1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khởi nghiệp.pdf

1,1K 47 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khởi nghiệp
Trường học Trung tâm Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Sáng Tạo Quốc Gia
Chuyên ngành Kinh tế và Khởi nghiệp
Thể loại Kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 1.087
Dung lượng 16,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, với mục đích tìm hiểu và phân tích vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp; từ đó, nghiên cứu tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị nh

Trang 2

CỤC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG

VÀ DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO QUỐC GIA

KỶ YẾU

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

KẾT NỐI MẠNG LƯỚI NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH

HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG

NĂM 2021

Trang 3

ThS Nguyễn Thị Thu Trang

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHỞI NGHIỆP Ở TỈNH BẾN TRE TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

ĐẾN NĂM 2031 47

TS Hồ Thu Hiền, ThS Ngô Hoàng Đại Long

BUYMED - STARTUP PHÂN PHỐI DƯỢC PHẨM VƯƠN LÊN TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH 58

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH

-TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU THANH NIÊN TẠI HÀ NỘI 80

TS Lưu Văn Hiếu, TS Đỗ Quang Hưng

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÚC ĐẨY KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 93

ThS Dương Thanh Tùng

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA HỌC VIÊN, SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 100

ThS Hà Vũ Nam

Trang 4

ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VIỆT NAM - PHẦN LAN 113

ThS Đoàn Trần Nguyên

KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO BỀN VỮNG TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM 119

ThS Mai Nhật Minh Anh, TS Nguyễn Quang Như Quỳnh

KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI TỈNH TRÀ VINH 128

NCS, ThS Kiều Thị Khánh, NCS, ThS Trần Thanh Hải

TS Nguyễn Thu Nga

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VƯỜN ƯƠM DOANH NGHIỆP 168

ThS Lưu Thị Hoan

HỖ TRỢ CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG CÁC GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CHU KỲ SỐNG: LÝ THUYẾT VÀ BÀI HỌC THỰC TIỂN TẠI TPHCM 175

ThS Lê Diễm Thu

ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KHỞI NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 187

ThS Lê Phương Hoa

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH

-TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU THANH NIÊN TẠI HÀ NỘI 193

TS Lưu Văn Hiếu, TS Đỗ Quang Hưng

CƠ HỘI CHO CÁC STARTUP LOGISTICS VIỆT NAM 205

ThS Nông Mai Thanh

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG 213

TS Đặng Văn Tin

TINH THẦN KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG 223

ThS Nguyễn Phương Linh

HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI TỈNH LÀO CAI 230

Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Trọng Nghĩa

Trang 5

GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TẠI VIỆT NAM 241

Nguyễn Thị Hạnh, Đoàn Hùng Minh, Đặng Bá Mạnh,

Phan Ngọc Xuân Duy, Tăng Kim Ngân

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH COVID-19 CỦA CÁC STARTUP VIỆT NAM 272

TS Nguyễn Quốc Cường, ThS Trương Thị Thủy Tiên

KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO KINH TẾ - KỸ THUẬT NGÀNH NÔNG NGHIỆP 303

ThS Nguyễn Ngọc Anh

PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP TẠI ĐẠI HỌC VÙNG TỪ THỰC TIỄN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 310

TS Nguyễn Đình Yên, ThS Bùi Trọng Tài

KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TỈNH BẾN TRE: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 320

TS Lâm Văn Tân

GIẢI PHÁP VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH CỦA CÁC STARTUP DU LỊCH 325

Trang 6

PGS.TS Đặng Hoàng Linh, Phạm Thị Thu Thanh,

Vũ Thị Kim Liên, Bùi Hương Thảo

THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CÁC DOANH NGHIỆP NỮ KHỞI NGHIỆP 378

ThS Vũ Thị Bích Hảo

ĐÀO TẠO KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 385

NCS.ThS Lê Anh Đức, ThS Phạm Thị Phương Thúy,

TS Phạm Ngọc Hưng, ThS Lương Minh Tú,

ThS Nguyễn Thị Thanh Giang

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 395

ThS Vũ Thị Vân Anh

RÀO CẢN ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI HÓA SÁNG CHẾ, NHÌN TỪ THỰC TIỄN START UP WTM "MADE IN VIET NAM" 400

PGS.TS Trần Văn Nam, Kỹ sư Lại Minh Chức

GIẢI PHÁP HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHỞI NGHIỆP 410

ThS Nguyễn Thị Thanh Thúy

THÚC ĐẨY HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TỈNH SƠN

LA 416

Nguyễn Hữu Long

CHIẾN LƯỢC ĐỂ DOANH NGHIỆP TỒN TẠI TRONG BỐI CẢNH COVID 19 423

Trang 7

CHUYỂN ĐỔI CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG SỐ TẠI VIỆT NAM - TIỀM NĂNG CHO PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI NGHIÊN CỨU KHỞI NGHIỆP VÀ

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 451

TS Lê Văn Hải

ẢNH HƯỞNG CỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO TOÀN DIỆN ĐẾN KẾT QUẢ LÀM VIỆC CỦA NHÓM: VAI TRÒ CỦA THÚC ĐẨY VĂN HÓA ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA NHÓM TRONG CÁC CÔNG TY GIA CÔNG PHẦN MỀM

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 461

Nguyễn Đắc Thành, Nguyễn Thị Sâm

KINH NGHIỆM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TRÊN THẾ GIỚI 476

ThS Nguyễn Thị Thu Hương

NGHIÊN CỨU NỘI DUNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO CỦA UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN TỪ 2017 ĐẾN NAY 484

TS Nguyễn Việt Long

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 492

ThS Nguyễn Thị Thu Trang

XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO XANH GẮN VỚI CHIẾN

Trang 8

KHỞI NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH - FINTECH 567

CẢI TIẾN SẢN PHẨM GIẢM MẠNH GIÁ THÀNH 589

ThS Nguyễn Lê Ngọc Hoàn

CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ TÀI CHÍNH KHÔNG HOÀN LẠI VÀ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO - BÀI HỌC QUỐC TẾ

VÀ THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM 594

ThS Đoàn Thị Nguyệt

HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM 602

ThS Đinh Văn Linh

BÀI HỌC QUỐC TẾ TRONG ĐẦU TƯ THÀNH CÔNG TỪ QUỸ VÀ TỪ CÁC

NHÀ ĐẦU TƯ ANGEL CHO DOANH NGHIỆP 610

ThS Lê Minh Trang

BÀN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 618

TS Hoàng Nguyên Khai

KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC TẠO VỐN TRÊN THẾ GIỚI 627

PGS.TS Trần Nhuận Kiên, PGS.TS Trần Chí Thiện

CÁC MÔ HÌNH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 661

ThS Nguyễn Thị Kim Thoa

Trang 9

CHÍNH SÁCH VỐN NHẰM HÌNH THÀNH CÁC MÔ HÌNH LIÊN KẾT CHUỖI GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT

SỐ GỢI Ý ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 668

ThS Lưu Minh Huyên

TÀI TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO VÀ THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM 677

TS Trần Nha Ghi, TS Lê Xuân Bảo, TS Hà Kiên Tân

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN CHO KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TẠI VIỆT NAM 719

ThS Trần Thị Minh Hải

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 726

ThS Nguyễn Thùy Linh

PHẦN 4: KHỞI NGHIỆP TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 735

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY, LAN TỎA TINH THẦN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG HỌC SINH - SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO

ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRONG HIỆN NAY 736

Nguyễn Thanh Toàn

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC THI Ý TƯỞNG KHỞI NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC/CƠ SỞ GIÁO DỤC TẠI VIỆT NAM 741

TS Nguyễn Quang Như Quỳnh

BLACASA - DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP VỚI MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỜI ĐẠI KẾT NỐI 749

ThS Vũ Thị Kim Thanh

GIẢI PHÁP HỖ TRỢ SINH VIÊN KHỞI NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG CAO

ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 754

Nguyễn Thanh Toàn

Trang 10

CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐẾN TỪ CÔNG NGHỆ

SỐ 759

ThS Nguyễn Thị Thanh Hoa

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ỨNG DỤNG - NỀN TẢNG CHO HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN 765

ThS Nguyễn Thị Như Quyến

CƠ HỘI KHỞI NGHIỆP VỚI CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN 776

ThS Nguyễn Thị Nguyệt Minh

XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP TRONG CÁC TRƯỜNG ĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐH THÁI NGUYÊN) 783

TS Trần Thị Hồng, TS Nguyễn Đình Yên

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SÁNG TẠO, THÍCH ỨNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP CHO SINH VIÊN TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 823

TS Trần Thị Kim Tuyến

BÀI HỌC THÀNH CÔNG CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ TENCENT TRONG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM WECHAT 831

ThS Vũ Ngọc Tuấn

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 836

ThS.NCS Nguyễn Thị Lý

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THÚC ĐẨY KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 854

Nguyễn Hữu Long, Trần Thị Hồng

PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁN BỘ PHÙ HỢP YÊU CẦU KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 883

Trang 11

ThS Đan Thu Vân

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 889

PGS.TS Chu Đình Lộc, TS Võ Văn Dũng, ThS Nguyễn Đăng Đức

BÀI HỌC TỪ SỰ THÀNH CÔNG CỦA STARTUP TOPICA 897

ThS Hà Thị Thu Thủy

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO Ở VÙNG

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI 903

TS Nguyễn Thị Thu Hà, TS Nguyễn Thị Lan Anh

BÀI HỌC QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 918

ThS Hoàng Hiếu Thảo

HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH SỐ HÓA - LÝ THUYẾT

VÀ THỰC TIỄN 923

ThS Hoàng Hà, TS Lê Thị Minh Hằng, ThS Võ Đức Anh

KINH NGHIỆM KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG

ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 938

Đậu Xuân Đạt, Trần Thị Ngát

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO 952

ThS Nguyễn Thúy Hải

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐẠI HỌC HUẾ 958

Hoàng Kim Toản

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH TRONG VIỆC THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ KHỞI NGHIỆP TẠI KHU VỰC TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC 966

Nguyễn Quang Hợp, Trần Quang Huy, Bùi Đức Linh

BÀI HỌC KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG CỦA DOANH NGHIỆP START UP MOMO 976

ThS Nguyễn Thị Dung

ĐOÀN THANH NIÊN VỚI TẠO LẬP MÔI TRƯỜNG THÚC ĐẨY PHONG TRÀO KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CHO SINH VIÊN 982

Phạm Minh Hoàng, Nguyễn Thị Anh Đào

KINH NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO ĐẾN TỪ

HAI ĐỐI THỦ FOODY.VN VÀ LOZI.VN 994

ThS Phạm Thị Phương Thảo

ĐÀO TẠO TINH THẦN KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TỪ TRONG MÔI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC 999

Phạm Văn Hạnh

Trang 12

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP

ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 1007

ThS Phùng Thanh Hoa, Phung Thanh Hoa

TÁC ĐỘNG CỦA ĐÀO TẠO KHỞI NGHIỆP ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP 1018

Lê Thị Minh Hằng, Hoàng Hà, Nguyễn Sơn Tùng

ĐỀ XUẤT VỀ ĐỊNH HƯỚNG KHỞI NGHIỆP CHO SINH VIÊN THUỘC CÁC NHÓM NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1035

Trần Thanh Xuyên, Nguyễn Thanh Toàn

KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG SINH VIÊN - TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI HỌC VÙNG TRỌNG ĐIỂM 1043

ThS Đinh Thị Mỹ Hạnh, TS Dương Minh Quân, ThS Ngô Thị Hồng Vân, CN Ngô Nguyễn Nhật Hùng,

CN Phạm Phi Phụng, CN Nguyễn Thanh Nam

NÂNG CAO VAI TRÒ ĐÀO TẠO - HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP

TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1057

ThS Trần Thị Kim Phượng

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP DỆT MAY HÀ NỘI 1062

ThS.Trịnh Thùy Giang

Trang 13

PHẦN 1

HỆ SINH THÁI KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐỊA PHƯƠNG

Trang 14

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC KHỞI NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ

Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng

Tóm tắt: Thông qua kết quả khảo sát từ 282 sinh viên học tại các trường Đại

học trên địa bàn TP Đà Nẵng, nghiên cứu này đã áp dụng các lý thuyết nền tảng, các kết quả nghiên cứu đi trước trong việc phân tích và đánh giá vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp Kết hợp các phép phân tích cơ bản trong nghiên cứu định lượng như thống kê, đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố EFA & CFA, mô hình SEM từ các phần mềm SPSS và AMOS Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ

cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi và (2) Thái độ cá nhân, Quy chuẩn

xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp

Từ khóa: Khởi nghiệp, Ý định khởi nghiệp, Giáo dục khởi nghiệp

Abstract: Through the survey results from 282 students studying at universities

in Danang city, this study applied fundamental theories and previous research results

in analyzing and evaluating the role of entrepreneurship education as well as the factors affecting entrepreneurship intention Combining basic analyzes in quantitative research such as statistics, Cronbach's alpha reliability, EFA & CFA factor analysis, SEM models from SPSS and AMOS software The research results show that: (1) Entrepreneurship education has a positive impact on individual attitudes, social norms, perception of feasibility and (2) Personal attitudes, social norms, and perceptions Feasibility, Entrepreneurship Education has a positive impact on Entrepreneurial Intent

Keywords: Entrepreneurship, Entrepreneurship intention, Entrepreneurship

Education

Trang 15

1 Giới thiệu

Trong xu thế cạnh tranh gay gắt và nhu cầu tìm kiếm công việc ngày càng gia tăng, nhưng cộng hưởng với đó là việc gia tăng dân số và quy mô việc việc làm ngày càng không đáp ứng nổi lực lượng lao động đến độ tuổi lao động, do đó, nhiều bạn trẻ

đã tìm đến con đường tự tạo lập sự nghiệp thông qua việc khởi nghiệp (Pedrini & cộng

sự, 2017)

Vấn đề khởi nghiệp không phải chỉ xuất phát dành cho các lao động đã có vốn, kinh nghiệm nghề nghiệp mà xuất phát từ rất sớm khi xét đến độ tuổi, đó có thể là các bạn trẻ bỏ dỡ việc học, và chính các bạn sinh viên khi có ý chí định hướng tương lai (Lĩnán & cộng sự, 2011; Pittaway & cộng sự, 2015; Pedrini & cộng sự, 2017) Vì thế, ngày nay, nhiều bạn trẻ đã tiến hành khởi nghiệp rất sớm và cũng không ít các bạn đã đạt được kết quả như mong đợi

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Lin và cộng sự (2011) cho thấy, khi các bạn

có ý định khởi nghiệp, nhưng những ai được giáo dục sớm, được tiếp thu các kiến thức liên quan đến việc khởi nghiệp nhiều thì họ dễ dàng chạm đến thành công sớm hơn; bởi

vì lý do đó, nhiều các đơn vị, tổ chức giáo dục đã rất chú trọng đến công tác giáo dục khởi nghiệp đến các bạn học viên/sinh viên Điều này đóng góp tích cực trong việc giải quyết việc làm của nhiều bạn trẻ khi tốt nghiệp khóa học của mình Bên cạnh đó, ý định khởi nghiệp cũng đã chịu nhiều các tác động khác từ phía xã hội, ý thức/nhận thức của mỗi cá nhân

Do đó, với mục đích tìm hiểu và phân tích vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp; từ đó, nghiên cứu tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị nhằm gia tăng Ý định khởi nghiệp của các sinh viên trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng Chính vì vậy, tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu “Vai trò của

giáo dục khởi nghiệp và các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn TP Đà Nẵng”

2 Các khái niệm và giả thuyết nghiên cứu:

Khái niệm về Khởi nghiệp (Entrepreneurship)

Theo Nabi và cộng sự (2010) thì khởi nghiệp là một quá trình tạo ra cái gì đó mang tính chất mới, có giá trị bằng cách dành được thời gian và nỗ lực cần thiết, chẳng hạn những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo, song nhận được những phần thưởng xứng đáng về sự hài lòng cũng như độc lập về tiền tệ

Và cũng theo, Duval-Couetil (2014), khởi nghiệp là một sự theo đuổi cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn, có rủi ro, bị hạn chế bởi các nguồn lực hữu hình và

có giới hạn

Hay theo Pedrini và cộng sự (2017), khởi nghiệp là tác nhân tạo ra doanh nghiệp

và hình thành doanh nghiệp mới

Quan điểm về Ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention)

Trang 16

Ajzen (1991) cho biết ý định là tiền đề của hành vi Ý định tham gia vào hành vi càng mạnh mẽ thì càng có nhiều khả năng hành vi sẽ được thực hiện trong thực tế Dựa trên quan điểm của Ajzen (1991) thì Krueger và cộng sự (2000) cho rằng, ý định khởi nghiệp là sự gắn kết để thực hiện hành vi khởi nghiệp, là nhân tố tiên đoán tốt nhất đối với hành vi dự định và thể hiện mức độ cam kết sẽ thực hiện hành vi trong tương lai

Cụ thể hơn, Lĩnán và cộng sự (2011) khẳng định ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình Hay Pedrini và cộng sự (2017) cho rằng ý định khởi nghiệp là trạng thái sẵn sàng của một cá nhân trong việc thực hiện

tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới

Các giả thuyết nghiên cứu:

Mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp

Lĩnán và cộng sự (2011) cho thấy rằng, nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm

đã phản ánh được hoạt động giáo dục khởi nghiệp có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp Hoạt động giáo dục liên quan đến khởi nghiệp có vai trò tích cực trong việc hình thành ý tưởng, đề xuất các kiến tạo để người học có các ý tưởng khởi nghiệp tốt hơn, do

đó, giáo dục khởi nghiệp là điều rất cần thiết trong việc giúp ích hình thành ý định khởi nghiệp (Kreuger, 2009; Rae & Ruth Woodier-Harris, 2013)

Bên cạnh đó, nghiên cứu Wagner và Stemberg (2004) cho thấy có rất nhiều sinh viên khởi nghiệp không thành công bởi họ thiếu các kiến thức về khởi nghiệp, do đó, các bạn có kiến thức khởi nghiệp tốt, các ý tưởng được trao dồi thông các buổi đào tạo

về khởi nghiệp sẽ giúp khởi nghiệp thành công hơn Còn Lĩnán và cộng sự (2011) đã thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp, trong đó chú trọng quan tâm đến vai trò của giáo dục khởi nghiệp Nghiên cứu này thể hiện ý định khởi nghiệp chịu sự tác động tích cực từ hoạt động giáo dục khởi nghiệp; điều này cũng đã được Autio và cộng sự (2001) chứng minh trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm của mình

Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H1: Giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi

Kết quả nghiên cứu của Liñán (2004) cho thấy được, nhân tố giáo dục khởi nghiệp thực sự tác động đến các nhân tố thái độ cá nhân, quy chuẩn xã hội và nhận thức tính khả thi Khi nhân tố giáo dục được tăng cao các đối tượng sẽ có những kiến thức tích cực hơn đối với bản thân, từ đó họ sẽ có thái độ tốt hơn, các mối quan hệ xã hội sẽ tốt hơn và nhận thức vấn đề sẽ được cải thiện (Kwong & Thompson, 2016) Do đó, nhân

tố khởi nghiệp thật sự là điều cần thiết khi nghiên cứu đánh giá đến tác động các nhân

tố thái độ cá nhân, quy chuẩn xã hội và nhận thức tính khả thi (Pedrini & cộng sự, 2017)

Bên cạnh đó, giáo dục khởi nghiệp có thể cải thiện tính khả thi cho việc tự kinh doanh thông qua tăng cường kiến thức cơ bản, xây dựng lòng tin và nâng cao hiệu quả (Krueger & Carsrud, 1993)

Trang 17

Do đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết:

H2: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến thái độ cá nhân của sinh viên

H3: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến quy chuẩn xã hội của sinh viên

H4: Giáo dục khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức tính khả thi của sinh viên

Mối quan hệ giữa Thái độ cá nhân và Ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu của Luthje và Franke (2003) cho thấy rằng thái độ cá nhân có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp, và nhân tố thái độ cá nhân còn đóng vai trò rất tích cực trong việc giải thích hành vi, các ý định liên quan đến thành lập doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu Autio và cộng sự (2001) tại một số trường đại học ở các nước Bắc

Âu và Mỹ cũng đã kết luận rằng thái độ cá nhân là nhân tố không thể chối cãi trong việc tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Và Lĩnán và Chen (2009) về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Tây Ban Nha

và Đài Loan thể hiện thái độ cá nhân ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở cả hai quốc gia này, trong đó, thái độ của sinh viên tại Tây Ban Nha có mức

độ ảnh hưởng mạnh hơn Không những thế, Pedrini và cộng sự (2017) cho thấy ý định khởi nghiệp cũng chịu tác động rất đáng kể từ thái độ cá nhân, là nền tảng trong việc gia tăng ý định khởi nghiệp của các cá nhân

Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H5: Thái độ cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Mối quan hệ giữa Quy chuẩn xã hội và Ý định khởi nghiệp

Đề cập đến quy chuẩn xã hội trong mối quan hệ và tác động đến ý định khởi nghiệp, kết quả nghiên cứu của Pedrini và cộng sự (2017) được minh chứng rõ ràng nhất, các nhà nghiên cứu này sử dụng mô hình hành vi dự định của Ajzen (1991) để thực hiện nghiên cứu so sánh về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại 12 quốc gia đã khẳng định rằng quy chuẩn xã hội là nhân tố có thể dự đoán và tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Cùng với đó, nghiên cứu của Lĩnán và cộng sự (2011) cũng cho thấy vai trò tích cực của quy chuẩn xã hội trong việc tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H6: Quy chuẩn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

Mối quan hệ giữa Nhận thức tính khả thi và Ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu của Autio và cộng sự (2001) cho thấy nhận thức tính khả thi là nhân

tố có mức độ ảnh hưởng quan trọng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Pedrini và cộng sự (2017) cũng đã đề cập trong nghiên cứu của mình rằng nhận thức tính khả thi

là một trong những nhân tố tiên đoán hiệu quả đối với ý định khởi nghiệp và kết quả

Trang 18

nghiên cứu của các tác giả này cũng đã cho thấy được nhận thức tính khả thi có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp

Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu của Lĩnán và Chen (2009) về ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Tây Ban Nha và Đài Loan cũng cho thấy nhận thức tính khả thi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở cả hai quốc gia này Trong đó, nhận thức tính khả thi của sinh viên tại Đài Loan có mức độ ảnh hưởng cao hơn

Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết H7: Nhận thức tính khả thi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp cụ thể như sau:

Nghiên cứu định tính thông qua việc tổng hợp các lý thuyết và kết quả từ các nhà

nghiên cứu đi trước liên quan đến chủ đề tác giả nghiên cứu để đề xuất các giả thuyết

và xây dựng mô hình nghiên cứu; sau đó, tác giả tiến hành thảo luận cùng với 10 chuyên gia để hiệu chỉnh và bổ sung các thang đo cũng như mô hình nghiên cứu cho phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng được tác giả thực hiện thông qua các phép phân tích cơ

bản như thống kê, đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố EFA & CFA,

mô hình SEM từ dữ liệu điều tra khảo sát 300 sinh viên từ năm 3 trở lên đang theo học tại các trường Đại học trên địa bàn TP Đà Nẵng và thu về 282 mẫu hợp lệ Kết quả nghiên cứu định lượng phản ánh cụ thể về vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn TP Đà Nẵng

Trang 19

Bảng 1: Các thang đo thuộc các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

GD1 Theo anh/chị, cần thiết phải có chương trình

đào tạo cho các doanh nhân trẻ

Lĩnán và cộng sự (2011)

2 GD2 Theo anh/chị, khởi nghiệp cần có kiến thức

về hoạt động vay vốn

3 GD3 Theo anh/chị, khởi nghiệp cần có kiến thức

về công nghệ

4 GD4 Theo anh/chị, khởi nghiệp cần phải tìm hiểu

về các trung tâm thương mại

5 GD5 Theo anh/chị, khởi nghiệp cần phải biết đến

các kiến thức về việc tư vấn

7 TD2 Anh/chị nghĩ rằng, là một doanh nhân sẽ có

nhiều lợi thế hơn đối với anh/chị

8 TD3 Sự nghiệp làm doanh nhân hấp dẫn đối với

anh/chị

9 TD4 Nếu anh/chị có cơ hội và nguồn lực, anh/chị

muốn bắt đầu một doanh nghiệp

11 CQ2 Hoạt động khởi nghiệp được coi là quá rủi

ro

Người ta thường nghĩ rằng để khởi nghiệp, các doanh nhân tận dụng lợi thế của người khác

14 NT2 Anh/chị có thể kiểm soát quá trình thành lập

một doanh nghiệp mới

15 NT3 Anh/chị biết một cách chi tiết các thủ tục

cần thiết để bắt đầu một doanh nghiệp

16 NT4 Anh/chị biết cách phát triển một dự án khởi

nghiệp

Trang 20

YD1 Anh/chị sẽ cố gắng hết sức để bắt đầu và

điều hành doanh nghiệp của riêng mình

Lĩnán và cộng sự (2011)

18 YD2 Anh/chị quyết tâm tạo ra một doanh nghiệp

trong tương lai

19 YD3 Anh/chị đã suy nghĩ rất nghiêm túc khi bắt

đầu một doanh nghiệp

20 YD4 Anh/chị đã có ý định vững chắc để bắt đầu một

doanh nghiệp vào một ngày nào đó

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Căn cứ vào số lượng biến trong mô hình nghiên cứu, đồng thời dựa vào lý thuyết

cỡ mẫu cho các nghiên cứu có áp dụng phép phân tích nhân tố EFA, cỡ mẫu tối thiểu được xác định là 4 hoặc 5 lần số biến (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Như vậy theo nghiên cứu này, cỡ mẫu tối thiểu là 5 x 20 = 100 mẫu, tuy nhiên để đảm bảo tính thuyết phục và gia tăng độ tin cậy, tác giả đã tiến hành khảo sát 300 mẫu và thu

về 282 mẫu hợp lệ

Bảng 2: Kết quả thống kê mô tả

Nguồn: Kết quả phân tích SPSS

Kết quả khảo sát 282 đối tượng cho thấy tỷ lệ nam, nữ lần lượt là 60,3% và 39,7%; dữ liệu khảo sát chủ yếu thuộc các sinh viên khối ngành kinh tế như quản trị kinh doanh (chiếm tỷ lệ 22,3%), kế toán (chiếm tỷ lệ 20,6%) và tài chính ngân hàng (chiếm tỷ lệ 17,4%) Cùng với đó, tỷ lệ sinh viên năm 4 chiếm tỷ trọng cao nhất là 67,0%

4 Kết quả nghiên cứu

Trang 21

Thực việc việc đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha là bước đầu tiên trong việc thực hiện mô hình cấu trúc SEM, với 20 biến số của 5 nhóm nhân tố đưa vào phân tích (bao gồm: Giáo dục khởi nghiệp (GD), Thái độ cá nhân (TD), Quy chuẩn xã hội (CQ), Nhận thức tính khả thi (NT) và Ý định khởi nghiệp (YD)), tất cả các biến đều đạt yêu cầu (hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3) ngoại trừ biến GD4, GD5 thuộc nhân

tố Giáo dục khởi nghiệp vì hệ số tương quan biến tổng lần lượt là -0,113; -0,397 nhỏ hơn 0,3 Cùng với đó, tất cả các hệ số Cronbach’s alpha đều từ 0,7 trở lên; giao động từ mức thấp nhất là 0,724 (nhân tố Giáo dục khởi nghiệp) cho đến mức cao nhất là 0,848 (nhân tố Thái độ cá nhân)

Bảng 3: Tổng hợp hệ số Cronbach’s Alpha

Nguồn: Kết quả phân tích SPSS

Như vậy, sau khi đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha, nghiên cứu có 18 biến phù hợp thuộc 5 nhân tố để đưa vào phân tích nhân tố EFA nhằm khám phá cấu trúc thang đo của 5 nhóm nhân tố Giáo dục khởi nghiệp (GD), Thái độ cá nhân (TD), Quy chuẩn xã hội (CQ), Nhận thức tính khả thi (NT) và Ý định khởi nghiệp (YD)

Trang 22

Bảng 4: Kết quả phân tích nhân tố EFA

Nguồn: Kết quả phân tích SPSS

Phân tích nhân tố EFA với hệ số KMO đạt mức 0,818 lớn hơn 0,5; điều này khẳng định kết quả EFA hoàn toàn phù hợp cho việc khám phá cấu trúc các thang đo; cùng với

đó, kiểm định Barlett với hệ số Sig nhỏ hơn 5%, cho thấy, kết quả phân tích nhân tố EFA hoàn toàn có ý nghĩa thống kê

Bảng 5: Kết quả xoay nhân tố

Nguồn: Kết quả phân tích SPSS

Bên cạnh đó, kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy điểm dừng tại dòng thứ 5 với giá trị riêng là 1,029 lớn hơn 1, điều này khẳng định các biến đưa vào phân tích sắp

Trang 23

xếp thành 5 nhóm nhân tố và tổng phương sai trích tại dòng thứ 5 là 72,072% lớn hơn 50%; cho thấy được mức độ biến thiên của dữ liệu được giải thích đến 72,072%

Không những thế, kết quả xoay nhân tố cho thấy 18 biến số đưa vào phân tích sắp xếp cụ thể thành 5 nhóm nhân tố Giáo dục khởi nghiệp (GD), Thái độ cá nhân (TD), Quy chuẩn xã hội (CQ), Nhận thức tính khả thi (NT) và Ý định khởi nghiệp (YD) theo kết quả cụ thể tại Bảng 5

Bảng 6: Các chỉ tiêu đánh giá kết quả phân tích CFA theo hệ số

Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Sử dụng kết quả xoay nhân tố EFA, tác giả đưa vào phân tích nhân tố CFA và thu được các hệ số Chi-square/df = 2,206 nhỏ hơn 3, GFI = 0,906 lớn hơn 0,9; TLI = 0,935 lớn hơn 0,9; CFI = 0,948 lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,066 nhỏ hơn 0,08; điều này cho thấy kết quả phân tích CFA phù hợp với dữ liệu thị trường và tất cả các trọng số chuẩn hóa đều lớn hơn 0,5 nên tất cả các biến đều phù hợp; hay nói cách khác các khái niệm đạt giá trị hội tụ

Trang 24

Hình 1: Kết quả phân tích CFA theo hệ số chuẩn hóa của các nhân tố

Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Bảng 7: Tổng hợp giá trị độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích các nhân tố

Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả

Sử dụng kết quả phân tích CFA, tác giả tính toán các chỉ số độ tin cậy tổng hợp

và tổng phương sai trích của tất cả các nhân tố; kết qua thu được các hệ số độ tin cậy tổng hợp các nhân tố đều lớn hơn 0,7 và tổng phương sai trích của các nhân tố đều lớn hơn 0,5 Và các khái niệm đạt giá trị phân biệt vì các hệ số tương quan từng cặp đều có

hệ số Sig nhỏ hơn 5% tức hệ số tương quan từng cặp của các khái niệm khác biệt so với

1 ở độ tin cậy 95%

Bảng 8: Các chỉ tiêu đánh giá mô hình SEM theo hệ số chuẩn hóa

Trang 25

Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Tiếp theo, tác giả chuyển hóa kết quả phân tích CFA sang mô hình SEM và thu được các hệ số Chi-square/df = 2,296 nhỏ hơn 3, GFI = 0,899 lớn hơn 0,8; TLI

= 0,930 lớn hơn 0,9; CFI = 0,942 lớn hơn 0,9 và RMSEA = 0,068 nhỏ hơn 0,1; điều này cho thấy kết quả phân tích CFA phù hợp với dữ liệu thị trường

Bảng 9: Kết quả mô hình SEM

Thái độ cá nhân < - Giáo dục khởi

Ý định khởi nghiệp < - Thái độ cá nhân 0,056 0,060 3,932 0,001

Ý định khởi nghiệp < - Quy chuẩn xã hội 0,343 0,056 6,104 ***

Ý định khởi nghiệp < - Nhận thức tính khả

Ý định khởi nghiệp < - Giáo dục khởi nghiệp 0,356 0,076 4,667 ***

Lưu ý: *** tức là 0% (0,000); Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Trang 26

Hình 2: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM thể hiện tác động của các nhân

tố

Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Kết quả mô hình SEM thể hiện mối quan hệ của các nhân tố đều cho thấy các hệ

số Sig (P) của các mối quan hệ đều nhỏ hơn 5%; do đó, các mối quan hệ giữa các nhân

tố đều có ý nghĩa thống kê Và các hệ số hồi quy đều lớn hơn 0; điều này thể hiện mối quan hệ dương (tác động tích cực) giữa các nhân tố với nhau

Bảng 10: Kết quả mô hình SEM theo hệ số chuẩn hóa

Mối quan hệ

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Hệ số làm tròn theo sơ đồ

Thái độ cá nhân < - Giáo dục khởi nghiệp 0,454 0,45

Quy chuẩn xã hội < - Giáo dục khởi nghiệp 0,514 0,51

Nhận thức tính khả thi < - Giáo dục khởi nghiệp 0,153 0,15

Ý định khởi nghiệp < - Thái độ cá nhân 0,057 0,06

Ý định khởi nghiệp < - Quy chuẩn xã hội 0,418 0,42

Ý định khởi nghiệp < - Nhận thức tính khả thi 0,108 0,11

Ý định khởi nghiệp < - Giáo dục khởi nghiệp 0,389 0,39

Nguồn: Kết quả phân tích AMOS

Cụ thể mối quan hệ giữa các nhân tố như sau:

Trang 27

Nhân tố Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi với hệ số hồi quy lần lượt là 0,45; 0,51; 0,15; điều này có nghĩa rằng, khi nhân tố Giáo dục khởi nghiệp tốt hơn thì Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi sẽ gia tăng (với mức tăng thêm tương ứng

1 lần Giáo dục khởi nghiệp thì Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi lần lượt tăng thêm 0,45 lần; 0,51 lần; 0,15 lần)

Và, các nhân tố Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp với hệ số hồi quy lần lượt là 0,06; 0,42; 0,11; 0,39; điều này có nghĩa rằng, khi các nhân tố Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp lần lượt tốt hơn thì Ý định khởi nghiệp sẽ gia tăng (với mức tăng thêm tương ứng 1 lần Thái độ cá nhân, Quy chuẩn

xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp thì Ý định khởi nghiệp lần lượt tăng thêm 0,06 lần; 0,42 lần; 0,11 lần; 0,39 lần)

Bảng 11: Kết quả kiểm định Bootstrap

Mối quan hệ

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Bias

SE-Bias

Giá trị

CR

Thái độ cá nhân < - Giáo dục khởi nghiệp 0,454 0,004 0,005 0,800

Quy chuẩn xã hội < - Giáo dục khởi nghiệp 0,514 0,003 0,003 1,000

Nhận thức tính khả

thi < - Giáo dục khởi nghiệp 0,153 0,004 0,005 0,800

Ý định khởi nghiệp < - Thái độ cá nhân 0,057 0,002 0,002 1,000

Ý định khởi nghiệp < - Quy chuẩn xã hội 0,418 0,002 0,002 1,000

Ý định khởi nghiệp < - Nhận thức tính khả thi 0,108 0,003 0,002 1,500

Ý định khởi nghiệp < - Giáo dục khởi nghiệp 0,389 0,004 0,006 0,667

Nguồn: Kết quả Phân tích AMOS

Cùng với đó, căn cứ vào kết quả mô hình SEM, tác giả tiến hành kiểm định Bootstrap và thu được giá trị tuyệt đối của hệ số CR của các mối quan hệ giữa các nhân

tố đều nhỏ hơn 2; điều này khẳng định kết quả mô hình SEM hoàn toàn có thể tin cậy

vì độ lệch chuẩn là rất nhỏ

Trang 28

Hình 3: Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM thể hiện tác động của các nhân

tố

Nguồn: Kết quả phân tích của tác giả

Như vậy, sau khi thực hiện phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, nghiên cứu đã cho thấy được vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn TP Đà Nẵng,

cụ thể: (1) Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi và (2) Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp

Bảng 12: Tổng hợp kết quả nghiên cứu

1 Giả thuyết H1: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định

Quy chuẩn xã hội

Nhận thức tính khả thi

Ý định khởi nghiệp

Trang 29

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

5 Kết luận và hàm ý quản trị

Kết luận

Nghiên cứu này tập trung cho thấy vai trò của giáo dục khởi nghiệp cũng như các nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường Đại học trên địa bàn TP Đà Nẵng Do đó, dựa vào nghiên cứu này, tác giả đã cho thấy được các lý thuyết nền tảng liên quan đến khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ của các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả tiến hành tổng hợp các thang đo và đề xuất mô hình nghiên cứu đề xuất cùng với việc thực hiện nghiên cứu định tính để điều chỉnh thang đo và mô hình cho phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu

Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy:

(1) Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi;

(2) Thái độ cá nhân, Quy chuẩn xã hội, Nhận thức tính khả thi, Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp

Các hàm ý quản trị

Căn cứ vào kết quả mô hình nghiên cứu đạt được, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm gia tăng Ý định khởi nghiệp của sinh viên, cụ thể như sau:

- Gia tăng các công tác đào tạo, đa dạng hóa các nội dung, chương trình đào tạo

về khởi nghiệp cho sinh viên

- Thường xuyên tổ chức các khóa học ngắn hạn về việc chia sẻ kinh nghiệm, các

kỹ năng cần thiết khi khởi nghiệp đến với sinh viên

- Đẩy mạnh quá trình khuyến khích khởi nghiệp và vận động tham gia các khóa học, các lớp huấn luyện về khởi nghiệp đến với sinh viên

- Các trường đại học nên chú trọng công tác biên soạn các tài liệu về khởi nghiệp nhằm đa dạng hóa các kiến thức về khởi nghiệp đến với sinh viên

Mặc dù cố gắng hoàn thiện nghiên cứu một cách tốt nhất, tuy nhiên, do sự giới hạn về thời gian và kiến thức, nghiên cứu vẫn còn những hạn chế nhất định như cỡ mẫu còn khá ít, phạm vi nghiên cứu chỉ thực hiện trên địa bàn TP Đà Nẵng Do đó, các nghiên cứu theo sau có thể gia tăng cỡ mẫu và mở rộng phạm vi nghiên cứu trên nhiều tỉnh, thành khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ajzen, I (1991) The theory of planned behavior Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211

2 Autio, E., Keeley, R H., Klofsten, M., Parker, G G C., & Hay, M (2001)

Trang 30

Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA Enterprise and Innovation Management Studies, 2(2), 145–160

3 Duval-Couetil, N., Gotch, C.M & Yi, S (2014) The characteristics and motivations

of contemporary entrepreneurship students Journal of Education for Business,

89(8), 441-449

4 Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) Giáo trình Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1 & 2) Hồ Chí Minh, Việt Nam: Nhà xuất bản Hồng Đức

5 Krueger, N.F Jr, Reilly, M.D & Carsrud, A.L (2000) Competing models of

entrepreneurial intentions”, Journal of Business Venturing, 15(5/6), 411-432

6 Krueger, N F and Carsrud, A L (1993) Entrepreneurial intentions: applying the theory of planned behaviour Entrepreneurship & Regional Development: An International Journal, 5(4), 315-330

7 Krueger, N F (2009) Entrepreneurial intentions are dead: long live entrepreneurial intentions In A L Carsrud and M Brännback (Eds.), Understanding the Entrepreneurial Mind-Opening the Black Box Dordrecht: Springer

8 Kwong, C & Thompson, P (2016) The when and why: student entrepreneurial

aspirations Journal of Small Business Management, 54(1), 299-318

9 Liñán, F & Chen, Y.W (2009) Development and cross-cultural application of a

specific instrument to measure entrepreneurial intentions Entrepreneurship: Theory

& Practice, 33(3), 593-617

10 Liñán, F., Rodríguez-Cohard, J & Rueda-Cantuche, J (2011) Factors affecting

entrepreneurial intention levels: a role for education International Entrepreneurship and Management Journal, 7(2011), 1-24

11 Luthje, C., & Franke, N (2003) The ‘making’ of an entrepreneur: testing a model

of entrepreneurial intent among engineering students at MIT R & D Management,

33(2), 135–147

12 Nabi, G., Holden, R & Walmsley, A (2010) Entrepreneurial intentions among

students: towards a re-focused research agenda Journal of Small Business and Enterprise Development, 17(4), 537-551

13 Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2011) Giáo trình nghiên cứu thị trường.Việt Nam: Nhà xuất bản Lao động 2011

14 Pedrini, M., Langella, V & Molteni, M (2017) Do entrepreneurial education programs impact the antecedents of entrepreneurial intention? An analysis of an

entrepreneurship MBA in Ghana Journal of Enterprising Communities: People and Places in the Global Economy, 11(3), 373-392

15 Pittaway, L.A., Gazzard, J., Shore, A & Williamson, T (2015) Student clubs:

experiences in entrepreneurial learning Entrepreneurship & Regional Development,

(27(3/4), 127-153

16 Rae, D & Ruth Woodier-Harris, N (2013) How does enterprise and

Trang 31

entrepreneurship education influence postgraduate students’ career intentions in the

New Era economy? Education + Training, 55(8/9), 926-948

17 Russell, R., Atchison, M & Brooks, R (2008) Business plan competitions in tertiary

institutions: encouraging entrepreneurship education Journal of Higher Education Policy and Management, 30(2), 123-138

18 Wagner, J., & Sternberg, R (2004) Start-up activities, individual characteristics, and the regional milieu: lessons for entrepreneurship support policies from German micro

data Annals of Regional Science, 38 (2), 219–240

Trang 32

KHỞI NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ CHIA SẺ

ThS Phạm Thị Diệu Phúc

Trường Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp

Tóm tắt: Kinh tế chia sẻ là khai thác các yếu tố tài nguyên sẵn có của người

dùng, kết hợp các yếu tố công nghệ để hợp thành mô hình kinh doanh Khởi xướng mô hình này là các công ty khởi nghiệp – đối tượng không sở hữu nhà máy hay kho hàng nào – nhưng lại huy động được kho tài nguyên của người dùng toàn cầu Công nghệ hiện đại giúp tối thiểu hoá chi phí vận hành dịch vụ, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng Hiện có hơn 9.500 công ty toàn cầu đang vận hành theo mô hình này, giúp hàng triệu người cho thuê, mượn, vay, trao đổi, chia sẻ nhà ở, xe hơi, xe đạp, quần áo, kĩ năng, wifi… Việt Nam đang trong quá trình thúc đẩy phát triển công nghệ số hóa Đây

là một động lực thúc đẩy các startup tự tin đưa ra và phát triển các ứng dụng nền kinh

tế chia sẻ; hợp tác với các đơn vị khác để phát triển mô hình

Từ khóa: Kinh tế chia sẻ, Khởi nghiệp, Kinh doanh

Kinh tế chia sẻ dựa trên quyền truy cập ngang hàng với các hàng hóa và dịch vụ,

từ đó tái phân phối, hạn chế dư thừa, và gia tăng giá trị cho nền kinh tế Một cách rộng rãi, nó làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng, chuyển từ sở hữu sang chia sẻ sản phẩm Uber và Airbnb là hai đại diện nổi bật của mô hình này hiện nay: thay vì sở hữu quyền sử dụng toàn bộ chiếc xe, bạn chia sẻ số ghế trống trên xe với người có nhu cầu cùng di chuyển; thay vì ở một mình giữa ngôi nhà quá rộng, bạn chia sẻ phòng trống với khách du lịch

Bên cạnh đó, internet và điện thoại thông minh/máy tính bảng cũng là những tác nhân thúc đẩy độ phủ của các doanh nghiệp trong ngành này, bởi vì khái niệm cộng đồng – một nền tảng cho kinh tế chia sẻ, đã được mở rộng trên phạm vi toàn cầu thay vì một cộng đồng “vật lý” nguyên thủy Nhờ những tiến bộ công nghệ kể trên mà một ứng dụng như Uber đã xuất hiện tại 450 thành phố tại 76 quốc gia, trở thành một trong những start-up thành công bậc nhất thế giới

Kinh tế chia sẻ sẽ tạo cơ hội cho phong trào kinh doanh mới, mở ra cơ hội dựa trên nền tảng số ứng dụng công nghệ 4.0 Thị trường sẽ cạnh tranh hơn, các loại hình dịch vụ sẽ đa dạng hơn, trước hết mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, đồng thời mở

ra cơ hội đầu tư cho người lao động; kinh tế chia sẻ còn làm tăng thu nhập, tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa công suất những tài sản dư thừa, bảo vệ môi trường, giảm các chi phí giao dịch trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Một số ví dụ cụ thể ở Việt Nam khi thực hiện kinh tế chia sẻ cho thấy: Theo số liệu của Grant Thornton năm 2016, dịch vụ AIR B&B (chia sẻ phòng lưu trú) chỉ có 6.500 căn hộ, tới năm 2017 nguồn cung đã tăng lên 16.000 căn, gấp 2,5 lần, chủ yếu ở

Hà Nội và TP HCM Mô hình này kéo theo hàng loạt các start up làm dịch vụ cho thuê phòng trực tuyến tại Việt Nam như: Luxstay, Homestay

Trang 33

Theo dự thảo Báo cáo đánh giá tác động của một số loại hình kinh tế chia sẻ chính tới nền kinh tế đang được Bộ Kế hoạch và đầu tư xin ý kiến tháng 12/2020, ở Việt Nam, mặc dù kinh tế chia sẻ chưa phát triển mạnh như tại nhiều nước trên thế giới, nhưng trong những năm gần đây, mô hình này đã có bước phát triển nhanh chóng Như trong lĩnh vực vận tải ở Việt Nam, theo thông tin từ Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng gần 70.000 xe ô tô vận tải hành khách theo hợp đồng dịch

vụ trực tuyến với Grab, Gojek, be, Fastgo

Tương tự, trong lĩnh vực lưu trú du lịch, theo nghiên cứu của Outbox (2019), đã

có 18.230 chủ nhà cho thuê trên nền tảng Airbnb Tổng số lượt khách đặt phòng qua Airbnb tới Việt Nam năm 2017 khoảng 400.000 người, trong đó 84% khách hàng là người nước ngoài

Trong lĩnh vực cho vay ngang hàng (P2P Lending), hiện có khoảng 100 công ty đang hoạt động Trong đó, chỉ tính riêng công ty Tima đã có trên 6 triệu đơn vay được

tư vấn… Điều đó cho thấy sự sôi động của hoạt động kinh tế chia sẻ trên thị trường

Từ đó, bản dự thảo báo cáo khẳng định, trong thời gian tới, khi mô hình kinh tế chia sẻ phát triển mạnh cả về loại hình và quy mô hoạt động kinh doanh tại Việt Nam,

có thể phát sinh nhiều mô hình trong các lĩnh vực kinh doanh khác (ngoài lĩnh vực vận tải, lưu trú và cho vay ngang hàng như hiện nay)

Kinh doanh chia sẻ sẽ thúc đẩy hệ sinh thái, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp ở Việt Nam cho hiện nay và trong tương lai Mặt khác, nó cũng tạo ra cơ hội cho việc cải cách

bộ máy hành chính theo hướng Chính phủ số và cải cách thể chế nhằm phát triển ngành kinh tế số trong thời đại công nghiệp 4.0

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều dự án startup từ nền kinh tế chia

sẻ Hệ sinh thái khởi nghiệp được hỗ trợ đáng kể với cam kết rót vốn 425 triệu USD từ

18 quỹ đầu tư như Golden Gate Ventures, 500 startups, Topica trong 3 năm tới – theo công bố tại Hội nghị Quỹ Đầu tư Khởi nghiệp sáng tạo (Vietnam Ventures Summit) Tháng 7/2018, Grab công bố Grab Ventures, dự án đầu tư mạo hiểm nhằm hỗ trợ phát triển các startup công nghệ trong nhiều lĩnh vực như: công nghệ di động, giao nhận thức

ăn, logistics, công nghệ tài chính Grab Ventures cho phép tiếp cận nền tảng người dùng to lớn của Grab, được tư vấn chuyên môn, tiếp cận công nghệ của Grab, từ đó thử nghiệm dịch vụ của mình trên hệ sinh thái của Grab

Ngày càng có nhiều nguồn lực hỗ trợ mọi mặt cho startup Nếu các startup trẻ biết cách tận dụng, nền kinh tế chia sẻ giúp được họ khắc phục nhiều điểm yếu, tạo đà cho những dự án kinh doanh đầy tham vọng Các mô hình gọi vốn từ cộng đồng như KickStarter, Indiegogo, RocketHub, FundRazr… ngày càng phổ biến Người có dự án phù hợp đăng ý tưởng của mình lên nền tảng để cộng đồng xem xét cấp vốn Ngoài ra,

mô hình cho vay trong cộng đồng peer-to-peer (P2P) lending cũng hỗ trợ cấp vốn cho doanh nghiệp nhỏ với lãi suất ưu đãi

Trang 34

Mô hình bartering giữa các doanh nghiệp đem lại những lợi ích thiết thực Các doanh nghiệp có tài sản, máy móc thừa, nhà kho chưa dùng đến, sản phẩm tồn kho… có thể trao đổi với nhau để đôi bên cùng có lợi, đồng thời tiết kiệm thời gian chuyển tiền

Kinh tế chia sẻ tuy không phải là giải pháp vạn năng nhưng mở ra những cơ hội mới, chỉ dẫn những doanh nghiệp non trẻ vượt qua thử thách

Có thể thấy, khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ có nhiều hỗ trợ hơn cho doanh nghiệp Đặc biệt, mới đây Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phê duyệt Đề

án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ theo Quyết định 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019, với mục tiêu đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp; đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mô hình kinh tế chia sẻ gồm: người cung cấp dịch vụ, người sử dụng và các doanh nghiệp cung cấp nền tảng… Qua đó, khuyến khích đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ số và phát triển nền kinh

tế số ở Việt Nam

- Những thách thức khi khởi nghiệp trong nền kinh tế chia sẻ

Kinh tế chia sẻ mặc dù chứng minh được hiệu quả tổng thể, lại gặp không ít trở ngại bởi sức cản của các mô hình truyền thống và “quy định pháp lý thường là rào cản lớn nhất đối với tăng trưởng trong tương lai đối với các doanh nghiệp kinh doanh chia sẻ” Tại các thị trường mới nổi, bên cạnh yếu tố khách quan vừa nêu, thì tự thân doanh nghiệp cũng phải nỗ lực vượt qua các thách thức không loại trừ mô hình chia sẻ hay truyền thống

Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh đi kèm với rất nhiều rủi ro, từ khâu vận hành, quản lý đến chính sách thiếu chặt chẽ dẫn đến việc phải nhanh chóng cắt giảm qui mô vận hành hoặc thất bại We Work, một nền tảng kết nối giữa các co-working space với các startup cũng phải cắt giảm qui mô vì dịch N-covid Ngoài ra, với chính sách lỏng lẻo, WeWork đã từng dính “phốt” ăn chặn tiền quĩ đầu tư của CEO làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đợt phát hành IPO của startup này

Hay gần đây, cú “ngã ngựa” của WeFit cũng là một hồi chuông cảnh báo về việc quy mô phát triển quá nhanh trong khi đó các chính sách đều lộ ra những điểm “tử huyệt” đã khiến startup này phải nộp đơn phá sản hồi giữa năm Đây cũng là một bài học dành cho những ai muốn khởi nghiệp ở mô hình này phải kiểm soát được tốc độ tăng trưởng của mô hình và phải có những chính sách chặt chẽ để có thể tạo ra được

“luật chơi” bền vững cho mô hình của mình

Tuy nhiên, để có thể tìm thấy được thị trường phù hợp với mô hình này thường không dễ Thường khi bắt đầu với mô hình này, người khởi nghiệp phải giải quyết bài toán “con gà và quả trứng”, tức là liệu nên có nhà cung cấp trước hay có người dùng trước Ngoài ra, một trong những yếu tố khác dẫn đến sự thất bại của mô hình này đó là quy mô thị trường quá nhỏ dẫn đến mô hình không thể tự tồn tại và phát triển

Bên cạnh những rủi ro trên, mô hình kinh tế chia sẻ vẫn là một trong xu hướng phát triển ở không chỉ ở Việt Nam mà còn cả Đông Nam Á với rất nhiều ngách thị

Trang 35

trường vẫn còn đang bỏ ngỏ Đó cũng tiềm năng dành cho những người khởi nghiệp gia nhập vào “cuộc chơi” này

Tại Việt Nam, mô hình kinh tế chia sẻ bắt đầu xuất hiện gắn với các tên tuổi từ nước ngoài như Uber, Grab, Airbnb cũng như nhiều start-up trong nước như Ahamove, jupviec.vn, Cơm mẹ nấu Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, tính đến thời điểm này, kinh tế chia sẻ tại Việt Nam chưa thực sự phát triển, mặc dù việc cho thuê những tài sản ít sử dụng đã và đang tồn tại

Trên thực tế, thị phần của kinh tế chia sẻ trên thị trường một số ngành sản phẩm dịch vụ ở Việt Nam hiện nay chủ yếu do các DN nước ngoài cung cấp nền tảng kết nối chi phối Ví dụ, Grab Car, Gojek trên thị trường dịch vụ vận tải trực tuyến; Airbnb, Expedia trên thị trường dịch vụ chia sẻ phòng ở….Có thể thấy kinh tế chia sẻ tại Việt Nam cũng đang đứng trước nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia thâu tóm Hiện nay, đang có xu hướng các tập đoàn lớn của nước ngoài với ưu thế về vốn và công nghệ đẩy mạnh mua lại cổ phần chi phối tại các công ty thuộc loại hình kinh tế chia sẻ của Việt Nam Thậm chí, các tập đoàn nước ngoài chấp nhận lỗ trong ngắn hạn để chiếm lĩnh thị phần tại Việt Nam, như đối với nền tảng thương mại điện tử Do đó nếu Nhà nước không ban hành và triển khai chiến lược, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước để tránh bị các doanh nghiệp lớn của nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia chi phối hoàn toàn thị trường kinh tế chia sẻ trong nước Điều này không phải là không có cơ sở, trong chương trình Shark Tank mùa 3 năm 2019, khi kêu gọi đầu tư cho Luxstay, Shark Dũng

đã nhấn mạnh, nếu doanh nghiệp Việt như Luxstay không quyết tâm và không làm được, thị trường sẽ rơi vào tay các doanh nghiệp nước ngoài, nhất là trong bối cảnh Việt Nam

có rất ít sản phẩm công nghệ đủ cạnh tranh với sản phẩm ngoại

Trong khi đó, hệ thống pháp luật lại không theo kịp diễn biến này trên thị trường trong nước, đang để ngỏ nhiều khoảng trống pháp luật Hiện nay, hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh của nước ta như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật giao dịch điện tử… và các quy định về thuế hầu như còn bỏ ngỏ đối với mô hình kinh tế chia sẻ Hiện chưa có được những khung khổ pháp luật chặt chẽ để quản lý các mô hình hoạt động của kinh tế chia sẻ

Ngoài ra, mô hình Kinh tế chia sẻ còn tồn tại một số hạn chế khác như nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp truyền thống do doanh nghiệp tham gia nền kinh tế chia sẻ không đảm bảo dịch vụ của họ đạt chuẩn theo quy định của pháp luật

"Kinh tế chia sẻ" cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các nhà quản lý chính sách tại Việt Nam, bao gồm môi trường kinh doanh thuận lợi, đảm bảo hài hòa lợi ích đối với các mô hình kinh doanh dịch vụ truyền thống; Kiểm soát việc minh bạch về thông tin; Quản lý giao dịch điện tử, thanh toán quốc tế về thương mại bằng thẻ; Quản lý chất lượng dịch vụ, sản phẩm; chống thất thoát thuế và một số vấn đề xã hội khác nảy sinh như lao động, việc làm và an sinh xã hội

Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới đây cũng nhận định nhìn chung sự phát triển của các dịch vụ theo mô hình kinh tế chia sẻ trong thời gian vừa qua còn mang tính tự phát,

Trang 36

trong khi các cơ quan quản lý còn khá lúng túng trong việc xác định bản chất và cách thức quản lý mô hình này Chẳng hạn, mô hình này đang gây khó cho cơ quan quản lý kiểm soát nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ với xã hội, nghĩa vụ với các đối tượng tham gia Đặc biệt vấn đề an toàn cho người tiêu dùng rất khó quản lý

Trong nền kinh tế số, kinh tế chia sẻ là một trong những thành phần quan trọng, đang dẫn dắt các mô hình kinh tế mới dựa trên ứng dụng công nghệ để khai thác các nguồn lực dư thừa trong xã hội; tạo ra cơ hội việc làm mới, giúp cho phát triển kinh tế

tư nhân Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào cuộc sống đóng góp thiết thực cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, cần phải có các hướng dẫn chi tiết về các

mô hình kinh doanh nào là kinh tế chia sẻ; các mô hình này sẽ được ưu tiên cụ thể thế nào; cần sự hướng dẫn, hỗ trợ để các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hoạt động phù hợp, không bị mất cơ hội thị trường

Ngoài ra cần có các chương trình khuyến khích các mô hình kinh doanh mới giúp thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống hoặc tạo ra những hoạt động, mô hình kinh doanh mới đột phá Theo đó, mô hình này sẽ giúp tận dụng nguồn tài nguyên chưa khai thác hết; cơ hội tạo ra các công việc mới, phát triển kinh tế tư nhân Mô hình này cũng giúp đưa ứng dụng công nghệ vào các mô hình kinh doanh truyền thống nhanh hơn, hiệu quả hơn

Muốn xây dựng nền kinh tế chia sẻ, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy, sòng phẳng, cùng trên một con thuyền, cùng gắn kết và có lòng tin lẫn nhau, chỉ cần một mắt xích không thực hiện đúng vai trò của mình, toàn bộ hệ thống có thể bị sụp đổ Các chuyên gia và học giả trong nước có nhiều nhận định về người Việt Nam, đó là chưa có nhiều người có tư duy chia sẻ, mà vẫn vì lợi ích cá nhân

và cục bộ nhiều hơn, chưa lo lợi ích lâu dài Các doanh nghiệp cho đến nay đều chưa được trang bị kiến thức cơ bản về nền kinh tế đặc thù để nhận thức một cách tự giác theo

tư duy tiên tiến đó, nếu xuất phát từ tính cấu kết cộng đồng yếu và kỷ luật thị trường kém bền vững sẽ làm cho sự phát triển kinh tế chia sẻ ở nước ta khó phát triển nhanh và bền vững

“Một số ví dụ cụ thể cho thấy, việc kết nối giữa khách hàng và tài xế Grab, khi hệ thống vận hành hiệu quả thì về nguyên tắc, lợi ích của các bên đều tăng lên Tuy nhiên, nhiều hình ảnh lái xe Grab mặc cả với khách hàng một cách công khai, tắt ứng dụng đi, phần phí đáng lẽ hãng Grab được hưởng thì được 2 bên “cưa đôi” Như vậy dẫn tới kế hoạch vận chuyển hành khách bị giảm, lái xe thu nhập được tăng lên một cách bất hợp pháp, còn doanh nghiệp chủ quản ứng dụng công nghệ thì không được đồng nào” - ông Phú đưa ra phân tích đồng thời đặt vấn đề: “Có lẽ phải giải quyết vấn đề văn hóa, pháp luật và kỷ cương trước khi phát triển mạnh mẽ mô hình này ở nước ta Đồng thời cần khen thưởng thích đáng và xử phạt nghiêm minh, đó là giải pháp chính để hoạt động kinh tế chia sẻ đi vào nề nếp”

Kinh tế chia sẻ không chỉ là sử dụng công nghệ 4.0 để tận dụng những tiềm năng nhàn rỗi một cách hiệu quả hơn những tài sản đang dư thừa một cách tương đối để tăng

Trang 37

thêm doanh thu, lợi nhuận cho các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp và cho ngân sách Nhà nước, mà còn nhằm thúc đẩy sản xuất và kích thích tiêu dùng một cách tiết kiệm, hiệu quả Nhận thức đầy đủ về nền kinh tế chia sẻ từ người dân đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các cơ quan quản lý Nhà nước để có những hành động thiết thực đem lại hiệu quả cho từng thành viên trong chuỗi sản xuất, phân phối và tiêu thụ ở thị trường nội địa Việt Nam là hết sức cần thiết

Xây dựng dự thảo Phát triển kinh tế chia sẻ Bản dự thảo đã đưa ra một số kiến nghị bao gồm: Rà soát, hoàn thiện hệ thống luật pháp quản lý kinh tế chia sẻ, tạo sự cạnh tranh giữa DN theo mô hình kinh tế chia sẻ và mô hình truyền thống, giữa DN trong và ngoài nước; Tạo điều kiện, hỗ trợ DN truyền thống chuyển đổi hình thức kinh doanh; Chủ động giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội trong thúc đẩy

mô hình kinh tế chia sẻ; Nâng cao năng lực độc lập, tự chủ về công nghệ, phát triển nhanh các công nghệ nền tảng; Triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và đảm bảo an ninh mạng;

Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về thị trường lao động liên quan đến phát triển từng loại hình; Rà soát, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến quan hệ lao động cả trên phương diện kỹ thuật; Chủ động xây dựng điều chỉnh chính sách thuế và các công cụ của chính sách

Bên cạnh đó, dự thảo báo cáo còn kiến nghị việc quy định mọi giao dịch thanh toán xuyên biên giới đều phải thông qua cổng thanh toán quốc gia, đơn vị cung cấp và vận hành do Ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động; chủ động ứng phó nguy cơ bị nước ngoài "thâu tóm" thị trường trong nước; Tổ chức nắm tình hình việc các tập đoàn,

tổ chức tài chính nước ngoài đầu tư và mua lại cổ phần tại các DN thuộc các loại hình kinh tế chia sẻ trong nước

Cũng theo Dự thảo, cần nghiên cứu xây dựng các rào cản kỹ thuật để hạn chế việc các DN công nghệ lớn, các DN cung cấp nền tảng lớn bị thâu tóm trong nước bằng cách chủ động lựa chọn các DN trong nước đóng vai trò mũi nhọn Từ đó đầu tư vốn, công nghệ và nhân lực nhằm tạo ra những DN trong nước mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường

Bản dự thảo kiến nghị: Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành đánh giá tác động của từng loại hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực quản lý của bộ, ngành mình qua đó đề xuất

cơ chế quản lý phù hợp; Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định về phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ; Chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với loại hình kinh tế chia sẻ

Cuối cùng, Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định cụ thể về các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới, trong đó có các loại hình kinh tế chia sẻ theo quy định tại Luật Đầu tư 2020

Bản dự thảo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị Bộ TT&TT: Rà soát, nghiên cứu sửa đổi Luật giao dịch điện tử và các văn bản pháp luật có liên quan; Chủ trì

Trang 38

phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu và xây dựng Nghị định liên quan đến kinh tế chia sẻ

Bộ TT&TT cần chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu đề xuất

và tham mưu Chính phủ chính sách mở để thu hút, đưa các nền tảng công nghệ, dịch vụ lớn trên thế giới đặt tại Việt Nam, có cơ chế quản lý công bằng giữa DN Việt Nam và

DN nước ngoài, trước hết là chính sách về cung cấp dịch vụ Internet, kết nối Internet, trạm trung chuyển Internet, trung tâm dữ liệu, đặc biệt là các IDC tập trung

Cuối cùng, Bộ TT&TT chủ trì nghiên cứu và tham mưu chính phủ xây dựng chiến lược phát triển Việt Nam thành Hub Internet khu vực, trong đó các mạng độc lập tăng cường kết nối VNIX để trao đổi lưu lượng, đảm bảo kết nối Internet trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các ứng dụng, dịch vụ kinh tế số, kinh tế chia sẻ phát triển

Các startup khởi nghiệp thì cần lưu tâm:

Một là, về quy mô, khách hàng mới là người quyết định tới phạm vi mở rộng công ty tới mức nào – đó là điều cốt lõi Khách hàng tới đâu, thì mở rộng phục vụ tới

đó, điều này quan trọng hơn việc tham gia vào các liên minh hoặc thúc đẩy gia tăng hiện diện thuần túy Cách làm việc của Uber là tập trung vào giá trị cốt lõi, chuyên chở và đem niềm vui tới khách hàng, họ sẽ sử dụng dịch vụ tại bất cứ nơi nào họ đến

Hai là, cân đối giữa mở rộng quy mô với chất lượng dịch vụ Có một “cái bẫy”

mà nhiều doanh nghiệp mắc phải, đó là khi mải tăng quy mô, họ bỏ quên chất lượng Thực tế, đây là hai vấn đề rất nan giải trong kinh doanh, nhưng ở Uber, họ quyết liệt tập trung vào chất lượng dịch vụ – đó là bí quyết thành công

Ba là, để thành công tại thị trường bản địa thì cần phải hợp tác với các đối tác bản địa, đó là một trong những bài học lớn nhất – theo ông Eric Alexander Đối tác của Uber có thể ở trong các lĩnh vực như công nghệ, thương mại điện tử, du lịch, giải trí, tài chính Chẳng hạn như tại Ấn Độ, Uber làm việc với PayTM (một nền tảng thương mại điện tử trên điện thoại), hoặc hãng xe Tata; hay ở Việt Nam, Uber cũng từng làm việc với Foody, Viettel,…

Ngoài ra, ý nghĩa bản địa còn nằm ở chỗ thuê người bản địa để vận hành kinh doanh tại địa phương – với một công ty như Uber, điều đó giúp cho họ khẳng định vị thế doanh nghiệp quốc tế am hiểu thị trường địa phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hữu Tuấn (2018), Hệ quả xấu khi mô hình kinh tế chia sẻ bị biến tướng, Báo Đầu tư;

2 ThS Nguyễn Phan Anh (2016), Mô hình nền kinh tế chia sẻ và gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Tài chính;

3 ThS Đỗ Thị Nhung (2018), Phát triển mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam

và một số đề xuất, Tạp chí Tài chính;

Trang 39

4 Nguyễn Duy Khang (2016), Nền kinh tế chia sẻ và khả năng phát triển ở Việt Nam;

5 Tô Hà (2018), Cơ hội và thách thức của mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam, Báo Nhân Dân

Trang 40

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ VỚI SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN

ĐỊA BÀN HÀ NỘI

TS Vũ Thị Thu Hà

Trường Đại học Thuỷ Lợi

Tóm tắt: Ý định làm thêm của sinh viên là một trong những đề tài mang tính cấp

thiết cả với sinh viên, nhà trường và xã hội Nghiên cứu được thực hiện dưạ trên 193 mẫu quan sát, kết quả cho thấy: Tính cách tác động ngược chiều đến làm thêm, tính cách tăng →làm thêm giảm), ngược lại : kinh nghiệm – kỹ năng, Thái độ cá nhân, thu nhập, chuẩn chủ quan tác động cùng chiều đến làm thêm Chuẩn chủ quan tác động mạnh nhất đến việc làm thêm của SV (0,406), sau đó đến kinh nghiệm (0,32) tiếp đến là thu nhập (0,161), cuối cùng là Thái độ cá nhân (0,136) Nghiên cứu góp phần đưa ra các giải pháp giúp các bạn sinh viên nhìn nhận vấn đề dễ hơn, nhà trườngc ó những biện pháp giúp đỡ sinh viên trau dồi kỹ năng, kinh nghiệm…doanh nghiệp sẽ có những giải pháp thu hút sinh viên cộng tác

Từ khóa: ý định làm thêm, sinh viên, hà nội

1 Giới thiệu

Trong đời sống xã hội, con người muốn thành công, ngoài nhiệm vụ tích lũy tri thức vững chắc còn cần phải rèn luyện cho mình không chỉ kiến thức, kinh nghiệm mà còn cả những kỹ năng sống (kỹ năng mềm) mạnh mẽ Thế nhưng, khi xã hội càng phát triển, việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho giới trẻ đã không được quan tâm, khiến nhiều sinh viên trẻ thiếu kỹ năng sống cần thiết Tình trạng đó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, được coi như một hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn xã hội trước tương lai của thế hệ trẻ tuổi Một số kỹ năng sống quan trọng đảm bảo cho sự sinh tồn, phát triển và thành công của con người cần có như: Đưa ra quyết định, giải quyết vấn

đề, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, giao tiếp hiệu quả, quyết đoán, đồng cảm, tha thứ…Và hiển nhiên, phải trải qua quá trình học hỏi, mài giũa thì bản thân mới vững bước trên đường đời Đối với sinh viên hiện nay, để mài giũa được những kỹ năng cần thiết đó thì họ sẽ lựa chọn bằng cách tham gia các câu lạc bộ hoặc đi làm thêm (part time) để trau dồi thêm Nhưng thường thì đa số sinh viên vẫn lựa chọn cách đi làm thêm Không ai có thể bảo vệ sinh viên hay giúp sinh viên thành công tốt hơn chính bản thân sinh viên Việc làm thêm hiện nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ mà đã trở thành một xu thế gắn chặt với đời sống học tập, sinh hoạt của sinh viên ngay khi vẫn còn ngồi trên ghế giảng đường Sinh viên đi làm thêm ngoài vì thu nhập, họ còn mong muốn tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều hơn Tuy nhiên, vẫn có những yếu tố tác động tới tư duy, nhận thức khiến cho sinh viên e dè, chùn bước trước khi đưa đến quyết định “Mình sẽ đi làm!”

Ngày đăng: 04/07/2023, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Chinhphu.vn (2021), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Đưa Việt Nam thực sự là điểm đến của đổi mới sáng tạo, truy xuất từ nguồn https://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-Nguyen-Xuan-Phuc-Dua-Viet-Nam-thuc-su-la-diem-den-cua-doi-moi-sang-tao/419333.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Đưa Việt Nam thực sự là điểm đến của đổi mới sáng tạo
Tác giả: Chinhphu.vn
Năm: 2021
5. Trung tâm truyền thông giáo dục (2020), Khơi dậy khát vọng khởi nghiệp của học sinh, sinh viên, Truy xuất từ nguồn https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=7147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khơi dậy khát vọng khởi nghiệp của học sinh, sinh viên
Tác giả: Trung tâm truyền thông giáo dục
Năm: 2020
6. H.Thái &amp; Q. Anh (2020), Trường Đại học Thủ Dầu Một: Đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, Truy xuất từ nguồn https://www.tdmu.edu.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/truong-dai-hoc-thu-dau-mot-day-manh-hoat-dong-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Thủ Dầu Một: Đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo
Tác giả: H.Thái &amp; Q. Anh
Năm: 2020
7. Phạm Đức Chính và những người khác (2019), Vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia” Học viện Tài chính, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, "Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “"Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia”
Tác giả: Phạm Đức Chính và những người khác
Năm: 2019
8. Nguyễn Minh Thành (2019), Nguồn lực tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo – những nghiên cứu tại các nền kinh tế mới nổi và xu hướng cho các nghiên cứu tại Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia” Học viện Tài chính, năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo – những nghiên cứu tại các nền kinh tế mới nổi và xu hướng cho các nghiên cứu tại Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “"Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia”
Tác giả: Nguyễn Minh Thành
Năm: 2019
9. Nguyễn Thị Dung (2019), Kinh nghiệm khởi nghiệp từ một số trường đại học trên thế giới – bài học cho Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam-Cơ hội phát triển bền vững”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm khởi nghiệp từ một số trường đại học trên thế giới – bài học cho Việt Nam, "Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "“Khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam-Cơ hội phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2019
2. Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 844/QĐ-TTG Khác
3. Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm