LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ☆ BÙI PHÁP UYÊN QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH HÀ NỘI, NĂM 201[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- ☆ -
BÙI PHÁP UYÊN
QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- ☆ -
BÙI PHÁP UYÊN
QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này hoàn toàn do kết quả nghiên cứu nghiêm túc của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Quang Vinh Các
tài liệu, số liệu sử dụng trong Luận văn do Cục thuế Hà Nội cung cấp và do cá nhân
tôi thu thập trên các trang website, báo cáo của ngành thuế, sách, báo, Tạp chí thuế,
các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố
Tác giả Luận văn
Bùi Pháp Uyên
Trang 4tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên TS Phạm Quang Vinh đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành
quá trình nghiên cứu đề tài này
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ các phòng, ban thuộc Cục thuế thành phố Hà Nội, trong thời gian tôi thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề
tài Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Bùi Pháp Uyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế 11
1.2.1 Các khái niệm 11
1.2.2 Đặc điểm của thuế và nợ thuế 15
1.2.3 Phân loại nợ thuế 20
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế 22
1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của công tác quản lý nợ thuế 25
1.2.6 Một số nội dung trong công tác quản lý nợ thuế 26
1.2.7 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nợ thuế 33
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý nợ thuế 35
1.3.1 Tại Phú Thọ 35
1.3.2 Tại Cà Mau 38
1.3.3 Tại Đô Lương, tỉnh Nghệ An 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 42
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 43
2.3 Phương pháp thống kê mô tả 43
2.4 Phương pháp so sánh 44
Trang 62.6 Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin, dữ liệu 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ THUẾ Ở CỤC THUẾ HÀ NỘI 46
3.1 Tổng quan về Cục thuế Hà Nội và tình hình quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội 46
3.1.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Cục thuế Hà Nội 46
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng QLN & CCN thuế 48
3.2 Tình hình nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội 49
3.2.1 Theo sắc thuế 49
3.2.2 Theo tính chất nợ 52
3.3 Tình hình quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội 56
3.3.1 Cơ chế chính sách và kế hoạch 56
3.3.2 Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ 57
3.3.3 Công tác cưỡng chế nợ thuế 60
3.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế 66
3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế Hà Nội 68
3.4.1 Những kết quả đạt được 68
3.4.2 Những hạn chế còn tồn tại 72
3.4.3 Nguyên nhân hạn chế 74
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ TẠI CỤC THUẾ HÀ NỘI 81
4.1 Quan điểm trong công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội 81
4.1.1 Hoàn thiện công tác quản lý nợ phải được thực hiện trên cơ sở nâng cao hiệu lực quản lý thuế và hiệu quả công tác quản lý thuế 81
4.1.2 Hoàn thiện công tác QLN & CCN thuế phải đảm bảo tăng thu ngân sách từ thuế nhưng vẫn tạo điều kiện thuận lợi để NNT phát triển SXKD 82
4.1.3 Hoàn thiện công tác QLN & CCN thuế phải được thực hiện phù hợp với trình độ quản lý và điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay 83
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội 83
Trang 74.2.2 Tăng cường phối hợp giữa các bộ phận Cục thuế trong công tác thu hồi nợ
thuế 87
4.2.3 Tăng cường công tác nhân sự 89
4.2.4 Thực thi các quy định của pháp luật 91
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐTNT Đối tượng nộp thuế GTGT Giá trị gia tăng
KBNN Kho bạc Nhà nước NNT Người nộp thuế NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng Thương mại
NSNN Ngân sách Nhà nước QLN & CCN Quản lý nợ và cưỡng chế nợ TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp TCTD Tổ chức tín dụng
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Số liệu nợ theo từng sắc thuế từ năm 2011 – 2015 49
2 Bảng 3.2 Sự biến động của các nhóm nợ từ năm 2011 – 2015 52
3 Bảng 3.3 Kết quả công khai doanh nghiệp nợ thuế từ năm 2011 –
4 Bảng 3.4 Kết quả thực hiện biện pháp cƣỡng chế Trích tiền từ tài
khoản từ năm 2011 – 2015 61
5 Bảng 3.5 Kết quả thu nợ từ năm 2011 – 2015 69
6 Bảng 3.6 Số liệu nợ chờ điều chỉnh từ năm 2011 – 2015 70
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Sơ đồ tổng thể Quy trình Quản lý nợ thuế 27
2 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy tại Cục thuế Hà Nội 47
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước
(NSNN), có tác động ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đóng vai
trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực và tạo môi trường đầu tư kinh doanh
thuận lợi nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững Nhà nước sử
dụng thuế như là một công cụ hiệu quả để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của
mình cũng như điều tiết nền kinh tế đất nước, hỗ trợ các doanh nghiệp thúc đẩy sản
xuất kinh doanh (SXKD) tạo nguồn thu đảm bảo nhu cầu chi tiêu chung của đất
nước, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, góp phần bảo đảm xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh Với tầm quan trọng như vậy, Nhà nước không ngừng quan tâm, đưa
ra nhiều cải cách về thuế để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên một hệ
thống chính sách thuế tốt chỉ có thể phát huy tác dụng khi có một hệ thống quản lý
thuế phù hợp, hiệu quả Mục tiêu chính của hệ thống quản lý thuế hiện đại trên thế
giới là tối ưu hoá các khoản thu thuế và các khoản phải thu khác, phù hợp với luật
pháp đồng thời đảm bảo củng cố được niềm tin của người nộp thuế (NNT) vào hệ
thống thuế Một mặt của mục tiêu này là tăng cường các dịch vụ hỗ trợ NNT để
nâng cao sự tuân thủ tự giác của NNT; mặt khác là Cơ quan thuế (CQT) phát hiện
các trường hợp không tuân thủ và có các biện pháp trừng phạt một cách nghiêm
minh, đảm bảo công bằng và tạo sự tin cậy của NNT
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bên cạnh đó vẫn
còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục Một trong những hạn chế
đó là tình hình nợ đọng thuế của các doanh nghiệp đã khiến cho NSNN bị thất thu
Chính vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, cùng với việc triển khai thực hiện Luật
Quản lý thuế, ngành thuế phải chuyển đổi và kiện toàn hệ thống bộ máy quản lý thuế
theo mô hình chức năng, bao gồm các bộ phận chính: Tuyên truyền – hỗ trợ NNT;
Trang 12Kê khai kế toán thuế; Quản lý nợ và cưỡng chế thuế; Thanh tra, kiểm tra đối tượng
nộp thuế (ĐTNT) và Kiểm tra nội bộ Trong đó, Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là
một trong những chức năng chính và cơ bản xuyên suốt quá trình quản lý thuế, giúp
nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu
kịp thời tiền thuế cho NSNN, chống thất thu thuế và đảm bảo công bằng giữa các
ĐTNT trong việc thu nộp thuế Quản lý được tình trạng nợ đọng thuế và kết quả
đem lại từ việc đôn đốc thu hồi nợ thuế có tác động sâu sắc tới công tác quản lý
thuế, tạo sự chuyển động mạnh mẽ cả từ phía ĐTNT và cơ quan quản lý thuế, là một
trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản
lý thuế
Trong bối cảnh chung nền kinh tế hội nhập quốc tế, Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị của cả nước cũng đã và đang triển khai công tác quản lý thuế nói
chung, trong đó có công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế Những năm qua ở
Cục thuế Hà Nội, việc triển khai công tác này trong thực tiễn đã đem lại nhiều kết
quả tích cực song vẫn còn gặp nhiều tồn tại, vướng mắc như cơ chế chính sách còn
chưa đồng bộ, cơ chế quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, một bộ phận cán bộ thuế
trình độ còn hạn chế nên đã để tình trạng NNT cố tình không nộp thuế diễn ra phổ
biến, nợ lớn ngày càng tăng cao, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có
khả năng thu hồi, nhiều đối tượng bỏ trốn, không còn hoạt động ở địa chỉ đã đăng ký
với cơ quan quản lý Việc xử lý các khoản nợ ảo, nợ không chính xác chậm; công
tác lập kế hoạch thu nợ hàng năm, công tác phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến
công tác quản lý nợ còn bị hạn chế Trong khi tình hình kinh tế không khởi sắc, các
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh, ý thức của NNT lại chưa cao
cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế vẫn diễn ra
ngày càng nhiều, gây thất thu lớn cho NSNN
Xuất phát từ những tồn tại trong công tác quản lý nợ thuế nêu trên đòi hỏi Cục thuế Hà Nội phải tìm giải pháp để đôn đốc thu hồi, giảm tình trạng nợ đọng thuế,
trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế Đây là yêu cầu cấp bách nhằm tăng thu cho NSNN,
đồng thời để công tác quản lý nợ thuế nói riêng và công tác quản lý thuế nói chung
Trang 13thực sự hiệu quả, đảm bảo công bằng giữa NNT và kích thích hoạt động sản xuất
kinh doanh phát triển
Từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội”
làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Câu hỏi nghiên cứu
Các vấn đề học viên nghiên cứu khi thực hiện Luận văn này nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho vấn đề câu hỏi nghiên cứu: Cục thuế Hà Nội cần phải làm gì và
làm như thế nào để hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế?
