ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN ANH PHƯƠNG VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN ANH PHƯƠNG
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN ANH PHƯƠNG
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thanh Tú
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Thanh Tú – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện và cung cấp những tài liệu cần thiết để phục vụ cho luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu và toàn thể đội ngũ giảng viên, cán bộ trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã
giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại
Trần Anh Phương
Trang 5Bảng 2.2: Bảng thể hiện kết quả chấm phiếu học tập Phong trào văn hóa Phục
hưng của 30 HS trường PT liên cấp Olympia 87
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ thể hiện các trí thông minh nổi trội của 30 HS lớp 10
trường PT liên cấp Olympia 40
Biểu đồ 1.2: Biểu đồ thể hiện số lượt các thông minh được xếp hạng cao của
30 HS lớp 10 trường phổ thông liên cấp Olympia 41
Biểu đồ 1.3: Biểu đồ thể hiện kết quả các loại hình trí thông minh của HS Đỗ
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng, biểu đồ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Một số quan điểm về trí thông minh của con người 10
1.1.2 Giới thiệu lý thuyết đa thông minh 13
1.1.3 Một số yêu cầu khi vận dụng lý thuyết đa thông minh trong môn Lịch sử ở trường THPT 19
1.1.4 Quy trình vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học môn sử ở trường THPT 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 25
1.2.2 Thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông liên cấp Olympia 30
Chương 2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG LIÊN CẤP OLYMPIA 48
2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình LS lớp 10 THPT 48
2.1.1 Vị trí của chương trình LS lớp 10 THPT 48
2.1.2 Mục tiêu của chương trình LS lớp 10 THPT 49
2.1.3 Nội dung cơ bản của chương trình LS lớp 10 THPT 51
2.2 Xây dựng kế hoạch bài dạy LS lớp 10 vận dụng lý thuyết đa trí thông minh 58
Trang 72.2.1 Đánh giá trí thông minh của học sinh 58
2.2.2 Xác định mục tiêu bài học 58
2.2.3 Lựa chọn nội dung bài học phù hợp với việc vận dụng lý thuyết đa thông minh 61
2.2.4 Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo, phương tiện hỗ trợ giảng dạy 63 2.2.5 Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp 64
2.2.6 Xác định hình thức, phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 74
2.2.7 Viết giáo án bài dạy 77
2.3 Thử nghiệm sư phạm 83
2.3.1 Mục đích 83
2.3.2 Đối tượng và địa bàn thử nghiệm 84
2.3.3 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 85
2.3.4 Kết quả thử nghiệm 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Albert Einstein, Leonardo da Vinci hay Christopher Hirata từ lâu đã được mệnh danh là những thiên tài với chỉ số IQ cao nhất mọi thời đại
Những thiên bẩm vốn có đã kết hợp một cách tự nhiên với sự nghiêm túc
trong nghiên cứu khoa học và đồng điệu trong môi trường giáo dục để tạo nên
những người khổng lồ trong LS Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu Albert Einstein
lựa chọn nghệ thuật còn Leonardo da Vinci quyết định trở thành một cây bút
có tiếng? Và biết đâu chúng ta sẽ có một Albert Einstein với tư cách một nhà
điêu khắc hay hội họa chăng?
Giáo dục với sứ mệnh và vị trí quan trọng của mình, trước hết cần phục
vụ giáo dục đại trà để tạo ra những công dân có tri thức, năng lực, trách nhiệm
và biết cách thích nghi với cuộc sống muôn hình vạn trạng Đó là “Học để
biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” – Theo
mục đích học tập do UNESCO khởi xướng
Tiếp cận trí tuệ con người ở một khía cạnh rất đặc biệt, Howard Gardner đã nhanh chóng trở thành cái tên được nhắc tới nhiều trong những
thập niên gần đây khi công bố nghiên cứu mang tên “Thuyết đa thông minh”
– Theory of Multiple Intelligences Theo đó, trong mỗi người chúng ta đều
tồn tại một vài kiểu thông minh trong số tám loại: Ngôn ngữ, logic/ toán học,
âm nhạc, không gian, vận động, giao tiếp, nội tâm và tự nhiên Ông chỉ ra
rằng các nhà trường truyền thống chỉ quan tâm đánh giá HS thông qua hai loại
trí thông minh là trí thông minh ngôn ngữ và trí thông minh logic/ toán học
mà dường như xem nhẹ hoặc bỏ qua những HS có thiên hướng thông minh
khác
Thuyết đa thông minh với những đóng góp khoa học của Howard Gardner đã đem đến những nhận thức mới về trí tuệ con người Trí thông
minh trở thành “khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm mà các
giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn
Trang 9hóa và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số
IQ” [5, tr.34]
Việc tồn tại cả tám trí thông minh với mức độ cao thấp khác nhau sẽ ảnh hưởng đến thiên hướng tiếp thu năng lực trí tuệ nào hiệu quả hoặc kém
hiệu quả Thêm nữa, trí thông minh không phải là cái bất biến Thông qua đào
tạo có thể tạo điều kiện phát triển hoặc làm thui chột năng lực trí tuệ của HS
Trong khi đó, giáo dục nhà trường hiện nay lại chưa thực sự chú trọng đến
DH tiếp cận trí thông minh của HS GV cũng chưa thực sự đầu tư lựa chọn
các PPDH phù hợp với thiên hướng tiếp thu của HS Đó thực sự là thực trạng
đáng lo ngại trong giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Sử dụng PPDH hiệu quả sẽ góp phần quyết định sự thành công của mục tiêu dạy học Vì thế, có thể xem việc kế thừa những thành tựu trong nghiên
cứu của Howard Gardner về trí thông minh đa dạng như một gợi ý để lựa
chọn PPDH phù hợp trong tất cả các môn học, trong đó có LS
Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam nhằm hướng đến chất lượng thực sự của nền giáo
dục Đó vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với việc nâng cao chất lượng
giáo dục, trong đó có giáo dục PT
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi trong nhận thức
xã hội, việc DH hướng đến phát triển năng lực và trí tuệ của từng cá nhân
đang được xem trọng thay vì DH đại trà Chính bởi thế, việc DH phân hóa
cũng đang là chủ trương được các nhà giáo dục và dư luận quan tâm rất nhiều
“Bản chất của DH phân hóa là tạo ra những khác biệt nhất định trong nội
dung và phương thức hoạt động dựa vào nhóm năng lực, hứng thú hoặc nhu
cầu của người học và mục tiêu giáo dục của xã hội” [7] Tính phân hoá thể
hiện ở sự phân biệt dựa theo các đối tượng khác nhau, áp dụng cách thức tổ
chức, vận dụng nội dung, PP và hình thức, hoạt động khác nhau, sao cho
phù hợp nhất với từng đối tượng, nhằm đạt hiệu quả cao
Trang 10Như vậy, trong ý tưởng thực hiện của DH phân hóa và DH dựa trên sự vận dụng lý thuyết đa thông minh xuất hiện những điểm tương đồng Đó là
việc DH hướng đến tính đặc thù, cá biệt của mỗi HS, từ đó GV đề xuất và
thực hiện các PPDH phù hợp
Trong chương trình PT, LS là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tri thức và nhân cách HS Học LS để hiểu về cội nguồn
dân tộc, để trân trọng những gì mình đang có, biết ơn tổ tiên và sống có trách
nhiệm Học LS là cách nhanh nhất để mỗi chúng ta được sống trong những
phút giây hào hùng mà bi tráng của dân tộc đã bao lần thử lửa trong chiến
tranh, để sống một cách nhân văn và ý nghĩa nhất
Tuy nhiên, trên thực tế, LS đang bị HS “ít quan tâm” Tình trạng HS không thích học LS đang trở thành căn bệnh lan rộng khắp xã hội Điều này
thật không phù hợp với vị trí và vai trò của môn LS trong việc hình thành kiến
