1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương Pháp Dạy Học, Hóa Học, Năng Lực Tự Học, Lớp 10.Pdf

129 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hóa học lớp 10 trung học phổ thông
Tác giả Đỗ Thị Ánh Tuyết
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Văn Nhiêu
Trường học Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THỊ ÁNH TUYẾT PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN T[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐỖ THỊ ÁNH TUYẾT

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN HÓA HỌC)

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Nhiêu

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài: “Phát triển năng lực tự học của học sinh

thông qua sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hoá học lớp 10 Trung học phổ

rộng và làm sâu sắc kiến thức chuyên môn, đã chuyển những hiểu biết hiện đại của

nhân loại về Giáo dục học Hóa học đến cho chúng tôi

Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Nhiêu, thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướng

sáng suốt giúp tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô ở các trường THPT Phú Xuyên B, THPT Phú Xuyên A cũng như quý thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp của

nhiều trường THPT trong và ngoài địa bàn TP Hà Nội đã có nhiều giúp đỡ trong quá

trình thực nghiệm sư phạm đề tài

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả hoàn thành luận văn này

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTHH Bài tập hóa học

CT CTHH

Công thức Công thức hoá học

Dd (hoặc dd) Dung dịch DHHH Dạy học Hóa học

ĐC / TN Đối chứng / Thực nghiệm

GV Giáo viên

HS Học sinh HTBT Hệ thống bài tập NXB Nhà xuất bản NXBGD

PP

Nhà xuất bản giáo dục Phương pháp

PPDH Phương pháp dạy học PTHH

SBT

Phương trình hoá học Sách bài tập

SGK Sách giáo khoa TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thong TNKQ Trắc nghiệm khách quan TNSP Thực nghiệm sư phạm TNTL Trắc nghiệm tự luận

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HOÁ HỌC 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới 5

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 6

1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học 7

1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ khoa học, tiến sĩ khoa học 7

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 8

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 8

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 9

1.3 Năng lực tự học 10

1.3.1 Khái niệm năng lực 10

1.3.3 Các hình thức của tự học 11

1.3.4 Chu trình tự học 12

1.3.5 Vai trò của tự học 15

1.4 Bài tập hóa học 16

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học 16

1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học 17

1.4.2.1 Ý nghĩa trí dục 17

1.4.2.2 Ý nghĩa phát triển 18

1.4.3 Phân loại bài tập hóa học 18

1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học 19

1.4.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học 19

1.4.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học[22] 20

1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học 21

1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở trường Trung học Phổ thông 22

1.5.1 Mục đích điều tra 22

1.5.1.1 Đối với học sinh: 22

1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra 22

Trang 6

1.5.3 Kết quả điều tra 23

Tiểu kết chương 1 25

CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG… 26

2.1 Phân tích chương trình hóa học 10 Trung học phổ thông phần phi kim 26

2.1.1 Mục tiêu chương trình phần phi kim 26

2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần phi kim Hoá học 10 (Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội) 27

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 27

2.2.1 Đảm bảo tính khoa học 27

2.2.2 Đảm bảo tính logic 28

2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 28

2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 28

2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 28

2.2.6 Phù hợp với điều kiện thực tế 28

2.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 28

2.2.8 Đảm bảo tính mục tiêu, bám sát nội dung dạy học 29

2.2.9 Chú trọng kiến thức trọng tâm 29

2.2.10 Gây hứng thú cho người học 29

2.4 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim hỗ trợ tự học cho học sinh lớp 10 31

2.4.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phi kim 31

2.4.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng chương phần phi kim 39

2.4.2.1 Nhóm Halogen 39

2.5 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần phi kim 62

2.5.1 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học trên lớp 62

2.5.2 Hướng dẫn học sinh tự học và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ở nhà 66

2.6 Thiết kế một số giáo án có sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học 69

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 73

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 73

3.3 Tiến trình thực nghiệm 74

Trang 7

3.3.1 Trao đổi với giáo viên về việc hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập và

phương pháp tiến hành thực nghiệm 74

3.3.2 Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định tính và định lượng 74

3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 75

3.5 Kết quả thực nghiệm 76

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 76

3.5.2.2 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 83

3.5.2.3 Thông qua kết quả bài kiểm tra 86

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

1 Kết luận chung 88

2 Một số đề xuất 88

3 Hướng phát triển của đề tài 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 94

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC HÌNH

Bảng 3.1: Kết quả (tần số) các bài kiểm tra 76

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp kết quả (tần số) các bài kiểm tra 77

Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất lũy tích qua các bài kiểm tra 77

Bảng 3.4: Phân loại kết quả học tập của HS qua các bài kiểm tra 79

Bảng 3.5: Giá trị các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 80

Bảng 3.6 Nhận xét của giáo viên về HTBT 81

Bảng 3.7 Thống kê số lượng phiếu nhận xét của học sinh 83

Bảng 3.8 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 84

Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 78

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 78

Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 3 79

Hình 3.4: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 1) 79

Hình 3.5: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 2) 80

Hình 3.6: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 3) 80

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cũng như trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là một trong những nhiệm vụ trọng

tâm của sự phát triển Mục tiêu của giáo dục nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

và nâng cao dân trí Công cuộc đổi mới đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người

tự chủ, năng động và sáng tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội Báo cáo chính trị đại hội

Đảng IX đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực

quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy

nguồn lực con người Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh và

bền vững Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương

pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn

hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Mục đích cuối cùng là để từng cá nhân, mỗi cá thể,

mỗi công dân tự mình có ý thức tạo được một cuộc cách mạng học tập trong bản thân

mỗi người

Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập thế giới Trong sự nghiệp đổi mới này thì đổi mới nền giáo dục vẫn là “quốc sách hàng đầu” Ngành giáo dục phải tạo ra

những con người lao động có trí thức, năng động và sáng tạo Theo mục 2 điều 5,

chương I của Luật giáo dục Việt Nam năm 2005 quy định “Phương pháp giáo dục

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi

dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý

chí vươn lên” Do vậy, cần thiết phải đổi mới nội dung chương trình và PPDH nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Thế kỉ XXI với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, lượng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng Việc tiếp thu kiến thức của HS nếu chỉ dựa vào các

tiết học trên lớp là chưa đủ Do vậy, phải dạy cho HS cách học để có thể giúp họ trở

thành những người có khả năng tự học suốt đời

Nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại – thời đại mà mỗi người phải học tập suốt

đời Để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biết

phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc

mục tiêu của giáo dục hiện đại.Hiện nay, nước ta đang tiến hành việc đổi mới giáo

dục trong đó đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực

nhận thức của HS và bồi dưỡng phương pháp học tập mà trọng tâm là tự học để họ tự

học suốt đời Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy, dạy

phương pháp tự học

Trang 10

Trong DHHH, việc nâng cao chất lượng dạy học và phát triển nhận thức, bồi dưỡng năng lực tự học cho HS có thể bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau,

trong đó giải bài tập được đánh giá là một PPDHcó hiệu quả, nhất là trong việc rèn

luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động,

phong phú và đặc biệt kích thích HS hứng thú tự học BTHH còn được coi là phương

tiện cơ bản để dạy học và vận dụng kiến thức hoá học để giải quyết các nhiệm vụ học

tập, các vấn đề thực tiễn đời sống sản xuất có liên quan đến hoá học

Giải BTHH là lúc HS hoạt động tự lực để củng cố và trau dồi kiến thức hóa học của mình BTHH cung cấp cho HS cả kiến thức, cả con đường để giành lấy

kiến thức, cả niềm vui của sự phát hiện ra kiến thức Do vậy, BTHH vừa là mục

đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp rèn luyện năng lực tự học hiệu

quả cho HS, đồng thời là thước đo đánh giá sự nắm vững kiến thức và kĩ năng

của HS

BTHH có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong DHHH Thông qua BTHH, tư duy của HS được đặc biệt chú trọng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang chủ

