cũng là yếu tố quan trọng giúp dễ dàng tiếp cận tín dụng ngân hàng Đặc biệt, các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ có xu hướng tiếp cận khoản vay tốt hơn so với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất và các ngành khác Phương pháp phân tích hồi quy nhị phân được áp dụng để nghiên cứu các nhân tố này.
Nghiên cứu của Ajagbe (2012) và Khailid & Nadeem (2017) tập trung vào việc dự đoán khả năng vay vốn ngân hàng của DNNVV Nguyễn Hồng Hà (2013) đã áp dụng phương pháp phân tích hồi quy Binary xác suất và phân tích nhân tố khám phá (EFA) một cách linh hoạt để nghiên cứu tác động của các yếu tố liên quan.
Việc áp dụng phương pháp EFA trong lĩnh vực DN và Ngân hàng giúp rút gọn nhiều biến quan sát phụ thuộc thành một tập biến ít hơn, vẫn giữ được ý nghĩa và hầu hết thông tin của tập biến ban đầu Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi quy xác suất, từ đó nâng cao độ chính xác của kết quả.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu trong nước của Dương Thị Hoàn
Nghiên cứu năm 2019 chỉ ra rằng các yếu tố nội bộ của ngân hàng, bao gồm quản trị ngân hàng, chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, năng lực quản lý rủi ro và đội ngũ cán bộ tín dụng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình cho vay cho khách hàng doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Cành (2007) đã sử dụng số liệu thứ cấp từ Tổng cục thống kê và số liệu sơ cấp từ các cuộc điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa tại đồng bằng Sông Cửu Long Tác giả áp dụng phương pháp phân tích tần suất để tính toán các chỉ số tài chính và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng như nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các quỹ tài chính nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy, do quy mô vốn nhỏ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm khả năng mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, và tiếp cận đất đai cùng các nguồn vốn.
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2010) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn Dữ liệu được thu thập từ 206 DNNVV tại quận Ninh Kiều, quận Bình Thủy, và huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Sử dụng mô hình Probit và Tobit, nghiên cứu chỉ ra rằng kinh nghiệm của người quản lý và thời gian quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của DNNVV.
Tỷ số sinh lời ROE, tỷ lệ nợ và mục đích vay vốn của doanh nghiệp, cùng với tài sản thế chấp, là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quy mô vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Ngoài ra, kinh nghiệm của người quản lý, thời gian quan hệ với ngân hàng và quy mô doanh nghiệp cũng đóng vai trò quyết định trong việc xác định khả năng vay vốn.
Bài viết trên tạp chí Khoa học và Phát triển, mang tiêu đề “Đánh giá khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV tại Nghệ An” do tác giả Nguyễn Thị Minh thực hiện, phân tích những thách thức và cơ hội mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Nghệ An gặp phải trong việc tiếp cận nguồn vốn Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tài chính của DNNVV và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp này.
Phượng và Nguyễn Thị Minh Hiền (2011) đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp, bao gồm việc minh bạch hóa hệ thống kế toán tài chính, phát triển dịch vụ thẩm định doanh nghiệp, xây dựng mô hình quỹ bảo lãnh tín dụng, quản trị rủi ro trong cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và tổ chức tập huấn kỹ năng quản lý.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Sao và cộng sự (2021), khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được phân loại thành ba nhóm chính.
Nhóm các nhân tố quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) bao gồm năng lực lãnh đạo và đội ngũ cố vấn, mối quan hệ của doanh nghiệp, tài sản đảm bảo, và khả năng trả nợ.
Sự minh bạch tài chính của DN; Lịch sử vay nợ của DN
Nhóm các nhân tố liên quan đến ngân hàng thương mại bao gồm chính sách tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và các khoản chi phí mà DNNVV phải chi trả để sử dụng vốn từ ngân hàng, bao gồm lãi suất và các chi phí liên quan khác.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua các bước chính như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu là xác định vấn đề nghiên cứu Tác giả sẽ tiến hành khảo sát các nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời xem xét thực trạng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam và Bình Dương Qua đó, tác giả sẽ xác định tính cấp thiết của đề tài và vấn đề nghiên cứu cần giải quyết.
