1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn

70 620 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (Acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Kỹ thuật làm đất, Quản lý rừng, Lâm nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 502,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với các vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát di động, bán di động thì Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) là cây trồng lý tưởng để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hóa khí hậu, chống cát bay, cát nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và đời sống dân sinh. Bên cạnh những lợi ích của cây Keo lá liềm mang lại cho môi trường thì nó còn đem lại nhiều lợi ích về kinh tế. Gỗ keo lưỡi liềm khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do tán lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng để trồng trên đồi trọc làm cây che bóng, bảo vệ đất. Ngoài ra, Keo lá liềm có rễ phát triển mạnh, nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là vùng cát trắng ven biển [20]. Rừng ven biển luôn được tỉnh Thừa Thiên - Huế xác định có vai trò to lớn trong việc chắn cát, giảm thiểu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái và các các công trình hạ tầng trong vùng, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân. Hiện nay huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế đã và đang đưa vào xây dựng các mô hình trồng Keo lá liềm nhằm giúp người dân vùng đất cát có thể phát triển một loài cây lâm nghiệp với mục tiêu tạo lập được các dải rừng phòng hộ để chặn đứng nạn cát bay và cố định các cồn cát di động, tạo tiền đề cần thiết cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản trên đất cát, cải thiện được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường vùng cát và nâng cao độ phì nhiêu của đất [18]. Tuy nhiên việc trồng cây gây rừng ở những vùng cát ven biển và vùng cát nội đồng còn gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết một trong những khó khăn đó thì chọn kỹ thuật làm đất thích hợp và xác định tuổi cây con đem trồng là một trong những bước đầu quan trọng nhằm tăng tỷ lệ sống và sinh khối của Keo lá liềm.

Trang 1

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng cát ven biển nước ta là vùng sinh thái rất khắc nghiệt, hiểm hoạ cát diđộng uy hiếp mạnh mẽ và trở thành khu vực rất xung yếu Khoảng 400.000 hacác dải cát di động trải dọc bờ biển miền Trung đã và đang bị sa mạc hoá, ướctính mỗi năm có 20 ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đụn cát di động[9] Vì vậy việc tạo rừng trên những vùng cát này là hết sức khó khăn

Do phải tạo rừng trên những vùng đất cát khô hạn, nghèo dinh dưỡng vớichức năng phòng hộ, chắn gió, chắn cát ven biển nên việc lựa chọn loài câytrồng rừng rất được quan tâm, đây là một trong những khâu cốt yếu quyết địnhđến thành bại của công tác trồng rừng Viện KHLN Việt Nam đã nghiên cứu vớimột số loài cây trồng trên vùng này đó là Keo lá tràm, Keo tai tượng, Phi lao,một số loài cây chịu hạn và một số loài Bạch đàn trắng…nhưng cũng chưa đisâu [23]

Với các vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát

di động, bán di động thì Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) là cây trồng lý tưởng

để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hóa khí hậu, chống cát bay, cátnhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nôngnghiệp và đời sống dân sinh Bên cạnh những lợi ích của cây Keo lá liềm manglại cho môi trường thì nó còn đem lại nhiều lợi ích về kinh tế Gỗ keo lưỡi liềmkhá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh; gỗ nhỏdùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do tán lá rộng thườngxanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng để trồng trênđồi trọc làm cây che bóng, bảo vệ đất Ngoài ra, Keo lá liềm có rễ phát triểnmạnh, nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cảitạo đất rất tốt, đặc biệt là vùng cát trắng ven biển [20]

Rừng ven biển luôn được tỉnh Thừa Thiên - Huế xác định có vai trò to lớntrong việc chắn cát, giảm thiểu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, bảo vệ môitrường sinh thái và các các công trình hạ tầng trong vùng, tạo công ăn việc làm,nâng cao đời sống của nhân dân Hiện nay huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế

đã và đang đưa vào xây dựng các mô hình trồng Keo lá liềm nhằm giúp ngườidân vùng đất cát có thể phát triển một loài cây lâm nghiệp với mục tiêu tạo lậpđược các dải rừng phòng hộ để chặn đứng nạn cát bay và cố định các cồn cát diđộng, tạo tiền đề cần thiết cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và

Trang 2

nuôi trồng thuỷ sản trên đất cát, cải thiện được các điều kiện khắc nghiệt củamôi trường vùng cát và nâng cao độ phì nhiêu của đất [18].

Tuy nhiên việc trồng cây gây rừng ở những vùng cát ven biển và vùng cát nộiđồng còn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết một trong những khó khăn đó thì chọn

kỹ thuật làm đất thích hợp và xác định tuổi cây con đem trồng là một trong nhữngbước đầu quan trọng nhằm tăng tỷ lệ sống và sinh khối của Keo lá liềm

Xuất phát từ những yêu cầu đó, tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng

của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các

dòng Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện

Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Vào đầu những năm 1988, CSIRO với sự khuyến khích của FAO và hỗ trợtích cực của các đối tác khác nhau, bắt đầu bộ sưu tập hạt giống về cây Keotrong vùng nhiệt đới ẩm của Úc, Indonesia và Papua New Guine Phần lớn cácthăm dò và thuần hóa keo nhiệt đới ở châu Á được báo cáo khá đầy đủ tại cáchội thảo do ACIAR, CSIRO, FAO và Viện Quốc tế Winrock nghiên cứu vềNông nghiệp tổ chức từ năm 1986 đến 1993 Từ năm 1993 đã có những nghiêncứu sâu hơn về sự thuần hóa của Keo nhiệt đới trong môi trường ẩm ướt và khô

cằn/bán khô cằn Một số loài được trồng thử nghiệm, đó là Acacia cincinnata, Acacia leptocarpa, Acacia aulacocarpa và Acacia crassicarpa, đã cho thấy

những điểm khả quan trong các thử nghiệm ở những vùng nhiệt đới ẩm, nhưng

chỉ Acacia crassicarpa đã được trồng thí điểm với mục đích thương mại, chủ

yếu là ở Indonesia [17]

Theo nghiên cứu tại CSIRO lâm nghiệp và lâm sản (CSIRO FFP) được tiến

hành trong bối cảnh thuần hóa cây Cho biết Acacia crassicarpa là một cây khá

lớn có thể cao lên đến 30 m Nó có sức tăng trưởng và sức sống cao ở những nơikhô cằn, hơi cao, đồng cỏ cao nguyên và phát triển mạnh trong vùng nhiệt đới

ẩm với tiềm năng của các loài ít được biết đến Trong những năm qua,

Acacia crassicarpa đã phát triển từ một cây hầu như không được biết đến trong

những vùng hoang dã của miền Bắc Queensland và New Guinea rồi trở thànhmột loài cây trồng phổ biến với khả năng cung cấp giấy và bột giấy trong khuvực Đông Nam Á Hơn 40.000 ha rừng trồng hiện nay đã được thành lập trênđảo Sumatra ở Indonesia (Midgley 2000) đã mang lại hiệu quả kinh tế cao vàgóp phần bảo vệ môi trường trên đảo Mặc dù Keo lá liềm tạo ra sản lượng bộtgiấy ít hơn so với Keo tai tượng, nhưng tốc độ tăng trưởng cao (trung bình giatăng hàng năm là hơn 25m3/ha/năm) duy trì năng suất trên mỗi đơn vị diệntích Nó được trồng chủ yếu trên đất cao, có độ pH thấp và đôi khi có thể bịngập nước, trong khi đó Keo tai tượng có thể không phát triển tốt [12]

Acacia crassicarpa là một minh chứng tốt về tiềm năng phát triển nhanh

chóng của loài cây nhiệt đới Nó đã thu hút sự đầu tư, nghiên cứu tại nhiều quốcgia như: Úc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc,Tanzania Nhiều nghiên cứu đầu được thực hiện trong các dự án ACIAR Công

Trang 4

việc tiếp theo đã được thực hiện dưới sự bảo trợ của Nhóm tư vấn nghiên cứu vàphát triển của cây Keo (COGREDA).

Tại Trung Quốc

Theo Pan Zhigang và đồng nghiệp Yingtian thì Acacia crassicarpa đã được

giới thiệu vào năm 1985 với các loài được trồng ở Trung Quốc Sau 8 năm

nghiên cứu (1985-1993), Acacia crassicarpa cho thấy rằng nó là một cây họ đậu

nhiệt đới phát triển nhanh chóng Ít sâu bệnh, dịch hại nghiêm trọng và là một

loài cây cung cấp giấy và bột gỗ Acacia crassicarpa phân bố ở các vùng cận

nhiệt đới, nhiệt đới và phía Nam rộng lớn ở Trung Quốc, nơi nhiệt độ trung bìnhkhoảng 21 - 240C, có lượng mưa hàng năm 1000 - 2000 mm Nó có thể sinh

sống ở đồi núi thấp, và bờ biển đất cát Đặc biệt Acacia crassicarpa có thể làm

giàu cho đất vì nó là một loài có khả năng cố định đạm [15]

Tại Thái Lan

Thử nghiệm của nhiều loài có nguồn gốc ở Úc (chủ yếu là của các loàiKeo, Bạch đàn và Tràm) được trồng tại các địa điểm khác nhau trên khắp TháiLan trong thời gian 1985 - 1987 Kết quả ban đầu thu được từ các thử nghiệmtrồng năm 1985 và 1986 đã cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các loài trong sự

tồn tại và phát triển Một số cây Keo (ví dụ như Acacia crassicarpa, Acacia auriculiformis, Acacia torulosa và Acacia julifera) và Bạch đàn (ví dụ như Eucalyptus camaldulensis, Eucalyptus tereticornis, Eucalyptus citriodora và Eucalyptus urophylla) nằm trong số những cây có khả năng sinh tồn và phát triển tốt Với loài Keo thì các xuất xứ phía Bắc như Acacia crassicarpa và Acacia aulacocarpa tăng trưởng nhanh hơn các xuất xứ miền Nam Đặc biệt, Acacia crassicarpa là loài có nhiều triển vọng, vừa có khả năng thích nghi tốt ở

những vùng khắc nghiệt vừa sinh trưởng tốt góp phần đem lại hiệu quả cao vềkinh tế [14]

Tại Indonesia

Nghiên cứu ở Nam Kalimantan - Indonesia về sự tồn tại và phát triển của

83 loài cây, nghiên cứu này đã tiến hành thử nghiệm với những loài thống trịtrên đồng cỏ ở Nam Kalimantan, Indonesia Bố trí thí nghiệm được chọn ngẫunhiên, thiết kế với 6 - 8 lần lặp lại của lô, hàng 5 cây Ở tuổi hai, năm giống

nhập ngoại: Acacia mangium, Acacia crassicarpa, Acacia auriculiformis, Acacia cincinnata, Acacia leptocarpa có tỷ lệ sống sót cao từ 90 - 100%, chiều rộng tán khoảng 3 - 6 m và chiều cao từ 5 - 8m có ý nghĩa Đặc biệt là Acacia crassicarpa và Acacia cincinnata của giống nhập ngoại đã sinh trưởng rất tốt.

Trang 5

Sự phát triển nhanh chóng của năm loài cây trồng đã được nghiên cứu trongvòng 24 tháng Kết quả thí nghiệm cho thấy, Keo tai tượng có tỷ lệ sống caonhất là 98% và chiều cao đo được là 8,7 m, tiếp theo là Keo lá liềm với tỷ lệsống 91% và chiều cao 8,0 m Hiệu suất cuối cùng của loài cây trồng đã đượcxác nhận trong các thí nghiệm độc cấp và trồng thí điểm [11]

Khả năng tăng trưởng nhanh chóng của những loài ngoại lai trong lần táitrồng rừng đầu tiên trên các đồng cỏ đã cung cấp một cơ sở đáng tin cậy cho các

hoạt động tiếp theo Có thể thấy rằng Keo lá liềm là loài cây có thể sinh trưởng

và phát triển tốt trên đồng cỏ ở Nam Kalimantan, và cần được ưu tiên nghiêncứu thêm trong thời gian tới

từ 2 đến 4 năm Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể của tỷ lệ sống, chiều cao

và tăng trưởng đường kính giữa các loài/xuất xứ tại tất cả các lần đánh giá [10]

Bảng 2.1 Kết quả nghiên cứu

Acacia crassicarpa từ Bensbach, PNG, có khối lượng

cao nhất (58,7 m3/ha) và sinh khối gỗ (53,4 t/ha) trong

khi Acacia mangium từ Kongowe, Tanzania, có chiều

cao thấp nhất (4,6m), khối lượng (1,92 m3/ha) và sinhkhối gỗ (2,7 t/ha)

Mật độ cơ bản Acacia mangium từ Claudie, Queensland có mật độ

cơ bản cao nhất (610,6 kg/m), trong khi nhập từBituri, PNG, là thấp nhất (375,2 kg/m)

Trang 6

(A I Kindo, M A Mndolwa, E Edward và S A O.Chamshama,2010)[10]

Tại Malaysia

Một thử nghiệm tại Trường Đại học Putra Malaysia (UPM) Serdang,

Malaysia gồm 8 xuất xứ của Acacia crassicarpa ở tuổi 3 đã đo đếm về tỷ lệ

sống, chiều cao, đường kính, dạng cây, trọng lượng riêng, sinh khối của các bộphận, khối lượng, và diện tích lá Một là nguồn gốc từ Irian Jaya, hai là từIndonesia, và ba là có nguồn gốc từ phía bắc Queensland, và bốn là từ PapuaNew Guinea Tất cả các xuất xứ đều có tỷ lệ sống tốt (>94,7%), nhưng có sựkhác biệt đáng kể (P<0,05) trong quá trình phát triển của chúng Các xuất xứ từSamlleberr, Irian Jaya, Indonesia, sông Olive, Queensland, Limal Malam, PapuaNew Guinea đã được tìm thấy là có triển vọng nhất về chiều cao trung bình,đường kính, dạng cây, sinh khối, khối lượng, và tăng trưởng diện tích lá.Phương trình để dự đoán tổng sinh khối (cả trên và dưới gốc cây) các xuất xứ

của Acacia crassicarpa đã sử dụng dữ liệu từ 30 cây từ mỗi xuất xứ [16].

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.1 Nghiên cứu về Keo lá liềm

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa hay Racosperma crassicarpum (Acacia

Cunn ex Benth.) Pedley.) là một cây bản địa Úc (Queensland), Indonesia

và Papua New Guinea Ở nước ta vùng trồng Keo lá liềm nhiều nhất là vùng Bắc

Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ Keo lá liềm thích hợp nơi có nhiệt độtrung bình 24 - 250C, lượng mưa 1.500 – 2000 mm, độ cao dưới 400 – 500 m sovới mực nước biển, độ dốc dưới 20 - 250 Là loài cây ưa đất có thành phần cơgiới trung bình, thoát nước, chịu được đất chua, đất nghèo, đất cát, trồng tậptrung và phân tán đều được [21]

Trong vòng 20 năm (1980 - 2000) đã có trên 20 khảo nghiệm được triểnkhai, trải dài suốt từ Bắc tới Nam, tại nhiều vùng sinh thái và trên nhiều dạng lậpđịa khác nhau đã là cơ sở tốt để chọn được các loài và xuất xứ có triển vọngtrong toàn quốc và cho từng vùng Hàng chục loài và gần 100 xuất xứ

Keo Acacia vùng thấp đã được quan tâm khảo nghiệm từ những năm 1980.

Trong số nhiều loài Keo được đưa vào khảo nghiệm thì 3 loài là Keo lá liềm,Keo lá tràm và Keo tai tượng đã chứng tỏ có nhiều xuất xứ đáp ứng được yêucầu trồng rừng trên diện rộng do có khả năng sinh trưởng nhanh và khả năngthích nghi cao [7]

Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài Bạch đàn:

Trang 7

Acacia aulacocarpa trồng thử nghiệm 3 năm tại trạm thực nghiệm Mang Yang,

tỉnh Gia Lai trên đất feralit rừng nghèo kiệt, việc bố trí trồng hỗn giao giữa Bạchđàn và Keo vừa đáp ứng mục tiêu kinh tế vừa góp phần bảo vệ môi trường đất làphương thức hợp lý, bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc trồng hỗn giaotheo hàng giữa 4 loài cây trong điều kiện đất rừng nghèo trong giai đoạn rừngnon đã thúc đẩy sinh trưởng tốt, nhất là chiều cao Đất rừng Mang Yang cơ bảnthích hợp với đặc tính sinh thái của 4 loài cây đang nghiên cứu Kết quả thí

nghiệm tại trạm thực nghiệm Mang Yang đối với Acacia crassicarpa: ZHvn=1,00

m, ZDo= 2,05 cm như vậy có thể thấy rằng cây Keo lá liềm là loài cây thích hợpvới vùng đất rừng nghèo Mang Yang.[1]

Năm 2011, Trung tâm KN - KN tỉnh Quảng Trị, Trạm KN - KN TriệuPhong đã xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Keo lá liềm trên vùng cát nộiđồng tại thôn Sinh Thái, xã Triệu Vân, huyện Triệu Phong với quy mô 5,0 ha

Có thể thấy rằng sau gần 1,5 năm triển khai kết quả thu thập được qua đối chứngvới Keo tai tượng: về chiều cao phát triển bình quân 2,75 m, so với Keo taitượng 1,4 m và tỷ lệ sống trên 95%, so với cây Keo tai tượng 93%, sinh trưởng

về đường kính gốc của cây Keo lá liềm có đường kính gốc trung bình là 5,4 cm,

so với Keo tai tượng bình quân 3,82 cm, không có sâu bệnh [19]

Qua mô hình thử nghiệm có thể thấy Keo lá liềm có tiềm năng phát triểntốt tại huyện Triệu Phong, là một xu hướng mới mang lại lợi ích kinh tế và môitrường cho vùng đất cát nội đồng này

Khảo nghiệm các xuất xứ Keo lá liềm tại Bầu Bàng (Bình Dương) Một bộcác xuất xứ Keo lá liềm đã được trồng khảo nghiệm tại Bầu Bàng (Bình Dương)

từ tháng 4 năm 1991 Bầu Bàng là lập địa đất phù sa cổ ở vĩ độ 11017', lượngmưa hàng năm 1640 mm/năm, có số giờ nắng là 2650 giờ/năm, thường bị ngậptrong mùa mưa [4]

Bảng 2.2 Sinh trưởng của các xuất xứ Keo lá liềm tại Bầu Bàng (9/1991

-12/1999)

Trang 8

12,48,7

23,321,2

16931

3,412,8 (Nguồn GS.TS Lê Đình Khả, 2006)[4]

Số liệu đo tháng 12 năm 1999 qua bảng 2.2 cho thấy sau 8,5 năm các xuất

xứ có triển vọng nhất ở Bầu Bàng là Dimisisi (PNG), Deri-Deri (PNG),Morehead (PNG) và Bensbach (PNG) Những xuất xứ này có thể tích thân cây

387 - 390 dm3/cây Trong đó các xuất xứ có sinh trưởng kém như Samlenberr(Indonesia) và Jardine (Qld) chỉ có thể tích thân cây tương ứng là 256 dm3/cây

và 169 dm3/cây Còn nòi địa phương Đồng Nai của Keo lá tràm chỉ có thể tíchthân cây 31 dm3/cây Dimisisi (PNG) và Deri-Deri (PNG) cũng là những xuất xứ

có sinh trưởng tốt nhất của Keo lá liềm tại Ba Vì, còn Deri-Deri (PNG) là mộttrong những xuất xứ có sinh trưởng tốt nhất tại Đông Hà Chứng tỏ các xuất xứnày là những xuất xứ có triển vọng ở các nơi khảo nghiệm tại nước ta

Ngoài ra xuất xứ Dimisisi cũng là xuất xứ có sinh trưởng tốt nhất của Keo

lá liềm sau 3 năm khảo nghiệm tại Long Động thuộc tỉnh Quảng Châu, TrungQuốc [4]

Theo tác giả Nguyễn Thị Liệu - Trung tâm Khoa học SX Bắc Trung Bộ :

“Qua điều tra tập đoàn cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng duyênhải Bắc Trung Bộ đã xác định Keo lá liềm là loài cây trồng có triển vọng nhất.Keo lá liềm có khả năng thích nghi rộng nhất, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng đượctrên điều kiện đất cát nội đồng, cây thường đơn thân, xanh tốt Những vùng đất

Trang 9

cát nội đồng úng ngập cần phải lên líp cao mới sinh trưởng tốt Nếu không lênlíp thì sinh trưởng rất kém, lá vàng” [5].

Đầu những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá liềm (Acacia crassicarpa), và Keo nâu (Acacia alaucocarpa) đã được nhập trồng thử tại Ba

Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái Nguyên) và Trảng Bom (Đồng Nai) Đánh giá

sơ bộ năm 1991 đã thấy trong 4 loài keo được trồng thử năm 1982 tại Ba Vì vànăm 1984 tại Hóa Thượng thì ba loài Keo có sinh trưởng nhanh là Keo taitượng, Keo lá liềm và Keo lá tràm; trong đó Keo lá tràm là loài có sinh trưởngnhanh trong năm đầu (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1991) [4]

Trong các năm 1990 - 1991 thông qua các dự án UNDP một bộ giống 39xuất xứ của 5 loài keo vùng thấp đã được khảo nghiệm nhằm tại Đá Chông(huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây), Đông Hà (Quảng Trị) và Đại Lải (Vĩnh Phúc) [4].Như vậy có thể thấy rằng, Keo lá liềm là loài cây mới được đưa vào trồng ởnước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinh trưởng nhanh nhất trong cácloài keo ở vùng thấp, đặc biệt là có thể sinh trường tốt trên mọi lập địa từ feralit,đất cát, phù sa

2.2.2 Phát triển rừng phòng hộ ven biển ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

Vùng cát ven biển ở tỉnh Thừa Thiên - Huế bao gồm các xã, thị trấn thuộc

5 huyện: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, với chiềudài gần 50 km, rộng hàng chục nghìn ha Những vùng này nhiều năm qua cóđiều kiện môi trường biến động khá mạnh Trong đó, hiện tượng sạt lở bờ biển

và cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên, làmcho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó, lại càng khốn khó hơn Theo Chi cụcLâm nghiệp Thừa Thiên - Huế với dự án trồng rừng 661, các địa phương trongvùng đã trồng và chăm sóc được gần 4.600 ha rừng, trong đó vùng cát ven biểngần 1.900 ha và vùng cát nội đồng gần 2.740 ha; trồng bảo vệ đê cát ven biển vàven phá 5.210 m; quản lý bảo vệ hơn 5.600 lượt/ha rừng Chính vì vậy đã nâng

độ che phủ rừng của vùng dự án tăng lên 30% Các địa phương còn trồng hơn5.200 m cây dọc các tuyến đê ven biển để nâng cao giá trị phòng hộ Kết quảmang lại rất lớn, không những nâng cao chất lượng rừng trồng, mà còn làm đadạng hơn cơ cấu cây trồng, vừa có tác dụng phòng hộ, vừa tăng thu nhập cho hộdân Diện tích đất trống, đồi núi trọc cơ bản đã được trồng rừng phủ xanh, rừngphòng hộ ven biển, hình thành các đai rừng bảo vệ đê, phòng hộ khu dân cư venbiển trước bão lũ và tình trạng nước biển dâng Các dự án trồng rừng đã giải

Trang 10

quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho 2.230 hộ gia đình và hơn 10nghìn lao động Bình quân mỗi năm trồng 450 ha, chủ yếu là Keo lá liềm, Keo látràm, Phi lao Theo kế hoạch thì trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, tỉnh ThừaThiên - Huế tiếp tục quản lý, bảo vệ 12.000 ha rừng vùng cát ven biển hiện có;đồng thời ưu tiên trồng mới khoảng 1.150 ha rừng vùng cát ven biển, với cácloại cây trồng như Phi lao, Keo chịu hạn, Keo lá liềm và cây ngập nước [22].

2.2.3 Ảnh hưởng của khâu làm đất tới sinh trưởng của các loài Keo

Theo Ochiai (chuyên gia lâm sinh của JICA), tại Trung Quốc, kích thước

hố ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của Bạch đàn Cụ thể, nếu hốđào to thì tỷ lệ chết tăng lên và nguyên nhân là do mối ăn vì trong các hố đào to,

số lượng mối nhiều hơn so với hố đào bé [2]

Hiện nay, trước khi trồng rừng, đất có thể được chuẩn bị bằng nhiềuphương pháp và phương thức khác nhau tuỳ vào điều kiện cụ thể Thường saukhi xử lý thực bì, đất được đào hố để trồng cây theo kích thước và mật độ thiết

kế Trong một số điều kiện nhất định, đất được xử lý bằng cách cày toàn diệnhoặc lên líp trước khi đào hố Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao sảnlượng rừng trồng thông qua việc làm đất Tại Quảng Trị, nơi thường hay bị ngậplụt vào mùa mưa, thí nghiệm lên líp trồng được tiến hành đối với keo lá tràm

(Acacia auriculiforimis) và Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) Kết quả cho thấy

sau 4,5 năm, đường kính và chiều cao của Keo lá liềm trồng trên líp tăng mộtcách ý nghĩa so với không lên líp Đường kính và chiều cao đạt tương ứng là 5

cm và 7,7 m, trong khi ở công thức đối chứng các chỉ tiêu này chỉ đạt 2,6 cm và5,8 m Đối với Keo lá tràm sự khác nhau rõ rệt chỉ xảy ra đối với đường kính.Kích thước líp thích hợp cho keo lưỡi liềm là cao 0,2 m, rộng 4 m và cho Keo látràm là 0,2 m chiều cao và 1,5 m chiều rộng (Nguyễn Thị Liệu, 2004) Năm

2001, thí nghiệm về làm đất được tiến hành với Keo lá tràm Sau 4 năm, chiềucao của cây trong thí nghiệm đối chứng (không cày) tốt hơn rõ rệt so với câytrong công thức làm đất bằng cách cày toàn diện Nguyên nhân có thể trongcông thức cày toàn diện đất bị rửa trôi và xói mòn (Phạm Thế Dũng, 2005) Sựsai khác không có ý nghĩa được ghi nhận đối với tăng trưởng đường kính thâncây và trữ lượng lâm phần Hiện tại, hầu hết đất trồng rừng thường được xử lýbằng cách đào hố sau khi xử lý thực bì Những nghiên cứu về ảnh hưởng củakích thước hố tới sinh trưởng của Keo còn ít [2]

Trồng rừng thí nghiệm năm 2000, diện tích 5 ha được tiến hành tại TriệuTrạch - Triệu Long - Quảng Trị Rừng trồng được 1 tuổi [5]

Trang 11

Thử nghiệm các biện pháp làm đất (10 công thức):

- CT1: Đối chứng: Không lên líp

- CT2: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,2m

- CT3: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,4m

- CT4: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m

- CT5: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,4m

- CT6: Lên líp bốn (trồng 4 hàng) rộng 10m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m

Phần đối chứng Keo lá tràm:

- CT7: Không lên líp

- CT8: Lên líp đơn (trồng 1 hàng) rộng 1,5m, rãnh líp 1,5m, cao 0,2m

- CT9: Lên líp đôi (trồng 2 hàng) rộng 4,0m, rãnh líp 2,0m, cao 0,2m

6 CT6 Keo lá liềm lên líp bốn cao 0,2m 1,38 88,86

7 CT4 Keo lá liềm lên líp đôi cao 0,2m 1,72 94,87

8 CT3 Keo lá liềm lên líp đơn cao 0,2m 1,86 101,29

9 CT2 Keo lá liềm lên líp đơn cao 0,4m 1,92 111,67

10 CT5 Keo lá liềm lên líp đôi cao 0,4m 2,10 102,90

(Nguồn Nguyễn Thị Liệu, 2001) [5]

Kết quả từ bảng 2.3 cho thấy:

Trang 12

Với Keo lá liềm lên líp đơn và líp đôi ở các độ cao đều cho kết quả tốt, tuynhiên các kết quả líp đơn và líp đôi cao 0,4 cho kết quả tốt hơn, nhưng khôngthực sự sai khác với mức ý nghĩa 5%.

Lên líp bốn kết quả kém hơn các công thức lên líp khác, diện tích bề mặtlíp rộng, dễ bị cát bay, cát lấp nên dễ bị san phẳng líp và úng ngập trở lại

Phần đối chứng không lên líp kém hơn và sinh trưởng chậm hơn

Và Keo lá tràm cả 4 công thức đều cho kết quả kém, tỷ lệ chết cao, cây sinhtrưởng chậm, nhiều cành nhánh, nhiều thân

2.2.4 Sinh khối, tỷ lệ sống

2.2.4.1 Sơ lược về sinh khối

Các vật chất hữu cơ ở trên và dưới mặt đất và cả thực vật sống và thực vậtchết ví dụ như cây thân gỗ, cây hoa màu/lương thực, cây thân cỏ, thảm mục, rễcây, Sinh khối bao gồm cả các vật thể được xác định ở trên và dưới mặt đất.Sinh khối trên mặt đất là sinh khối sống trên mặt đất bao gồm: thân cây,gốc cây, cành nhánh, vỏ, hạt và lá

Sinh khối dưới mặt đất là tất cả sinh khối sống của rễ Những rễ cây cóđường kính nhỏ hơn 2 mm (được khuyến nghị) bỏ qua bởi vì chúng thường rấtkhó để phân với vật chất hữu cơ trong đất hoặc vật rơi dụng khác

Sinh khối rừng

Sinh khối được định nghĩa là tổng lượng vật chất hữu cơ sống trên mặt đấttrong rừng, được tính bằng tấn khô trên một đơn vị diện tích (rừng, ha, vùng,hoặc quốc gia)

Khối lượng thể tích gỗ

Tỷ lệ giữa khối lượng khô tuyệt đối và thể tích thân gỗ tươi không vỏ Nócho phép tính toán sinh khối gỗ theo khối lượng vật chất khô Khối lượng thểtích gỗ thông thường được tính bằng gam/cm3 hoặc tấn/m3 [3]

2.2.4.2 Sơ lược về tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống của rừng trồng còn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánhgiá sự thành công hay thất bại của công tác trồng rừng, đặc biệt là trồng rừngtrên vùng đất cát ven biển Hiện nay số loài cây lâm nghiệp tồn tại được trênvùng cát trắng ven biển còn rất ít, lý do chủ yếu do tính chất khắc nghiệt của đấtcát và khí hậu vùng cát làm cho cây trồng không thể chịu đựng nỗi

Trang 13

2.2.5 Sơ lược về vùng cát nội đồng và ven biển

2.2.5.1 Khát quát các đặc điểm chung

Đặc điểm chung của đất cát ven biển là được hình thành trên các cấu trúcuốn nếp cổ của dải Trường Sơn có tuổi Palêzôi (pz) Trong đó cấu trúc địa chấtcủa vùng duyên hải miền Trung thường có hai tầng: Tầng dưới là nền móng cổsinh Palêôzôi, tầng trên là trầm tích trẻ với thành phần thạch học chủ yếu là cátthô, cát nhỏ và cát mịn màu trắng tinh, trắng xám, trắng vàng… có chứa một sốquặng sa khoáng Do tác động trực tiếp của chế độ gió mùa, đặc biệt là gió mùaĐông (gió mùa Đông Bắc) đã hình thành trên những hệ thống đồi cát di độngvới qui mô kích thước tuỳ thuộc vào đặc điểm địa lý tự nhiên tại chỗ, tích tụ dầndần, dồn cao lên tạo thành những đồi - đụn cát và cũng dể dàng sụt mạnh xuốngphía sườn dốc, chuyển dịch dần vị trí từ bờ biển vào trong nội địa [8]

Đất cát nội đồng hay đồng bằng thềm biển là các trảng cát bằng phẳngnằm sâu phía trong tiếp giáp với các khu dân cư, thường được bao bọc bởinhững cánh đồng, khu dân cư, các sông, suối Cát ở đây không hình thànhnhững đụn cao mà trải rộng tương đối bằng phẳng với các trảng cỏ thứ sinhphân bố gần các ao, hồ (trằm, bàu) Ngoài các trảng cỏ, vùng cát nội đồng còn

có các trảng cây bụi thứ sinh Đất cát nội đồng nghèo chất dinh dưỡng, kết cấurời rạc và thường có tầng Glây cứng phía dưới có nơi chỉ cách bề mặt đất chưađầy 1 mét, vì vậy mực nước ngầm thường nông vào mùa mưa, dễ gây ngập úng,song vào mùa nắng nóng lại bị khô hạn nặng nên không thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp Vùng cát nội đồng là "một vùng sinh thái đặc biệt, phần lớn cóđiều kiện khắc nghiệt, nhiệt độ bình quân trong năm cao, úng lúc mưa và hạn lúcnắng, độ phì đất hết sức thấp, thậm chí có nơi chỉ là một vùng đất cát trắng phaukhông màu mỡ, không có thực bì, nhìn qua như một tiểu sa mạc" [5]

Đây là loại đất có diện tích rất lớn, vì vậy cần có biện pháp tổ chức sản xuấttrên loại đất này, tùy theo từng nơi để bổ trí các loại cây nông, lâm nghiệp thíchhợp Trên cồn đụn cát cần trồng rừng để chống cát bay lấn chiếm ruộng đồng,làng mạc Đối với các dải cát bằng, mịn, mực nước ngầm cao thì có thể khaithác sử dụng trồng các loại cây nông lâm kết hợp

2.2.5.2 Phân biệt 2 vùng đất cát ven biển và đất cát nội đồng tại huyện Phong Điền [6]

* Mô tả phẩu diện đất

Bảng 2.4 Mô tả phẫu diện đất cát ven biển và nội đồng huyện Phong Điền

Trang 14

Phẫu diện Đặc điểm

Nội đồng trong rừng

Nội đồng ngoài rừng

Ven viển trong rừng

Ven biển ngoài rừng

Màu sắc

0-30cm Trắng bạc Xám nhạt Trắng bạc Trắng bạc30-60cm Trắng xám Xám Trắng bạc Xám nhạt60-100cm Trắng xám Xám đậm Nâu nhạt Xám đen

(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013) [6]

- Về màu sắc: Càng xuống sâu thì màu sắc càng đậm dần nhưng thay đổikhông đáng kể, từ trắng bạc đến trắng xám, xám nhạt ta có thể quan sát bằngmắt thường

- Độ sâu bắt đầu có nước: Ở ven biển độ sâu có nước cạn hơn ở nội đồng,

chênh lệch giữa hai đầu khoảng 40 - 45cm

Tỉ lệ đá: Ở nội đồng cao hơn ven biển, cụ thể là vùng nội đồng là từ 1,2

-3,6%, còn ở ven biển là từ 0,8-2,7%

- Khối lượng rễ cám: Ở nội đồng rất nhiều 8,3kg rễ cám tươi trên 1 m2, ởven biển là 6,2 kg/1m2, điều này cho thấy ở vùng nội đồng rễ phát triển rấtnhanh

* Độ pH của đất

Bảng 2.5 Giá trị pH của đất ở các địa điểm và độ sâu khác nhau

Địa điểm Vị trí phẫu diện Độ sâu lấy mẫu (cm) pH

Trang 15

(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013 )[6]

- Độ pH của 2 vùng đất cát ven biển và đất cát nội đồng ở trong và ngoàirừng không chênh lệch nhau lớn

- Có thể thấy pH của cả khu vực biến động từ 4,6-6,6 tương đương với đấtchua nhiều đến chua ít Việc trồng cây đã cải thiện pH của cây không nhiều

Trang 16

(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013) [6]

- Hàm lượng mùn (%): Nằm trong khoảng từ 0,3 - 3,7% tương đương nằmtrong khoảng từ đất nghèo mùn tới đất có mùn trung bình Việc trồng cây đã nânghàm lượng mùn của đất lên đáng kể, ví dụ như ở vùng nội đồng là 1,3% và ở venbiển là 0,7%

- Từ bảng 2.6 có thể kết luận: Hàm lượng mùn trong đất của vùng cát nội đồng ở trong và ngoài rừng đều cao hơn vùng ven biển

Bảng 2.7 Độ ẩm tuyệt đối của đất ven biển và nội đồng

Trang 17

(Nguồn: Nguyễn Văn Lương, 2013)[6]

- Độ ẩm của đất cát dao động từ 4,9 - 17,4%, có sự thay đổi theo chiều tăng

lên Cụ thể là ở vùng cát ven biển tăng lên 1%, vùng cát ven biển là 0,9% Nhưvậy, việc trồng Keo lá liềm đã làm tăng độ ẩm của đất

- Theo bảng 2.7 cho thấy, độ ẩm tuyệt đối của vùng cát ven biển ở trong và ngoài rừng đều cao hơn vùng cát nội đồng

PHẦN 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Trang 18

3.1.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1.1 Mục tiêu chung

- Xác định được phương pháp làm đất và tuổi cây con thích hợp cho loài

Keo lá liềm từ đó góp phần làm cơ sở bổ sung cho việc xây dựng bảng hướngdẫn kỹ thuật trồng rừng Keo lá liềm trên vùng cát ven biển huyện Phong Điền,tỉnh Thừa Thiên Huế

3.1.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệ sống và tạo

sinh khối loài Keo lá liềm từ đó xác định phương thức làm đất thích hợp trênvùng cát

- Xác định được tuổi cây con thích hợp với tỷ lệ sống và sinh khối cao nhất

nhằm góp phần phục vụ cho công tác lựa chọn tiêu chuẩn cây con khi xuấtvườn

- Chọn được 4 dòng có tỷ lệ sống và sinh khối cao nhất để có thể nhângiống đại trà

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện tại 2 xã: Điền Môn và Phong Hòa huyện Phong Điền, tỉnhThừa Thiên Huế Thời gian nghiên cứu từ ngày 9/1/2014 đến ngày 24/06/2014

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về loài Keo lá liềm (tên gọi khác là Keo lưỡiliềm vì lá có hình lưỡi liềm), kỹ thuật làm đất và tuổi cây con

Tên khoa học: Acacia crassicarpa hay Racosperma crassicarpum (A.Cunn.

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội địa phương

3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất đến tỷ lệ sống và sinh khối của một số dòng Keo lá liềm

Trang 19

- Ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệ sống và sinh khối củamột số dòng Keo lá liềm ở vùng cát nội đồng

- Ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệ sống và sinh khối củamột số dòng Keo lá liềm ở vùng cát ven biển

3.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của Keo lá liềm

- Ảnh hưởng của tuổi cây con đến tỷ lệ sống của Keo lá liềm

- Ảnh hưởng của tuổi cây con đến khả năng tạo sinh khối của Keo lá liềm

3.4 Phương pháp nghiên cứu

- Thông qua điều tra, thu thập số liệu từ hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

3.4.2 Điều tra số liệu sơ cấp

* Tiến hành thí nghiệm ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến tỷ lệsống của một số dòng Keo lá liềm ở vùng cát nội đồng như sau:

Có 4 công thức làm đất được bố trí trên 10 dòng Keo lá liềm khác nhauCông thức 1: Cuốc hố

Công thức 2: Lên líp đơn rộng 1,5m, cao 0,5m trồng 1 hàng

Công thức 3: Cày đất + cuốc hố

Công thức 4: Lên líp đôi rộng 3,5m, cao 0,5m trồng 2 hàng

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của phương thức làm đất đến

tỷ lệ sống của một số dòng Keo lá liềm

Trang 21

Bảng 3.4 Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 3 công thức làm đất

- Sau khi lấy cây, tiến hành cân tươi cây gồm rễ, thân, cành và lá, nốt sần

để xác định sinh khối tươi của cây trong các dòng Keo lá liềm

- Tiến hành sấy cây ở nhiệt độ 1050C với thời gian 2 giờ

- Sau khi sấy tiến hành cân sinh khối khô của rễ, thân, cành và lá, nốt sần

* Ảnh hưởng của tuổi cây đến tỷ lệ sống của Keo lá liềm

Tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn tương ứng với 3 tuổi cây, mỗi ô 500 m2 sau đó

đo đếm thống kê số cây sống, cây chết trong mỗi ô sau 16 tháng trồng

Bảng 3.5 Bảng mẫu xác định tỷ lệ sống của cây theo các tuổi cây con

* Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cây con đến sinh khối của Keo lá liềm

Đo sinh khối tươi và khô toàn thân Keo lá liềm với tuổi cây con: 4 tháng, 6tháng, 8 tháng

Bảng 3.6 Bảng mẫu đo sinh khối của cây theo tuổi cây con

Trang 22

sống ta dùng tiêu chuẩn khi bình phương χt2 .

Giả thuyết H0: Các mẫu về chất thuần nhất

Giả thuyết H0 được kiểm tra bằng tiêu chuẩn phù hợp

Nếu χt2 ¿ χ052 tra bảng với k= (a-1)(b-1) bậc tự do thì giả thuyết H

0

được tạm thời chấp nhận

Ngược lại nếu χt2 χ052 tra bảng với k= (a-1)(b-1) bậc tự do thì giả

thuyết H0 bị bác bỏ, các mẫu về chất là không thuần nhất với nhau

Bảng 3.7 Sắp xếp các kết quả nghiên cứu

Công

thức

Cấp

1 2 j b ∑

Trang 23

Trong đó: fij là tần số quan sát của mẫu i cấp chất lượng j.

Taj là tổng tần số quan sát của mẫu thứ i

Tbj là tổng tần số quan sát của cấp chất lượng j

TS là tổng tần số quan sát của toàn thí nghiệm

* Để đánh giá ảnh hưởng của các phương thức làm đất đến sinh khối Keo

lá liềm ở vùng cát nội đồng, vùng đất ven biển

- Sau khi đo sinh khối tươi và khô toàn thân Keo lá liềm với các phươngthức làm đất

- Tiến hành xử lý số liệu bằng phân tích phương sai hai nhân tố 1 lần lặp vàthông qua tiêu chuẩn t (Student) để tìm dòng tốt nhất

Trang 24

a, b là các cấp tương ứng với nhân tố A, B

Si (A) là tổng trị số quan sát cấp i của nhân tố A

Si (A) =

i=1

a Xij

Sj (B) là tổng trị số quan sát cấp j của nhân tố B

Sj(B) =

j=1

b Xij

Xi (A) là trị số trung bình cấp i của nhân tố A

i (A) =

Si( A) b

Xj (B) là trị số trung bình cấp j của nhân tố B

j(B)=

Sj(B ) a

S là tổng trị số quan sát ngoài thí nghiệm

là trị số trung bình toàn thí nghiệm

=

S a.b

Phân tích phương sai và kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quảthí nghiệm

Tính biến động tổng số:

Trang 26

+ Nếu |ttính| >|t05| kết luận có sai dị rõ rệt, chọn công thức có trị số trungbình lớn hơn là công thức hiệu quả nhất.

* Để đánh giá ảnh hưởng của tuổi cây con đến sinh khối Keo lá liềm

Dùng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố để đánh giá, tính tiêuchuẩn F (Fisher), dùng tiêu chuẩn t (Student) để tìm công thức tốt nhất

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng

Trang 27

đất liền) từ 16020'55'' đến 16044'30'' vĩ Bắc và 10703'00'' đến 107030'22'' kinhĐông.

- Phong Điền phía Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

- Về phía Tây, Tây Nam và phía Nam, Phong Điền giáp hai huyện Đakrông

và A Lưới

- Về phía Đông và Đông Nam, Phong Điền giáp hai huyện Quảng Điền vàHương Trà Phong Điền phía Đông Bắc giáp biển Đông với đường bờ thẳng tắptheo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên chiều dài gần 16 km

- Lãnh thổ Phong Điền trải rộng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc từTrường Sơn ra tận biển với chiều dài gần 46 km Đi theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam lãnh thổ thu hẹp Nơi hẹp nhất chỉ chừng 10 km (cửa sông Ô Lâu đến HảiLăng) Sự phân bố lãnh thổ huyện như trên khiến sự phân hóa thiên nhiên theochiều Tây - Đông đa dạng hơn chiều Nam - Bắc

Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Phong Điền

Trên địa bàn huyện có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt chạy quavới chiều dài khoảng 17 km là điều kiện thuận lợi giao lưu hội nhập, trao đổihàng hoá, thông tin khoa học kỹ thuật, khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổchức, cá nhân trong và ngoài huyện cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 28

- Núi đồi: Chiếm gần 70% diện tích tự nhiên của huyện, tạo thành một bềmặt dốc nghiêng, thoải dần từ Tây sang Đông Núi cao trung bình chỉ chiếm mộtdiện tích nhỏ phía cực Tây (từ 750 đến 1.666 m), còn đại bộ phận là núi thấp trảidần ra phía đông (cao từ 100 đến 750 m trên mực nước biển) Địa hình đồi có độcao từ 10 đến 100 m, phân bố từ rìa núi thấp phía Tây đến Quốc lộ 1A (theochiều Tây - Đông), và từ ranh giới Quảng Trị đến sông Bồ (theo chiều Bắc -Nam).

- Đồng bằng: Phong Điền đại bộ phận phân bố ở vùng phía Đông Quốc lộ1A, phía Tây chỉ chiếm một phần nhỏ Căn cứ vào nguồn gốc hình thành đượcphân làm hai loại: đồng bằng thềm biển (thường gọi là vùng cát nội đồng) doquá trình bồi tụ cát biển, và đồng bằng phù sa do quá trình bồi tụ phù sa từ sôngngòi Đồng bằng thềm biển chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ phía đông, chạy từBắc vào Nam dài khoảng 18 – 19 km, từ Tây sang Đông rộng khoảng 5 - 6 km,chiếm diện tích 10.470 ha, cao trên mực nước biển từ 8 – 10 m Đồng bằng phù

sa phân bố dọc hai bờ sông Ô Lâu ở phía Bắc, Đông Bắc huyện và các nhánhsông Bồ ở phía Nam huyện

- Vùng ven biển: Phong Điền là vùng bờ biển cát chạy theo hướng Tây Bắc

- Đông Nam, từ làng Trung Đồng (giáp ranh Quảng Trị) đến hai xã Điền Hải vàPhong Hải của huyện (giáp ranh Quảng Điền) dài gần 16km, độ cao 28-30 m,rộng từ 3.000 đến 5.000 m ở phía Bắc và thu hẹp dần về phía Nam Do gió biển,vùng này thường xuyên hình thành những cồn cát di động hướng về phía làngmạc đầm phá ở phía Tây

Địa hình trên địa bàn huyện Phong Điền có dạng thấp dần từ Tây sangĐông, gồm 4 dạng địa hình chính là dạng địa hình núi trung bình và núi thấp,dạng địa hình gò đồi, dạng địa hình đồng bằng duyên hải, dạng địa hình đầm phá

và biển ven bờ

a Địa hình núi trung bình và núi thấp

Khu vực núi trung bình và núi thấp được phân bố ở phía Tây, Tây Nam củahuyện, tập trung ở 3 xã Phong Mỹ, Phong Xuân và Phong Sơn, có diện tíchkhoảng 51.000 ha chiếm gần 80% diện tích đồi núi và trên 54% diện tích tựnhiên của huyện Độ cao tuyệt đối từ 300m đến gần 1.600 m, mức độ chia cắtđịa hình khá mạnh, độ dốc trung bình trên 250, việc sản xuất kinh doanh lâmnghiệp tương đối khó khăn

b Địa hình gò đồi

Trang 29

Khu vực gò đồi có diện tích khoảng 13.000 ha chiếm trên 20% diện tíchđồi núi và chiếm khoảng 14% diện tích tự nhiên Được phân bố ở các xã Phong

An, Phong Thu, thị trấn Phong Điền và một phần của các xã Phong Mỹ, PhongSơn và Phong Xuân Địa hình vùng gò đồi tương đối bằng phẳng, thuận lợi chosản xuất lâm nghiệp

c Địa hình đồng bằng

Đồng bằng là vùng tương đối bằng phẳng có độ cao tuyệt đối từ 15 m trởxuống, bao gồm đồng bằng ven sông, đồng bằng ven biển và đầm phá Vùngđồng bằng có diện tích khoảng 23.000 ha, chiếm khoảng 24% diện tích tự nhiêncủa huyện

Vùng đồng bằng ven sông được phân bố dọc theo hai hệ thống sông chính(sông Ô Lâu và Sông Bồ) chạy dọc trên địa bàn các xã Phong Mỹ, Phong Thu,Phong Xuân, Phong Sơn, Phong An và thị trấn Phong Điền

Vùng đồng bằng ven biển và đầm phá được phân bố trên địa bàn các xãPhong Hiền, Phong Chương, Phong Hòa, Phong Bình

d Địa hình đầm phá và biển ven bờ

Trên địa bàn huyện Phong Điền, tiếp nối sau đồng bằng ven biển, lần lượtgặp đầm phá, sau đó là cồn, đụn cát chắn bờ và cuối cùng là biển ven bờ Khuvực này bao gồm các xã Điền Hải, Phong Hải, Điền Hòa, Điền Lộc, Điền Môn

và Điền Hương

4.1.1.3 Khí hậu

Phong Điền mang đặc điểm khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế, có nền tảngchung với khí hậu cả nước Đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Tuy nhiên dotác động chắn gió của địa hình Trường Sơn mà khí hậu Phong Điền - ThừaThiên Huế có những nét độc đáo, không giống, thậm chí còn lệch hẵn với khíhậu cả phía Bắc lẫn phía Nam

Một là, sự sai lệch của mùa mưa ẩm lớn sang các tháng Thu Đông: mùamưa bắt đầu chậm và kết thúc cũng chậm so với Bắc bộ, Nam bộ và TâyNguyên Và trong khi mùa Hạ là mùa mưa ở cả ba vùng trên thì ở Phong Điền làthời kỳ khô nóng kéo dài

Hai là, tính chất chuyển tiếp, trung gian về chế độ nhiệt giữa hai miền BắcNam: từ đây trở ra đến biên giới phía Bắc là khí hậu gió mùa nội chí tuyến, cómùa Đông lạnh, trong khi từ đây trở vào Nam là khí hậu gió mùa á xích đạo

Trang 30

không có mùa Đông lạnh Ở Phong Điền không có mùa Đông lạnh thực sự vàkéo dài như ở Bắc bộ mà chỉ có thời tiết lạnh.

Các yếu tố khí hậu trên địa bàn huyện Phong Điền như sau:

- Gió: Phong Điền - Thừa Thiên Huế trong năm chịu sự khống chế của haimùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè Gió mùa Đông (từ tháng 9 đếntháng 4 năm sau) hướng thịnh hành là Tây Bắc và Đông Bắc, mang lại thời tiếtxấu, lạnh và gây mưa Gió mùa Hè (từ tháng 3, 4 đến tháng 9) còn gọi là gió Làomang lại thời tiết khô và nóng Ngoài ra còn có gió Đông và Đông Nam (tứcNồm, còn gọi là gió ấm) đem lại thời tiết tốt trong các tháng chuyển tiếp 3 - 4, 8

- 9, và ngay cả trong mùa Đông, giữa hai đợt gió chính

- Mưa: Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm,tăng dần từ Đông sang Tây, từ đồng bằng lên vùng núi Lượng mưa trong nămtập trung chủ yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 72-75% lượng mưa năm Tám tháng còn lại chỉ chiếm 25-30% Đây là nguyên nhânchủ yếu gây tình trạng ngập lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùahè

- Nhiệt độ: Phong Điền - Thừa Thiên Huế có nền nhiệt độ cao Nhiệt độtrung bình năm trên đại bộ phận lãnh thổ đạt 20 - 250C, trung bình tháng lạnhnhất (tháng giêng) là 19 - 200C, tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,40C Nhiệt độcao nhất vào mùa hè đạt 40 - 410C, thấp nhất vào mùa đông xuống 8 - 90C

- Bão, dông, lốc, sương mù: Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiềunhất vào tháng 9 (chiếm 35%), tháng 10 (chiếm 28%) và tháng 8 (chiếm 18%)

Có năm không có cơn bão nào, nhưng có năm 3 - 4 cơn liên tiếp Nhìn chung sốlượng bão không nhiều nhưng thiệt hại gây ra rất nghiêm trọng vì gió mạnh kèmtheo mưa to và rất to, gây lũ lụt lớn và sạt lở bờ biển Ngoài bão còn có dông làhiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9, nhiềunhất là tháng 5 Dông thường kèm theo mưa rào, đôi khi có gió mạnh Vào mùa

Hè cũng thường có lốc nhất là khi có gió Tây khô nóng Nhiều cơn lốc có sứcgió mạnh cấp 10 cuốn phăng cây cối, nhà cửa, gây nhiều thiệt hại không kém gìbão

4.1.1.4 Thủy văn

Do địa hình dốc nghiêng ra biển nên sông ngòi có đặc điểm là ngắn, dốc,lắm thác ghềnh, cửa sông hẹp Vào mùa mưa lưu lượng nước lên cao, lưu lượngnước trung bình khoảng 3.000 m/s, mùa khô lòng sông nước khô cạn, lưu lượng

Trang 31

sông Ô Lâu (khoảng 40% diện tích lãnh thổ) và sông Bồ, thuộc hệ thống sôngHương (khoảng 35% diện tích lãnh thổ) và đầu nguồn sông Mỹ Chánh (khoảng25% diện tích lãnh thổ):

+ Phía Bắc và Tây Bắc có hệ thống sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh Đây là

2 con sông ngắn có lưu vực thượng lưu nằm toàn bộ trong xã Phong Mỹ và cóvai trò hết sức quan trọng trong việc đi lại cũng như cung cấp nước cho khu vựcvùng hạ lưu

+ Phần ranh giới phía Nam có sông Bồ với các nhánh suối của thượngnguồn là Khe Quao, Rào Trăng

Ngoài ra trong vùng còn có các hệ thống khe rạch, sông cụt chỉ hoạt độngvào mùa mưa, cạn kiệt vào mùa khô

Sông Ô Lâu bắt nguồn từ vùng núi phía Tây giữa Quảng Trị và Thừa ThiênHuế ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 905m, có chiều dài dòng chính 66 km, với diệntích lưu vực sông khoảng 49.500 ha Sông chảy qua địa bàn các xã: Phong Mỹ,Phong Thu, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Chương, Điền Hương, Điền Môn,Điền Lộc, Điền Hòa và thị trấn Phong Điền

Sông Bồ, một phụ lưu chính của hệ thống sông Hương, bắt nguồn từ vùngnúi có độ cao tuyệt đối khoảng 650 m ở phía đông A Lưới, chảy qua lãnh thổhuyện Phong Điền theo hướng Bắc Nam và là ranh giới tự nhiên giữa huyệnPhong Điền và huyện Hương Trà, từ ngã ba hội lưu với Rào Trăng đến Phú Ốcsông chuyển hướng Tây Nam - Đông Bắc, sau đó lại chuyển hướng Đông chođến chỗ hội lưu với dòng chính sông Hương ở ngã ba Sình Chiều dài dòngchính sông Bồ tính đến An Lỗ là 69 km, diện tích lưu vực đến Cổ Bi là 720 km2.Sông chảy qua địa bàn các xã: Phong Xuân, Phong Sơn, Phong An, Phong Hiền.Đầu nguồn sông Mỹ Chánh nằm ở vùng núi phía Tây giữa Quảng Trị vàThừa Thiên Huế ở độ cao tuyệt đối xấp xỉ 1.300 m, có chiều dài khoảng 40 km,với diện tích lưu vực đầu nguồn khoảng 13.000 ha, chảy qua lãmh thổ huyệnPhong Điền theo hướng Nam Bắc sau đó chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc vàchảy qua địa phận tỉnh Quảng Trị rồi hợp với sông Ô Lâu tại Phước Tích

Bảng 4.1 Đặc điểm thuỷ văn các sông lớn ở huyện Phong Điền

Số

TT

Tên sông Chiều

dài(km)

Chiềurộng(m)

D.tíchlưuvực

Lưu lượng

Mùalũ

Mùakiệt

Mùa lũ(m3/s/km

Mùa kiệt (m3/s/km)

Trang 32

Được chia các loại đất chính như sau:

- Đất cát (C): Diện tích 16.091,0 ha chiếm 17,80% diện tích điều tra, đượchình thành ven biển và các cửa sông gồm 2 loại: đất cát ven biển (C) và cồn cáttrắng vàng (Cc) Do hoạt động của biển và sông đã tạo thành những dòng chảymạnh, các hạt cát lắng đọng tạo thành những dải có mức độ dài ngắn khác nhau,

sự tác động của gió đã làm những cồn cát di động Đặc điểm nhóm đất này là sựphân hoá phẫu diện không rõ, thành phần cơ giới rời rạc, hạt khô, khả năng giữnước và độ phì kém

- Trong nhóm này, diện tích đất cát phân bố dọc bờ sông Ô Lâu, ven pháTam Giang và vùng cát nội đồng là có giá trị trong sản xuất nông nghiệp nhưngđất có thành phần cơ giới nhẹ, không có kết cấu, dung tích hấp thụ thấp, các chấtdinh dưỡng (mùn, đạm, lân…) đều nghèo, Kali tổng số cao nhưng Kali trao đổithấp Loại đất này thích hợp cho trồng các loại hoa màu, cây công nghiệp ngắnngày như: mía, lạc, đậu đỏ, cây ăn quả, cam, chanh…

- Đất phù sa: Gồm 3 loại là đất phù sa được bồi hàng năm (Pb), đất phù sa

ít được bồi (Pi) và đất phù sa không được bồi (Pk) có tổng diện tích 4.019,2 ha,chiếm 4,45% diện tích điều tra, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ, thịt trungbình Đây là loại đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là lúa,màu phân bố chủ yếu ở Phong Chương, Phong Bình, Phong Hoà, Phong Hiền

- Đất đỏ vàng trên đá sét biến chất (Fs): Diện tích 17.114,4 ha, chiếm18,93% diện tích điều tra được phát triển trên sản phẩm phong hoá của đámacma bazơ và trung tính, đá vôi… phân bố ở địa hình tương đối cao đến bằngthoải lượn sóng Đất có thành phần cơ giới nặng đến trung bình, hàm lượng dinhdưỡng cao, tầng đất trung bình đến dày, thoát nước tốt Nhóm đất này rất thích

Trang 33

hợp cho việc trồng cây ăn quả, nông lâm kết hợp (cao su, hồ tiêu, mía, thông,keo, màu…).

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Diện tích 42.855,9 chiếm 47,41 % diệntích điều tra được phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau: granit, macma axit,trầm tích và biến chất… đất có màu vàng nhạt do giàu Silic, thành phần cơ giớinhẹ Độ dày tầng đất mặt trung bình, độ phì tự nhiên nghèo, khả năng thấm nướckhá nhưng giữ nước kém

- Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): Diện tích 2.087,5 ha chiếm 2,31% diện tíchđiều tra phân bố trên đất dốc, tầng mặt bị xói mòn rửa trôi Đất này chỉ có khảnăng sử dụng cho việc khai thác vật liệu xây dựng hoặc khoanh nuôi bảo vệrừng Diện tích này cần được phủ xanh sớm bằng các chương trình phát triểnlâm nghiệp

4.1.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng

4.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất

Căn cứ kết quả điều tra, rà soát hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn các

xã, thị trấn, có xem xét, đối chiếu tài liệu thống kê của Phòng Tài nguyên và môitrường, số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng của Hạt Kiểm lâm Phong Điền.Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện tính đến 01/01/2014 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.2.Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

Đơn vị: ha

Trang 34

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế

Ngày đăng: 28/05/2014, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Danh, 2004, Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài bạch đàn Eucalytus camaldulensis, Eucalytus và các loài Keo: Acacia crassicarpa, Acacia aulacocarpa trồng thử nghiệm 3 năm tại trạm thực nghiệm Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng của cácloài bạch đàn Eucalytus camaldulensis, Eucalytus và các loài Keo: Acaciacrassicarpa, Acacia aulacocarpa trồng thử nghiệm 3 năm tại trạm thực nghiệmMang Yang, tỉnh Gia Lai
[2]. Nguyễn Quang Dương, Đặng Thịnh Triều, 2007, Ảnh hưởng của xử lý thực bì, làm đất và bón phân tới sinh trưởng của một số loài Keo trồng tại Việt Nam , Tạp chí NN&amp;PTNT số 18 năm 2007,Trang 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của xử lý thựcbì, làm đất và bón phân tới sinh trưởng của một số loài Keo trồng tại Việt Nam
[4]. Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006, Cải thiện giống và quản lý giống cây rừng ở Việt Nam, Cẩm nang ngành Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiệngiống và quản lý giống cây rừng ở Việt Nam
[5]. Nguyễn Thị Liệu, Phạm Xuân Đỉnh, Lê Đình Hải Nguyên, 2001, Điều tra tập đoàn cây trồng và xây dựng mô hình trồng rừng Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ, Báo cáo sơ kết đề tài năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tratập đoàn cây trồng và xây dựng mô hình trồng rừng Keo lá liềm (Acaciacrassicarpa) trên vùng cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ
[6]. Nguyễn Văn Lương, 2013: Đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm của đất và kỹ thuật gây trồng Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng cát ven biển huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Khóa luận tốt nghiệp- Trường Đại học Nông lâm - Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm của đấtvà kỹ thuật gây trồng Keo lá liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng cát venbiển huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
[7]. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu, Nguyễn Văn Chiến, Nghiên cứu chọn các dòng keo và bạch đàn chống chịu bệnh có năng suất cao, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ Lâm nghiệp với phát triển rừng bền vững và biến đổi khí hậu, trang 55-67, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứuchọn các dòng keo và bạch đàn chống chịu bệnh có năng suất cao
[8]. Dương Viết Tình, 2001: Đề tài phân tích hiện trạng và đề xuất các giải pháp cải tiến hệ thống Nông Lâm Ngư kết hợp ở vùng đất cát ven biển, Thừa Thiên Huế - Đề tài NCKH cấp Bộ, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài phân tích hiện trạng và đề xuất các giảipháp cải tiến hệ thống Nông Lâm Ngư kết hợp ở vùng đất cát ven biển, ThừaThiên Huế
[9]. Đặng Văn Thuyết,Triệu Thái Hưng, 2009, Tác dụng phòng hộ của rừng trồng trên đụn cát bay ven biển, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng phòng hộ của rừngtrồng trên đụn cát bay ven biển
[10]. A.I.Kindo, M.A.Mndolwa, E.Edward &amp; S.A.O Chamshama, Performanceof four-year-old Australian and Papua NewGuinean Acacia species/provenances at Kongowe, Kibaha, Tanzania, Southern Forests, a Journal of Forest Science, Volume 72, Issue 1, 2010, pages 13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Performance"of four-year-old Australian and Papua New"Guinean Acacia species/provenances at Kongowe, Kibaha, Tanzania
[11]. Antti Otsamo, Goran Adjers, Tjuk Samito Hadi, Jussi Kuusipalo, Risto Vuokko, Evaluation of reforestation potential of 83 tree species planted on Imperata cylindrica dominated grassland – A case study from South Kalimantan, Indonesia, New Forests, September 1997, Volume 14, Issue 2, pp 127-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of reforestation potential of 83 tree species planted onImperata cylindrica dominated grassland – A case study from SouthKalimantan, Indonesia
[13]. Pan Zhigang (The Research Institute of Forestry, CAF Beijing 100091), You Yingtian (The Seed&amp;Seedling Administrative Station, Ministry of Forestry), Introduction and Provenance Test of Acacia crassicarpa; Forest research, 1994-05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction and Provenance Test of Acacia crassicarpa
[14]. Pinyopusarerk. K., Growth and survival of Australian tree species in field trials in Thailand, ACIAR Monograph 1989 No, 10 pp, 109-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth and survival of Australian tree species in fieldtrials in Thailand
[15]. QIN Wu-ming et al (College of Forestry, Guangxi University, Nanning, Guangxi 530004), Study on Carbon Storage and Distribution of Acacia crassicarpa Young Plantation Ecosystem, Journal of Anhui Agricultural Sciences, 2008-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on Carbon Storage and Distribution of Acaciacrassicarpa Young Plantation Ecosystem
[16]. Thepphavong, Bounhom, 1997, Three Year Growth Performance of Acacia Crassicarpa Provenances at Serdang, Malaysia, Masters thesis,Universiti Pertanian Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Three Year Growth Performance ofAcacia Crassicarpa Provenances at Serdang, Malaysia
[17]. W. Tumbull, H. R. Crompton and K, Pinyopusarerk, Recent Developments in Acacia Planting,Proceedings of an international workshop held in Hanoi,Vietnam, 27-30, October 1997.Các Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: RecentDevelopments in Acacia Planting
[12]. L. Thomson, S. Midgle, K. Pinyopusarerk &amp; A. Kalinganire, 2010, CSIRO lâm nghiệp và lâm sản, Kingston, Úc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Sinh trưởng của các xuất xứ Keo lá liềm tại Bầu Bàng (9/1991 - -12/1999) - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 2.2. Sinh trưởng của các xuất xứ Keo lá liềm tại Bầu Bàng (9/1991 - -12/1999) (Trang 8)
Bảng 2.3. Kết quả thí nghiệm líp tại Triệu Trạch-Triệu Long-Quảng Trị - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 2.3. Kết quả thí nghiệm líp tại Triệu Trạch-Triệu Long-Quảng Trị (Trang 12)
Bảng 2.5. Giá trị pH của đất ở các địa điểm và độ sâu khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 2.5. Giá trị pH của đất ở các địa điểm và độ sâu khác nhau (Trang 15)
Bảng 2.6. Kết quả phân tích hàm lượng mùn (%) trong đất - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 2.6. Kết quả phân tích hàm lượng mùn (%) trong đất (Trang 16)
Bảng 2.7. Độ ẩm tuyệt đối của đất ven biển và nội đồng - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 2.7. Độ ẩm tuyệt đối của đất ven biển và nội đồng (Trang 17)
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của phương thức làm đất đến tỷ lệ sống của một số dòng Keo lá liềm - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của phương thức làm đất đến tỷ lệ sống của một số dòng Keo lá liềm (Trang 20)
Bảng 3.3. Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 4 công thức làm đất ở vùng cát nội đồng - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.3. Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 4 công thức làm đất ở vùng cát nội đồng (Trang 21)
Bảng 3.2. Bảng mẫu đo đếm tỷ lệ sống của 10 dòng Keo sau 16 tháng tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.2. Bảng mẫu đo đếm tỷ lệ sống của 10 dòng Keo sau 16 tháng tuổi (Trang 21)
Bảng 3.4. Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 3 công thức làm đất ở vùng cát ven biển - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.4. Bảng mẫu tỷ lệ sống của 10 dòng Keo lá liềm với 3 công thức làm đất ở vùng cát ven biển (Trang 22)
Bảng 3.6. Bảng mẫu đo sinh khối của cây theo tuổi cây con - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.6. Bảng mẫu đo sinh khối của cây theo tuổi cây con (Trang 23)
Bảng 3.7. Sắp xếp các kết quả nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.7. Sắp xếp các kết quả nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.8. Lập bảng tính - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 3.8. Lập bảng tính (Trang 25)
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Phong Điền - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Hình 4.1. Bản đồ hành chính huyện Phong Điền (Trang 29)
Bảng 4.1. Đặc điểm thuỷ văn các sông lớn ở huyện Phong Điền - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 4.1. Đặc điểm thuỷ văn các sông lớn ở huyện Phong Điền (Trang 33)
Bảng 4.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế - Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất và tuổi cây con đến tỷ lệ sống và sinh khối của các dòng keo lá liềm (acacia crassicarpa) ưu tú trên vùng cát ven biển huyện phong điền, tỉn
Bảng 4.2. Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w