- Dựa vào mức độ tín nhiệm của KH, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: + Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặcbảo lãnh của
Trang 1Trêng §¹i häc KINH TÕ quèc d©n
Hµ Néi –2010
CHƯƠNG I: CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 2Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuầnhoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa cácchủ thể trong nền kinh tế.
Một cách khái quát, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản)
từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn,người sở hữu phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Như vậy, phạm trùtín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thờihạn và tính hoàn trả
Tín dụng có nhiều loại, như: tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cánhân và tín dụng ngân hàng Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tàisản (vốn) giữa NH với các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong mối quan hệ này, NHvừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ) Đây là quan
hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của NH, thực hiệnđầu tư vốn và các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế
Từ phân tích trên, ta đi đến khái niệm: Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏathuận để KH sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc cóhoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khâu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảolãnh NH và các nghiệp vụ khác
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàntrả và có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là chovay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản chongười đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây là yếu
tố hết sức cơ bản trong quan hệ tín dụng
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác làngười đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay camkết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Phân biệt tín dụng và cho vay: Bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời (cóhoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mói quan hệ tín dụng này lại được thểhiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và thuê tài chính Như vậy, nộidung tín dụng là rộng hơn cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay (tíndụng bằng tiền) là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất lại các NHTM.Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế chonhau
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một sốtiêu thức nhất định Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập cácquy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng Phân loại chovay dựa vào các căn cứ sau đây:
- Dựa vào mục đích của cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
Trang 3+ Cho vay phục vụ SXKD công thương nghiệp.
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân
+ Cho vay mua bán bất động sản
+ Cho vay sản xuất nông nghiệp
+ Cho vay kinh doanh bất động sản
- Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm Mục đích của loại chovay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
+ Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm Mục đích của loạicho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định
+ Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vaynày thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án
- Dựa vào mức độ tín nhiệm của KH, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặcbảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của KH vay vốn để quyết định cho vay.+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay nhưthế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, KH và TCTD thựchiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà TCTD và KH xác định và thỏathuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là loại cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bảnchấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của KH
- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay trực tiếp: NH cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đivay trực tiếp trả nợ vay cho NH
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khếước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: Chiết khấuthương mại, bao thanh toán
Tín dụng NH đóng một vai trò to lớn đối với không chỉ riêng ngân hàng, khách hàng
và cả nền kinh tế Thông qua tín dụng NH, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cungứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ Mặt khác, tín dụng
NH còn thúc đẩy các DN tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh, giúp các DN khai thác
có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh Đồng thời, tín dụng NH còntạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh
tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới
Trang 41.1.2 CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay KHCN bao gồm hai hình thức:vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh
a) Vay tiêu dùng: Là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia
đình như: xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, mua xe cơ giới, du học,chữa bệnh,…
b) Vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản
xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình: bổ sung vốn lưu động, mua sắm máymóc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanhchứng khoán,…
Đối với hai hình thức cho vay trên, thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thời hạn chovay dưới 12 tháng), trung hạn (thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn(thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên); phương thức cho vay có thể là: cho vay từng lần,cho vay trả góp, thấu chi, riêng đối với các nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thườngxuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì phương thức cho vay theo hạn mức tíndụng được sử dụng khá phổ biến
Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và
ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Cho vay trả góp: Khi vay vốn khách hàng và ngân hàng thỏa thuận xác định số lãi
vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thờigian cho vay
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng
văn bản chấp thuận cho việc khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tài khoản khách hàngphù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về việc thanh toán qua các
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD): Ngân hàng và khách hàng xác định và
thỏa thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian xác định
Các biện pháp đảm bảo an toàn vay là yếu tố quan trọng trong việc xét duyệt cho vaycủa ngân hàng với khách hàng, hiện tại các ngân hàng xem xét cho vay với khách hàngdựa trên hai hình thức:
- Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thuộc
sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba Tài sản đảm bảo cho khoảnvay có thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hóa, máy móc thiết bị, bất độngsản,…
- Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay không cần đảm
bảo tài sản mà dựa trên uy tín khách hàng Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín
và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này
HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
a) Đối tượng
Trang 5Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinhhoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình
đó Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn,nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN làkhông thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xãhội Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhautùy thuộc vào tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thu nhập, tập quán, thói quen tiêudùng của dân cư
Đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình, thờihạn cho vay thường là trung và dài hạn tùy thuộc vào khả năng đáp ứng nguồn vốn củangân hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, đặc biệt đối với các khoản vay mua nhà, thờihạn cho vay có thể kéo dài tới 30 năm
c) Quy mô và số lượng các khoản vay
Thông thường quy mô mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ hơn các khoản vay của
DN Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay KHCN thường lớn, đặc biệt ở cácNHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ số lượng này là rất lớn, do đótổng quy mô các khoản vay KHCN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của ngânhàng
d) Chi phí cho vay
Do các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ, số lượng các khoản vay này thườngrất lớn nên các ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhân lực và công cụ)trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay do đó chiphí tính trên mỗi đồng cho vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay DN
e) Lãi suất cho vay
Lãi suất của các khoản vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay khác của NHTM.Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay KHCN lớn, các khoản cho vay KHCN cómức độ rủi ro cao như đã đề cập ở trên và KHCN thường kém nhạy cảm với lãi suất chovay do KHCN thường chỉ quan tâm đến số tiền được vay, thời hạn vay và số tiền phải trảtheo định kỳ và không xem lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định vayvốn Cả ba nguyên nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn các khoảnvay khác của NHTM Chẳng hạn, ở những nước có hoạt động cho vay KHCN phát triểnnhư Mỹ, lãi suất cho vay KHCN có thể cao gấp 3 – 4 lần lãi suất cho vay DN, ở ViệtNam lãi suất cho vay KHCN thông thường cao hơn lãi suất cho vay DN từ 1,2 đến 1,5lần
f) Rủi ro tín dụng
Trang 6Các khoản cho vay KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng Sở dĩ nhưvậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạngcông việc và sức khoẻ của họ Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộgia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa họccông nghệ lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế Do đó, ngânhàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản, Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN thường gặp khó khăn do vấn đềthông tin không đầy đủ, không rõ ràng, các thông tin về cá nhân thường bị giấu kín, do đóchất lượng thẩm định khách hàng không cao Điều này ảnh hưởng đến các quyết định chovay của ngân hàng Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thường được quản lý chặt chẽ.
Quy trình cho vay là trình tự các bước mà NH thực hiện cho vay đối với KH Quytrình cho vay phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp cho vay, trình tự giải quyết cáccông việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạtđộng tín dụng
Quy trình cho vay gồm 4 khâu cơ bản, theo trình tự:
a) Thiết lập hồ sơ cho vay
b) Phân tích cho vay
c) Quyết định cho vay
d) Giám sát và quản lý cho vay
a) Thiết lập hồ sơ cho vay
Hồ sơ tín dụng của một NH là tài liệu bằng văn bản, biểu hiện mối quan hệ tổng thểcủa NH với KH vay vốn Chất lượng tín dụng phụ thộc rất lớn vào sự hoàn chỉnh vàchính xác của hồ sơ tín dụng Vì vậy, khi thiết lập một hồ sơ tín dụng phải đảm bảo cácyếu tố:
- Các thông tin cơ bản về KH xin vay
- Thông tin về tài chính hiện tại của KH xin vay
- Lịch sử tài chính của KH xin vay
- Thông tin về mục đích vay vốn
- Phương hướng hoạt động kinh doanh trong tương lai của KH
- Đánh giá nhận xét của NH về KH
- Thỏa thuận giữa NH và KH về việc vay vốn và trả nợ
- Những thông báo của NH cho KH
b) Báo cáo về kết quả kiểm tra về tình hình sử dụng vốn vay
Tùy vào từng loại cho vay, kỹ thuật cho vay và quy mô của các khoản vay mà NHTMquy đinh việc thiết lập bộ hồ sơ cho phù hợp Bộ hồ sơ cho vay thường bao gồm các loạisau:
- Hồ sơ pháp lý bao gồm:
Trang 7+ Các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự: xác nhận hộkhẩu đối với hộ giá đình cá nhân ở nông thôn Sổ hộ khẩu đối với gia đình, cá nhân ở đôthị.
+ Giấy phép kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp
+ Giấy tờ hợp pháp hợp lệ được giao cho thuê quyền sử dụng đất, mặt nước (đối với
hộ nông, lâm, ngư nghiệp)
+ Giấy phép đánh bắt thủy hải sản, đăng kiểm tàu thuyền
+ Hợp đồng hợp tác, chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn cho phép hoạt động(đối với tổ hợp tác)
+ Hồ sơ dự án đối với cho vay trung, dài hạn
+ Các giấy tờ khác cần thiết theo quy định của pháp luật
- Hồ sơ vay vốn có hai loại:
+ Đối với hộ vay không phải thực hiện thế chấp cầm cố bảo lãnh thì giấy đề nghị vayvốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh
+ Đối với hộ phải thực hiện thế chấp cầm cố bảo lãnh thì hồ sơ vay vốn gồm có: giấy
đề nghị vay vốn, dự án, phương án sản xuất kinh doanh, hồ sơ đảm bảo tiền vay theo quyđịnh
Hồ sơ do NH lập gồm:
- Các báo cáo về thẩm định, tái thẩm định
- Các loại thông báo như: thông báo từ chối cho vay, thông báo cho vay, thông báogia hạn nợ, thông báo đến hạn nợ, thông báo nợ quá hạn, thông báo tạm ngừng cho vay,thông báo chấm dứt cho vay
- Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay, báo cáo phân tích tình hình tài chính
- Sổ theo dõi cho vay và thu nợ
- Hợp đồng tín dụng hoặc sổ vay vốn
- Hợp đồng bảo đảm tiền vay như hợp đồng cầm cố thế chấp tài sản, hợp đồng bảolãnh vay vốn NH,…
c) Phân tích cho vay
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các NHTM là lợi nhuận, song trên con đường tìmkiếm lợi nhuận tối đa đó, các NHTM luôn gặp phải một “rào cản” đó là rủi ro Để phòngngừa, hạn chế rủi ro các NHTM đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp cơbản, có vị trí quan trọng số một là phải phân tích đánh giá một cách toàn diện KH trướckhi cho vay Nếu KH được đánh giá là tốt, như có đủ tư cách trong kinh doanh, có nănglực tài chính đảm bảo, chấp hành tố các hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọngphát triển trong tương lai,… thì sẽ được NH xem xét để cho vay Ngược lại, nếu KHkhông đáp ứng được những vấn đề trên thì NH sẽ từ chối cho vay
Để phân tích đánh giá KH, NH dựa vào các tài liệu sau đây:
Trang 8- Tài liệu thuyết minh về việc vay vốn như kế hoạch hoặc phương án SXKD, giấyphép kinh doanh xuất nhập khẩu, các hợp đồng cung cấp – tiêu thụ sản phẩm.
- Các tài liệu kế toán để đánh giá khả năng tài chính của KH như: bảng tổng kết tàisản, bản thuyết minh về tình hình công nợ, bản giải trình về kết quả kinh doanh, bản phântích chi tiết về lỗ, lãi
- Các tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng
Ngoài ra NH còn đưa vào các thông tin khác như: việc phỏng vấn trực tiếp người vay,thông tin qua hồ sơ lưu trữ về người vay tại NH, thông tin từ các DN có quan hệ kinh tếvới người vay, v.v
Sau khi xem xét tính hợp pháp, hợp lệ của các tài liệu nêu trên, các NHTM thườngtiến hành thẩm định một cách kỹ càng về KH của mình Thông thường các NH thườngđưa ra các tiêu chuẩn để xem xét một hồ sơ tín dụng, chẳng hạn như:
Đối với các tổ chức kinh tế, khi đánh giá tư cách pháp nhân, NH phải dựa vào các
“tiêu chuẩn” đó là: phải có quyết định thành lập của cấp có thẩm quyền, có giấy phépkinh doanh, có tài sản riêng thuộc quyền quản lý hay sở hữu, được nhân danh tổ chứcmình tham gia các hoạt động kinh tế thông qua người đại diện hợp pháp Muốn đánh giá
tư cách pháp nhân của tổ chức kinh tế, NH thường đòi hỏi KH phải cung cấp cho NH cáctài liệu như: quyết định thành lập DN, giấy phép kinh doanh do cấp có thẩm quyền cấp,quyết định bổ nhiệm giám đốc hay những tài liệu chứng minh quyền điều hành hợp phápcủa lãnh đạo DN đối với công ty cổ phần, công ty TNHH, DN tư nhân hay hợp tác xã.Đối với các cá nhân phải là những người có đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi,
có hộ khẩu thường trú trên địa bạn với NH cho vay NH không chấp nhận cho vay nhữngngười như: đang trong thời gian chấp hành án, bị tòa án cấm kinh doanh, những người bịtâm thần
Trang 9- Uy tín của người vay vốn:
Đây là yếu tố hết sức quan trọng mà NH cần phải đánh giá Phần lớn các thông tin về
KH đều đã được NH biết đến Đối với một KH cũ, những giao dịch trước đó của NH với
họ sẽ đưa lại một lượng lớn thông tin về tính trung thực, các nguồn tài chính và năng lựccủa KH, thông tin về tính nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tính ổn địnhtrong SXKD Đối với KH mới, phần nhiều phụ thuộc vào sự giới thiệu, vào các DN khác
có quan hệ với KH đó, vào thông báo thưc trạng từ NH khác
- Phân tích tình hình tài chính của KH:
+ Đánh giá tình hình tài sản của KH: Đối với hộ, hoặc người tiêu dùng NH yêu cầu
các thông tin về tình hình kinh doanh, tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập khác.Các thông tin về tài sản cho thấy quy mô, chất lượng tài sản, khả năng quản lý của KH,rất quan trọng đối với quyết định cho vay Hơn nữa, tài sản (tất cả hoặc một phần) của
KH luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ khi KH mấtkhả năng sinh lời
+ Đánh giá các khoản nợ: Nợ của người vay có thể được phân chia theo nhiều tiêu
thức khác nhau
Về thời gian, gồm nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn) và nợ trung và dài hạn (vay trung vàdài hạn); NH còn xem xét các khoản nợ đến hạn trong năm (các khoản nợ ngắn, trung vàdài hạn phải trả trong năm) và các khoản nợ phải trả trong các năm sau Nếu khoản chovay của NH phải trả trong năm thì các khoản nợ đến hạn và ngân quỹ trong năm của KH
là hai yếu tố chính tạo nên quyết định của NH NH cũng quan tâm tới nợ quá hạn và cácnguyên nhân
NH quan tâm tới tất cả các chủ nợ của KH: Có thể là các khoản nợ cũ, các khoản nợcủa các NH khác,… Vị trí của NH trong danh sách chủ nợ luôn được nghiên cứu kỹlưỡng Nếu NH dành vị trí quan trọng nhất, nó dễ dàng thu được nợ hơn là các vị trí khác
NH cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có bảo đảm và nợ khác Các tài sản đã làmđảm bảo cho khoản vay cũ cần phải được tính lại theo giá thị trường và bị loại trừ; nếuchúng được lấy làm tài sản bảo đảm cho khoản vay mới thì cần tính toán giá trị dôi thừa
so với tiền vay cũ
+ Phân tích luồng tiền: Nhiều KH tạo ra lợi nhuận trong quá khứ, thậm chí có khảnăng tạo ra lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên việc trả nợ NH lại liên quan chặt chẽ tớingân quỹ của người vay (ví dụ cho vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là các khoản thu nhậpbằng tiền của người vay, kỳ hạn thu nợ có thể lệch pha với các khoản thu của người vay).Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời, trên thực tế, tỷ lệdòng tiền/tổng các khoản nợ là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với việc dự đoán các vấn đềtín dụng trong tương lai
Để hỗ trợ cho NH và KH, các luồng tiền trong tương lai - phụ thuộc vào kế hoạch chitiêu trong tương lai – cần được dự kiến Kế hoạch này ghi lại vận động hàng tháng củacác khoản tiền mặt, tiền gửi NH, các khoản thanh toán hàng tháng Người vay có lợinhuận trong hiện tại có thể có dự án chi trong tương lai cao, và với thu bán hàng khôngđổi, sẽ có thể có luồng tiền âm (không có khả năng chi trả)
Trang 10+ Sử dụng các tỷ lệ: Sau khủng hoảng 1929 – 1932, rất nhiều các nhà NH phát hiện
ra rằng họ không thu được nợ (và như vậy là không có khả năng chi trả) ngay cả khi họcho vay các khoản vốn lưu động phù hợp Cùng với các khoản cho vay ngắn hạn, đã xuấthiện ngày càng nhiều các khoản cho vay dài hạn mà mối tương quan với vốn chủ sở hữu
và các luồng trả nợ trở nên rất quan trọng Đề quá trình phân tích tín dụng được thực hiệnvới thời gian ngắn, và phần nào được tiêu chuẩn hóa, các NH đều cố gắng xây dựng các
tỷ lệ phản ánh năng lực tài chính của người vay có liên quan đến khả năng trả nợ Các tỷ
lệ này sẽ được áp dụng trong phân tích đối với từng người vay có tính đến các điều kiện
cụ thể Trong nhiều trường hợp, ban lãnh đạo NH còn yêu cầu cán bộ tín dụng sắp xếp vàcho điểm đối với từng tỷ lệ của mỗi người vay Điểm cần chú ý là các tỷ lệ này thườngđược cấu thành từ hai số có bản chất khác nhau, do đó tìm kiếm các số có mối tươngquan với nhau là rất cần thiết Hơn nữa các tỷ lệ này lấy từ các báo cáo tài chính phản ánhtình hình đã và đang xảy ra, do đó các tỷ lệ này khong phải cũng là những chỉ dẫn chocác quyết định của NH
+ Các điều kiện kinh tế: Các kết quả phân tích trên cho NH thấy một phần quá khứ vàhiện tại của KH Điều NH quan tâm hơn là khả năng trong tương lai của KH, có thể làtrong mấy tháng hoặc mấy năm Thời hạn càng dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là dotác động của các điều kiện kinh tế Thiên tai, các thay đổi bất thường trong đời sốngchính trị, khủng hoảng kinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành… làm thayđổi các tính toán ban đầu, dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ của KH Tổn thất của
KH dẫn đến tổn thất của NH chỉ trong gang tấc
Khi tiếp nhận một hồ sơ vay vốn do KH gửi tới, đặc biệt là KH mới quan hệ với NHthì cán bộ tín dụng phải điều tra phân tích kỹ lưỡng những thông tin do KH cung cấp.Đây là yếu tố quyết định chất lượng tín dụng Việc phân tích tín dụng phải làm rõ đượchai vấn đề cơ bản là xác nhận thông tin do KH cung cấp và khám phá những thông tinmới do cán bộ tín dụng thu thập về KH từ các NH đã có quan hệ tín dụng với KH xinvay, từ các bạn hàng của KH xin vay, từ các cơ quan quản lý và từ các thông tin đạichúng
Việc phân tích tín dụng trước hết do cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn của
KH có trách nhiệm đối chiếu danh mục hồ sơ theo quy định xem có đảm bảo đầy đủ, hợppháp, hợp lệ không? Sau đó báo cáo trưởng phòng tín dụng và trưởng phòng tín dụng cửngười thẩm định điều kiện vay vốn
Nội dung thẩm định như sau:
- Thẩm định dự án, phương án đề nghị vay vốn ngắn hạn:
Thẩm định dự án, phương án đề nghị vay vốn ngắn hạn với các nội dung sau:
+ Thẩm định về mục đích sử dụng vốn vay và tính hợp pháp, hợp lệ của kế hoạch sửdụng vốn vay
Trước hết kế hoạch sử dụng vốn vay của KH phải không vi phạm pháp luật, phù hợpvới chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nếu không phù hợp có nghĩa làmục đích sử dụng vốn không hợp pháp
Trang 11+ Thẩm định tính khả thi của phương án, dự án sản xuất kinh doanh: Sau khi thẩmđịnh tính khả thi của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, nếu NH thấy KH có khảnăng thực hiện được thì tiến hành tính toán xác định nhu cầu vốn vay và khả năng trả nợcủa KH.
Trên cơ sở nhu cầu vay vốn đã được xác định, cần so sánh với giá trị tài sản làm đảmbảo nợ vay và khả năng nguồn vốn của NH để quyết định hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng vốn lưu động là giới hạn mức dư nợ trong suốt thời gian thực hiệnhợp đồng tín dụng, có nghĩa là ở bất kỳ thời điểm nào trong thời gian thực hiện hợp đồngtín dụng thì dư nợ vay NH không được vượt quá hạn mức tín dụng
Căn cứ vào kết quả thẩm định tính khả thi của kế hoạch sản xuất kinh doanh của dự
án, phương án để đánh giá khả năng trả nợ gốc và lãi của KH trong kỳ kế hoạch
Cuối cùng khi kết thúc bước thẩm định, cán bộ tín dụng phải đưa ra lời nhận xét đánhgiá về nhu cầu vay vốn và nói rõ có đồng ý cho vay hay không cho vay, mức cho vay,thời hạn cho vay và biện pháp đảm bảo tiền vay cũng như các đề xuất khác có liên quan
- Thẩm định đảm bảo nợ vay:
Để đảm bảo an toàn vốn vay đòi hỏi KH khi vay vốn phải có đảm bảo nợ vay dướihình thức thế chấp, cầm cố tài sản hoặc bảo lãnh của người thứ ba Những tài sản dùng đểthế chấp, cầm cố, vay vốn NH phải được cán bộ NH thẩm dịnh về điều kiện tài sản dùng
để thế chấp, cầm cố, xem tài sản đó có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay vốnkhông? Tài sản đó có bị cấm lưu động trên thị trường không? Tài sản đó giá cả có ổnđịnh không? Bán có dễ dàng không? Phải thẩm định người bảo lãnh có đủ điều kiệu đểbảo lãnh hay không? Người bảo lãnh phải có đủ năng lực pháp lý, năng lực tài chính, có
uy tín đối với NH, trên thị trường và xã hội
d) Quyết định cho vay:
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cho vay Trên thực tếnhững yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt, việc quyết định cho vay được thực hiện mộtcách dễ dàng Đối với khoản vay nhỏ NH thường giao quyền cho cán bộ tín dụng quyếtđịnh Đối với những khoản vay lớn thuộc quyền quyết định của hội đồng tín dụng.Trường hợp này cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm kiểm tratính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và thẩm định các điều kiện vay vốn của hồ sơ, đánh giáđiểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra được ý kiến có nên cho vay hay không cho vay vàlập tờ trình trình hội đồng tín dụng Trên cơ sở hồ sơ vay vốn và tờ trình của nhân viêntín dụng, hồi đồng tín dụng xem xét kiểm tra lại hồ sơ vay vốn và tờ trình để ra quyếtđịnh cho vay hay không cho vay Dù quyết định cho vay là của nhân viên tín dụng hayhội đồng tín dụng, thì cũng phải đưa ra trong vòng một thời gian ngắn nhất, đảm bảo tínhkịp thời cho KH Nếu hồ sơ vay vốn bị từ chối thì cũng phải thông báo cho KH lý do từchối cho vay Nếu yêu cầu vay vốn được chấp thuận thì cán bộ tínd ụng cùng KH tiếnhành ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo tiền vay (nếu có) Có thể có nhữngtrường hợp hội đồng tín dụng quyết định cho vay nhưng với những thay đổi về thời hạncho vay, số tiền cho vay… Đây cũng chính là kết quả của quá trình thẩm định, tái thẩmđịnh hồ sơ vay vốn
Trang 12e) Kiểm tra, giám sát và xử lý vốn vay:
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi tiền vay phát ra cho đến khi khoảnvay được hoàn trả, nhằm đôn đốc KH thực hiện đúng và đầy đủ những cam kết thỏathuận trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với đặc điểm hoạt động của NH và đặc điểmkinh doanh sử dụng vốn của KH Nội dung kiểm tra bao gồm:
định
Cán bộ tín dụng được phân công phụ trách KH nào thì phải lậ hồ sơ kinh tế theo dõisát tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính, đặc biệt là tình hình công nợ, tìnhhình quan hệ vay vốn với NH và các tổ chức tín dụng khác của KH đó, nhằm kịp thờitham gia ý kiến với KH để lựa chọn phương án kinh doanh sản xuất tối ưu, đồng thời đểcung cấp cho giám đốc NH những thông tin cần thiết về KH, làm cơ sở cho việc ra quyếtđịnh Khi KH đặt quan hệ tín dụng thì NH kiểm tra các điều kiện vay vốn, kiểm tra tínhhợp pháp hợp lệ của các hồ sơ xin vay, thẩm định các dự án kinh doanh chủ yếu trên cácmặt như: sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án đó Để đảm bảo an toàn trongkinh doanh tín dụng, NH cần khai thác mọi nguồn thông tin để biết được thực trạng vềtình hình sản xuất kinh doanh, tình hình vay nợ ở các tổ chức tín dụng khác của KH.Thông qua đó mà NH có thể nhận biết chính xác về KH và để có cơ sở quyết định chovay một cách đúng đắn
Trong quá trình cho vay NH phải kiểm tra những nội dung sau:
- Kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn, kiểm tra mức vay và thời hạn xin vay của
dự án vay vốn
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của hồ sơ vay vốn của lần vay đó như: Hợp đồngcung cấp nguyên vật liệu, giá cả, phương thức và chứng từ thanh toán, hồ sơ và giá trị tàisản thế chấp cầm cố hay bảo lãnh
Công việc kiểm tra sau khi cho vay được tiến hành từ khi NH phát tiền vay cho đến khi thu hết nợ Nội dung kiểm tra như sau:
Sau khi phát tiền vay trong một thời gian nhất định cán bộ tín dụng kiểm tra việc sửdụng tiền vay tại trụ sở kinh doanh của KH, theo các nội dung đã thỏa thuận giữa KH và
NH đã được ghi trong hợp đồng tín dụng NH theo dõi các khế ước còn dư nợ, đôn đốc
là những giá trị của đối tượng vay vốn, sử dụng và luân chuyển được bình thường Nếuxảy ra tình trạng giá trị tài sản làm đảm bảo nhỏ hơn dư nợ NH (tức là thiếu đảm bảo) thì
NH sẽ có biện pháp xử lý thích hợp
Trang 13 Các hình thức xử lý nợ tín dụng
Xử lý nợ tín dụng là hình thức xử phạt người vay vốn khi họ vị phạm những cam kếttrong đơn xin vay hay hợp đồng tín dụng hoặc vi phạm những quy định khác trong thể lệtín dụng của NH Việc quy định các hình thức xử phạt về tín dụng nhằm mục đích quản
lý tốt vốn tín dụng, đảm bảo hiệu quả vốn vay đồng thời đảm bảo khả năng thu hồi đầy
đủ nợ gốc và lãi cho NH
Tùy theo mức độ vi phạm của KH mà NH áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp NH
có thể sử dụng một trong các biện pháp xử lý sau:
- Chuyển nợ quá hạn
Hình thức này được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Đến hạn trả nợ KH không chủ động trả, trên tài khoản tiền gửi không có tiền hoặckhông đủ tiền để thu nợ Sau khi xem xét, nếu NH thấy nguyên nhân chậm trả là dokhuyết điểm chủ quan của KH gây nên thì NH sẽ chuyển nợ đó sang quá hạn
+ Sau khi cho vay, NH kiểm tra việc sử dụng vốn vay, nếu KH sử dụng vốn vaykhông đúng mục đích thì NH sẽ thu hồi nợ trước hạn Nếu không đủ tiền để thu trước hạnthì NH sẽ chuyển sang nợ quá hạn
+ Sau khi kiểm tra đảm bảo nợ, bộ phận nợ vay không có vật tư làm đảm bảo thì NH
sẽ yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo hoặc thu hồi nợ phần thiếu đảm bảo Nếu cả hai hìnhthức trên không thực hiện được thì NH sẽ chuyển sang nợ quá hạn NH sẽ áp dụng mứclãi suất cao đối với các khoản dư nợ đó, điều này sẽ làm giảm bớt lợi nhuận của KH Dó
đó buộc KH phải tìm mọi biện pháp để quản lý kinh doanh, trong đó có việc quản lý và
sử dụng vốn có hiệu quả, quan tâm tới việc trả nợ NH đúng hạn
- Thu hồi nợ trước hạn
Về nguyên tắc NH chỉ thu hồi nợ khi đến hạn thanh toán, đã được ghi trong hợp đồngtín dụng Tuy nhiên, NH có quyền thu hồi nợ trước hạn khi:
+ Phát hiện người vay vốn sử dụng vốn sai mục đích đã cam kết hay sử dụng vốnlãng phí gây thất thoát nghiêm trọng
+ Phát hiện người vay vi phạm nguyên tắc đảm bảo tiền vay
- Hạn chế và đình chỉ cho vay
NH áp dụng hình thức kỷ luật này trong các trường hợp:
+ Khi KH sử dụng vốn vay sai mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật nhưng KH đãkhắc phục sửa chữa
+ KH vi phạm hợp đồng tín dụng đã cam kết nhưng không khắc phục sửa chữa, hoặc
KH ngừng sản xuất có thể dẫn đến phá sản, quá trình tổ chức lại sản xuất không xác địnhđược người chịu trách nhiệm trước pháp luật về quan hệ vay vốn và trả nợ NH
- Khởi kiện trước pháp luật
NH cho vay có quyền khởi kiện trước pháp luật khi đã áp dụng các hình thức kỷ luậtthích hơp nhưng KH vẫn không trả được nợ Việc khởi kiện trước pháp luật là nhằm buộc
KH phải trả nợ cho NH: đề nghị cơ quan pháp luật cho phép NH bán tài sản thế chấp,cầm cố để thu hồi nợ hoặc yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ NH thay con nợ Nếu nợ
Trang 14vẫn không trả hết mà NH đánh giá khả năng tài chính của KH khó khăn, không thể khắcphục được thì lập hồ sơ đề tòa án tuyên bố phá sản KH đó
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 KHÁI NIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN
Đối với NHTM hoạt động cho vay KHCN sẽ giúp NHTM đa dạng hoá hoạt động kinhdoanh, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng đồng thời
mở rộng quan hệ với đa dạng khách hàng từ đó sử dụng hiệu quả nguồn vốn, phân tán rủi
ro, nâng cao thu nhập của NHTM Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động , NHTM luôntăng cường sử dụng các nguồn lực của mình như: vốn, nhân lực, công nghệ, mạng lưới, vào việc mở rộng hoạt động cho vay KHCN Sự mở rộng hoạt động này được phản ánhqua sự gia tăng dư nợ cho vay từ đó gia tăng thu nhập từ hoạt động cho vay KHCN
Trên cơ sở đó có thể khái niệm: Nâng cao chất lượng cho vay KHCN là việc NHTM
tăng cường sử dụng các nguồn lực của mình nhằm mục đích gia tăng dư nợ cho vay từ
đó gia tăng thu nhập từ hoạt động cho vay KHCN
1.2.2 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
của Ngân hàng
Tỷ trọng dư nợ KHCN trong tổng dư nợ của NHTM được xác định:
Dư nợ cho vay KHCN (t)
Dư nợ cho vay KHCN là tổng lượng tiền mà NHTM đã cho KHCN vay tính tại một
thời điểm nhất định Việc mở rộng cho vay KHCN được phản ánh thông qua sư gia tăng
về quy mô và tốc độ tăng dư nợ KHCN
Sự gia tăng về quy mô dư nợ cho vay KHCN được xác định theo công thức :
Sự gia tăng quy mô dư nợ Dư nợ cho vay KHCN Dư nợ cho vay KHCN chovay KHCN năm(t) cuối năm (t ) cuối năm (t-1)
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay KHCN năm (t) tăng so với năm (t-1) là baonhiêu Khi chỉ tiêu này tăng lên tức là số tiền NHTM đã cho vay qua các năm đã tănglên
-=
Trang 15Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay KHCN được xác định:
Dư nợ cho vay cuối năm t - Dư nợ cho vay cuối năm (t-1) x
Tỷ lệ nợ xấu KHCN= Dư nợ xấu KHCN/Dư nợ cho vay KHCN
Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay KHCN là chỉ tiêu chính phản ánh chất lượng tín dụngcủa một ngân hàng Theo Quyết Định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam (gọi tắt là Quyết định 493) : nợ xấu được quy định là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5
Nợ nhóm 3( nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã
cơ cấu lại
- Các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, các khoản nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng thất thu một phần gốc
và lãi
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6 của Quyết định 493
Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cầu lại
- Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6
Trang 16- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6
của Quyết định 493
Như trên đã đề cập, việc mở rộng cho vay KHCN phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng Các NHTM không thể chỉ mở rộng cho vay mà không quan tâm đến tỷ lệ
nợ xấu NHTM chỉ có thể tiếp tục mở rộng cho vay khi việc mở rộng này không làm tăng
tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Thu nhập thuần lãi từ hoạt động cho vay KHCN được xác định bằng cách lấy lãi đầu
ra trừ đi lãi đầu vào của hoạt động cho vay KHCN hay cụ thể hơn là lấy lãi thu được từhoạt động cho vay KHCN trừ đi lãi phải trả cho nguồn vốn dùng để cho vay KHCN Đâyvừa là chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng cho vay KHCN vừa là mục tiêu của việc mở rộngcho vay KHCN Một NHTM chỉ mở rộng cho vay KHCN khi hoạt động này mang lại thunhập lãi thuần cao hơn cho NHTM đó Mặt khác khi thu nhập lãi thuần từ hoạt động chovay KHCN của một NHTM năm sau cao hơn năm trước ta có thể đánh giá hoạt động chovay KHCN của NHTM đó được mở rộng
1.2.3 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN
Năm 2009, nền kinh tế nước ta chịu tác động tiêu cực từ hai phía Cùng với nhữngkhó khăn do kinh tế thế giới suy thoái, thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trườngvốn, thị trường lao động thì bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều nơi.Trong bối cảnh kinh tế đó, nước ta vẫn đạt tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu đề ra và làmột trong số rất ít nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.Sản xuất công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả năm đã tăng7,6% Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt 38,9 triệutấn, tăng 165,7 nghìn tấn so với năm 2008 Cân đối kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định Mặc
dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm 70%, nhưng đầu tư trong nước đã được khơithông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3%
so với năm 2008 Thu ngân sách đạt dự toán cả năm và bội chi ngân sách bảo đảm đượcmức Quốc hội đề ra là không vượt quá 7% GDP Lạm phát được kiềm chế, chỉ số tănggiá tiêu dùng tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn nhiều
so với chỉ tiêu tăng dưới 10% Quốc hội đề ra; chỉ số tăng giá bình quân năm 2009 là6,88%, thấp nhất trong 6 năm gần đây Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13,4% năm 2008xuống còn 12,3% Văn hóa, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng đạt đượcnhiều thành tích vượt trội
Những kết quả đạt được của năm 2009 đã khẳng định nền kinh tế nước ta đã vượt quagiai đoạn khó khăn nhất Đây là thắng lợi của ý Đảng, lòng dân; thể hiện sức mạnh nộilực Việt Nam Do vậy, cần tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm thành công để lãnhđạo, chỉ đạo, điều hành Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 và những năm tiếptheo
Trang 17Bên cạnh những kết quả quan trọng nêu trên, tình hình kinh tế-xã hội năm 2009 vẫncòn những hạn chế, bất cập nếu không tích cực tìm các giải pháp khắc phục có hiệu quảthì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010
và các năm tiếp theo Những hạn chế, yếu kém này bao gồm:
- Thứ nhất: Nền kinh tế tuy đã tăng trưởng khá và vượt qua giai đoạn khó khăn,nhưng tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượngcác nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất laođộng xã hội và nâng cao hiệu quả nên chất lượng tăng trưởng chưa cao và chưa thật vữngchắc Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2008 là 41,3%; năm 2009 là 42,8%, nhưng tốc độtăng GDP hai năm chỉ đạt 6,18% và 5,32% là chưa tương xứng Khả năng cạnh tranh củanền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp trong khi nước ta đã hội nhậpđầy đủ với thế giới
- Thứ hai: Cơ cấu kinh tế tuy đã bước đầu chuyển dịch theo hướng tiến bộ vàtích cực, nhưng vẫn còn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyền thống với tỷ trọng tương đốicao của khu vực sản xuất vật chất nói chung và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản nóiriêng Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Năm 2009, cơ cấutổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của 3 khu vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản;công nghiệp và xây dựng; dịch vụ lần lượt là 20,66%; 40,24% và 39,10%; không khácnhiều so với năm 2008 và những năm gần đây Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu sảnphẩm còn bất hợp lý, chưa phát huy đầy đủ khả năng thế mạnh của mỗi địa phương, mỗivùng và cả nước
- Thứ ba: Cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc Mức thâm hụt ngân sáchtuy đã được khống chế, nhưng đã lên tới 7% GDP; nhập siêu hàng hóa năm 2009 tuygiảm 32,1% so với năm 2008, nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hànghóa; nhập siêu dịch vụ bằng 18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm
2008 Lạm phát trong năm được khống chế ở mức hợp lý, nhưng nhìn chung giá cả vẫntiếp tục tăng, và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao
- Thứ tư: Một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục Đời sống nhândân, nhất là những người có thu nhập thấp, dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ítngười và vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn Tìnhtrạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn cao Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà
ở 01/04/2009, tại thời điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu người thất nghiệp trong độ tuổilao động với tỷ lệ thất nghiệp là 2,9%, cao hơn mức 2,38% của năm 2008 Tỷ lệ hộ nghèotuy đã giảm nhưng vẫn còn 12,3% Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp Tai nạn giaothông chưa giảm nhiều, thậm chí có nơi, có thời điểm còn tiếp tục gia tăng Tình trạng viphạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện trên tất cả các khâu từ sản xuấtđến bảo quản, chế biến và lưu thông tiêu thụ
Nam hiện nay:
Trang 18Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, 2010 được đánh giá là năm bùng nổ về dịch vụ ngân hàng bán
lẻ, tăng cường tiếp cận với nhóm khách hàng cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa
Dân số Việt Nam theo ước tính sẽ tăng lên đến 88 triệu người vào năm nay, với mức thu nhập của người dân ngày càng cao, là thị trường tiềm năng của các NHTM, khi mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt được chú trọng
Các NHTM Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào khai thác thị trường bán lẻ, tăng cường tiếp cận với khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa Khi chuyển sang bán lẻ, ngân hàng sẽ
có thị trường lớn hơn, tiềm năng phát triển tăng lên, và có khả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh
Theo đánh giá từ giới chuyên gia tài chính, cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gaygắt, nhất là tại các đô thị loại 1 và loại 2, nơi tập trung KH có tiềm năng tài chính lớn và mật độ ngân hàng tăng mạnh
Trong số các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, HSBC và Citibank
là hai ngân hàng nổi tiếng toàn cầu về kinh doanh ngân hàng bán lẻ, với các chiến lược cụthể để phát triển kinh doanh ngân hàng bán lẻ
Trong bối cảnh đó, khối NHTM Việt Nam không thể ngồi yên hưởng lợi thế sân nhà như trước kia, nhiều ngân hàng xác định phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của mình; bắt đầu từ sự nắm bắt các cơ hội cóđược từ các thị trường mới, từ việc áp dụng công nghệ và sử dụng hệ thống tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ mới, phương thức phân phối hiệu quả, tăng cường mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng
Việc mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói riêng và hoạt động bán lẻ nói chung sẽ góp phần làm tăng thị phần của các NHTM, đưa hình ảnh của ngân hàng đến gần hơn với khách hàng, cung cấp cho khách hàng danh mục sản phẩm đa dạng, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng:
Đối với NHTM, cho vay KHCN giúp NH mở rộng quan hệ với KH, từ đó làm tăng
khả năng huy động các loại tiền gửi từ dân cư cho NH Bên cạnh đó, cho vay KHCN tạođiều kiện cho NHTM đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, từ đó tăng lợi nhuận và phântán rủi ro cho NH
Đối với KH, cho vay KHCN của NHTM là một phương thức hữu hiệu để giải quyết
những nhu cầu cấp bách về vốn cho các cá nhân và hộ gia đình, góp phần cải thiện mứcsống của KH khi họ chưa có đầy đủ khả năng chi trả, thanh toán ở hiện tại
Đối với nền kinh tế, cho vay KHCN có vai trò quan trọng trong việc kích cầu từ đó
tạo yếu tố kích thích sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc mởrộng và cho vay một cách có hiệu quả sẽ gốp phần đảm bảo sự an sinh cho xã hội
VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
1.3.1 NHÂN TỐ CHỦ QUAN
Trang 191.3.1.1 Quy mô của NHTMCP:
Quy mô của NHTM được đánh giá qua các chỉ tiêu : Vốn tự có, tổng nguồn vốn (tổng tài sản) và mạng lưới các điểm giao dịch
Vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá năng lực của một
ngân hàng thương mại, vốn tự có càng lớn thì chứng tỏ tiềm lực của ngân hàng càng mạnh, càng có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển hoạt động kinh doanh, đặc biệt là phát triển hoạt động kinh doanh tín dụng Vốn tự có lớn sẽ dễ dàng xây dựng các trụ sở, mua sắm trang thiết bị hiện đại, có khả năng bao phủ thị trường rộng và tạo nên các ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh Các ngân hàng nhỏ với qui mô vốn bé sẽ tập trung vào phát triển cho vay tiêu dùng vì với lượng vốn điều lệ ít ỏi sẽ không cạnh tranh được với các ngân hàng lớn khi cho vay các khoản vay lớn
Vốn tự có của ngân hàng phải đảm bảo theo hệ số Cook (tỉ lệ an toàn vốn tự có tối thiểu trên tổng tài sản có rủi ro là 8%), vì thế khi mở rộng hoạt động kinh doanh, tài sản của ngân hàng tăng lên thì ngân hàng phải đồng thời tăng vốn tự có của mình tương ứng
Mở rộng và phát triển cho vay tiêu dùng phải tính đến vốn tự có để đảm bảo được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Vì thế muốn phát triển cho vay tiêu dùng các ngân hàng phải luôn chú trọng tới gia tăng vốn tự có của mình
Quy mô tổng nguồn vốn (hay tổng tài sản) của NHTM thể hiện khả năng mở rộng cho
vay nói chung và cho vay KHCN nói riêng Với qui mô nguồn vốn lớn, ngân hàng sẽ có thể cho vay với số lượng lớn, đáp ứng nhiều nhu cầu vay vốn của khách hàng, ngân hàng
sẽ tạo ra được danh mục các sản phẩm dịch vụ cho vay đa dạng, phong phú
NHTM có mạng lưới các Chi nhánh/Phòng giao dịch rộng khắp sẽ có nhiều điều kiện
thuận lợi tiếp cận với khách hàng đặc biệt là các KHCN Với mạng lưới rộng, NHTM dễ dàng huy động vốn, triển khai các sản phẩm cho vay và người vay dễ dàng tiếp cận với ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn
Tổ chức hoạt động cho vay KHCN của NHTM có ảnh hưởng lớn đến kết quả cho vaycũng như khả năng mở rộng cho vay KHCN của NHTM đó Hoạt động cho vay thườngđược triển khai qua nhiều khâu, công đoạn khác nhau: từ việc thiết kế sản phẩm, quảng
bá , tiếp thị, hướng dẫn hồ sơ, thẩm định và phân tích tín dụng, theo dõi và thu hồi nợ Ởcác NHTM khác nhau, việc tổ chức hoạt động cho vay KHCN cũng rất khác nhau Một
số NHTM hoạt động cho vay KHCN không được tổ chức riêng biệt mà chỉ được coi làmột phần của mảng hoạt động cho vay nói chung của NHTM Ngược lại, ngày nay tạinhiều NHTM hoạt động cho vay KHCN đã được tổ chức chuyên môn hoá tức là mỗikhâu trong hoạt động cho vay KHCN được các bộ phận chuyên trách thực hiện Và điều
dễ dàng nhận thấy là tại các NHTM có tổ chức chuyên môn hoá trong hoạt động cho vayKHCN thì hoạt động cho vay này có nhiều cơ hội được mở rộng và phát triển
Trong hoạt động ngân hàng, công nghệ và trình độ quản lý đóng một vai trò quantrọng, ngân hàng luôn là những tổ chức có được những công nghệ tiên tiến nhất và trình
độ quản lý hiện đại nhất trong nền kinh tế Công nghệ của ngân hàng là các phần mềm vàphần cứng của thiết bị thông tin được dùng trong ngân hàng Với công nghệ hiện đại như
Trang 20các máy tính, máy ATM, hệ chương trình quản lý ngân hàng lõi giúp cho các ngân hàngđơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, bảo mật thông tin cho khách hàng tốthơn Trình độ quản lý thể hiện trong việc điều hành, kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngcủa ngân hàng, với khả năng quản lý tốt sẽ giúp các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, đạtđược các mục tiêu về lợi nhuận.
Khi đề ra chiến lược phát triển cho vay KHCN các ngân hàng phải quan tâm tới côngnghệ và trình độ quản lý của mình, nó sẽ tạo nên những thuận lợi hay khó khăn cho ngânhàng Nếu ngân hàng có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại sẽ là một yếu tố thúc đẩyphát triển cho vay KHCN: rút ngắn thời gian cho vay đối với mỗi cá nhân, tạo được uytín, sự tin tưởng đối với khách hàng… qua đó làm tăng doanh số cho vay, gia tăng lợinhuận Khi đề ra chiến lược phát triển ngân hàng phải đánh giá lại trình độ công nghệ vàquản lý của mình ở mức nào, khi so sánh với các ngân hàng cạnh tranh và trình độ pháttriển công nghệ ngân hàng trên thế giới Các ngân hàng phải phát triển công nghệ và nângcao năng lực quản lý để có thể giành chiến thắng trong thị trường đem lại nhiều lợinhuận, thị trường cho vay đối với KHCN
Hoạt động cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ phức tạp và bao gồm nhiều côngđoạn Ngoài sự trợ giúp của các trang thiết bị và công nghệ, yếu tố con người được xem
là rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động cho vay MộtNHTM muốn mở rộng được hoạt động cho vay KHCN cần phải có đội ngũ nhân viêngiỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp ở tất cả các khâu từ nghiên cứuphát triển sản phẩm, tiếp thị, thẩm định, phân tích tín dụng đến các khâu quản lý và thuhồi nợ Việc chú trọng phát triển nguồn nhân lực tốt trong các công đoạn cho vay đảmbảo cho NHTM có được các sản phẩm cho vay phù hợp, đáp ứng được đa dạng các nhucầu vay vốn của khách hàng, đảm bảo cho việc xử lý hồ sơ vay vốn của khách hàngnhanh chóng, an toàn, hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thu hồi nợ tốt
Để có được nguồn nhân lực có chuyên môn cao, ngoài công tác tuyển dụng, cácNHTM cũng cần chú trọng vào công tác đào tạo một cách bài bản, thường xuyên và liêntục đồng thời cũng có những chế độ đãi ngộ tốt nhằm đảm bảo và duy trì khả năng làmviệc lâu dài của họ tại NHTM đó
Hoạt động Marketing là hoạt động giới thiệu, quảng bá và xây dựng hình ảnh củangân hàng cũng như các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Đây cũng là hoạtđộng quan trọng góp phần mở rộng hoạt động cho vay của NHTM Từ hoạt độngMarketing, khách hàng có thể hiểu về ngân hàng cũng như các sản phẩm dịch vụ ngânhàng cung cấp Hoạt động Marketing nếu được thực hiện tốt sẽ mang lại nhiều kháchhàng cho ngân hàng và từ đó hoạt động cho vay KHCN sẽ được mở rộng
1.3.2 NHÂN TỐ KHÁCH QUAN
Môi trường kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay nói chung của NHTM vàhoạt động cho vay KHCN nói riêng Tác động của môi trường kinh tế đối với hoạt động
Trang 21cho vay KHCN của NHTM là tác động thuận chiều, tức là khi nền kinh tế phát triển thìhoạt động cho vay KHCN cũng được mở rộng, cho vay KHCN sẽ bị thu hẹp khi nền kinh
tế đi vào suy thoái hoặc trong giai đoạn khó khăn
Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân tăng cao và ổn định, mức sốngcủa dân cư được cải thiện vì vậy mà nhu cầu tiêu dùng, mở rộng sản xuất kinh doanh tăngtạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay KHCN được mở rộng Khi nền kinh tế suythoái, hoạt động sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng của dân cư cũng giảmsút do sự lo ngại về triển vọng thu nhập giảm sút của người dân trong tương lai Điều nàylàm cho hoạt động cho vay KHCN bị ảnh hưởng tiêu cực
Lạm phát và và lãi suất trên thị trường cho vay cũng là các nhân tố tác động đến việc
mở rộng cho vay KHCN của NHTM Khi lãi suất trên thị trường tăng cao, chi phí choviệc vay vốn phục vụ cho các mục đích tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh tăng cao điềunày là nguyên nhân hạn chế nhu cầu vay vốn của người dân Cũng như vậy, khi nền kinh
tế có mức lạm phát cao, hàng hoá trở nên đắt hơn, cho phí cho sinh hoạt tiêu dùng caohơn, thu nhập thực tế của dân cư giảm dẫn đến nhu cầu tiêu dùng giảm, hoạt động sảnxuất kinh doanh cũng bị thu hẹp, tác động tiêu cực đến việc mở rộng cho vay của NHTM.Xét trên khía cạnh của các NHTM, khi nền kinh tế suy thoái rủi ro trong hoạt độngcho vay tăng, do đó các NHTM tăng cường thực hiện nhiều biện pháp hạn chế rủi ro: thắtchặt các điều kiện cho vay, quản lý chặt chẽ các khoản vay, tăng cường theo dõi, thu hồi
nợ, điều này hạn chế việc mở rộng cho vay nói chung và cho vay KHCN nói riêng
Môi trường văn hoá xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cho vayKHCN tại các NHTM Sự tác động của môi trường văn hoá xã hội có thể là tác động tíchcực – kích thích sự phát triển hoặc tác động tiêu cực - hạn chế sự phát triển của của hoạtđộng cho vay KHCN Một số yếu tố văn hoá xã hội có thể tác động đến hoạt động chovay KHCN bao gồm: Yếu tố về nhân khẩu học, thói quen tiêu dùng, trình độ dân trí,phong tục tập quán,
Quy mô dân số lớn, dân số trẻ và có thu nhập cao là môi trường lý tưởng cho việcphát triển hoạt động cho vay của NHTM Tuy nhiên, yếu tố trình độ dân trí, tập quán vàthói quen tiêu dùng lại là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay KHCN.Chẳng hạn, ở thành thị nhu cầu tiêu dùng thường cao hơn khu vực nông thôn do đó mànhu cầu vay tiêu dùng cũng lớn hơn Mỹ là quốc gia có thị trường tiêu dùng lớn, phần lớndân cư Mỹ đã sử dụng vốn vay NHTM để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của mình, chính
vì vậy thị trường cho vay KHCN của Mỹ được đánh giá là lớn nhất thế giới và có tốc độtăng trưởng cao hàng năm Tại Việt Nam, hai thị trường Hà Nội và Thành Phố Hồ ChíMinh là hai thị trường tiêu dùng lớn và cũng là hai thị trường cho vay KHCN lớn của cảnước Tuy vậy quy mô thị trường và tốc độ phát triển cho vay KHCN tại Thành Phố HồChí Minh lớn hơn nhiều so với thị trường tại Hà Nội, điều này là do tập quán và thóiquen sử dụng vốn vay NHTM trong tiêu dùng của hai khu vực này là khác nhau
Hoạt động kinh doanh của NHTM đặc biệt là hoạt động cho vay chịu sự ảnh hưởngcủa rất nhiều quy định, văn bản pháp luật có liên quan từ Luật các Tổ chức tín dụng,
Trang 22Luật Dân Sự, Luật đất đai, các quy định về thực hiện giao dịch bảo đảm, đăng ký cầm cốthế chấp, các quy định về xử lý tài sản,
Trong môi truờng pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của cácbên tham gia, hoạt động cho vay có nhiều cơ hội được phát triển, người đi vay sẽ sẵnsàng vay vốn và quan trọng hơn các NHTM cũng mạnh dạn và dễ dàng mở rộng hoạtđộng cho vay của mình Ngược lại, trong môi trường pháp lý không rõ ràng chặt chẽ vàđồng bộ, quyền lợi của người đi vay và đặc biệt là của người cho vay không được bảo vệchính đáng, hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế và khó phát triển
Chẳng hạn, hiện tại ở Mỹ vẫn còn một số quy định có xu hướng bảo vệ người đi vaynhư Đạo Luật cải cách phá sản năm 1978, sửa đổi năm 1984 có xu hướng hỗ trợ chonhững kiến nghị của các cá nhân phá sản và hạn chế chặt chẽ các dạng tài sản của con nợ
mà người ta có thể chuyển thành tiền để phân chia cho các ngân hàng và các chủ nợ khác.Hiện nay, một phần đáng kể tài sản của các hộ gia đình có thể không bị tịch thu để giúpcho những người bị phá sản có thể phục hồi về tài chính và cuối cùng có thể trả được hếtcác khoản nợ một cách tự nguyện Thậm chí một số tiểu bang thông qua đạo luật chophép con nợ được giữ lại tài sản từ chủ nợ Kết quả là các NHTM phải cận trọng hơn nữakhi xem xét các yêu cầu xin vay, khuyến khích các ngân hàng tăng phần bù rủi ro tronglãi suất trong cho vay KHCN Điều này có thể khiến cho những người có thu nhập thấpkhông thể tham gia vào thị trường cho vay KHCN
Ở Việt Nam hiện nay, một số các quy định liên quan đến hoạt động cho vay, đặc biệt
là các quy định liên quan đến việc thực hiện các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảotuy đã có nhiều thay đổi tích cực song vẫn chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế gâykhó khăn trong hoạt động cho vay Luật đất đai năm 2007 quy định chỉ có những bấtđộng sản có đầy đủ giấy tờ chủ quyền hợp pháp mới có thể được giao dịch, thế chấp Tuyvậy thực tế là việc cấp những giấy tờ này ở nhiều địa phương khu vực tiến độ còn rấtchậm, việc thực hiện các thủ tục như công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo vẫn chưađược thống nhất, điều này thực sự đã gây nhiều khó khăn cho các NHTM trong việc triểnkhai hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay của NHTM trong mọi thời kỳ đều có ảnh hưởng lớn đến nền kinh
tế văn hoá xã hội, chính vì vậy Chính Phủ, NHNN luôn có những chính sách quản lý chặtchẽ hoạt động này Phát triển cho vay KHCN là một trong những chính sách nhằm nângcao mức sống của dân cư, thúc đầy sản xuất kinh doanh phát triển trong chiến lược pháttriển kinh tế chung Các chính sách có thể trực tiếp hay gián tiếp tác động đến hoạt độngcho vay KHCN của các NHTM Chính Phủ, NHNN có thể khuyến khích các NHTM mởrộng và phát triển cho vay KHCN hay bằng các chính sách tác động đến người tiêu dùng,thúc đẩy họ tiêu dùng vào hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn Dù là tác động trực tiếp haygián tiếp các chính sách của Chính Phủ, NHNN có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự pháttriển cho vay KHCN của NHTM
Đây là yếu tố quyết định đến việc cho vay của NHTM Các NHTM có cho vay hay không phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm của từng khách hàng vay vốn Khi thẩm định và xét duyệt cho vay các NHTM thường xem xét đến các yếu tố sau từ mỗi khách hàng:
Trang 23Nhu cầu vay vốn của khách hàng: NHTM chỉ có thể xem xét cho vay đối với những
khách hàng có nhu cầu vay vốn phù hợp với chính sách cho vay của mình
Uy tín (Character) là ý thức trách nhiệm hoàn trả lại khoản vay của người vay Vì
không có một phương pháp định lượng chính xác nào để đánh giá uy tín, cho nên NHTM
sẽ quyết định một cách chủ quan liệu người vay có khả năng trả khoản vay này haykhông NHTM sẽ kiểm tra những khoản nợ của người vay trước đây, xem xét những báocáo tín dụng, và trình độ học vấn cũng như kinh nghiệm kinh doanh của người vay Cácvấn đề khác liên quan đến cá nhân người vay và trình độ, kinh nghiệm của người vaycũng sẽ được xem xét
Năng lực (Capacity) nói đến khả năng người vay có tiền để thanh toán các khoản
vay hay không Vì đây là nguồn cơ bản để người vay trả các khoản vay, NHTM muốnbiết chính xác kế hoạch trả nợ của người vay trong tương lai NHTM sẽ xem xét luồngtiền trong kinh doanh, thời gian chi trả, và khả năng chi trả thành công khoản vay
Vốn (Capital) là tiền của người vay đã đầu tư và chí tiêu này cho biết người vay sẽ
thua lỗ bao nhiêu khi công việc kinh doanh không thành công NHTM muốn người vaythế chấp tài sản riêng và chịu trách nhiệm về rủi ro tài chính khi hỏi vay vốn Ngân hàng.NHTM xem xét chỉ số nợ của người vay để hiểu được tổng nợ trên tổng đầu tư của kháchhàng
Thế chấp (Collateral) hay sự bảo lãnh của bên thứ ba là một hình thức khác người
vay có thể đảm bảo với NHTM Nếu lượng tiền của người vay không đủ trả nợ, NHTMvẫn được đảm bảo bằng nguồn thanh toán khác Nếu người vay không trả được nợ,NHTM sẽ thu hồi và thanh lý máy móc thiết bị, nhà xưởng, các khoản phải thu, hàng tồnkho Hợp đồng cho vay nên xác định cẩn thận những mục được coi là khoản thế chấp.Trong một số trường hợp NHTM có thể yêu cầu bên bảo lãnh thứ ba ký giấy bảo lãnhcam kết sẽ thanh toán khoản vay nếu người vay (bên được bảo lãnh) không thể trả nợ
Điều kiện khác (Conditions) liên quan đến hoàn cảnh kinh tế của từng địa phương,
từng quốc gia Liệu thu nhập của người vay có thể bị ảnh hưởng? Nếu nền kinh tế bị suythoái, liệu thu nhập của người vay có giảm mạnh hay không, hoặc có thể không bị ảnhhưởng Những khách hàng có thu nhập ổn định không bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tếthì thông thường sẽ được các NHTM ưu ái hơn
Cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong chiến lược bán lẻ của cácNHTM, do đó sự cạnh tranh trong hoạt động này của các NHTM ngày càng trở nên gaygắt Các NHTM cạnh tranh với nhau thông qua việc nghiên cứu và triển khai các sảnphẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng điều kiện và đối tượng cho vay, giảmlãi suất cho vay, Việc cạnh tranh này một mặt có tác động mở rộng thị trường cho vay
do nhiều nhu cầu vay vốn của KHCN được “đánh thức” bởi việc quảng bá, tiếp thị củacác NHTM nhưng mặt khác nó làm cho thị trường này bị chia sẻ ra bởi nhiều ngân hàng,dẫn đến việc mở rộng cho vay ở mỗi NHTM sẽ trở nên khó khăn Ngoài sự cạnh tranhtrong hệ thống các NHTM, hoạt động cho vay KHCN của các NHTM còn bị cạnh tranhbởi các công ty tài chính, công ty tín dụng và cả chính những đơn vị cung cấp hàng hoádịch vụ như các siêu thị, các đơn vị kinh doanh đồ gia dụng, công ty sản xuất và kinh
Trang 24doanh xe hơi, các công ty kinh doanh bất động sản, thông qua các chương trình hỗ trợtài chính cho người tiêu dùng.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHO VAY KHCN TẠI NHTMCP
Á CHÂU
Trang 252.1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHTMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH HÀ NỘI:
NHTMCP Á Châu - chi nhánh Hà Nội (sau đây gọi tắt là ACB-Hà Nội) được thànhlập và bắt đầu hoạt động từ 14/12/1993 Là chi nhánh của ACB được thành lập đầu tiêntại khu vực phía Bắc, sau hơn 14 năm hoạt động và phát triển, hiện tại ACB Hà Nội là chinhánh lớn nhất của ACB tại khu vực này Thời gian đầu thành lập số lượng nhân viên củaACB-Hà Nội chỉ khoảng 20 người, đến nay con số này đã khoảng hơn 500 nhân viên, từmột điểm giao dịch duy nhất, hiện tại ACB-Hà Nội đã mở rộng thành 45 điểm giao dịchbao gồm : 4 chi nhánh chính và 41 Phòng giao dịch Tính đến cuối năm 2009, tổng huyđộng từ dân cư và tổ chức kinh tế đạt 10.758 tỷ đồng, dư nợ cho vay khách hàng đạt4.411 tỷ đồng và tổng lợi nhuận trước thuế đạt 91 tỷ đồng Với các kết quả đạt được tronghoạt động kinh doanh, ngoài việc đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả hoạt độngchung của ACB, ACB-Hà Nội còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển hoạtđộng của ACB tại khu vực miền Bắc như hỗ trợ các chi nhánh khác trong việc tuyểndụng, đào tạo, phát triển mạng lưới,
2.1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NHTMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH HÀ NỘI:
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Hà Nội
Ngoài các phòng giao dịch trực thuộc, ACB-Hà Nội được chia làm hai khối: khối kinhdoanh và khối hỗ trợ kinh doanh
Khối hỗ trợ kinh doanh bao gồm các phòng: Phòng Kế toán và Phòng Tổ chức hànhchính
Khối kinh doanh được tổ chức định hướng theo đối tượng khách hàng bao gồm haiphòng: Phòng Khách Hàng Cá Nhân và Phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp, trong đó mỗi
Ban Giám Đốc
Phòng Tổ chức Hành Chính
Phòng
Kế Toán
Phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp
Phòng Khách
Hàng Cá Nhân
Các Phòng giao dịch trực thuộc
Trang 26phòng được tổ chức và có chức năng hoạt động như một “Chi nhánh ngân hàng con”.Điều đó có nghĩa là trong mỗi phòng điều có các bộ phận nghiệp vụ tiền gửi, dịch vụkhách hàng và bộ phận tín dụng riêng phục vụ cho các khách hàng là KHCN hay KHDN.Tại các PGD trực thuộc cơ cấu tổ chức chia thành 2 bộ phận chính: Bộ phận giao dịchngân quỹ và bộ phận tín dụng.
Mạng lưới các chi nhánh và Phòng Giao dịch trực thuộc ACB–Hà Nội
31) PGD Ô Chợ Dừa 32) PGD Quán Sứ 33) PGD Tây Hồ 34) PGD Thanh Nhàn 35) PGD Thanh Trì 36) PGD Thanh Xuân 37) PGD Thụy Khuê 38) PGD Tôn Đức Thắng 39) PGD Trần Đại Nghĩa 40) PGD Trần Duy Hưng 41) PGD Trần Quốc Toản 42) PGD Tràng Thi
43) PGD Trung Văn 44) PGD Tương Mai
2.1.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2007 – 2009:
So sánh với các chi nhánh NHTM trên địa bàn Hà Nội, nguồn vốn huy động của ACB
Hà Nội có quy mô khá lớn và tốc độ tăng trưởng cao qua các năm gần đây Tính đến
31/12/2009 tổng nguồn vốn huy động của ACB-Hà Nội đạt 10.758.309 triệu đồng Tốc
độ tăng trưởng vốn huy động hàng năm duy trì ở mức cao đạt trên 65%
Nguồn vốn huy động phân theo cơ cấu chủ yếu là do huy động tiền gửi từ khách hàng,chiếm tỷ trọng đến 99,9% điều này cũng phản ánh đúng thực trạng hoạt động cuả ACBnói chung và của ACB-Hà Nội nói riêng: Tỷ lệ sử dụng vốn chỉ đạt khoảng 45%, ACB-
Hà Nội chủ yếu là đơn vị gửi tiền tại các TCTD khác và hạn chế nhận tiền gửi của các
Trang 27TCTD Trong cơ cấu tiền gửi của khách hàng, cả tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệmđều có tốc độ tăng trưởng cao và tỷ trọng giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm ởmức tương đối hợp lý đối với một chi nhánh NHTMCP như ACB-Hà Nội Năm 2009,tiền gửi thanh toán tăng 125%, tiền gửi tiết kiệm tăng 81% so với năm 2008, tiền gửithanh toán chiếm tỷ trọng 42% tổng tiền gửi từ khách hàng.
Để đạt được kết quả đáng khích lệ như trên, trong thời gian vừa qua ACB-Hà Nội đãchú trọng trong hoạt động huy động vốn bằng việc triển khai áp dụng đa dạng các sảnphẩm huy động: các sản phẩm huy động tiết kiệm cả về nội tệ, ngoại tệ và vàng; tiết kiệm
có dự thưởng, lãi suất bậc thang, tiết kiệm rút lãi và gốc linh hoạt, tiền gửi thanh toán có
kỳ hạn, Hoạt động Marketing trong công tác huy động vốn được thúc đẩy hướng đến cảkhách hàng là doanh nghiệp và cá nhân
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động huy động vốn tại ACB-Hà Nội
1 Tiền gửi thanhtoán 1.382.481 1.797.225 30% 2.695.838 50%
2 Tiền gửi tiết kiệm 3.254.242 4.694.187 44,25% 7.430.764 58,3%
Trang 281 Cho vay KHCN 814.008 1.131.471 39% 1.923.506 70%
2 Cho vay KHDN 1.165.326 1.279.184 11% 2.487.993 94%
( Nguồn : báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2007, 2008, 2009 của ACB-Hà Nội )
Dư nợ cho vay của ACB–Hà Nội qua các năm 2007 – 2009 liên tục có sự tăng trưởng.Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/12/2009 của ACB–Hà Nội đạt 4.411 tỷ đồng tăng 2000
tỷ đồng so với cuối năm 2008 và tăng 2432 tỷ đồng so với năm 2007 Mặc dù đạt được
dư nợ cho vay tương đối cao song, tỷ lệ dư nợ cho vay/nguồn vốn huy động tại ACB-HàNội đạt mức tương đối thấp khoảng 43% Điều này phản ánh chính sách cho vay củaACB là tương đối chặt chẽ và thận trọng và công tác marketing trong hoạt động cho vaycủa ACB-Hà Nội chưa đạt hiệu quả cao
Về cơ cấu dư nợ cho vay theo khách hàng, dư nợ cho vay KHDN chiếm tỷ trọng lớntrong tổng dư nợ cho vay tại ACB-Hà Nội, tính đến hết năm 2009 dư nợ cho vay KHDNchiếm tỷ trọng 56% tổng dư nợ, dư nợ cho vay KHCN năm 2008 do chịu ảnh hưởng củakhủng hoảng nên chỉ đạt tăng trưởng 39% so với năm 2007, tuy nhiên đến năm 2009,mức tăng trưởng đã lên đến 70% Điều này chứng tỏ hoạt động cho vay của ACB-Hà Nộitrong thời gian vừa qua có sự chú trọng mạnh vào khối khách hàng là doanh nghiệp, bêncạnh đó hoạt động cho vay KHCN của ACB-Hà Nội đã được đẩy mạnh Tuy vậy, để hoạtđộng cho vay KHCN giữ tỷ trọng trong tổng dư nợ cao hơn thì cần xem xét một số vấn
đề còn tồn tại trong hoạt động này Các vấn đề trong hoạt động cho vay KHCN tại
ACB-Hà Nội chính là nội dung cần được xem xét trong khuôn khổ chuyên đề này
a) Hoạt động thanh toán trong nước:
Với mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch được bố trí hợp lý cùng với việc ứngdụng công nghệ thông tin: phần mềm The Complete Banking Solution (TCBS), giao dịchtrực tuyến trong toàn hệ thống thì thời gian thanh toán được rút ngắn, chất lượng thanhtoán được nâng cao, việc kiểm tra giám sát được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện đảmbảo an toàn, chính xác Năm 2002, ACB Hà Nội tham gia hệ thống thanh toán điện tửliên ngân hàng (CITAD) do Ngân hàng Nhà Nước tổ chức đã đẩy nhanh hơn tốc độ thanhtoán, thu hút được nhiều tổ chức kinh tế, cá nhân đến mở tài khoản và giao dịch tại ACB
Hà Nội, đưa doanh số thanh toán tăng mạnh qua các năm, nhờ đó tăng thu phí dịch vụcho Ngân hàng
b) Dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union:
Từ năm 1994 ACB đã là đại lý của tổ chức chuyển tiền nhanh toàn cầu WesternUnion (WU) Đến nay, ACB có hơn 360 điểm chi trả tại nhiều tỉnh, thành phố trên cảnước Dịch vụ Western Union của ACB đạt hiệu quả cao, doanh số chi trả hàng năm quacác năm 2007 - 2009 đều đạt trên 15 triệu USD
c) Dịch vụ thẻ:
Trang 29ACB là một trong những ngân hàng Việt Nam đi đầu trong việc giới thiệu các sảnphẩm thẻ quốc tế tại Việt Nam ACB chiếm thị phần cao về các loại thẻ tín dụng quốc tếnhư Visa, Mastercard Trong năm 2003, ACB là Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đưa rathị trường thẻ thanh toán và rút tiền toàn cầu Visa Electron Năm 2004, ACB tiếp tục pháthành thẻ MasterCard Electronic Trong năm 2005, ACB đã đưa ra sản phẩm thẻMasterCard Dynamic là loại thẻ thanh toán quốc tế kết hợp tính năng của thẻ tín dụng vàthẻ ghi nợ Ngoài ra, để đáp ứng các nhu cầu thanh toán nội địa, ACB đã phối hợp vớicác tổ chức như Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, hệ thống siêu thị Co-opmart, Citimart đểphát hành các loại thẻ tín dụng đồng thương hiệu cho khách hàng nội địa Thẻ ACB đãgóp phần tạo nên thương hiệu trên thị trường và tạo nguồn thu dịch vụ đáng kể Tính đếnhết năm 2009, ACB–Hà Nội đã phát hành được trên 35 ngàn thẻ tín dụng, thanh toán thẻquốc tế, số đơn vị chấp nhận thẻ trên địa bàn Hà Nội khoảng 2900 với doanh số thanhtoán hàng năm trên 700 tỷ đồng.
d) Hoạt động thanh toán quốc tế:
Là một dịch vụ truyền thống của Ngân hàng, đóng góp tỷ trọng đáng kể trong tổng thudịch vụ của ACB-Hà Nội Trong những năm gần đây, ACB-Hà Nội đã áp dụng một sốchính sách ưu đãi đối với khách hàng doanh nghiệp về tín dụng, tài trợ xuất khẩu, mức kýquỹ thư tín dụng (L/C) nhập khẩu, chính sách bán ngoại tệ Kết quả của hoạt động thanhtoán quốc tế các năm như sau:
Bảng 2.3 : Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế tại ACB-Hà Nội
Doanh số thanh toán quốc tế (triệu USD) 507 715 1002 1514Phí dịch vụ thanh toán quốc tế (tỷ VND) 19,5 31,4 40,82 65,32
( Nguồn : báo cáo tổng kết hoạt động các năm 2007, 2008, 2009 của ACB-Hà Nội )
Doanh số thanh toán quốc tế có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm, mức tăng trưởngbình quân đạt xấp xỉ 56%/năm, vì thế nguồn thu từ hoạt động này là phí dịch vụ thanhtoán quốc tế cũng tăng lên đáng kể, góp phần vào sự tăng trưởng chung của Ngân hàng
e) Dịch vụ ngân hàng điện tử:
Nhằm mục đích giới thiệu cho khách hàng Việt Nam các sản phẩm của một Ngânhàng hiện đại, dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến, trong năm 2003, ACB đã chính thứccung cấp các dich vụ Ngân hàng điện tử bao gồm: Internetbanking, Home banking,Phone banking và Mobile banking mang đến cho khách hàng nhiều tiện ích ACB làNgân hàng đi đầu trong việc ứng dụng chứng chỉ số trong giao dịch Ngân hàng điện tửnhằm mã hoá bảo mật chữ ký điện tử của khách hàng, tăng độ an toàn khi sử dụng dịch
vụ homebanking Từ năm 2004, ACB cũng đã đưa vào hoạt động tổng đài 247 cung cấpthêm các tiện ích cho khách hàng thông qua kênh điện thoại Tổng đài này được pháttriển thành Call Center 247 vào tháng 4 năm 2005
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng NHTMCP ACB nói chung vàNHTMCP ACB – chi nhánh Hà Nội nói riêng luôn xác định còn rất nhiều khó khăn ởphía trước, đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi thị trường tài chính thế giới mới vượt
Trang 30qua khủng hoảng và vẫn còn có những biến động khó lường, đòi hỏi phải có những dựbáo chính xác để ngân hàng có thể điều chỉnh kịp thời lộ trình phát triển, xác định diễnbiến kinh doanh phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.Đầu năm 2008, NHTMCP Á Châu đã đưa ra kế hoạch phát triển của mình nhằm đưaACB trở thành Tập đoàn tài chính ngân hàng vào năm 2015 theo hướng:
Song song với việc phát triển ngân hàng bán lẻ là hoạt động chủ đạo, ACB sẽ đadạng hoạt động sang các lĩnh vực cho thuê tài chính, hoạt động đầu tư, kinh doanh bảohiểm, cho vay tiêu dùng, v.v là những lĩnh vực còn nhiều tiềm năng phát triển ở ViệtNam
Xây dựng mô hình Tập đoàn tài chính ngân hàng trong đó ngân hàng thương mại
là công ty mẹ với các công ty con hiện có: Công ty Chứng khoán ACBS, Công ty Chothuê tài chính ACBL, Công ty Quản lý và khai thác tài sản ACBA, Công ty Quản lý quỹACBC Trong thời gian tới, ACB sẽ thành lập Công ty tài chính ACBF, ACB sẽ cùng vớimột công ty bảo hiểm hàng đầu thế giới thành lập công ty liên doanh trong lĩnh vực bảohiểm
Mục tiêu định hướng là: Đến năm 2015, ACB là một trong ba tập đoàn tài chính ngânhàng hàng đầu tại Việt Nam về quy mô tổng tài sản, hiệu quả kinh doanh, mức vốn hóatrên thị trường chứng khoán Đến nay, sau một thời gian triển khai, trong điều kiện môitrường hoạt động đầy khó khăn, thách thức, nhờ dự báo đúng và sát tình hình, kịp thờiđiều chỉnh kế hoạch hành động, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, ACB đã tiến đến gần mụctiêu đề ra Điều đó cho phép khẳng định dù trong hoàn cảnh nào ACB vẫn quyết tâm đitheo con đường đã chọn để đạt được mục tiêu đề ra cho năm 2015
NHTMCP Á CHÂU – CHI NHÁNH HÀ NỘI 2007 – 2009:
2.2.1 CÁC CHÍNH SÁCH CHO VAY DÀNH CHO KHCN:
ACB-Hà Nội thực hiện hoạt động cho vay dựa trên cơ sở chính sách cho vay củaACB Chính sách cho vay đối với KHCN của ACB thường có sự thay đổi phù hợp vớicác điều kiện kinh tế xã hội để đảm bảo hoạt động cho vay được phát triển an toàn bềnvững Một vài nội dung của chính sách cho vay đối với KHCN hiện tại của ACB đượcthể hiện qua các tiêu chí sau:
ACB xem xét cho vay đối với các cá nhân đảm bảo các điều kiện:
- Có nghề nghiệp và thu nhập ổn định: thời gian làm việc lớn hơn 12 tháng, thunhập hàng tháng lớn hơn 4 triệu đồng/tháng
- Các khách hàng có nợ vay/tổng tài sản < 70%
- Các khách hàng có tổng nợ phải trả hàng tháng/tổng thu nhập hàng tháng <80%
- Thu nhập còn lại đủ mức chi tiêu tối thiểu tại địa bàn sinh sống
- Khách hàng có hoạt động kinh doanh không bị lỗ trong 2 năm liên tiếp
- Các khách hàng chưa từng phát sinh nợ từ nhóm 3 trở lên tại ACB hoặc tại cácTCTD khác
Trang 31- Khách hàng có nơi cư ngụ < 30km so với chi nhánh ngân hàng.
- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể có thời gian hoạt động ngànhnghề hiện hữu và liên tục trên 1 năm
- Có lịch sử tín dụng, lịch sử bản thân, quan hệ xã hội rõ ràng, tốt, không phải làngười nghiện ma tuý, có tiền án, tiền sự
ACB–Hà Nội không cho vay đối với các khách hàng kinh doanh những ngành nghề:
- Ngành nghề kinh doanh hay kinh doanh những mặt hàng pháp luật cấm
- Các ngành hoạt động dịch vụ: Dịch vụ tắm hơi, massage, các ngành dịch vụtăng cường sức khoẻ tương tự,
- Các cá nhân, hộ gia đình vay vốn để phục vụ chăn nuôi, trồng trọt có quy mônhỏ
- Vay vốn để đầu cơ sắt thép, đầu cơ kinh doanh bất động sản, kinh doanh cầm
đồ, làm dịch vụ đáo nợ ngân hàng,
Các tài sản được ACB-Hà Nội chấp nhận làm TSĐB cho khoản vay bao gồm :
- Sổ tiết kiệm, số dư tiền gửi, các chứng từ có giá khác do ACB hay các ngânhàng khác phát hành được ACB chấp thuận (danh sách các ngân hàng được ACB chấpthuận được công bố theo từng thời kỳ)
- Nhà ở, đất thổ cư, căn hộ chung cư có đầy đủ giấy tờ hợp pháp
- Nhà xưởng, văn phòng trên đất sở hữu ổn định và lâu dài có giấy tờ sở hữu đầy
đủ và hợp pháp
- Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải thông dụng phổ biến trên thị trường,hàng hoá là nguyên vật liệu dễ bảo quản, dễ xác định số lượng và chất lượng có tính khảmãi cao (theo đánh giá của ACB) và được để tại kho của bên thứ 3
- Chứng khoán có tính thanh khoản cao (được ACB chấp nhận và công bố theotừng thời kỳ)
Trong đó, một số tài sản ACB-Hà Nội không nhận thế chấp cầm cố :
- Các chứng khoán có rủi ro cao, tính thanh khoản thấp, chưa niêm yết và khôngnằm trong danh mục ACB nhận thế chấp
- Hàng hoá khó bảo quản, khó xác định số lượng, chất lượng hoặc có tính thanhkhoản thấp VD: nông sản, hoá chất, nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm đặc thù,
- Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải khó mua bán chuyển nhượng VD: máymóc chuyên dùng, không phổ biến trên thị trường, thuyền bè nhỏ, xà lan,
- Các khoản phải thu, quyền phát sinh từ hợp đồng (trừ các khoản phải thu liênquan đến bao thanh toán)
Bảng 2.4 : Tỷ lệ cho vay/TSĐB theo chính sách tín dụng của ACB-Hà Nội
Trang 32Bất động sản tại Hà Nội, TP HCM 80%
Máy móc thiết bị, phương tiện vân tải 60%
( Nguồn : Chính sách định hướng hoạt động tín dụng của ACB năm 2009 )
Tuỳ vào từng loại sản phẩm, tuỳ theo từng giai đoạn và khả năng đáp ứng nguồn vốncủa ACB-Hà Nội, chi nhánh xem xét cho vay tối đa trong thời gian nhất định Hiện tạiACB đang xem xét cho vay KHCN với thời hạn không quá 15 năm
Mức cho vay đối với khách hàng được ACB xác định trên cơ sở: nhu cầu thực tế, khảnăng hoàn trả của khách hàng và không vượt quá tỷ lệ cho vay đối với từng loại TSĐB.Một số sản phẩm ACB quy định mức cho vay tối đa đối với một khách hàng như :
- Mức cho vay hồ trợ tiêu dùng (không có tài sản đảm bảo) không vượt quá 10lần thu nhập chứng minh được, mức trả góp hàng tháng không quá 80% thu nhập tích luỹ
và tối đa là 250 triệu đồng
- Mức cho vay đối với các cá nhân hộ gia đình vay vốn để phục vụ sản xuất kinhdoanh nhưng chưa có giấy đăng ký kinh doanh tối đa 500 triệu đồng
- Mức chi vay đối với sản phẩm sinh hoạt tiêu dùng (có tài sản đảm bảo) không
có tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn rõ ràng tối đa 500 triệu đồng
- Mức cho vay đối với các sản phẩm khác đảm bảo số tiền trả nợ (gốc và lãi)hàng tháng không vượt quá 80% thu nhập tích luỹ chứng minh được của mỗi khách hàng
Lãi suất cho vay KHCN tại ACB–Hà Nội thường được quy định cao hơn lãi suất chovay KHDN Thông thường lãi suất cho vay KHCN tại ACB cao hơn khoảng 1,2 lần lãisuất cho vay KHDN ở những món vay đặc điểm tương tự nhau về mức vay, TSĐB, thờihạn, Lãi suất cho vay KHCN tại ACB được áp dụng khá linh hoạt có sự khác biệt giữacác khoản vay dựa theo các tiêu chí:
- Thời gian vay: Thời gian càng dài, lãi suất càng cao
- Số tiền vay: Số tiền vay càng lớn, lãi suất vay càng thấp
- Mục đích vay : Các khoản vay phục vụ mục đích tiêu dùng thông thường có lãisuất cao hơn các khoản vay phục vụ sản xuất kinh doanh
- Tài sản đảm bảo: các khoản vay có TSĐB khác nhau có lãi suất cho vay khácnhau: các khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản có lãi suất thấp hơn các khoản vayđược đảm bảo bằng các tài sản khác như: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, hànghoá, cổ phiếu,
NHÁNH HÀ NỘI:
Quy trình cho vay KHCN tại ACB-Hà Nội được thực hiện qua các bước sau:
Trang 33Bước 1: Tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
Việc tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn tại ACB-Hà Nội được thựchiện bởi nhân viên Tư vấn tài chính cá nhân (gọi tắt là PFC - Personal FinancialConsultant) Các PFC tại ACB–Hà Nội có nhiệm vụ tìm kiếm KHCN, phát hiện nhu cầu,
tư vấn các sản phẩm tín dụng cá nhân phù hợp với khách hàng và hướng dẫn khách hànglập hồ sơ vay vốn Các công việc này có thể được PFC thực hiện tại trụ sở ngân hàng, tạinhà hoặc nơi làm việc của khách hàng
Bước 2: Thẩm định và lập tờ trình thẩm định khách hàng
Sau khi khách hàng đồng ý đặt quan hệ vay vốn với ACB-Hà Nội và nộp đầy đủ hồ sơvay vốn, ACB–Hà Nội tiến hành thẩm định khách hàng Công tác thẩm định được phân
ra hai mảng độc lập: Thẩm định và phân tích tín dụng; thẩm định tài sản đảm bảo
Công tác thẩm định tài sản đảm bảo được thực hiện độc lập bởi nhân viên thẩm địnhtài sản Việc thẩm định và phân tích tín dụng được thực hiện bởi nhân viên phân tích tíndụng (C/A – Credit Analysist) Các C/A tiến hành thẩm định và phân tích tín dụng dựatrên các nội dung: tư cách của khách hàng, khả năng tài chính và khả năng trả nợ củakhách hàng Trên cơ sở các kết quả thẩm định và phân tích tín dụng khách hàng và kếtquả thẩm định tài sản đảm bảo, C/A tiến hành lập tờ trình thẩm định và đề xuất chovay/từ chối đối với khách hàng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bước 3: Xét duyệt cho vay
Tuỳ thuộc vào số tiền đề nghị cho vay, tỷ lệ cho vay/tài sản đảm bảo, các điều kiệnthực hiện thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo theo quy định của ACB, hồ sơ vayvốn của khách hàng tại ACB–Hà Nội sẽ được trình xét duyệt tại các cấp có thẩm quyền.Theo quy định của ACB, các cấp xét duyệt tín dụng bao gồm :
a) Chuyên viên phê duyệt tín dụng bao gồm 7 cấp chuyên viên, mỗi cấp chuyên viên
có thẩm quyền phê duyệt khác nhau về mức cho vay và sản phẩm cho vay
b) Ban tín dụng chi nhánh, ban tín dụng phía Bắc, hội đồng tín dụng
Bước 4: Thông báo kết qủa cho khách hàng
Các kết quả phê duyệt tín dụng được ACB-Hà Nội thông báo cho khách hàng bằngvăn bản Đối vối trường hợp đồng ý cho vay, văn bản thông báo cho khách hàng bao gồmđầy đủ các nội dụng như: Số tiền cho vay, loại tiền cho vay, hình thức cho vay thời hạncho vay, lãi suất cho vay, tài sản đảm bảo và các điều kiện : trước khi giải ngân, khi giảingân và sau khi giải ngân Đối với trường hợp từ chối, ACB cũng nêu rõ trong văn bảnthông báo lý do từ chối cho vay đối với khách hàng
Bước 5: Hoàn tất các thủ tục đảm bảo tiền vay và kư Hợp đồng tín dụng
Đối với các hồ sơ được chấp thuận cho vay, khách hàng cùng ACB-Hà Nội hoàn tấtcác thủ tục đảm bảo tiền vay: ký các hợp đồng cầm cố, thế chấp; đăng ký giao dịch đảmbảo theo quy định của pháp luật và ký (các) hợp đồng tín dụng Tại ACB–Hà Nội, cáccông việc liên quan đến bước này như soạn thảo các hợp đồng cầm cố/thế chấp, hợp đồngtín dụng; thực hiện công chức hợp đồng tại phòng công chức, thực hiện thủ tục đăng kýgiao dịch đảm bảo, các thủ tục pháp lý liên quan được thực hiện bởi nhân viên pháp lýchứng từ ( LDO-Legal Documentary Officer)
Bước 6: Giải ngân
Trang 34Sau khi các thủ tục liên quan đến đảm bảo tiền vay, ký kết hợp đồng tín dụng đượchoàn thành, khách hàng vay vốn đáp ứng đầy đủ các điều kiện trước khi giải ngân, ACB–
Hà Nội tiến hành giải ngân cho khách hàng Tuỳ vào đặc điểm sản phẩm và phê duyệtcủa các cấp có thẩm quyền, khách hàng có thể giải ngân 1 lần hay nhiều lần, giải ngânbằng tiền mặt hoặc chuyển khoản Công việc giải ngân được các nhân viên thực hiện nhưsau: Nhân viên dịch vụ khách hàng vay vốn (Loan CSR) tiến hành kiểm tra các điều kiệntrước và khi giải ngân, mở tài khoản vay, lập lệnh giải ngân trình cấp có thẩm quyền phêduyệt, sau khi được phê duyệt lệnh giải ngân sẽ được chuyển đến nhân viên giao dịch(Teller) để tiến hành giải ngân
Bước 7: Lưu hồ sơ
Không chỉ những hồ sơ được chấp thuận cho vay và các chứng từ tài liệu của kháchhàng trong quá trình vay vốn được lưu giữ, mà ngay cả những hồ sơ bị từ chối cũng đượclưu giữ một cách có hệ thống
Bước 8: Kiểm tra sau cho vay, theo dõi, thu nợ
Việc kiểm tra sau: cho vay, theo dõi, thu nợ là công việc được thực hiện liên tục vàthường xuyên Kiểm tra sau cho vay bao gồm: việc kiểm tra việc sử dụng vốn vay củakhách hàng để đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích; kiểm tra khả năngtrả nợ của khách hàng; kiểm tra tình trạng tài sản đảm bảo Ngoài việc kiểm tra sau chovay, đề đảm bảo cho khoản vay được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn thì việc theo dõi việctrả nợ và đô đốc thu hồi nợ cũng là công tác hết sức quan trọng Trong trường hợp khiđến hạn khách hàng không trả được nợ, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể, nhân viên C/Atiến hành các thủ tục theo quy định như: đề xuất gia hạn nợ, nhắc nợ, đề nghị chuyển nợquá hạn hay chuyển hồ sơ cho Công ty Xử Lý Nợ ACB để tiến hành thu hồi nợ
“Vay đầu tư vàng tại ACB” là sản phẩm tín dụng hỗ trợ vốn đầu tư cho các khách
hàng cá nhân, doanh nghiệp tư nhân có nhu cầu mua bán vàng (theo kỳ vọng giá vàngtăng, giảm ở tương lai)
Đặc tính sản phẩm:
- Loại tiền vay: tiền đồng (VND) hoặc Vàng.
- Thời hạn vay lên đến 12 tháng.
- Mức cho vay lên đến 100 tỷ đồng.
- Phương thức trả nợ: lãi trả hàng tháng, vốn trả khi đến hạn.
- Lãi suất: VND: 9,5%/năm, Vàng: 4,5%/năm.