i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN QUANG DIỆU TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ “CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN” VẬT LÍ 10 NHẰM BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH LUẬN VĂN THẠC SĨ S[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
(BỘ MÔN VẬT LÍ)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐỖ HƯƠNG TRÀ
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện tôi đã hoàn thành đề tài
nghiên cứu của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực, tìm tòi, học
hỏi nghiên cứu của bản thân, tôi luôn nhận được sự ủng hộ của thầy cô, bạn
bè và đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục- Đại
học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi được học tập nghiên
cứu trong suốt khóa học Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong nhà
trường đã truyền thụ cho tôi vốn kiến thức vô cùng quý báu để tôi có thể hoàn
thành tốt đề tài và làm giàu thêm hành trang kiến thức trên con đường sự
nghiệp của mình
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và thành kính tới cô giáo
PGS.TS Đỗ Hương Trà đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo
dạy học bộ môn Vật lí tại trường THPT Thái Ninh, Thái Thụy, Thái Bình,
cùng các thầy cô giáo tham gia cộng tác đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình đã luôn tạo điều
kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học và thực hiện đề tài
Hà nội, 09 tháng 10 năm 2015
TÁC GIẢ
Trần Quang Diệu
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các sơ đồ, hình vẽ, biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 ý nghĩa khoa học và thực ti n của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận v n 4
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 5
1.1 Bản chất của quá trình dạy học 5
1.2 Dạy học theo chủ đề 5
1.2.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề 5
1.2.2 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề 5
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo chủ đề 5
1.2.4 Các nội dung có thể tổ chức theo chủ đề 6
1.2.5 Các giai đoạn tổ chức dạy học theo chủ đề 7
1.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh 7
1.2.6.1 Vai trò của học sinh 7
Trang 61.2.6.2 Vai trò của giáo viên 8
1.2.7 Sự khác biệt của dạy học theo quan niện truyền thống và dạy học theo chủ đề 12
1.2.8 Áp dụng dạy học theo chủ đề vào thực ti n 18
1.3 Dạy học bồi dưỡng n ng lực cho người học 22
1.3.1 Khái niệm n ng lực 22
1.3.2 N ng lực giải quyết vấn đề 24
Kết luận chương 1 25
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học theo chủ đề “ Cân bằng của vật rắn” vật lí 10 26
2.1 Vị trí, tầm quan trọng kiến thức của chủ đề cân bằng của vật rắn– vật lí 10 26
2.2 Mục tiêu dạy học chủ đề cân bằng vật rắn – Vật lí 10 26
2.2.1 Mục tiêu kiến thức 26
2.2.2 Mục tiêu kĩ n ng 27
2.2.3 Mục tiêu phát triển tư duy 27
2.2.4 Mục tiêu thái độ 27
2.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung chủ đề cân bằng của vật rắn – Vật lí 10 28
2.4 Điều tra thực ti n 31
2.4.1 Mục đích điều tra 31
2.4.2 Phương pháp điều tra 31
2.4.3 Đối tượng điều tra 31
2.4.4 Kết quả điều tra 31
2.4.4.2 Về phía giáo viên 32
Trang 72.4.5 Một số đề xuất nhằm khắc phục thực trạng trên 33
2.5 Thiết kế dạy học theo chủ đề cân bằng của vật rắn – Vật lí 10 34
2.5.1 Sơ đồ ý tưởng xây dựng chủ đề 34
2.5.2 Kiến thức cần xây dựng 35
2.5.3 Câu hỏi định hướng 38
2.6 Thiết kế dạy học chủ đề cân bằng của vật rắn 39
2.6.1 Sơ đồ tiến trình khoa học xây dựng kiến thức 39
2.6.2 Thiết kế dạy học xác định điều kiện để vật rắn chịu tác dụng của hai lực cân bằng 45
2.6.3 Xác định trọng tâm của vật rắn 48
2.6.4 Các dạng cân bằng 51
2.6.5 Điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực 55
2.6.6 Điều kiện cân bằng của vật rắn có trục cố định 64
2.6.6 Dự án học tập 69
2.8 Xây dựng công cụ đánh giá 76
2.8.1 Các hình thức đánh giá 76
2.8.2 Các tiêu chí đánh giá 77
Kết luận chương 2 79
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 80
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 80
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 80
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 80
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 80
3.5 Thời gian thực nghiệm sư phạm 81
Trang 83.6 Di n biến thực nghiệm sư phạm 81
3.6.1 Các bước tiến hành thực nghiệm sư phạm 81
3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 88
3.7.1 Đánh giá định tính 88
3.7.2 Đánh giá định lượng 89
3.8 Đánh giá chung về việc dạy học theo chủ đề 96
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 103
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
2 Sơ đồ 2.1 Cấu trúc nội dung chương “ Cân bằng và chuyển
động của vật rắn” – Vật lí 10
30
4 Sơ đồ 2.3 Tiến trình khoa học xây dựng điều kiện cân bằng
của vật rắn khi chịu tác dụng của hai lực đồng quy
7 Sơ đồ 2.6 Tiến trình khoa học xây dựng điều kiện cân bằng
của vật rắn chịu tác dụng của ba lực
14 Bảng 3.6 Phân phối tần suất (Wi %) số học sinh đạt điểm Xi 93
Trang 1015 Bảng 3.7 Phân phối tần suất (ωi %) số học sinh đạt điểm Xi
20 Hình 2.5 Thí nghiệm cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của
hai lực song song cùng chiều
26 Hình 3.5 HS báo cáo kết quả làm việc nhóm trong hoạt động
Trang 1127 Hình 3.6 HS thảo luận nhóm trong hoạt động 5 86
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bất cứ m ột xã hội nào, khi trình độ v n minh của loài người
ngày càng cao, giáo dục càng trở nên một vấn đề thiết yếu Mỗi nền v n minh
đều mong muốn thực hiện qua nhà trường một xã hội lý tưởng, đào tạo những
công dân gương mẫu
Nhận loại đang bước vào thế kỷ 21, thế kỷ c ủa nền kinh tế tri thức
Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong thời kỳ
h ội nhập và phát triển Tình hình đó đặt nền giáo dục của nước ta trước
những nhiệm vụ hết sức nặng nề, phải đào tạo học sinh trở thành những người
lao động sáng tạo, n ng động, thích ứng với mọi sự phát triển đa dạng với tốc
độ nhanh chóng của xã hội, những con người toàn diện đáp ứng được nhu
cầu, n ng lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật với sự
bùng nổ thông tin khoa học đã làm cho kho tàng tri thức phát triển một cách
đáng kể Do đó, mâu thuẫn vốn có giữa qũy thời gian dành cho việc dạy học
trong nhà trường và khối lượng kiến thức cần trang bị cho học sinh ngày càng
trở nên gay gắt Để giải quyết vấn đề này nghị quyết TW 2 khóa VIII của Ban
Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ và cụ thể: “ Đổi mới mạnh
mẽ PP giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư
duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương
tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh…”
Trong giai đoạn n m 2001-2010, giáo dục Việt Nam đề ra yêu cầu tạo
chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục, đặc biệt tạo ra bước chuyển
mạnh mẽ về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến
của thế giới phù hợp với thực ti n Việt Nam, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, đưa nền giáo dục của nước ta sớm tiến kịp các nước
phát triển trong khu vực Ở nước ta, trong một thời gian dài nền giáo dục tồn
Trang 13tại tình trạng truyền thụ một chiều thầy đọc trò ghi Trong những n m gần
đây, Đảng và nhà nước đã thực hiện các chương trình đổi mới PPDH nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên, do những yếu tố khách quan hay
chủ quan nào đó mà hiệu quả đạt được chưa cao.Tuy nhiên hiện nay, trong
nhà trường phổ thông có thực trạng là thầy nặng về thuyết trình, truyền thụ
kiến thức một chiều, trò tiếp thu thụ động thiếu tích cực, và gặp nhiều khó
kh n khi gặp các vấn đề cần giải quyết Trong chương trình môn Vật lý lớp
10, chương cân bằng và chuyển động của vật rắn là một chương có kiến thức
gắn liền với các hiện tượng vật lý trong cuộc sống Khi học sinh học tập phần
này, nó mang lại cơ hội phát triển ở học sinh trí tưởng tượng phong phú, khả
n ng phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện kỹ n ng vận dụng kiến thức
vào thực ti n Tuy nhiên học sinh vẫn gặp khó kh n trong việc chiếm lĩnh tri
thức và rèn luyện kỹ n ng tương ứng Lý do là giáo viên gặp khó kh n nhất
định trong việc tổ chức các hoạt động dạy học đáp ứng các yêu cầu của mục
tiêu giáo dục Xuất phát từ những lí do đó, tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
Tổ chức dạy học theo chủ đề "Cân bằng của vật rắn" vật lí 10 nhằm bồi
dưỡng n ng lực giải quyết vấn đề của học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề, thiết kế tiến trình dạy
học chủ đề cân bằng của vật rắn (vật lý 10) nhằm bồi dưỡng n ng lực giải
quyết vấn đề của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo chủ đề và cơ sở lí luận về
phát triển n ng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Trang 14- Nghiên cứu chương trình SGK Vật lí 10, SGV Vật lí 10 và các tài
liệu tham khảo có liên quan đến nội dung kiến thức chương “ Cân bằng và
chuyển động của vật rắn” Vật lí 10
- Tìm hiểu thực tế dạy và học nội dung kiến thức chương “ cân bằng
và chuyển động của vật rắn” Vật lí 10
- Vận dụng cơ sở lí luận, thiết kế tiến trình dạy học chủ đề cân bằng
của vật rắn vật lý 10 nhằm phát triển n ng lực giải quyết vấn đề của học sinh
- Xậy dựng công cụ đánh giá giờ học
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo tiến trình dạy học đã soạn thảo,
phân tích kết quả thực nghiệm thu được để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ
bộ đánh giá hiệu quả của tiến trình dạy học chủ đề cân bằng của vật rắn vật lý
10 n ng lực giải quyết vấn đề của học sinh Từ đó, nhận xét, rút kinh nghiệm,
sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để vận dụng linh hoạt mô hình dạy học này
vào thực ti n dạy học các nội dung kiến thức khác trong chương trình vật lí
THPT
4 Đối tƣ ng và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn”- Vật lí 10
- Hoạt động dạy và học chủ đề “Cân bằng của vật rắn”
- Vật lí 10
5 Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề, cơ sở lí luận về bồi
dưỡng n ng lực giải quyết vấn đề, cùng với việc phân tích nội dung kiến thức
chương “cân bằng của vật rắn” Vật lí 10, có thể thiết kế tiến trình dạy học
theo chủ đề chủ đề cân bằng của vật rắn nhằm bồi dưỡng n ng lực giải quyết
vấn đề của học sinh
6 ngh a khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trình bày cơ sở lí luận của dạy học theo chủ đề và n ng lực giải
quyết vấn đề
- Vận dụng cơ sở lí luận về dạy học theo chủ đề để thiết kế tiến trình
Trang 15dạy chủ đề cân bằng của vật rắn vật lí 10 nhằm giúp bồi dưỡng n ng lực giải
quyết vấn đề của học sinh
7 Phương ph p nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp một số phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về quan
điểm, sự định hướng việc dạy và học tích cực cũng như đổi mới PPDH; về lí
luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn vật lí nói riêng; SGK, SGV và
các tài liệu khác liên quan
- PP điều tra: Tìm hiểu việc dạy (thông qua phiếu điều tra, nghiên cứu
giáo án dự giờ, phỏng vấn, trao đổi với giáo viên nhằm sơ bộ đánh giá tình
hình dạy học nội dung kiến thức chủ đề cân bằng của vật rắn
- PP thực nghiệm khoa học giáo dục: Tiến hành thực nghiệm sư phạm
với tiến trình dạy học đã soạn thảo Phân tích kết quả thu được trong quá trình
thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận
của đề tài
- PP thống kê toán học
8 Cấu tr c của luận v n
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận v n gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về tổ chức dạy học theo chủ đề
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy theo chủ đề cân bằng của vật rắn Vật
lí 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Bản chất của qu trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều
khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thực hiện những
nhiệm vụ dạy học.[9,tr 139]
1.2 Dạy học theo chủ đề
1.2.1 Khái niệm dạy học theo chủ đề
Là mô hình dạy học mà nội dung được xây dựng thành các chủ đề có ý
nghĩa thực ti n và thể hiện rõ mối liên hệ liên môn, liên lĩnh vực ( chủ đề tích
hợp để học sinh có thể phát triển các ý tưởng một cách toàn diện
[ 10, tr.181]
1.2.2 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề
Dạy học theo chủ đề hướng tới các mục tiêu giáo dục tích cực và quan
trọng cho sự phát triển lâu dài của cá nhân như:
- Sự phát triển hiểu biết khoa học;
- Hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ n ng giải quyết
vấn đề theo tiến trình khoa học( phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, thực hiện
giải pháp và trình bày kết quả ;
- Rèn luyện các kĩ n ng tư duy bậc cao như phân tích – tổng hợp, đánh
giá, sáng tạo;
- Rèn luyện các kĩ n ng sống và làm việc như: ngôn ngữ, hợp tác…
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo chủ đề
Dạy học theo chủ đề có các đặc điểm sau:
- Mang tính tích hợp;
- Sự tích hợp ở đây được hiểu như là sự sắp xếp, pha trộn, đan xen, vào
một hoạt động, một chức n ng hoặc một thể thống nhất Trong đó, chú trọng
sự tích hợp trong môn học tức là làm cho các nội dung kiến thức gần nhau
Trang 17hơn, quan hệ chặt chẽ hơn do đó học sinh có cái nhìn tổng thể hơn, tư duy
logic từ đó cũng được rèn luyện nhiều hơn
Ngoài ra cũng có thể kể đến tích hợp liên môn Tích hợp liên môn là
các tiếp cận nội dung sử dụng phương pháp và ngôn ngữ của nhiều môn học,
nhiều lĩnh vực khác nhau để nghiên cứu chủ đề Đó là sự kết hợp các nội dung
kiến thức của nhiều môn học khác nhau trong nhà trường theo một cách thức
nào đó Ví dụ tích hợp giáo dục về an toàn giao thông, môi trường, các vấn đề
về n ng lượng và sử dụng n ng lượng, các nội dung kiến thức toán học, hóa
học, tin học, vào vật lí nhằm làm cho kiến thức này gần nhau hơn, hỗ trợ
nhau hơn, làm cho kiến thức gần với thực tế hơn từ đó t ng khả n ng và hiệu
quả sử dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực ti n
- Mang tính thực ti n: Nội dung chủ đề gắn liền với thực tế mà đa số
người học đang sống
- Mang tính hợp tác:
+ Vì hình thức hoạt động chủ yếu là theo nhóm nên tính hợp tác giữa các
học sinh thể hiện rất rõ
+ Phát huy tốt tính tích cực, tự lực sáng tạo của học sinh
Chính vì nội dung học tập mang tính thực ti n và hình thức học tập chủ
yếu theo nhóm nên tạo cho học sinh sự hứng thú, đồng thời với việc thực hiện
các nhiệm vụ được giao thì bản thân học sinh được tự tìm tòi, tự đưa ra
phương án giải quyết, tự thu thập và xử lí thông tin, tự khám phá, tức là đã
phát huy tốt tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh và tạo điều kiện tốt
cho họ được rèn luyện kĩ n ng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá ,
giúp họ tiếp cận với tiến trình khoa học trong giải quyết vấn đề.[ 10, tr.183]
1.2.4 Các nội dung có thể tổ chức theo chủ đề
Nội dung học theo dạy học theo chủ đề không được cấu trúc hoàn hảo
và sẵn sàng bởi giáo viên như trong quan niệm truyền thống Kiến thức mà
mỗi học sinh thu được quyết định một phần quan trọng bởi chính sự nỗ lực
của bản thân học sinh
Trang 18Quá trình học tập trong dạy học theo chủ đề nhìn chung không phải là
quá trình tham gia xây dựng nội dung học tập đã được cấu trúc sẵn như trong
quan niệm dạy học truyền thống Nội dung được cung cấp cho học sinh dưới
nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và đặc
điểm của đối tượng học sinh, sự lĩnh hội nội dung học được thực hiện trong
quá trình tham gia vào thực hiện các nhiệm vụ học tập của cá nhân và của
nhóm
1.2.5 Các giai đoạn tổ chức dạy học theo chủ đề
Trong dạy học theo chủ đề, giáo viên có thể thực hiện các công việc
chính theo các giai đoạn dưới đây để tổ chức hoạt động nhận thức của người
học: [ 10, tr.184]
Sơ đồ 1.1 Các giai đoạn dạy học theo chủ đề 1.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh
1.2.6.1 Vai trò của học sinh
Chọn chủ đề, xác định ý tưởng tổ chức chủ đề (ý nghĩa thực ti n, ý nghĩa
khoa học của chủ đề … Xác định mục tiêu của chủ đề( mục tiêu nhận thức và mục tiêu nhân v n
Xây dựng các bài tập trước, trong và sau khi học chủ đề, giao cho học sinh và
chuẩn bị tài liệu hỗ trợ học sinh; Xây dựng các tiêu chí đánh giá quá trình và
đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tổ chức các nhóm học tập để thực hiện các nhiệm vụ được giao
Tổ chức hoạt động trên lớp để: các nhóm trình bày, thảo luận, thống nhất kết
quả học tập
Đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên những
tiêu chí đã xây dựng
Trang 19Trong dạy học theo chủ đề, học sinh được thể hiện rõ vai trò tự chủ,
sáng tạo của mình Họ đóng vai trò là những “chuyên gia” thuộc các lĩnh vực
khác nhau trong thực ti n, hoàn thành vai trò của mình dựa trên những kiến
thức kĩ n ng nhất định Họ tự quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt
động Nói cách khác họ là người chủ động trong việc tiếp thu kiến thức
Công việc cụ thể của học sinh như sau:
- Tham gia tích cực vào thảo luận, đưa ra chủ đề học tập, trên cơ sở
hướng dẫn của giáo viên, họ từng bước trả lời được các câu hỏi định hướng;
- Phải hoàn thiện các bài tập trước, trong và sau khi học Điều này có
thể kết hợp giữa học cả lớp và học theo nhóm;
- Cần có sự phân công công việc trong nhóm một cách hợp lí, đồng
thời cử ra nhóm trưởng đóng vai trò quản lí hoạt động của các thành viên
trong nhóm Ghi đầy đủ thông tin vào bảng phân công công việc của nhóm,
biên bản thảo luận nhóm, biên bản tự đánh giá và đánh giá của các thành
viên…;
- Tham gia tích cực vào trao đổi thông tin, tranh luận, đóng góp ý
kiến,…để hoàn thành tốt nhiệm vụ thu thập và xử lí thông tin, đưa ra kết quả
cuối cùng;
- Hoàn thành các sản phẩm từ các bài tập được giao và trình bày sản
phẩm của nhóm;
- Tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá các thành viên trong nhóm
về ý thức thái độ, hiệu quả làm việc Thông qua tự đánh giá và đánh giá các
thành viên, học sinh nhận rõ được ưu, nhược điểm của những công việc mình
đã làm, những khó kh n gặp phải, những gì đã làm được, những gì cần chỉnh
sửa, bổ sung hoặc phải thay đổi hoàn toàn, những gì cần phát huy.[ 10, tr.185]
1.2.6.2 Vai trò của giáo viên
Trong dạy học theo chủ đề, giáo viên không còn là người thuyết trình,
di n giảng mà đóng vai trò là người hướng dẫn bên cạnh học sinh Giáo viên
luôn đặt ra các câu hỏi cho học sinh suy nghĩ và thử thách họ nhằm hỗ trợ
Trang 20những kết quả của họ Giáo viên không dạy kiến thức mà thông qua chỉ dẫn,
làm mẫu giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức Vai trò của giáo viên
không còn là những chuyên gia, bản thân họ, cũng tìm kiếm và xử lí thông tin
cùng với học sinh
Các nhiệm vụ cụ thể của giáo viên như sau:
+ X c định chủ đề dạy học
Giai đoạn chọn chủ đề dạy học là một giai đoạn hết sức quan trọng của
mô hình dạy học này
Trước tiên, giáo viên phải là người lựa chọn chủ đề ( tức là cần xem
những nội dung kiến thức nào có thể tích hợp thành một chủ đề và có thể tổ
chức dạy học theo mô hình chủ đề một cách thuận lợi , phải xác định được
những nội dung kiến thức mà học sinh cần chiếm lĩnh khi dạy học chủ đề, để
gắn nó vào những ứng dụng trong đời sống, kĩ thuật và nhìn thấy rõ ỹ nghĩa
thực ti n, ý nghĩa khoa học của chủ để Bởi vậy giáo viên cần:
- Xuất phát từ nội dung của các bài học, giáo viên phải xác định được
nội dung kiến thức và kĩ n ng người học cần đạt được, phải có ý đồ tích hợp
+ Xây dựng câu hỏi định hướng( bao gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi
bài học và câu hỏi nội dung
Câu hỏi khái quát có ý nghĩa xuyên suốt các chủ đề của bài học, môn
học, thậm chí còn xuyên suốt nội dung của nhiều môn học
Trang 21Đối với học sinh, câu hỏi khái quát sẽ lí giải và tập trung vào quá trình
tiếp thu các sự kiện về chủ đề trong phạm vi bài học hoặc một số bài học,
môn học
Câu hỏi bài học: Là những câu hỏi bó hẹp trong một chủ đề hoặc
trong một bài học cụ thể, hỗ trợ và phát triển câu hỏi khái quát
Câu hỏi nội dung: Là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và
mục tiêu bài học
Với dạy học chủ đề thì câu hỏi nội dung sẽ cụ thể hóa những kiến thức
cần xây dựng (có thể dưới dạng sơ đồ tư duy , cũng có thể định hướng cho
quá trình thảo luận của học sinh hay đơn giản giúp họ tái hiện lại kiến thức đã
tìm hiểu
+ Xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học theo chủ đề
Với dạy học theo chủ đề thì, giáo viên phải xây dựng hệ thống bài tập
trước, trong và sau khi học chủ đề
- Bài tập trước khi học: Thường được giao cho học sinh sau khi họ đã
lựa chọn được chủ đề Đó có thể là nghiên cứu tài liệu để xây dựng sơ đồ
những kiến thức cần nghiên cứu, cũng có thể là tìm hiểu một ứng dụng thực tế
nào đó của kiến thức có trong chủ đề,…
- Bài tập trong khi học: Là bài tập giao cho các nhóm học sinh thực
hiện trong đó lồng vào các kiến thức mà họ phải lĩnh hội Như vậy, trước khi
xây dựng các bài tập này, giáo viên phải có ý định tổ chức các nhóm học tập
trên lớp cho phù hợp với mục tiêu đề ra Các bài tập trong khi học thường là
những bài có gắn với ứng dụng thực tế thường gặp
-Bài tập sau khi học: Có thể kết hợp các loại bài tập như: trắc nghiệm
khách quan, trắc nghiệm tự luận, bài tập có nội dung thực tế…
+ Chuẩn bị c c tài liệu hỗ tr gi o viên và học sinh, chuẩn bị cơ sở
vật chất cần thiết
Giáo viên cần dự kiến được quá trình thực hiện của học sinh, từ đó có
thể chuẩn bị để hỗ trợ học sinh hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 22- Cung cấp các nguồn tài liệu về sách tham khảo, dụng cụ thí
nghiệm(nếu có , các trang web…
- Giới thiệu các bài tập mẫu, mẫu phiếu phân công công việc của
nhóm, biên bản thảo luận nhóm, giấy,…cho việc trình bày sản phẩm của
nhóm,…
- Chuẩn bị hỗ trợ các phương tiện, vật chất ( máy chiếu, máy tính,…
nếu có thể
+ Xây dựng c c tiêu chí đ nh gi , c c phiếu đ nh gi
Đánh giá sẽ bao gồm đánh giá kết quả và đánh giá quá trình học tập
của học sinh Các tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên mục tiêu dạy học
và có thể thông báo cho học sinh trước khi học Giáo viên cũng cần chuẩn bị
trước các phiếu tự đánh giá, đánh giá nhóm bạn cho học sinh để họ tham gia
vào công việc này
+ Tổ chức cho c c nhóm học sinh thực hiện c c bài tập đƣ c giao
và trình bày sản phẩm học tập
Giáo viên tôn trọng sự phân công công việc trong các nhóm, kế hoạch
thực hiện của học sinh Thái độ của giáo viên cần cởi mở, tránh ép buộc, gây
áp lực cho học sinh để họ toàn tâm thực hiện nhiệm vụ Trong quá trình học
sinh trình bày sản phẩm học tập, giáo viên tổ chức lắng nghe, vấn đáp, thảo
luận để tìm ra cái được, cái chưa được trong sản phẩm của họ
+ Tổ chức cho học sinh tự đ nh gi và tham gia đ nh gi qu trình
học tập của học sinh
Với dạy học theo chủ đề, bài kiểm tra, các câu hỏi không còn là cách thức duy nhất để đánh giá học sinh nữa Thay vào đó là những kĩ thuật đánh
giá đa dạng khác nhau, có thể là:
- Nhận định những phản hồi dưới hình thức thảo luận với bạn học và
với giáo viên
- Bảng kiểm mục và tự đánh giá giúp học sinh hiểu được kết quả mục
tiêu, quản lí được quá trình học tập
Trang 23Trong dạy học theo chủ đề, đánh giá liên tục và đánh giá định kì là
khâu tất yếu Để làm tốt công việc này thì việc đánh giá nên tập trung vào các
câu hỏi cụ thể sau:
- Học sinh hướng tới các mục tiêu học tập như thế nào?
- Học sinh sử dụng được các kĩ n ng tư duy nào?
- Liệu học sinh có nâng cao được khả n ng tự quản lí, tư duy sâu để
học tốt hơn hay không?
- Học sinh tích cực sử và sử dụng thông tin mới hiệu quả tới mức nào?
- Điều gì đã thúc đẩy động cơ học tập của học sinh?
- Hiệu quả của các can thiệp đặc biệt của giáo viên như thế nào?
- Liệu chiến lược dạy học có cần phải thay đổi?
Để giúp học sinh thành công trong quá trình đánh giá và tự đánh giá thì giáo viên cần cung cấp:
- Các tiêu chí rõ ràng;
- Những cơ hội để học sinh theo dõi sự tiến bộ của chính mình;
- Thời gian đủ để hoàn thành các công việc và các sản phẩm ( nếu có ;
- Những phương pháp thu thập phản hồi chia để chia sẻ với bạn học
Như vậy, trong dạy học chủ đề, giáo viên là người lựa chọn chủ đề,
xây dựng các bài tập trước, trong và sau khi học tức là giáo viên lập kế hoạch
chủ đề cho người học, đồng thời hướng dẫn việc đánh giá và tự đánh giá.[ 10,
tr.185-186]
1.2.7 Sự khác biệt của dạy học theo quan niệm truyền thống và dạy học
theo chủ đề
Sự khác biệt cơ bản trong cách tiếp cận mục tiêu giáo dục của hai mô
hình dạy học này có thể sẽ dẫn tới sự khác biệt trong hầu hết các thành tố còn
lại của quá trình dạy học, nghĩa là dẫn đến sự khác biệt về mô hình dạy học
1.2.7.1 Về nội dung
Trang 24Với những mục tiêu nên trên, đã từ lâu ở nhiều nước phát triển, nội
dung khoa học (các môn học về tự nhiên ở các cấp học phổ thông đã được
biên soạn theo các chủ đề, trong đó có các chủ đề liên môn, tích hợp:
- Ở Tiểu học và THCS, các môn khoa học về tự nhiên được tổ chức
chung thành môn Khoa học
- Ở THPT nội dung học được tách ra thành từng môn học riêng biệt (lí,
hóa, sinh và cũng được xây dựng thành các chủ đề vừa có ý nghĩa khoa học
vừa có ý nghĩa thực ti n, tạo cho học sinh hứng thú, say mê nghiên cứu
chúng, mặc dù trong từng môn học riêng biệt sự tích hợp liên môn là không
d dàng Việc lựa chọn chủ đề, xây dựng nội dung các chủ đề có sự khác nhau
ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, nó phản ánh những quan
điểm triết lí giáo dục riêng
Hầu hết các chương trình học ngày nay rất chú ý tới mối liên hệ giữa
các lĩnh vực nội dung học khác nhau và với thực ti n xã hội nhằm giúp học
sinh phát triển những ý tưởng có tính thực ti n, trọng yếu và toàn diện Các
chủ đề khác nhau có thể khác nhau về bản chất và phạm vi, tuy nhiên điều
quan trọng là nó phải liên hệ tới cuộc sống đang di n ra và nó thực sự kích
thích được sự quan tâm của học sinh
Việc đổi mới theo hướng này cũng tạo điều kiện cho việc tích hợp nội
dung học với các ứng dụng thực ti n hay ứng dụng nghề nghiệp Các cách
tích hợp có thể là:
- Truyền tải những yêu cầu thực ti n hay của ngành nghề đến học sinh
- Chú trọng các ứng dụng thực ti n và nghề nghiệp trong các môn học
- Phân tích một hiện tượng theo nhiều góc độ của các lĩnh vực, ngành
nghề khác nhau
Mục đích của kiểu dạy học này là thay thế chương trình phổ thông hiện nay với nhiều môn học độc lập, không liên quan đến nhau, khá xa rời thực
ti n bằng một chương trình chặt chẽ hơn, cho phép học sinh hiểu ra mối liên
hệ mật thiết giữa các môn học thuộc các lĩnh vực khác nhau và có thể sử dụng
Trang 25hiểu biết vào giải quyết các vấn đề của thực ti n vốn luôn có tính liên môn,
liên lĩnh vực
Mức độ tích hợp giữa các nội dung trong môn học hay giữa các môn
học tùy thuộc nhiều yếu tố: đặc điểm từng trường, kế hoạch và khả n ng của
từng giáo viên và cả mối liên hệ giữa các giáo viên dạy các môn học khác
nhau
Khi nghiên cứu các chủ đề tích hợp trong môn học hay có nội dung
liên môn, học sinh không những chiếm lĩnh được tri thức khoa học mang tính
tổng thể (chứ không phải từng khái niệm riêng rẽ mà còn được làm quen với
tiến trình khoa học và được rèn luyện các kĩ n ng tiến trình khoa học Các chủ
đề này thường được thận trọng, khéo léo thiết kế bắt nguồn từ thực ti n sinh
động mà học sinh đang sống, tạo được hứng thú ở học sinh bằng sự liên quan,
tính thiết thực của chủ đề học đối với họ, kích thích sự hứng thú thực sự của
học sinh khi tìm hiểu, xử lí các thông tin khoa học và đời sống từ các nguồn
khác nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra Khi đó phần kiến thức cốt lõi
được khéo léo đưa vào trở thành kiến thức chìa khóa mà học sinh tất yếu phải
nắm được để tham gia nghiên cứu chủ đề Kết quả là bên cạnh kiến thức cốt
lõi họ còn thu được rất nhiều kiến thức khác có được do tự lực tìm và xử lí
thông tin
Tổ chức lại nội dung học vấn phổ thông theo hướng tích hợp là yêu
cầu khách quan và hiện nay nó trở thành xu thế vì:
- Đơn giản, mọi vấn đề từ thực ti n đều liên quan đến nhiều lĩnh vực,
khó có vấn đề nào, dù đơn giản có thể giải quyết trọn vẹn bằng kiến thức của
một lĩnh vực khoa học;
- Sự xâm nhập và ngày càng xích lại gần nhau của chính các ngành
khoa học từ đầu thế kỉ XX trở lại đây, nhất là từ khi có sự phát triển của công
nghệ, đặt ra yêu cầu xem xét lại nội dung học vấn phổ thông;
Trang 26- Sự bùng nổ thông tin về khoa học, kĩ thuật, công nghệ và sự phát
triển nhanh chóng của công nghệ truyền thông dẫn tới nhiều nội dung cũ lạc
hậu, các nội dung mới luôn phải cập nhật;
- Xã hội phát triển đặt yêu cầu mới cho giáo dục là phải đào tạo ra
những người không chỉ biết mà còn phải có năng lực hành động Yêu cầu này
tác động tới việc xem xét làm thế nào để kiến thức có thể giúp con người
hành động trong thực ti n tốt hơn
Ở cấp THPT, trong phạm vi một môn khoa học như môn vật lí chẳng
hạn, tích hợp giúp tinh giản kiến thức, giúp cho kiến thức có tính thực ti n và
tính công cụ mạnh hơn vì thế hữu dụng và vững chắc hơn
Tích hợp rõ ràng là một giải pháp thích hợp đã được thực tế giáo dục ở
nhiều nước khẳng định để giải quyết mâu thuẫn giữa sự bùng nổ thông tin,
yêu cầu của thực ti n với thời gian giáo dục và khả n ng nhận thức có hạn của
học sinh Tích hợp giúp rút ngắn khoảng cách giữa học và hành, giữa lí thuyết
và thực ti n Tích hợp là xu thế tất yếu để đổi mới nội dung và phương pháp
dạy học khoa học trong nhà trường phổ thông Việt Nam mà việc đào tạo giáo
viên dạy các môn khoa học ở trường phổ thông cần quan tâm thích đáng
Tuy nhiên, một khó kh n của mô hình dạy học theo chủ đề là việc xây
dựng hệ thống các chủ đề và hướng dẫn việc dạy và học theo chủ đề Rất khó
có thể biên soạn sách, tài liệu dạy và học nhất quán theo hướng này vì nó phụ
thuộc rất nhiều vào thực ti n xã hội của từng quốc gia, từng vùng, miền, phụ
thuộc vào triết lí, định hướng giáo dục Nhưng nhìn chung, như các mô hình
dạy học tiên tiến, dạy học theo chủ đề đều đề cao vai trò chủ động của giáo
viên, đều khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên, với những chỉ dẫn chỉ có
tính dẫn đường, người giáo viên có thể tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể mà tổ chức dạy để đạt được các mục tiêu thể hiện rõ tính
tích cực một cách chất lượng và hiệu quả nhất.[ 10, tr.189-190]
1.2.7.2 Về phương pháp dạy học
Trang 27Dạy học theo chủ đề và các mô hình dạy học tích cực khác đều đặt
trọng tâm phát triển tư duy cho học sinh Tuy nhiên, không phải mỗi môn học
lại trang bị và rèn luyện cho học sinh những hiểu biết về phương pháp và kĩ
n ng tư duy của bản thân mỗi môn khoa học nhiều khi mang tính đặc thù cao,
mà trái lại các môn khoa học khác nhau, dù có tính đặc thù, đều phải cùng
hướng tới nhiều mục tiêu chung góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân
cách đa dạng của người học, hướng tới chuẩn bị tiềm n ng chung cho sự
đương đầu và phát triển của cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động thực ti n
khác nhau
Dạy học theo chủ đề chú trọng đến các phương pháp nhằm tạo cơ hội,
tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt là quan tâm đến
quan điểm kiến tạo trong dạy học, coi quá trình học là quá trình giải quyết
các vấn đề thực tiễn đích thực trên cơ sở kiến thức được học ( lí thuyết kiến
tạo cho rằng: mọi người, không phân biệt lứa tuổi học tốt nhất bằng cách: thu
thập thông tin mới, suy nghĩ về nó, và làm việc theo nhiều cách khác nhau
Những hướng dẫn trực tiếp được giảm tối thiểu, thay vào đó là tạo cơ hội cho
người học th m dò, thí nghiệm, chia sẻ ý kiến Tạo cơ hội và cung cấp các tài
liệu khác nhau để học sinh tự lực và hợp tác để xây dựng kiến thức của mình
Trong dạy học theo chủ đề và nhiều mô hình dạy học tích cực khác,
người ta không dành quá nhiều thời gian cho việc truyền đạt và lĩnh hội kiến
thức mới bằng cách dẫn dắt học sinh đi xây dựng kiến thức đó mà thời gian
học chủ yếu dành cho việc giải quyết vấn đề, thực hiện các nhiệm vụ học tập
của các nhóm học sinh Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng
lúc trong quá trình học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập hay giải quyết vấn
đề thực ti n được giao, hoặc nội dung học được giới thiệu trong một khoảng
thời gian ngắn thích hợp theo cách dạy truyền thống trước khi học sinh thực
hiện các nhiệm vụ học tập hoặc nội dung học được giới thiệu thông qua tài
liệu hỗ trợ do giáo viên cung cấp, chỉ dẫn Nói cách khác, các mô hình dạy
học tích cực phổ biến hiện nay thường ưu tiên việc sử dụng kiến thức (thông
Trang 28tin và khuyến khích sự hiểu biết cá nhân có được từ nhiều nguồn ngoài học
đường vào giải quyết và thực hiện các nhiệm vụ học tập hoặc giải quyết vấn
đề thực ti n đặt ra Học sinh học được tiến trình khoa học và kĩ n ng thực
hiện tiến trình khoa học chủ yếu từ việc “dấn thân” vào giải quyết vấn đề chứ
không chỉ từ việc tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạy học truyền
thống quen thuộc
Dạy học theo chủ đề cũng như trong nhiều mô hình dạy học tích cực
khác không coi học sinh là chưa biết gì trước nội dung bài học mới mà trái lại,
phải nghĩ rằng học sinh luôn tự tin và có thể biết nhiều hơn những gì mà giáo
viên mong đợi (họ luôn khiến cả những giáo viên từng thành công và có kinh
nghiệm dạy học dày dạn nhất cũng phải ngạc nhiên, bởi họ có khả n ng và
điều kiện tiếp cận tốt hơn với thông tin mới Vì thế, dạy học cần cố gắng tận
dụng tối đa kiến thức, kinh nghiệm, kĩ n ng có sẵn của học sinh và khuyến
khích khả n ng “có thể biết nhiều hơn thế” của học sinh về một vấn đề mới để
giảm tối đa thời gian và sự thụ động của học sinh trong tiếp nhận kiến thức
mới, để t ng hiểu biết lên nhiều lần so với nội dung cần dạy theo chương trình
học
Trong dạy học theo chủ đề, nhiều kiến thức mới được học sinh lĩnh hội
cùng lúc với việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, đó là nội dung học được tổ
chức theo một tổng thể mới mà mỗi học sinh sẽ có sau quá trình học tập và nó
có thể khác nhau ở những học sinh khác nhau tùy thuộc khả n ng xử lí thông
tin của họ Tổng thể kiến thức mới khác với hệ thống nội dung kiến thức trình
bày trong tất cả các nguồn tham khảo, khác SGK [ 10, tr.192-193]
1.2.7.3 Về tổ chức dạy học
Dạy học theo chủ đề vẫn là sự kết hợp cách tổ chức học theo lớp
truyền thống với học theo nhóm hợp tác, nhưng chủ yếu là theo nhóm
Không gian học không bó hẹp trong lớp học mà mở ra ngoài thực ti n
(cả không gian ảo: thế giới online
Trang 29Thời gian học một chủ đề không nhất thiết trong một, hai tiết học mà
có thể kéo dài trong một, vài tuần tùy ý nghĩa, mức độ quan trọng và mức độ
khó kh n của chủ đề.[ 10, tr.194]
1.2.7.4 Về phương tiện dạy học
- Kết hợp phương tiện dạy học là thiết bị, dụng cụ thí nghiệm với các
phần mềm hỗ trợ (thí nghiệm ảo
- Tích hợp công nghệ vào dạy và học, các nguồn thông tin và phương
tiện hỗ trợ khai thác, xử lí, lưu giữ, chuyển tải thông tin được coi là phương
tiện dạy và học đặc biệt và quan trọng của các mô hình dạy học hiện đại (đây
cũng là những kĩ n ng cơ bản, cần thiết cho sự thành công của tất cả mọi
người sống và làm việc trong mọi ngành nghề trong thế kỉ XXI mà học sinh
cần được rèn luyện ngay trong nhà trường phổ thông [ 10, tr.194]
1.2.7.5 Về kiểm tra đánh giá
- Kết hợp giữa đánh giá kết quả cuối cùng với đánh giá quá trình (đánh
giá chất lượng và hiệu quả công việc của học sinh trong quá trình làm việc
theo nhóm qua các phiếu học tập thông qua đó đánh giá quá trình phát triển
của học sinh: Đánh giá các mục tiêu nhân v n của chương trình học
- Kết hợp đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh.[ 10,
tr.194]
1.2.8 Áp dụng dạy học theo chủ đề vào thực tiễn
Điểm tương đối tương đồng có thể thiết lập giữa dạy học theo chủ đề
với dạy học truyền thống là vẫn coi trọng việc lĩnh hội một nội dung kiến thức
nền tảng Vì thế dạy học theo chủ đề có thể vận dụng vào thực ti n hiện nay
d dàng hơn so với các mô hình học tích cực khác (trong lịch sử giáo dục thì
đây cũng là kiểu dạy học xuất hiện sớm trong buổi giao thời của sự chuyển
đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình dạy học hiện đại có sự triệt để hơn
sau đó
1.2.8.1 Tổ chức lại nội dung học thành các chủ đề thích hợp
Trang 30Ở cấp THPT các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học được biên soạn vào
dạy học riêng biệt gần như ít có liên hệ với nhau, sự tích hợp liên môn, liên
lĩnh vực còn yếu Đây là một trong nguyên nhân làm cho kiến thức các môn
học riêng biệt xa rời thực ti n, xa rời nhu cầu học tập của người học
Nội dung các môn học Vật lí từ lâu cũng đã được xây dựng theo từng chủ đề (được chia thành các chủ đề lớn như: Cơ học, Nhiệt, Điện – Từ, Quang
học trong từng chủ đề lớn lại gồm nhiều chủ đề nhỏ hơn , trong đó nội
dung được sắp xếp theo một trật tự tương đối tuyến tính đảm bảo những
nguyên tắc chung như: tính hệ thống, tính khoa học, tính vừa sức, tính sư
phạm (bỏ qua trật tự thời gian và tính cá nhân (tác giả của kiến thức làm
cho hiệu quả học tập cao hơn
Nội dung các bài học cụ thể nhìn chung được biên soạn theo cách ưu
tiên việc xây dựng các khái niệm, định luật khoa học, vì thế các quá trình học
tập cụ thể của học sinh chủ yếu là quá trình xây dựng kiến thức bài học, trong
đó thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ (tuyến tính giữa các khái niệm, định luật
Tuy nhiên, bên cạnh đó xu hướng ngày càng đề cao dung lượng kiến thức
môn học theo hướng này làm cho chương trình, nội dung học, cách học ngày
càng nặng tính lí thuyết, hàn lâm, thiếu tính cập nhật, khá xa rời thực ti n mà
người học đang sống, xa rời nhu cầu của đa số người học tạo nên áp lực với
những học sinh có phong cách tư duy, định hướng nghề nghiệp không phù
hợp
Khi môn học Vật lí và nhiều môn học khác còn là môn học bắt buộc
với tất cả học sinh như quan niệm từ trước tới nay thì việc cố gắng làm thế
nào cho các chủ đề ở cấp THPT vốn lâu nay được biên soạn còn nặng tính lí
thuyết trở nên phù hợp với nhiều phong cách học tập hơn, gần gũi với thực
ti n mà học sinh đang sống hơn, cố gắng thiết lập tốt nhất trong điều kiện có
thể mối liên hệ liên môn, liên lĩnh vực và làm sao cho việc học đóng góp
nhiều hơn trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh là hết
sức cần thiết
Trang 31Cố gắng làm cho các khái niệm khoa học không chỉ có mối liên hệ
tuyến tính với nhau mà có thêm các mối liên hệ mạng lưới, nhiều chiều với
nhau và liên hệ chặt chẽ với thực tế học sinh đang sống có thể là cách vận
dụng sáng tạo dạy học theo chủ đề vào việc dạy học vật lí nói riêng và các
môn học khác ở cấp THPT
Ngoài việc tích hợp liên môn, có thể thực hiện tích hợp ngay trong một
môn học, trong các phần của một môn học, thậm chí có thể dạy học theo chủ
đề với nội dung một bài học cụ thể nếu thấy rằng nó có thể đạt được các mục
tiêu dạy học theo chủ đề Đó có thể là một hướng vận dụng sáng tạo dạy học
theo chủ đề vào thực ti n giáo dục phổ thông hiện nay
Chương trình học cấp THPT hiện nay mặc dù nội dung kiến thức đã
được biên soạn theo hướng tích hợp, Tuy nhiên trong các chủ đề lớn (như cơ,
nhiệt, điện, quang , việc dạy học vẫn được tiến hành theo hình thức từng bài
đã được quy định trong chương trình, nội dung và cách học còn mang nặng
tính lí thuyết, hàn lâm, xa rời thực ti n, xa rời nhu cầu của đa số người học
nên hiệu quả học tập chưa cao Có nhiều phần nội dung có thể tốt chức thành
Việc tổ chức lại một số nội dung kiến thức thành các chủ đề có thể tạo
thuận lợi cho việc tổ chức dạy học đáp ứng với mục tiêu dạy học trong thời
đạt mới
1.2.8.2 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng bao gồm bộ câu hỏi ở ba mức độ:
- Câu hỏi nội dung: Là các câu hỏi định hướng cho việc thu thập
thông tin liên quan Đó là các câu hỏi có đáp án cụ thể bằng chính các nội
dung cần học tương ứng
Trang 32- Câu hỏi bài học: Việc học tập hướng tới trả lời các câu hỏi bài học là
hướng tới mục tiêu rèn luyện các kĩ n ng tiến trình khoa học và kĩ n ng tư
duy bậc cao
- Câu hỏi khái quát: Là câu hỏi có cấp độ khái quát cao hơn, không có
câu trả lời đúng mà mức độ hoàn hảo của câu trả lời phụ thuộc chủ yếu vào
trình độ và khả n ng phát triển của từng học sinh, đó là câu hỏi có ý nghĩa mở
rộng hiểu biết của học sinh vượt ra khỏi chương trình học, làm cho kiến thức
được học ý nghĩa và gần gũi với cuộc sống
1.2.8.3 Tổ chức quá trình dạy học theo bộ câu hỏi định hướng
Chuẩn bị của giáo viên:
- Nguồn tài liệu hỗ trợ: trong đó bài soạn của giáo viên là sự hỗ trợ
chính thức và quan trọng bên cạnh các nguồn khác
- Thiết kế một cách sáng tạo các cách thức và biện pháp phân công,
kiểm tra, giám sát, kiểm soát quá trình tự học và học tập theo nhóm của học
sinh: Thiết kế các nhiệm vụ học tập cụ thể trên cơ sở bộ câu hỏi định hướng,
thiết kế các phiếu theo dõi học tập, các mẫu hướng dẫn học tập, các hình thức
đánh giá quá trình học tập, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập… Đó là
các công việc của giáo viên, nó khác nhau với các chủ đề khác nhau, các
nhiệm vụ học tập khác nhau và với các đối tượng học sinh khác nhau, nó phụ
thuộc nhiều vào các điều kiện sư phạm khác như: đặc điểm vùng miền, điều
kiện cơ sở vật chất, hoàn cảnh học tập của học sinh
Tổ chức quá trình học tập:
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ học tập cho học sinh với sự hỗ trợ
thích hợp của giáo viên
Đánh giá quá trình học tập:
Tùy vào chủ đề, các nhiệm vụ học tập đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên
khi đánh giá Đánh giá phải làm thế nào không những chuẩn xác, đảm bảo
công bằng mà còn kích thích được hứng thú, tính tích cực, sự cố gắng của học
Trang 33sinh Các hình thức đánh giá phải phong phú, thích hợp với từng kiểu nhiệm
vụ học tập…[ 10, tr.184-198]
1.3 Dạy học bồi dưỡng n ng lực cho người học
1.3.1 Khái niệm năng lực
N ng lực là khả n ng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành
động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc
các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ n ng, kĩ
xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.[6, tr.68]
Để hình thành và phát triển n ng lực cần xác định các thành phần cấu
trúc của chúng Có nhiều loại n ng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các
thành phần n ng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của n ng lực được mô tả
là sự kết hợp của bốn n ng lực thành phần: N ng lực chuyên môn, n ng lực
phương pháp, n ng lực xã hội, n ng lực cá thể.[6, tr.68]
N ng lực chuyên môn: Là khả n ng thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn cũng như khả n ng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có
phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc
học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả n ng nhận thức và tâm lí
vận động.[6, tr.68]
N ng lực phương ph p: Là khả n ng đối với những hành động có kế
hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề
N ng lực phương pháp bao gồm n ng lực phương pháp chung và phương
pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả n ng
tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận
qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.[6, tr.68]
N ng lực xã hội: Là khả n ng đạt được mục đích trong những tình
huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau
trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua
việc học giao tiếp.[6, tr.68]
Trang 34N ng lực c thể: Là khả n ng xác định, đánh giá được những cơ hội
phát triển cũng như những giới hạn của các nhân, phát triển n ng khiếu, xây
dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá
trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp
nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động
tự chịu trách nhiệm.[6, tr.69]
Từ cấu trúc của khái niệm n ng lực cho thấy, giáo dục định hướng
n ng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển n ng lực chuyên môn bao gồm
tri thức, kĩ n ng chuyên môn mà còn phát triển n ng lực phương pháp, n ng
lực xã hội và n ng lực cá thể Những n ng lực này không tách rời nhau mà có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau N ng lực hành động được hình thành trên cơ
sở có sự kết hợp các n ng lực này [6, tr.69]
N ng lực của học sinh là khả n ng làm chủ những hệ thống kiến thức,
kĩ n ng, thái độ,…phù hợp với lứa tuổi và vận hành ( kết nối chúng một
cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả
những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống [11, tr.9]
Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về n ng lực của học sinh:
- N ng lực không chỉ là khả n ng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức,
kĩ n ng học được…, mà quan trọng là khả n ng hành động, ứng dụng-vận
dụng tri thức, kĩ n ng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống
đang đặt ra với các em
- N ng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ n ng, thái độ sống phù hợp
với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả ba yếu tố này, thể hiện ở khả
n ng hành động ( thực hiện hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành
động đạt mục đích đề ra ( gồm động cơ, ý chí, sự tự tin và trách nhiệm xã
hội,…
- N ng lực được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các
nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ở ngoài lớp học Nhà trường là môi
trường giáo dục chính thống giúp học sinh hình thành những n ng lực chung,
Trang 35n ng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy
nhất Những môi trường khác như gia đình, cộng đồng,… cùng góp phần bổ
sung và hoàn thiện các n ng lực của các em.[11, tr.8]
1.3.2 Năng lực giải quyết vấn đề
Trong dạy học vật lí, n ng lực giải quyết vấn đề được thể hiện qua:
- Biết quan sát các hiện tượng và quá trình vật lí trong tự nhiên, trong
đời sống hàng ngày hoặc trong các thí nghiệm để phân tích được các tình
huống nhằm phát hiện được vấn đề cần giải quyết hoặc thu thập các dữ liệu
thực nghiệm
- Biết điều tra, sưu tầm, tra cứu các tài liệu từ các nguồn khác nhau để
thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí
- Biết phân tích, tổng hợp và xử lí thông tin để rút ra kết luận, đưa ra
các dự đoán đơn giản về mối các mối quan hệ hay bản chất của hiện tượng
hoặc quá trình vật lí
- Biết đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
- Vận dụng được kiến thức vật lí để mô tả, giải thích các hiện tượng và
quá trình vật lí, giải quyết các vấn đề trong đời sống thực ti n và sản xuất ở
mức độ phổ thông
- Sử dụng được các thuật ngữ vật lí, các bảng, biểu đồ, đồ thị
- Sử dụng được các dụng cụ đo phổ biến
Qua thực tế dạy học và nghiên cứu về chủ đề “cân bằng vật rắn” Vật lí
lớp 10, chúng tôi thấy đây là một nội dung mà có thể tổ chức các hoạt động học
để bồi dưỡng n ng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận về dạy học theo
chủ đề và việc bồi dưỡng n ng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Chúng tôi
đã nêu rõ được bản chất và các đặc điểm của dạy học theo chủ đề, hình thức
tổ chức và phương pháp dạy học theo chủ đề Ngoài ra chúng tôi còn nêu
những vấn đề chung nhất về n ng lực, dạy học bồi dưỡng n ng lực giải quyết
vấn đề cho học sinh Các luận điểm này sẽ là cơ sở để thiết kế và tổ chức các
hoạt động học tập cụ thể ở chương 2 cũng như đánh giá kết quả học tập của
học sinh ở chương 3
Có thể nói, không có một PPDH nào là vạn n ng, không có một
phương pháp nào là tối ưu Để đạt được hiệu quả dạy học GV phải biết sử
dụng phối hợp nhiều PPDH, phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện dạy
học Người GV c n cứ vào điều kiện cụ thể, đặc điểm của học sinh để lựa
chọn PPDH thích hợp sao cho có thể phát triển được n ng lực của HS Có thể
nói trong các quan điểm dạy học tích cực thì dạy học theo chủ đề có thể phát
huy được n ng lực cho học sinh, có thể đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo
dục hiện nay Đối với môn vật lí, môn học mang đặc thù là thực nghiệm nên
áp dụng hình thức tổ chức dạy học theo chủ đề có tính khả thi
Tất cả những điều đó sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt
để thiết kế các hoạt động học tập theo chủ đề nội dung kiến thức chủ đề "Cân
bằng của vật rắn" vật lí 10
Trang 37CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ “CÂN BẰNG
CỦA VẬT RẮN” VẬT LÍ 10 2.1 Vị trí, tầm quan trọng kiến thức của chủ đề cân bằng của vật rắn–
Vật lí 10
Trong chương trình vật lí ở THPT, phần cơ học là kiến thức đầu tiên và
có vai trò quan trọng, là hành trang cho HS nghiên cứu các phần kiến thức
khác của Vật lí Trong chương trình cơ học vật lí ở lớp 10, chương “Cân bằng
vật rắn” là chương quan trọng Nó có các kiến thức giúp học sinh giải thích
được các hiện tượng gắn với thực ti n và giúp các em phát triển n ng lực giải
quyết vấn đề
Khi HS học chương “Cân bằng vật rắn”, các em sẽ hiểu thêm nhiều
khái niệm mới và bổ xung những kiến thức sâu hơn so với kiến thức ở chương
trình THCS Đó là các khái niệm về Momen lực, Ngẫu lực, các điều kiện cân
bằng, các quy tắc hợp lực, các dạng cân bằng, chuyển động tịnh tiến của vật
rắn, chuyển động quay của vật rắn quanh một trục cố định
2.2 Mục tiêu dạy học chủ đề cân bằng vật rắn – Vật lí 10
2.2.1 Mục tiêu kiến thức
- Phát biểu được điều kiện cân bằng của một vật rắn chịu tác dụng của
hai hoặc ba lực không song song
- Phát biểu được quy tắc xác định hợp lực của hai lực song song cùng
chiều
- Nêu được trong tâm của một vật là gì
- Phát biểu được định nghĩa, viết được công thức tính momen lực và
nêu được đơn vị đo momen lực
- Phát biểu được điều kiện cân bằng của một vật rắn có trục quay cố
định
Trang 38- Nêu được điều kiện cân bằng của một vật có mặt chân đế Nhận biết
được các dạng cân bằng bền, cân bằng không bền, cân bằng phiếm định của
vật rắn có mặt chân đế
2.2.2 Mục tiêu kĩ năng
- N ng lực giải quyết vấn đề
- Vận dụng được điều kiện cân bằng và quy tắc tổng hợp lực để giải
các bài tập đối với trường hợp vật chịu tác dụng của ba lực đồng quy
- Vận dụng được quy tắc xác định hợp lực để giải các bài tập đối với
vật chịu tác dụng của hai lực song song cùng chiều
- Vận dụng quy tắc momen lực để giải được các bài toán về điều kiện
cân bằng của vật rắn có trục quay cố định khi chịu tác dụng của hai lực
- Xác định được trọng tâm của các vật phẳng đồng chất bằng thí
nghiệm
2.2.3 Mục tiêu phát triển tư duy
- Nêu ra được các vấn đề dưới dạng câu hỏi, đưa ra được các dự đoán,
đề xuất được các giả thuyết
- Có khả n ng phân tích, tổng hợp và xử lí thông tin thu được để rút ra
kết luận
- Biết quan sát hiện tượng và vận dụng kiến thức để giải thích hiện
tượng trong các thí nghiệm định tính
- Biết thu thập, xử lí số liệu và rút ra kết luận cần thiết trong các thí
nghiệm định lượng
- Biết chế tạo dụng cụ, thiết kế phương án và tiến hành thí nghiệm với
các phương án đã đề xuất trên các dụng cụ đã chế tạo được
2.2.4 Mục tiêu thái độ
- Có hứng thú, say mê trong học tập và yêu thích bộ môn vật lí nói
chung, các kiến thức về chủ đề cân bằng vật rắn nói riêng
Trang 39- Có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập, có tinh
thần hợp tác khi làm việc giữa các cá nhân và ý thức trách nhiệm của mỗi HS
khi nghiên cứu bài học
- Tích cực vận dụng, liên hệ những kiến thức đã học với thực ti n cuộc
2.3 Sơ đồ cấu tr c nội dung chủ đề cân bằng của vật rắn – Vật lí 10
Cấu trúc nội dung kiến thức cơ bản của chương:
- Điều kiện cân bằng tổng quát đối với chất điểm được hình thành từ
các kiến thức về trạng thái cân bằng, gia tốc, định luật hai Niutơn,
- Trọng tâm của vật rắn và tính chất đặc biệt của trọng tâm
Hai kiến thức cơ bản trên làm nền tảng cho các kiến thức tiếp sau:
- Điều kiện cân bằng của một vật khi không có chuyển động quay
- Quy tắc hợp lực đồng quy
- Đặc điểm của hệ lực cân bằng
- Quy tắc hợp lực song song
- Tác dụng của lực đối với một vật có trục quay cố định
- Cân bằng của một vật có trục quay cố định
- Các dạng cân bằng và mức vững vàng của cân bằng
Trong đó ba đơn vị kiến thức có liên quan tới nhau: Điều kiện cân
bằng của một vật khi không có chuyển động quay, quy tắc hợp lực đồng quy,
đặc điểm của hệ lực cân bằng được bố trí trong một bài, chúng được hình
thành trên cơ sở kiến thức về trọng tâm của vật rắn và kiến thức về điều kiện
cân bằng tổng quát đối với chất điểm
Kiến thức về quy tắc hợp lực song song được hình thành từ thực
nghiệm tuy nhiên vẫn có thể bằng con đường lý thuyết suy ra được từ quy tắc
Trang 40hợp lực đồng quy
Kiến thức về tác dụng của lực đối với một vật có trục quay cố định
được bố trí cùng trong một bài với kiến thức về cân bằng của một vật có trục
quay cố định được xây dựng bằng thực nghiệm và kết hợp với kiến thức về
quy tắc hợp lực song song làm nền tảng xây dựng kiến thức cân bằng của một
vật có trục quay cố định
Kiến thức về các dạng cân bằng, mức vững vàng của cân bằng được
hình thành từ thực nghiệm trên cơ sở kiến thức về trọng tâm, cân bằng của
một vật có trục quay cố định
Theo chương trình hiện hành của Bộ giáo dục và đào tạo, chương “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” bao gồm 6 bài, (từ bài 17 đến bài 22 dạy
trong 10 tiết (từ tiết 27 đến tiết 35 , trong đó 8 tiết lí thuyết, 1 tiết bài tập là
tiết 35 (sau bài 22 Ngẫu lực Thứ tự các bài trong chương được liệt kê cụ thể
trong bảng cho dưới đây:
Bảng1.1 PPCT chương “ Cân bằng và chuyển động của vật rắn”
STT Bài Tiết
1 17 27,28 Cân bằng của một vật chịu tác dụng của hai lực và
của ba lực không song song
2 18 29 Cân bằng của một vật có trục quay cố định
Momen lực
3 19 30 Quy tắc hợp lực song song cùng chiều
4 20 31 Các dạng cân bằng Cân bằng của một vật có mặt
chân đế
5 21 32,33 Chuyển động tịnh tiến của vật rắn Chuyển động
quay của vật rắn quanh một trục có định