Bước 2: Nghiên cứu lý thuyết và các nghiên cứu liên quan là cần thiết để xây dựng mô hình nghiên cứu Tác giả đã tìm hiểu các lý thuyết và nghiên cứu trước đó nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận.
Xác định vấn đề nghiên cứu
Lý thuyết, nghiên cứu liên quan và xây dựng mô hình nghiên cứu
Xây dựng thang đo thông qua nghiên cứu định tính
Sàng lọc thang đo, biến quan sát
Nghiên cứu định lượng Kết quả nghiên cứu
28 cận vốn tín dụng của DNNVV tại Bình Dương thông qua việc xây dựng cá giả thuyết nghiên cứu
Bước 3: Xây dựng thang đo thông qua nghiên cứu định tính
Tác giả đã phát triển một thang đo nháp dựa trên các nghiên cứu trước đó và tiến hành phỏng vấn 5 chuyên gia lãnh đạo tại BIDV Bình Dương để nhận ý kiến và hoàn thiện thang đo chính thức phù hợp với đơn vị.
Bước 4: Nghiên cứu định lượng Tác giả áp dụng các công cụ định lượng để phân tích kết quả nghiên cứu, sau khi thực hiện khảo sát chính thức đối với đại diện các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sử dụng dịch vụ tín dụng tại BIDV Bình Dương.
Bước 5: Phân tích kết quả nghiên cứu và đưa ra các hàm ý quản trị Sau khi có kết quả định lượng, tác giả tiến hành phân tích và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sử dụng dịch vụ tín dụng tại BIDV Bình Dương.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng thông qua phỏng vấn nhóm chuyên gia nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, Chi nhánh Bình Dương Nhóm chuyên gia bao gồm 5 cán bộ quản lý từ ngân hàng này.
Tác giả sẽ điều chỉnh thang đo dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và các thang đo ban đầu từ các nghiên cứu trước, nhằm phù hợp với tình hình tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu tư và Phát Triển Việt Nam, Chi nhánh Bình Dương.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả áp dụng cả câu hỏi định tính và định lượng Các câu hỏi định tính được chuyển đổi thành các con số định lượng để tích hợp vào mô hình phân tích.
Dựa trên các lý thuyết và mô hình nghiên cứu hiện có, tác giả đã phát triển thang đo nháp cho đề tài, chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2010) và tiến hành nghiên cứu định tính để phỏng vấn các chuyên gia, nhằm điều chỉnh thang đo cho phù hợp với thực tế.
Bảng 3.1: Xây dựng và mã hóa thang đo
Yếu tố Thang đo gốc Nguồn thang đo gốc Thang đo hiệu chỉnh
Số lượng nhân viên của
DN [0 nếu dưới 100 nhân viên, 1 nếu từ 100 nhân viên trở lên]
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Nguyễn Quốc Nghi
1 nếu DN thuộc ngành sản xuất, 0 nếu ngành khác
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Giữ nguyên
1 nếu DN tư nhân, 0 nếu là DN khác
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020)
DN thành lập được bao nhiêu năm [1 (1–5); 2 (6–10); 3 (11–15), 4 (16–20), 5 (trên 20)]
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Giữ nguyên
Có kế hoạch kinh doanh không [1 nếu có, 0 nếu không có]
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Giữ nguyên
Trình độ học vấn (HV)
Trình độ học vấn của chủ DN [1 (từ trình độ cao đẳng trở lên); 0 khác]
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020)
Yếu tố Thang đo gốc Nguồn thang đo gốc Thang đo hiệu chỉnh
Tham gia tập huấn (ĐT)
1 nếu có, 0 nếu không/chưa
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Loại bỏ Tuổi của chủ doanh nghiệp
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Loại bỏ
Kinh nghiệm chủ DN (KN)
Số năm kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ DN
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Nguyễn Quốc Nghi
Thủ tục vay vốn (thủ tục rườm rà phức tạp = 0, thủ tục đơn giản = 1)
Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) Dương Thị Hoàn (2019)
Thái độ phục vụ (TDP)
Thái độ phục vụ của một số cán bộ tín dụng (1 tốt và 0 = chưa tốt)
Thời gian xét duyệt hồ sơ (1 = nhanh và 0 chưa chậm)
Lãi suất (1 = hợp lý và 0
= chưa hợp lý so với các ngân hàng khác)
Khả năng tiếp cận tín dụng
(TCTD) Đây là biến giả, phản ánh xác suất tiếp cận của DNNVV (1= được vay, 0 không được vay)
Trần Bá Duy (2010) Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020)
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Sau khi thu thập dữ liệu khảo sát từ đại diện các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tác giả đã áp dụng các công cụ định lượng để phân tích kết quả nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả, tần số, phân tích tương quan và hồi quy.
Thống kê mô tả là các phương pháp tóm tắt và mô tả dữ liệu hoặc mẫu nghiên cứu thông qua số liệu và biểu đồ trực quan Trung bình cộng và độ lệch chuẩn là những công cụ số phổ biến, trong khi các biểu đồ là công cụ trực quan thường được sử dụng.
Trong luận văn này, tác giả áp dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích các biến trong mô hình nghiên cứu, đồng thời thực hiện thống kê tần số cho các biến nghiên cứu định tính.
Tương quan tuyến tính giữa hai biến là mối quan hệ mà khi biểu diễn trên mặt phẳng Oxy, các điểm dữ liệu tạo thành một đường thẳng Trong thống kê, hệ số tương quan Pearson (ký hiệu r) được sử dụng để đo lường mức độ liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng Nếu một trong hai biến không phải là biến định lượng, phân tích tương quan Pearson sẽ không được thực hiện Hệ số tương quan Pearson r có giá trị từ -1 đến 1.
Theo Andy Field (2009), việc đánh giá mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến thông qua hệ số tương quan Pearson là cần thiết, nhưng chúng ta cũng cần kiểm định giả thuyết về ý nghĩa thống kê của hệ số này Giả thuyết H0 được đặt ra là r = 0, và phép kiểm định t được sử dụng để thực hiện kiểm định giả thuyết này.
Sig < 0.05: Bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là r ≠ 0 một cách có ý nghĩa thống kê, hai biến có tương quan tuyến tính với nhau
Sig > 0.05: Chấp nhận giả thuyết H0, nghĩa là r = 0 một cách có ý nghĩa thống kê, hai biến không có tương quan tuyến tính với nhau
Kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua mô hình hồi quy xác suất
Phương pháp hồi quy nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, cho phép kiểm định giả thuyết về sự tồn tại của mối quan hệ tác động theo kỳ vọng của mô hình nghiên cứu.
Hồi quy xác suất, hay còn gọi là mô hình logit, là phương pháp phân tích thống kê phù hợp khi biến phụ thuộc là nhị phân Đây là một loại hồi quy với biến phụ thuộc bị giới hạn, thuộc nhóm các mô hình biến phụ thuộc hạn chế Hồi quy xác suất không chỉ được sử dụng để mô tả dữ liệu mà còn giúp giải thích mối quan hệ giữa biến nhị phân phụ thuộc và một hoặc nhiều biến độc lập có cấp độ danh nghĩa, thứ tự, khoảng hoặc tỷ lệ.
Kết quả kiểm định mô hình hồi quy được thực hiện dựa trên các kiểm định về tính phù hợp và giả thuyết liên quan đến sự ổn định và chính xác của mô hình Các kiểm định này bao gồm:
Kiểm định hệ số hồi quy nhằm xác định mối quan hệ giữa biến giải thích và biến phụ thuộc Qua kiểm định này, các giả thuyết về sự tồn tại của mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu được kiểm tra và xác nhận.
Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình là quá trình đánh giá khả năng áp dụng của mô hình trong nghiên cứu Nếu mô hình thỏa mãn kiểm định này, điều đó có nghĩa là nó có thể được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Quy mô doanh nghiệp được xác định dựa trên nhiều yếu tố như nguồn vốn, nguồn nhân lực, kinh nghiệm hoạt động trên thị trường và sự lựa chọn của chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư về mức độ kinh doanh Những yếu tố này giúp phân chia doanh nghiệp thành các loại hình như doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020), khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp phụ thuộc vào quy mô của chúng, với điều kiện tiếp cận vốn không đồng nhất giữa các doanh nghiệp Nguyễn Quốc Nghi (2010) cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế hơn trong việc tiếp cận vốn tín dụng so với các doanh nghiệp nhỏ Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu đầu tiên.
H1: Các doanh nghiệp NVV có quy mô lớn hơn thường có xu hướng dễ tiếp cận vốn tín dụng dễ hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn
Ngành sản xuất và loại hình doanh nghiệp
Các doanh nghiệp trong các nhóm ngành khác nhau có hiệu quả hoạt động và khả năng tiếp cận vốn tín dụng khác nhau Theo lý thuyết cạnh tranh, mỗi nhóm ngành sở hữu lợi thế cạnh tranh riêng, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Do đó, các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh khác nhau sẽ có những ưu thế khác biệt Nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) chỉ ra rằng các doanh nghiệp trong nhóm ngành sản xuất có khả năng tiếp cận vốn cao hơn.
Do đó, giả thuyết nghiên cứu tiếp theo:
H2: Các doanh nghiệp NVV ngành sản xuất sẽ có khả năng tiếp cận vốn tín dụng cao hơn các doanh nghiệp nhóm còn lại
Các doanh nghiệp thuộc các loại hình khác nhau có lợi thế cạnh tranh khác nhau Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020), khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước thường dễ dàng tiếp cận tín dụng hơn so với doanh nghiệp tư nhân nhờ vào ưu thế về tài sản đảm bảo Sự khác biệt này dẫn đến khả năng tiếp cận tín dụng không đồng đều giữa các loại hình doanh nghiệp.
H3: Doanh nghiệp nhà nước có khả năng tiếp cận vốn tín dụng dễ hơn doanh nghiệp tư nhân
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp được xác định từ khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động cho đến hiện tại, như đã được nêu bởi Nguyễn Hồ Phương Thảo và các cộng sự.
Doanh nghiệp hoạt động lâu năm có khả năng tiếp cận vốn tín dụng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp mới thành lập, nhờ vào việc dễ dàng chứng minh các thủ tục, hồ sơ và tài sản cần thiết.
H4: Doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng dài thì khả năng tiếp cận vốn tín dụng càng dễ
Kế hoạch kinh doanh là tài liệu cần thiết cho các doanh nghiệp mới trong quá trình tái tổ chức, đặc biệt khi có sự thay đổi lớn trong hoạt động Tài liệu này giải thích cách thức sử dụng tiền vay ngân hàng, cùng với các mục tiêu quản lý và lợi nhuận trong ba đến năm năm tới Thông thường, kế hoạch này đi kèm với báo cáo dự kiến về thu nhập và chi phí cho cùng kỳ.
Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020) chỉ ra rằng doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng doanh nghiệp hơn so với những doanh nghiệp không có kế hoạch Do đó, giả thuyết nghiên cứu tiếp theo được đưa ra.
H5: Doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh sẽ dễ tiếp cận tín dụng doanh nghiệp hơn các doanh nghiệp không có kế hoạch kinh doanh
Các yếu tố thuộc về chủ doanh nghiệp NVV
Trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp NVV ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng Một trình độ học vấn cao không chỉ phản ánh khả năng điều hành hiệu quả mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận tín dụng Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020), các chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn cao thường giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng.
Kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ doanh nghiệp là yếu tố quan trọng mà các ngân hàng xem xét khi quyết định cho vay vốn tín dụng Chủ doanh nghiệp có kinh nghiệm trong điều hành và quản lý sẽ hiểu rõ hơn về tổ chức, từ đó quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020), doanh nghiệp có chủ sở hữu với nhiều kinh nghiệm làm việc có khả năng tiếp cận vốn tín dụng cao hơn Nguyễn Quốc Nghi (2010) cũng đồng tình rằng kinh nghiệm trong quản lý và điều hành kinh doanh giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, từ đó dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng Do đó, hai giả thuyết nghiên cứu tiếp theo được đưa ra.
H6: Chủ doanh nghiệp NVV có trình độ học vấn càng cao thì doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng hơn
H7: Kinh nghiệm của nghề nghiệp của chủ doanh nghiệp càng nhiều thì doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận tín dụng doanh nghiệp hơn
Thủ tục vay vốn tín dụng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồ Phương Thảo và cộng sự (2020), thủ tục vay vốn càng đơn giản thì doanh nghiệp càng dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng Dương Thị Hoàn (2019) cũng nhấn mạnh rằng quy trình vay vốn là yếu tố quyết định trong việc đánh giá khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp Do đó, các ngân hàng nên thiết lập chính sách tín dụng đơn giản và đầy đủ, tránh các quy định không cần thiết có thể cản trở khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
H8: Ngân hàng có thủ tục vay vốn càng đơn giản thì doanh nghiệp NVV có khả năng dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng hơn
Thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp NVV Để đáp ứng nhu cầu vay vốn, nhân viên tín dụng cần thể hiện sự nhiệt tình, tôn trọng và sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp NVV.
(2019) nhận định các ngân hàng cần đảm bảo nhân viên tín dụng có thái độ phục
36 vụ doanh nghiệp tốt thì mới giúp các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng dễ dàng Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu tiếp theo:
H9: Thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng tốt thì sẽ giúp các doanh nghiệp NVV dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng hơn
Thời gian duyệt hồ sơ tín dụng và lãi suất cho vay là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp NVV Dương Thị Hoàn (2019) cho rằng, khi các ngân hàng có thời gian duyệt hồ sơ ngắn và lãi suất hợp lý, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng hơn Do đó, khi có nhu cầu vay, các doanh nghiệp thường xem xét nhiều lựa chọn từ các ngân hàng khác nhau về hồ sơ vay, thời gian duyệt hồ sơ và lãi suất.
H10: Thời gian duyệt hồ sơ tín dụng càng ngắn thì doanh nghiệp NVV sẽ dễ dàng tiếp cận tín dụng nhiều hơn
H11: Ngân hàng có lãi suất hợp lý thì giúp các doanh nghiệp NVV dễ dàng tiếp cận tín dụng nhiều hơn
Sau khi xây dựng giả thuyết nghiên cứu, tác giả đã phát triển mô hình nghiên cứu với các biến ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng.
Mô hình hồi quy có dạng:
Hệ số Odds của xác suất khả năng tiếp cận tín dụng cá nhân tại BIDV Bình Dương như sau:
1 + 𝑒 −(𝛽 0 +𝛽 1 𝑋 1 +𝛽 2 𝑋 2 …+𝛽 𝑘 𝑋 𝑘 ) = 𝑒 𝛽 0 +𝛽 1 𝑋 1 +𝛽 2 𝑋 2 …+𝛽 𝑘 𝑋 𝑘 Trong đó, các biến X1 đến Xk chính là các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Mẫu nghiên cứu
Đề tài này áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất thuận tiện, mang lại lợi ích trong việc dễ dàng tiếp cận đối tượng khảo sát và đảm bảo tính khách quan Cỡ mẫu được xác định dựa trên các nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998).
Theo Hair và cộng sự (1998), số mẫu tối thiểu cho phân tích hồi quy được tính bằng công thức 8m + 50, với m là số biến độc lập Trong nghiên cứu này, có 11 biến độc lập, do đó cần ít nhất 138 quan sát Tác giả đã phát 150 bảng hỏi để thu thập dữ liệu, đảm bảo kích thước mẫu tối thiểu.
Trình độ học vấn (HV)
Khả năng tiếp cận tín dụng
Thái độ phục vụ (TDP)
Trong chương này, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện qua phỏng vấn 5 lãnh đạo tại BIDV Bình Dương để điều chỉnh thang đo nháp cho phù hợp với thực tế Đồng thời, nghiên cứu định lượng sử dụng các công cụ định lượng để phân tích kết quả Chương cũng đề cập đến các giả thuyết nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu.
Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy nhị phân