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác quản lý nợ thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất các giải pháp phù
hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội trong thời gian
2016 – 2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn nhằm tập trung giải quyết các vấn đề sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế Hà Nội và những biện pháp cưỡng chế, thu hồi nợ thuế của Cục thuế đối với những trường hợp
nợ thuế, dây dưa chây ỳ không nộp thuế
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nợ thuế ở Cục thuế Hà Nội, những ảnh hưởng của việc nợ đọng tiền thuế đến nguồn thu NSNN và hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tình hình thực tiễn ở Cục thuế Hà Nội, Luận văn đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ
thuế, cưỡng chế nợ thuế ở Cục thuế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Nội dung đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng trong công tác quản lý nợ thuế của Cục thuế Hà Nội đối với các doanh nghiệp kinh doanh
trên địa bàn thành phố Hà Nội
các Chi cục thuế thuộc Cục thuế Hà Nội
- Về thời gian: Luận văn sử dụng các số liệu thống kê và tài liệu nghiên cứu trong 5 năm, giai đoạn từ năm 2011 đến 2015
5 Đóng góp của Luận văn
Trên cơ sở phân tích giữa yêu cầu và thực tế quản lý của địa bàn nghiên cứu, Luận văn chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện quản lý nợ thuế
tại Cục thuế Hà Nội, xác định nguyên nhân của những tồn tại đó và đề xuất các giải
pháp phù hợp để hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế nói riêng và công tác quản lý
thuế nói chung trên địa bàn Hà Nội; từ đó góp phần giúp cho công tác quản lý nợ
thuế tại Cục thuế Hà Nội đạt kết quả cao nhất
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn bao gồm 4 chương :
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản
lý nợ thuế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý nợ thuế ở Cục thuế Hà Nội Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lý nền kinh tế - tài chính của một đất nước bởi thuế đóng vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia,
đối với đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó Do đó công tác quản
lý thuế nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu không chỉ của CQT các cấp mà
còn của các nhà nghiên cứu, người dân và các doanh nghiệp Đã có nhiều tài liệu,
chuyên đề, công trình nghiên cứu đề cập về công tác quản lý thuế dưới các góc độ,
phạm vi tiếp cận khác nhau
Đặt nền móng cơ sở cho những lý thuyết về kinh tế nói chung và về thuế nói riêng được thể hiện trong các sách giáo trình như: Giáo trình Luật thuế Việt Nam,
trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2007; Giáo trình Quản lý
thuế, Học viện Tài chính, Nhà xuất bản Tài chính, năm 2010; Giáo trình Quản lý
thuế, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Kinh tế TP Hồ Chí
Minh, năm 2012
Làm rõ cơ sở lý luận công tác quản lý thuế có một số đề tài nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), “Quản lý thu thuế của nhà nước nhằm tăng
cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội)”, Luận
án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ hơn
cơ sở lý luận về quản lý thu thuế nhà nước đối với doanh nghiệp nhằm tăng cường
sự tuân thủ của doanh nghiệp, đặc biệt là sự tự nguyện tuân thủ Tác giả đã tiến hành
khảo sát và nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế như là một biến số đại diện cho sự tuân
thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, nghiên cứu các yếu tố thuộc các
nhóm khác nhau tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, xác định nguyên
nhân thuộc về quản lý thu thuế cản trở sự tuân thủ và khẳng định vai trò quản lý thu
thuế của Nhà nước trong việc tác động lên các yếu tố này nhằm tăng cường sự tuân
Trang 16thủ của doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế nhằm tăng cường mức độ tuân thủ của
doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới
- Vũ Văn Cương (2012), “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học
Luật Hà Nội Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật quản lý thuế hiện hành ở
Việt Nam, làm rõ khái niệm, bản chất, các yếu tố chi phối pháp luật quản lý thuế
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa ra những nguyên nhân, kết luận về
thực trạng pháp luật quản lý thuế và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế Từ kết
quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đó xây dựng nền tảng khoa học cho việc xác
định phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý thuế, đồng thời tạo cơ sở khoa học thống nhất để nghiên cứu hoàn thiện từng bộ
phận pháp luật quản lý thuế Việt Nam nói riêng và cả hệ thống pháp luật thuế Việt
Nam nói chung
- Phạm Xuân Hòa (2014), “Hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế
Quốc dân Đề tài đã làm rõ gánh nặng thuế của doanh nghiệp hiện nay, chỉ rõ gánh
nặng thuế làm giảm lợi nhuận giữ lại, nguồn lực tài chính quan trọng của doanh
nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ và vừa Vì vậy, việc hoàn thiện chính
sách thuế để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là đòi hỏi khách quan Tác
giả đã đề xuất sáu quan điểm trong việc hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, đề xuất các qui định ưu đãi thiết thực
hơn nữa cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó nổi bật là: cho phép doanh nghiệp
trừ 150% chi phí thực tế đầu tư vào khoa học công nghệ; ưu đãi thuế TNDN cho
doanh nghiệp mới thành lập; giảm thiểu các mức thuế suất thuế GTGT…
- Sử Đình Thành và Cộng sự, Tạp chí phát triển kinh tế, 26 (3), 02 – 26, “Cải
cách hệ thống thuế Việt Nam theo cam kết hội nhập quốc tế đến năm 2020” (Ngày
duyệt đăng: 16/3/2015) Nghiên cứu cho rằng hệ thống thuế Việt Nam đã được điều
chỉnh phù hợp với các yêu cầu cơ bản của cơ chế kinh tế thị trường và các điều kiện
Trang 17pháp lý cần thiết cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO cũng như hội
nhập quốc tế Gần đây, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược cải cách hệ
thống thuế giai đoạn 2010 – 2020 với mục tiêu nâng tổng thu thuế lên đến 23% -
24% GDP Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện rằng tăng quy mô thu thuế gây bất lợi
cho tăng trưởng kinh tế Do vậy, thời gian tới Việt Nam cần vượt qua nhiều thách
thức trong quá trình cải cách thuế, cụ thể là: mở rộng cơ sở thuế, đơn giản hóa quản
lý thuế theo tiêu chuẩn quốc tế, và hài hòa hệ thống thuế giữa các thành viên
ASEAN
Một số đề tài lại nghiên cứu làm rõ công tác quản lý thuế đến từng đối tượng, sắc thuế như:
- Nguyễn Xuân Hải (2011), “Các giải pháp quản lý thuế đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại
học Kinh tế - Đại học Đã Nẵng Luận văn đã nêu bật vai trò quan trọng của thuế và
quản lý thuế đối với phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan
điểm của Đảng và Nhà nước về thuế Luận văn còn làm rõ những vấn đề cơ bản vai
trò của Nhà nước về quản lý thuế, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến nâng
