Dân số hiện nay của thế giới đã là hơn 6 tỷ người. Con số này sẽ đạt tới 8 tỷ vào năm 2030. Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần do đất được chuyển sang các mục đích sử dụng khác. Áp lực của tăng dân số cùng với áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt lên sản xuất lương thực của thế giới ngày càng tăng. Cách duy nhất để con người giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng.Lúa là một loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995. Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện. Trong tất cả các yếu tó đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng.[1]. Lúa (Oryza Satival L.) là cây trồng gắn bó lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới, đặt biệt là các dân tộc ở Châu Á. Lúa gạo là loại lương thực chính của người dân Châu Á, cũng như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới, ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo. Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính. Trên thế giới có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau [3], bình quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước Châu Á, khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước Châu Mỹ. Ngoài ra, gạo và phó sản còn dùng để chế biến thức ăn như: Bánh chưng, bánh dày, rượu, xôi, bún, dầu, hoặc các thức uống... [3]. Gạo là loại thực phẩm carbohydrate hỗn tạp, chứa tinh bột (80%), một thành phần chủ lực cung cấp nhiều năng lượng, protein (7,5%), nước (12%), vitamin và các chất khoáng (0,5%) cần thiết cho cơ thể [2]. Việt Nam là một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số ở nông thôn, vì vậy nông nghiệp nông thôn là vấn đề thời sự luôn được các cấp các ngành quan tâm. Trong những năm gần đây, với sự tham gia của các nhà khoa học, nhà nghiện cứu nông nghiệp đã mang lại cho nền nông nghiệp nước ta có những chuyển biến rõ rệt, đây là nền tảng góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước với một nước đi lên từ nền nông nghiệp nghèo nàn, luôn trong tình trạng thiếu lương thực, chúng ta trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo. Thành quả này không chỉ nhờ vào chính sách của Đảng, nhà nước mà còn nhờ vào khả năng ứng dụng, tìm kiếm kỹ thuật, mô hình sản xuất mới của người nông dân trong khắp ca nước, trong đó việc tạo ra các giống lúa mới có hiệu quả kinh tế và chất lượng cao, được người dân chấp nhận và đưa vào quá trình sản suất là một thành quả không thể thiếu nhằm nâng cao vị thế của đất nước lên tầm quốc tế.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn bác Nguyễn Sĩ Sà chủ nhiệm HTX Hương Long thành phốHuế đã luôn quan tâm chỉ bảo và giúp đỡ chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Nông Học trường Đại học NôngLâm Huế đã dạy bảo tôi trong suốt 4 năm học qua.
Mặc dù đã rất cố gắng song không tránh khỏi nhũng thiếu sót, kính mong nhậnđược sự chỉ bảo, đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 25 tháng 05 năm 2014 Sinh viên
Trần Thị Hằng
Trang 3(Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
(Viện nghiên cứu lúa Quốc tế)
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của lúa gạo so với 3 loại hạt ngũ cốc.
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới từ 2004 – 2010
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lúa gạo một số nước trên thế giới (1.000 ha) Bảng 2.4.Tình hình sản xuất lúa của việt nam từ năm 2005-2010
Bảng 2.5.Tình hình xuất khẩu gạo qua các năm
Bảng 2.6 diện tích một số cây trồng chính tại Thừa Thiên Huế năm 2011
Bảng 2.7 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa tỉnh Thừa Thiên Huế qua các
Bảng 4.3 Khả năng đẻ nhánh của các công thức
Bảng 4.4 Một số đặc trưng hình thái cây của các công thức
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu khác của các giống thí nghiệm
Bảng 4.6 Một số loại sâu, bênh hại chín
Bảng 4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống.
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu về phẩm chất của các giống lúa thí nghiệm
Biểu đồ 2.1: Sản xuất lúa của thế giới từ năm 2000-2009
Biểu đồ 4.1 Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng
Trang 5Biểu đồ 4.3 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết
Dân số hiện nay của thế giới đã là hơn 6 tỷ người Con số này sẽ đạt tới 8 tỷ vào năm 2030 Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần do đất được chuyển sang các mục đích sử dụng khác Áp lực của tăng dân số cùng với
áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt lên sản xuất lương thực của thế giới ngày càng tăng Cách duy nhất để con người giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học
kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng.Lúa là một loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượngnăm 1995 Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện Trong tất cả các yếu tó đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng.[1]
Lúa (Oryza Satival L.) là cây trồng gắn bó lâu đời nhất của nhân dân ta và
nhiều dân tộc khác trên thế giới, đặt biệt là các dân tộc ở Châu Á Lúa gạo là loại lương thực chính của người dân Châu Á, cũng như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới, ở đâu cũng có dùng đến lúa gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính Trên thếgiới có hơn 110 quốc gia có sản xuất và tiêu thụ gạo với các mức độ khác nhau [3],bình quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước Châu Á, khoảng 10 kg/
người/ năm tại các nước Châu Mỹ Ngoài ra, gạo và phó sản còn dùng để chế biến thức ăn như: Bánh chưng, bánh dày, rượu, xôi, bún, dầu, hoặc các thức uống [3] Gạo là loại thực phẩm carbohydrate hỗn tạp, chứa tinh bột (80%), một thành phần chủ lực cung cấp nhiều năng lượng, protein (7,5%), nước (12%), vitamin và các chất khoáng (0,5%) cần thiết cho cơ thể [2]
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số ở nông thôn, vì vậy nông nghiệp nông thôn là vấn đề thời sự luôn được các cấp các ngành quan tâm Trong những năm gần đây, với sự tham gia của các nhà khoa học, nhà nghiện cứu nông nghiệp đã mang lại cho nền nông nghiệp nước ta có những chuyển biến rõ rệt, đây
Trang 6là nền tảng góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước với một nước
đi lên từ nền nông nghiệp nghèo nàn, luôn trong tình trạng thiếu lương thực, chúng
ta trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo Thành quả này không chỉ nhờ vào chính sách của Đảng, nhà nước mà còn nhờ vào khả năng ứng dụng, tìm kiếm kỹ thuật, mô hình sản xuất mới của người nông dân trong khắp ca nước, trong đó việc tạo ra các giống lúa mới có hiệu quả kinh tế và chất lượng cao, được người dân chấp nhận và đưa vào quá trình sản suất là một thành quả không thể thiếu nhằm nâng cao vị thế của đất nước lên tầm quốc tế
Trong những năm qua việc nghiên cứu và tạo ra các giống lúa mới luôn là vấn
đề được quan tâm hàng đầu, tại các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học, các trường nông nghiệp luôn phấn đấu tạo ra và chọn lọc những giống mới nhất năng suất chất lượng vượt bậc, tại trường Đại học Nông Lâm Huế, các thầy cô giáo cũng
đã chọn tạo ra các giống lúa mới từ ác giống địa phương như khang dân, HT1… đểtạo ra giống mới có năng suất hơn, chất lượng hơn, vì vậy, để đánh giá một cách khách quan, và tìm ra các đặc tính sinh lý của một số giống mới, trong đợt thực tập
này tôithực hiện đề tài: “Đánh giá một số đặc điểm sinh học, khả năng cho năng
suất đột biến ở thế hệ M5 vụ Đông Xuân năm 2013- 2014 tại hợp tác xã Hương Long- thành phố Huế.”
- Đánh giá năng suất cá thể và các yếu tố cấu thành năng suất
- Tìm ra được các đặc tính mới so với các thế hệ trước
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá các đặc tính sinh lý, đạc điểm sinh học của giống lúa mới.
- Theo dõi thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống lúa.
- Theo dõi đầy đủ, cẩn thận các chỉ tiêu nghiên cứu như: Thời gian sinh
trưởng, chiều cao cây, khả năng đẻ nhánh, năng suất, sâu bệnh hại…
Trang 7- Thực hiện phương pháp thí nghiệm chính xác, thu thập số liệu đầy đủ, chính
xác và trung thực, nhận xét khách quan về đề tài nghiên cứu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu cung cấp một số số liệu khoa học về tình hình sinh trưởngphát triển của các giống lúa và góp phần tạo ra các giống lúa mới có nang suất và chất lượng vượt bậc
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần làm cơ sở giúp cho người dân lựa chọn những giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh phù hợp với vùng sinh thái của địa phương để đưa vào sản xuất
Trang 8PHẦN II TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 2.1 Giá trị của cây lúa
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây lúa1
Gạo là thức ăn giàu dinh dưỡng So với lúa mì, gạo có thành phần tinh bột
và protein hơi thấp hơn, nhưng năng lượng tạo ra cao hơn do chứa nhiều chất béo hơn (Bảng 2.1) Ngoài ra, nếu tính trên đơn vị 1 hecta, gạo cung cấp nhiều calo hơn lúa mì do năng suất lúa cao hơn nhiều so với lúa mì
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của lúa gạo so với 3 loại hạt ngũ cốc.
Trang 102.1.2 Giá trị sử dụng 4.
Ngoài cơm ra, gạo còn dùng để chế biến nhiều loại bánh, làm môi trường để nuôi cấy niêm khuẩn, men, cơm mẻ,… Gạo còn dùng để cất rượu, cồn,…Người ta không thể nào kể hết công dụng của nó
Cám hay đúng hơn là các lớp vỏ ngoài của hạt gạo do chứa nhiều protein, chất béo,chất khoáng, vitamin, nhất là vitamin nhóm B, nên được dùng làm bột dinh dưỡngtrẻ em và điều trị người bị bệnh phù thũng Cám là thành phần cơ bản trong thức
ăn gia súc, gia cầm và trích lấy dầu ăn…
Trấu ngoài công dụng làm chất đốt, chất độn chuồng còn dùng làm ván ép, vật liệucách nhiệt, cách âm, chế tạo carbon và silic…
2.1.3 Giá trị thương mại [4]
Năm 2013, tình trạng sản xuất và thương mại lúa gạo thế giới tương đối ổnđịnh Sản xuất tiếp tục gia tăng, nhưng giá lúa gạo giảm nhẹ từ đầu năm làm nôngdân trồng lúa tại các nước xuất khẩu gạo lớn như Việt Nam gặp khó
Việt Nam sản xuất lúa tăng 1% so với 2012 và đạt đến khoảng 44 triệu tấn lúa,nhưng xuất khẩu giảm hơn 15% Mặc dù thế giới có nhu cầu xuất khẩu gạo cao vàchính sách hỗ trợ giá lúa gạo của Thái Lan, giá lúa gạo ở Việt Nam vẫn sụt giảm
và sức thu mua kém năng động Tỷ số hợp đồng trong năm 2013 đã giảm sút rõ rệt
ở các thị trường nhập khẩu gạo truyền thống chính như Indonesia, Philippines vàMalaysia.Trong 9 tháng đầu năm 2013, chỉ có hơn 13% của trọn năm so với 44%của 2011 cùng thời kỳ Đến giữa tháng 12/2013, Philippines chỉ nhập 362.000 tấn,chiếm 6,6% tổng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam, giảm đến 67% so với cùngkỳ; Malaysia chỉ mua 453.000 tấn, giảm đến 39% so với cùng kỳ Tuy nhiên, BờBiển Ngà nhập 564.000 tấn, tăng 18,4%, Ghana nhập 353.000 tấn, tăng 28,4% Năm qua, Trung Quốc bất ngờ tăng nhập khẩu gạo cả chính ngạch và tiểu ngạchgiúp Việt Nam giải tỏa được số lượng lúa vừa thu hoạch trong các vụ vừa qua.Trong 9 tháng đầu của 2013, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất nhập 3 triệutấn gạo (hơn năm 2012 nửa triệu tấn), trong đó 1,76 triệu tấn theo chính ngạch và1,2 triệu tấn theo tiểu ngạch, thị trường Trung Quốc chiếm tới gần 50% tổng sảnlượng xuất khẩu gạo của Việt Nam Tuy nhiên, việc xuất khẩu tiểu ngạch sang thị
Trang 11trường Trung Quốc cũng phát hiện nhiều rắc rối như việc gian lận thuế xuất khẩu,
xù hợp đồng, khó kiểm soát chất lượng, mua bán thiếu sự ràng buộc chặt chẽ Chonên, VN nên cẩn trọng hơn, cần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để không phụthuộc Trung Quốc quá nhiều về loại thực phẩm này
Dự đoán 2014, thị trường thế giới có vẻ ít năng động, giữ số lượng trao đổikhoảng 37,7 tấn gạo do nhu cầu thế giới có thể ổn định vì tăng gia sản xuất tạinhiều nước sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, dù có ảnh hưởng của bão Hải Yến Chonên, giá gạo trên thị trường quốc tế khó có khả năng gây cú “sốc” trong nhữngtháng sắp tới Áp lực lớn nhất trên thế giới là gạo tồn kho Thái Lan còn quá lớn.Nếu nước này còn hạ thấp giá gạo như đã làm với gạo 5% tấm hiện nay sẽ tiếp tụcảnh hưởng không ít đến người trồng lúa ở VN và các nước xuất khẩu khác, do sứccạnh tranh đè nặng và giá lúa gạo còn xuống thấp hơn nữa! Giá lúa gạo ở ViệtNam chưa thể giúp nông dân Việt Nam cải thiện mức thu nhập hiện nay
Theo Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), nhập khẩu gạoTrung Quốc còn cao trong 2013 - 2014, nhưng có thể giảm nếu giá gạo toàn cầutăng; hơn nữa, nước này sẽ nhập 1,2 triệu tấn gạo từ Thái Lan trong năm 2014 làmảnh hưởng không ít số lượng xuất khẩu của VN vào nước láng giềng này Dự kiếnnăm 2014, Ấn Độ sẽ xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, giảm 1,2 triệu tấn so với năm 2013;trong khi Thái Lan sẽ tiếp tục phục hồi xuất khẩu gạo với giá thấp[18]
Đối với Pakistan, Mỹ và Việt Nam, xuất khẩu cũng có khả năng giảm Ngoài ra,khi Cục dự trữ Liên bang Mỹ, nước có nền kinh tế số một thế giới giảm bớt muatrái phiếu của mình và tăng lãi suất sẽ tăng áp lực giá đô la lên cao và giá dầu thôthấp hơn, làm giá ngũ cốc bản xứ và thế giới, gồm lúa gạo giảm theo, dưới áp lựcgạo tồn kho lớn của Thái Lan và gạo giá thấp ở Ấn Độ
2.2 Nguồn gốc, phân loại của cây lúa
Trang 12nguồn gốc của lúa ở Ấn Độ, do có nhiều lúa hoang hiện diện ở đây Theo các tàiliệu đã ghi chép được thì cây lúa đã được trồng ở Trung Quốc khoảng 2800-2700năm trước công nguyên.Các tài liệu khảo cổ học ở Ấn Độ cho thấy các hạt thóchóa thạch ở Hasthinapur (bang Utarpradesh) có tuổi 1000-750 năm trước côngnguyên.4.
Theo các tài liệu khảo cổ học ở Thái Lan cây lúa được trồng ở vùng này vàocuối thời kì đồ đá mới đến đầu thời kì đồ đồng (4000 năm trước công nguyên).Nhiều tác giả còn nêu bằng chứng là cây lúa có nguồn gốc từ Đông Nam Á màMyanmar là một trung tâm Ở nước ta theo các tài liệu tin cậy được công bố thì câylúa được trồng phổ biến và nghề trồng lúa đã được phồn vịnh ở thời kì đồ đồng(4000-3000 năm trước công nguyên)[25]
Nước ta cũng có thể là một trong những trung tâm khởi nguyên cây lúa nước,đồng bằng Bắc Bộ là một trong những vùng sinh thái của cả nước có các nguồngen đa dạng và phong phú nhất Khu vực miền núi phía bắc có thể là một trongnhững trung tâm xuất hiện các tổ tiên của các loài lúa trồng hàng niên, các loại lúatrồng này phát triển nhanh, trước đây một số tác giả người Pháp tìm thấy loài
Oryza latifonta, Oryza officinalis, Oryza glamulata ở đây Ở đồng bằng sông Cửu Long còn tồn tại nhiều loại hình lúa dại gọi là lúa ma, lúa trời thuộc loài Oryza minuta.Lúa ma vùng này là loài Oryza fatuasapotanea bông ngắn, lá đòng hẹp,
ngắn, các gié phân hóa rời rạc, mỗi gié có ít hạt, râu dài, vỏ mỏng, chín đến đâurụng đến đó.Điều đó khẳng định Việt Nam là một trong những cái nôi của lúatrồng hiện nay [25]
2.2.2 Phân loại
Lúa trồng hiện nay thuộc họ hòa thảo (Gramineae), loại Oryza.Trong loại
Oryza có nhiều loài.Erygin (1960) chia làm 23 loài, Grist cho là có 25 loài.Tại hộinghị di truyền học tế bào về lúa (1963) họp tại viện lúa quốc tế IRRI xác định có
19 loài Trong đó loài Oryza sativa.L và Oryza Glaberima là 2 loài được trồng phổ biến nhất hiện nay Chủ yếu là Oryza Glaberima được trồng một số nước ở vùng
Tây Phi [2]
Có nhiều cách phân loại lúa [2]:
- Theo đặc tính thực vật học:Lúa là cây hằng niên có tổng số nhiễm sắc thể 2n = 24 Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuôc họ Gramineae (hòa thảo), tộc Oryzeae, chi Oryza.Oryza có khoảng 20 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm
của Châu Phi, Nam và Đông Nam Châu Á, Nam Trung Quốc, Nam và Trung Mỹ
Trang 13và một phần ở Úc Châu (Chang, 1976 theo De Datta, 1981) Trong đó, chỉ có 2loài là lúa trồng, còn lại là lúa hoang hằng niên và đa niên Loài lúa trồng quan
trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L Loài nầy hầu như có mặt ở khắp nơi từ đầm lầy đến sườn núi, từ vùng
xích đạo, nhiệt đới đến ôn đới, từ khắp vùng phù xa nước ngọt đến vùng đất cát sỏi
ven biển nhiễm mặn phèn … Một loài lúa trồng nữa là Oryza glaberrima Steud.,
chỉ được trồng giới hạn ở một số quốc gia Tây Phi Châu và hiện đang bị thay thế
dần bởi Oryza sativa L (De Datta, 1981).
- Theo sinh thái địa lý:
Từ 200 năm trước công nguyên, các giống lúa ở Trung Quốc được phânthành 3 nhóm: “Hsien”, “Keng” và nếp Năm 1928 – 1930, các nhà nghiên cứu
Nhật Bản đã đưa lúa trồng thành 2 loại phụ: “indica” và “japonica” trên cơ sở
phân bố địa lý, hình thái cây và hạt, độ bất dục khi lai tạo và phản ứng huyết thanh(Serological reaction)
Nhóm Indica(= “ Hsien” = lúa tiên) bao gồm các giống lúa từ Sri Lanka,
Nam và Trung Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indinesia, Philippines, Đài Loan và
nhiều nước khác ở vùng nhiệt đới Trong khi nhóm Japonica(= “Keng” = lúa cánh)
bao gồm các giống lúa từ miền Bắc và Đông Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên,nói chung là tập trung ở các vùng ánhiệt đới và ôn đới Các nhà nghiên cứu Nhật
Bản sau đó đã thêm một nhóm thứ 3 “javanica”để đặt tên cho giống lúa cổ truyền
của Indonesia là “bulu” và “gundil” Từ “Janvanica” có gốc từ chữ Java là tên củamột đảo của Indonesia Từ “Japonica” có lẽ xuất xứ từ chữ Japan là tên nước NhậtBản Còn “Indica” có lẽ có nguồn gốc từ India (Ấn Độ) Như vậy, tên gọi của 3nhóm thể hiện nguồn gốc xuất phát của các giống lúa từ 3 vùng địa lý khác nhau
- Theo đặc tính sinh lý (Tính quang cảm): Lúa, nói chung, là loại cây ngày
ngắn, tức là loại thực vật chỉ cảm ứng ra hoa trong điều kiện quang kỳ ngắn Phảnứng đối với quang kỳ (độ dài chiếu sáng trong ngày) thay đổi tuỳ theo giống lúa.Dựa vào mức độ cảm ứng đối với quang kỳ của từng giống lúa, người ta phân biệt
2 nhóm lúa chính: nhóm quang cảm và nhóm không quang cảm
- Theo điều kiện môi trường canh tác:
Dựa vào điều kiện môi trường canh tác, đặc biệt là nước có thường xuyên
ngập ruộng hay không, người ta phân biệt nhóm lúa rẫy (upland rice) hoặc lúa
Trang 14nước (lowland rice) Trong lúa nước người ta còn phân biệt lúa có tưới (irrigated lowland rice), lúa nước trời (rainfed lowland rice), lúa nước sâu (deepwater rice), hoặc lúa nổi (floating rice).
Tùy theo đặc tính thích nghi với môi trường, người ta có lúa chịu phèn, lúachịu úng, lúa chịu hạn, lúa chịu mặn…
Tuỳ theo chế độ nhiệt khác nhau, người ta cũng phân biệt lúa chịu lạnh (các
giống japonica), lúa chịu nhiệt (các giống indica).
- Theo đặc tính sinh hóa hạt gạo:Tùy theo lượng amylose trong tinh bột hạt
gạo, người ta phân biệt lúa nếp và lúa tẻ
- Theo đặc tính của hình thái
+ Cây: cao (>120 cm) – trung bình (100 – 120 cm) – thấp (dưới 100 cm)
Lá: thẳng hoặc cong rủ, bản lá to hoặc nhỏ, dầy hoặc mỏng
+ Bông: loại hình nhiều bông (nở bụi mạnh) hoặc to bông (nhiều hạt), dạngbông túm hoặc xòe, cổ bông hở hoặc cổ kính (tùy theo độ trổ của cổ bông so với cổ
lá cờ), khoe bông hoặc giấu bông (tùy theo chiều dài và gốc độ lá cờ hay lá đòng
và tùy độ trổ của bông ra khỏi bẹ lá cờ), dầy nách hay thưa nách (tùy độ đóng hạttrên các nhánh gié của bông lúa)
+ Hạt lúa: dài, trung bình hoặc tròn (dựa vào chiều dài và tỉ lệ dài/ngang củahạt lúa)
+ Hạt gạo: gạo trắng hay đỏ hoặc nâu, tím (màu của lớp vỏ ngoài hạt gạo);
có bạc bụng hay không; dạng hạt dài hay tròn Các đặc tính này rất quan trọng ảnhhưởng tới giá trị thương phẩm của gạo trên thị trường trong và ngoài nước
Như vậy, sau quá trình diễn biến lâu dài và phức tạp lúa hoang đã đượcthuần hóa thành lúa trồng và lúa trồng đã hình thành nhiều loại hình sinh thái khácnhau từ loại hình đa niên sang hằng niên; từ vùng nhiệt đới nóng ẩm đến nhữngvùng á nhiệt đới và ôn đới; từ vùng đất ngập sâu, đầm lầy lên những vùng cao đấtdốc và thường xuyên bị khô hạn; từ dạng lúa tẻ cứng cơm, nở nhiều sang loại hìnhlúa nếp, dẽo và ít nở; từ dạng cao cây, dài ngày, quang cảm sang loại hình thấpcây, ngắn ngày, không quang cảm Đó là cả một quá trình chuyển biến của cây lúa
để thích nghi và tồn tại trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau và luôn biếnđổi Đó cũng là kết quả của một qúa trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo hết sứctích cực do tác động của môi trường và con người Hiểu biết điều này sẽ rất hữuích cho công tác cải tiến giống lúa hiện tại và tương lai
Trang 152.3 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới, Việt Nam và Thừa Thiên Huế 2.3.1.Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và có khả năng thích ứng rộng vớinhiều vùng khí hậu (được phân bố từ 530vĩ độ Bắc đến 350 vĩ độ Nam) Trên thếgiới lúa được gieo trồng ở trên 110 nước khác nhau Tuy diện tích lúa lớn nhưngphân bố không đều, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Á (90%), trong 25 nướcsản xuất chủ yếu thì 17 nước thuộc khu vực châu Á (phân bố từ 300 vĩ độ Bắc đến
100 vĩ độ Nam) chiếm 91% diện tích, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai nướcđứng đầu thế giới về sản lượng [2],[20]
Cây lúa được trồng ở khắp nơi trên thế giới nhưng năng suất và diện tích lại
(Nguồn: faostat.fao.org)
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, cho đến nay lúa vẫn là cây lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất Chính vì vậy, tổng sản lượng lúa trong vòng 45 năm qua đã tăng lên gấp hơn 2,6 lần, từ 257 triệu tấn năm
Trang 16550 600 650 700 750
00 01 02 03 04 05 06 07 08 09
125 135 145 155 165
Sản lượng Diện tích
Nguồn: FAOSTAT
1965 lên tới 675 triệu tấn năm 2009… [FAOSTAT, 2009] Cùng với nó, diện tích trồng lúa cũng tăng lên nhưng không đáng kể, được thể hiện qua biểu đồ sau
Biểu đồ 2.1: Sản xuất lúa của thế giới từ năm 2000-2009
Qua biểu đồ 2.2 ta thấy năm 2009, diện tích đất trồng lúa đang có chiều hướnggiảm do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã dẫnđến sản lượng lúa thế giới cũng giảm theo Từ đó, việc áp dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật để tăng năng suất, sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lượng thực là việclàm rất cần thiết, đồng thời phải đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng vẫn bảo vệ đượcmôi trường sống
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lúa gạo một số nước trên thế giới (1.000 ha)
Trang 17Diện tích (1000ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Diện tích (1000ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Năng suất (tạ/ha)
bộ kỹ thuật về giống, phân bón và bảo vệ thục vật Năng suất lúa cao tập trung ởcác quốc gia á nhiệt đới hoặc ôn đới có khí hậu ôn hòa hơn, chênh lệch nhiệt độngày và đêm cao hơn và trình độ canh tác phát triển tốt hơn Các nước nhiệt đới cónăng suất bình quân thấp do chế độ nhiệt và ẩm độ cao, sâu bệnh phát triwwnrmạnh và trình độ canh tác hạn chế 1
Trang 18Năm 2010 là năm mà khí hậu biến đổi thất thường, tình trạng bão lũ, hạnhán, cháy rừng và sự xâm mặn của nước biển diễn ra tại hầu khắp các khu vực trênthế giới Do đó, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng chịunhiều ảnh hưởng tiêu cực.
Năm 2009 sản lượng lúa của châu Á dẫn đầu thế giới (611,70 triệu tấn) Sảnlượng lúa gạo thế giới cũng như châu Á cao như vậy đó là nhờ sự đóng góp củamột số nước sản xuất gạo lớn như: Trung Quốc: 197,25 triệu tấn; Ấn Độ: 131,27triệu tấn; Indonesia: 64,39 triệu tấn; Bangladesh: 45,07 triệu tấn; Viêt Nam: 38,89triệu tấn và Thái Lan: 31,46 triệu tấn
2.4.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
Việt Nam là nước có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có tới 80% dân
số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó cóvai trò rất quan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai tròtrong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩuđóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác do điều kiện tự nhiênthuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng khắp mọi miền đấtnước Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ vàphương thức gieo trồng, nghề trồng lúa được hình thành và phân chia thành 3 vùngtrồng lúa lớn: Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồngbằng Nam Bộ.Trong các loại cây lương thực lấy hạt ở Việt Nam thì lúa là loại câylương thực chính Sản lượng lúa tăng liên tục trong những năm qua Nguyên nhântăng năng suất và sản lượng lúa là do những thay đổi về cơ chế chính sách củaĐảng và nhà nước, kết hợp đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sảnxuất như giống mới, mức độ thâm canh , thuỷ lợi 9,[16]
Hiện nay với những tiến bộ vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã đượctiếp cận với những phương thức sản suất tiên tiến nên họ đã mạnh dạn áp dụngkhoa học kỹ thuật vào sản suất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai,các giống lúa cao sản, các giống lúa chất lượng cao, các giống lúa thích nghi vớiđiều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu…kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã
có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Cho đến năm 2009 sản
Trang 19lượng lương thực của chúng ta đạt 38,9 triệu tấn và giá trị xuất khẩu gạo đạt6.006.000 tấn đã thu về 2.437 triệu USD [2],[8].
Bảng 2.4.Tình hình sản xuất lúa của việt nam từ năm 2005-2010
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn /ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Bảng 2.5.Tình hình xuất khẩu gạo qua các năm
(nghìn tấn)
Giá trị ( triệu USD)
Trang 202010 6,754 2,912
(Nguồn: Hiêp hội lương thực Việt Nam (VFA) 2011)
Tuy sản lượng gạo tăng hàng năm nhưng chất lượng và lợi nhuận hạt gạoViệt Nam có phẩm cấp thấp Nếu so với Thái Lan – nước xuất khẩu gạo đứng ở vịtrí thứ nhất thê giới thì gạo Việt Nam vẫn còn kém hơn nhiều
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì diện tíchđất trồng lúa hàng năm bị giảm chính là do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng Mặc
dù thế năng suất và sản lượng lúa vẫn tăng so với các năm trước chính là nhờ việc
áp dụng khoc học kỹ thuật vào sản xuất: Như sử dụng các giống lúa mới, kỹ thuậtbón phân hợp lý, đầu tư thâm canh tốt…
Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tăng giá trị trên đơn vị diện tích thì songsong với việc tăng năng suất là chúng ta phải tăng chất lượng gạo để tăng sức cạnhtranh với thị trường gạo trên thế giới
Nhờ chủ động được nguồn cung trong nước và cơ hội thuận lợi từ thịtrường thế giới, xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2009 đã đạt được những thànhtựu đáng kể Theo thông tin từ hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), xuất khẩugạo năm 2009 đã đạt 6.006.000 tấn, mức kỷ lục từ trước tới nay và xóa bỏ kỷ lụcđạt được ở năm 2005
Năm 2010 sản lượng gạo xuất khẩu tăng lên đến 6.754.000 tấn, đạt giá trịxuất khẩu 2,912 triệu USD
2.4.3 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Thừa Thiên Huế.
Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, có tọa độ địa lý 16-16,80 vĩ bắc và 107,8-108,20 kinh đông Phía bắc giáptỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Phía tây giáp nước Cộng HòaDân chu Nhân dân Lào, phía Đông được giới hạn bởi biển đông Diện tích tự nhiên5.053,99 km2, dân số trung bình năm 2003 ước là 1.105,5 nghìn người, chiếm 1,5%
về diện tích và 1,5% về dân số so với cả nước
Diện tích gieo trồng là 92.996 ha, trong đó diện tích cây lương thực có hạthàng năm là 55.580 ha, tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 305.908 tấn(bảng 2.8)[19], [21]
Bảng 2.6: diện tích một số cây trồng chính tại Thừa Thiên Huế năm 2011
Trang 21Nguồn: báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, 2010
Qua 3 năm 2008 đến 2010, diện tích gieo trồng lúa tăng từ 50,8 đến 53,97ngìn ha Tuy diện tích gieo trồng lúa của toàn tỉnh còn thấp nhưng năng suất cao,đạt bình quân 55,6 tạ/ha, cao hơn mức bình quân cả nước và sản lượng lúa ngàycàng tăng từ 25 vạn tấn năm 2006 đến 30 vạn tấn năm 2010, góp phần đảm bảo anninh lương thực tại địa phương (bảng 2.9)
Trang 23Bảng 2.7: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa tỉnh
Thừa Thiên Huế qua các năm.
Nguồn: Niên giám thống kê 2009, báo cáo tổng kết sản xuất nông
nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, 2010.
Năm 2010-2011, năng suất lúa của tỉnh T.THuế đạt cao nhất từ trước đếnnay, góp phần đưa sản lượng lúa trên địa bàn toàn tỉnh đạt trên 30 vạn tấn SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, năm 2011,toàn tỉnh gieo trồng 54.690 ha cây lương thực, trong đó diện tích lúa chiếm 53.546
ha (lúa Đông Xuân đạt 27.387 ha và lúa Hè thu đạt 24.489 ha), còn lại là diện tíchngô Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 56,34 tạ/ha, cao nhất từ trước tới nay(tăng 3,4 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước) Tổng sản lượng lúa đạt 301.705 tấn,tăng 16.520 tấn so với năm 2010.Mục tiêu của tỉnh T.T Huế trong năm 2012 làgieo trồng 53.500 ha lúa, với tổng sản lượng lúa đạt xấp xỉ 300.000 tấn.Riêng vụĐông Xuân này, tỉnh phấn đấu gieo trồng trên 27.000 ha lúa, năng suất đạt 56tạ/ha, sản lượng trên 153.000 tấn Theo ông Hoàng Hữa Hè, Phó Giám đốc Sở NN
- PTNT tỉnh, để đảm bảo năng suất và sản lượng lúa, các địa phương cần bố trí hợp
lý nhóm giống dài và trung với nhóm giống ngắn ngày Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn cũng yêu cầu sau lũ lụt, các địa phương trong tỉnh khẩn trương tusửa các tuyến đê bao, đê nội đồng đảm bảo chống ngập úng; tu sửa máy bơm, nhà
Trang 24trạm, kênh mương, có kế hoạch huy động tối đa các máy bơm để kịp thời tiêu úngkhi đến vụ.
Về tình hình dịch hại, bệnh đạo ôn là đối tượng gây nguy hiểm nhất, hàngnăm diện tích lúa bị nhiễm từ 2500-7000 h, chủ yếu trong vụ đông xuân làm giảmnăng suất sản lượng trầm trọng Ngoài ra, Theo Sở NN - PTNT tỉnh này, đến naytrên địa bàn có khoảng 1.440 ha lúa hè thu bị sâu bệnh gây hại Trong đó, sâu cuốn
lá nhỏ gây hại với diện tích 90 ha, mật độ dưới 5 con/m2, nơi cao 20-30 con/m2;rầy các loại gây hại khoảng 30 ha, mật độ từ 750-1.500 con/m2; bệnh khô vằn pháttriển gây hại trên diện rộng với diện tích 1.280 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10-20 %,nơi cao 30-40 % Bệnh lùn sọc đen gây hại trên diện tích 40 ha, tỷ lệ bệnh khoảng
3 %, chủ yếu tập trung tại các HTX Thủy Phù 1, Thủy Phù 2, Thủy Lương (thị xãHương Thủy) và HTX Vinh Thái (huyện Phú Vang)
2.5 Tình hình nghiên cứu giống lúa trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.5.1 Tình hình nghiên cứu giống lúa trên thế giới.
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,vànguồn gen cây lúa nói riêng từ những thập kỷ trước đây Ngay từ những năm 1924Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm vụ chính là thunhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng Tổ chức Lương thực và nôngnghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướngthúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiênnhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Trong vùng nhiệt đới và Á nhiệtđới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giốngtrên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng (Trần ĐìnhLong 1992)[11],[5]
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém
gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sảnxuất ra một loại nông sản nào cả.Vì thế việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đãđược các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại học nông nghiệp ưutiên hàng đầu.Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đãđược thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các viện nghiên cứu nôngnghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khácnhau như IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT (IRRI, 1997) Tại các viện này việc chọn
Trang 25lọc và lai tạo các giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu Chỉ tính riêng viện nghiêncứu lúa gạo quốc tế ( IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúacác loại, trong đó tiêu biểu là các giống lúa như: IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64,Jasmin Đặc biệt là hai giống IR64 và Jasmin là những giống có phẩm chất gạotốt, được trồng rông rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hiện nayviện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa có năng suấtsiêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ vụ, đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọntạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu Protein, giàu Lisine, cómùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đápứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada, E.C 1997) [24],[25].
Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên công tácgiống
đã được chú trọng đặc biệt Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước, TrungQuốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như:Đoàn kết, Bao Thai, Chân Châu lùn, Mộc Tuyền Các giống này cũng đã nhậpvào Việt Nam và cho tới nay nhiều giống vẫn được một số địa phương gieo trồng
vì chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địa phương.Bước vào đầu những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo thành côngcác giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặc tính ưu việthơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu, bệnh Có thể nóiTrung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng lúa lai rasản xuất đại trà Nhờ đó đã làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốc lêngấp đôi trong vòng 3 thập kỷ qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho mộtnước có hơn 1,3 tỷ dân Các giống lúa lai như: Bồi Tạp Sơn Thanh, Sán Ưu Quế,Bắc Thơm số 7 rất nổi tiếng ở Trung Quốc và ở các nước láng giềng Song songvới giống lúa lai, Trung Quốc vẫn tiếp tục chọn tạo các giống lúa thuần và cho rađời các giống lúa tốt như San Hoa, Ải Mai Hương, Khang Dân 18 Các giống lúanày cũng cho năng suất rất cao không kém gì các giống lúa lai Về chiến lượcnghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai một dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăngnăng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước (Lin, SC 2001) [6] Ấn Độ là mộtnước trồng lúa với diện tích đứng đầu thế giới.Ấn Độ cũng là một nước đi đầutrong công cuộc cách mạng xanh về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu giống lúatrung ương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa đóngvai trò đầu tầu trong việc nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ cho sản
Trang 26xuất Ngoài ra tại các bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các
cơ sở quan trọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn
Á nhiệt đới (ICRISAT) Ấn Độ cũng là nước có những giống lúa chất lượng caonổi tiếngtrên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giátrị trên thị trường tới 850 USD/ tấn (trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổi tiếngtrên thế giới cũng chỉ có giá trị 460 USD/tấn)
Nhật Bản là một trong 10 nước trồng lúa có sản lượng hàng đầu thế giới, tuydiện tích trồng lúa không lớn Điều đó được lý giải là do năng suất lúa của NhậtBản rất cao, lớn nhất thế giới Ở Nhật Bản người ta chỉ trồng lúa 1 vụ/ năm, việcgieo trồng lúa được tiến hành trong những điều kiện thời tiết thuận lợi nhất.Côngtác giống lúa của Nhật Bản được đặc biệt chú trọng vì người Nhật Bản giàu có, ít
ăn cơm nên đòi hỏi cơm phải ngon còn giá bán có cao thì họ vẫn chấp nhận.Thực
tế giá gạo tại Nhật Bản vào loại cao nhất thế giới từ 5 - 10 USD/kg Để đáp ứng thịhiếu tiêu dùng cao, các Viện và các Trạm nghiên cứu giống lúa được thành lập ởhầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó có các trung tâm quan trọng nhất đặt
ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka, Kochi, Miyazaki, Sags, Là những nơi diệntích trồng lúa lớn Các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã lai tạo và đưa ra các giốnglúa vừa có năng suất cao, vừa có phẩm chất tốt như: Koshihikari, Sasanisiki,Nipponbare, Koenshu, Minamisiki đặc biệt Giáo Sư Tiến Sĩ E Tsuzuki đã lai tạođược 2 giống lúa đặt tên là Miyazaki 1 và Miyazaki 2 Giống Miyazaki 1 là kết quảlai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai Koshihikari và Brimphun của Ấn Độ Đây là giốnglúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao, có giá trị bán caotrên thị trường Giống Migazaki 2 là kết quả lai tạo giống Nipponbare và mộtgiống lúa khác của Ấn Độ Giống này có hàm lượng Lysin cũng rất cao.Cho đếngiờ, giống này vẫn giữ vị trí hàng đầu về hai chỉ tiêu quan trọng này[7]
Từ lâu Thái Lan đã nổi tiếng là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nướcnày cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu.Cáctrung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh vàkhu vực Nhiệm vụcủa các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốtphục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu, thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giốnglúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trungbình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạodài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn lànăng suất Điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn
Trang 27cao hơn của Việt Nam Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chấtlượng nổi tiếng thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin(Hương nhài) Các giống này cũng được gieo trồng ở Việt Nam và một số nướckhác Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa quan trọng khác như: HànQuốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Các giống lúa ở đây thuộc loại hình Japonica, cóhạt gạo tròn, cơm dẻo và chất lượng cũng rất tốt Các giống lúa nổi tiếng của khuvực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang changi, Đee - Geo-Woo-Gen (Đài Loan) đặc biệt giống Đee - Geo-Woo-Gen là một trong những vậtliệu khởi đầu để tạo ra giống IR8 nổi tiếng một thời Indonesia là nước đứng thứ 4trên thế giới về diện tích trồng lúa.Đây cũng là nước có rất nhiều giống lúa chấtlượng cao, có nguồn gốc bản địa hoặc được lai tạo tại các cơ sở nghiên cứu Cácgiống lúa chất lượng cao của Indonesia thường dẻo, có mùi thơm Các giống lúachất lượng nổi tiếng của nước này là Peta, BenWan, Sigadis, Synthe, Pelita1-1 vàPelita1-2 (IRRI 1997).
2.5.2 Tình hình nghiên cứu giống lúa ở Việt Nam
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọngcũng như đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thểsản xuất ra một loại nông sản nào Giống cây trồng chính là yếu tố quan trọngtrong việc thâm canh tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm Do giống là tưliệu sản xuất đặc biệt, là tư liệu sống mang đầy đủ tính trạng, đặc tính về hình thái,sinh học, di truyền và kinh tế nhất định, do vậy giống gắn bó mật thiết với môitrường Muốn tăng năng suất cần chú ý tác động đến các điều kiện trồng trọt thíchhợp với yêu cầu của giống
Điều kiện sinh thái của nước ta rất đa dạng nên đòi hỏi phải có bộ giống lúaphong phú có thể đáp ứng được các tiểu vùng sinh thái Do đó trong những nămqua chúng ta đã tạo được nhiều giống lúa mới phục vụ cho sản xuất Việt Nam cóhàng nghìn giống lúa được gieo trồng từ Bắc vào Nam, trong đó có rất nhiều giống
"cổ truyền" có chất lượng cao như các loại lúa "Tám Thơm, Lúa Di, Nàng Thơm,Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ…" Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiềugiống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam
có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá, Khaodomaly TiềnGiang…
Trang 28Trong quá trình nghiên cứu phát triển các giống lúa có chất lượng cao vai tròcủa các Viện nghiên cứu và Trường đại học nông nghiệp là hết sức quantrọng.Viện cây lương thực và cây thực phẩm là Viện nghiên cứu các giống lúahàng đầu ở Việt Nam được thành lập từ rất sớm Viện này đã được các nhà khoahọc danh tiếng như: Giáo sư Nông học Lương Đình Của, Giáo sư, Tiến sĩ Viện sĩ
Vũ Tuyên Hoàng… lãnh đạo và chỉ đạo công tác nghiên cứu và chọn tạo các giốnglúa Hàng trăm giống lúa xuân, lúa mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa cóhàm lượng Prôtêin cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo và bồi dục ở Viện này,trong đó có các giống lúa chất lượng cao Hai giống P4 và P6 là những giống lúađược lai tạo theo hướng chất lượng Protein cao Giống P4 có thời gian sinh trưởngtrung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất khá đạt 45 đến 55 tạ/ha cao nhất có thểđạt 72 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng protein cao tới 11 %, hàm lượng amiloza 16-
20 %, hạt gạo dài, tỉ lệ gạo xát đạt 70 %, tỷ lệ gạo nguyên đạt 65 % Giống lúa P6ngắn ngày hơn giống lúa P4 thuộc loại hình thâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5
%, năng suất đạt 45-55 tạ/ha, cao nhất đạt 60 tạ/ha Đây là giống lúa có chất lượnggạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa nếp K12 do Viện cây lương thực vàthực phẩm lai tạo ra có khả năng chống chịu với bệnh đạo ôn, có thể đạt năng suất
từ 33,5- 58 tạ/ha chất lượng gạo khá [14][8]
Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam là một viện nghiên cứu nôngnghiệp hàng đầu ở Việt nam và đã có nhiều thành tựu trong việc chọn tạo cácgiống lúa, nhất là các giống lúa chất lượng cao và lúa lai Trước đây Viện đã nhập
và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như: IR64, IR66, NN9A lànhững giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúa Nếp 314 do viện lai tạo racũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúa lai HYT của Viện lai tạo ra cũngđang được thí nghiệm và sản xuất thử ở nhiều nơi và có kết quả rất khả quan [30]
Viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long đã lai tạo ra được các giống có năngsuất cao và chất lượng như OM997-6, OM16633…Từ 1986-1999 Viện Lúa Đồngbằng sông Cửu Long đã có 19 giống lai đã được công nhận và khu vực hóa, 13giống được công nhận là giống quốc gia [12]
Vào thập kỷ 70 các viện Nghiên cứu Nông nghiệp Việt Nam đã sử dụngnguồn gen thấp cây tiến hành lai tạo các giống mới có năng suất cao, phẩm chấttốt Đầu thập kỷ 80, chương trình tạo giống cho vùng khó khăn đã được thực hiện,đến giữa những năm 1980 đã có một số giống lúa chịu hạn như: LC93, LC93-2,
Trang 29LC93-4…có thời gian sinh trưởng ngắn được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi thaythế cho các giống cũ, góp phần đảm bảo lương thực cho vùng sâu, vùng xa [9].
Từ những năm 90, trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia đã tiếnhành khảo nghiệm các giống lúa có triển vọng ở các vùng sinh thái khác nhau,nhằm đánh giá và xác định chính xác, khách quan về khả năng thích ứng của chúngtrong điều kiện sinh thái khác nhau Kết quả đã thu được những thành công nhấtđịnh và đưa vào sản xuất các giống lúa có năng suất cao như: TH18, Khang Dân
18, NĐ1… một số giống lúa có phẩm chất tốt cũng được đưa vào sản xuất rộngnhư: IR 63, Bắc Thơm 7…Các giống lúa ngắn ngày như: CN2, OMCS1…Đã đóngvai trò quan trọng trong tăng vụ, chuyển đổi cây trồng và khả năng tránh đượcnhững điều kiện bất lợi [10]
Công tác nghiên cứu, khảo nghiệm các giống lúa mới luôn được chú trọng đầu tư.Đến nay các viện nghiên cứu đã đưa vào sản xuất hàng trăm giống lúa mới cho năng suấtcao, phẩm chất tốt Điển hình là viện lúa đồng bằng Sông Cửu Long, trường đại họcNông Nghiệp I, viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam…
Chương trình nghiên cứu lúa tại việt nam đã thu được những thành tựu đángkhích lệ: Khoảng 2.000 tổ hợp lai đã được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu lúalai, viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, có 138 dòng F1 cho năng suấtcao hơn đối chứng trên 20% và có 13 dòng F1 cho năng suất vượt đối chứng 50 %,tạo ra được tổ hợp lai kháng rầy nâu: C95-1 và C95-2 Viện Di truyền Nông nghiệpcũng ra được nhiều tổ hợp lai cho năng suất cao như: BDA/DT12 có năng suất 7,5
- 12 tấn/ha Theo FAO, đến nay Việt Nam là nước áp dụng thành công công nghệsản xuất lúa lai và sản suất lúa đại trà Việt Nam trở thành nước thứ 2 trên thế giớisau Trung Quốc sản xuất lúa lai trên diện rộng [5], [10]
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳngđịnh giống cây trồng là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả củasản xuất nông nghiệp Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng chúng ta đã
và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ nhằm khai thác hiệu quảhơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế về đất đai, thời tiết khí hậu của nước
ta, làm đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, thựchiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
2.5.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trang 30Để đạt được năng suất lúa ngày càng cao, ngoài áp dụng các biện pháp kỹthuật thâm canh cho cây lúa, việc sử dụng các giống lúa mới có năng cao, chấtlượng tốt, nhằm dần thay thế các giống cũ đang bị thoái hóa, nhiễm sâu bệnh là conđường tất yếu Để đạt được điều đó, công tác nghiên cứu, khảo nghiệm các tậpđoàn giống mới đã được các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, chuyển giao trênđịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện hàng năm.
TS Lê Tiến Dũng, trường đại học Nông Lâm Huế đã dày công nghiên cứumang lại một dòng giống lúa có khả năng vượt lũ, đạt năng suất cao cho đồng đấtmiền Trung nơi mà hàng năm phải sống chung với lũ, tạo một số dòng giống lúamới có năng suất cao thích hợp với khí hậu khắc nghiệt tại Thừa Thiên Huế vàđược Bộ Giáo Dục và Đào tạo nghiệm thu và đánh giá cao Kết quả của đề tài là sự
ra đời của dòng giống TC 11, TC13, TC 15 với thời gian 90 ngày được thu hoạch(rút ngắn 15-30 ngày so với giống lúa khác), năng suất khoảng 5-6 tấn/ha, có giốngđạt 6,5-7 tấn/ha, hạt gạo rất thơm, dẻo nên giá bán ra thị trường thường cao hơncác giống lúa khác như Khang Dân, Nàng Hương, 4B, 13/2 từ 3-5 nghìnđồng/kg.Trong 3 dòng giống trên, dòng TC 13, năng suất vượt trội, cứng cây, câycao, trong thời gian trồng thử nghiệm chưa bị sâu Do thân cây cao nên khi nước lũtràn về ngập khoảng 0,5 m vẫn có thể chống chịu được Dòng giống này ra đời,góp phần đảm bảo cho nông dân Thừa Thiên - Huế và các tỉnh miền Trung thuhoạch sớm, tránh được lũ [26]
TS Trương Thị Bích Phượng- Trường đại học Khoa Học Huế (2004,2006)
đã chọn tạo ra 3 dòng LH1, LH2, LH3 chịu hạn từ giống 212 bằng phương phápnuôi cấy callus và đã phân lập gen chống chịu hạn từ 3 dòng lúa này thích nghi vớiđiều kiện stress nước chọn lọc được trong nuôi cấy in itro
PGS.TS Trần Thị Lệ - Trường Đại học Nông lâm Huế (2007) áp dụngphương pháp đột biến và phương pháp lai để tạo vật liệu khởi đầu, từ đó chọn lọc
ra các giống lúa mới C73 và C105 có năng suất cao, chống chịu tốt, phẩm chất tốt
Tháng 2/2012, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chứchội nghị xét duyệt, tuyển chọn đề tài năm 2012.Theo đó, đề tài “Thử nghiệm mô
hình sản xuất một số giống lúa kháng rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath)
ở Thừa Thiên Huế” đã được thuyết minh tại hội nghị.Đây là đề tài được giao trựctiếp cho Trường Đại học Nông lâm Huế chủ trì và PGS.TS Trần Đăng Hòa (Khoa
Trang 31Nông học) làm chủ nhiệm đề tài.Rầy lưng trắng là sâu hại lúa quan trọng ở cácvùng trồng lúa trên cả nước Từ những năm gần đây, sự bùng phát của rầy lưngtrắng kéo theo dịch bệnh lùn sọc đen phương nam đã làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến năng suất lúa Với khí hậu nóng, ẩm và mưa nhiều ở Thừa Thiên Huế là điềukiện thuận lợi cho rầy lưng trắng phát sinh gây hại Xuất phát từ các vấn đề lý luận
và thực tiễn nêu trên, việc xây dựng đề tài “Thử nghiệm mô hình sản xuất một sốgiống lúa kháng rầy lưng trắng ở Thừa Thiên Huế” là rất cần thiết và phù hợp vớichiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nhằm hạn chế bệnh lùn sọc đenhại lúa, xây dựng và chuyển giao được quy trình sản xuất các giống lúa kháng rầy
có chất lượng cao tại một số vùng sinh thái của tỉnh, góp phần bảo đảm an ninhlương thực, tiến đến sản xuất nông sản hàng hóa Tại hội nghị, PGS.TS Trần ĐăngHòa đã trình bày báo cáo thuyết minh đề tài “Thử nghiệm mô hình sản xuất một sốgiống lúa kháng rầy lưng trắng ở Thừa Thiên Huế” mà nhóm thực hiện đã xâydựng Mục tiêu của đề tài là xác định một số giống lúa kháng rầy lưng trắng, năngsuất, chất lượng cao thích ứng với sinh thái ở Thừa Thiên Huế; có được mô hìnhsản xuất một số giống lúa kháng rầy lưng trắng, năng suất và chất lượng cao;chuyển giao được quy trình sản xuất một số giống lúa năng suất và chất lượng caocho địa phương Theo kế hoạch, đề tài sẽ được triển khai từ tháng 3/2012 đếntháng 3/2014
Những năm gần đây, Trung tâm Khuyến nông - lâm - ngư đã triển khai một
số mô hình lúa chất lượng cao và sản xuất thử các giống lúa mới: HT1, HC95,ĐB5, HT6 , bước đầu đánh giá cho thấy các giống lúa có triển vọng về sự phùhợp thời gian sinh trưởng đối với cơ cấu mùa vụ và yếu tố chất lượng gạo Côngtác khảo nghiệm cơ bản được Công ty cổ phần Giống cây trồng và vật nuôi tỉnhtriển khai hàng năm, qua 2 vụ khảo nghiệm cơ bản tập đoàn giống mới 2010, SởNông nghiệp và PTNT đã có kết luận thông báo cho phép thực hiện sản xuất thửcác giống Bắc thơm 7, PC 6 với quy mô 50 ha trên các chân đất khác nhau trongnăm 2011, đồng thời thực hiện khảo nghiệm cơ bản thêm 1 vụ đối với các giốnglúa triển vọng XT27, TQ08, Nàng Xuân, HDDT8, ngoài ra còn thu thập thêm một
số giống mới có khả năng chống chịu sâu bệnh, đặc biệt là các giống kháng rầy để
bổ sung vào khảo nghiệm trong vụ đông xuân 2010 – 2011
Trang 32PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Thế hệ thứ 5 (M5) của giống lúa HT1 được xử lý đột biến với các nồng độkhác nhau với công thức sau:
- Công thức 1: Xử lý giống HT1 bằng DMS 0,5%
- Công thức 2: Xử lý giống HT1 bằng DMS 0,6%
- Công thức 3: Xử lý giống HT1 bằng DMS 0,7%
- Công thức 4: Xử lý giống HT1 bằng DMS 0,8%
- Công thức 5(ĐC): Không xử lý đột biến
Hạt giống được ngâm trong dung dịch trong thời gian 24 giờ, sau đó rửasạch qua vòi nước chảy cho đến khi sạch hoàn toàn dung dịch xử lí Tiến hành ủnẩy mầm và đem gieo thẳng trực tiếp ra ruộng theo từng công thức xử lí
3.2 Nội dung nghiên cứu.
- Đánh giá các đặc trưng về sinh trưởng, phát triển của thế hệ M5 phục vụcông tác chọn tạo giống lúa chất lượng cao có hiệu quả
- Đánh giá các đặc trưng về hình thái của thế hệ M5 và khả năng chống chịusâu bệnh hại của thế hệ M5
- Đánh giá các đặc trưng về khả năng chống chịu sâu bệnh hại và khả năngchống đổ của thế hệ M5
- Đánh giá đặc trưng về năng suất cá thể và các yếu tố cấu thành năng suất
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
- Địa điểm nghiên cứu: Hợp tác xã Hương Long, thành phố Huế
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/1/2014 đến tháng 20/5/2014
Trang 333.4 Bố trí thí nghiệm: Bố trí thí nghiệm một cách ngẫu nhiên, mỗi công thức 3
BẢO VỆ
3.5 Điều kiện thí nghiệm:
Bảng 3.6 Diễn biến thời tiết, khí hậu vụ Đông Xuân 2013 - 2014 ở
Thừa Thiên Huế
Trang 34Qua bảng 3.6 chúng tôi thấy rằng, vụ đông xuân 2013-2014 nhiệt độ trung bình biến động không lớn lắm từ 18,70C – 26,10C, ẩm độ trung bình ở mức cao từ
85 - 92 %, lượng mưa có sự biến động lớn, tháng 1 có lượng mua cao nhất đạt 75,9mm
Vào tháng 1 nhiệt độ biến động cao, nhiệt độ cao nhất đạt 28,5oC và thấp nhất là 10,8 0 C và ẩm độ trung bình đạt cao nhất 90 % Lượng mưa đạt trung bình 75,9mm Vào giai đoạn cuối tháng này gặp đợt mưa rét nên nó ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt khi gieo
Tháng 02: Nền nhiệt độ không tăng lên, nhiệt độ tối thấp 12,70C nhiệt độ trung bình 20,4oC, nhiệt độ tối cao là 31,5oC, ẩm độ không khí cao 91 %,số ngày mưa thấp 7 ngày Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình nảy mầm của lúa Vào đầu tháng nhiệt độ tăng, ấm lên thuận lợi cho lúa nảy mầm để sinh trưởng phát triển nhưng sau đó chịu ảnh hưởng của đợt lạnh kéo dài nên đã phần nào làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây lúa
Tháng 03: Nhiệt độ không tăng nhưng trời vẫn ấm, nhiệt độ dao động trong khoảng 22,50C– 27,9 0C Trong tháng 3 có 7 ngày mưa, lượng mưa không lớn 17.6mm Do đầu tháng thời tiết lạnh kéo dài và mưa đã phần nào ảnh hưởng đến quá trình ra lá và đẻ nhánh của lúa,nhưng về cuối tháng khi thời tiết bắt đầu ấm lênnhiệt độ tăng dần tạo điều kiện cho lúa bắt đầu phát triển
3.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi.
Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây lúa được xác định dựa vào cácchỉ tiêu nông sinh học, được xác định theo “ Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cây lúa”của IRRI và “ Sổ tay nghiên cứu khoa học ngành nông học” của trường Đại HọcNông Lâm Huế 1998
3.6.1 Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ ngày gieo hạt đến ngày thu hoạch Thời gian sinh trưởngc ủa cây lúa được chia làm các thời kỳ:
- Thời gian cây con: tính từ khi giao đến 3 lá
- Ngày bắt đầu đẻ nhánh: khi 50 % số cây xuất hiện nhánh đầu tiên
Trang 35- Ngày kết thúc đẻ nhánh: khi lúa đạt dảnh tối đa.
- Thời gian đẻ nhánh (ngày): Tính từ khi lúa bắt đầu đẻ nhánh đến ngày kết thúc đẻ nhánh
- Ngày bắt đầu trỗ: 10 % số cây có bông thoát khỏi bẹ lá đòng khoảng 5 cm
- Ngày trổ hoàn toàn: 80 % số cây trỗ
- Thời gian trỗ (ngày): Tính từ ngày bắt đầu trổ đến ngày trổ hoàn toàn
- Thời gian chín: số ngày từ gieo đến 85 % số hạt chín
- Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
3.6.2 Chỉ tiêu về khả năng chống chịu
Tỷ lệ bệnh, chỉ số bệnh của một số đối tượng gây hại chính:
- Rầy nâu (Nilaparvata lugens)
Theo dõi cây chuyển vàng từng bộ phận hay toàn bộ cây đánh giá theo thang điểm:
+ Điểm 0: Không bị hại
+ Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
+ Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy
+ Điểm 5: Những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10 – 25 % số cây bị cháyrầy, cây còn lại lùn nặng
+ Điểm 7: Hơn nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, cây còn lại lùn
nghiêm trọng
+ Điểm 9: Tất cả các cây chết
- Sâu cuốn lá (Cnaphalocrocis medinalis Guenee)
Tính tỷ lệ % cây bị sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống ở thời
kỳ sinh trưởng dinh dưỡng theo thang điểm dưới đây:
Trang 36+ Điểm 0: Không có cây bị hại.
+ Điểm 1: 1 – 10 % cây bị hại
+ Điểm 3: 11 – 20 % cây bị hại
+ Điểm 5: 21 – 35 % cây bị hại
+ Điểm 7: 36 – 60 % cây bị hại
+ Điểm 9: 61 – 100 % cây bị hại
- Sâu đục thân (Schoenobius incertellus (Walker))
Theo dõi tỷ lệ dảnh chết ở giai đoạn đẻ nhánh - làm đòng và bông bạc ởgiai đoạn vào chắc đến chín ở 10 khóm điều tra/ 1 ô thí nghiệm Tính tỷ lệ dảnh bị chết
và bông bạc do sâu hại, theo dõi theo thang điểm:
+ Điểm 0: Không bị hại
+ Điểm 1: 1 – 10 % số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 3: 11 – 20 % số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 5: 21 – 30 % số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 7: 31- 50 % số dảnh chết hoặc bông bạc
+ Điểm 9: > 51 % số dảnh chết hoặc bông bạc
- Bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae)
Đánh giá trên diện tích lá bị hại tính theo thang điểm
+ Điểm 1: 1 – 5 % diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 3: 6 – 12 % diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 5: 13 – 25 % diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 7: 26 – 5 % diện tích vết bệnh trên lá
+ Điểm 9: 51 – 100 % diện tích vết bệnh trên lá