động, tích cực, sáng tạo, từ đó nâng cao chất lượng học tập của HS Khi bồi dưỡng

năng lực tự học cho HS ta không thể sử dụng những bài tập thông thường như khi

giảng dạy trên lớp mà cần phải có HTBT chất lượng, phân cấp, đa dạng nhằm phát

triển tư duy Học không chỉ để biết mà học còn để sáng tạo, học lấy cách học, học để

tra cứu kiến thức của nhân loại và phát minh ra kiến thức mới

Lớp 10 là lớp đầu cấpTHPT là bước ngoặt khi chuyển từ THCS lên THPT với lượng kiến thức nhiều, yêu cầu về nhiệm vụ học tập cao mà thời lượng trên lớp lại

không đổi Nếu HS không tự học thêm ở nhà thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong học tập

Môn Hóa học 10 cơ bản phần phi kim có nhiều mới lạ về kiến thức và đa dạng về bài

tập hơn so với Hoá học THCS.Do đó, ngoài việc tiếp thu kiến thức trên lớp thì về nhà

HS phải tự vận dụng kiến thức để làm bài tập Thông qua đó, HS có thể hiểu rõ, sâu

hơn về bài học

Để góp phần đổi mới phương pháp tự học cho HS, nhiệm vụ đặt ra cho GV là hết sức khó khăn Người GV phải có năng lực hướng dẫn HS tự học, biết thu thập và xử lý

thông tin để tự biến đổi mình Qua thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cận những

kiến thức mới của HS còn hạn chế, khả năng tự học của HS chưa tốt, cách học ở đa số

HS còn thụ động và phụ thuộc vào bài dạy trên lớp của GV Đa số GV chưa có phương

pháp hợp lý, đi theo lối mòn của nền giáo dục cũ, chưa có đổi mới cơ bản về phương

pháp dạy học HTBT phục vụ cho việc tự học, tự mở rộng kiến thức cho HS tuy đa

dạng nhưng chưa có hệ thống, chưa sát với nội dung chương trình

Xuất phát từ những nhu cầu và thực trạng trên chúng tôi chọn đề tài “Phát triển

năng lực tự học của học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hoá

Trang 11

học lớp 10 Trung học phổ thông” Với mong muốn tạo ra HTBT giúp HS lớp 10

THPT tự học, tự rènluyện kĩ năng giải bài tập trắc nghiệm và tự luận, thông qua đó

giúp HS đánh giá trình độ bản thân và phục vụ cho các kì thi Mặt khác, giúp GV bồi

dưỡng, rèn luyện tư duy hóa học và khả năng tự học cho HS ở trường THPT, đáp ứng

mục tiêu giáo dục và đổi mới PPDH hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng HTBTNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh với

mục đích giúp cho HS có tài liệu để có thể tự học và tự đánh giá trình độ của mình

đồng thời giúp GV có cơ sở hướng dẫn HS tự học để tiết kiệm thời gian trên lớp mà

vẫn khai thác được hết các khía cạnh lý thuyết và các dạng bài toán hoá học ở lớp 10

Ngoài ra, thực hiện đề tài này là cơ hội tốt giúp tác giả bồi dưỡng thêm kiến thức để đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực và rèn luyện năng lực tự

học cho HS

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- HTBT phần phi kim Hoá học 10 THPT phục vụ cho việc bồi dưỡng năng lực tự học của HS

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được HTBTNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh chất lượng tốt, phù

hợp với trình độ HS và được sử dụng linh hoạt, hợp lí thì GV sẽ thành công trong

việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS Qua đó sẽ hình thành thói quen tự học, làm

việc độc lập, chủ động tìm tòi lĩnh hội kiến thức của môn học

5 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp tự học

- Đánh giá thực trạng việc hướng dẫn tự học cho HS trong quá trình DHHH ở một số trường THPT hiện nay

- Nghiên cứu nội dung chương trình hoá học và tuyển chọn, xây dựng HTBT

haichươngNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự học cho HS

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng HTBT phát triển năng lực tự học cho HS

- Tiến hành TNSP để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của HTBT đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng phần cơ sở

lý luận của đề tài

Trang 12

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực trạng việc tự học và trình độ của HS lớp 10 trường THPT

- Tham khảo, sưu tầm và tuyển chọn bài tập trong SGK, sách tham khảo và đề kiểm tra, đề thi của HS lớp 10 Hoá học phần phi kim

- Thông qua TNSP đánh giá chất lượng HTBT biên soạn từ đó đưa ra HTBT chất lượng phù hợp để bồi dưỡng năng lưc tự học cho HS

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả TNSP

7 Đóng góp của đề tài

- Tuyển chọn và xây dựng được HTBThai chươngNhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh

lớp 10 hướng dẫn tự học phù hợp với quá trình nhận thức đa cấp độ của HS từ thấp

đến cao

- Phương hướng sử dụng bài tập nhằm rèn luyện tư duy hóa học, phát triển năng lực

tự học cho HS

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tự học và bài tập hoá học

Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực tự họccho học sinh phần phi kim Hoá học lớp 10 Trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ

BÀI TẬP HOÁ HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu[3], [7], [12], [18], [22], [26], [27], [28], [35], [38]

1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới

Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm ở nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử giáo dục trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm cho các nhà nghiên

cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định

mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của

mọi quá trình giáo dục, đào tạo

John Dewey (1859 - 1952) phát biểu "HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" Một loạt các PPDH theo quan điểm, tư tưởng này đã được sử

dụng: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác", "Phương pháp cá thể hoá"…

Nói chung đây là các phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng

nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV

là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học

T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế kỷ XX đã cho rằng "Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt

trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn HS

tự học"

“Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982

đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình

Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái gì

và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp

“Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng

dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi

Năm 2007, cuốn “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW Green Jr do Trần Vũ Thạch dịch đã được tái bản lần thứ 25 Với cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra cách kết

hợp phương pháp đọc một quyển sách, phương pháp làm bài kiểm tra, phương pháp

trở thành sinh viên giỏi hơn với nhau thành một hệ thống để trở thành sinh viên đạt

Trang 14

con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnhtụ

kiệt xuất của cách mạng Việt Nam – cả cuộc đời Người là tấm gương lớn về tự học

Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Sau

đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì

khi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có

trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng

minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học

là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục

Nghị quyết Trung ương 2 khóa III cũng nhấn mạnh: Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu cho HS nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự

đào tạo thường xuyên, rộng khắp toàn dân, nhất là trong thanh niên

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành

nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều

công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng “học bao

giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm

gương tự học thành tài”

Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học

 Trần Anh Tuấn có bài viết: “Vấn đề tự học của học sinh từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 năm

 PGS.TS Nguyễn Văn Bản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho học sinh”

đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009

Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như :

 “Biển học vô bờ” – GS.TSKH.Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các tác giả

đã đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn ở trường

THPT và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất ? ”

 Cuốn “Học và dạy cách học” do GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên,

Trang 15

NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam

viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”

 Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào cho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người học thấy

được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều loại khó khăn

trong quá trình tự học Hai cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới

phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học

Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học

1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học

Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có

tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng tự nhiên, năng lực

khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo

Theo GS.TS.Trịnh Văn Biều, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ

hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiều

kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học

Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện

nhân cách của con người

Để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unessco đề ra: Học để học cách học, học để làm, học để sáng tạo và học để chung sống với người khác thì người học phải tuân

theo công thức 4H: Học - Hỏi - Hiểu - Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc,

học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dung

theo như tinh thần GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “học và dạy cách

học” “Sáu mọi” quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này tận dụng cái kia và là tiền đề cho

cái kia Nói đến cái này thì trong đó lại thấp thoáng cái kia nên dễ có cảm tưởng “trùng

lặp” nhưng nếu chỉ bớt đi một cái thì lại thấy thiếu Mới nghe tưởng chừng như cách

học “sáu mọi” rất căng thẳng, rất nhồi nhét Thực tế, nó rất nhẹ nhàng giống như cách

học trong câu: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Người học chỉ cần có ý thức

“học” và phải kiên trì, bền bỉ Vì vậy, luyện dần cách học “sáu mọi” càng sớm càng tốt

và dù muộn vẫn hơn không

1.1.4 Một số luận văn thạc sĩ khoa học, tiến sĩ khoa học

Đã có một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khoa học, bước đầu nghiên cứu về

HTBT và vấn đề hỗ trợ HS tự học nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về HTBT hỗ

trợ HS tự học phần phi kim Hoá học 10

1 Trần Thị Thanh Hà (2009), Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun

nhằm nâng cao năng lực tự học cho HSG hóa lớp 12, Luận văn thạc sĩ giáo dục

Trang 16

học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh

2 Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học

cho HS giỏi hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh

3 Phạm Thùy Linh (2009), Thiết kế E-book hỗ trợ khả năng tự học của HS lớp 12

chương “Đại cương về kim loại” chương trình chuẩn, Luận văn thạc sĩ giáo dục

học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh

4 Đỗ Văn Minh (2007), Xây dựng HTBT hoá học vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong

bồi dưỡng HS giỏi ở trường THPT,Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐHSP Hà Nội

5 Trần Nhật Nam (2007), Xây dựng và lựa chọn HTBT hoá học về hợp chất hữu cơ

có nhóm chức lớp 11 THPT ban nâng cao nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội

6 Nguyễn Thị Lan Phương (2014), Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong

dạy học bài tập hoá học của “Chương 5 – Đại cương kim loại” chương trình hoá học 12 nâng cao, Luận văn thạc sĩ sư phạm Hoá học, ĐH Giáo dục – ĐHQGHN

7 Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kỹ năng giải BTHH ở trường phổ thông trung

học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội

8 Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng HTBT hoá học gắn với thực

tiễn dùng trong DHHH ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học,ĐHSP TP Hồ

Chí Minh

9 Tống Thanh Tùng (2009), Thiết kế E-book hóa học lớp 12 phần Crôm, sắt, đồng

nhằm hỗ trợ HS tự học, Luận văn thạc sĩ giáo dục học,ĐHSP TP Hồ Chí Minh

10 Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng HTBT hóa học nhằm rèn luyện tư duy trong việc

bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội

Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng HTBT hóa học phần Hóa học lớp 10 ở các trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức Do đó, xây

dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ việc tự học cho HS haichươngNhóm Halogen, Oxi –

Lưu Huỳnhhóa họclớp 10 là cần thiết

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học[4], [7], [11], [12], [13], [16], [17], [21], [30]

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – côngnghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn

khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh

chóng hơn Khoa học – côngnghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế -

xãhội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – côngnghệ, phát triển nguồn

nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng

cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai

sau Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên tạo nên

Trang 17

những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây

dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục Nhà

trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó

chặt chẽ với nghiên cứu khoa học – côngnghệ và ứng dụng.Nhà giáo thay vì chỉ

truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu nhận thông

tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ

được xem như là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển

Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, PPDH PPDH là

khâu rất quan trọng bởi lẽ PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao,

phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của

người học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới PPDH

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VII) đã xác định: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho

HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Định hướng này đã được pháp chế hoá trong Luật giáo dục điều 24.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của

HS; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học;

rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại

niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Nhưng cho đến nay sự đổi mới PPDH trong nhà

trường phổ thông theo định hướng này chưa được là bao, phổ biến vẫn là cách dạy

thông báo kiến thức sách vở và cách học thụ động.Vì vậy, đòi hỏi nhà trường phải

thay đổi nhiều nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học các môn học để có

những sản phẩm đào tạo với chất lượng ngày càng cao, cung cấp cho thị trường lao

động luôn biến đổi của xã hội phát triển

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

Một số xu hướng đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay:

1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng

tạo, tìm tòi, khám phá

2 Cá thể hóa việc dạy học

3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng

về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức

5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học

6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời

Trang 18

7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)

Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về PPDH hiện nay

1.3 Năng lực tự học [2], [3], [22], [26], [27], [28], [29], [35]

1.3.1 Khái niệm năng lực

Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng

Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa về tự học như sau:

- Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holec)

- Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)

- Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục (Phil Benson)

Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi

phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả

nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không

ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó

khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,

biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như

sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri

thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm

đạt được mục đích nhất định

Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem

phim, kịch, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia và những người hoạt

động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau Người tự học phải biết cách lựa chọn tài

liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải

biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách

Trang 19

tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,… Đối với HS, tự

học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm

thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập,

tự chủ, tự giác và kiên trì cao

Các mặt biểu hiện của năng lực tự học ở HS nói chung gồm có:

- Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá Như vậy năng lực tự học có thể được mô tả thông qua các điểm chính sau đây:

Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao

hơn nữa những khía cạnh còn yếu kém

Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; và hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập

khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn lọc các tài liệu và làm thư mục phù hợp

với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng

các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng khi cần thiết, tự đặt được

vấn đề học tập

Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận

dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế hoạch

điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập

Các thao tác hình thành năng lực tự học

1.3.3 Các hình thức của tự học

Tự học có 3 hình thức:

Trang 20

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận

dụng các kiến thức trong đó.Qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê

bình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn, ) Đó là tự

học ở mức cao

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc

bằng các phương tiện thông tin khác.Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy

trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình

chiếm lĩnh kiến thức

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết

trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Khách quan mà xét thì thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách 1 đến cách 3 Nhưng sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫn

nhau Theo cách 1 thì người học gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi gặp chỗ không

hiểu không biết hỏi ai, phải lúng túng loay hoay mất nhiều thì giờ Nhưng những lúng

túng, những loay hoay đó thật đáng quý xét về phương diện chúng đòi hỏi người học

phải phát huy nội lực cao và do đó nội lực phát triển mạnh Cách thứ 3 có nhiều thuận

lợi nhất nhưng thuận lợi đó có thể biến thành khó khăn nếu thầy không cảnh giác với

việc làm thay trò (những việc mà trò tự làm được) và trò không cảnh giác với việc ỷ

lại vào thầy (gặp khó khăn 1 chút là hỏi thầy ngay)

Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lực

chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục

đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS

chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp, bố trí các công việc

sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết

để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học

của chính mình

Như vậy, khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và

SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học

tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử, HS không dùng

SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học Tài liệu tự học có hướng

dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó

1.3.4 Chu trình tự học

Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết

vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự hỗ trợ

của môi trường sư phạm” Cũng theo tác giả, chu trình học diễn biến theo ba thời: Tự

Trang 21

nghiên cứu (I), Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III)

Hình 1.1 Chu trình học ba thời

Thời (I): Tự nghiên cứu

Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm

hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học: Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có

thể giải quyết theo hướng nào? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận

thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử

nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề Chủ thể ghi lại kết

quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu

Tất nhiên sản phẩm đó có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan,

khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với các

bạn và thầy trong cộng đồng lớp học Tự thể hiện, hợp tác với bạn, đó là thời (II)

của chu trình học

Thời (II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy

Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình huống, bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu Giờ đây, cần tiếp tục tự thể

hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của

mình, hỏi bạn và thầy về những gì đã tự hỏi mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của

mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận Tranh luận có trọng tài, có kết luận

của thầy Tranh luận và kết luận của thầy sẽ cho phép chủ thể bổ sung sản phẩm ban

đầu của mình thành một sản phẩm khách quan hơn, có tính hợp tác, xã hội, nhất là

thông qua việc “tự kiểm tra, tự điều chỉnh” ở thời (III) dưới đây

Thời (III): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Thảo luận ở cộng đồng lớp và kết luận của thầy đã cung cấp thông tin phản hồi

về sản phẩm học ban đầu của chủ thể, lấy đó làm cơ sở cho người học so sánh, đối

chiếu, tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình và cuối cùng tổng hợp,

chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học, và tự

Trang 22

rút kinh nghiệm về cách học, cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình, sẵn sàng

bước vào một tình huống học mới

Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy –

Tự kiểm tra, tự điều chỉnh” – thực chất cũng chính là con đường “Nhận biết, phát

hiện vấn đề, định hướng giải quyết và giải quyết vấn đề” của việc nghiên cứu khoa

học – con đường xoắn ơristic kiểu học trò ở tầm vóc và trình độ của người học, dẫn

dắt người học đến tri thức khoa học, đến chân lý mới (chỉ mới đối với người học) và

chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy

Ngay từ thời (I), thầy đã hướng dẫn người học cách tự nghiên cứu như giới

thiệu vấn đề (ý nghĩa, mục tiêu, định hướng), hướng dẫn cách thu nhận, xử lý thông

tin, cách giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để trò có thể tự nghiên

cứu, tự tìm ra kiến thức

Ở thời (II), thầy là người tổ chức cách học hợp tác hai chiều đối thoại trò – trò, trò –

thầy, như giúp đỡ cá nhân trình bày, bảo vệ sản phẩm học, tổ chức thảo luận ở cộng đồng

lớp học, lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Cuối cùng thầy là người trọng tài kết luận

về những gì người học đã tự tìm ra và tranh luận thành tri thức khoa học

Ở thời (III), thầy là người cố vấn cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh như cung

cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học (kết luận, đánh giá, cho điểm,…), giúp