thức, kĩ năng và phẩm chất công dân
Như vậy, xuất phát từ khả năng vận dụng lý thuyết đa thông minh của Howard Gardner trong DH phổ thông, chủ trương đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục của Đảng và vị trí, vai trò của bộ môn LS, tôi lựa chọn đề tài
“Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học Lịch sử lớp 10 trường
trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, nhiều nhà tâm lý học, nhà giáo dục đã thử ứng dụng lý thuyết này vào quá trình nghiên cứu Trong số đó, Thomas Armstrong đã ứng
dụng thành công một phần thuyết đa thông minh vào việc giảng dạy và giáo
dục Ông đã công bố một số cuốn sách nổi tiếng như: 7 loại hình trí thông
minh, Bạn thông minh hơn bạn nghĩ, Đa trí tuệ trong lớp học,… Các cuốn
sách này chủ yếu viết về vấn đề giáo dục và hướng dẫn cha mẹ giáo dục con
cái, giúp GV DH theo các PP nhằm phát huy năng lực trí tuệ nổi trội của con
em mình
Trang 11Trên cơ sở tìm hiểu thuyết đa thông minh của Howard Gardner, Thomas Armstrong đã có quá trình nghiên cứu nghiêm túc để đưa ra những
tác phẩm mang tính kế thừa, được các nhà giáo dục và dư luận xã hội quan
tâm Một trong số đó là cuốn “7 loại hình thông minh” Cuốn sách được được
Mạnh Hải, Thu Hiền dịch và do nhà xuất bản Lao động – xã hội phát hành
Ngoài phần mở đầu, cuốn sách bố cục thành 15 nội dung nhỏ Bên cạnh việc
chỉ ra 7 loại hình trí thông minh (trừ trí thông minh tự nhiên), Thomas
Armstrong có đưa thêm một số nội dung thú vị khác như: “Đánh thức những
tiềm năng nở muộn” hay “Củng cố mối liên kết lỏng lẻo”, “Liệu còn tồn tại
những loại hình thông minh khác”…
Ngay chương I với tên gọi “Thuyết trí thông minh đa dạng”, Thomas Armstrong đã đưa ra những tình huống gần gũi trong cuộc sống hàng ngày để
dẫn dắt người đọc có được cảm nhận đầu tiên về trí thông minh Tình huống
đặt ra khi bạn bị một đàn voi ma mút uy hiếp hay xe hơi của bạn bị hỏng trên
đường cao tốc Trong cả hai trường hợp, bạn đều cần sự giúp đỡ Với cuộc
sống muôn hình vạn trạng, trí thông minh giải quyết những nhu cầu khác
nhau thì cần có những năng lực khác nhau Và như vậy, trí thông minh phụ
thuộc vào hoàn cảnh, nhiệm vụ và những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra cho
chúng ta
Thomas Armstrong cũng chỉ ra rằng: các bài kiểm tra IQ mới chỉ đánh giá được một thứ có thể tạm gọi là “năng khiếu đi học”, trong khi trí thông
minh thật sự phải được hiểu trong phạm vi rất rộng lớn với nhiều loại kĩ năng
khác nhau [19] Ông cũng đưa ra một cách hệ thống tên gọi, các khái niệm mà
Howard Gardner đã khái quát và những bằng chứng làm cơ sở cho thuyết trí
thông minh đa dạng Một là, mỗi trí thông minh đều có khả năng biểu tượng
hóa Hai là, mỗi trí thông minh đều có LS phát triển riêng của nó Ba là, mỗi
loại trí thông minh đều sẽ bị tổn thương và biến mất khi có các tác động xâm
phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của nó trong bộ não
người Và cuối cùng, mỗi loại trí thông minh có những nền tảng giá trị văn
Trang 12hóa riêng của nó Đương nhiên, Thomas Amstrong cũng không quên đưa ra
những biểu hiện để người đọc tự đánh giá các loại trí thông minh của bản
thân
Bên cạnh các tác phẩm trên là một số bài báo, bài viết của các chuyên gia có uy tín trong nước, bàn về việc vận dụng thuyết đa thông minh trong
DH Bài nghiên cứu của PGS.TS Trần Khánh Đức với nhan đề “Lý thuyết đa
thông minh và đổi mới phương pháp dạy học ở bậc đại học” trình bày những
mối quan hệ trực tiếp giữa lý thuyết đa thông minh của của nhà tâm lý học
Mỹ Howard Gardner (1983) với yêu cầu đổi mới PPDH ở bậc đại học theo
hướng phát huy tính chủ động và sáng tạo ở người học, dạy PP, dạy cách
học Để phát triển các năng lực (dạng thức thông minh) ở người học, PPDH ở
bậc đại học cần có đổi mới căn bản từ quan niệm, quy trình, kỹ thuật, cách
thức thực hiện… trên cơ sở kết hợp đa PP, đa thông tin, đa giác quan, đa
phương tiện, đa hoạt động
Có đôi nét khác biệt với PGS.TS Trần Khánh Đức, bài viết của TS Trần
Đình Châu với nhan đề “Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học ở trường
phổ thông”, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 316 (kì 2-8/2013) tiếp cận thuyết
đa trí tuệ để vận dụng trong chương trình PT với nhiều thông tin khái quát
song ngắn gọn hơn Bài viết đi từ mục tiêu của giáo dục PT đến tình trạng bất
cập trong DH hiện nay, giới thiệu về lý thuyết đa thông minh, về cách đánh
giá các dạng năng lực trí tuệ của HS và đề xuất việc vận dụng thuyết đa thông
minh trong DH bằng dẫn chứng sinh động thông quan bài dạy “Bảo vệ bầu
không khí trong sạch”
Điểm giống nhau của cả hai bài viết này là đều chỉ ra chủ trương, đường lối đổi mới giáo dục của Đảng rồi từ đó trình bày nội dung cơ bản của
thuyết đa thông minh và đề xuất việc vận dụng trong DH PGS.TS Trần
Khánh Đức đề xuất việc vận dụng ở góc độ người học (SV) và người dạy
(giảng viên) còn TS Trần Đình Đức đề xuất việc đánh giá các dạng năng lực
trí tuệ ở HS và vận dụng bằng việc lựa chọn các PPDH phù hợp
Trang 13Trong cuốn “Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường trung học phổ
thông – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Thanh Tú có đề cập đến:
Cơ sở, vai trò, ý nghĩa, yêu cầu cơ bản, hình thức, biện pháp của việc tổ chức,
hướng dẫn ôn tập trong DHLS ở trường THPT Một điều rất đáng ghi nhận là
mặc dù không đề cập cụ thể đến việc vận dụng lý thuyết đa thông minh vào
hoạt động ôn tập song TS Hoàng Thanh Tú đã chỉ ra rằng: “Hiệu quả học tập
của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dạy mà còn chịu ảnh
hưởng của chính phong cách học của họ” [16, tr.216]
Theo đó, “Phong cách học là cách thức mà người học thường sử dụng
để tiếp thu, ghi nhớ kiến thức theo thói quen tư duy và dưới tác động của môi
trường học tập” [16, tr 217] Mỗi cá nhân có một phong cách học riêng, quy
định cách họ tiếp nhận tri thức và nhận biết về thế giới xung quanh Như vậy,
trong tác phẩm này, TS Hoàng Thanh Tú đã đề cập đến đa kiểu học, hướng
đến DH phân hóa đối tượng nhằm đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động theo
nhu cầu, sở thích và khả năng của mỗi HS nhằm nâng cao hiệu quả DH
Là một học thuyết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhiều trường
PT đã đề xuất việc ứng dụng lý thuyết đa thông minh vào xây dựng chương
trình đào tạo của mình Trong đó, không thể không kể đến: Trường PT liên
cấp Olympia, Trường mầm non cao cấp Bibi Home, Trung tâm bé thông minh
hay trung tâm Gene Code (Phân tích vân tay) Bên cạnh đó, thuyết đa thông
minh còn được đăng tải trên một số trang web hay diễn đàn có uy tín như:
Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam hay webtretho
Trên các diễn đàn đó, các bài viết tập trung vào nội dung chủ yếu là giới thiệu về thuyết đa thông minh: Sự ra đời gắn liền với quá trình nghiên
cứu khoa học của Howard Gardner, cơ sở khoa học, những nội dung chủ yếu
và rất nhiều những gợi ý khác để ứng dụng trong việc phát triển tư duy, làm
đa dạng các loại hình trí thông minh của HS Như vậy, sự phát triển nhanh
chóng của công nghệ thông tin đã trở thành nhân tố tích cực để thúc đẩy sự
hiểu biết của toàn xã hội đối với vô vàn tri thức của nhân loại Trong đó có
thuyết đa thông minh của Howard Gardner
Trang 14Từ việc tổng quan trên, có thể nhận thấy, lý thuyết đa thông minh của Howard Gardner đã được nghiên cứu và đề cập ít nhiều trong các cuốn sách,
bài nghiên cứu và hoạt động của một số cơ sở giáo dục Tuy nhiên, các tài
liệu nói trên mới chủ yếu đề cập nhiều đến quan điểm mới của Howard
Gardner về trí thông minh, mô tả các dạng trí thông minh và đề xuất việc vận
dụng trong DHPT và đại học một cách sơ lược Việc tiếp cận của nhà trường,
đội ngũ GV và các em HS về lý thuyết đa thông minh chưa thật rộng rãi nên
chưa thực sự phát huy được tính ứng dụng của lý thuyết này trong DH Trên
thực tế, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống thuyết đa thông
minh để vận dụng vào DHPT, cụ thể là môn LS
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệu quý báu, là căn cứ và cũng là gợi ý có giá trị lý luận sâu sắc để tôi tiếp
cận, tìm hiểu và nghiên cứu việc vận dụng thuyết đa thông minh trong DHLS
ở trường PT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết đa thông minh và việc vận dụng thuyết đa thông minh trong
DH LS ở trường PT
3.2 Phạm vi nghiên cứu (Vận dụng vào trường PT liên cấp Olympia)
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết đa thông minh vào phần LS lớp 10 THPT, đặc biệt chú ý các chủ đề về LS văn hóa
- Về hình thức tổ chức DH: Tập trung vào bài học nội khóa
- Về địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Trường PT liên cấp Olympia, Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
- Trên cơ sở tìm hiểu và khẳng định vai trò, ý nghĩa của thuyết đa thông minh của Howard Gardner, đề tài chỉ ra quy trình và cách thức vận dụng vào
Trang 15DHLS ở trường PT, góp phần phát triển năng lực, trí thông minh của HS và
nâng cao chất lượng DHLS
- Nghiên cứu nội dung phần LS lớp 10 (đặc biệt chú ý nội dung văn hóa)
và đề xuất quy trình xây dựng kế hoạch bài dạy trên cơ sở vận dụng Lý thuyết
đa thông minh
- Thử nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc vận dụng Lý thuyết đa thông minh trong DHLS
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận:
- Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về LS, giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Sưu tầm, đọc, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp sách báo, internet, tạp chí, luận án, luận văn đề cập các vấn đề liên quan đến
thuyết đa thông minh của Howard Gardner và việc vận dụng thuyết đa thông
minh vào DH nói chung (DHLS nói riêng)
- Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với GV, HS, điều tra
xã hội học, thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu
của luận văn
- Toán học thống kê
6 Giả thuyết khoa học
- Nếu GV vận dụng thuyết đa thông minh vào DHLS thì sẽ đạt được mục tiêu DH, giúp HS hứng thú, phát huy được tối đa năng lực và các trí thông
Trang 16minh của các em, góp phần nâng cao chất lượng DH môn LS ở trường THPT
hiện nay
7 Đóng góp của đề tài
Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:
- Khẳng định vai trò và tính khả thi của thuyết đa thông minh trong việc vận dụng DH nói chung, DHLS nói riêng
- Đánh giá được thực trạng DHLS nói chung, thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DH nói riêng
- Đề xuất quy trình vận dụng thuyết đa thông minh trong DHLS ở
trường PT
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Làm phong phú thêm lí luận PPDHLS nói chung và vấn đề vận dụng Lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường THPT nói
riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm, Đại học Giáo dục; GV môn LS và tác giả
trong quá trình vận dụng DHLS ở trường THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học Lịch sử lớp
10 ở trường trung học phổ thông liên cấp Olympia
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số quan điểm về trí thông minh của con người
* Trí tuệ (Trí thông minh)
Trí tuệ (Intelligence) là một thuật ngữ thuộc phạm trù tâm lý học giáo dục Đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của trí tuệ Theo
Woolfolk và Margetts (2007), những lý thuyết trước kia về trí tuệ có thể chia
thành ba nhóm:
- Nhóm 1: Trí tuệ được coi là năng lực học tập
- Nhóm 2: Trí tuệ được coi là kiến thức mà một người thu nhận được
- Nhóm 3: Trí tuệ được coi là năng lực thích nghi một cách có kết quả với tình huống mới và với môi trường nói chung Nói cách khác, trí tuệ được
xem như khả năng thích nghi, tạo dựng khuôn mẫu và lựa chọn môi trường
một cách có chủ ý
Với quan điểm của nhóm 1: Trí tuệ được xem như khả năng tiếp nhận
và phản hồi thông tin, tri thức và nội dung học tập Như vậy, một người
không được đến trường, không được đào tạo thì liệu họ có trí tuệ không?
Với nhóm 2: Trí tuệ được được đánh giá bởi lượng kiến thức một người nắm bắt được trong quá trình học tập và lao động Nếu quan điểm của nhóm 1
để cao năng lực học tập thì nhóm 2 quan tâm hơn đến kết quả sau quá trình
tiếp thu và phản hồi kiến thức đó Điểm hạn chế trong cả hai cách hiểu trên là
chưa chú trọng đến khả năng sử dụng những kiến thức đã có để biến đổi phù
hợp với tình huống, điều kiện mới Trí tuệ ở đây được xem xét ở góc độ: Khả
năng nhập – trả kiến thức Rõ ràng, với những yếu tố ưu việt của bộ não, con
người sẽ không đơn thuần sử dụng những kiến thức lĩnh hội được trong quá
trình sống một cách rập khuôn mà hoàn toàn biến đổi một cách linh hoạt
Trang 18“Đa số các nhà tâm lý học đều nhất trí rằng trí tuệ là quá trình tư duy
bậc cao bao gồm những thao tác như lập luận trìu tượng, khả năng giải quyết vấn đề, tự nhận thức, tương tác giữa tri thức với các quá trình tâm lý
và bối cảnh văn hóa”[15]
So với hai nhóm quan điểm đầu thì nhóm quan điểm thứ ba mang đến cách hiểu đúng đắn hơn Trí tuệ là quá trình tư duy bậc cao của não bộ, bao gồm tiếp nhận, sàng lọc và xử lý thông tin Trong đó nhấn mạnh đến yếu tố chủ động chọn lọc và kết hợp những tri thức đã có để giải quyết những tình huống phát sinh trong học tập và lao động Trí tuệ bao gồm cả yếu tố năng khiếu và kết quả của quá trình đào tạo được thể hiện trong nhiều môi trường khác nhau Nói cách khác, trí tuệ là hoạt động đặc thù của bộ não dùng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống
* Đo lường trí thông minh
Hầu hết các trắc nghiệm trí tuệ được thiết kế đều mang đặc tính thống
kê Chỉ số trí tuệ trung bình là 100; 50% số người trong dân số sẽ có điểm 100
và trên 100 Khoảng 68% số người tham gia trắc nghiệm có điểm trong
khoảng 85 đến 115
Binet và Simon đã xác định được 58 bộ trắc nghiệm đo trí thông minh
ở các độ tuổi khác nhau từ 3 đến 13 tuổi Các bài trắc nghiệm này cho phép
xác định tuổi trí tuệ của trẻ Theo đó, chỉ số thông minh (IQ) được xác định
như sau:
Sau khi được giới thiệu tại Mỹ, trắc nghiệm Binet được cải tiến tại Đại học Stanford và sau đó mang tên trắc nghiệm Stanford – Binet Trắc nghiệm
này được bổ sung và đổi mới 4 lần Thực tiễn tính toán tuổi trí thông minh
cho thấy điểm số IQ được tính toán trên cơ sở tuổi trí tuệ không còn ý nghĩa
nữa khi trẻ lớn lên Độ lệch của IQ là con số cho biết cá nhân có chỉ số trí tuệ
Trang 19cao hơn hay thấp hơn bao nhiêu so với chỉ số IQ của những người cùng nhóm
tuổi
Như vậy, bộ đánh giá trí thông minh Stanford – Binet chỉ có giá trị tại thời điểm đánh giá Vì thực chất, trí thông minh có thể thay đổi trong cuộc đời
con người, nhất là trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tuổi Những biến đổi của
trí thông minh là hệ quả của sự tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường
Điểm trắc nghiệm trí tuệ cho biết dự báo về thành công song câu hỏi đặt ra là: Những người có điểm trí tuệ trắc nghiệm cao có thành công hơn