cao vai trò Nhà nước về quản lý thuế mà cụ thể là quản lý thuế đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh Từ những nghiên cứu, kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế
đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn, Luận văn đã đề xuất một số
phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò Nhà nước về quản lý thuế đối với
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- Lý Vân Phi (2011), “Quản lý thuế TNDN tại Cục thuế thành phố Đà Nẵng”,
Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng Luận văn góp phần
làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế nói chung và quản lý thuế
TNDN nói riêng trong điều kiện ngành thuế Việt Nam đang chuyển từ mô hình quản
lý theo đối tượng sang mô hình quản lý theo chức năng Từ việc phân tích thực trạng
và đánh giá công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế TP Đà Nẵng, Luận văn đã chỉ
ra những nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại trong quản lý thuế,và đưa ra một số giải
pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này như: hoàn
Trang 18thiện nội dung quản lý thuế TNDN (tăng cường các hình thức tuyên truyền và hỗ trợ
NNT để nâng cao tính tuân thủ tự nguyện, đơn giản hóa thủ tục hành chính ), tổ
chức bộ máy quản lý, xây dựng hệ thống thông tin quản lý và chính sách sử dụng
cán bộ…
- Vũ Đình Hồng (2012), “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thuế GTGT ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay”, trường Đại học Thương Mại Luận văn đi sâu
nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp đến môi trường pháp lý, môi trường
kinh tế, hoàn chỉnh về mặt lý luận về quá trình hình thành và hoàn thiện thuế GTGT
ở Việt Nam và trên thế giới; những ưu điểm, nhược điểm của thuế GTGT và những
nội dung cơ bản của thuế GTGT Đồng thời, Luận văn cũng đã đi sâu phân tích bối
cảnh kinh tế - xã hội dẫn tới sự ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam, phân tích thực
trạng thực hiện thuế GTGT, những thuận lợi cũng như những vấn đề khó khăn, tồn
tại cần giải quyết Trên cơ sở đó, Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện
thuế GTGT ở Việt Nam
- Nguyễn Hoàng (2013), “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế TNCN ở
Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận án đã vận dụng
cơ sở lý thuyết thuế cổ điển và hiện đại vào việc nghiên cứu quá trình phát triển hệ
thống thuế ở Việt Nam, kết hợp với khảo sát đánh giá về những tồn tại của hệ thống
thuế, ảnh hưởng của chính sách, thái độ chấp hành pháp luật của NNT, CQT tới việc
tuân thủ thuế Với kỳ vọng giảm mức điều tiết, đơn giản hóa chính sách, tinh giản
thủ tục, minh bạch quy trình, giảm thiểu thất thu trong quản lý, nâng cao chất lượng
hệ thống của bộ máy, con người, Luận án đưa ra những giải pháp như: Đề xuất lộ
trình cải cách chính sách thuế TNCN năm 2017 và 2022 với việc điều chỉnh giảm số
thuế suất, tăng giãn cách bước thuế, nâng ngưỡng giảm trừ gia cảnh phù hợp thông
lệ quốc tế có xét đến điều kiện Việt Nam, sử dụng mô hình đánh giá tác động của
việc thay đổi chính sách đến NNT; Tăng cường quản lý thu nhập của NNT, kết hợp
phương thức quản lý chứng từ và quản lý dòng; Ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lý thuế, mở rộng và đẩy nhanh tiến độ áp dụng khai nộp thuế điện tử; Hợp nhất
hệ thống cơ sở dữ liệu của các cơ quan quản lý Nhà nước, kết hợp thu thuế và bảo
Trang 19- Hoàng Thị Kim Uyên (2014), “Các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ
nộp thuế theo Pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc
gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
nợ thuế, quản lý thuế, các biện pháp cưỡng chế được sử dụng để thi hành nghĩa vụ
nộp thuế ở Việt Nam hiện nay và có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế
giới Luận văn cũng tìm hiểu thực tiễn áp dụng, triển khai các quy định đó ở một số
tỉnh thành trong cả nước và đưa ra một số đánh giá về thực trạng pháp luật, thực tiễn
thi hành pháp luật các biện pháp cưỡng chế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế ở nước ta
Sau đó, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật
sao cho phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và trong giai đoạn tới
- Phạm Việt Hà (2012), “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ
thuế”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Thuế năm 2012 – 2013 (Tổng Cục
thuế) Đề tài làm rõ những cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế
bao gồm khái niệm quản lý nợ thuế, vị trí vai trò của công tác quản lý nợ thuế, nội
dung quản lý nợ thuế và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ thuế
Thực trạng công tác quản lý nợ thuế ở Việt Nam được chỉ rõ thông qua khái quát
chung về tình hình quản lý nợ thuế, tổ chức bộ máy quản lý nợ thuế, những kết quả
đạt được của công tác quản lý nợ thuế, một số hạn chế và nguyên nhân cụ thể Bên
cạnh đó, đề tài đã chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa QLN & CCN thuế, đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế trên cơ sở
bối cảnh kinh tế xã hội, chính sách về quản lý thuế với một số nhóm giải pháp liên
quan trực tiếp đến công tác quản lý nợ thuế như: cần thiết phải xây dựng cơ sở dữ
liệu về NNT, trong đó có dữ liệu về quản lý nợ thuế để đáp ứng nhu cầu quản lý của
CQT các cấp, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành trong việc đôn đốc thu nợ; tăng
Trang 20cường đôn đốc thu nợ thuế trên cơ sở nghiên cứu và áp dụng phương pháp đánh giá
rủi ro, phân loại người nợ thuế
- Trần Thị Thu Huyền (2012), “Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công
tác quản lý thu nợ”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Thuế năm 2012 – 2013
(Tổng Cục thuế) Đề tài làm rõ những cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về quản lý
nợ và đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ với những khái niệm cơ bản và
vai trò của công tác quản lý thu nợ, hệ thống quản lý nợ thuế, tác động của việc áp
dụng các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý thu nợ với tiêu chí đối với
CQT và tiêu chí đối với NNT Thực trạng đánh giá chất lượng công tác quản lý thu
nợ và đánh giá hiệu quả tình hình quản lý nợ thuế, hạn chế và nguyên nhân về đánh
giá chất lượng trong công tác quản lý nợ thuế Đề tài đã xây dựng tiêu chí đánh giá
chất lượng công tác quản lý thu nợ trên cơ sở những yêu cầu đặt ra theo định hướng
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 và mục tiêu đề ra đối với
công tác QLN & CCN thuế Một số đề xuất cụ thể về tiêu chí đánh giá chất lượng
công tác quản lý thu nợ như: Tỷ lệ tiền nợ thuế đối với số thực hiện thu của ngành
thuế, Tỷ lệ số tiền nợ thuế của năm trước thu được trong năm nay so với số nợ có
khả năng thu tại thời điểm 31/12 năm trước, Tổng chi phí QLN & CCN thuế trên
tổng số tiền thuế nợ mà CQT đã thu được, Tổng chi phí QLN & CCN thuế trên tổng
chi phí thường xuyên của ngành thuế…
Ngoài ra cũng có một số đề tài nghiên cứu về quản lý nợ thuế tại các CQT
khác như: Nguyễn Việt Hà (2010), “Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại địa bàn
huyện Đông Anh – TP Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế - Đại học
Quốc Gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ QLN & CCN thuế là một khâu quan trọng
trong hệ thống quản lý thuế, là một chức năng chính của mô hình quản lý thuế trong
cơ chế tự khai – tự nộp thuế Mô hình này có vai trò rất quan trọng trong việc nâng
cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế, đảm bảo thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời tiền thuế cho NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng
giữa các đối tượng nộp thuế trong việc thu nộp thuế Quản lý được nợ đọng thuế và
kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế là một trong những thước
Trang 21đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế Qua những
nghiên cứu về tổng hợp các lý luận cơ bản về công tác QLN & CCN thuế cũng như
nêu được cơ sở của việc nợ thuế, nguyên nhân và hậu quả của việc nợ thuế, luận văn
góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về việc sử dụng chính sách và các biện pháp
quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế Qua khảo sát thực trạng của công tác QLN &
CCN thuế, những việc làm được và chưa làm được, luận văn đưa ra những giải pháp
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác QLN & CCN tại Đông Anh
Các đề tài trên đã đề cập đến một góc độ cụ thể trong công tác quản lý thuế của một ĐTNT hoặc một sắc thuế tại một số CQT, mà chưa có công trình nào nghiên
cứu độc lập và tổng quát về quản lý nợ thuế tại Cục thuế Hà Nội giai đoạn từ năm
2011 đến 2015 Vì vậy, việc thực hiện đề tài này mang tính thời sự và cấp thiết trong
việc đưa ra giải pháp quản lý nợ thuế hiệu quả hơn tại Cục thuế Hà Nội
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế
Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng thuế ra đời và tồn tại là khách quan, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước tồn tại và phát triển Khi Nhà nước xuất hiện,
để đảm bảo sự tồn tại đồng thời thực hiện các hoạt động của mình, Nhà nước phải
dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào
tay Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Việc huy động, tập
trung nguồn của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có
hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm về thuế
Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Thuế xuất hiện ban đầu
có hình thức biểu hiện rất đơn giản, thu thuế được thực hiện từ hình thức thu bằng
hiện vật dần chuyển sang thu dưới hình thức giá trị, nhất là khi tiền tệ ra đời
Để đưa ra khái niệm mới về thuế hoàn toàn không đơn giản Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái
niệm thuế theo cách đánh giá của mình Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ
máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người
Trang 22dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”
Gaston Jeze trong cuốn: “Tài chính công” xuất bản năm 1998 từ Kessinger
Publising, LLC cho rằng:“Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác
định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con
đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước” Đây là khái niệm
được ra đời khá sớm và cũng rất nổi tiếng về thuế, có tính khái quát cao, được coi là
cơ sở của các khái niệm sau này Tuy nhiên, khái niệm này không phân định thuế
được bù đắp vào công việc gì và trong nhiều trường hợp, thuế không chỉ để bù đắp
chi tiêu mà còn dùng để phát triển kinh tế, xã hội
Tác giả Stiglitz, Joseph E trong cuốn “Economics of Public Sector” từ Nhà
xuất bản Third Edition, W W Norton & Company năm 2000 thì định nghĩa“Thuế
hay thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của
Nhà nước Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch,
tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập,
hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội”
Trên góc độ Kinh tế học, theo tài liệu “Khái niệm và đặc điểm của thuế” của
Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER):“Thuế là biện pháp đặc biệt theo đó, Nhà
nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang
khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước”
Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật
pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “Thuế là một trật tự đã được
thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa
vụ thu, nộp vào ngân sách Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các
bang hay vùng lãnh thổ”
Tại điều 4 - Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 có đề cập đến khái niệm về
thuế như sau:“Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nộp thuế theo quy định của
pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá
Trang 23nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.”
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: Thuế không chỉ là nguồn thu chính của quốc gia mà còn là
công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước Đây là khoản thu nộp mang tính
bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội phải nộp cho Nhà nước khi có đủ
điều kiện nhất định Mối quan hệ gắn bó này giữa Nhà nước và NNT không thay đổi
trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau Bất kể xã hội nào cũng
thể hiện quan hệ thu và nộp như nhau Và nguồn thu tài chính từ mối quan hệ này sẽ
giúp Nhà nước thực hiện thỏa mãn các nhu cầu phát triển về kinh tế và xã hội của
quốc gia đó
Ngoài ra cũng có thể hiểu thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, do pháp luật quy định
nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Một trong những đặc trưng quan trọng của
thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở
thu nhập của NNT và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà NNT có nghĩa vụ chuyển
giao cho Nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn bởi nhiều lý do khác nhau mà NNT
chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước trong thời hạn quy định, từ đó hình
thành nên khoản nợ thuế
1.2.1.2 Khái niệm về nợ thuế
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của NNT và sẽ trở thành
khoản nộp bắt buộc mà NNT phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước Tuy
nhiên, trong thực tiễn vì những lý do nào đó, NNT chưa nộp hoặc không nộp thuế
cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế
Nợ thuế là hiện tượng NNT không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế Có thể hiểu nợ thuế ở khía cạnh đầy
đủ hơn là tiền nợ thuế như sau:
Tiền nợ thuế là khoản tiền được xác định là phải nộp vào NSNN đúng theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay vẫn chưa được thực hiện và còn tồn đọng ở
Trang 24những ĐTNT có trách nhiệm nộp khoản thuế này cho các cơ quan Nhà nước
Tại Quyết định số 1395/QĐ-TCT của Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế ngày 04/10/2011 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế có định nghĩa tiền nợ thuế
như sau:
“Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà NNT đã kê khai, CQT đã
tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho CQT, CQT xác định đây là
nghĩa vụ của NNT và đã thông báo cho NNT nhưng đã hết thời hạn quy định mà
chưa nộp vào NSNN.”