đỡ trò tự đánh giá, tự sửa sai, tự rút kinh nghiệm về cách học

Chu trình học ba thời không có nghĩa tuyệt đối là có “ba bước”, “ba giai đoạn”, có

ranh giới rạch ròi, máy móc, tách rời nhau, mà có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau và có

thể biến động theo hoàn cảnh người học Ngay trong lúc đang tham gia thảo luận (thời

II), chủ thể có thể động não, suy nghĩ (tự nghiên cứu – thời I), hoặc tự kiểm tra, tự phê

bình về sản phẩm học của mình (thời III) Thời chỉ có nghĩa là vào lúc đó, nổi bật lên vai

trò của cá nhân người học, của lớp hay của thầy Thời nào cũng có vai trò và hoạt động

của trò và thầy, song ở thời (I), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) của người

học với kết quả là sản phẩm học ban đầu Thời (II) là vai trò của lao động hợp tác (học

hợp tác) với thầy và bạn ở lớp học, tạo ra sản phẩm học mang tính hợp tác – xã hội Ở

thời (III), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) ở trình độ cao hơn thời I: tự kiểm

tra, tự phê bình, tự sửa sai, tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm,…

Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành động học, tự

học, tự nghiên cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự

hướng dẫn hợp lý của nhà giáo

Ba thời cũng có thể xem như là ba cách học tổng quát: cách tự nghiên cứu, cách học hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Chu trình học ba thời bắt đầu từ “Tự nghiên cứu” dưới sự hướng dẫn của thầy, qua các thời “Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy” và “Tự kiểm tra, tự điều chỉnh”

Trang 23

rồi trở lại “Tự nghiên cứu” ở một tình huống học mới, ở trình độ cao hơn trình độ ban

đầu “một ít”, theo con đường xoắn ốc nhiều tầng từ tự học đến học hợp tác rồi trở lại

tự học để dần dần kiến tạo cho bản thân chủ thể trình độ và năng lực tự học, tự nghiên

cứu, năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

Tổng thể các chu trình học là “cuộc hành trình nội tại” phát triển bền vững ở mỗi người học năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời “để hiểu”, “để làm”, “để

hợp tác cùng chung sống” và “để làm người” lao động tự chủ, năng động và sáng tạo

của thế kỷ XXI

1.3.5 Vai trò của tự học

TheoGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau :

- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục : một thứ do người khác truyền cho, một thứ, quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy’- Gibbon

Chính vì vậy ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS

- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người

- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người

- Tự học khắc phục nghịch lí : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn

- Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng

Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn:

- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đường quan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn

- “Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy : “Không thầy đố mày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triển

khả năng tự học Tự học không chỉ là vấn đề trí dục mà còn là vấn đề đức dục và thể

dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mức

thấp nhất giá thành đào tạo

PGS.TS Hoàng Anh, PGS.TS Nguyễn Thị Châu đã nêu vai trò của tự học thành mấy điểm như sau:

- Tự học là phương thức tạo ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của người học

- Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác

sau này

Trang 24

- Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động

trong công việc

- Tự học còn giúp người học khắc phực được những nét tính cách không phù hợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tập thể HS trong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến

khích hướng dẫn HS tự học một cách đúng hướng và hiệu quả

Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng

động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội,

làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tự

học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp

tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu,

không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá

vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành

trang bước vào cuộc sống

Tóm lại tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không thể đạt

được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì

vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến

thức hỗn độn,… mà là giáo dục cho học trò PP nghiên cứu, PP suy nghĩ, PP học tập,

PP giải quyết vấn đề” (cố thủ tướng Phạm Văn Đồng – 1969) GV cần giúp cho HS

tìm ra phương pháp tự học thích hợp và cung cấp cho HS những phương tiện, tài liệu

tự học có hiệu quả chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chìa khoá vàng để

mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại

1.4 Bài tập hóa học [9], [10], [16], [17], [24], [25], [30], [31], [32], [33], [37], [39]

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học

Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là PPDH hiệu

quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui

của sự phát hiện –tìmra đáp số - mộttrạng thái hưng phấn - hứngthú nhận thức -một yếu

tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn

của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển

Vậy BTHH là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt là

GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiệu quả trí -đứcdục cao nhất?

Trang 25

Theo Từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài

liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng –

đólà những bài tập có tính toán – khiHS cần thực hiện những phép tính nhất định

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức

hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực

nghiệm Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo

quan điểm này

Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt

động Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 10 là một “bài tập” và ngược lại, đối

với HS lớp 10, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là “bài

tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó có

nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”

Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn

vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau

1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học

Việc dạy học không thể thiếu bài tập, sử dụng bài tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học BTHH có ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt

1.4.2.1 Ý nghĩa trí dục

BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu

khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính

mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận

định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo

chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”

BTHH làm chính xác hóa các khái niệm hóa học, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào việc

giải bài tập HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức

một cách tích cực nhất Khi ôn tập, HS sẽ không tập trung nếu chỉ yêu cầu HS nhắc lại kiến

thức cũ Điều đó cho thấy HS chỉ có hứng thú vào môn học khi được giải bài tập và mở

rộng kiến thức liên quan đến thực tế đời sống và sản xuất trong giờ ôn tập

BTHH rèn luyện các kỹ năng hóa học như cân bằng PTHH, tính toán theo CTHHvà PTHH Nếu là bài tập thực nghiệm (TN) sẽ rèn các kỹ năng thực hành góp

phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS

Trang 26

BTHH phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặc biệt, ngoài cách

giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông

thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất

– đó là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới

góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng nên gấp nhiều lần so với một HS

giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn

BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách

sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng

BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách

chính xác.Ngoài ra,BTHH còn rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường, rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn

ngữ hóa học và các thao tác tư duy

hoạch ), rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng,

ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện

rõ khi giải bài tập TN

Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả: không phải một BTHH“hay” thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu vào “ người sử dụng nó” Làm thế

nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của

bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH thật sự có ý nghĩa

1.4.3 Phân loại bài tập hóa học

Hiện nay có nhiều cách phân loại BTHH dựa trên cơ sở khác nhau:

- Dựa vào mức độ kiến thức:(cơ bản, nâng cao)

- Dựa vào tính chất bài tập:(định tính, định lượng)

- Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh:(lý thuyết, thực nghiệm)

- Dựa vào mục đích dạy học:(ôn tập, luyện tập, kiểm tra)

- Dựa vào cách tiến hành trả lời:(trắc nghiệm khách quan, tự luận)

- Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập:(lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất,

xác định cấu trúc )

Trang 27

- Dựa vào loại kiến thức trong chương trình:.(dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt

hoá học, phản ứng oxihoá - khử )

- Dựa vào đặc điểmbài tập:

+ Bài tập định tính: (giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp )

+ Bài tập định lượng:(có lượng dư, giải bằng trị số trung bình, giải bằng đồ thị )

Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, người ta phân loại để nhằm

phục vụ cho những mục đích nhất định

1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học

1.4.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học

Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau

a) Nghiên cứu đầu bài

+Đọc kỹ đầu bài

+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dễ

sử dụng)

+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản

+ Viết các PTHH có thể xảy ra

b) Xây dựng tiến trình luận giải

Xây dựng tiến trình luận giải thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có

chặt chẽ hay không là ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho

mình một tiến trình luận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập Thông qua đó

HS không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy

luận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác

c) Thực hiện tiến trình giải

Thực hiện tiến trình giải thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vào

mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương trình hay hệ phương

trình và biện luận kết quả (nếu cần)

d) Đánh giá việc giải

Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kết quả bằng cách khác không? Tối ưu hơn không? Tính đặc biệt của bài toán là gì? Trên

thực tế, ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lập luận của

mình một cách sáng sủa, cũng không được xem như việc giải đã kết thúc Như vậy,

chúng ta đã bỏ mất một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi Việc nhìn lại

cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thể củng cố kiến thức và

phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phải hiểu và làm cho HS hiểu:

không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn lại một cái gì để suy nghĩ

Trang 28

Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trong

mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn

1.4.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học[22]

- Kiến thức được hiểu là kết quả quá trình nhận thức bao gồm “một tập hợp nhiều

mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội được, giữ lại

trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi tương ứng”

- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹ

năng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của HS

- Theo M.A Đanilôp: “Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động lý thuyết cũng như

thực tiễn” Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kỹ năng chính

là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động mà những hợp thành của nó do luyện

tập mà trở thành tự động hoá Kỹ xảo là mức độ cao của sự nắm vững kỹ năng Nếu như kỹ

năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là hành động đã

được tự động hoá, trong đó sự tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được

thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng

- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận dụng được

+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu mà HS

cần đạt được trong giờ học tập

+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức là

nêu đúng nội hàm và ngoại diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và hệ

thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen

thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo

+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Thông

qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn càng làm

cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mối quan hệ

giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến

thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng, kỹ xảo được hình thành và

củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao

- Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức

tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó là

một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quá trình

học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ được nắm vững hoàn

Trang 29

toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyết các

bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận

dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:

1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học

BTHH là phương tiện có bản chất để HS vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập Nhờ sự vận dụng kiến thức để giải các bài tập mà kiến thức của

HS được củng cố, khắc sâu, chính xác hóa, mở rộng và nâng cao thêm Vì vậy BTHH

vừa là nội dung, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả giúp GV truyền tải kiến thức

đến HS và ngược lại, HS cũng thu nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng

tạo thông qua hoạt động giải bài tập

Thực tế hiện nay có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách giải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hoá học thì ít và không gắn với thực tế Khi giải các bài

tập này mất rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về hoá học lĩnh hội được từ bài

toán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hoá

học mà HS đã được học

Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay:

Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích gắn với kiến thức hóa học, không quá nặng về tính toán mà tập trung rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho

HS BTHH cần chú trọng rèn luyện thao tác, kỹ năng TN hóa học

BTHH cần chú trọng đến việc mở rộng kiến thức hóa học có liên quan đến thực tiễn

và các ứng dụng của hóa học trong đời sống, để giúp HS thấy được kiến thức hóa học mang

tính thiết thực với cuộc sống con người Trong bài tập cần khai thác yếu tố ảnh hưởng của

hóa học đến môi trường, kinh tế xã hội, đời sống sản xuất và các hiện tượng tự nhiên để làm

cho nội dung bài trở nên hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của bộ môn

Các BTHH định lượng được xây dựng không quá phức tạp về thuật toán và chú trọng đến hiện tượng, quá trình hóa học và các phép tính sử dụng các phương pháp

giải BTHH cơ bản

Chuyển hóa một số dạng BTHH tự luận sang dạng TNKQ để rèn luyện khả năng suy luận, tư duy tính toán nhanh cho HS Tuy nhiên, vẫn phải duy trì các BTHH

tự luận để kiểm tra khả năng tư duy và trình bày của HS, qua đó tìm ra HS giỏi, có

khả năng tư duy tốt qua việc tìm được những cách giải hay

Xây dựng thêm các BTHH về bảo vệ môi trường và đa dạng hoá bài tập như:

Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm

Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng mức độ, khả năng hoạt động tư duy của HS ở các phương diện: lí thuyết, thực hành, và ứng dụng Những BTHH có tính chất học

Trang 30

thuộc, tái hiện kiến thức trong các câu hỏi lí thuyết hoặc sử dụng những thuật toán phức tạp

sẽ giảm dần vì nó sẽ làm mất đi nét đặc thù của bộ môn hóa học cùng khả năng tư duy sáng

tạo, sự suy luận logic trên cơ sở lí thuyết và sự kiểm chứng bằng TN hóa học

Như vậy việc sử dụng BTHH trong DHHH sẽ được thực hiện:

Dùng bài tập hình thành khái niệm mới Xây dựng các dạng bài tập hình thành khái niệm (xây dựng trong phiếu học tập)

Dùng bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức: dùng bài tập giúp HS giải quyết vấn đề học tập, vấn đề thực tiễn

Dùng bài tập để phát triển tư duy sáng tạo: xây dựng các bài tập khó bồi dưỡng HS giỏi

1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở trường

Trung học Phổ thông

1.5.1 Mục đ ch điều tra

1.5.1.1 Đối với học sinh:

- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH

- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập

- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học

1.5.1.1 Đối với giáo viên:

- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV

- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hóa học

- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH

- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập

1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra

1.5.2.1 Đối tượng điều tra: Việc dạy và học các tiết có sử dụng bài tập ở các trường THPT

khác nhau ở huyện Phú Xuyên – TP Hà Nội:THPT Phú Xuyên B và THPT Phú Xuyên A

1.5.2.2 Phương pháp điều tra:

- Phát phiếu điều tra cho 18 GV dạy môn Hóa học ở các trường nói trên

+ Những ý kiến của GV về việc sử dụng HTBT ở trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học

+ Các PPDH được GV sử dụng khi dạy các tiết có sử dụng bài tập

- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 360 HS (8 lớp) ở các trường THPT :

Trang 31

THPT Phú Xuyên B và THPT Phú Xuyên A Số phiếu thu hồi được là 356 phiếu

1.5.3 Kết quả điều tra

Qua phân tích kết quả khảo sát ban đầu (phiếu khảo sát được trình bày ở phụ lục

1 của luận văn) về việc sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học, chúng tôi nhận thấy:

Đa số GV đều cho rằng việc sử dụng HTBT là rất quan trọng trong việc dạy và học hóa học Tuy nhiên, BTHH trong SGK và SBT vẫn chưa đầy đủ các dạng và bao quát

kiến thức của chương trình, vì vậy việc xây dựng HTBT hóa học cho HS nói chung và

HTBT hóa học hỗ trợ HS tự học nói riêng là hết sức cần thiết

Khó khăn lớn nhất của GV khi dạy BTHH là không đủ thời gian Do đó, số bài tập

mà GV phải dạy trong một tiết học khá nhiều kéo theo thời gian dành cho HS tự học rất

ít Một khó khăn không nhỏ là không có HTBT chất lượng hỗ trợ HS tự học

GV cho rằng việc xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học là rất cần thiết Theo các thầy cô, HTBT hỗ trợ tốt cho HS tự học là HTBT có phân dạng, xếp từ dễ đến khó, có

bài giải mẫu cho từng dạng, có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và củng cố kiến thức,

được soạn chi tiết theo từng bài học và có đáp số cho các bài tập tương tự

Có 67% GV không tự biên soạn HTBT mà chủ yếu sử dụng các bài tập trong SGK, SBT hoặc từ internet (không biên soạn lại) 33% GV tự biên soạn HTBT thì số

GV sắp xếp các bài tập theo từng nội dung kiến thức của chương hoặc phân dạng bài

tập là khá ít đặc biệt bài tập sau mỗi bài học để hỗ trợ HS tự học ở nhà và làm rõ lí

thuyết là hầu như không được chú ý biên soạn cho phù hợp với đối tượng HS

Về mục đích của việc sử dụng bài tập thì có 73% GV sử dụng với mục đích đảm bảo kiến thức cơ bản cho HS, 12% GV sử dụng với mục đích bảo đảm việc điểm

số trong kiểm tra cho HS.Việc sử dụng bài tập để hướng dẫn HS tự rút ra quy luật giải

toán, khuyến khích HS nhìn nhận một vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau hoặc

giúp HS vượt qua chướng ngại nhận thức thông qua việc phát hiện và giải quyết vấn

đề vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Về việc hướng dẫn HS giải bài tập tại lớp thì có 58% GV áp dụng phương pháp truyền thống là GV hướng dẫn bài tập mẫu, sau đó yêu cầu HS làm bài tương tự trên

bảng hoặc gọi HS lên bảng giải bài tập và thừa nhận bài giải của HS.Số GV cho HS

thảo luận theo nhóm rồi yêu cầu thành viên trong nhóm thuyết trình là 27% Việc GV

gợi ý để HS tự xây dựng tiến trình luận giải cho từng dạng bài tập cụ thể hoặc GV để

HS tự độc lập suy nghĩ cách giải bài tập là khá ít.Bên cạnh đó, GV thường dạy tiết

luyện tập, ôn tập, tự chọn giống như một tiết chữa bài tập.Thông thường, GV cho HS

chữa hết các bài tập trong SGK và làm thêm một vài bài tập nâng cao trong SBT hoặc chỉ

hệ thống hóa kiến thức đã học ở những bài trước theo kiểu kiểm tra bài cũ

Qua số liệu trên, cũng như qua trò chuyện với một số HS, số liệu thống kê qua các phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy, HS chưa được hướng dẫn các phương pháp tự

Trang 32

học thông qua HTBT GV chưa hướng dẫn HS cách thức xây dựng tiến trình luận

giải.Các em ít được khuyến khích hoặc hướng dẫn nhìn nhận một bài tập dưới nhiều góc

độ khác nhau.Đôi khi GV áp đặt phương pháp giải toán và đặc biệt là các em không được

hướng dẫn cách tự học ở nhà thông qua các chuyên đề tự học Khi lấy ý kiến của GV,

chúng tôi nhận thấy, công việc biên soạn và sử dụng HTBT theo hướng hỗ trợ HS tự học

chưa thực sự được GV quan tâm đúng mức Phần lớn GV cho rằng, do áp lực điểm số ở

nhà trường, việc thi cử, chương trình học nặng nề, thời gian không cho phép, điều kiện cơ

sở vật chất còn thiếu thốn,… nên việc sử dụng bài tập của GV hiện nay giống như một

cách để kiểm tra việc tiếp thu kiến thức lí thuyết, giúp HS giải một số bài tập cơ bản nhằm

đáp ứng cho việc kiểm tra, đánh giá, thi cử như hiện nay

Mức độ cần thiết của các biện pháp xây dựng HTBT hóa học hỗ trợ HS tự học xếp theo thứ tự giảm dần sau:

1 Phân dạng và xếp từ dễ đến khó

2 Có hướng dẫn giải cho từng dạng, có bài giải mẫu và có bài tập tổng hợp để

HS hệ thống và củng cố kiến thức

3 Có đáp số cho các bài tập tương tự

Số HS thích học giờ bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị kĩ cho tiết bài tập

Nguyên nhân chủ yếu là do HS không biết nhận dạng, chưa nắm phương pháp giải

từng dạng, không giải được bài tập dẫn đến chán nản

Số lượng bài tập và số HS làm được bài tập không cao; HS chưa có thói quen tìm các bài tập tương tự để giải ở nhà

Thời gian dành cho việc theo dõi và ghi chép các bài tập ở lớp chưa đủ

Các bài tập xếp lộn xộn, không theo dạnglà khó khăn chính khiến HS không giải được bài tập HS cũng đánh giá cao vai trò của tự học đối với kết quả của các kỳ thi,

kiểm tra Các em đã nhận thức được để tự học tốt thì bản thân phải có niềm tin và sự chủ

động, mong muốn GV soạn tài liệu hướng dẫn cũng như tổ chức, hướng dẫn cụ thể hơn

cho việc học tập

HS có mong muốn GV giúp HS từng bước nhận dạng, giải kỹ bài mẫu cho từng dạng và cho các bài tập tương tự để các em giải thành thạo một dạng bài tập

HS cũng đánh giá cao vai trò của tự học đối với kết quả của các kỳ thi, kiểm tra Các em

đã nhận thức được để tự học tốt thì bản thân phải có niềm tin và sự chủ động, mong muốn GV

soạn tài liệu hướng dẫn cũng như tổ chức, hướng dẫn cụ thể hơn cho việc học tập

Tuy nhiên có thể dễ dàng nhận thấy nguyên nhân của các vấn đề nói trên là thời gian học môn Hoá ở trên lớp tương đối ít, khối lượng kiến thức hàn lâm SGK tương

đối nhiều, phân phối chương trình sít sao, ít linh động Điều đó khiến cho GV ít có

thời gian và điều kiện để hướng dẫn HS tự học một cách có hệ thống

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận

và thực tiễn của đề tài

- Quan điểm và tư tưởng về tự học, năng lực tự học trên thế giới, trong lịch sử giáo dục của Việt Nam và đối với các nhà hóa học

- Đổi mới PPDH: Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học

- Tự học: Khái niệm, các hình thức tự học, chu trình tự học của HS, vai trò của tự học

- Năng lực, năng lực tự học, cách phát triển năng lực tự học

- BTHH: Khái niệm, phân loại, tác dụng BTHH, hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH, xu hướng phát triển của BTHH

Kết quả điều tra thực trạng việc sử dụng HTBT hóa học hỗ trợ việc tự học cho HS trong quá trình dạy học ở trường THPT cho thấy cần có HTBT hỗ trợ HS tự học để

khắc phục những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình giải BTHH

Qua đó, chúng tôi nhận thấyviệc xây dựng và sử dụng HTBT giúp HS phát triển năng lực tự học là một xu hướng đổi mới, đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH môn

Hóa học hiện nay

Trang 34

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI

TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM

HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Phân tích chương trình hóa học 10 Trung học phổ thông phần phi kim[5], [6],

[23]

2.1.1 Mục tiêu chương trình phần phi kim

Chương trình phần phi kim lớp 10 ban cơ bản gồm có 2 chương như sau:

+ Cấu tạo nguyên tử của các phi kim, số oxi hóa của các phi kim trong các hợp chất

+ Tính chất vật lí, trạng thái tự nhiên của các phi kim và một số hợp chất quan trọng của chúng

+ Ứng dụng và phương pháp điều chế các phi kim và một số hợp chất quan trọng của chúng

- HS hiểu:

+ Tính chất hóa học cơ bản của các phi kim và một số hợp chất quan trọng của chúng + Tính oxi hóa mạnh của các đơn chất phi kim và khả năng thể hiện tính khử của chúng

+ Nguyên nhân của sự giống nhau của các phi kim trong cùng một nhóm, quy luật biến đổi tính chất đơn chất và hợp chất trong nhóm

+ Nguyên tắc chung của phương pháp điều chế các phi kim và hợp chất

- Tiến hành một số thí nghiệm hóa học nghiên cứu tính chất của phi kim và hợp chất

- Giải các dạng BTHH có liên quan đến các kiến thức về phi kim và hợp chất của chúng

* Giáo dục tình cảm, thái độ:

- Hứng thú và say mê học tập, phương pháp tư duy và nghiên cứu hóa học

Trang 35

- Thái độ đúng đắn với các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ý thức bảo vệ môi trường không khí, đất, nước

- Ý thức vận dụng kiến thức học được vào cuộc sống

2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần phi kim Hoá

học 10 (Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội)

Tiết 48: Kiểm tra viết

Chương 6: Oxi – Lưu huỳnh

Tiết 49, 50: Oxi - Ozon Luyện tập Tiết 51: Lưu huỳnh

Tiết 52: Bài thực hành số 4 Tiết 53, 54: Hiđrosunfua – Lưu huỳnh đioxit – Lưu huỳnh trioxit Tiết 55, 56: Axit sunfuric - Muối sunfat

Tiết 57, 58: Luyện tập: Oxi và Lưu huỳnh Tiết 59: Bài thực hành số 5

Tiết 60: Kiểm tra viết

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập[13], [17], [22], [25], [32], [33]

SGK Hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản cho HS

và là phương tiện để GV tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng kiến

thức, rèn luyện khả năng tự học, tự lĩnh hội kiến thức cho HS SGK Hóa học ở nước ta

hiện nay là tài liệu được văn bản hóa có chứa đựng mục tiêu, nội dung và PPDH, nhưng

tất nhiên là nặng về nội dung bài học Với mong muốn hỗ trợ HS tự học nhằm nâng cao kết

quả học tập, khi xây dựng HTBT chúng tôi đặc biệt chú ý các nguyên tắc sau:

2.2.1 Đảm bảo t nh khoa học

Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung Theo

nguyên tắc này, bảo đảm tính cơ bản là phải đưa vào HTBT hóa học những kiến thức cơ

bản về hoá học Bảo đảm tính hiện đại tức là phải đưa trình độ của môn học đến gần trình

độ của khoa học, đưa vào HTBT hóa học những quan điểm cơ bản của kiến thức hoá học

(về thành phần, về cấu tạo các hợp chất hoá học, về các quá trình hoá học, ), đảm bảo tính

Trang 36

đúng đắn và tính hiện đại của các sự kiện được lựa chọn

Điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng; dùng phương pháp khái quát

hoá để diễn đạt kiến thức; tập trung vào kiến thức trọng tâm,

2.2.2 Đảm bảo t nh logic

Tính logic được hiểu một cách đơn giản chính là hợp lí Hợp lí trong cả việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT (ở đây là những HS

học chương trình cơ bản) và hợp lí trong việc trình bày các kiến thức đó HTBT phải

được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng

2.2.3 Đảm bảo t nh đầy đủ, đa dạng

- Thông qua HTBT, HS tái hiện hầu hết các kiến thức cần nhớ

- Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp

2.2.4 Đảm bảo t nh hệ thống của các dạng bài tập

Sắp xếp các dạng bài tập một cách có quy củ và có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau

2.2.5 Đảm bảo t nh vừa sức

Tính vừa sức cần hiểu theo 2 khía cạnh : (1) Vừa sức về độ khó: Bài tập cao hơn khả năng của HS một chút là rấttốt Nếu

dễ thì HS dễ ỷ lại, còn nếu khó quá thì HS lại bỏ giữa chừng GV cần chú ý đưa

những bài tập có thể hệ thống và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướng giải

quyết để HS không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đó cho

bài tập tương tự có kèm theo đáp số)

(2) Vừa sức về số lượng: Nếu nhiều bài tập quá thì HS không giải hết, ngán ngẩm, chán nản và gây ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủ

kín chương trình và không đủ để hỗ trợ HS tự học

2.2.6 Phù hợp với điều kiện thực tế

Chúng tôi đang đề cập đến điều kiện học tập của trường, địa phương cũng như điều kiện của bản thân mỗi HS sử dụng HTBT Đối với địa bàn ngoại thành thành phố

Hà Nội thì điều kiện kinh tế chưa tốt và phát triển không đồng đều nên số lượng HS

có máy vi tính và số lượng HS sử dụng máy vi tính có nối mạng internet cũng chưa

nhiều nên việc học trực tuyến cũng có nhiều hạn chế Vì thế GV photo HTBT hỗ trợ

tự học và phát cho HS sử dụng là phù hợp nhất

2.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học

Để HS tự học một cách thuận lợi, HS cần được hướng dẫn học tập cụ thể và có thông tin phản hồi (đáp án các câu hỏi trắc nghiệm và bài tập giúp HS tự kiểm tra kết

quả tự học) Vậy HTBT hỗ trợ tự học cần phải:

- Có phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng

Trang 37

- Có bài giải mẫu

- Có các bài tập tương tự để HS tự giải

- Có đáp số cho bài tập tương tự

- Có các câu hỏi mang tính thực nghiệm phù hợp với đặc trưng môn học

Việc tự học thuận lợi giúp HS tiếp thu kiến thức cần nắm và say mê học tập hơn, kết quả học tập nâng cao

2.2.8 Đảm bảo t nh mục tiêu, bám sát nội dung dạy học

Theo ông Nguyễn Hải Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo: Về mặt nội dung, có thể xem hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức,

kỹ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành là tài liệu giúp HS ôn tập, chuẩn bị

cho các kỳ thi Đề thi tốt nghiệp, thi đầu cấp, hay thi tuyển sinh đại học đều phải đảm

bảo nguyên tắc “căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng”, nhưng cùng một nội dung, tùy

mục tiêu của mỗi kỳ thi sẽ có cách hỏi khác nhau, kể cả trong một đề thi cũng có những

câu hỏi để kiểm tra các mức độ: thông hiểu, vận dụng, sáng tạo Chúng tôi đã vào căn

cứ vào hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hoá học lớp 10 chương

trình cơ bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng HTBT

Khi thiết kế các hoạt động học tập cho HS, GV cần cụ thể hoá bằng các bài tập hướng vào mục tiêu bài học Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các

bài tập đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học đã đề ra

2.2.9 Chú trọng kiến thức trọng tâm

HTBT cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng HS (kể cả trung bình và yếu) đều nắm được những kiến thức cơ bản cần nắm, kết quả học tâp

được nâng cao Kết quả học tập được nâng cao chính là động lực thôi thúc các HS

chưa chăm, chưa học tốt cố gắng hơn nữa để học tốt hơn

2.2.10 Gây hứng thú cho người học

- BTHH gắn liền với các kiến thức khoa học về hoá học hoặc các môn học khác, gắn với thực tiễn sản xuất hoặc đời sống,…

- HTBT chứa đựng các bài tập có thể giải theo nhiều cách, trong đó cách giải ngắn gọn nhưng đòi hỏi HS phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết mới giải được

Ngoài 10 nguyên tắc trên ta còn cần phải chú ý các nguyên tắc sau:

- HTBT thiết kế giúp HS tiếp thu được kiến thức mới, mở rộng kiến thức đã học, phát huy được tính tích cực chủ động của người học

Trang 38

- HTBT phát triển các thao tác tư duy và rèn luyện các kĩ năng tự học

- Nội dung bài tập phù hợp với đối tượng HS, thời gian học tập

- HTBT hướng vào suy nghĩ độc lập, giúp các em bộc lộ những kiến thức tự tìm tòi phát hiện Khi xây dựng HTBT hóa học, GV cần lựa chọn những bài tập đặt HS

vào trạng thái phải suy nghĩ, cân nhắc, xem xét, suy luận,… thì mới có thể trả lời

chính xác Cần hạn chế các bài tập không cần suy nghĩ, xem xét… chỉ cần thay số là

có thể trả lời được mà không hiểu ý nghĩa, bản chất của vấn đề Vì trong khi suy nghĩ,

cân nhắc để tìm cách giải quyết các yêu cầu của bài tập, HS sẽ bộc lộ những kiến thức

tìm tòi, phát hiện trong quá trình tự học của mình

- HTBT phải phát huy tính sáng tạo của HS: Khi xây dựng HTBT hóa học theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS cần chú trọng những bài tập ở mức sáng tạo

giúp phát huy khả năng vận dụng kiến thức của HS trong tình huống mới

Ngoài ra cần chú trọng những bài tập có tính cập nhật, vì những bài tập đó yêu cầu HS phải thường xuyên cập nhật thông tin, từ đó rèn luyện kĩ năng thu thập, xử lí

và vận dụng các thông tin vào trong những điều kiện cụ thể

2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập[6], [23], [25]

- Bước 1: Nghiên cứu nội dung

Dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông môn hóa học lớp 10 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, chúng tôi tìm hiểu nội dung về

kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi học phần phi kim

- Bước 2: Xác định kiến thức trọng tâm

Sau khi tìm hiểu nội dung về kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi học phần phi kim lớp 10, chúng tôi tiến hành xác định kiến thức trọng tâm mà HS bắt

buộc phải nắm vững khi học phần này

- Bước 3: Lập ma trận hai chiều

Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, chúng tôi tiến hành lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính,

một chiều là các cấp độ nhận thức của HS (nhận biết, thông hiểu và vận dụng) Trong

mỗi ô là số lượng câu hỏi, số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi

loại mục tiêu và mỗi loại nội dung

- Bước 4: Sưu tầm, biên soạn

Bài tập hiện nay rất nhiều (SGK, sách bài tập, sách tham khảo, internet), những bài tập đó rất hay, rất đáng sử dụng nhưng một số bài chưa phù hợp với trình độ HS

Mỗi vùng, mỗi miền, mỗi trường cần có HTBT riêng phù hợp với HS ở trường đó,

miền đó, vùng đó

Khi sưu tầm, biên soạn, GV cần lưu ý một số tiêu chí sau:

(1) Nội dung kiến thức phải phủ kín chương trình

Trang 39

(2) Khắc sâu trọng tâm, nghĩa là có dày có mỏng, có đậm có nhạt (Phần kiến thức trọng tâm hơn thì hỏi nhiều hơn và ngược lại)

(3) Số lượng phải phù hợp vì nhiều quá thì HS không giải hết nhưng nếu ít quá thì không đủ để hỗ trợ HS học tốt Chất lượng bài tập cũng phải phù hợp với đặc điểm

HS ở trường THPT đang nghiên cứu

- Bước 5: Tham khảo ý kiến GV

Chúng tôi đã tiến hành tham khảo ý kiến thầy hướng dẫn, một số giảng viên giảng dạy lớp Sau đại học, một số bạn trong lớp sau Đại học (cùng lớp, khóa trước),

một số GV giảng dạy bộ môn hóa ở trường phổ thông về HTBT nhằm tìm hiểu thêm

những chỗ còn hạn chế để kịp thời chỉnh sửa, bổ sung

- Bước 6: Chỉnh sửa, hoàn thiện

Sau khi tham khảo ý kiến GV, chúng tôi chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện HTBT

2.4 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim hỗ trợ tự học cho học

học tập cho HS, chúng tôi trình bày chi tiết từng dạng và đã chú ý đưa thêm các các

bài tập thực tiễn cũng như chèn thêm hình ảnh, kí hiệu vui để phù hợp lứa tuổi HS,

tạo hứng thú cho các em tự học Về vấn đề số lượng câu hỏi, một số GV cho rằng khá

nhiều HS khá và trung bình không thể giải hết được.Như mục tiêu đã đặt ra, HTBT hỗ

trợ tự học cho HS từ trung bình trở lên, HTBT đã được chia dạng và xếp từ dễ đến

khó nên HS giỏi có thể giải hết còn HS trung bình và khá có thể để lại một số bài khó

hơn Theo quan điểm của chúng tôi, hỗ trợ tốt nghĩa là HS tiến bộ, giải được nhiều

bài tập hơn trước đó chứ không phải là giải hết

Vì khuôn khổ của luận văn nên chúng tôi chỉ đưa một số bài tập minh họa cho các dạng còn HTBT TNKQ được đưa vào phần phụ lục

2.4.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phi kim

Dạng 1: Hoàn thành PTHH, sơ đồ biến hóa

* Sơ đồ đã biết các chất

- Xác định các chất ban đầu và sản phẩm thuộc loại nào (axit, oxit, bazơ, muối,

kim loại, phi kim), quan hệ giữa các loại chất đó là gì, từ đó chọn chất thích hợp

để viết PTHH

Trang 40

* Sơ đồ chưa cho biết các chất

- Xác định khóa của sơ đồ là nơi cho biết chính xác một chất nào đó để xác định các chất còn lại rồi viết PTHH như dạng trên

Dạng 2: Xác định cặp chất cùng tồn tại

- Hai chất chỉ cùng tồn tại trong một hỗn hợp hoặc trong một dung dịch (dd) nếu

chúng không phản ứng với nhau

- Xác định xem các chất trong từng cặp thuộc loại nào, ở trong trạng thái gì, quan

hệ giữa các cặp loại chất đó là gì để xem xét trạng thái tồn tại

Dạng 3: Nhận biết và phân biệt các chất

Dựa vào sự khác nhau về tính chất vật lý như: màu, mùi, vị, tính tan trong nước, độ tan, độ sôi… Trong đó khi nhận biết phải căn cứ vào tính chất vật lý đặc trưng của

từng chất

Dùng các phản ứng đặc trưng để chuyển các chất ban đầu thành các chất mới có kèm theo các dấu hiệu rõ rệt có thể quan sát bằng mắt thường như tan, không tan,

sủi bọt khí, tạo sản phẩm có màu đặc trưng, thay đổi màu sắc, kết tủa…

Tất cả các chất được lựa chọn dùng để nhận biết các hoá chất theo yêu cầu của

đề bài đều được coi là thuốc thử

* Cần phân biệt sự khác nhau giữa nhận biết và phân biệt các chất

Bài tập nhận biết và phân biệt các chất có nhiều điểm giống nhau Tuy nhiên có nét riêng biệt sau đây: Nhận biết có thể là một chất duy nhất nào đó hoặc

là một số chất riêng biệt ở trạng thái mất nhãn, cần dùng các biện pháp hoá lý thích

hợp để xác định chính xác tên của hoá chất Khái niệm phân biệt bao hàm ý so

sánh (ít nhất phải có hai hoá chất trở lên) nhưng mục đích cuối cùng của phân biệt

cũng là nhận biết tên của một số hoá chất nào đó

- Để phân biệt các chất A, B, C, D chỉ cần nhận ra các chất A, B, C chất còn lại đương nhiên là D

- Để nhận biết A, B, C, D cần phải xác định tất cả các chất, không bỏ chất nào Vì còn một chất mà không qua kiểm chứng chưa chắc đã nhận biết được đó là chất gì

* Trong nhận biết và phân biệt cần xác định rõ:

- Chất cần xác định hay phân biệt (có thể đựng riêng trong từng lọ, nằm chung trong cùng một hỗn hợp hay dd)

- Thuốc thử (chất cần dùng để nhận biết) sử dụng theo yêu cầu đề bài:

+ Tùy chọn thuốc thử + Hạn chế thuốc thử (số lượng thuốc thử, loại thuốc thử) + Không dùng thêm thuốc thử (dùng ngay các chất cần nhận biết làm thuốc thử)

Ngày đăng: 04/07/2023, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thị Thiên An (2007), Phân loại và phương pháp giải BTHH 10, NXB QG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Thị Thiên An (2007), Phân loại và phương pháp giải BTHH 10
Tác giả: Cao Thị Thiên An
Nhà XB: NXB QG Hà Nội
Năm: 2007
2. Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu (2008), Tự học của sinh viên, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học của sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
3. Trịnh Văn Biều (2003), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường ĐHSP TP. HCM 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2007), Những vấn đề chung vềđổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Hóa học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả", Trường ĐHSP TP. HCM 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2007), "Những vấn đề chung về "đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Hóa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều (2003), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường ĐHSP TP. HCM 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2008), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học lớp 10, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án Việt Bỉ (2010), Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án Việt Bỉ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010
8. Nguyễn Cương (2007), PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học, NXB Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cương (2007), PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Đại học Giáo Dục
Năm: 2007
9. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung (1999), PPDH hóa học (tập 1), NXB Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ Phạm
Năm: 1999
10. Nguyễn Cương (2007), PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học , NXB Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Đại học Giáo Dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Cường (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục đào tạo, Dự án phát triển giáo dục THPT, Tài liệu hội thảo tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
12. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2012), Lí luận dạy học hiện đại một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, Postdam - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2012
13. Nguyễn Đức Dũng (2012), Đổi mới phương pháp DHHH ở trường phổ thông, Tập bài giảng cho học viên sau đại học, TrườngĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp DHHH ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng
Năm: 2012
14. Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân (2013), “ Rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT qua HTBT phần hóa học hữu cơ có nội dung thực tiễn”, Tạp chí giáo dục, (7/2013), tr. 118-119 và 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT qua HTBT phần hóa học hữu cơ có nội dung thực tiễn”
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân
Năm: 2013
15. Cao Cự Giác (2000), Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3; NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
16. Trần Bá Hoành, Cao Thị Thặng, Phạm Thị Lan Hương (2003), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn hóa học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn hóa học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Cao Thị Thặng, Phạm Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
17. Trần Thị Thu Huệ (2012), Phát triển một số năng lực của học sinh trung học phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong DHHH phần hóa học vô cơ, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một số năng lực của học sinh trung học phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong DHHH phần hóa học vô cơ
Tác giả: Trần Thị Thu Huệ
Năm: 2012
19. Phạm Văn Nhiêu (1979), Hoá học đại cương (dùng cho học sinh ôn thi tú tài, cao đẳng, đại học), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá học đại cương (dùng cho học sinh ôn thi tú tài, cao đẳng, đại học)
Tác giả: Phạm Văn Nhiêu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1979
20. Phạm Văn Nhiêu (2003), Hoá học đại cương (phần cấu tạo chất), NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá học đại cương (phần cấu tạo chất)
Tác giả: Phạm Văn Nhiêu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội
Năm: 2003
21. Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu (2013), PPDHmôn hóa học ở trường THPT, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDHmôn hóa học ở trường THPT
Tác giả: Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2013
22. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận DHHHtập 1, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận DHHHtập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1994
23. Nguyễn Thị Sửu (chủ biên), Đào Thị Việt Anh, Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Thị Thiên Nga (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn hóa học 10, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn hóa học 10
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu (chủ biên), Đào Thị Việt Anh, Nguyễn Thị Minh Châu, Nguyễn Thị Thiên Nga
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w