những người có điểm trắc nghiệm trí tuệ thấp hơn hay không? Chúng ta chưa
có đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn câu trả lời Tuy nhiên, một điều rõ ràng
là những người có điểm trắc nghiệm trí tuệ cao hơn có số năm đi học nhiều
hơn và có vị thế xã hội cao hơn Điều đó có thể cho thấy rằng: Môi trường
giáo dục có tác động quan trọng trong việc nâng cao trí thông minh của mỗi
cá nhân trong xã hội
Bên cạnh chỉ số thông minh IQ, giới tâm lý học còn đưa ra một số chỉ
số khác như: Thông minh cảm xúc (EQ), Chỉ số vượt khó (AQ), chỉ số đam
mê (PQ), Thông minh xã hội (SQ) và thông minh sáng tạo (SQ)
Vậy theo quan điểm của lý thuyết đa thông minh, liệu có một công cụ khoa học và tin cậy để đánh giá các thang bậc hoặc chỉ số của 8 loại hình trí
thông minh do Howard Gardner đưa ra không? Câu trả lời tới nay là không
Về đánh giá các dạng năng lực trí thông minh ở HS, theo Thomas Armstrong,
chẳng có một đại trắc nghiệm nào để lập một bảng thống kê đầy đủ về các
dạng trí tuệ HS Theo ông, công cụ tốt nhất để đánh giá các trí tuệ ở HS có lẽ
là kĩ năng quan sát đơn thuần dựa theo sự mô tả 8 dạng trí tuệ lúc các em học
và chơi Còn theo TS Trần Đình Châu, bên cạnh việc quan sát và trắc nghiệm
HS thì cần tham khảo thêm các thông tin từ bảng điểm các năm trước của HS
để biết các em có thiên hướng học tốt các môn nào, thông tin từ GV dạy các
lớp trước, từ GV DH các bộ môn khác, từ cha mẹ HS, từ các HS cùng
lớp [5]
Trang 20Quan điểm của Thomas Armstrong và TS Trần Đình Châu là những gợi ý quan trọng để tham khảo và đề xuất một số công cụ đánh giá các năng
lực trí thông minh của HS Tất nhiên, mọi thước đo chỉ có tính tương đối song
không thể phủ nhận rằng: Đánh giá trí thông minh của HS thông qua bài khảo
sát hoặc bài kiểm tra là công cụ có nhiều ưu điểm, đặc biệt với đối tượng khảo
sát đông và tiêu chí khảo sát nhiều như lượng HS của một lớp Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, tác giả đề xuất việc đánh giá các loại hình trí thông
minh của HS bằng 3 công cụ chính là: Trao đổi với GV bộ môn, quan sát lớp
học và phiếu khảo sát trí thông minh của HS
1.1.2 Giới thiệu lý thuyết đa thông minh
1.1.2.1 Đôi nét về Howard Gardner
Howard Gardner sinh ngày 11 tháng 7 năm 1943 ở Scranton, Pennsylvania Cha mẹ ông đã chuyển từ Nurnberg Đức đến Mỹ năm 1938 với
đứa con 3 tuổi, Eric Ngay trước khi Howard Gardner ra đời, Eric đã thiệt
mạng trong một tai nạn trượt tuyết Hai sự kiện này có ảnh hưởng rất lớn đến
suy nghĩ và sự phát triển của ông Ông không được tham gia nhiều hoạt động
thể chất nguy hiểm nhưng lại được khuyến khích theo đuổi các ý tưởng sáng
tạo và tri thức Khi Howard Gardner bắt đầu phát hiện ra LS bí mật của gia
đình (và nguồn gốc Do Thái), ông bắt đầu nhận thức rằng ông khác với cha
mẹ và các bạn đồng trang lứa
Sau khi tốt nghiệp trung học, ông lấy bằng đại học và tiếp đó là tiến sĩ năm 1971 tại đại học danh tiếng Harvard Ban đầu, ông dự định sẽ học luật
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của nhà phân tâm học nổi tiếng Erik Erikson, ông
bắt đầu chuyển sang nghiên cứu về trí thông minh của con người
1.1.2.2 Sự ra đời của lý thuyết đa thông minh
Sau một quá trình nghiên cứu với hai nhóm đối tượng: Nhóm trẻ em bình thường, có năng khiếu và nhóm người lớn nhưng có vấn đề về trí não,
Howard Gardner đã có những cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra những kết
quả nghiên cứu của mình Năm 1983: Lý thuyết đa thông minh được công bố
Trang 21Mặc dù không được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng khoa học nhưng
thuyết đa thông minh của Howard Gardner được các nhà giáo dục ủng hộ bởi
quan điểm của ông giúp mở rộng tư duy nhà giáo về năng lực và phạm vi DH
Gardner đã phân tích 8 cá nhân có đóng góp lớn trong thế kỉ XX, mỗi người nằm trong một nhóm trí thông minh: Thomas Eliot (Ngôn ngữ), Albert
Einstein (Logic – Toán học), Igor Stravinsky (Âm nhạc), Martha Graham
(Vận động), Pablo Picasso (Không gian), Mohamas Gandhi (Giao tiếp),
Sigmund Freud (Nội tâm) và Charles Darwin (Tự nhiên) để có thêm cơ sở
thực tiễn phục vụ nghiên cứu của mình
Theo Gardner, trí tuệ không phải là một tổ hợp đơn nhất mà là tập hợp
8 trí thông minh kể trên Như vậy, với cách lý giải này, mỗi người có thể
thông minh theo nhiều cách và không giới hạn cách thức sáng tạo Cùng với
đó, quan niệm về trí thông minh cũng có sự thay đổi lớn: Từ đơn trí tuệ (IQ)
sang đa trí tuệ (Multiple Intelligences)
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của lý thuyết đa thông minh
Howard Gardner định nghĩa trí thông minh là “khả năng giải quyết các
vấn đề hoặc đưa ra những sản phẩm mới có giá trị trong một hay nhiều nền
văn hóa khác nhau (Gardner & Hatch,1989) Theo ông, trí thông minh là tiềm
năng sinh học và tâm lý, tiềm năng đó có thể được hiện thực hóa ở những
mức độ khác nhau, được xem là kết quả của các yếu tố kinh nghiệm, văn hóa
và động cơ có tác động tới con người
Cách lý giải của Howard Gardner cho thấy mối liên hệ sâu sắc giữa trí thông minh và sự sáng tạo, đó là việc sử dụng bộ não để giải quyết các vấn đề
mới trên cơ sở tri thức đã có, đó cũng là việc tạo ra các ý tưởng mới và cách
mạng “Gardner còn chỉ ra hai điểm đặc trưng trong hành vi của các nhà
sáng tạo: Một là, họ có rất nhiều năng lượng duy trì sức lực ở thời điểm đột
phá, hai là họ có khả năng từ bỏ rất nhiều điều thú vị của cuộc sống để đạt
được thành công trong sự nghiệp” [8]
Trang 22Lý thuyết đa thông minh chỉ ra 8 loại hình trí thông minh tồn tại với mức độ cao thấp khác nhau trong trí tuệ mỗi chúng ta, cụ thể:
- Trí thông minh Ngôn ngữ
được mục tiêu, dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin và thể hiện bản thân (giao tiếp, hùng biện, làm thơ…)
của từ, học ngữ pháp rất nhanh và áp dụng các kỹ năng ngôn ngữ thành thạo
phạm, luật sư, truyền thông…
- Trí thông minh Logic – Toán học
ưa thích các quan điểm dựa trên lý trí
nhìn nhận vấn đề theo bản chất và trình tự nguyên nhân, kết quả
quan đến khả năng tư duy xử lý những bài toán, những phương trình thường gặp trong bài trắc nghiệm
luận…
- Trí thông minh Âm nhạc
nhau với sự chính xác của giác quan; nhận dạng, tìm kiếm thông tin qua các loại tiếng động, âm thanh
- Trí thông minh Vận động
Trang 23 Khả năng sử dụng cơ thể hoặc một phần cơ thể một cách khéo léo, uyển chuyển để giải quyết vấn đề
hoàn hảo những cử động của mình, gồm cả cảm giác về tính toán thời gian và sự kết hợp tâm trí – cơ thể
- Trí thông minh Không gian
bằng không gian trực quan
dàng
hiểm, kiến trúc sư…
- Trí thông minh Giao tiếp xã hội (Tương tác)
nhận biết được sự độc đáo của mỗi người
cảm nhận và chia sẻ tâm trạng, tình cảm, mong muốn, ý định của những người khác Người sở hữu trí thông minh dạng này có khả năng thấu cảm tâm lý người khác
gây ảnh hưởng đến người khác
giáo dục,… thể hiện xu hướng hướng ngoại
- Trí thông minh Nội tâm
nhiều trạng thái tình cảm bên trong
Trang 24 Ham thích trầm tư suy nghĩ, tự định hướng cho cuộc đời mình
một mình hơn là làm việc với người khác
nghiên cứu…
- Trí thông minh Tự nhiên
trường; Tỏ ra nhạy cảm với những thay đổi của các hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh mình
thiên nhiên, tìm hiểu sinh vật; Thích cắm trại, làm vườn, leo núi, không hứng thú với những đề tài không gắn với môi trường
sinh học…
Từ việc nghiên cứu bước đầu, có thể nhận thấy: lý thuyết đa thông
minh hướng đến việc DH đa dạng Mỗi cá thể có thế mạnh ở một vài kiểu
trí thông minh và trong mỗi cá thể lại tồn tại các trí thông minh đa dạng Rất
khó để đưa ra một bộ trắc nghiệm hay một bài kiểm tra để có thể đánh giá
được chính xác và khách quan các trí thông minh của HS Và ngay cả có được
những đánh giá sơ bộ từ những công cụ đó thì GV cũng không thể đảm bảo
việc các chỉ số thông minh sẽ không thay đổi Vậy nên, những đánh giá bằng
phiếu trắc nghiệm chỉ được coi là nguồn tham khảo bước đầu để GV có được
đánh giá sơ bộ về những trí thông minh nổi trội của cả lớp và một số trí thông
minh nổi trội của từng em Trên cơ sở đó, GV chủ động thay đổi PP, hình
thức tổ chức DH để phát huy tối đa các năng lực trí tuệ của HS
Mỗi lớp là tập hợp của nhiều HS, tức là GV phải tác động vào nhiều đối tượng DH song GV cần chú ý đến từng cá thể để hướng tới DH phân hóa
“DH phân hóa là định hướng về nội dung và PPDH, trong đó GV tổ chức DH
tùy theo đối tượng nhằm đảm bảo yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm
Trang 25sinh lý, trình độ nhận thức, nhịp độ, hứng thú khác nhau và phong cách học
tập của người học Trên cơ sở đó để phát triển tiềm năng vốn có của mỗi HS”
[5] Rõ ràng, DH vận dụng lý thuyết đa thông minh và DH phân hóa có những
điểm tương đồng nhất định trong mục tiêu và cách thức thực hiện Đó là việc
hướng đến tính cá thể và đặc tính cá nhân trong DH
Một câu hỏi đặt ra là: Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DH nhằm hướng đến mục tiêu nào sau đây:
thông minh nổi bật
động để phát triển các trí thông minh yếu hơn (Điều hòa) Mục tiêu này hướng đến việc cân bằng các năng lực trí thông minh của HS để HS phát triển toàn diện và học tập dựa trên sự đa dạng của các loại trí thông minh
lọc được trí thông minh mạnh
Nhìn chung, quan điểm của Howard Gardner hướng đến việc DH dựa trên trí thông minh nổi trội của HS Vẫn là một vấn đề, một nội dung DH song
HS được tiếp cận bằng PP phát huy trí thông minh nổi bật của mình thì sẽ đạt
hiệu quả cao nhất Cách tiếp cận này được đánh giá là khá phù hợp và có cơ
sở khoa học để thực hiện Song trên thực tế, không phải là HS nào cũng có thế
mạnh ở một vài kiểu trí thông minh Đó là trường hợp các trí thông minh của
HS không có sự phân hóa rõ ràng Đối với trường hợp này, GV cần đưa ra
những PPDH để tạo điều kiện cho HS có cơ hội để phân hóa Một vấn đề nữa
là: Nếu GV chỉ tập trung phát huy các trí thông minh nổi trội thì các trí thông
minh còn lại sẽ tụt hậu hoặc bị hạn chế? Không hẳn vậy, vì trong một lớp học
thông thường, trí thông minh của HS rất đa dạng nên chắc chắn sẽ có những
HS không trùng trí thông minh nổi trội với cả lớp Bởi vậy, các HS vẫn có
điều kiện để cải thiện các trí thông minh yếu hơn của mình Việc tiến hành
Trang 26các hoạt động DH hướng đến phát huy các trí thông minh nổi bật và phát triển
các trí thông minh yếu hơn không có nghĩa là cào bằng, dàn đều mà mục đích
cuối cùng là tạo điều kiện để HS phát triển một cách toàn diện các loại hình
trí thông minh, không quá đề cao và cũng không bỏ qua các trí thông minh tự
những nhận thức mới mẻ về trí tuệ con người và kèm theo đó là những gợi ý
trong việc xây dựng các PPDH phù hợp nhằm phát huy tối đa năng lực sẵn có
của mỗi cá nhân đồng thời cải thiện, nâng cao các năng lực khác
Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DH nói chung, DHLS ở trường THPT nói riêng cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- Phù hợp đặc trưng môn học: LS nghiên cứu về quá khứ, là cái đã
qua nên rất khó kiểm chứng Điều này khiến HS khó hình dung và tiếp cận
quá khứ một cách dễ dàng Để HS có thể hòa nhập vào không gian LS của bài
học, GV cần sử dụng các phương tiện DH như tranh ảnh, phim tư liệu hay
lược đồ, sa bàn để tăng cường thị giác và trí thông minh hình ảnh - không
gian cho HS Ngoài ra, LS cũng mang tính kế thừa Bởi vậy, GV cũng cần có
biện pháp để tác động vào khả năng tư duy, lập luận của HS Bằng cách tìm ra
mối liên hệ giữa các nhân vật và sự kiện; giữa nội dung LS này với nội dung
LS khác Đó cũng là một sự lựa chọn để tăng cường trí thông minh logic của
HS Bên cạnh đó, những chuyến tham quan tới các di tích LS - văn hóa không
chỉ tạo điều kiện tốt để HS được trải nghiệm và chứng kiến những gì còn sót
lại của người xưa mà còn là cơ hội để các em được hòa mình vào không gian
tự nhiên cùng với những dấu vết của quá khứ Đó là cách để phát huy trí
thông minh tự nhiên của HS
Trang 27- Đảm bảo tính hệ thống: Việc vận dụng lý thuyết đa thông minh
trong DHLS ở trường PT đòi hỏi GV phải chuẩn bị kĩ lưỡng lộ trình và có
những điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện Hướng tới việc DH dựa
trên những trí thông minh nổi trội của HS và tìm cách phát hiện, phân hóa,
phát triển các trí thông minh chưa nổi trội trong quá trình DH thì GV phải
thực sự làm việc một cách nghiêm túc và đam mê với HS của mình GV cần
đảm bảo mối liên hệ và sự kế thừa trong mỗi thao tác thực hiện Và đương
nhiên, tất cả các thao tác trong quá trình thực hiện đều phải hướng đến mục
tiêu DH
- Phù hợp với đối tượng DH: Việc vận dụng lý thuyết đa thông minh
trong DH nói chung, trong DHLS nói riêng là một gợi ý hay để nâng cao chất
lượng DH Tuy nhiên, trong bối cảnh điều kiện DH của nền giáo dục Việt
Nam hiện nay thì việc áp dụng đại trà được coi là khó thực hiện Đối tượng
HS có khả năng cao vận dụng thành công lý thuyết đa thông minh sẽ là nhóm
HS thuộc các trường quốc tế, năng khiếu, trường chuyên và hệ thống trường
dân lập có cơ sở vật chất tốt Và ngay cả khi có điều kiện triển khai việc vận
dụng lý thuyết này thì GV cũng cần có sự tìm hiểu, điều tra bước đầu các
thông tin liên quan đến HS để đưa ra lộ trình và biện pháp thực hiện một cách
phù hợp
- Thống nhất về nguyên tắc nhưng linh hoạt, sáng tạo trong biện pháp thực hiện: Sự thống nhất về nguyên tắc đảm bảo tính đồng nhất và sự
hợp lý trong quá trình DH còn sự sáng tạo sẽ là yếu tố tạo điều kiện để quá
trình DH được thông suốt, mềm dẻo HS là những chủ thể rất đa dạng Các
em có trí tuệ, khả năng nhận thức, điều kiện gia đình, tính cách riêng Bên
cạnh đó là các yếu tố tâm sinh lý và những biến động trong cuộc sống hàng
ngày Điều này đòi hỏi GV phải có sự nhạy bén trong quan sát và có những
ứng xử sư phạm phù hợp
Trang 281.1.4 Quy trình vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học môn sử ở
trường THPT
Để phát triển một loại trí thông minh nào đó, ít nhất phải trải qua các bước sau đây: Một là phải loại bỏ những cản trở trên con đường phát triển
tiềm năng Hai là, phải làm quen với những PP nhằm thúc đẩy, hiện thực hóa
tiềm năng đã có: Chủ động tiếp cận hoặc làm việc với những người thầy giỏi,
tham gia các khóa học chuyên môn, đọc những cuốn sách chuyên ngành hay
theo đuổi những PP làm việc hiệu quả Bên cạnh đó là phải có sự cam kết cá
nhân để phát triển tài năng
Trên cơ sở tìm hiểu về lý thuyết đa thông minh của Howard Gardner, luận văn chỉ ra sơ đồ thể hiện quy trình vận dụng trong môn LS như sau:
1 Khảo sát trí thông minh của HS theo lý thuyết đa thông minh (xây dựng phiếu khảo sát, khảo sát HS)
Trên cơ sở nghiên cứu những biểu hiện của các loại hình trí thông minh theo quan điểm của Howard Gardner và tham khảo một số mẫu kiểm tra trắc
nghiệm, luận văn đề xuất việc xây dựng một phiếu khảo sát trí thông minh
của HS HS làm tập trung trên lớp trong khoảng thời gian cho phép là 20
phút
2 Tổng hợp kết quả khảo sát HS ( Lấy kết quả, xử lý số liệu, đánh giá bước đầu, phân loại trí thông minh thành các nhóm…)
Trang 29Việc tổng hợp kết quả trí thông minh HS được tiến hành ngay sau khi
có kết quả thu được từ phiếu khảo sát Dựa trên quy trình xử lý số liệu khoa học, GV có những số liệu sơ bộ về tình trạng phân hóa các loại hình trí thông minh của HS Đây là một trong những cơ sở dữ liệu quan trọng để đề xuất biện pháp vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS trong các bước kế tiếp Bên cạnh đó, GV cũng xây dựng phiếu trả kết quả cho từng HS (Phụ lục 4: Phiếu trả kết quả) để HS nắm bắt được thế mạnh trí thông minh của mình
3 Tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS đối với môn LS
Vì “HS là trung tâm của lớp học” nên mọi hoạt động DH của GV luôn phải xoay quanh HS Việc tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của HS đối với môn LS thường được tiến hành vào đầu năm học hoặc đầu kì học và được xác định trên cơ sở của những cuộc phỏng vấn, phiếu hỏi ngắn, hồ sơ môn học Nguyện vọng của HS cũng có thể có sự thay đổi ít nhiều nên GV cần chủ động cập nhật để kịp thời đáp ứng được yêu cầu của HS, tăng cường chất lượng DH và tạo không khí cởi mở, gần gũi trong mỗi tiết học, buổi học
4 Xây dựng kế hoạch bài dạy
- Xác định loại bài, vị trí, mục tiêu của bài học:
Đây là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng kế hoạch bài dạy Xác định đúng loại bài, vị trí và mục tiêu của bài học không chỉ giúp GV có định hướng rõ ràng, nhất quán trong suốt quy trình thực hiện mà còn là cơ sở để đánh giá cải tiến sau mỗi tiết dạy Cần gắn mục tiêu kiến thức, thái độ, kĩ năng của bài học với việc thúc đẩy sự phát triển của các loại hình trí thông minh Đặc biệt, việc xác định các kĩ năng như chọn lọc và khai thác tranh ảnh, cảm thụ âm nhạc hay vẽ sơ đồ tư duy, làm phim đều liên hệ trực tiếp đến việc củng cố và phát triển các trí thông minh hình ảnh/ không gian, logic, giao tiếp
- Xác định nội dung kiến thức cơ bản của bài:
Trang 30Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS sử ở trường PT cần chú
ý đến việc phân loại bài học thuộc LS chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa,
xã hội Bởi mỗi nội dung LS đều có đặc trưng riêng nên cách khai thác, tiếp cận cũng rất đặc thù
- Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo:
Đây là bước cần thiết để khẳng định chất lượng và sự sâu sắc trong nội dung bài dạy Tài liệu tham khảo là sách GV, sách chuyên khảo, các bài báo, tạp chí, bài phỏng vấn; tranh ảnh; các đoạn phim tư liệu, các phóng sự GV cũng hoàn toàn có thể sử dụng các phần mềm làm phim hay bảo tàng ảo để chủ động thiết kế các sản phẩm phục vụ việc DH GV hướng dẫn HS cách lựa chọn và thu thập các nguồn tài liệu tham khảo để nâng cao tính tích cực, chủ động của HS trong việc lĩnh hội kiến thức và phát triển các trí thông minh
- Lựa chọn hình thức tổ chức DH (trên lớp, HS tự học ở nhà), PP thích hợp với từng nội dung, từng phần của bài giảng (thuyết trình, vấn đáp, thảo
luận nhóm, xemina, tự nghiên cứu tài liệu…):
Việc lựa chọn hình thức tổ chức DH và PP DH quyết định rất lớn đến
sự thành công của tiết dạy Không gian lớp học, cách dạy có phù hợp thì nội dung kiến thức mới được truyền tải tự nhiên, lôi cuốn, thúc đẩy HS tham gia vào các hoạt động Cần chú ý: các hoạt động trong bài dạy vận dụng lý thuyết
đa thông minh cần phải được xây dựng dựa trên đặc trưng trí thông minh của lớp; tăng cường việc thúc đẩy việc phát triển các trí thông minh mạnh đồng thời điều chỉnh để cải thiện các trí thông minh yếu GV cần theo dõi sự chuyển biến của từng HS qua đánh giá sự hứng thú của các em đối với từng hoạt động mà GV chỉ định hoặc sự đăng kí của HS đối với những bài tập được lựa chọn hình thức thể hiện
- Chuẩn bị phương tiện hỗ trợ giảng dạy và việc học tập của HS (máy móc, thiết bị, sơ đồ, bản đồ, bảng thống kê…):
Trang 31Đối với các trường có cơ sở vật chất tốt thì việc chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ giảng dạy không phải là vấn đề khó khăn Tuy nhiên, không phải bài dạy nào GV cũng sử dụng tối đa các phương tiện DH mà cần có sự chọn lựa, điều chỉnh để phát huy tốt nhất hiệu quả của từng phương tiện và quan trọng hơn là tạo được sự hứng thú đối với HS trong mỗi tiết học GV cũng chủ động liên hệ với phòng đồ dùng DH để có được số liệu chính xác, cụ thể các tranh ảnh, bản đồ, sa bàn mà trường có để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng và tránh lãng phí
- Lựa chọn hình thức, PP kiểm tra, đánh giá mức độ đạt mục tiêu bài học:
DH hướng đến sự phát triển trí thông minh của HS nên đánh giá cũng cần phải có sự tương ứng và phối hợp nhịp nhàng PP đánh giá hết sức linh hoạt Không đơn thuần là các bài luận được thực hiện ở trên lớp, GV có thể đưa ra những nhiệm vụ cụ thể với yêu cầu mạch lạc cho HS hoàn thành cá nhân hoặc theo nhóm ở nhà GV tạo điều kiện để HS lựa chọn hình thức thể hiện để phát huy những năng lực nổi bật của các em Đồng thời, với những hoạt động nhóm như thế, các em cũng có cơ hội để hiểu và hợp tác với nhau tốt hơn Ở trên lớp, đề kiểm tra cũng cần được xây dựng đảm bảo mục tiêu kiến thức và có xây dựng ma trận đề, hình thức thể hiện đẹp mắt và có kết hợp linh hoạt nhiều mục tiêu kĩ năng
- Viết giáo án bài dạy
Viết giáo án bài dạy là việc tổng hợp toàn bộ quá trình từ khâu xác định loại bài, xây dựng mục tiêu cho đến lựa chọn PP, hình thức tổ chức DH, kiểm tra, đánh giá Giáo án bài dạy thể hiện ý tưởng và quy trình thực hiện của
GV Đối với giáo án vận dụng lý thuyết đa thông minh, điều đặc biệt quan trọng là GV cần phải thể hiện được toàn bộ quy trình DH nhằm hướng đến việc phát triển hoặc điều chỉnh trí thông minh nào của HS
5 Thu thập ý kiến phản hồi từ phía HS để có sự điều chỉnh phù hợp, liên lạc với GV chủ nhiệm và phụ huynh HS trong các trường hợp đặc biệt
Trang 32Cách nhanh nhất để nhận được thông tin phản hồi từ HS là sử dụng phiếu phản hồi và các bài kiểm tra ngắn Mực độ hài lòng của HS về nội dung,
PPDH, tác phong sư phạm, thái độ GV và khả năng nhận thức của các em là
những thông tin quan trọng để GV kịp thời điều chỉnh nhằm hướng đến những
giờ học thực sự chất lượng và đáp ứng được mục tiêu DH Việc liên lạc với
GV chủ nhiệm và phụ huynh HS là cần thiết đối với những HS đặc biệt Đó có
thể là những HS có những trí thông minh nổi trội so với các thành viên trong
lớp, HS có cá tính mạnh hay những HS tiếp thu chậm và vô vàn những trường
hợp bất ổn về tâm sinh lý Những trao đổi thường xuyên giữa nhà trường và
gia đình là quan trọng trong việc kịp thời phát huy hoặc uốn nắn, điều chỉnh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học lịch sử
ở trường THPT
Thân Nhân Trung - Một học giả uyên bác thời Lê sơ đã từng nói: “Hiền
tài là nguyên khí của quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên
cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp” Đào tạo, tuyển chọn và
sử dụng nhân tài từ lâu đã trở thành trách nhiệm mang tính chất sống còn đối
với sự phát triển của đất nước
Trang 33Cùng với đổi mới kiểm tra, đánh giá được coi là khâu đột phá thì việc triển khai các PPDH tích cực cũng đang được các nhà giáo dục và các thầy,
cô giáo hết sức quan tâm Với LS - bộ môn đang bị báo chí và dư luận xã hội
“mổ xẻ” bởi tình trạng trẻ em không thích học LS, không biết nhiều về LS
dân tộc càng đặt ra những vấn đề nhức nhối cho các nhà sư phạm
Vậy trên thực tế, lý thuyết đa thông minh đã được vận dụng như thế nào trong DH nói chung, trong môn LS nói riêng?
Nếu coi việc sử dụng các PPDH tích cực một cách linh hoạt nhằm nâng cao năng lực HS của HS là một chiến lược dài hạn của GV thì việc vận dụng
lý thuyết đa thông minh sẽ hỗ trợ và góp phần không nhỏ để thực hiện thành
công chiến lược đó Trên thực tế, có không ít GV đã tăng cường việc sử dụng
các PPDH tích cực như: dùng tranh ảnh, bản đồ, sa bàn; thiết kế và sử dụng
phiếu học tập; sử dụng sơ đồ tư duy hay DH tình huống để nâng cao chất
lượng bài dạy, đáp ứng được mục tiêu DH và giúp HS có hứng thú hơn Tuy
nhiên, ở các trường công lập, việc triển khai các PPDH tích cực chưa thật phổ
biến Một phần của hiện thực này là năng lực sư phạm và tài liệu DH còn hạn
chế, chưa đáp ứng được nhu cầu
Lý thuyết đa thông minh được công bố từ 1983, đến nay đã trên 30 năm song chưa thực sự có ảnh hưởng và chi phối nhiều đến PPDH của các thế hệ
GV Bởi chưa có một hội nghị hay lớp học nghiệp vụ nào trang bị bài bản nội
dung hay cách vận dụng lý thuyết này vào thực tế DH của GV trên phạm vi cả
nước
Bên cạnh hệ thống trường công lập, bán công, dân lập, tư thục chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và đào tạo thì sự tồn tại của các cơ sở giáo dục quốc
tế ở Việt Nam hiện nay cũng đáp ứng một cách nhanh chóng nhu cầu của một
bộ phận phụ huynh và các em HS, góp phần giải quyết áp lực trường lớp và
đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Cần khẳng định rằng: Các cơ sở giáo dục quốc tế ở Việt Nam hiện nay đều có những ưu thế lớn về cơ sở vật chất, chương trình DH và là những môi
Trang 34trường thuận lợi để phát huy tối đa cá tính, sở trường và đam mê của các em,
tạo hành trang để các em trở thành những công dân toàn cầu với những phẩm
chất, năng lực và khả năng thích nghi tốt Học tập trong môi trường quốc tế
ngay tại Việt Nam, các em cũng được chú trọng phát triển cái tôi mang bản
sắc Việt Nam, “hòa nhập mà không hòa tan trong môi trường giáo dục quốc
tế” Sự xuất hiện của các ngôi trường quốc tế và tư thục chất lượng cao ở Hà
Nội trong thời gian qua đã trở thành những điểm sáng trong giáo dục Việt
Nam Những HS Việt Nam bước ra trường quốc tế với một phong thái tự tin,
bản lĩnh và thực sự tài năng nữa
Nếu trường PT liên cấp Wellspring xây dựng một hệ thống chương trình đào tạo toàn diện với ba mặt: Tri thức – Trí tuệ, Nhân cách – Tâm hồn,
Năng lượng – Cảm xúc thì trường PT liên cấp Olympia cũng đang nỗ lực để
thực hiện sứ mệnh “mang đến cho HS những trải nghiệm hội nhập với việc
học tiếng Anh và các vấn đề toàn cầu trong khi vẫn gìn giữ các giá trị Việt
Nam bằng việc phát triển các kỹ năng cơ bản, thúc đẩy sự sáng tạo và khả
năng giải quyết vấn đề đồng thời chú trọng các nguyên tắc đạo đức, nhờ đó
HS sẽ sẵn sàng thích nghi, ứng biến và vượt mọi thử thách - chúng tôi chuẩn
bị cho HS sẵn sàng trong cuộc sống”
Lý thuyết đa thông minh của Howard Garner hướng đến việc DH dựa trên sự phát triển các loại hình trí thông minh tự nhiên của trẻ, nhấn mạnh yếu
tố cá biệt trong từng cá nhân để có được PP giáo dục phù hợp và hiệu quả
nhất Đó là sự đồng nhất lý tưởng giáo dục của các môi trường giáo dục chất
lượng cao và nhà tâm lý học sư phạm Garner
Bên cạnh các mô hình giáo dục quốc tế, một số trường mẫu giáo ở Việt Nam cũng đã bước đầu quan tâm nghiên cứu và đề xuất việc vận dụng lý
thuyết đa thông minh vào thực tế DH và kiểm tra đánh giá Trong đó có thể kể
đến: Trường mầm non cao cấp Bibi Home, trung tâm bé thông minh hay trung
tâm Gene Code (Phân tích vân tay)
Trang 35Bên cạnh các trung tâm giáo dục kể trên, việc đề xuất vận dụng thuyết
đa thông minh còn được đăng tải trên một số trang web hay diễn đàn có uy tín
như: Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam hay webtretho Đây cũng
được coi là kênh thông tin quan trọng, có khả năng lan tỏa sâu rộng trong
cộng đồng xã hội, tạo những luồng thông tin tốt để mọi người có được những
hiểu biết sâu rộng hơn về một lý thuyết có khả năng ứng dụng cao trong lĩnh
vực giáo dục như lý thuyết đa thông minh
Cùng với chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục thì việc đẩy mạnh DH phân hóa hay DH hướng đến sự phát triển năng lực của
HS cũng đem lại những tín hiệu khởi sắc Điều này chứng tỏ chủ trương của
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã bám sát yêu cầu thực tiễn, đã chú trọng phát
triển các năng lực đa dạng của HS chứ không đơn thuần là kiểm tra kiến thức
bằng bài viết Cùng với đó, việc dạy thêm, học thêm cũng đã được hạn chế,
tạo điều kiện cho HS phát triển một các cân đối, hài hòa giữa học tập và giải
trí
Căn cứ vào công văn số 1258/BGDĐT – GDTrH về việc không thi tuyển vào lớp 6, Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội yêu cầu tất cả các trường
THCS trên địa bàn thành phố tuyển sinh vào lớp 6 theo phương thức xét
tuyển Theo đó, hiệu trưởng trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam đã
mạnh dạn đề xuất cách thức tuyển sinh vào trường dựa trên Lý thuyết đa
thông minh, cụ thể là: “Mỗi HS sẽ phải thể hiện năng lực của mình trên bài
test trong vòng 45 phút dưới dạng viết, sẽ phát hiện các mặt trí tuệ năng lực
sau: ngôn ngữ, không gian hình ảnh; logic, sáng tạo; cơ thể và tri giác vận
động, nội tâm bao gồm cả hành vi và thái độ cá nhân, giao tiếp, âm nhạc”
Đề xuất của nhà trường bước đầu đã được đông đảo dư luận quan tâm
Song nhận thấy Lý thuyết đa thông minh vẫn còn khá mới mẻ với nhận thức
của các bậc phụ huynh và các em HS, hơn thế nữa: Đây lại là năm đầu tiên tổ
chức xét tuyển vào lớp 6 ở Hà Nội nên ngày 5 tháng 6 năm 2015, được sự phê
duyệt của Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội, Trường THPT Chuyên
Trang 36Hà Nội Amsterdam đã chính thức đưa ra phương án tuyển sinh đối với học
sinh lớp 6 Theo đó, tổng điểm xét tuyển sẽ dựa trên kết quả học tập của 5
năm tiểu học cùng với các chế độ ưu tiên, khuyến khích cộng điểm khác
Trên thực tế, lý thuyết đa thông minh chưa được sử dụng để xây dựng cách thức tuyển sinh vào lớp 6 trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam
song với uy tín của nhà trường thì việc Hiệu trưởng từng đề xuất phương án
tuyển sinh trên cơ sở ứng dụng Lý thuyết này đã mang đến những ảnh hưởng
nhất định trong dư luận xã hội, đặc biệt từ phía các nhà giáo dục, các bậc phụ
huynh và các em HS
Trên cơ sở tổng quan thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở một số trường PT, ta có thể nhận thấy rằng: Phần lớn các
trường quốc tế, tư thục có nhiều yếu tố thuận lợi trong việc giáo dục HS, ít
nhiều có sự tương đồng với những triết lý giáo dục được đưa ra trong lý
thuyết đa thông minh Sự tương đồng đó là: Xây dựng chương trình, PPDH có
sự quan tâm đến tính cá thể và sự phân hóa, phát triển cả ba mặt trí tuệ - nhân
cách và thể chất
Điều kiện để một môi trường giáo dục có thể vận dụng lý thuyết đa thông minh không phải dễ thực hiện Với những lớp học lên tới 45 - 55 HS
của hệ thống trường công lập ở Việt Nam thì thực sự rất khó để có thể ứng
dụng triển khai việc vận dụng lý thuyết này Bên cạnh đó là chương trình học
thiên về nội dung kiến thức, PPDH chưa có sự đổi mới đồng bộ, cơ sở vật
chất thiếu thốn, thu nhập GV thấp luôn là rào cản lớn trong việc vận dụng
các PPDH tích cực
Chính bởi vậy, việc vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường PT, trước hết sẽ phù hợp với điều kiện của các trường quốc tế, tư thục
và hệ thống trường chuyên, trường năng khiếu Một khi hiệu quả của PPDH
trên cơ sở vận dụng Lý thuyết đa thông minh được kiểm chứng và được đông
đảo giới chuyên môn cũng như dư luận công nhận thì tính ứng dụng của lý
thuyết đa thông minh sẽ có bước tiến nhanh chóng hơn
Trang 371.2.2 Thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thông liên cấp Olympia
1.2.2.1 Giới thiệu về trường phổ thông liên cấp Olympia
Trường PT liên cấp Olympia được thành lập năm 2010, là sự kế thừa và phát triển của hệ thống giáo dục Dream house Là trường quốc tế nên
Olympia cũng mang những đặc điểm tương đồng trong hệ thống các trường
quốc tế trong phạm vi cả nước như:
- Trường được giám định bởi những tổ chức giám định uy tín trên thế giới
- Đội ngũ giáo viên bản ngữ hoặc đa quốc tịch hoặc có trình độ được công nhận ở phạm vi quốc tế
- Hiệu trưởng phải là người bản ngữ hoặc là một công dân quốc tế từ một đất nước có nền giáo dục phát triển, được công nhận với các bằng cấp bởi các
tổ chức quốc tế uy tín trên thế giới
- HS có nhiều quốc tịch khác nhau
- Ngôn ngữ giáo dục là ngôn ngữ quốc tế, phổ biến là tiếng Anh, tiếng Pháp
- Chương trình đào tạo được công nhận quốc tế Ví dụ như chương trình
AP, IB, Alevel được công nhận ở các nước Mỹ, Australia, Canada
- Cơ sở vật chất phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế
- Chủ đầu tư có uy tín về đầu tư giáo dục và có định hướng rõ ràng dài lâu trong sự phát triển giáo dục
- Bằng cấp có giá trị quốc tế
Trên thực tế, các tiêu chí của một trường quốc tế đều được Olympia đặc biệt coi trọng:
Về chương trình đào tạo: đối với bậc THPT, ngoài chương trình cơ
bản (gồm các bộ môn tương đương với chương trình của Bộ Giáo dục và Đào
tạo thì HS còn được trải nghiệm các môn học trong chương trình sáng tạo
Trang 38như: Nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, kỹ năng sống, khoa học vui, công nghệ
thông tin và truyền thông HS được học song song GV người nước ngoài và
GV người Việt
Về cơ sở vật chất: Trường được xây dựng trong khuôn viên với tổng
được thiết kế bởi hai nhà tư vấn thiết kế trường học hàng đầu là Perkins
Eastman (Mỹ) và Archipel (Pháp) đảm bảo cho HS khuôn viên học tập hàng
đầu Với hệ thống cơ sở vật chất đẳng cấp và tiện nghi, Olympia có thể phát
huy tối đa thế mạnh của mình trong việc đẩy mạnh sử dụng công nghệ thông
tin và luôn cập nhật các PP học mới lạ, hiệu quả
Đến với Olympia là đến với môi trường học tập khang trang đẳng cấp thế giới với hệ thống phòng học, phòng chuyên môn đặc biệt (Phòng thanh
nhạc, phòng thí nghiệm, phòng tập thể hình, phòng thể thao đa năng, phòng
thực hành tiếng…) được trang bị các trang thiết bị hiện đại, thư viện, nhà ăn,
Về đội ngũ giáo viên: Nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên chất lượng
cao, có phong cách làm việc chuyên nghiệp và phù hợp với định hướng phát
triển của nhà trường thì trong những năm qua, quy trình tuyển dụng GV luôn
được phòng nhân sự và các tổ chuyên môn của nhà trường thực hiện một cách
bài bản, chặt chẽ nhằm tuyển dụng được đội ngũ nhân sự phù hợp nhất
Bên cạnh những yếu tố đảm bảo tiêu chí của một trường quốc tế nói chung thì Olympia còn có những thế mạnh riêng của mình, cụ thể như sau:
Olympia là trường Việt Nam đầu tiên ở Hà Nội đào tạo theo chuẩn giáo dục Hoa Kỳ với 3 cấp học: Tiểu học, THCS và THPT Hướng tới mục tiêu
giúp HS “Sẵn sàng cho cuộc sống”, chương trình đào tạo của Olympia thực
sự khác biệt khi mang lại cho HS các giá trị “Nhân cách, tri thức, kỹ năng và
cơ hội” Bên cạnh đó, khi học tập tại Olympia, HS sẽ được hưởng thêm nhiều
yếu tố khác biệt như các chương trình phát triển tài năng nghệ thuật và thể
Trang 39thao đa dạng, các chương trình giáo dục giới tính và chăm sóc bản thân được
chú trọng đào tạo như môn học chính khóa
Triết lý giáo dục của nhà trường được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học của thuyết đa thông minh Triết lý này được coi là kim chỉ nam, quyết
định mô hình, cách thức quản lý cũng như PP giáo dục của nhà trường Với
hệ thống cơ sở vật chất đẳng cấp và tiện nghi, Olympia có thể phát huy tối đa
thế mạnh của mình trong việc đẩy mạnh sử dụng công nghệ thông tin và luôn
cập nhật các PP học mới lạ, hiệu quả
Bên cạnh những giờ học nội khóa, nhà trường còn tạo điều kiện để mỗi
HS có thể tham gia các câu lạc bộ và hoạt động ngoại khóa, giao lưu, trại
hè… nhằm tạo ra những sân chơi bổ ích, tăng cường giao tiếp và định hình
dần phong cách làm việc cho mỗi cá nhân Các chương trình hè “Super
summer”, câu lạc bộ “Thế giới kì thú”, Cuộc thi vẽ tranh B Designer hay
Olympia Star đều trở thành các sân chơi, các diễn đàn để HS có thể phát huy
tích cực sở thích, năng khiếu của mình Đó thực sự là môi trường thuận lợi để
phát hiện, ươm mầm và phát huy các loại hình trí thông minh của trẻ Đến
lượt mình, sự phát triển của các loại hình trí thông minh đó sẽ thúc đẩy hoạt
động học hiệu quả
1.2.2.2 Mục đích, nội dung, đối tượng khảo sát
Để có được những số liệu tin cậy, phản ánh khách quan thực trạng vận dụng lý thuyết đa thông minh của trường PT liên cấp Olympia, việc khảo sát
cần được tiến hành một cách khoa học Trên cơ sở những thông tin thu thập
được từ việc trao đổi với GV và phiếu khảo sát HS, người viết tiến hành xử lý
số liệu Từ đó có được những dữ liệu cụ thể để đề xuất quy trình vận dụng lý
thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường PT liên cấp Olympia
* Đối với GV:
PT liên cấp Olympia có số lượng HS khiêm tốn hơn rất nhiều so với các trường PT công lập khác Tỉ lệ thuận với điều này nên số lượng cán bộ quản
Trang 40lý, GV còn hạn chế Số GV LS của nhà trường là 3 và có trách nhiệm giảng dạy LS cho cả 3 cấp học
dụng phiếu khảo sát để lấy thông tin GV thì sẽ thực hiện những cuộc trao đổi ngắn với các GV môn LS nhằm tìm hiểu quan niệm của các thầy (cô) về lý thuyết đa thông minh cũng như thực tế việc triển khai áp dụng các PPDH tích cực Trên cơ sở đó, người viết có thể đánh giá bước đầu thuận lợi cũng như khó khăn của GV khi triển khai việc vận dụng lý thuyết này trong DHLS ở trường PT
Nội dung trao đổi tập trung vào các vấn đề sau:
- Quan niệm của GV về lý thuyết đa thông minh và sự cần thiết của việc vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường PT
- Mức độ thường xuyên của GV trong việc vận dụng các PPDH tích cực
- Nhận định của GV về mức độ hứng thú của HS khi triển khai các PPDH tích cực đó
- Đánh giá của GV về mức độ khả thi cũng như hiệu quả sử dụng của việc vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường PT
- Đề xuất của GV trong quá trình vận dụng lý thuyết đa thông minh trong DHLS ở trường PT
* Đối với HS:
Phiếu khảo sát được xây dựng nhằm:
- Tìm ra loại hình trí thông minh cao nhất của mỗi HS và các loại hình trí thông minh cao nhất của cả lớp
- Chọn ra các HS có trí thông minh trội hơn các bạn còn lại hoặc những
HS chưa có sự phân hóa trí thông minh rõ ràng nhằm tiến tới DH phân hóa
Với mục tiêu trên, phiếu khảo sát thể hiện hai nội dung chính sau:
- Xác định các thói quen, sở thích của HS thuộc các loại hình trí thông minh cụ thể nào