Người nợ thuế: Là NNT có khoản tiền thuế nợ theo định nghĩa nêu trên
Khoản nợ: là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh
Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ: là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào
NSNN, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ: là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ: là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc
trên chứng từ nộp tiền hoặc chứng từ chậm luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu -
ghi chi; CQT đang điều chỉnh theo đúng quy định
1.2.1.3 Khái niệm về quản lý nợ thuế
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính nhà nước, được hiểu là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của
NNT Quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung
Trang 25chính xác, kịp thời, thường xuyên và ổn định vào NSNN
Quản lý nợ thuế là hoạt động theo dõi, nắm bắt tình hình nợ thuế của CQT nhằm thực hiện các biện pháp đôn đốc số thuế mà NNT đã kê khai, CQT đã tính, các
cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho CQT CQT xác định đây là nghĩa vụ
của NNT và đã thông báo cho NNT nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp
vào NSNN
+ Đối với CQT, quản lý nợ thuế là một quá trình: Xây dựng chương trình, mục tiêu, chính sách, lập chỉ tiêu thu nợ hàng năm, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ, giải pháp về quản lý nợ thuế, xây dựng các chính sách về quản lý nợ
thuế, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nợ thuế, cơ sở vật chất kỹ thuật và một cơ cấu
tổ chức thích hợp, duy trì một hệ thống thông tin để đảm bảo quản lý đầy đủ về đối
tượng nợ thuế, thực hiện các thủ tục và quy trình quản lý để phân loại đôn đốc và
phạt chậm nộp tiền thuế; xem xét, giải quyết văn bản đề nghị xóa nợ, gia hạn nợ
thuế, đề xuất các biện pháp và giải pháp quản lý thu nợ trên địa bàn quản lý
+ Đối với công chức thuế, quản lý nợ thuế bao gồm: xác định đối tượng nợ thuế, phân loại tiền thuế nợ theo tính chất nợ, xác định số tiền thuế còn nợ và thực
hiện các bước đôn đốc thu tiền thuế nợ Nhiệm vụ chủ yếu là kiểm tra, nhắc nhở tính
tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT, thông báo tiền chậm nộp tiền thuế theo
Luật Quản lý thuế, thực hiện các nghiệp vụ xử lý nợ thuế, gia hạn, xóa nợ, miễn tiền
chậm nộp, tiến hành thủ tục để áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế
Như vậy, Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do CQT quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số
thuế nợ của NNT Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN thì
đây là một công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung
1.2.2 Đặc điểm của thuế và nợ thuế
1.2.2.1 Đặc điểm của thuế
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra nhiều khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế Tuy vậy, thuế
bao giờ cũng mang những đặc tính nhất định Việc xác định những đặc tính của thuế
Trang 26giúp chúng ta nhận diện thuế trong các hình thức thu nhập tài chính, giúp các đối
tượng có liên quan thực hiện đầy đủ chức trách và nhiệm vụ của mình
- Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào NSNN, được đảm bảo thực
hiện bởi các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao và sức mạnh cưỡng chế
của Nhà nước Đây là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt thuế với
các khoản thu khác trên cơ sở tự nguyện hình thành nên NSNN Để Nhà nước tồn
tại, nguồn thu từ thuế phải thường xuyên và ổn định, nhưng không ai tự nguyện từ
bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho Nhà nước cả, hơn nữa, nếu tự nguyện nộp thì
không thể thường xuyên và ổn định được Do đó, tính bắt buộc thể hiện dưới 2 khía
cạnh sau:
+ Bắt buộc đối với Nhà nước: Thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, cơ quan thu thuế Khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất định họ không
được quyền lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân
biệt đối xử với NNT Khoản 1 - điều 8 - Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 quy
định: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là:“Tổ chức thực hiện thu thuế theo
quy định của pháp luật”, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện
+ Đối với người dân: Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện do pháp luật thuế quy định mà không phải là quan hệ thanh toán
dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng
- Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực, đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh
cưỡng chế nếu NNT không tuân thủ những quy định do Nhà nước ban hành Thuế
xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật
chất cho Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Các nhà kinh tế,
chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp chủ yếu của Nhà nước để Nhà
nước điều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế Chính việc gắn yếu tố quyền lực Nhà
nước cho thuế của các quốc gia, không phân biệt mức độ phát triển, bằng cách ghi
nhận trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lực pháp lý cao nhất – các luật
thuế đã gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác định nguồn thu nhập tài chính
của Nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế Hầu như mọi đối tượng hàng hóa
Trang 27dịch vụ (được phép lưu thông và hợp pháp), mọi tổ chức, cá nhân (có tư cách chủ
thể) đều chịu sự điều chỉnh của thuế Nếu họ không tuân thủ quy định pháp luật thuế
sẽ bị cưỡng chế thi hành và hậu quả của việc cưỡng chế này có thể dẫn đến giảm
hiệu quả, uy tín trong SXKD, thậm chí là chấm dứt sự tồn tại của đối tượng bị áp
dụng
- Thứ ba, thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp
Không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa số tiền thuế mà các ĐTNT đã nộp cho Nhà
nước và các quyền, lợi ích hợp pháp mà ĐTNT nhận được từ nhà nước Bất kỳ ai,
khi đủ điều kiện theo quy định đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước,
không phân biệt họ đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà
nước Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu từ phí, lệ phí do đối
tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được một lợi ích nhất định từ
phía Nhà nước Tuy nhiên, kết quả từ việc Nhà nước sử dụng các khoản thu từ thuế
lại được thụ hưởng bởi chính ĐTNT, đó là sự yên bình xã hội, sự phát triển và thịnh
vượng, các chế độ phúc lợi công cộng… người nộp thuế nhiều và người nộp thuế ít
đều được hưởng lợi ích như nhau
Chính vì thuế là một khoản thu không hoàn trả trực tiếp và liên quan đến lợi ích trực tiếp của NNT nên trong thực tế có nhiều cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp…
vẫn còn tâm lý chây ỳ nộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng
trốn thuế làm cho số tiền nợ đọng thuế còn rất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều
năm không có khả năng thu hồi, nhiều đối tượng còn nợ thuế nhưng lại bỏ trốn, giải
thể… gây thất thu lớn cho NSNN
1.2.2.2 Đặc điểm của nợ thuế
- Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến
Đây là đặc điểm đầu tiên của nợ thuế do nó là hành vi tâm lý phổ biến của các ĐTNT, bởi :
+ Thứ nhất, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT Điều này được giải thích là do trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế
khác nhau, tuy nhiên dù các sắc thuế là gián tiếp hay trực tiếp đều đánh vào thu nhập
Trang 28của các pháp nhân trong nền kinh tế Mỗi một pháp nhân khi có hoạt động kinh tế
đều chịu nhiều loại thuế khác nhau cùng một lúc như thuế GTGT, TNDN, TNCN,
Môn bài Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt
buộc mà người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước dù họ muốn hay không Đó là lý
do tại sao hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT
+ Thứ hai, tình trạng trốn tránh nộp thuế hiện nay là tình trạng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước khác trên thế giới Điều này cũng bởi vì hành vi
nộp thuế ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT Việc họ trốn tránh nộp thuế sẽ
giúp lợi ích họ có được nhiều hơn và điều này dẫn đến hành vi nộp thuế chậm hoặc
trốn nộp thuế ngày càng tăng lên Và khi tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng
thuế còn khá phổ biến thì vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã
hội Hay nói cách khác, những NNT luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà
họ phải nộp Một trong các cách đó là nợ thuế
+ Thứ ba, do đặc điểm của Việt Nam, khi mà trình độ nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của việc
nộp thuế Do đó chưa lên án, phê phán mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa
hỗ trợ ích cực cho CQT để thu thuế theo đúng pháp luật
- Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Thuế luôn gắn liền với thu nhập Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là
một phần thu nhập của NNT được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không
kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc quyền lợi nào khác cho NNT, cũng không cần
biết NNT đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa Cũng bởi vì việc nộp thuế
ảnh hưởng trực tiếp lên tình hình kinh tế, tài chính của NNT nên việc nợ thuế, nộp
thuế chậm đã thường xuyên xảy ra Các quy phạm pháp luật về thuế cũng như các
vấn đề pháp luật liên quan khác đến thuế ở tất các các nước trên thế giới quy định rõ
đây là hành vi vi phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
Trang 29trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN Việc chậm nộp,
nợ hoặc trốn thuế được cho là hành vi vi phạm những quy định bắt buộc này trong
pháp luật liên quan đến thuế Những quy định này luôn luôn đề cập đến các phạm vi
điều chỉnh như: mức nộp thuế, NNT, thời gian phải nộp thuế tuy nhiên không phải
NNT nào cũng thực hiện tốt điều này
Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật thuế của NNT bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của
pháp luật thuế
- Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế
Như đã đề cập ở trên, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật Hơn nữa, đây còn
là hành vi dẫn đến việc đánh giá hành vi trốn thuế của NNT
Về hành vi trốn thuế, đây là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của NNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm hoặc không nộp số thuế phải nộp vào NSNN Hành
vi trốn thuế khác với hành vi nợ thuế vì nợ thuế chỉ mới là hành vi dây dưa, chậm
nộp thuế khi quá thời hạn theo quy định pháp luật của NNT, còn hành vi trốn thuế
được coi là hành vi cố ý vi phạm pháp luật Tuy nhiên hành vi nợ thuế cũng nằm
trong chuỗi hành vi nhằm đến mục đích trốn thuế của NNT Ví dụ như một số doanh
nghiệp cố tình nợ một số thuế lớn, sau đó bỏ trốn, mất tích không thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế dẫn đến NSNN phát sinh một khoản nợ thuế khó thu được Đặc biệt đối với
các doanh nghiệp, khi số tiền thuế quá lớn, hành vi trốn thuế rất dễ dàng nảy sinh và
điều này xuất phát từ hành vi ban đầu là nợ thuế, chậm nộp tiền thuế
- Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Khác với hành vi trốn thuế, tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của pháp luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật
mà là hành vi lợi dụng những kẽ hở, những điểm chưa rõ ràng trong pháp luật về
thuế để làm lợi cho mình và nó xuất phát từ những nhược điểm trong hệ thống pháp
luật về thuế của quốc gia đó
Ví dụ: Doanh nghiệp kê khai mức khấu hao tài sản, bán với giá dưới mức giá pháp luật quy định để hạ thấp thu nhập chịu thuế
Trang 30Nợ thuế về bản chất là nghĩa vụ đã được pháp luật xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật cho các cơ
quan quản lý thuế Trong khi tránh thuế là hành vi cố ý lợi dụng để giảm nghĩa vụ
nộp thuế, chính vì vậy, nợ thuế khác với tránh thuế
1.2.3 Phân loại nợ thuế
Phân loại nợ thuế nhằm xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý nợ thuế có hiệu
quả Căn cứ khả năng thu hồi tiền nợ thuế dựa trên những thông tin về NNT, nợ thuế
được phân loại như sau:
1.2.3.1 Nhóm tiền thuế nợ khó thu: bao gồm các trường hợp sau
Tiền thuế nợ của NNT được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ
Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của NNT đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án hoặc kết luận của
cơ quan pháp luật, chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế
Tiền thuế nợ của NNT không còn hoạt động SXKD tại địa điểm đăng ký kinh doanh hoặc có văn bản gửi đến CQT đề nghị chấm dứt hoạt động kinh doanh nhưng
chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; CQT đã kiểm tra, xác định NNT không còn hoạt
động kinh doanh Bao gồm cả trường hợp giải thể không theo trình tự của Luật
Doanh nghiệp
Tiền thuế nợ của NNT đã giải thể: là số tiền thuế nợ NNT đã thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán đầy đủ các khoản nợ thuế theo
quy định của pháp luật
Tiền thuế nợ của NNT lâm vào tình trạng phá sản: là số tiền thuế nợ của người
nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ
tục phá sản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của
pháp luật
Nợ khó thu khác: là các khoản tiền thuế nợ trên 90 ngày, không thuộc nhóm nêu trên, CQT đã áp dụng đến biện pháp cưỡng chế nợ thuế cuối cùng là thu hồi
Trang 31Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động, Giấy
phép hành nghề (theo quy định tại Luật Quản lý thuế) nhưng vẫn không thu hồi
được tiền thuế nợ
Đối với những khoản nợ thuế rơi vào nhóm nợ này thì việc thu nợ sẽ gặp nhiều khó khăn do NNT thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìm được chủ doanh
nghiệp, khi đó CQT sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lý của cơ quan có thẩm quyền
khác và không chủ động được trong việc đưa ra các biệp pháp thu nợ kịp thời Chính
vì vậy, việc phân loại nhóm nợ này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nợ
thuế, giúp CQT có biện pháp quản lý thích hợp
1.2.3.2 Nhóm tiền thuế nợ đến 90 ngày
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01 đến 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền
thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ trên 90 ngày; bao gồm cả tiền
thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện
1.2.3.3 Nhóm tiền thuế nợ trên 90 ngày
Là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp trên 90 ngày nhưng NNT chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền thuế
đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ đến 90 ngày; bao gồm cả tiền thuế
nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện CQT thực hiện cưỡng chế nợ thuế đối với nhóm
tiền thuế nợ này
1.2.3.4 Nhóm tiền thuế nợ chờ xử lý: bao gồm các trường hợp sau
Xử lý miễn, giảm: là số tiền thuế nợ của NNT đang trong thời gian thực hiện các thủ tục tại CQT để được xử lý miễn, giảm theo quy định của pháp luật về thuế
Xử lý gia hạn nộp thuế: là số tiền thuế nợ của NNT đang được CQT xử lý để gia hạn nộp thuế Các trường hợp được gia hạn nộp thuế thực hiện theo quy định của
Trang 32nợ của NNT đã gửi hồ sơ và CQT đang làm thủ tục hoàn thuế tại CQT hoặc đang
được CQT thực hiện thủ tục lập Quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu NSNN
1.2.3.5 Nhóm tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh
Là số tiền thuế đã nộp vào NSNN nhưng CQT đang làm thủ tục điều chỉnh, bao gồm các trường hợp sau:
Tiền thuế chờ điều chỉnh do sai sót:
+ NNT ghi sai, ghi thiếu các chỉ tiêu trên chứng từ thu NSNN
Tiền thuế chờ điều chỉnh do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: chứng
từ luân chuyển từ KBNN, NHTM sang CQT không thực hiện đúng quy định; chứng
từ thất lạc, CQT đã nhận được sau thời gian thất lạc do NNT hoặc KBNN, Ngân
hàng cung cấp; chứng từ do công chức thuế hoặc ủy nhiệm thu đã thu nhưng chưa
kịp thời thực hiện các thủ tục thanh toán tiền thuế, nộp tiền vào NSNN
Tiền thuế chờ ghi thu - ghi chi: là số tiền thuế NNT đã kê khai và thực hiện các thủ tục nộp NSNN nhưng đang chờ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục ghi thu, ghi
chi vào NSNN hoặc số tiền được cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục ghi thu -
ghi chi, theo định kỳ (tháng, quý, năm)
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế
Công tác quản lý nợ thuế trong quá trình thực hiện thường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan nhất định
1.2.4.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Nhóm yếu tố này chủ yếu xuất phát từ phía cơ quan quản lý thuế, cụ thể:
Thứ nhất, quy trình quản lý nợ của cơ quan thuế Quy trình quản lý nợ hợp lý
hay không hợp lý sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác quản lý nợ thuế
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thao tác nghiệp vụ của cán bộ thuế Một cơ quan thuế
Trang 33xây dựng và thiết lập được một quy trình quản lý nợ thuế tốt, phù hợp với đơn vị sẽ
góp phần đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý nợ thuế Bởi vì, quy trình quản
lý nợ thuế hiệu quả sẽ góp phần tạo nền tảng tốt để các bộ phận kết hợp ăn ý với
nhau và các khâu quản lý được thực hiện một cách hợp lý, tránh tình trạng chồng
chéo trong quá trình thực hiện
Thứ hai, các công cụ hỗ trợ quản lý thuế như hệ thống phần mềm hỗ trợ về kê
khai kế toán thuế, quản lý nợ thuế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến công tác
quản lý nợ Cơ quan thuế có nhận thức và có những biện pháp nâng cao, cải thiện
tình hình ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý thuế sẽ là đạt được hiệu
quả cao hơn trong công tác quản lý nợ thuế, bởi những công nghệ này sẽ giúp giảm
thiểu sức lao động, tăng độ chính xác của các thông tin, giảm lượng việc cần làm, từ
đó cán bộ có nhiều thời gian hơn để có thể làm những công tác khác, góp phần tăng
hiệu quả công tác quản lý nợ thuế tại cơ quan
Thứ ba, chính sách, pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác
QLN & CCN thuế Chính sách, pháp luật phải đồng bộ, phù hợp với tình hình thực
tế Ví dụ như tỷ lệ phạt nộp chậm theo Luật Quản lý thuế được điều chỉnh giảm một
nửa so với trước đây Theo đó, trước khi có Luật Quản lý thuế thì tỷ lệ phạt nộp
chậm thuế là 0,1%, còn kể từ ngày 1/7/2007 thì tỷ lệ này chỉ còn là 0,05% Trong
bối cảnh nền kinh tế lạm phát cao như Việt Nam thì tỷ lệ phạt nộp chậm như trên là
thấp, không đủ sức nặng kinh tế răn đe NNT có ý đồ vi phạm Nhiều ĐTNT sẵn
sàng nợ thuế, lấy tiền trả nợ Ngân hàng hoặc đem đi đầu tư làm ăn và chấp nhận
nộp phạt do nộp thuế chậm vì tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với lãi suất vay vốn Ngân
hàng, TCTD hay vay nóng bên ngoài, kể cả trường hợp tính đến chi phí sau thuế
của các khoản này (do phạt nộp chậm thuế không được tính vào chi phí được trừ khi
tính thuế TNDN, còn lãi vay nếu đủ điều kiện là chi phí được trừ) Nhưng ngay cả
khi lãi suất vay vốn và tỷ lệ phạt nộp chậm thuế tương đồng nhau thì cũng không ít
NNT vẫn sẵn sàng nộp phạt nộp chậm thuế vì để vay được vốn đòi hỏi những điều
kiện rất chặt chẽ, mà chi phí thực sự để vay vốn không chỉ nằm ở lãi suất ghi trong
Hợp đồng vay vốn mà còn phát sinh một số khoản chi khác để có thể vay được vốn
Trang 341.2.4.2 Nhóm yếu tố khách quan
Thứ nhất, do nền kinh tế thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro và biến động khó
lường Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới thì nền kinh
tế Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể, các doanh nghiệp được thành lập
ngày càng phong phú, đa dạng về loại hình cũng như ngành nghề kinh doanh, lĩnh
vực hoạt động Có những doanh nghiệp thành công nhưng cũng không ít doanh
nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động SXKD của mình Nhiều doanh nghiệp không
đủ vốn để quay vòng đã đi vay vốn của các TCTD, NHTM và thậm chí là chiếm
dụng tiền thuế để tái đầu tư mở rộng SXKD
Thứ hai, do thực trạng công tác quản lý thuế ở nước ta và chỉ tiêu số thu hàng
năm cho NSNN Trong những năm vừa qua, rất nhiều văn bản pháp luật về thuế
được ban hành đã đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với tình hình
thực tế, tạo điều kiện cho NNT và CQT trong việc quản lý thuế Tuy tình hình hiện
nay đã có nhiều chuyển biến tốt, hạn chế được nhiều trường hợp vi phạm về thuế
nhưng công tác quản lý nợ đọng thuế vẫn chưa thực sự tốt, còn nhiều bất cập Một
mặt do quy trình QLN & CCN thuế mới được áp dụng vào thực tế nên vẫn còn
nhiều vướng mắc, cần hoàn thiện, đặc biệt những quy định về việc xử phạt chưa có
tính răn đe cao Mặt khác, lực lượng công chức quản lý nợ mỏng, không đồng đều
về chuyên môn, nghiệp vụ cũng gây khó khăn trong việc quản lý đối tượng nợ thuế
và thực hiện cưỡng chế khi đối tượng này dây dưa, chây ỳ nộp thuế Thêm vào đó, ý
thức tuân thủ pháp luật thuế của nhiều NNT chưa cao, vẫn còn nhiều trường hợp cố
tình trốn tránh nghĩa vụ về thuế Trong khi thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN,
chiếm trên 80% tổng số thu NSNN của nước ta thì việc cố tình trốn tránh, không
hợp tác của các tổ chức, cá nhân đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện số
thu kịp thời cho NSNN, nhất là khi việc trốn tránh có xu hướng ngày càng tăng cao
Thứ ba, cần đảm bảo thực hiện nghiêm túc pháp luật, chống thất thu có hiệu
quả và đảm bảo công bằng trong thực thi pháp luật về thuế Công tác QLN & CCN
thuế được thực hiện kịp thời sẽ giúp đảm bảo thực hiện nghiêm pháp luật thuế và
đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế giữa những người nợ thuế có cùng điều kiện,
Trang 35hoàn cảnh như nhau Với những hình thức và biện pháp phù hợp tác động đến lợi
ích của người nợ thuế, buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, tình
trạng dây dưa, chây ỳ không nộp thuế, số thuế nợ NSNN sẽ được giảm
1.2.5 Sự cần thiết và vai trò của công tác quản lý nợ thuế
Hiện nay, cùng với xu hướng tăng trưởng của nền kinh tế là sự phát triển ngày càng nhanh chóng của các doanh nghiệp với những khó khăn nhất định trong việc
chấp hành pháp luật quản lý thuế Do đó, việc tăng cường công tác quản lý thuế, hạn
chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản
lý thuế cũng như trong hoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:
Thứ nhất, quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của
ĐTNT, đảm bảo ĐTNT nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vào NSNN; đảm bảo
công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa vụ thuế thì phải nộp
vào NSNN đúng hạn
Thứ hai, quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà
nước, chống thất thoát NSNN Đảm bảo các chính sách thuế được thực hiện đúng và
triệt để thông qua việc CQT có các tác động, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm các
trường hợp vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao ý thức tuân thủ của NNT
Thứ ba, việc quản lý nợ thuế để đảm bảo CQT có biện pháp thu nợ phù hợp,
hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tác
quản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như thanh tra,
kiểm tra chống thất thu thuế
Do đó, quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu
cơ bản và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các
khoản thu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản
thu sẽ gây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện
pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế
Thứ hai, phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để CQT có các biện
pháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theo
Trang 36tiêu thức đã trình bày ở trên thì phải đảm bảo việc phân loại chính xác tính chất của
các khoản nợ thuế; để từ đó CQT đánh giá, xem xét và đưa ra các biện pháp thu nợ
phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, phải đảm bảo thu nợ đầy đủ, kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu
này là yêu cầu xuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác
QLN & CCN thuế trong toàn ngành nói chung và của Cục thuế Hà Nội nói riêng
1.2.6 Một số nội dung trong công tác quản lý nợ thuế
1.2.6.1 Quy trình Quản lý nợ thuế
Nhằm quy định trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian để triển khai thực hiện thống nhất trong CQT các cấp trong việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu,
đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT có nghĩa vụ nộp thuế vào
NSNN đã được quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn về thuế thì
Quy trình Quản lý nợ thuế đã ra đời
Nội dung của Quy trình quản lý thu nợ thuế bao gồm:
+ Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của tổ chức, cá nhân trong CQT
+ Trình tự, thủ tục hành chính của các bước công việc: đảm bảo hoạt động đồng bộ giữa các bước công việc cũng như về thời gian
+ Mối quan hệ công tác giữa các tổ chức cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ:
phối hợp ngang giữa các bộ phận trong cơ quan, giữa các cơ quan trong ngành; kết
hợp các công việc của các cá nhân trong bộ phận
+ Chỉ đạo kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện quy trình Nội dung này đóng vai trò quan trọng, giúp lãnh đạo Cục thuế đánh giá lại quá trình quản lý nợ thuế đối với:
Nội bộ ngành thuế: hoạt động kiểm tra nhằm phát hiện sai sót vướng mắc trong quá trình quản lý để kịp thời giải quyết vướng mắc; làm rõ những việc đã làm được,
chưa làm được trong chương trình, kế hoạch để khen thưởng và xử lý kịp thời;
NNT trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhằm hướng dẫn: NNT thực hiện đầy đủ, đúng quy định đối với các thủ tục đề nghị gia hạn nộp thuế, miễn phạt chậm
nộp, xoá nợ tiền thuế; các tổ chức, cá nhân phối hợp với CQT trong quản lý nợ thuế
+ Tổng kết, đánh giá kết quả quản lý nợ thuế hàng năm
Trang 37Nội dung Quy trình Quản lý nợ thuế được khái quát bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1: Sơ đồ tổng thể Quy trình Quản lý nợ thuế
Quy trình Quản lý nợ
Xây dựng chỉ tiêu thu tiền nợ thuế Đôn đốc thu và xử lý tiền nợ thuế
Xác định số tiền nợ thuế năm thực hiện
Phân công quản lý nợ thuế
Báo cáo chỉ tiêu thu tiền nợ thuế cho cơ quan cấp trên
Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền nợ thuế
Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ
Đối chiếu số liệu
Triển khai chỉ tiêu thu tiền
nợ thuế
Thực hiện đôn đốc thu nộp
Lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ
Đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc
và đơn vị ủy nhiệm thu
Phối hợp để điều chỉnh tiền thuế nợ
Trang 381.2.6.2 Nội dung Quản lý nợ thuế của Cục thuế
Căn cứ vào Quy trình Quản lý nợ thuế, hàng năm Cục thuế đều thực hiện những công việc sau:
a Xây dựng kế hoạch thu tiền thuế nợ
Lập chỉ tiêu thu nợ là nội dung đầu tiên, quan trọng nhất trong quản lý nợ thuế
vì nó gắn liền với việc xác định chương trình hoạt động trong một thời gian nhất
định (thường là hàng năm, 5 năm) và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thu nợ của
CQT Cục thuế căn cứ chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng Cục thuế và tình hình thực tế
quản lý nợ thuế ở địa phương để xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý
thu nợ thuế năm sau của toàn Cục thuế Việc xây dựng chỉ tiêu thu nợ gồm các nội
dung sau:
- Xác định số tiền thuế nợ năm thực hiện căn cứ tiền thuế nợ năm trước năm xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ và tiền thuế nợ tại thời điểm lập chỉ tiêu thu tiền
thuế nợ (tháng 11 hàng năm), phân tích, đánh giá khả năng thu và xử lý các khoản
tiền thuế nợ, dự báo số tiền thuế nợ đến thời điểm 31/12 năm thực hiện
- Lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ năm kế hoạch căn cứ số tiền thuế nợ năm thực hiện đã được xác định nêu trên và chỉ tiêu thu tiền thuế nợ CQT cấp trên hướng dẫn
hàng năm
- Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã xác định cho CQT cấp trên
- Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ: Căn cứ chỉ tiêu do Tổng Cục thuế giao và báo cáo kết quả công tác quản lý nợ, Cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho
phòng Quản lý nợ, các phòng tham gia thực hiện quy trình, các Chi cục Thuế và báo
cáo kết quả về Tổng Cục thuế
- Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế nợ trên cơ sở phê duyệt: Xây dựng chỉ tiêu đối với toàn bộ số tiền thuế nợ do Cục Thuế quản lý; Dự kiến, trình Lãnh
đạo Cục Thuế giao chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho phòng QLN & CCN thuế, các
phòng tham gia thực hiện quy trình và các Chi cục Thuế; Giao nhiệm vụ thu tiền
thuế nợ cho công chức thuộc phòng quản lý
b Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: gồm các nội dung sau
Trang 39- Hàng tháng, trước ngày khoá sổ thuế một ngày làm việc thực hiện phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy
trình
- Phân loại tiền thuế nợ: Hàng tháng, chậm nhất là ba ngày làm việc sau ngày khoá sổ thuế, công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình thực
hiện đối chiếu số tiền thuế nợ tại thời điểm ngày cuối tháng trên các ứng dụng quản
lý thuế với ứng dụng quản lý nợ Căn cứ số nợ trên ứng dụng quản lý nợ, tiêu thức
phân loại tiền thuế nợ và hồ sơ, tài liệu liên quan đến NNT, rà soát danh sách NNT
còn nợ thuế để phân loại theo từng khoản nợ, nhóm nợ
- Lập nhật ký và Sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ: Ngay sau ngày làm việc kế tiếp ngày hoàn thành việc phân loại nợ thuế, công chức quản lý nợ và công chức
tham gia thực hiện quy trình lập nhật ký theo dõi tiền thuế nợ đối với từng NNT để
theo dõi từng khoản tiền thuế nợ, sau đó thực hiện tổng hợp và chuyển cho cấp trên
để tổng hợp trên địa bàn quản lý
- Đối chiếu số liệu: Sau khi phân loại tiền thuế nợ, nếu phát hiện có sai sót về tiền thuế nợ, công chức quản lý nợ hoặc công chức tham gia thực hiện quy trình
thực hiện đối chiếu tiền thuế nợ để xác định chính xác số liệu kê khai và nộp thuế,
xác định số chênh lệch về tiền thuế nợ giữa NNT và CQT
- Thực hiện đôn đốc thu nộp đối với khoản nợ từ 01 đến 30 ngày, từ ngày thứ
31 trở lên, nợ trên 90 ngày, khoản tiền thuế nợ đã quá thời hạn gia hạn nộp thuế
hoặc NNT có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn… bằng hình thức gọi điện thoại, nhắn
tin, gửi thư điện tử cho NNT hoặc người đại diện theo pháp luật của NNT; Lập
Thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp theo mẫu số 07/QLN; Lập Thông báo
về việc sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo mẫu 09/TB-CCNT; công khai
thông tin người nợ thuế trên báo, đài, phương tiện công cộng…
- Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn kiêm bù trừ theo quy định tại Luật Quản lý thuế
- Xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu (trừ trường hợp
đã được xóa nợ) và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ như NNT ghi
Trang 40sai các chỉ tiêu trên chứng từ nộp tiền, sai sót do KBNN, NHTM, CQT; nguyên
nhân từ quá trình nâng cấp ứng dụng quản lý thuế Công chức quản lý nợ và công
chức tham gia thực hiện quy trình phải ghi chi tiết về thời gian và các bước công
việc đã thực hiện vào Nhật ký theo dõi tiền thuế nợ của từng NNT, đồng thời theo
dõi quá trình tự động lập và ghi nhật ký tại ứng dụng quản lý nợ
- Các bộ phận tham gia quy trình phối hợp đối chiếu, xác định số tiền thuế còn
nợ và đề xuất biện pháp đôn đốc đôn đốc tiền thuế nợ đối với đơn vị xây dựng cơ
bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
- Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ hàng tháng, hàng quý, hàng năm lên CQT cấp trên
- Các bộ phận tham gia quy trình thực hiện lưu trữ tài liệu về quản lý nợ (hồ sơ
về tình hình nợ thuế của người nợ thuế, hồ sơ về công tác quản lý thu nợ của đơn vị
quản lý…)
Đây là nội dung chủ yếu của công tác quản lý nợ thuế được thực hiện tại Cục thuế Hà Nội Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, công tác này cũng cần
được hoàn thiện nhằm quản lý và thu hồi nợ thuế, đảm bảo nguồn thu cho NSNN
cũng như tạo bình đẳng giữa những NNT và đảm bảo an ninh kinh tế của quốc gia
c Biện pháp xử phạt đối với việc chậm nộp tiền thuế
- Phạt chậm nộp + Các trường hợp phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế NNT chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của CQT, thời hạn ghi trong quyết định xử lý vi phạm
pháp luật về thuế của CQT và quyết định xử lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm