1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Hoạt động xuất khẩu than của tập đoàn công nghiệp than khoáng sản Việt Nam - thực trạng và giải pháp

99 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam - Thực trạng và Giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Trung Dũng
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 732,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực Công Nghệ Thông Tin nói riêng, yêu cầu quan trọng nhất của người học đó chính là thực hành. Có thực hành thì người học mới có thể tự mình lĩnh hội và hiểu biết sâu sắc với lý thuyết. Với ngành mạng máy tính, nhu cầu thực hành được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong điều kiện còn thiếu thốn về trang bị như hiện nay, người học đặc biệt là sinh viên ít có điều kiện thực hành. Đặc biệt là với các thiết bị đắt tiền như Router, Switch chuyên dụng

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN CỦA TẬP ĐOÀN

CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

Trang 2

Việt Nam đang trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới, chính sách mở cửa nền kinh tế cùng với cơ chế thị trường định hướng XHCN

đã làm cho nền kinh tế Việt Nam trở nên năng động, linh hoạt và hiệu quả hơn Với quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, chiến lược “cùng cất cánh” và sự hội nhập quốc tế vào cộng đồng quốc tế trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, phù hợp với xu thế chung của thời đại Việc Việt Nam gia nhập AFTA, WTO sẽ tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam một cơ hội tốt để có thể tiến

xa hơn trên thị trường quốc tế Mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại là hết sức quan trọng, trong đó hoạt động xuất khẩu được thừa nhận là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển, mở rộng hoạt động xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, tạo điều kiện để nhập khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu để phát triển cơ sở hạ tầng trong nước…Đó là mục tiệu chung của các doanh nghiệp xuất khẩu nước ta hiện nay

Tuy nhiên, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam với đặc thù riêng của mình, bên cạnh việc khuyến khích xuất khẩu vì những mục đích như trên thì còn phải nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên vì nguồn “vàng đen”

là hữu hạn và là nguồn năng lượng hết sức quý giá, nó ảnh hưởng rất nhiều đến các ngành công nghiệp khác của đất nước Tập đoàn phải có chiến lược xuất khẩu than đúng đắn vì sự phát triển bền vững của Tập đoàn cũng góp phần vào sự phát triển bền vững chung của đất nước

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu than, đề tài:

“Hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, thực trạng và giải pháp” đã được chọn là nội dung nghiên cứu của

khoá luận này

2 Mục đích của đề tài nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp

Trang 3

điểm mạnh, điểm yếu của Tập đoàn; tổng hợp những nét chủ yếu về thị trường than thế giới cũng như trong nước và mục tiêu hạn chế hợp lý xuất khẩu than của Tập đoàn trong giai đoạn phát triển mới; qua đó khoá luận phân tích các khả năng phát triển của Tập đoàn trong tương lai cũng như các giải pháp cho xuất khẩu than

và cho mục tiêu phát triển bền vững của Tập đoàn trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp này là hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Trước khi đưa ra một số giải pháp cho Tập đoàn, khoá luận có tổng kết một số kết quả nghiên cứu của bản thân tác giả về hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn trong thời gian qua, những thành tựu và hạn chế, những thuận lợi và khó khăn tồn tại Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là từ năm 2000 trở đi

4 Những đóng góp dự kiến của khoá luận

Khoá luận này dự kiến sẽ có những đóng góp như sau:

- Giới thiệu khái quát về Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh các tập đoàn kinh tế mới bắt đầu hình thành ở Việt Nam

- Nghiên cứu một cách chi tiết thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn cùng những đánh giá ưu điểm, khuyết điểm để tìm ra hướng đi đúng đắn nhất trong tương lai

- Đưa ra những phương hướng để phát triển Tập đoàn trong tương lai và các giải pháp không đơn thuần là các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu than nhằm tăng thu, tăng tích luỹ trong thời gian trước mắt mà còn là những giải pháp nhằm hạn chế xuất khẩu than vì mục tiêu phát triển bền vững lâu dài

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khoá luận này, trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng

Trang 4

trong trường đại học: vận dụng lý thuyết kết hợp tìm hiểu thực tế, nghiên cứu tại bàn, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê, dự báo

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận được chia làm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản

Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công

nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam

- Chương 3: Một số giải pháp cho hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn

Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam

Do kiến thức còn hạn chế, lại chưa có kiến thức thực tế nên khoá luận còn nhiều điểm thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo là ThS Hoàng Trung Dũng Thầy đã hướng dẫn và gợi ý cho tôi về cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và chuyển tải nội dung trong khoá luận này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới lãnh đạo và các cán bộ Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã hướng dẫn và cung cấp rất nhiều tài liệu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Ngoại thương đã giảng dạy và hướng dẫn những kiến thức trong thời gian tôi học tập tại Trường

Trang 5

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP

THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

I BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở

VIỆT NAM

1 Nhận thức chung về tập đoàn kinh tế

Tại nhiều nước trên thế giới, tập đoàn kinh tế (TĐKT) đã có bề dầy lịch sử

phát triển từ hàng trăm năm nay Thực tế cho thấy các TĐKT là một trong những

nhân tố quan trọng thúc đẩy và góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân ở nhiều

nước Tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm TĐKT mới chỉ được nhắc đến nhiều trong

thập niên cuối của thế kỉ trước

Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “tập đoàn kinh tế” nhưng chưa

có định nghĩa nào được xem là chuẩn mực Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi

nói đến “tập đoàn kinh tế” người ta thường sử dụng các từ: “Consortium”,

“Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay “Group” Ở châu

Á, trong khi người Nhật gọi là “Keiretsu” hoặc “Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại

gọi là “Chebol”; còn ở Trung Quốc là cụm từ “Jituan Gongsi” Dù về mặt ngôn

ngữ, tuỳ theo từng nước, người ta có thể dùng nhiều từ khác nhau để nói về khái

niệm TĐKT, song trên thực tế, việc sử dụng từ ngữ lại phụ thuộc vào nguồn gốc

xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại TĐKT, ví dụ:

- “Consortium” là một từ gốc Latin có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc hội”,

chỉ sự tập hợp của hai hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham gia vào một hoạt

động chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt mục tiêu chung Khi tham gia vào

Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân độc lập của mình

Trang 6

chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cả tập đoàn, đặc biệt là việc phân phối lợi nhuận

- Trong tiếng Anh, “Cartel” dùng để chỉ tập đoàn kinh tế, nó là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hóa, hoặc các biện pháp hạn chế khác

- Trong khi đó, các từ như “Group”, “Bussiness group” hay “Alliance” thường ám chỉ các hình thức TĐKT được tổ chức trên cơ sở kết hợp tính đặc thù của tổ chức kinh tế với cơ chế thị trường: về đặc trưng, đó là một nhóm công ty có

tư cách pháp nhân riêng biệt, nhưng lại có mối quan hệ liên kết về phương diện quản lý Khi tồn tại như một thực thể có tư cách pháp nhân, thì TĐKT lại được gọi

là “Conglomerate” hoặc “Holding company”

Tuy nhiên, có thể tóm tắt khái niệm TĐKT như sau: TĐKT là tổ hợp các

công ty có mối quan hệ sở hữu xâu chéo; có mối quan hệ mật thiết về chiến lược, thị trường hay sản phẩm; có mối liên kết trong hoạt động kinh doanh nhằm tập hợp và chia sẻ các nguồn lực nhằm tăng cường khả năng tích tụ tài sản, nâng cao năng lực cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận và đạt được các mục tiêu chung.1

Trên

cơ sở đó, TĐKT có các đặc trưng cơ bản như:

- Trước hết, các TĐKT đều có tiềm lực tài chính mạnh, quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng mở ở nhiều nước khác nhau Các TĐKT thường kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực với những chiến lược chiếm lĩnh thị trường táo bạo và đầy tham vọng Tuy nhiên, mỗi TĐKT đều lựa chọn và theo đuổi những lĩnh vực đầu

tư mũi nhọn phù hợp với thế mạnh và khả năng của mình

- Về lịch sử hình thành, hầu hết các TĐKT ở các nước được hình thành một cách hết sức tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu tự thân thông qua các quá trình tái cơ cấu như sát nhập, mua lại hoặc thôn tính với mục đích liên kết tạo động lực phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường

Trang 7

- Về mặt cơ cấu, các TĐKT thường được tổ chức theo một trong ba hình

thức: (i) mô hình liên kết dọc hay mô hình “kim tự tháp” (quyền lực được phân bố tập trung); (ii) mô hình liên kết ngang hay mô hình “mạng lưới” (quyền lực được phân bố cho các bộ phận cấu thành mạng lưới); (iii) mô hình liên kết hỗn hợp hay

mô hình “nhị nguyên” (là sự kết hợp giữa cơ chế quản lý tập trung và cơ chế phân tán quyền lực)

- Về quan hệ sở hữu, các công ty thành viên trong TĐKT nắm giữ cổ phần đan chéo nhau và đây là những mối quan hệ rất phức tạp

- Về mục tiêu hoạt động, đa số các TĐKT đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, nhưng có số ít không đặt mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận như “Five Colleges, Inc.” - một TĐKT lâu đời và thành công ở Mỹ về lĩnh vực đào tạo nhân

sự

- Về mô hình tổ chức, nói chung không có một khuôn mẫu cố định nào cho việc phát triển các TĐKT Tuỳ theo tính chất, lĩnh vực hoạt động và cả đặc thù về địa lý, các TĐKT có thể lựa chọn cho mình một mô hình thể chế linh hoạt phù hợp với chiến lược phát triển trong từng giai đoạn

2 Sự ra đời của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Với việc chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đang đứng trước vận hội lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Bối cảnh mới đòi hỏi sự phát triển kinh tế không chỉ dừng lại ở việc nâng cao tốc độ tăng trưởng, mà còn phải chủ động lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế năng động, phù hợp với đặc thù nước ta Do đó, việc tổ chức sắp xếp lại các công ty có quy mô nhỏ lẻ, hoạt động manh mún và kém hiệu quả thành những doanh nghiệp lớn có đủ tiềm lực cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam là một xu thế tất yếu Trong xu thế phát triển nền kinh tế trí thức, việc áp dụng các thành tựu khoa

Trang 8

sức quan trọng trong các doanh nghiệp Vì vậy chỉ những doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực kinh tế mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực mới có thể tận dụng được các lợi thế để phát triển bền vững

Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Như vậy, mặc dù nền kinh tế Việt Nam có những bản sắc riêng nhưng vẫn phải tuân theo những quy luật và bản chất của cơ chế thị trường, trong đó quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh là những đặc trưng cơ bản Trong đó quy luật cạnh tranh có tác động rất lớn đến việc xác định chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp Yêu cầu về tích tụ và tập trung vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tất yếu dẫn đến việc hình thành TĐKT hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực trong phạm vi rộng lớn tầm quốc gia và quốc tế Mặt khác, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, dưới áp lực cạnh tranh gay gắt từ bên ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam vốn có tiềm lực nhỏ bé, năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, khả năng chiếm lĩnh thị trường còn kém Do đó, vai trò chủ động của Nhà nước trong việc hình thành các TĐKT là hết sức cần thiết và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của một nền kinh tế chuyển đổi có bối cảnh đặc thù như ở nước ta

Trên thực tế, ý tưởng xây dựng các TĐKT ở nước ta đã manh nha từ năm

1994 với việc ban hành Quyết định 91 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh Về vấn đề này, Nghị quyết hội nghị TƯ lần 3

(Khoá IX) xác định rõ: “Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các

tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong

và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh” Có thể nói đây là những định hướng hết sức căn bản của việc

hình thành các TĐKT trên cơ sở tổ chức lại các tổng công ty nhà nước

Trang 9

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2005 đến nay, một số tập đoàn kinh tế đã được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, Tập đoàn Than – Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt, Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ…Theo đó, các tập đoàn này là “là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân” Theo Luật Doanh nghiệp (mới) có hiêu lực từ ngày

01/7/2006: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn Chính phủ quy định,

hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế” Về cơ cấu

quản lý và điều hành, các tập đoàn có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc Về cơ cấu tổ chức, các tập đoàn có công ty mẹ và các công ty con

Tám tập đoàn kinh tế nhà nước do Chính phủ thí điểm thành lập và một loạt các doanh nghiệp tư nhân hình thành theo mô hình tập đoàn kinh tế nở rộ thời gian qua đang cho thấy xu thế liên kết phát triển để lớn mạnh, tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập Tuy nhiên, sự hình thành và phát triển của mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam đang còn nhiều vấn đề phải bàn Khi chưa hiểu thấu đáo

về tập đoàn và công ty mẹ - công ty con mà đã "cho ra" hàng loạt thì chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong điều hành Một vấn đề rất cơ bản là: xác định tập đoàn có phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân hay không Các doanh nghiệp tự nguyện gia nhập tập đoàn đều có tư cách pháp nhân đầy đủ và hoạt động độc lập Vì vậy, không có một mệnh lệnh hành chính nào có hiệu lực trong tập đoàn Cũng vì vậy, không có một quyết định hành chính của bất kỳ cấp quản lý nào về việc thành lập tập đoàn Trong các tập đoàn trên thế giới, không tồn tại chức danh Tổng Giám đốc tập đoàn mà chỉ có Chủ tịch tập đoàn do Hội đồng chủ tịch của các công ty con bầu ra Ngay ở nước ta hiện nay, trong khu vực kinh tế dân doanh, một số tập đoàn đã hình thành và hoạt động có hiệu quả như: Tập đoàn

PG tại Hải Phòng; Việt Á; Sunfat, Hòa Phát, Nam Cường, v.v…Các tập đoàn này

Trang 10

không có quyết định thành lập của cấp chính quyền nào và cũng không có giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh cho toàn tập đoàn

Như vậy, vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá những kết quả đạt được của

các TĐKT được Chính phủ thành lập trong thời gian qua Tuy nhiên có thể xem

đây như một luồng sinh khí mới bước đầu mang lại những dấu hiệu rất khả quan

trong quá trình tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước và góp phần làm thay đổi bộ

mặt của các tổng công ty nhà nước trước đây

II GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP

THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngành than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 100 năm, với 71 năm

truyền thống vẻ vang, từ cuộc tổng bãi công ngày 12/11/1936 của hơn 3 vạn thợ

mỏ đã giành thắng lợi rực rỡ Bước vào công cuộc đổi mới những năm đầu thập

niên 90, ngành than Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn thử thách gay gắt:

nạn khai thác than trái phép phát triển tràn lan làm tài nguyên và môi trường vùng

mỏ bị huỷ hoại nghiêm trọng, trật tự và an toàn xã hội diễn biến phức tạp Do

thiếu sự tổ chức và quản lý thống nhất của Nhà nước đã đẩy các công ty than

chính thống vào tình thế phải thu hẹp sản xuất, giảm đào lò, giảm bóc đất, niêm

cất xe máy, thiết bị, công nhân thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn,

ngành than đã lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng

Dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của ngành than là khi Tổng Công ty

Than được thành lập Ngày 10/10/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết

định số 563/TTg thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam theo hướng thí điểm xây

dựng tập đoàn kinh doanh mạnh (hay còn gọi là Tổng Công ty 91) và ngày

27/1/1995, Chính phủ ban hành Nghị định 13/CP phê chuẩn Điều lệ Tổng Công ty

Than Việt Nam Sự ra đời đó đã tạo cho ngành than có cơ sở để ''xốc lại đội ngũ''

Trang 11

bứt lên, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại các đơn

vị sản xuất, lưu thông, sự nghiệp của ngành than thuộc Bộ Năng lượng (cũ) và các đơn vị sản xuất, lưu thông than của địa phương và quân đội sau khi được sắp xếp

tổ chức lại theo Quyết định số 381/TTg ngày 27/7/1994 Tổng Công ty Than Việt Nam là tổng công ty nhà nước gồm 34 doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập,

3 doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc và 10 đơn vị sự nghiệp Các đơn vị thành viên

có quan hệ mật thiết về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, xuất nhập khẩu hoạt động trong ngành than Tổng Công ty do Chính phủ quyết định thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn

vị thành viên và của toàn Tổng Công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế

Với chiến lược kinh doanh đa ngành trên nền tảng sản xuất than, xây dựng Tổng Công ty Than ngày càng vững mạnh, Tổng Công ty đã từng bước tháo gỡ khó khăn, trì trệ thời bao cấp, xây dựng mục tiêu chiến lược đúng đắn cho sự phát triển Kết quả là năm 2005 sản lượng than nguyên khai đạt trên 30 triệu tấn, tăng 2,7 lần so với năm 2000 và tăng 5 lần so với năm 1994 trước khi thành lập Tổng Công ty Tổng doanh thu năm 2005 vượt 20.000 tỷ đồng (trong đó than chiếm 68%), lợi nhuận trước thuế vượt 2.500 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 12%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 40%, thu nhập bình quân đạt trên 3

triệu đồng/tháng so với 667.000/tháng năm 1995 [Nguồn: (10)] Môi trường vùng

mỏ, điều kiện làm việc, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân cán bộ được cải thiện rõ rệt Ngành Than đã thực hiện được nhiệm vụ thoả mãn các nhu cầu than của nền kinh tế đồng thời đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh

tế, xã hội ở Quảng Ninh và một số địa phương khác

Trang 12

Sau 11 năm phấn đấu, ngày 08/8/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/2005/QĐ- TTg chính thức phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Than Việt Nam trên cơ sở Tổng Công ty Than Việt Nam, hoạt động theo

mô hình công ty mẹ – công ty con Công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam được phép đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp, giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, tài nguyên khoáng sản được Nhà nước giao quản lý, công nghệ, thương hiệu và thị trường Tập đoàn Than Việt Nam được hình thành trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên nhằm tạo ra một tập đoàn kinh tế mạnh, có trình độ công nghệ cao, quản lý hiện đại, kinh doanh đa ngành; trong đó, ngành chính là công nghiệp than, nhiệt điện đốt than, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí năng lượng và mỏ, đóng tàu và ôtô, khai thác

và chế biến khoáng sản Quyết định nêu rõ, tập đoàn có 11 đơn vị, gồm Công ty Cảng và Kinh doanh than, Công ty Tuyển than Hòn Gai, Công ty Tuyển than Cửa Ông, Công ty Tài chính than Việt Nam, Công ty Địa chất mỏ, Trung tâm Cấp cứu

mỏ, Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực quản lý, Ban Quản lý dự án Than Việt Nam, Ban Quản lý dự án Nhà máy nhiệt điện Sơn Động, Trung tâm Y tế lao động ngành Than và Tạp chí Than Việt Nam Có 18 đơn vị do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ; 2 công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con; 24 công ty do Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 4 công ty liên kết do Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ và 3 Trường đào tạo nghề

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Quyết định

số 199/2005/QĐ-TTg thành lập công ty mẹ - Tập đoàn Than Việt Nam, với tên

giao dịch quốc tế Vietnam National Coal Group (VINACOAL), trụ sở chính tại

Hà Nội Theo đó, vốn điều lệ của tập đoàn là vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty Than Việt Nam tại thời điểm ngày 1/1/2005, sau khi đã kiểm toán

Ngày 26/12/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 345/2005/QĐ- TTg thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Theo đó, công ty mẹ Tập đoàn

Trang 13

Than Việt Nam đổi tên thành Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và chuyển Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam thành công ty con của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam Nhà nước giao cho Tập đoàn quản lý tài nguyên, trữ lượng than, bôxit và các khoáng sản khác để tổ chức khai thác theo quy định của pháp luật và điều lệ tổ chức, hoạt động của Tập đoàn

2 Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

2.1 Chức năng nhiệm vụ

Khi Tổng Công ty Than mới thành lập, nhiệm vụ chính mà Đảng và Chính phủ giao cho Tổng Công ty là:

 Lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than;

 Thoả mãn các nhu cầu về than của nền kinh tế, phát triển các ngành nghề khác trên nền công nghiệp than một cách có hiệu quả để giải quyết việc làm cho người lao động

Theo đó, Tổng Công ty có nhiệm vụ kinh doanh than theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách của Nhà nước, bao gồm: nghiên cứu khoa học công nghệ mỏ, tìm kiếm, thăm dò, khảo sát, thiết kế, xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng, khai thác, chế biến, tàng trữ, tiếp thị, vận chuyển, lưu thông, xuất nhập khẩu, làm dịch vụ về than và các khoáng sản khác trong vùng mỏ than được Nhà nước giao; sản xuất, lưu thông và xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; xuất nhập khẩu và cung ứng vật tư, thiết bị chuyên dùng trong ngành than; tiến hành các hoạt động kinh doanh khác phù hợp với pháp luật, chính sách nhà nước

Bảo vệ và giữ gìn cảnh quan môi trường vừa là nhiệm vụ vừa là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của ngành than Tổng Công ty có nhiệm vụ khắc phục hậu quả môi trường vùng mỏ đã bị suy thoái sau nhiều thập

kỷ để lại, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái và danh lam thắng cảnh, các di

Trang 14

tích lịch sử văn hóa trên địa bàn hoạt động của công ty, đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh

Từ 01/1/2006, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam bắt

đầu hoạt động và xác định chiến lược “Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân

lực đi lên giàu mạnh”, với phương châm “Phát triển hài hòa, thân thiện với môi trường, với địa phương và cộng đồng, với đối tác và bạn hàng và hài hoà trong nội bộ”

Chức năng, nhiệm vụ trong từng hướng kinh doanh của Tập đoàn:

- Công nghiệp than: Đẩy mạnh đầu tư, khai thác than, bán than và từ than làm ra điện, khí hoá lỏng, nhiên liệu lỏng…để gia tăng giá trị

- Công nghiệp nhôm: Phát triển nhanh công nghiệp nhôm ở Tây Nguyên và ven biển miền Trung, từ thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin, nhôm thỏi và các sản phẩm từ nhôm

- Công nghiệp khoáng sản: Cơ cấu lại các đơn vị hoạt động khoáng sản tại các địa phương theo hướng thành lập các công ty cổ phần có sự tham gia của các công ty địa phương để đầu tư, khai thác, chế biến sâu khoáng sản theo quy mô công nghiệp

- Công nghiệp hoá chất mỏ và vật liệu xây dựng: Đẩy mạnh đầu tư sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, xi măng, kính xây dựng và các vật liệu khác theo công nghệ hiện đại

- Cơ khí, chế tạo máy: Tập trung hiện đại hoá cơ khí sửa chữa, đẩy mạnh cơ khí chế tạo: chế tạo máy mỏ, sản xuất lắp ráp xe tải nặng, xe chuyên dùng, đóng tàu thuỷ…

- Kinh doanh bất động sản, kinh doanh các dự án môi trường bao gồm cả trồng rừng và kinh doanh các doanh nghiệp (sát nhập, mua bán)

Trang 15

- Dịch vụ: Phát triển các dịch vụ khoa học công nghệ; đào tạo, chữa bệnh nghề nghiệp; tài chính, ngân hàng; vận tải, thương mại và du lịch trong đó chú trọng các dịch vụ thuộc kinh tế biển

- Đầu tư ra nước ngoài: Đẩy mạnh hợp tác đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản và năng lượng tại Lào, Campuchia và tìm cơ hội đầu tư ở nước khác

2.2 Cơ cấu tổ chức

Theo quyết định số 345/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc

thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, sơ đồ cơ cấu quản lý và điều hành của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam như sau:

(1) Hội đồng quản trị: là đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, có không quá 09 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, bao gồm:

(1) Hội đồng quản trị

(2) Ban kiểm soát

(5) Bộ máy giúp việc

(3) Tổng giám đốc (4) Các Phó Tổng giám đốc

Trang 16

 07 thành viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Than Việt Nam nay là thành viên Hội đồng quản trị tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn (hiện nay là ông Đoàn Văn Long) không kiêm Tổng giám đốc

 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm

bổ sung không quá 02 thành viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Than Việt Nam nay giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

(2) Ban kiểm soát Tập đoàn do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, có tối đa 05 thành viên, trong đó Trưởng Ban kiểm soát là uỷ viên Hội đồng quản trị Trưởng Ban kiểm soát Tập đoàn Than Việt Nam nay giữ chức Trưởng Ban kiểm soát tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

(3) Tổng giám đốc Tập đoàn Than Việt Nam nay giữ chức tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (hiện nay là Ông Đoàn Văn Kiển)

(4) Các Phó Tổng giám đốc điều hành các khối sản xuất kinh doanh và Kế toán trưởng Tập đoàn do Hội đồng quản trị bổ nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc

Các công ty thành viên được thể hiện trong Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tập

đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam dưới đây Đặc biệt, ngày 9/4/2007, tại Hà Nội, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ra mắt Công ty TNHH một thành viên Tài chính Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacominfc) Công ty có vốn điều lệ là 300 tỷ đồng với thời gian hoạt động 50 năm trên toàn lãnh thổ Việt Nam Công ty Tài chính Than – Khoáng sản Việt Nam

ra đời thể hiện việc kinh doanh đa ngành nghề của Tập đoàn đang trên đường phát triển

Trang 17

1 Công ty Cảng

&Kinh doanh than

2 Công ty tuyển than Hòn Gai

3 Công ty tuyển than Cửa Ông

4 Công ty Tài chính Than - Khoáng sản VN

5 Công ty Địa chất mỏ

6 Trung tâm Cấp cứu mỏ

7 Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực quản lý

8 Ban Quản lý dự

án than Việt Nam

9 Ban Quản lý dự

án Nhà máy nhiệt điện Sơn Động

10 Trung tâm Y

tế lao động ngành than

11 Tạp chí Than Việt Nam

1 Cty Than Hòn Gai

2 Cty Than Hạ Long

3 Cty Xây dựng mỏ

4 Cty Than Dương Huy

5 Cty Than Hà Lầm

6 Cty Than Thống Nhất

7 Cty Than Khe Chàm

8 Cty Than Vàng Danh

9 Cty Than Quang Hanh

10 Cty Công nghiệp ôtô than VN

11 Cty Cơ khí đóng tầu than VN

12 Viện Cơ khí Năng lượng & Mỏ

13 Cty Than Núi Béo

14 Cty Chế tạo thiết bị điện Cẩm Phả

16 Cty Tư vấn đầu tư mỏ & công nghiệp

17 Cty Giám định Than Việt Nam

18 Cty Than Đèo Nai

19 Cty Than Cọc Sáu

20 Cty Than Cao Sơn

21 Cty Than Hà Tu

22 Cty Vật tư, Vận tải và Xếp dỡ

23 Cty Khách sạn Heritage Hạ Long

24 Cty Nhiệt điện Na Dương

25 Cty Nhiệt điện Cao Ngạn

26 Cty Than Mạo Khê

27 Cty TNHH một thành viên Chế biến & Kinh doanh than miền Bắc

28 Cty TNHH một thành viên Chế tạo máy than Việt Nam

29 Cty CP Nhiệt điện Cẩm Phả

30 Cty CP Vận tải & đưa đón thợ mỏ

31 Cty CP Đại lý tầu biển than VN

32 Cty CP XNK than Việt Nam

33 Cty CP Du lịch & Thương mại Than Việt Nam

34 Cty CP Đầu tư, Thương mại và Dịch vụ

35 Cty CP Chế biến và Kinh doanh than Cẩm Phả

36 Cty CP Than miền Trung

37 Cty CP Than miền Nam

38 Cty CP Than Tây Nam Đá Mài

1 Trường Đào tạo nghề mỏ Hồng Cẩm

2 Trường Đào tạo nghề mỏ Hữu Nghị

3 Trường Đào tạo nghề mỏ và xây dựng

Trang 18

3 Các ngành nghề kinh doanh

Là một tập đoàn kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, Tập đoàn Công nghiệp Than

- Khoáng sản Việt Nam hoạt động khá rộng với nhiều nhóm ngành kinh doanh như sau:

- Công nghiệp than: khảo sát, thăm dò, đầu tư xây dựng, khai thác, sàng tuyển, chế biến, vận tải, mua, bán, xuất nhập khẩu các sản phẩm than, khí mỏ, nước ngầm và khoáng sản khác đi cùng với than

- Công nghiệp khoáng sản (bao gồm công nghiệp bô xít - alumin - nhôm và các khoáng sản khác): khảo sát, thăm dò, đầu tư xây dựng, khai thác, làm giàu quặng, gia công, chế tác, vận tải, mua, bán, xuất nhập khẩu các sản phẩm alumin, nhôm, đồng, chì, kẽm, crôm, thiếc, đá quý, vàng, các kim loại đen, kim loại mầu khác và khoáng sản khác

- Công nghiệp điện: đầu tư xây dựng, khai thác vận hành các nhà máy nhiệt điện, các nhà máy thuỷ điện; bán điện cho các hộ kinh doanh và tiêu dùng theo quy định của pháp luật

- Cơ khí: đúc, cán thép; sửa chữa, lắp ráp, chế tạo các sản phẩm cơ khí, xe vận tải, xe chuyên dùng, phương tiện vận tải đường sông, đường biển, thiết bị mỏ, thiết bị điện, thiết bị chịu áp lực và các thiết bị công nghiệp khác

- Vật liệu nổ công nghiệp: đầu tư xây dựng, sản xuất, mua bán, dự trữ, xuất nhập khẩu các loại vật liệu nổ công nghiệp; cung ứng dịch vụ khoan nổ mìn, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp

- Quản lý, khai thác cảng biển, bến thủy nội địa và vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ chuyên dùng, xếp dỡ, chuyển tải hàng hoá

- Vật liệu xây dựng: khai thác đá, sét, cát, sỏi, các loại phụ gia; sản xuất xi măng, gạch ngói và các loại vật liệu xây dựng khác

- Xây lắp đường dây và trạm điện; xây dựng các công trình công nghiệp,

Trang 19

- Đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng và bất động sản

- Cấp nước, xử lý nước thải, trồng rừng và sản xuất, dịch vụ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Sản xuất kinh doanh dầu mỡ bôi trơn, nitơ, ôxy, đất đèn, hàng tiêu dùng; cung ứng vật tư, thiết bị

- Các dịch vụ: đo đạc, bản đồ, thăm dò địa chất; tư vấn đầu tư, thiết kế; khoa học công nghệ, tin học, kiểm định, giám định hàng hoá; in ấn, xuất bản; đào tạo, y

tế điều trị bệnh nghề nghiệp và phục hồi chức năng; thương mại, khách sạn, du lịch; hàng hải; xuất khẩu lao động; bảo hiểm, tài chính

- Các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật

II KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH THAN

CỦA TKV NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Tổng Công ty Than Việt Nam TVN (nay là Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam TKV) đã dần thực hiện được nhiệm vụ chính mà Đảng và Chính phủ giao là: “Lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than; Thoả mãn các nhu cầu về than của nền kinh tế, Phát triển các ngành nghề khác trên nền công nghiệp than một cách có hiệu quả để giải quyết việc làm cho người lao động” Ngay từ năm 1995, Tổng Công ty Than Việt Nam đã xây dựng đế án ''Đổi mới tổ chức, quản lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh'' Trên cơ sở tiềm năng sẵn

có của các nguồn lực: tài nguyên, lao động, cơ sở vật chất – kỹ thuật và điều kiện thực tế, Tổng Công ty Than đã nghiên cứu lựa chọn chiến lược phát triển ''Xây dựng Tổng Công ty Than thành tập đoàn kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than'' Từ mục tiêu chiến lược tổng quát đã đề ra, Tổng Công ty đã triển khai thực hiện các giải pháp và chiến lược cụ thể như: Chiến lược quản trị tài nguyên và môi trường;Đầu tư đổi mới công nghệ và Chiến lược thị trường

Trang 20

Năm 2000, TVN vượt qua mốc sản lượng tiêu thụ 11 triệu tấn; năm 2001 vượt mốc 13 triệu tấn; năm 2002 vượt mốc 14,8 triệu tấn Năm 2003, trong tháng

kỷ niệm ngày hội truyền thống công nhân mỏ, TVN đã tiêu thụ tấn than thứ 16 triệu cho khách hàng, lần thứ 2 hoàn thành sớm truớc thời gian hơn 2 năm chỉ tiêu sản lượng than mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, ghi tiếp mốc son mới trong lịch sử phát triển ngành than Năm 2004, sản lượng than tiêu thụ đạt 25 triệu tấn (vượt mục tiêu quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) tuy giá cả đầu vào làm giá thành than tăng cao như sắt thép, xăng dầu tăng gấp 1,5 – 2 lần so năm trước

Bảng 1: Bảng tổng hợp tình hình khai thác, tiêu thụ và xuất khẩu than của

Tập đoàn những năm gần đây

Nguồn: Số liệu báo cáo SXKD của Tập đoàn

Năm 2005, 2006, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam sau khi được thành lập đã tiếp tục đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu than trong nước

và xuất khẩu Năm 2005 đã tiêu thụ 30,2 triệu tấn than, năm 2006 tiêu thụ 37,7 triệu tấn than Các hệ số kỹ thuật, chi phí môi trường, trang bị kỹ thuật an toàn vệ

Trang 21

sinh lao động, hạ tầng cơ sở…tiếp tục làm tăng giá thành nhưng TKV vẫn đảm bảo cân đối tài chính Giá thành tiêu thụ than năm 2006 thực hiện 429.498 đồng/tấn, tăng 4,9% so năm 2005 do các chi phí liên quan đều tăng như hệ số bóc đất đá trên mỗi tấn than, hệ số đào lò, cung độ vận chuyển, tỷ lệ nổ mìn, khấu hao tài sản, giá xăng dầu, giá vật tư, thuế tài nguyên, lương cơ bản…Nhưng do TKV

đã áp dụng các biện pháp về điều hành tiêu thụ làm giảm vay vốn lưu động, các biện pháp tăng năng suất lao động, tiết kiệm các chi phí giúp giảm bớt giá thành làm giá thành năm 2006 chỉ tăng 20.000 đồng/tấn so với năm 2005 Chỉ tính riêng năng suất lao động sản xuất than năm 2006 của Tập đoàn đã đạt 491 tấn/người/năm, tăng 7% so với năm 2005 và bằng 205% so với năm 2001

[Nguồn : (27)]

Giá thành than 2007 cho đến nay là khoảng 435 đồng/tấn, bằng 101,3% so thực hiện năm 2006 Do điều kiện khai than ngày càng khó khăn, phải xuống sâu hơn và xa hơn nên giá thành sản xuất than ngày càng cao, dự kiến năm 2010 giá

thành sản xuất than là 521,48 đồng/ tấn [Nguồn : (27)]

Cho đến tháng 8/2007, TKV đạt tăng trưởng ổn định và khá, sản lượng than sạch đạt 26,6 triệu tấn tăng 15,5% so cùng kỳ năm trước, tiêu thụ khoảng 26,9 triệu tấn, tăng 17,0%, trong đó xuất khẩu khoảng 15,9 triệu tấn, tăng 22%, tiêu thụ trong nước khoảng 10,98 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước

[Nguồn : (1)]

Năm 2006 với doanh thu đạt trên 27,5 ngàn tỷ đồng vượt 13,8% kế hoạch,

và tăng 18,9% so với năm 2005 Trong đó, doanh thu tiêu thụ than đạt 17.642 tỷ đồng tăng 15% so với năm 2005 Lợi nhuận trước thuế đạt 2.250 tỷ đồng, nộp

ngân sách nhà nước 1.500 tỷ đồng [Nguồn: (1)]

Trong 6 tháng đầu năm 2007, doanh thu sản xuất kinh doanh toàn Tập đoàn l5.820 tỷ đồng, bằng 51,7% kế hoạch năm 2007 đã được Hội đồng quản trị phê duyệt và đạt 49,4% kế hoạch điều hành, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2006,

Trang 22

2007, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2006 Lương bình quân đạt 2,656 triệu đồng/người/tháng Giá trị xuất khẩu đạt 31,486 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước 99,918 tỷ đồng, bằng 70,7% kế hoạch năm. [Nguồn: (1)]

Bảng 2: Một số chỉ tiêu chủ yếu từ năm 2000 – 2006 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tiêu thụ than

Xuất khẩu (1000 tấn) 3095 4197 5507 6468 10500 14741 21611

Trong nước (1000 tấn) 8425 8849 9308 12357 13500 15447 16056 Tổng doanh thu

Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của Tập đoàn TKV

Về thị trường tiêu thụ, ngay từ khi mới thành lập Tổng Công ty Than nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến công tác tiêu thụ sản phẩm TVN đã xúc tiến ký hợp đồng cung ứng than giai đoạn 1995/1996-2000 với các hộ tiêu thụ: Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng Công ty Xi măng VN (CVN), Công ty Giấy Bãi Bằng, Công ty Phân đạm Hà Bắc, hợp tác với Tổng Công ty Đường Sông và tự đầu tư phương tiện vận tải thuỷ

để chở than đến tận nơi tiêu dùng TVN cũng phối hợp với các công ty thương

Trang 23

mại, các công ty vận tải của các tỉnh đưa than về tiêu thụ tại các địa phương Cho đến nay, TKV không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu, xây dựng mối quan hệ dài hạn với các nhà tiêu thụ cuối cùng, các công ty thương mại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Châu Âu, châu Mỹ, Nam Phi…hợp tác với các công ty thương mại nước ngoài và tự mình xuất khẩu than đi hơn 40 nước, chiếm 25 - 30% thị phần than antraxit trên thế giới Năm 2007, nhu cầu cũng như giá bán than trên thị trường tiếp tục tăng, đặc biệt là ở thị trường Nga và Đài Loan Đây là yếu tố thuận lợi cho xuất khẩu than ở nước ta

Hiện nay, Tập đoàn đang đầu tư mới, cải tạo, mở rộng các mỏ than để tăng thêm công suất khoảng 15 triệu tấn, đầu tư mới các nhà máy tuyển than với tổng công suất trên 10 triệu tấn; triển khai xây dựng tổ hợp bauxit – nhôm Lâm Đồng công suất 600.000 tấn Alumina/năm, tổng vốn đầu tư là 493 triệu USD; nhà máy Alumina Nhân Cơ - Đắc Nông 300 tấn Alumina/năm, tổng vốn đầu tư khoảng 250 triệu USD Bên cạnh đó, Tập đoàn còn đang chuẩn bị dự án để tiến tới thành lập 2 công ty liên doanh khai thác bauxit, sản xuất Alumina tại tỉnh Đắc Nông hợp tác với công ty HH Cổ Phần Nhôm Trung Quốc (CHALCO) có công suất giai đoạn một là 1,9 triệu tấn Alumina/năm, tổng đầu tư khoảng 1.600 triệu USD

TKV hiện còn triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các nhà máy nhiệt điện than: Cẩm Phả (2x230MW), Sơn Động (220MW), Mạo Khê (220MW), Nông Sơn ( 30MW), hợp tác với công ty AES Mỹ xây dựng nhà máy nhiệt điện Mông Dương (1000MW), tham gia cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng và Nhiệt điện Quảng Ninh Hiện nay đã có Nhà máy Nhiệt điện Nga Dương (110MW) vận hành thương mại từ tháng 11/2005, Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn (110MW) đang chạy ổn định

Tập đoàn cũng đang đưa vào vận hành Nhà máy Kẽm Thái Nguyên (10.000 tấn/năm), Nhà máy Luyện đồng Lào Cai (10.000 tấn/năm), chuẩn bị xây dựng các

dự án: Cromit Thanh Hoá, Phôi thép Cao Bằng, Phôi thép Lào Cai, tham gia cổ

Trang 24

Việt Nam, Tổng Công ty Khoáng sản & Thương mại Hà Tĩnh); Xây dựng Nhà máy kính nối tại Khu kinh tế mở Chu Lai - Quảng Nam, công suất 700 tấn thuỷ tinh lỏng /ngày, Nhà máy Xi măng Quan Triều – Thái Nguyên 600.000 tấn/năm

Bên cạnh các dự án trong nước, Tập đoàn và các công ty con đang chuẩn bị các điều kiện xin phép các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam và các công ty nước ngoài để thăm dò, khai thác than và khoáng sản kim loại tại Lào với các công

ty của Lào và các công ty khác (khai thác than phục vụ công nghiệp xi măng, vật liệu xây dựng, sản xuất điện tại Lào; khai thác khoáng sản và xây dựng nhà máy luyện kim tại Lào); thăm dò, khai thác khoáng sản tại Campuchia với mục đích hợp tác với các công ty Campuchia và các công ty khác để khai thác bauxit, sản xuất Alumina; khai thác chế biến quặng sắt và các khoáng sản khác. [Nguồn: (18)]

Với chiến lược đúng đắn phát triển đa ngành trên nền sản xuất than và với truyền thống "kỷ luật và đồng tâm", TKV đã vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt của kinh tế thị trường, từng bước đổi mới tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả ngày càng cao Cùng với phát triển sản xuất tăng nhanh sản lượng than, TKV còn phát triển các ngành nghề khác như cơ khí mỏ, các nhà máy nhiệt điện, vật liệu nổ công nghiệp, vật liệu xây dựng, thương mại, dịch vụ với cơ cấu kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than Đời sống việc làm của người lao động được đảm bảo và từng bước được cải thiện Thu nhập trung bình của 90 nghìn công nhân đã tăng từ gần 1 triệu đồng năm 1999 lên hơn 2 triệu đồng năm

2005, năm 2006, thu nhập bình quân của 109 nghìn công nhân là gần 2,7 triệu đồng/người/tháng, góp phần tích cực trong việc ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội vùng mỏ TKV từng bước khẳng định được vị thế thương hiệu VINACOAL trên thương trường Ngành than là ngành kinh tế công nghiệp đầu tiên được Đảng

và Nhà nuớc trao tặng hai phần thưởng cao quý nhất là Huân chương Sao Vàng (năm 1996) và danh hiệu "Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới (năm 2004)

[Nguồn: (15)]

Trang 25

III ĐÁNH GIÁ VỀ MẶT MẠNH VÀ MẶT YẾU CỦA TẬP ĐOÀN

1 Mặt mạnh

- Mô hình kinh doanh hiệu quả khi chuyển từ Tổng Công ty Than Việt Nam

thành Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam vào cuối năm 2005

Sự khác biệt được thể hiện qua bảng 3:

Bảng 3: Bảng so sánh hai mô hình Tiêu chí

sở hữu

Sở hữu nhà nước (đơn sở hữu)

Đa sở hữu, là một tổ hợp gồm công ty mẹ - TKV và các công ty con được tổ chức dưới các hình thức: công ty cổ phần, công ty TNHH 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty liên doanh, công ty ở nước ngoài

Quy mô

hoạt động

Quy mô nhỏ, chỉ chuyên về một ngành nhất định là ngành than

Quy mô lớn, đa ngành đa nghề, bên cạnh than còn làm điện, vật liệu nổ công nghệp,

cơ khí năng lượng và mỏ, đóng tàu và ôtô, khai thác và chế biến khoáng sản khác, dịch

vụ du lịch…

Cấu trúc Doanh nghiệp lồng

trong doanh nghiệp, pháp nhân lồng trong pháp nhân, đồng thời

Trang 26

Quyền chi phối của Tổng công ty với các doanh nghiệp thành viên được xác lập trên cơ sơ nguyên tắc phân cấp vừa mang tính chủ quan áp đặt, vừa mang tính định tính

Có 2 mối quan hệ:

(1) Giữa công ty mẹ với tư cách là chủ sở hữu, cổ đông bên góp vốn với các công ty con với tư cách là các doanh nghiệp khác có

cổ phần, vốn góp chi phối của công ty mẹ; (2) Giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp với nhau (công ty mẹ và công ty con đều là doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân như nhau)

Quyền chi phối của công ty mẹ đối với các công ty con được xác lập trên cơ sở mức

độ đóng góp các nguồn lực của công ty mẹ vào công ty con được thể hiện chủ yếu qua

tỷ lệ vốn góp ở công ty con, như vậy có cơ

sở khoa học và nguồn gốc kinh tế hơn

Mối quan

hệ bên

ngoài

Không thống nhất, thiếu sự tập trung

và trích nộp theo quy định mang tính hành chính là chủ yếu

Công ty mẹ đầu tư các nguồn lực được nhà nước giao vào các công ty con và coi đó là

cổ phần, vốn góp của công ty mẹ vào các công ty con; công ty mẹ giữ quyền chi phối công ty con tuỳ theo tỷ lệ vốn góp của mình tại công ty con và được chia lãi theo tỷ lệ góp vốn

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Trang 27

Như vậy, so với TVN trước đây, TKV có sự khác biệt rõ ràng Khi chuyển TVN sang thành TKV, có những lợi ích chủ yếu sau:

+ Khắc phục những tồn tại của mô hình tổng công ty và phù hợp với môi trường cạnh tranh, hội nhập kinh tế và tự do hoá thương mại đã, đang và sẽ hình thành ở nước ta

+ Tạo cơ sơ pháp lý phù hợp cho những đổi mới về tổ chức và cơ chế quản lý đã được xác lập của TVN và tiếp tục phát triển chúng lên tầm cao mới của

mô hình tập đoàn kinh tế

+ Xoá bỏ được mối liên kết hành chính áp đặt giữa Tổng Công ty và các doanh nghiệp thành viên cũng như giữa các đơn vị thành viên với nhau và thay bằng mối liên kết kinh tế, tài chính, đầu tư chi phối nhau là chủ yếu trong mô hình tập đoàn, nhờ đó tạo điều kiện tự chủ cao hơn và hợp tác chặt chẽ hơn cho các công ty con trong hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển đã đề ra của tập đoàn

+ Tạo sự bình đẳng và nâng cao tính trách nhiệm trong quan hệ kinh tế giữa công ty mẹ và các công ty con thông qua hợp đồng kinh tế thay cho quan hệ hành chính cấp trên - cấp dưới thông qua chỉ thị, mệnh lệnh hành chính và giao nhiêm vụ, kế hoạch trong mô hình tổng công ty

+ Tạo động lực thoả đáng cho công ty mẹ và các công ty con trong việc không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh do xoá bỏ được cơ chế giao vốn và trích nộp mà thay bằng cơ chế đầu tư vốn và phân chia hiệu quả theo tỷ lệ vốn góp

+ Tạo điều kiện để tăng cường tập trung, tích tụ vốn, trên cơ sở đó tăng cường sức mạnh kinh tế chung và khả năng cạnh tranh của Tập đoàn và các công

ty con thông qua lợi thế về quy mô

Trang 28

+ Chia sẻ rủi ro, khắc phục hạn chế của từng doanh nghiệp thành viên trong mô hình tổng công ty và hỗ trợ nhau nhờ mối liên kết thông qua lợi ích kinh

tế, đầu tư chi phối nhau trong mô hình tập đoàn

+ Tạo thế và điều kiện thuận lợi hơn cho Tập đoàn và các công ty con trong giao dịch làm ăn với các đối tác nước ngoài

Mô hình tập đoàn đã tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững hiệu quả của một công ty có quy mô lớn trong thời đại hiện nay Ngoài ra TKV còn có những lợi thế sau:

- Ngành than Việt Nam đã có lịch sử khai thác hơn 100 năm, với tiềm năng sẵn có là các nguồn lực: tài nguyên, lao động, cơ sở vật chất – kỹ thuật và điều kiện thực tế chính là động lực cho sự phát triển của Tập đoàn

- Ngành Than luôn luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ

và chính quyền các địa phương, các ngành, các cấp Bên cạnh đó, phẩm chất và sức sống của toàn thể cán bộ, công nhân viên chức của Tập đoàn trong suốt chặng đường hình thành và phát triển là “Kỷ luật và đồng tâm”, là bề dày truyền thống đã được các thế hệ cán bộ, công nhân thợ mỏ kế tiếp giữ gìn và phát huy đã góp phần xây dựng Tập đoàn phát triển nhanh, mạnh, hiệu quả và nâng cao vị thế của ngành trong thời đại mới này

2 Mặt yếu

Những phân tích về hoạt động của TKV trong những năm qua cũng như thực trạng trong hiện tại chỉ ra rằng vẫn còn những vấn đề còn hạn chế kìm hãm sự phát triển của Tập đoàn như:

- Hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta vẫn chưa có quy định cụ thể về

mô hình tập đoàn kinh tế cùng với cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của nó Do

đó TKV phải vừa đi vừa mở đường

- Nhu cầu đầu tư phát triển của Tập đoàn là rất lớn nhưng khả năng đảm bảo

Trang 29

- Từ nhiều năm nay, giá bán than trong nước vẫn thấp hơn giá thành và thấp hơn giá than xuất khẩu Ngành than phải lấy lãi xuất khẩu để bù đắp cho tiêu thụ trong nước Với giá bán than trong nước chỉ bằng khoảng 1/3 so với giá than xuất khẩu, vô hình chung, chúng ta đã làm giàu cho các doanh nghiệp nước ngoài Trong khi đó thị trường thế giới và khu vực có nhiều biến động mạnh có thể có những tác động tiêu cực vào kết quả kinh doanh của Tập đoàn

- Cũng do giá bán than quá thấp nên có rất ít tích lũy để có điều kiện đầu tư chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu lao động và ngành nghề

- Lực lượng công nhân viên chức ngành than tuy đông, có truyền thống lao động sản xuất nhưng do cơ cấu lao động còn bất hợp lý, việc làm còn thiếu, thu nhập hạn chế nên chưa phát triển toàn diện được Tập đoàn cũng thiếu những cán

bộ quản lý, cán bộ chuyên môn đủ tầm ở các lĩnh vực kinh doanh mới

- Điều kiện mỏ địa chất rất phức tạp, khai thác ngày càng xuống sâu, các hiểm hoạ thiên nhiên ngày càng tăng, năng suất đầu tư và giá thành ngày càng cao

- Công nghệ khai thác than lạc hậu, đặc biệt là ở các mỏ hầm lò nên tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác cao, mức độ đảm bảo an toàn thấp

- Tài nguyên than phân chia manh mún, có một số trường hợp một khoáng sàn than có nhiều đơn vị cùng khai thác

- Các mỏ than có điều kiện khác nhau về trữ lượng, chất lượng, mật độ chưa tài nguyên, điều kiện kỹ thuật khai thác, mức độ đã đầu tư đòi hỏi phải tìm phương pháp điều hoà hợp lý

- Điều chỉnh quan hệ cung cầu vẫn là một vấn đề phức tạp tồn tại đã nhiều năm chưa được giải quyết

* * *

Tóm lại, chương mở đầu này đã đưa ra tổng quan về Tập đoàn Công nghiệp

Trang 30

một trong những tập đoàn kinh tế đầu tiên của nước ta được thành lập bằng cách chuyển đổi từ tổng công ty nhà nước, qua đó thấy được hướng đi của Tập đoàn là phải phát triển theo hướng đa ngành đa nghề theo đúng định hướng của Nhà nước khi thành lập Tập đoàn và xứng đáng với vai trò là một tập đoàn năng lượng chủ chốt của quốc gia Trong chương này, Tập đoàn được tìm hiểu trên những khía cạnh: quá trình hình thành và phát triển, chức năng nhiệm vụ và cở cấu tổ chức, các ngành nghề kinh doanh, khái quát về tình hình sản xuất kinh doanh của Tập đoàn, qua đó rút ra những điểm mạnh và điểm yếu của Tập đoàn để có những phát triển đúng đắn hơn về thực trạng xuất khẩu than của Tập đoàn ở chương sau

Trang 31

1 Phân bổ trữ lượng than trên thị trường thế giới

Mảng màu than không bao giờ chìm khuất trong bức tranh năng lượng Nhu cầu năng lượng của nhân loại, trong đó có nhu cầu về than luôn tăng song bao giờ cũng được thoả mãn đầy đủ Sau đây là những nét đặc trưng về tình hình khai thác

và tiêu thụ than trên thế giới

Cung ứng 25% nhu cầu năng lượng của thế giới với trữ lượng dồi dào và rộng khắp trong khi giá cả lại tương đối rẻ, than đá được xem là nguồn nhiên liệu

“tình thế” trong giai đoạn nhân loại đang cố gắng tách khỏi sự lệ thuộc vào dầu khí

và chuyển dần sang các dạng nhiên liệu bền vững, thân thiện với môi trường như năng lượng mặt trời và gió

Trước thực trạng dầu khí luôn biến động giá và nguồn cung không ổn định, than đá được dự báo sẽ đóng vai trò chủ chốt trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của thế giới trong vòng 20 năm nữa Để đảm bảo an ninh năng lượng, hiện nay không chỉ các nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu như Mỹ, Trung Quốc, Ấn

Độ mà nhiều nước khác cũng đang tích cực nghiên cứu phát triển các công nghệ biến đổi than đá - vốn rất gây ô nhiễm cho môi trường - thành những dạng năng lượng sạch thay thế xăng dầu Đi đầu trong xu hướng này là Trung Quốc Theo kế hoạch phát triển khoa học công nghệ quốc gia của Trung Quốc công bố hồi tháng

2 năm nay thì trong vòng 15 năm tới nền kinh tế lớn thứ tư thế giới sẽ ưu tiên phát triển các công nghệ biến than đá - nguồn tài nguyên có trữ lượng dồi dào nhất hiện

Trang 32

nghệ hút khí carbon dioxide (CO2) sinh ra trong quá trình đốt than đá nhằm đạt mức thải CO2 gần bằng 0

So với dầu khí, than đá là nguồn tài nguyên có ưu thế vượt trội hơn hẳn, chẳng hạn như phạm vi phân bổ rộng khắp các nước trên thế giới với trữ lượng có thể phục hồi ở khoảng 70 nước Với mức khai thác như hiện nay, ước tính trữ lượng than đá trên thế giới sẽ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân loại trong khoảng 200 năm nữa Trong khi đó, hơn 68% trữ lượng dầu và 67% trữ lượng khí đốt trên thế giới tập trung chủ yếu ở Trung Đông và Nga Với đà sử dụng không

có xu hướng giảm như hiện nay, nguồn dầu thô và khí đốt ước tính sẽ cạn kiệt trong vòng 45 - 65 năm nữa

Trung Quốc là nước sản xuất và tiêu thụ than đá lớn nhất trên thế giới trong khi Mỹ là nơi có trữ lượng than đá lớn nhất hành tinh, kế đến là Ấn Độ, Trung Quốc, Australia, Nga, Ukraina, Phần Lan, Nam Phi, Canada

Thị trường xuất nhập khẩu than quốc tế có nhiều biến động trong những thập kỷ qua Những năm 60 - 70 là thời kỳ Tây Âu mua nhiều than nhất (54,7%), tiếp đến là Đông Âu và thứ 3 là Nhật Bản Kể từ đầu những năm 80 trở lại đây, Châu Á Thái Bình Dương và đứng đầu là Nhật Bản có tốc độ tăng nhập khẩu than hết sức nhanh chóng, chiếm tới 49% khối lượng than buôn bán trên toàn thế giới

hiện nay [Nguồn: (31)] Tình hình xuất nhập khẩu than thế giới được thể hiện qua bảng 4

Người ta dự báo rằng trong giai đoạn 2007 - 2020, nhu cầu than trên toàn thế giới có thể sẽ tăng với tỷ lệ trung bình năm là 2,2% Trong đó nhu cầu than của khu vực Trung Đông dự báo tăng 5%/năm; ở châu Á, tỉ lệ tăng trung bình năm của Trung Quốc là 3,1%, các nước khác là 3,8% Nếu nhận xét về khối lượng thì châu

Á vẫn là khu vực tiêu thụ than nhiều nhất thế giới Có nhiều dự báo trái ngược nhau về nhu cầu than của châu Âu trong những năm tới Có dự báo nhu cầu than của châu Âu sẽ giảm 0,6% trong giai đoạn 1995 - 2020 còn bộ năng lượng Mỹ dự

Trang 33

báo nhu cầu than của châu Âu sẽ tăng 21% trong giai đoạn này Cũng theo bộ này, nhu cầu than của châu Á sẽ tăng 59% trong giai đoạn nói trên. [Nguồn: (27)]

Bảng 4: Tình hình ngành công nghiệp than của một số nước

Đơn vị: Triệu tấn

Tên nước

Sản lượng than khai thác

Sản lượng than xuất khẩu Sản lượng than nhập khẩu

2003 2004 2005 2003 2004 2005 2003 2004 2005 Trung Quốc 1305 1238 1171 32 37 55 1 1 2

Hàn Quốc 4,4 4,2 4,1 - - - -

Nhật Bản 3,7 3,9 3,1 - - - 128 133 145

Thế giới 4483 4557 4532 - - - -

Trang 34

Việt Nam cũng là quốc gia có tiềm năng than đáng kể, tổng tài nguyên than Việt Nam là trên 230 tỷ tấn (tính đến 2006, chưa tính tài nguyên than biến chất thấp ở thềm lục địa Việt Nam), trong đó:

- Than biến chất thấp (lignit-as bitum), tính tối đa dến -3500m: 211.424 triệu tấn (91,9%), phân bố chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng (210 tỷ tấn)

- Than biến chất trung bình (bitum), tính tối đa đến -400m: 79 triệu tấn (0,04%), phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên và Tây Bắc

- Than biến chất cao (antraxit), tính tối đa đến -1500m: 18.541 triệu tấn (8,06%), phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh

2 Đặc điểm thị trường than thế giới hiện nay

Cạnh tranh than trên thị trường than thế giới hiện nay càng ngày càng trở nên gay go quyết liệt Ngoài các nước từ trước đến nay vẫn cung ứng than cho thị trường than thế giới như Australia, Mỹ, Nam Phi, Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Canada…còn có nhiều nước xuất khẩu than mới trỗi dậy và đang có xu thế phát triển nhanh như Indonesia, Colombia, Việt Nam…Đây là những nước đang có xu hướng mở rộng lượng than xuất khẩu trong khi các nước kia lại chững lại trong xuất khẩu than

Các nước hiện nay nhìn chung đều coi trọng mục tiêu tiết kiệm năng lượng

và bảo vệ môi trường sinh thái Do đó họ ra sức khống chế lượng than nhập khẩu Mặt khác cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á cũng làm cho lượng than nhập khẩu các nước Đông Á và Đông Nam Á giảm mạnh, giá than cốc giảm khoảng 18%, than động lực có độ nhớt nhỏ giảm giá 15% Những điều này đã cản trở không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu than của các nước Trong tình hình như vậy, thị trường than thế giới hiện nay thể hiện những đặc điểm sau:

- Thị trường than thế giới đặt ra yêu cầu chất lượng, chủng loại than có xu hướng nghiêm ngặt hơn Tiêu chuẩn than trên thị trường thế giới hiện nay bao

Trang 35

Lưu huỳnh cháy đạt 0,8 % trở xuống; Hàm lượng clorua đạt 0,03 % trở xuống; Trong than không được chứa tạp chất; Tính chất kết dính của than phải đạt được chỉ tiêu theo yêu cầu của hộ sử dụng; Độ trơ phải đạt trị số thấp

- Các nhà xuất khẩu than phải đảm bảo cho lượng than cung cấp luôn ổn định Các nhà xuất khẩu than phải tuân thủ đúng hợp đồng đã ký kết về các mặt số lượng, chất lượng than, thời gian, địa điểm giao hàng với các hộ sử dụng than thì mới chiếm được thị phần than trên thế giới một cách bền vững

- Thị trường than thế giới có tính tập trung tương đối cao Có 9 nước xuất khẩu than chính của thế giới là Australia, Mỹ, Nam Phi, Canada, Indonesia, Trung Quốc, Colombia, Nga, Ba Lan (các nước này chiếm tới 90% lượng giao dịch than xuất khẩu) Còn các nước nhập khẩu than chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và các nước khối Cộng đồng chung châu Âu

- Tỷ trọng than cốc và than động lực trên thị trường than thế giới có xu hướng đảo ngược Nguyên nhân chính là do các nước có nền gang thép lớn đã không ngừng áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao năng lượng hoặc áp dụng kỹ thuật công nghệ mới như công nghệ phun than nên họ đã dùng than không khói thay cho than cốc Kể từ những năm 90 của thế kỷ 20, tỷ trọng than động lực trên thị trường than thế giới đã vượt quá 50%

Nhu cầu than Antraxit trên thế giới là rất lớn và ngày càng tăng (điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam vì sản lượng than chủ yếu ở nước ta là Antraxit) Ngày nay thế giới lại đang rất quan tâm đến vấn đề môi trường, ở nhiều nước chính phủ không cho phép xây dựng nhà máy điện nguyên tử, không có điều kiện xây dựng nhà máy thuỷ điện Vì vậy người ta có xu hướng quay lại phát triển nhiệt điện, trong đó có nhiệt điện chạy than

Ở các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu, Mỹ việc kiểm soát môi trường được tiến hành hết sức chặt chẽ, do vậy có nhu cầu sử

Trang 36

chất độc hại thấp được pha trộn với than cốc để luyện kim, xi măng hay hoá chất…Có thể nói nhu cầu trên thị trường thế giới về than Antraxit sẽ lớn hơn nhiều

so với lượng cung trong tương lai

II MẶT HÀNG THAN TRONG CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU CỦA

VIỆT NAM

Than là loại nhiên liệu quý không có khả năng phục hồi Than là mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân như dùng để đun nấu (than cám, than tổ ong) Than còn được dùng rất nhiều làm nguồn nhiên liệu quan trọng trong các ngành chế biến vật chất khác như: luyện kim, điện lực, hoá chất Trên thế giới có rất nhiều quốc gia cần sử dụng nguyên liệu này phục vụ cho sản xuất công nghiệp Như thị trường Tây Âu cần nhập khẩu than để phục vụ một số ngành công nghiệp sản xuất thép và titan, Châu Âu và Nam Phi lại cần nhập khẩu than để làm nhiên liệu đốt sưởi vào mùa đông Các nước như Nhật Bản thì cần nhập khẩu than để phục vụ cho các ngành sản xuất công nghệp như thép, xi măng nên số lượng nhập khẩu tương đối ổn định

Việt Nam là nước xuất khẩu ròng mặt hàng than đá với quy mô nhỏ nhưng tăng trưởng nhanh nên tiềm năng xuất khẩu cũng được xếp ở mức cao Trong điều hành và thống kê xuất khẩu hàng năm, đến năm 2006, nước ta có 25 mặt hàng (hoặc nhóm hàng) xuất khẩu chủ yếu Có 18 mặt hàng hiện đã đạt trên 100 triệu USD, đó là: (1) dầu thô; (2) dệt may; (3) giày dép; (4) thuỷ sản; (5) gỗ và sản phẩm gỗ; (6) điện tử, máy tính; (7) gạo; (8) cao su; (9) cà phê; (10) than; (11) dây điện và dây cáp điện; (12) hạt điều; (13) sản phẩm nhựa; (14) sản phẩm gốm sứ; (15) rau quả; (16) sản phẩm mây, tre, cói, thảm; (17) hạt tiêu; (18) xe đạp và phụ tùng xe đạp Như vậy là đã tăng 4 mặt hàng so với năm 2000 (than; sản phẩm mây, tre, cói, thảm; sản phẩm nhựa; xe đạp và phụ tùng xe đạp)

Trang 37

Có 12 mặt hàng xuất khẩu sau đây đạt trên 500 triệu USD, được các chuyên gia gọi là câu lạc bộ các mặt hàng xuất khẩu “đại gia”, tăng 5 thành viên

so với năm 2000 (than, dây điện và cáp điện, cao su, hạt điều, sản phẩm gỗ)

Bảng 5: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 của một số mặt hàng

xuất khẩu chủ lực của nước ta

STT Mặt hàng Tỷ trọng (%) Tốc độ tăng bình quân 2001 – 2005 (%)

2 Dệt may 14,9

20,7 (Hiện nay đã “qua mặt” dầu thô vượt lên vị trí đứng đầu trong danh mục mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm 2007 đạt trên 5,805

tỷ USD trong khi dầu thô đạt 5,78 tỷ USD)

Nguồn: VDC2 Official Website - Saigon VNN

Đối tác nhập khẩu than chính của than Việt Nam là Nhật Bản (32%), Trung

Trang 38

có tốc độ tăng bình quân từ 2001 – 2005 cao nhất trong các mặt hàng chủ lực nhưng để tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước, chúng ta không thể khai thác lớn hơn được, mục tiêu xuất khẩu chỉ ở mức khoảng

150 triệu USD

III HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG

NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

1 Kim ngạch xuất khẩu và thị trường xuất khẩu

1.1 Kim ngạch xuất khẩu

Về sản lượng, trong những năm gần đây, sản lượng than xuất khẩu của Tập đoàn ngày càng tăng được thể hiện qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1: Sản lượng than xuất khẩu của TKV những năm gần đây

Nguồn: Báo cáo sản xuất kinh doanh của Tập đoàn 2000 – 2006

Qua biểu đồ trên, ta thấy sản lượng xuất khẩu của ngành than đã tăng từ

3076 nghìn tấn (năm 2000) lên 20940 nghìn tấn (năm 2006), tức là tăng 680% Cho đến tháng 8/2007, sản lượng xuất khẩu của Tập đoàn là 15900 nghìn tấn, tăng 22% so cùng kỳ năm trước

Trang 39

Có được kết quả đó là do Tập đoàn đã tăng cường hoạt động khai thác, sản xuất than, nhờ đó tăng được số lượng than thương phẩm Ngành than đã chú trọng đến đầu tư cho công tác thăm dò cùng với đẩy mạnh sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại để tăng khối lượng than khai thác Hiện tại, toàn ngành có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất trên dưới 2 triệu tấn than nguyên khai/năm, 15 mỏ

lộ thiên vừa và công trường lộ thiên (thuộc các công ty than hầm lò quản lý) sản xuất với công suất từ 100.000 tấn - dưới 1 triệu tấn than nguyên khai/năm, trên 30

mỏ hầm lò đang hoạt động (trong đó 8 mỏ có trữ lượng huy động lớn, công nghệ

và cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, khai thác với công suất từ 1 triệu tấn/năm trở lên; các mỏ còn lại có sản lượng khai thác dưới 1 triệu tấn/năm) Xuất khẩu hiện chiếm khoảng 30% tổng sản lượng than của tập đoàn, đó không phải là một con số nhỏ

Về giá trị kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn, ta có thể thấy rằng trị này không ngừng tăng lên qua các năm theo biểu đồ sau:

Biểu đồ 2: Giá trị kim ngạch xuất khẩu than của TKV những năm gần đây

Trang 40

Qua biểu đồ ta thấy giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm

2000 – 2005 Nhưng đến năm 2006, kim ngạch xuất khẩu than tăng vụt, lần đầu tiên mặt hàng than được tham gia vào là câu lạc bộ các mặt hàng xuất khẩu “đại gia” (giá trị kim ngạch đạt trên 500 triệu USD) Sự tăng trưởng vượt bậc đó phần nhiều là do kết quả của việc chuyển đổi Tổng Công ty Than Việt Nam thành Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam vào cuối năm 2005 cùng với đó

là những nỗ lực đổi mới cách thức quản lý điều hành hiệu quả hơn và ngày càng hiện đại hoá máy móc thiết bị trong khai thác chế biến than Sự chuyển đổi thành Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chính là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của ngành than Việt Nam

1.2 Thị trường xuất khẩu

Thời kỳ trước đổi mới, thị trường xuất khẩu than của ta chỉ có Liên Xô, các nước thuộc Đông Âu và Cuba Nhưng sau khi hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ cùng với giai đoạn đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, lúc khó khăn trong các thị trường truyền thống thì sau đó là những nỗ lực mở rộng sang các thị trường châu Á và châu Âu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Bungary, Ấn Độ, Cộng hoà Séc, Philipins, Thuỵ Điển…

Cuộc khủng hoảng tài chính tiện tệ ở châu Á vào cuối năm 1997 đã tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, trong đó có xuất khẩu than của nước ta Nhận thấy rõ khó khăn trước mắt, Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là TKV) đã nỗ lực hết mình, chủ động tìm kiếm bạn hàng mới, cùng với kinh nghiệm và uy tín của mình, TVN đã tìm được hướng đi đúng đắn cho mình, thể hiện qua hai bảng 6 và 7

Qua 2 bảng này ta thấy các thị trường tiêu thụ lớn của Tập đoàn là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Tây Âu; thị trường xuất khẩu than ngày càng mở rộng, đặc biệt là bắt đầu từ năm 2000 có thêm những thị trường mới đầy tiềm năng như Malaysia, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Séc, Thuỵ Điển thể hiện

Ngày đăng: 04/07/2023, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Tấn Bình (2004), Giáo trình phân tích hoạt động doanh nghiệp, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích hoạt động doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2004
3. Bùi Xuân Lưu (2002), Giáo trình kinh tế ngoại thương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế ngoại thương
Tác giả: Bùi Xuân Lưu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
4. Vũ Hữu Tửu (2002), Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, NXB Giáo dục, Hà Nội.* Báo và tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Tác giả: Vũ Hữu Tửu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
5. Hội khoa học và công nghệ mỏ Việt Nam (2006), “Tập đoàn Than Việt Nam - Mốc son đánh dấu bước phát triển mới của ngành công nghiệp than Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 1/2006), tr. 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn Than Việt Nam - Mốc son đánh dấu bước phát triển mới của ngành công nghiệp than Việt Nam”, "Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Tác giả: Hội khoa học và công nghệ mỏ Việt Nam
Năm: 2006
6. Đoàn Văn Kiển, Nguyễn Thành Sơn (2006), “Định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đến 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 4/2006), tr. 4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đến 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, "Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Tác giả: Đoàn Văn Kiển, Nguyễn Thành Sơn
Năm: 2006
7. Lê Đỗ Bình (2006), “Khả năng huy động trữ lƣợng than vào quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015, có xét triển vọng đến 2025”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 4/2006), tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng huy động trữ lƣợng than vào quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015, có xét triển vọng đến 2025”, "Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Tác giả: Lê Đỗ Bình
Năm: 2006
8. Nguyễn Cảnh Nam (2006), “Giá than nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 6 – 2006), tr. 32-34 9. Nguyễn Cảnh Nam (2007), “Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản ViệtNam sau một năm chuyển đổi và đi vào hoạt động”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 1/2007), tr. 35- 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá than nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững”", Tạp chí Công nghiệp Mỏ" (số 6 – 2006), tr. 32-34 9. Nguyễn Cảnh Nam (2007), “Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam sau một năm chuyển đổi và đi vào hoạt động”, "Tạp chí Công nghiệp Mỏ
Tác giả: Nguyễn Cảnh Nam (2006), “Giá than nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững”, Tạp chí Công nghiệp Mỏ (số 6 – 2006), tr. 32-34 9. Nguyễn Cảnh Nam
Năm: 2007
10. Nguyễn Hữu Di (2007), “Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam TKV – Phát huy lợi thế đạt đƣợc, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh”, Tạp chí Công nghiệp (Kỳ 1, 8/2007), tr. 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam TKV – Phát huy lợi thế đạt đƣợc, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh”, "Tạp chí Công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Di
Năm: 2007
11. Đoàn Văn Kiển (2007), “Chiến lƣợc phát triển bền vững ngành than”, Tạp chí Than – Khoáng sản (số 6/2007), tr. 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lƣợc phát triển bền vững ngành than”, "Tạp chí Than – Khoáng sản
Tác giả: Đoàn Văn Kiển
Năm: 2007
12. Văn bản – Quyết định mới (2007), “Tổ chức bộ máy điều hành tập đoàn”, Tạp chí Than – Khoáng sản (số 10/2007), tr. 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bộ máy điều hành tập đoàn”, "Tạp chí Than – Khoáng sản
Tác giả: Văn bản – Quyết định mới
Năm: 2007
13. Đỗ Thế Anh (2007), “Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam trước thử thách lớn lao trong phát triển than đến năm 2015 – 2025”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Mỏ (số 3/2007), tr. 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam trước thử thách lớn lao trong phát triển than đến năm 2015 – 2025”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ Mỏ
Tác giả: Đỗ Thế Anh
Năm: 2007
1. Các báo cáo tổng kết kinh doanh và tài chính của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam từ năm 2000 đến nay.* Sách Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w