1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc

77 684 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Độc Tính Các Chủng Vi Khuẩn Ralstonia solanacearum Trên Các Giống Cà Chua Ở Các Tỉnh Miền Bắc
Tác giả Lê Thị Ngọc Hằng
Người hướng dẫn T.S. Nguyễn Thị Thu Thủy
Trường học Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Khoa học cây trồng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây cà chua (Lyeopersicum esculentumMill) thuộc họ Cà (Solanaceae) là một trong những cây rau chính, chiếm vị trí thứ hai sau khoai tây, được trồng hầu hết các nước trên thế giới. Cà chua được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như ăn tươi, làm salat, nước uống hoặc chế biến làm dạng dự trữ, sản phẩm chế biến cũng có nhiều dạng như đống hộp dạng quả bốc vỏ, dạng cô đặc, dạng ketchup, nước sốt cà chua, mứt cà chua,... Cà chua là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều glucid, nhiều axit hữu cơ. Thành phần của cà chua chứa nhiều chất khoáng và vitamin, trong chất khô gồm đường (glucoza, fructoza, sucroza) 55%, chất không hòa tan trong rượi (protein, pectin, polysacarit )21%, axit hữu cơ 12%, chất vô cơ 7% và các chất khác (carotenoit, ascobic, chất dễ bay hơi, amino axit...) 5%. Về mặt dinh dưỡng cà chua còn chứa nhiều Vitamin C (20-60mg trong 100g, Vitamin A (2-6mg trong 100g), sắt và các khoáng chất cần thiết cho cơ thể con người. Cà chua cung cấp năng lượng và chất khoáng làm tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyệt, chống độc. Cà chua còn dùng làm mỹ phẩm, chữa trứng cá... Cà chua là một trong số những cây rau màu quan trọng, được phân bốrộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.Tuy nhiên việc gieo trồng cà chua vẫn gặp nhiều khó khăn, trở ngại.Một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển sản xuất và làm giảm năng suất cà chua đó là sâu và bệnh hại. Trong đó đáng chú ý hơn cả là bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra. Bệnh héo xanh vi khuẩn (bệnh HXVK) do vi khuẩn Ralstonia solanacearum Smith (R. solanacearum Smith) là một trong những bệnh có nguồn gốc từ đất gây hại rất phổ biến và nghiêm trọng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bệnh HXVK gây hại trên cây cà chua ở hầu khắp các nước thế giới nói chung và tất cả các vùng trồng cà chua ở nước ta nói riêng. Với phổ ký chủ rộng nên phòng trừ bệnh này gặp rất nhiều khó khăn. Sử dụng giống kháng bệnh hay cây ghép là giải pháp có hiệu quả cao.

Trang 1

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Tôi xin chân thành cám ơn T.S Trần Ngọc Hùng, Trưởng Bộ môn Côngnghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điềukiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cám ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Huế về sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Nhân dịch này tôi cũng xin bày tỏ lòng cám ơn đến T.S Trương Thị HồngHải đã hỗ trợ kinh phí đi lại, nơi ở trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Cám

ơn Bộ môn Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội đã cung cấpgiống cũng như các trang thiết bị cho các hoạt động của đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bècùng tập thể lớp Khoa học cây trồng-44 đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điềukiện thuận lợi cho tôi trong qua trình học tập và hoàn thiện khóa luận

Huế, tháng 5 năm

2014 Sinh viên thực hiện

Lê Thị Ngọc Hằng

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

HXVK Héo xanh vi khuẩn

Isolate Chủng vi khuẩn phân lập

R solanacearum Ralstonia solanacearum Smith

P solanacearum Pseudomonas solanacearum Smith

Cs Cộng sự

Trang 3

CTV Cộng tác viên

TD Trích dẫn

TLB Tỷ lệ bệnh

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 4

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA

Trang 6

MỤC LỤC

Trang 7

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết

Cây cà chua (Lyeopersicum esculentumMill) thuộc họ Cà (Solanaceae) là

một trong những cây rau chính, chiếm vị trí thứ hai sau khoai tây, được trồnghầu hết các nước trên thế giới Cà chua được sử dụng dưới nhiều hình thức khácnhau như ăn tươi, làm salat, nước uống hoặc chế biến làm dạng dự trữ, sản phẩmchế biến cũng có nhiều dạng như đống hộp dạng quả bốc vỏ, dạng cô đặc, dạngketchup, nước sốt cà chua, mứt cà chua, Cà chua là loại rau có giá trị dinhdưỡng cao, chứa nhiều glucid, nhiều axit hữu cơ Thành phần của cà chua chứanhiều chất khoáng và vitamin, trong chất khô gồm đường (glucoza, fructoza,sucroza) 55%, chất không hòa tan trong rượi (protein, pectin, polysacarit )21%,axit hữu cơ 12%, chất vô cơ 7% và các chất khác (carotenoit, ascobic, chất dễbay hơi, amino axit ) 5% Về mặt dinh dưỡng cà chua còn chứa nhiều Vitamin

C (20-60mg trong 100g, Vitamin A (2-6mg trong 100g), sắt và các khoáng chấtcần thiết cho cơ thể con người Cà chua cung cấp năng lượng và chất khoánglàm tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyệt,chống độc Cà chua còn dùng làm mỹ phẩm, chữa trứng cá

Cà chua là một trong số những cây rau màu quan trọng, được phân bốrộngrãi ở nhiều nước trên thế giới.Tuy nhiên việc gieo trồng cà chua vẫn gặp nhiềukhó khăn, trở ngại.Một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển sảnxuất và làm giảm năng suất cà chua đó là sâu và bệnh hại Trong đó đáng chú ý

hơn cả là bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra.

Bệnh héo xanh vi khuẩn (bệnh HXVK) do vi khuẩn Ralstonia

solanacearum Smith (R solanacearum Smith) là một trong những bệnh có

nguồn gốc từ đất gây hại rất phổ biến và nghiêm trọng ở vùng nhiệt đới và cậnnhiệt đới Bệnh HXVK gây hại trên cây cà chua ở hầu khắp các nước thế giớinói chung và tất cả các vùng trồng cà chua ở nước ta nói riêng Với phổ ký chủrộng nên phòng trừ bệnh này gặp rất nhiều khó khăn Sử dụng giống kháng bệnhhay cây ghép là giải pháp có hiệu quả cao

Nguồn gene kháng bệnh đã được xác định ở một số mẫu giống:PI127805A, PI129080, CRA66, AS52 Tuy nhiên tính kháng rất phụ thuộc vàochủng vi khuẩn Bên cạnh đó, nhân tố môi trường biến động cũng gây nên tính

Trang 8

kháng của chúng không ổn định.Hiện tương tương tự xảy ra đối với các giốnggốc ghép đã làm ngọn ghép cũng bị nhiễm bệnh.

Di truyền tính kháng bệnh héo xanh ở cà chua rất phức tạp và không đồngnhất ở các mẫu giống.Tính kháng được xác định là lặn, trội không hoàn toàn, vàtrội do 1 gene, hai gene hay nhiều gene quy định

Bệnh này rất khó phòng chống do vi khuẩn có khả năng tồn tại lâu dàitrong đất, trong cơ thể ký chủ thực vật còn trong hạt giống, củ giống, vi khuẩn

có thể tồn tại được tới 7 tháng Hơn nữa vi khuẩn R solanacearum có phổ ký

chủ rất rộng, nó có thể ký sinh trên 35 họ cây trồng khác nhau và các kết quảnghiên cứu cho đến nay cho thấy hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật đều cóhiệu quả rất thấp đối với bệnh này (Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân, 1998) [9].Phòng chống dịch hại bảo vệ cây cà chua là một trong những biện pháp quantrọng để cho năng suất, chất lượng sản phẩm cao và ổn định, ở dạng tươi đônglạnh hay chế biến ra những sản phẩm có giá trị cao, qua đó nâng cao khả năngcạnh tranh của nông sản Việt Nam ở thị trường trong nước cũng như trên thịtrường quốc tế

Bệnh HXVK là một bệnh vi khuẩn quan trọng nhất trên cây họ cà

(solanacearum) ở vùng nhiệt đới, đặc biệt thời vụ trồng có thời tiết nóng ẩm.

Bệnh này là một thách thức lớn đối với sản xuất cà chua ở nước ta Ngoài cây cà

chua, vi khuẩn R.solanacearum còn có khả năng ký sinh trên 200 loài cây trồng,

cây rừng Bệnh này gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về năng suất trênnhiều cây trồng từ 15 đến 95%, thậm chí 100% trên cây cà chua, 70% trên câykhoai tây, và 90% trên cây lạc

Ở nước ta, với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều mưa,rất thích hợp cho sự phát triển của bệnh HXVK.Trong thực tế, bệnh đã phát triển

và gây hại nghiêm trọng ở nhiều vùng trồng cà chua, khoai tây, thuốc lá, lạc vàcây cà Tỷ lệ nhiễm bệnh HXVK trung bình trên cây cà chua tại các tỉnh miềnBắc cao từ 13 đến 28%, thậm chí mất trắng.Vào từng giai đoạn sinh trưởng củacây cà chua thì mức độ hại sẽ khác nhau Không những làm giảm năng suất,bệnh HXVK còn là nguyên nhân chính hạn chế việc trồng cà chua ở các vụtrồng chính (vụ thu đông và vụ xuân hè) và nhiều vùng chuyên canh rau màutrước đây đã phải bỏ cà chua chuyển sang trồng các loại cây khác cho thu nhậpthấp hơn nhưng ổn định và ít rủi ro hơn

Những năm gần đây một số kết quả của công trình nghiên cứu về bệnhHXVK trên cây lạc, cây thuốc lá và cây khoai tây đã được công bố.Các kết quả

Trang 9

này bước đầu đã được áp dụng trong sản xuất lạc, thuốc lá và khoai tây đã gópphần đáng kể vào việc tăng năng suất và chất lượng của các cây trồng này.Tuynhiên trên cây cà chua và nhiều cây trồng khác các nghiên cứu về mức độ phổbiến, mức độ gây hại của bệnh HXVK vẫn còn thiếu và chưa có hệ thống Đểbiết rõ hơn về mức độ phổ biến và gây hại của bệnh HXVK này chúng tôi đã

tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá độc tính của các chủng vi khuẩn

Ralstonia solanacearum trên các giống cà chua ở các tỉnh miền Bắc”

1.2.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu trên góp phần làm cơ sở khoa học cho việcchọn giống cà chua có tính kháng cao để bố trí trồng ở những vùng thích hợpvới mục đích hạn chế bệnh cao nhất có thể

1.3.Mục đích của đề tài

Đánh giá độc tính của các chủngvi khuẩn Rastonia solanacearum trên

mỗi giống cà chua được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc

Đánh giá khả năng kháng bệnh của các giống cà chua trên các dòng vikhuẩn gây bệnh héo xanh được phân lập ở các tỉnh miền Bắc

Trang 10

Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng: bờ biển Tây Nam Mỹnằm giữa dãy núi Andes và biển, trải dài từ Ecuador đến Peru là trung tâm khởinguyên của cà chua Theo De candelle và nhiều tài liệu nghiên cứu của nhiều tácgiả cho rằng: cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Peru, Ecuador, Chile,Bolivia và các nước vực Nam Mỹ thuộc khu vực nhiệt đới khô hạn.

Theo Luckwill (1943) cà chua từ Nam Mỹ được đưa vào Châu Âu từ nhữngnăm đầu cuối thế kỹ 16 do những nhà buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha [11]

Cà chua được đưa tới châu Âu vào thế kỹ 18, đầu tiên là Philippin,Indonexia và Malaysia.Từ đây cà chua được trồng phổ biến đến các vùng kháccủa châu Âu [12]

Cà chua được du nhập vào châu Âu tương đối sớm (giữa thế kỹ 16),nhưng đến giữa thế kỹ 17 mới được trồng phổ biến, song tại thời điểm đó càchua chỉ được xem như cây cảnh và có quan niệm sai lầm là quả có chất độc vì

cà chua thuộc họ cà cứ họ hàng với cây cà độc dược Năm 1650 ở Bắc Âu, thờigian đầu cà chua chỉ được dùng để trang trí và thỏa mãn tính tò mò Cho đến thế

kỹ 18, cà chua mới được xác nhận là cây thực phẩm, cây thực phẩm này lần đầutiên được trồng ở Italia và Tây Ban Nha, đến năm 1750, được dùng làm thựcphẩm ở Anh, sau đó được lan rộng ra khắp mọi nơi trên thế giới [13]

Cuối thế kỹ 18 cà chua được trồng ở các nước thuộc Liên Xô cũ, sau đó giữathế kỹ 19 mới được chấp nhận rộng rãi ở Hoa Kỳ, Pháp và các nước khác

Ở nước ta, các giống cà chua được trồng chủ yếu thuộc 3 nhóm sau đây:

Trang 11

+ Cà chua múi: quả to, nhiều ngăn tạo thành múi Quả có vị chua nhiềuhạt, ăn không ngon nhưng cây con mọc khỏe, sao quả, chống chịu sâu bệnh khá.Giống điển hình là cà chua múi Hải Phòng

+ Cà chua hồng: quả hình quả hồng, không có múi hoặc múi không rõ.Thịt quả nhiều bột ăn ngon Cây chống chịu sâu bệnh kém hơn cà chua múi, cácgiống chính là : Đại Hồng, Yên Mỹ, số 7, Hp 5

+ Cà chua bi: cây sai quả, quả ăn chua Cây chống chịu sâu bệnhkhá.Nhóm cà chua này dễ trồng nhưng giá trị kinh tế thấp, thường nông dântrồng trong vườn để tự túc trong vụ hè [11]

2.1.2 Giá trị của cà chua

2.1.2.1.Giá trị dinh dưỡng

Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, theo Tạ Thu Cúc và

CS, thành phần hóa học có trong quả cà chua chín như sau: nước 94-95%, chấtkhô 5-6%, trong đó gồm các chất chủ yếu như: đường (glucoza, fructoza,saccaroza) chiếm 55%, các chất không hòa tan trong rượu (protein, xenlulo,pectin, polisaccarit) chiếm 21%, axits hữu cơ (xitric, malic, galacturonic,pyrolidoncaboxylie) chiếm 12%, chất vô cơ 7%, các chất khác (carotenoid,ascorbic axit, chất dễ bay hơi, amino axit…) 5%

Kết quả phân tích 100 mẫu giống ở đồng bằng sông Hồng của tác giả TạThu Cúc và CS, trong quả cà chua có thành phần hóa học như sau: chất khô từ4,3 – 6,4%, đường tổng số từ 2,6 – 3,5%, hàm lượng các chất tan từ 3,4 – 6,2%,axit tổng số từ 0,22 – 0,72%và hàm lượng các vitamin C từ 17,1 – 38,8% [12]

Khi so sánh thành phần dinh dưỡng của cà chua với một số rau quả khácnhư: táo, chanh, anh đào, dâu tây thì Beeker-Billing thấy rằng: nhóm vitamintrong quả cà chua chiếm tỷ lệ cao hơn (vitamin A, C, B1, B2) đặc biệt là vitamin

A và C gấp 10 lần dâu tây, gấp 2 lần so với anh đào

Hạt cà chua chứa 24% dầu và dịch chiết được sử dụng trong công nghiệp

đồ hộp, dầu khô được dùng trong dầu giấm được sử dụng cho công nghiệp chếbiến bơ [11]

Với giá trị dinh dưỡng cao nên cà chua là loại rau được trồng phổ biến ởcác châu lục, là món ăn thong dụng của nhiều nước và là loại rau có giá trị sửdụng cao

Bảng 2.1.Thành phần dinh dưỡng trong 100g cà chua nguyên liệu và các

sản phẩm của cà chua

Trang 12

Súp càchuaβ-carotene (µg) 449 270 290 75

Lycopene (µg) 2573 9037 15152 5084Lutein và Zeaxanthin

(µg)

Phytoene (µg) 1860 1900 2950 1720Phytofluene (µg) 820 830 1270 720

α-tocopherol (mg) 0,54 0,32 2,08 0,50Vitamin A (IU) 833 450 348 193Vitamin C (mg) 12,70 18,30 7,00 27,30

2.1.2.2 Giá trị kinh tế

Cà chua có giá trị sử dụng cao Cà chua là loại cây trồng cho sản phẩmvừa để ăn tươi, vừa để nấu nướng và là nguyên liệu cho chế biến công nghiệpvới các sản phẩm đa dạng mà thị trường thế giới có nhu cầu cao như: nước càchua, cà chua cô đặc, cà chua muối

Sản phẩm cà chua cho giá trị kinh tế cao so với các cây trồng khác.Về sảnlượng chiếm 1/6 sản lượng rau hàng năm trên thế giới và luôn đứng ở vị trí số 1.Theo các tác giả Ware G.W và Mc Collum (1997) bình quân thu nhập trên 1ha

ở Mỹ như sau: cà chua: 4,610USD, lúa mì: 1,740USD, lúa nước: 1,027USD vàcác loại rau khác trung bình là 2,537USD Ở Việt Nam, cà chua là cây rau quantrọng của nhiều vùng chuyên canh, là cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao Theo

số liệu điều tra của phòng kinh tế thị trường (Viện nghiên cứu rau quả), sản xuất

cà chua ở đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 43 – 68,4 triệuđồng/ha/vụ với mức lãi thuần 15 – 26 triệu đồng/ha cao gấp nhiều lần so vớitrồng lúa

Trang 13

Như vậy cà chua là cây có giá trị cao, cho thu nhập vượt trội hơn so vớilúa nước, lúa mì, ngô và một số loại rau màu khác Vì vậy, cà chua là cây manglại thu nhập cao cho người sản xuất

2.1.2.3 Các giá trị khác

Cà chua là 1 loại rau ăn quả cao cấp dược trồng phổ biến nhất ở nhiềunước trên thế giới với sản lượng 48 triệu tấn/năm, chiếm vị trí thứ 2 sau khoaitây Cà chua là cây ưa nhiệt, được trồng phổ biến từ đồng bằng đến miền núi

Ngoài giá trị dinh dưỡng, quả có màu đỏ nên có giá trị thẩm mỹ cao, quảđược trang trí trong các món ăn càng thêm sự hấp dẫn

Cà chua có tác dụng về mặt y học Theo Võ Văn Chí (1997), cà chua có vịngọt tinh mát, giải nhiệt chống hoại huyệt, kháng khuẩn, lọc máu, nhuận tràng,giúp hoạt hóa tốt tinh bột Nước ép cà chua kích thích gan, tốt cho dạ dày Càchua là loại quả có khả năng chống lão hóa mạnh nhất vì có chứa hàm lượngLicopen – một hoạt chất không bị mất đikhi nấu chín, cà chua cung cấp nănglượng, cung cấp khoáng, làm tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giảinhiệt, chống hoạt huyết, chống nhiễm khuẩn, chống nhiễm độc, làm kiềm hóacác quá trình axit, lợi tiểu, thải Ure, giúp tiêu hóa dễ dàng tinh bột Cà chuađược chỉ định dùng ăn hay lấy dịch quả để uống trị suy nhược, ăn không ngonmiệng, nhiễm độc mãn tính, thừa máu…

2.2 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và trong nước

2.2.1 Trên thế giới

Cà chua là loại cây trồng tuy được chấp nhận như là một loại thực phẩm

và có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng do nó có khả năng thích ứngrộng, hiệu quả kinh tế và giá trị sử dụng cao Trên thế giới đã có nhiều giốngmới được ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về

số lượng và chất lượng

Theo FAO (2013), hiện nay có tới 158 nước trồng cà chua Diện tích,năng suất và sản lượng cà chua trên thế giới cho đến năm 2011 như sau:4.734.356 nghìn ha, 10,58 tấn/ha, 159.023.383 tấn [14]

Trong số 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến nhất thế giới thì càchua đứng thứ 2 chỉ sai khoai tây, diện tích lớn hơn nhiều lần so với các loại raukhác, cho thấy được tầm quan trọng của cây cà chua trong vấn đề tiêu thụ và sửdụng của thế giới (bảng 2.2)

Trang 14

So với các cây trồng khác, cà chua có lịch sử phát triển tương đối muộnsong với tính năng đa dụng về giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế nên cà chuađược phát triển rộng khắp các châu lục.

Bảng 2.2 Diện tích 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến trên thế giới

Nguồn: W.W.W.FAO.org (FAO Database Static)

Theo số liệu FAO (2013), diện tích trồng cà chua trên thế giới 2010 đạt4,53 triệu ha, sản lượng 152,055 triêu tấn giảm hơn 1% so với năm 2009, tuynhiên vẫn tăng hơn so với các năm 2007, 2008 và có xu hướng tiếp tục tăngsang năm 2011 với mức tang xấp xỉ 2% (bảng 2.3)

Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua toàn thế giới (2007 –

Trang 15

có sự thay đổi đáng kể.

Theo bảng 2.4 thì năm 2010, Châu Á có diện tích trồng là 2.439,49 nghìn

ha và sản lượng 81.812,01 nghìn ha, lớn nhất thế giới Tuy nhiên Châu Úc vàChâu Mỹ có năng suất lớn nhất: Châu Úc là 63,28 tấn/ha và Châu Mỹ là 50,86tấn/ha

Bảng 2.4: Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm

2010

Tên châu lục Diện tích

(100 ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(1000 tấn)Châu Phi 860,74 20,02 17.236,03Châu Mỹ 479,07 50,86 24.365,66Châu Á 2.439,49 33,58 81.812,01

Nguồn: FAO Database Static 2011

Bảng 2.5: Những nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới năm 2010

STT Tên nước Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 16

Nguồn: FAO Database Static 2011

Cà chua là loại rau có hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quantrọng của nhiều nước ở cả dạng ăn tươi và chế biến

Đứng đầu về tiêu thụ cà chua là nước Mỹ, sau đó là các nước Châu Âu.Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới năm 1999 là 36,7 triệu tấn, trong

đó cà chua dùng ở dạng ăn tươi chỉ chiếm 5-7% Điều đó cho thấy cà chua được

sử dụng chủ yếu ở dạng đã qua chế biến

Bảng 2.6: Những nước có giá trị nhập khẩu cà chua lớn nhất thế giới năm

Trang 17

7 Tây Ban Nha 189319 79044 4.175,175

8 Hà Lan 156280 265068 18.240,850

10 Ai Cập 103498 58049 5.608,707

Nguồn: FAO Database Static 2009

Cà chua chế biến được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới nhưng nhiềunhất ở Mỹ và Italia Ở Mỹ gần 85% sản lượng cà chua chế biến được sản xuất ởCalifornia với việc thu hoạch được cơ giới hóa toàn bộ Sản xuất cà chua chếbiến ở Mỹ được thực hiện trên quy mô lớn, mỗi trang trại dao động từ 70 – 500

ha thậm chí tới 2400 ha [6] Năm 2002, Mỹ đạt sản lượng nhiều nhất ước đạt10,1 triệu tấn Trong đó các sản phẩm cà chua chế biến chủ yếu là cà chua côđặc Ở Italia, sản lượng cà chua chế biến ước tính đạt được là 4,7 triệu tấn

Sản phẩm cà chua đã trở thành mặt hàng tiêu thụ phong phú Mức tiêu thụ

cà chua trong khẩu phần ăn hàng ngày đã tăng mạnh trong 4 thập kỹ qua Mặtkhác, sự phát triển nhanh chóng của ngành sản xuất đồ hộp với sự tham gia đáng

kể các sản phẩm chế biến đã làm cho mức tiêu thụ sản phẩm cà chua chế biếntăng mạnh và ổn định

Ở Châu Á, Đài Loan là một trong những nước có nền công nghiệp chếbiến cà chua sớm nhất.Ngay từ 1918, Đài Loan đã phát hiện cà chua đóng hộp.Năm 1931 mặc dù sản xuất cà chua của Nhật Bản tăng lên nhưng sản phẩm càchua chế biến của Đài Loan vẫn được thị trường Nhật Bản chấp nhận và nổitiếng ở Nhật Bản

Năm 1967 Đài Loan chỉ có 1 công ty chế biến cà chua là Kagome FoodCompaay là công ty liên doanh giữa Nhật Bản và Đài Loan, lúc đó công ty nàysản xuất cà chua đóng hộp và xuất khẩu sang Nhật Bản với 60% sản lượng, sau

đó ngành công nghiệp cà chua chế biến đã phát triển nhanh ở Đài Loan và đếnnăm 1976 đã có tới 50 nhà máy sản xuất cà chua đống hộp

Thái Lan là một nước ở khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới với đa dạng của các chủng loại rau quả song gần đây Thái Lan cũng đã bắt đầu tập trung vào các sản phẩm chế biến có gí trị cao Một trong những sản phẩm đó là

cà chua cô đặc Năm 1991 sản lượng cà chua của Thái Lan đạt 171,9 ngàn tấn (Farrning Japan Vol 31/5/1997)

Trang 18

2.2.2 Tình hình sản xuất cà chua Việt Nam

Cà chua là cây mới du nhập vào Việt Nam mới được hơn 100 năm nhưng

đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng ngày càng rộng rãi Cà chua

ở nước ta được trồng chủ yếu ở vụ đông với diện tích khoảng 6.800 – 7.300 ha

và thường tập trung ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ ( Hà Nội,Hải Dương, Vĩnh Phúc….), còn ở miền nam tập trung ở các tỉnh An Giang,Tiền Giang, Lâm Đồng…

Trong điều tra của TS Phạm Đồng Quảng với CS, hiện nay cả nước cókhoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieotrồng với diện tích lớn 6.259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước Giống M386được trồng nhiều nhất ( khoảng 1432 ha), tiếp theo là các giống cà chua Pháp,VL200, TN002, Red Crown…Ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1996 đến năm

2001, diện tích trồng cà chua tăng trên 10.000 ha (từ 7.059 ha lên 17.834 ha).Đến năm 2008, diện tích đã tăng lên 24.850 ha Năng suất cà chua nước ta trongnhững năm gần đây tăng lên đáng kể Năm 2008, năng suất cà chua cả nước là

216 tạ/ha bằng 87,10% năng suất thế giới (247,996 tạ/ha) Vì vậy sản lượng cảnước tăng rõ rệt (từ 118.523 tấn năm 1996 lên 535.438 năm 2008)

Bảng 2.7: Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua Việt Nam

Năm Diện tích(ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(tấn)

Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê 2008

Cà chua là một loại rau ăn trái đã và đang nắm giữ vị trí quan trọng và làtâm điểm nghiên cứu của các nhà chọn tạo giống cây trồng trong tương lai Nhờvậy mà hàng loạt các giống cà chua mới, năng suất cao, phẩm chất tốt được rađời để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Để phục vụ công tác đócần sử dụng rất nhiều phương pháp như lai tạo, chọn lọc, xử lý đột biến, nuôicấy invitro…

Trang 19

Theo sô liệu thống kê của Cục Trồng trọt, trong những năm gần đây chothấy: Năm 1996 cả nước có 7509 ha với sản lượng 118,523 tấn, năng suất trungbình đạt 280.289 tấn, năng suất trung bình đạt 157,17 tạ/ha, vào năm 2008 diệntích trồng cà chua cả nước là 24.850 ha tăng 7.016 ha so với năm 2001, với năngsuất trung bình 216 tạ/ha, sản lượng đạt 535.438 tấn (bảng 2.8) Năng suất cảnước ta năm 2007 đã có sự tiến bộ đáng kể sô với các năm trước và đạt 73% sovới năng suất chung của thế giới

Bảng 2.8: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chuaViệt Namgiai đoạn 2007

19.6821,5524,97

455,58535,44494,33Miền Bắc

2007

2008

2009

12,3812,688,40

18,4510,5620,97

228,40247,95176,13Đồng bằng sông Hồng

2007

2008

2009

7,838,095,77

22,0023,3823,90

172,10189,29238,32Lâm Đồng

2007

2008

2009

4,064,645,14

33,8639,7643,18

137,52184,39221,94Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006 – 2010

Trang 20

So cùng thời điểm 2009 thì Việt Nam chỉ đóng góp 0,005% về diện tích,0,003% về sản lượng và đạt 70% về năng suất so với thế giới.

Nước ta cà chua tập trung ở một số vùng thuộc đồng bằng sông Hồng vàtỉnh Lâm Đồng: riêng 2 khu vực này chiếm hơn 50% diện tích, hơn 70% sảnlượng, năng suất cao hơn trung bình của cả nước, đặc biệt là tỉnh Lâm Đồng caohơn 1,8% lần so với cả nước các tỉnh còn lại tuy diện tích, năng suất và sảnlượng không nhiều nhưng cũng đã đóng góp đáng kể về thành phần chung của

cả nước

Bảng 2.9:Sản xuất cà chua của một số tỉnh năm 2008

Địa phương Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

215,5397,6206,9320,4256,8219,2187,4235,3173,264,5225,3

5354381343904295936941313012897822351129911297065005943Nguồn: Vụ nông nghiệp – Tổng cục thống kê (Niêm giám thống kê 2010, NXB

Hà Nội)Những năm gần đây, với việc ứng dụng các giống cà chua có năng suấtcao, sản lượng cà cua của Việt Nam đã tăng lên rõ rệt và cây cà chua đang làmột trong những cây trồng có thế mạnh của nhiều vùng nông nghiệp trong cảnước Tuy nhiên theo Trần Khắc Thi (2003), sản xuất cà chua ở nước ta hiệnnay có một số tồn tại chhủ yếu: chưa có bộ giống tốt cho từng vụ trồng, đặc biệt

là các giống cho vụ thu dông, cà chua được trồng chủ yếu trong vụ đông xuân(hơn 70%) từ tháng 12 – 4, còn hơn một nữa thời gian trong năm trong tình

Trang 21

trạng thiếu cà chua Đầu tư cho sản xuất còn thấp, nhất là phân hữu cơ và thuốcbảo vệ thực vật.chưa có quy trình canh tác và giống thích hợp cho mỗi vùng.

So với các nước trong khu vực, sản xuất cà chua ở Việt Nam có lợi thế rõrệt do khí hậu thời tiết, đất đai của nước ta, đặc biệt các tỉnh phía bắc phù hợpcho sinh trưởng, phát triển của cà chua, nếu được đầu tư tốt, năng suất cà chua

sẽ rất cao Diện tích cho phát triển cà chua còn rất lớn vì trồng trong vụ đông,không ảnh hưởng đến hai vụ lúa nhưng sản phẩm lại là so với Trung Quốc, nước

có khối lượng cà chua lớn nhất thế giới (20 triệu tấn/năm)

Hiện nay chúng ta đã xây dựng được vùng nguyên liệu 1.000 ha tại HảiPhòng, Hải Dương – phục vụ nhà máy chế biến cà chua cô đặc (công suất 3.500– 3.800 tấn sản lượng/năm) phục vụ nội địa và sản xuất, kết quả thực hiện năm

2003 – 2004 đã thu mua được 4.000 tấn nguyên liệu phục vụ nhà máy (đạt 20%công suất), tiêu thụ chủ yếu tại thị trường nội địa

Nhìn chung, việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm cà chuatrong thời gian qua đã có nhiều cố gắng Tuy nhiên, thực tiễn đã xuất hiện một

số vấn đề tồn tại như:

-Năng suất tại các vùng sản xuất còn thấp

-Tình hình nhiễm sâu bệnh hại tại các vùng cà chua còn khá cao

Đây cũng là một số nguyên nhân dẫn đến cà chua của chúng ta khó có thểcạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới

Tuy nhiên theo dự đoán của một số nhà chuyên môn thì trong một vàinăm tới diện tích và năng suất đều sẽ tăng nhanh do:

- Các nhà chọn giống trong những năm tới sẽ đưa ra sản xuất hàng loạtcác giống có ưu điểm cả về năng suất và chất lượng, phù hợp tùng vùng sinhthái, từng mùa vụ nhất là các vụ trái,giải quyết rau giáp vụ

Trang 22

- Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới sẽ được phổ biến và hướng dẫn nôngdân các tỉnh.

- Nước ta đã đưa vào một nhà máy chế biến cà chua cô đặc theo dâychuyền hiện đại tại Hải Phòng với công suất 10 tấn nguyên liệu/ngày Vì vậyviệc quy hoạch vùng trồng cà chua để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đangtrở nên cấp thiết nhất là ở các tỉnh Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương,Thái Bình

2.3 Tình hình bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum hại trên cây

cà chua và một số cây trồng khác

2.3.1 Trên thế giới

Bệnh HXVK phân bố rộng rãi, phổ biến và gây tác hại nghiêm trọng ởvùng nhiệt đới, á nhiệt đới và những vùng có khí hậu ấm và ẩm trên thế giới.Trên lạc, bệnh HXVK đã được công bố ở Indonesia vào năm 1905 (TD từ ĐỗTấn Dũng, 1999)và mức độ gây hại có thể làm giảm năng suất 90% đối với lạc,16% đối với cà chua và 18% đối với khoai tây Hàng năm ước tính thiệt hại dobệnh HXVK trên lạc lên đến 50.000 đến 150.000 tấn (Machmud et al 1994)[15]

Ở Trung Quốc, bệnh HXVK gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại câytrồng và phân bố rộng rãi, không chỉ có trên cây họ cà như cà chua, cây cà,khoai tây, thuốc lá, gừng, mà còn gây hại phổ biến trên cây thân gỗ như ôliu(Olea europoeo), cây dâu (Moris alba) Trên lạc bệnh HXVK được phát hiện từnhững năm 1930 ở những vùng trồng lạc ở phía nam Với diện tích trồng lạc 3,3triệu ha, hàng năm có tới 200.000 ha (khoảng 6% trong tổng diện tích) bị nhiễmbệnh với mức độ phân bố rộng rãi ở 17 tỉnh trồng lạc (TD từ Đỗ Tấn Dũng1999) Mức độ nhiễm bệnh rất khác nhau và thay đổi theo vùng với 1 – 5% ởcác vùng có luân canh lạc- lúa, 10 – 30% ở những vùng khô còn những vùng bịnặng tỷ lệ này lên đến 50% (OCRI, 1977) Bệnh gây thiệt hại ước tính 45.000 –65.000 tấn lạc hàng năm (Tan et al 1990)

Với điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới ở Malaysia, bệnh HXVK gâyhại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng.Trên cây lạc tỷ lệ cây nhiễm bệnhtrung bình từ 5 đến 20% và là nguyên nhân chính làm diện tích trồng lạc giảm từ5.197 ha năm 1980 còn 1.318 ha năm 1986 với sản lượng tương ứng từ 19.437tấn giảm còn 5.000 tấn (Hamidah et al 1993) Bệnh cũng được phát hiện trêncác cây trồng khác như: cà chua, khoai tây, thuốc lá, cây cà

Trang 23

Bệnh HXVK do vi khuẩn R solanacearum là một bệnh hại nghiêm trọng,

có phân bố rộng rãi ở Thái Lan Bệnh được phát hiện trên cây cà chua từ năm

1957, cây ớt, cây khoai tây.Bệnh gây giảm năng suất đáng kể đối với cà chua,khoai tây, gừng, cà, ớt, thuốc lá, lạc vừng

Trên cà chua và cây cà ở Sri Lanka, bệnh HXVK được phát hiện từ năm

1930 Bệnh là đối tượng hạn chế sự mở rộng sản xuất cà, khoai tây Trên cây càchua mức độ thiệt hại có thể lên đến 81,5% trên giống mẫn cảm Marglobe và47% đối với giống Talatuoy Các nghiên cứu về mức độ phổ biến, phân bố, táchại của bệnh đã được nhiều tác giả đề cập

Ở Brazil, tỷ lệ bệnh HXVK trung bình trên cà chua của 30 vùng điều tra

là 13,1% trong đó có 7 vùng tỷ lệ bệnh từ 20,1 đến 50% và 1 vùng tỷ lệ bệnh lớnhơn 90%

2.3.2 Trong nước

Những thông tin đầu tiên về bệnh HXVK như một bệnh hại quan trọngtrên cây lạc được thể hiện trong báo cáo Đặng Thái Thuận năm 1968 Trong báocáo kết quả điều tra bệnh cây năm 1967 – 1968 của Viện Bảo vệ thực vật cũng

đã chỉ rõ bệnh HXVK khá phổ biến ở đồng bằng, trung du và miền núi phía BắcViệt Nam Đối với cây cà chua, bệnh HXVK đã và đang là vấn đề nan giải vànghiêm trọng đối với các vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội và các vùng phụcận Tạ Thu Cúc và CTV (1983) [2] cho biết: trong các loại bệnh chủ yếu hại

cây cà chua như mốc sương, virus, bệnh HXVK thì bệnh HXVK do loài R.

solanacearum gây hại nghiêm trọng Bệnh phát sinh và gây hại nặng ở những

vùng đất trũng, không thoát nước, đất thịt nặng hoặc những chân ruộng bónnhiều đạm, không cân đối với lân và kali

Nghiên cứu về phạm vi ký chủ của loài R solanacearum Smith, Đoàn Thị Thanh và CTV (1995) cho rằng vi khuẩn R solanancearum không những gây

hại trên cây khoai tây mà còn ký sinh và gây hại trên cây cà chua, thuốc lá, lạc,cây cà Tác giả còn cho rằng đây là loài vi khuẩn đa thực, có phạm vi , ký chủrộng, gây hại chủ yếu trên các cây thuộc họ cà (Solanaceae), họ đậu(Leguminasae)

Lê Lương Tề (1997) [10] đã nghiên cứu về triệu chứng của bệnh héoxanh, đặc tính sinh học và quy luật phát sinh phát triển của bệnh và một sốhướng phòng trừ Tác giả đã nêu ra phạm vi ký chủ của loài vi khuẩn R

Trang 24

solanacearum trên cây cà chua, khoai tây, lạc, thuốc lá, cây cà, vừng, ớt và câyđay.

Nghiên cứu về tính phổ biến của bệnh HXVK trên cây trồng cạn, tác giả

Đỗ Tấn Dũng (1995) [6] cho rằng bệnh HXVK phát sinh phát triển và gây hạinghiêm trọng trên cây cà chua, khoai tây, lạc Trên cây thuốc lá tỷ lệ nhiễm bệnh

do R solanacearum có phần nhẹ hơn

Đỗ Tấn Dũng đã cho biết những kết quả nghiên cứu ban đầu về bệnhHXVK hại cây cà chua, đặc tính sinh học của vi khuẩn gây bệnh, phương phápchuẩn đoán nhanh và một số biện pháp phòng chống ban đầu trên một số câytrồng cạn như lạc, thuốc lá, cà chua, v.v

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng với việc xuất hiện ngàycàng nhiều “vành đai xanh” để đáp ứng nhu cầu cung cấp rau và sản phẩm rau,quả, nông sản thực phẩm cho các thành phố thì việc hình thành những vùngchuyên canh rau màu là tất yếu Đó cũng là tiền đề quan trọng cho việc phátsinh, phát triển và lan truyền của bệnh với tốc độ ngày càng nhanh Trên quanđiểm này tác giả Tung P.X (1986) cho rằng bệnh HXVK phổ biến ở các vùngsản xuất cà chua, khoai tây, thuốc lá, lạc với mức độ nhiễm bệnh biến động tùythuộc chủng loại cây trồng, vùng sinh thái và có tính mùa vụ, tùy thuộc điềukiện thời tiết Cũng theo tác giả thì ở Việt Nam bệnh gây hại nghiêm trọngtrong mùa nóng ẩm (tháng 4 đến tháng 10) và có xu thế nhẹ ở những tháng mùakhô (tháng 11 đến tháng 3) Riêng ở khu vực Đức Trọng (Lâm Đồng) thì có hơn15% diện tích khoai tây bị nhiễm bệnh HXVK

Về tác hại của bệnh HXVK đối với khoai tây trong quá trình bảo quản,

Ngô Đức Thiệu và CTV (1978) cho rằng R solanacearum có thể là nguyên

nhân của bệnh thối ướt và gây thiệt hại khoảng 20 – 25%

Kết quả nghiên cứu bệnh HXVK hại khoai tây của Viện Bảo vệ thực vật(1971 – 1976) đã chỉ ra rằng bệnh hại nguy hiểm đối với các vùng sản xuấtkhoai tây Những yếu tố sinh thái liên quan tới sự phát sinh, phát triển và tác hạicủa bệnh trên khoai tây cũng đã được đề cập

Hà Minh Trung và CTV (1989) khi nghiên cứu bệnh HXVK trên cácgiống khoai tây nhập nội đã chỉ ra rằng triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh chết

xanh của khoai tây trên đồng ruộng là do R solanacearum gây ra Tác giả cũng

cho rằng loại bỏ củ bệnh, củ xây xát sẽ góp phần hạn chế sự lây lan phát triểncủa bệnh

Trang 25

Khi điều tra sâu bệnh hại trên cây thuốc lá ở vùng đồng bằng và trung dumiền Bắc Việt Nam, Vũ Triệu Mân cho rằng bệnh HXVK trên thuốc lá ở vùng

Ba Vì là dịch hại nguy hiểm nhất Kết quả điều tra và khảo sát tình hình nhiễmbệnh trên 7 giống thuốc lá: C176, K326, C347, K51M, DVD, VIR131, XNN ở 3

vụ trồng trong vụ xuân cho thấy bệnh phát sinh và gây hại nặng trên tất cả cácgiống, đặc biệt là giống K51M và giống DVD có tỷ lệ bệnh ở cuối vụ đến 100%,các giống C176 và K326 có mức nhiễm nhẹ hơn, nguyên nhân có thể là do trồngđộc canh cây thuốc lá trên cùng một vùng đất mà không có sự luân canh với láunước

Theo Đường Hồng Dật (1977) [4] bệnh HXVK gây hại thuốc lá ở các giaiđoạn sinh trưởng, bệnh thường nặng ở giai đoạn cây đã lớn, sắp và đang thuhoạch lá Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện độ ẩm cao.Vi khuẩn gây bệnh

có thể tồn tại lâu dài trong đất ẩm và trong tàn dư cây nhiễm bệnh

Cũng như trên thuốc lá, kết quả điều tra, nghiên cứu thành phần sâu bệnhhại thuốc lá vàng ở phía Bắc Việt Nam của Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá(Nguyễn Văn Biếu và CTV 1996) [1] cho biết: bệnh HXVK là một trong nhữngbệnh phổ biến ở các vùng trồng thuốc lá như Hà Tây, Bắc Giang, Cao Bằng,Lặng Sơn, Hà Nội Bệnh phát sinh và gây hại nặng ở Ba Vì, Hà Tây, nơi tỷ lệbệnh lên đến 20%, trong khi đó ở các vùng khác bệnh nhẹ hơn Các tác giả chorằng bệnh HXVK phát sinh, phát triển tùy thuộc vào thời vụ, giống, kỹ thuậtcanh tác và vùng sinh thái trồng cây thuốc lá (Mehan và CTV, 1991)

Năm 1964, Trại thí nghiệm Bắc Trung bộ (Nghệ An) đã phát hiện thấybệnh xuất hiện rải rác ở một số vùng trồng lạc ven sông Lam, song đến năm

1966 trở đi bệnh phát triển rộng khắp tất các nơi, trên tất cả các vùng đất màu,đất cát, đất đồi, đất đỏ bazan, ở vùng đồng bằng cũng như trung du Bệnh gâyhại nghiêm trọng với mức độ gây thiệt hại từ 10 – 30%, tuy nhiên có nhiềutrường hợp bệnh làm mất thu hoạch hoàn toàn, nhất là Nghệ An (Đặng TháiThuận và CTV, 1968)

Báo cáo tại Hội nghị quốc tế các nhóm công tác nghiên cứu về bệnhHXVK hại lạc lần thứ 3 tại Trung Quốc do Viện Nghiên cứu cây trồng cạn quốc

tế (ICRISAT) tổ chức, tác giả Nguyễn Xuân Hồng và CTV (1994) đã báo cáohiện trạng bệnh HXVK hại lạc tại Việt Nam Tác giả cho biết bệnh HXVK hạilạc là một trong những loại bệnh phổ biến, bệnh phát sinh, phát triển thuận lợitrong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm tương đối cao Bệnh này gây hại nặng hơn ở

vụ lạc thu so với vu lạc xuân

Trang 26

Theo Lê Lương Tề (1997), bệnh HXVK hại lạc thường phát sinh ở cả haithời vụ trồng là vụ lạc xuân và lạc thu Trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao,

ẩm ướt, cây sinh trưởng kém, đất cát thô, nhất là trên đất trồng độc caanh bệnhgây hại nặng

Nghiên cứu đặc điểm phân bố, tác hại của bệnh HXVK hại lạc, xác định

race, biovar của loài vi khuẩn R solanacearum ở phía Bắc Việt Nam, Nguyễn

Xuân Hồng và CTV (1997) [3] đã cho rằng bệnh HXVK phát sinh và gây hạinặng trên vùng đất đồi, đất bãi ven sông, còn trên đất luân canh với lúa nước thìmức độ nhiễm bệnh nhẹ hơn Nghiên cứu đặc tính sinh học của các nguồn vikhuẩn phân lập từ các vùng sinh thái khác nhau kết quả cho thấy các nguồn vi

khuẩn R solanacearum phân lập được kiểm tra đều có tính độc cao đối với lạc

và một số cây ký chủ khác và các mẫu phân lập được đều thuộc race 1, biovar 3

Nguyễn Thị Ly và CTV (1993) khi nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh

HXVK hại lạc đã thấy rằng loài R solanacearum được phân lập từ các mẫu

bệnh được thu thập từ các vùng khác nhau có tính độc khác nhau Điều đó cónghĩa là cần thiết phải chọn lọc ra các giống kháng thích hợp với các vùng sinhthái

2.4 Đặc điểm của vi khuẩn Ralstonia solanacearum

Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng bệnh HXVK do vi khuẩn có tên

khoa học là Pseudomonas solanacearum Smith (P solanacearum Smith), có

hình gậy ngắn, tròn ở hai đầu gây ra Vi khuẩn thường gặp ở dạng đơn lẻ, ghépđôi hoặc bốn hiếm khi thấy chúng kết hợp thành chuỗi Kích thước của chúngtrong khoảng 1,0 – 1,5 1,5 – 0,6μm Chúng có từ một đến vài tiêm mao vàluôn chuyển động

Trang 27

Khuẩn lạc có bề mặc trơn, nhẵn, ít khi gồ ghề, hơi chảy hoặc không chảy, có thể

có màu trắng, trắng đục hoặc phớt hồng trên môi trường TZC Cả nguồn vikhuẩn có tính độ cao và nguồn có tính độc thấp đều có lông nhỏ ở rìa (Mehan et

al 1994) Vi khuẩn gây bệnh HXVK là ký sinh đa thực Nó có thể gây hại trên

cà chua, lạc, thuốc lá và nhiều cây trồng, cây rừng và cỏ dại.Vi khuẩn có thể tồntại lâu dài trong đất, trong tàn dư cây bệnh và trên cỏ dại Nhiều công trình của

các tác giả trước đây đã công bố cho thấy sự tồn tại của vi khuẩn R.

solanacearum bị ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện môi trường như: nhiệt độ và độ

ẩm đất

Ở một số loại đất, vi khuẩn có thể tồn tại nhiều năm Tuy nhiên sự tồn tại

đó phụ thuộc vào loại race của loài R solanacearum có mặt trong đất và thường

race 1 tồn tại nhiều năm hơn so với race 3 do khả năng sống sót của race 3 bị

giảm sút nhanh Ở lớp đất có độ sâu 55 – 65cm vi khuẩn R.solanacearum, race

3, biovar 2 có thể tồn tại được 82 ngày, còn ở lớp đất bề mặt (10 – 15cm) thìrace 3 chỉ tồn tại được 10 ngày Ở Nhật Bản, Okabe, 1975 đã phát hiện thấy vi

khuẩn R solanacearum ở độ sâu 80 – 100cm trên cánh đồng trồng thuốc lá bị

nhiễm bệnh tự nhiên sau thu hoạch 4 tháng Trong tàn dư cây bị bệnh, vi khuẩn

có thể sống sót được tới 7 tháng còn trong đất tới 14 tháng (Nakata, 1927) Theo

Granada anh Sequieira, (1983) vi khuẩn R solanacearum có thể tồn tại trong

đất trong một số năm do vậy việc trồng cà chua cây họ cà trên các vùng nhiễmbệnh nặng là gần như không thể

Nghiên cứu những đặc tính sinh hóa chính của vi khuẩn R.solanacearum,

He et al (1983) đã chỉ ra rằng:

Vi khuẩn không hóa lỏng gelatin, thủy phân tinh bột, không có khả năng

tạo ra indol và không sử dụng arginin Ngược lại R solanacearum có khả năng

tạo ra H2S, khử nitrat, có khả năng thủy phân T.ween 80, phản ứng dương tínhLe-van, phân giải đối với sữa limut, có phản ứng oxidasa và catalasa, ure,pectin, oxi hóa axetat, malonat và gluconat

Vi khuẩn R solanacearum là vi khuẩn hiếu khí, không hình thành bào tử

và có khả năng tổng hợp poly-β - hydroxybuty rat như là nguồn cacbon dự trữ

Nó có thể tổng hợp sắc tố khuyếch tán nitrat thành nitrit và tạo ra khí nhưngkhông thể thủy phân tinh bột, hóa lỏng yếu hoặc không hóa lỏng getatin Nhiệt

độ thích hợp cho vi khuẩn phát triển trong khoảng 25 đến 35 R.

solanacearum có phản ứng rất khác nhau với kháng sinh, các biovar có thể mẫm

Trang 28

cảm với streptomycin, nhưng chống chịu với penixilin, viomyxin, (He et al.1983).

Tính độc của vi khuẩn có mối quan hệ với hình thái khuẩn lạc và các racetổng hợp polysachrit ngoại bào (Kelman et al 1954) Các biovar đột biến của

R.solanacearum có thể được phát hiện dễ dàng khi chúng được cấy vạch trên

môi trường thạch Kelman có 2,3,5-triphenyl tetrazolium clorit (TZC) sau 36-48giờ (Kelman, et al 1954) Những đột biến có tính độc hay không có tính độcthường hình thành các khuẩn lạc màu trắng, thể nhầy lỏng, khoanh tròn mực vớimàu phớt hồng ở tâm Khả năng tổng hợp chất nhầy polysacharit là một thuộc

tính chung của tất cả các chủng phân lập R solanacearum có tính độc Tuy

nhiên sự tương quan giữa khả năng tổng hợp chất nhầy và tính độc của vi khuẩnrất phức tạp

Về mặt sinh hóa của tính độc, năm 1963 khi nghiên cứu so sánh sự tổng

hợp IAA (axit indol 3-axetic) ở R solanacearum dạng chảy không cố định có

độc tính và dạng chảy không độc, Sequeira and Williams, 1963 đã phát hiện rarằng cả hai dạng đều tổng hợp IAA dễ dàng ngay cả khi tryptophan không cómặt trong môi trường nuôi cấy Khi cấy trên môi trường TZC, tế bào vi khuẩn

R.solanacearum tạo thành các khuẩn lạc có bề mặt nhẵn, hơi chảy, màu trắng

đục ở rìa và phớt hồng ở tâm

Hình 1: Vi khuẩn Ralstonia solanacearum trên môi trường TZC

Trang 29

Nguồn: Hình ảnh Hằng, 2014

2.5 Sự phân chia vi khuẩn Ralstonia solanacearum

Dựa vào khả năng sử dụng, oxy hóa 3 loại rượu mạch vòng (hexosealcohol) là manitol, sorbitol, dulcitol và 3 loại đường lactoza, maltoza,cellobioza Hua et al 1984 đã nghiên cứu và phân loại vi khuẩn đến biovar (thứsinh học) Theo các tác giả, loài R solanacearum có 5 biovar gây bệnh HXVK

đó là:

Biovar 1: không có phản ứng oxy hóa cả hai nhóm dường và nhóm rượu Biovar 2: chỉ oxy hóa nhóm đường và không oxy hóa nhóm rượu

Biovar 3: có phản ứng oxy hóa của nhóm đường và nhóm rượu

Biovar4: chỉ có phản ứng oxy hóa nhóm rượu

Biovar 5: chỉ oxy hóa lactoza, maltazo, cellobioza và manitol mà khôngoxy hóa sorbitol và dulcitol

Cho đến nay, đã có nhiều tác gả công bố kết quả nghiên cứu về race của

loài R.solanacearum Người ta đã phát hiện công bố 5 race khác nhau trên cơ

bản phân biệt về phạm vi ký chủ, phân bố địa lý và khả năng tồn tại ở nhữngmôi trường khác nhau

Race 1 bao gồm biovar 1,3,4 phân bố rộng ở các nước Tấn công trênnhiều vùng địa lý, loại cây trồng khác nhau.Đặc biệt trên các cây như khoai tây,

cà chua, cà tím, ớt, thuốc lá, đậu phụng.Vi khuẩn Ralstonia solanacearum thuộc

race 1 thường gây hại ở những vùng có nhiệt độ ấm áp và gây hại nặng ở vùngnhiệt đới

Race 2 gồm biovar 1 gây héo chuối có phân bố hẹp ở một số nước

Race 3 bao gồm biovar 2 có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ với phạm vi

ký chủ hẹp nhưng phân bố khá rộng ở nhiều vùng, nhiều nước thuộc châu Phi,châu Mỹ và châu Đại Dương Đặc biệt race 3 đã phát hiện gây hại trên khoai tây

ở nhiều nước có khí hậu ôn đới của châu Âu từ những năm 90 Chủ yếu tấn côngtrên khoai tây

Race 4 gồm biovar 4 gây héo cây gừng ở Trung Quốc, Philippin và một

số nước khác

Trang 30

Race 5, biovar 5 chỉ gây hại ở cây dâu tằm (TD từ Đỗ Tấn Dũng, 1999)[8].

Sự phân chia các race thường rất phức tạp do phụ thuộc vào thành phầncây ký chủ và phạm vi phân bố của chúng

Theo Martin và French (1997), race 1 lưu tồn nhiều năm trong đất, ngượclại race 3 thường có xu hướng giảm sau vài năm nếu không có khoai tây dại làm

ký chủ

Mỗi race, biovar của loài R solanacearum đều có tính độc, phạm vi ký

chủ khác nhau và phân bố rộng rãi ở khắp các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới vàmột số vùng có khí hậu ôn đới

2.6 Triệu chứng gây hại của bệnh héo xanh vi khuẩn

Đặc điểm của bệnh là cây héo đột ngột nhưng lá vẫn còn xanh Quan sát

rễ cây và thân cây phần trong bị sũng nước, sau đó chuyển sang màu nâu Nếucắt đoạn thân cây bệnh để vào trong cốc nước, chúng ta sẽ thấy những giọt dịch

vi khuẩn màu trắng sữa chảy ra

Cây nhiễm bệnh biểu hiện ban đầu là các lá ngọn héo xanh rũ xuống, vềsau các lá phía gốc tiếp tục héo xanh cụp xuống, cuối cùng dẫn tới toàn cây héo

rũ tái xanh, gãy gục xuống và chết

Hiện tượng héo xanh ban đầu xảy ra có thể ở một cành, thân hoặc mộtnhánh về một phía của cây cà chua, sau đó dẫn tới toàn cây héo xanh rũ xuống.Quan sát những cây nhiễm bệnh thường thấy ở phần phía gốc sát mặt đất vỏthân sù sì đó là nét triệu chứng đặc trưng của cây cà chua khi bị bệnh héo xanh

vi khuẩn

Hình 2: Triệu chứng cây cà chua bị bệnh

Trang 31

Nhiệt độ thích hợp 24-37oC.Nhiệt độ gây chết 52oC Vi khuẩn xâm nhiễm vào

rễ, thân cuống lá qua các vết thương cơ giới do nhổ cây giống đem về trồng (cà chua) do côn trùng hoặc tuyến trùng tạo ra, do chăm sóc vun trồng…Vi khuẩn cũng có thể xâm nhập vào qua các lỗ hở tự nhiên, qua bì khổng trên củ (khoai tây) Sau khi đã xâm nhập vào rễ lan tới các bó mạch dẫn xylem, sinh sản phát triển ở trong đó Sản sinh ra các men pectinaza và cellulaza để phân huỷ mô, sinh ra các độc tố ở dạng exopolysaccarit (EPS) và lipopolysacrit (LPS) vít tắc mạch dẫn cản trở sự vận chuyển nước và nhựa trong cây, dẫn tới cây héo nhanh chóng

Bệnh lan truyền từ cây này sang cây khác trên đồng ruộng nhờ nước tưới,nước mưa, gió bụi, đất bám dính ở các dụng cụ dùng để vun sới, chăm sóc cây.Vai trò của tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne incognita và các loài tuyến trùngkhác hoạt động ở trong đất, tạo vết thương cho vi khuẩn lan truyền, lây bệnh hỗnhợp rất đáng chú ý để ngăn ngừa

Bệnh xuất hiện gây hại ở cả giai đoạn vườn ươm cây con và ở ruộng trồngngoài sản xuất, gây hại nặng khi cây cà chua đã lớn, nhất là giai đoạn ra nụ - hoa

Trang 32

đến hình thành quả non - quả già thu hoạch Ở giai đoạn cây con nhiễm bệnhthường làm toàn bộ lá héo rũ nhanh chóng, lá héo xanh gục xuống, cây chếtxanh Bệnh phát triển mạnh và nhanh trong điều kiện nhiệt độ cao, mưa gió,nhất là ở trên đất cát pha, thịt nhẹ hoặc đất đã nhiễm vi khuẩn, trồng các giốngmẫn cảm từ trước Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát sinh pháttriển của bệnh Nhiệt độ thích hợp nhất là 24 – 370C, ẩm độ cao, tưới nhiều, tướingập rãnh đều là điều kiện tốt cho bệnh xâm nhiễm phát triển mạnh, lan truyền

Đất khô ải hoặc ngâm nước dài ngày (luân canh lúa nước), bón phân đạm hữu

cơ, phân hoai mục với lượng cao (thâm canh) đều có khả năng làm giảm bệnh.Nguồn bệnh vi khuẩn đầu tiên lưu truyền qua vụ qua năm là đất, tàn dư cây bệnh

và giống (khoai tây) Ở trong đất vi khuẩn có thể bảo tồn sức sống lâu dài tới 5-6năm hoặc 6 - 7 tháng tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, loại đất, cácyếu tố sinh vật và các yếu tố khác Đối với cà chua, hầu như các giống trồngtrong sản xuất của nước ta đều nhiễm Sự phát sinh phát triển của bệnh HXVKtrên cà chua có liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh như: nhiệt độ và độ

ẩm đất, lượng mưa, gió, kết cấu và pH đất, v.v Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩnphát triển trong khoảng từ 25 đến 35 nhiệt độ tối thiểu là 10 và tối đa là 41

; pH thích hợp 7,0 – 7,2 (Kelman et al 1994) Bệnh thường gây thiệt hại nặng

ở những vùng nhiệt đới với nhiệt độ trên 25 ở độ sâu 5cm cùng với độ ẩm cao

Độ ẩm đất và các vi sinh vật đối kháng cũng là những yếu tố hạn chế quan trọngkhống chế hay thúc đẩy của phát triển của bệnh Lượng mưa cũng ảnh hưởng rất

lớn đến sự phát triển của vi khuẩn R.solanacearum Ở những vùng có mưa

nhiều, nhiệt độ đất và không khí trong khoảng 25 đến 35 bệnh thường gâythiệt hại nặng nề về kinh tế Sau những trận mưa, thời tiết nóng hoặc xen kẽ giữangày mưa và nắng ấm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển nhanh vàhậu quả là bệnh sẽ xảy ra nghiêm trọng

2.8 Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh héo xanh vi khuẩn

Trang 33

Thời gian vi khuẩn lưu tồn trong đất phụ thuộc nhiều yếu tố như ẩm độ,nhiệt độ, hóa lý đất Bên cạnh đó còn phụ thuộc vào race 3 thường giảm sau vàinăm do khả năng thích ứng thấp hơn Vi khuẩn có thể lưu tồn trong đất từ 5-6năm, trong cơ thể ký chủ thực vật hoặc trong hạt giống có thể sống tới 7 tháng,còn nếu bám dính trên bề mặt hạt chỉ tồn tại 2-7 ngày (Vũ Triệu Mân và Lê LêLương Tề, 1998).

Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua rễ, vết thương cơ giới, thân nô, lỗ hở tựnhiên, do côn trùng, khi vào bên trong chúng sinh sản rất nhanh làm bít các lỗmạch đồng thời tiết ra độc tố làm các bó mạch bị hóa nâu, đen và gây ra hiệntượng héo do cây bị thiếu nước Dưới những điều kiện thuận lợi vi khuẩn có thể

di chuyển xuyên qua lớp vỏ và đi qua bên ngoài môi trường đất, đó cũng là sựtương tác giữa đất và rễ, rễ bị nhiễm vi khuẩn từ đất và ngược lại vi khuẩn từtrong cây đi ra môi trường đất ( Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1999)

Vi khuẩn lây lan chủ yếu bằng nguồn nước, đất như bám dính vào giầydép, dụng cụ canh tác ( Martin và French, 1997)

Bệnh héo xanh vi khuẩn phát sinh phát triển phụ thuộc vào điều kiện đấtđai như trên các chân đất cao, bệnh thường nặng hơn các chân đát thấp, đất đượcluân canh với lúa nước làm giảm tỷ lệ bệnh đáng kể ( Đỗ Tấn Dũng 2001)

Thời vụ trồng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đến sự phát sinhphát triển của bệnh, thời vụ trồng có mùa mưa nhiều, ẩm độ cao làm gia tăng sựphát sinh phát triển bệnh

Mật độ trồng cao tỷ lệ bệnh thường cao do chúng tạo một vùng khí hậuthuận lợi cho sự phát sinh phát triển bệnh

Vì nước là nguồn lây lan chủ yếu của bệnh, do đó phương pháp tưới làmột trong những yếu tố gia tăng tỷ lệ gây hại của bệnh

2.9 Biện pháp phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn

Vi khuẩn R solanacearum có phổ ký chủ rộng ( trên 35 họ thực vật với

trên 200 loài cây từ cây nông nghiêp đến cây lâm nghiệp và cây cỏ hoang dại),tồn tại lâu trong tàn dư thực vật và trong đất Hơn nữa vi khuẩn có tính đa dạngvới nhiều race, biovar và các dòng có tính độc khác nhau, các biến thể tùy theođiều kiện tự nhiên, môi trường nên phòng chống gặp rất nhiều khó khan Đếphòng chống bệnh HXVK theo phương pháp phòng trừ tổng hợp được hiệu quả,cần thiết phải biết về trạng thái của cây (giai đoạn và hiện trạng sinh trưởng củacây), race và boivar của vi khuẩn có mặt tại khu vực, các biovar và biến thể

Trang 34

(pathotype) cả vi khuẩn và các phương pháp lan truyền Trong các kết quả công

bố của nhiều tác giả cho đến nay, để phòng trừ bệnh, không có một phương phápriêng lẽ nào đem lại hiệu quả Vấn đề được đặt ra là cần kết hợp hài hòa và đồng

bộ các biện pháp như: chọn và dùng giống kháng bệnh, biện pháp hóa học, biệnpháp canh tác, v.vv mới đem lại hiệu quả cao cho công tác phòng chống bệnh

HXVK do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra.

2.9.1 Biện pháp hóa học

Biện pháp dùng hóa chất bảo vệ thực (BVTV) phòng chống bệnh HXVK

được cho là ít có hiệu quả trong phòng chống R solanacearum do vi khuẩn này

có nguồn gốc từ đất, xâm nhập gây bệnh và sinh sản trong hệ thống bó mạch củacây Xử lý đất bằng các loại thuốc xông hơi ít có tác dụng hạn chế bệnh(Murakoshi et al 1984) Dùng các chế phẩm kháng sinh được coi là biện pháp

có triển vọng, thay thế thuốc hóa học do thuốc kháng sinh được hấp thụ tốt,chuyển dịch trong mạch dẫn, trong mô dễ dàng Tuy nhiên dùng kháng sinh dễtạo ra các dạng chủng vi khuẩn mới kháng thuốc Hơn nữa thuốc kháng sinh cógiá thành cao cũng là một trở ngại cho việc ứng dụng rộng rãi Farag et al.(1982), Wang et al (1982) cho biết việc khảo nghiệm thuốc trừ bệnh HXVK cholạc đã được tiến hành từ những năm 1960 – 1970 Một trong số thuốc có hiệuquả là Clopicrin liều lượng 300 kg/ha xử lý đất trước khi trồng lạc 10 ngày chohiệu quả tốt Một số thuốc khác như: Thiabendazol (C5H6N6S2) có thể giảm tỷ

lệ bệnh xuống 50% nhưng do thuốc này có độ độc cấp tính cao với con người vàgia súc nên cho đến nay thuốc này chưa thể áp dụng vào sản xuất Nhiều tác giảkhác cũng công bố các kết quả góp phần chứng minh luận điểm rằng dùng hóachất phòng chống bệnh HXVK có hiệu quả thấp Prior et al (1998), …

Sử dụng một sốvi khuẩn đối kháng như Bacillus sudtilis, Pseudomonasfluorescens đểxử lý hạt trước khi gieo, nhúng rễ cây con trước khi trồng trước(Đỗ Tấn Dũng, 2001)

Sử dụng chế phẩm V58 có chứa vi sinh vật đối kháng trên ruộng đồng càchua ơt Tiền Phong – Mê Linh – Vĩnh Phúc, kết quả thu được có công thức sửdụng V58 tỷ lệ chết giảm còn 25% so với đối chứng 80% ( Lê Như Kiểu, 2001 )

Ngoài ra, chúng ta cần phải làm đất vườn ươm sạch bệnh, cày bừa kỹ, bónđạm vừa phải, phân chuồng phải ủ hoai, luân canh với cây lúa nước và dùngthuốc một cách hợp lý

2.9.2 Biện pháp sử dụng giống lai tạo và giống chống chịu bệnh

Trang 35

Chọn và sử dụng giống kháng bệnh được coi là một trong những biệnpháp hiệu quả và kinh tế nhất để phòng chống bệnh HXVK Chọn, tạo đượcgiống kháng để có thể đưa ra sản xuất là mục tiêu của nhiều chương trình chọn,tạo giống khác nhau Cho đến nay đã có nhiều dòng, giống cà chua với nhiều

nguồn gen kháng R.solanancearum đã được xác định hoặc chọn tạo Tuy nhiên

kết quả sử dụng giống kháng trong phòng chống bệnh HXVK không luôn luônmang lại hiệu quả như mong đợi do tính kháng không ổn định và sự đa dạng củacác dòng (strain) vi khuẩn do tác động của các điêù kiện sinh thái của các vùngkhác nhau (độ ẩm, nhiệt độ, điều kiện đất), đặc biệt là sự tương tác các điều kiệnmôi trường, vi khuẩn gây bệnh và giống Tính kháng bệnh HXVK của cây trồng

là phức tạp và biểu hiện của nó có tương quan rất chặt chẽ với điều kiện của môitrường, tuổi của cây

Scott et al (1992) đã nghiên cứu chọn lọc từ bộ giống có các đặc tính

kháng khác nhau đối với R.solanacearum Kết quả cho thấy rằng, sau 6 vụ đánh

giá tính kháng, các giống Hawaii 7997, CRA66,PI 12648 có khả năng kháng cao

đối với vi khuẩn R.solanacearum so với đối chứng Tỷ lệ cây sống sau nhiễm

tương ứng giao động trong khoảng 61 – 100%, 66 – 97%, 45 – 97% ở các giống

so với 1 – 15% giống nhiễm đối chứng

Barnes et al (1992) đã sử dụng giống nhập từ Philippin VC9-1 có gen

kháng được chủng R.solanacearum tại địa phương để lai với giống Floradel và

đã tạo ra được giống Scorbio Giống này đã được dùng trong thời gian khá dài

để phòng chống bệnh HXVK ở khu vực Tuy nhiên, theo Mew et al (1977) đãcông bố, tính kháng của giống VC9-1 cũng như giống con lai của nó là Scorbio

sẽ không ổn định nếu nhiệt độ vượt quá 32 Các chương trình chọn theo

hướng này đã tạo ra được các giống kháng R.solanacearum như: Redlands và

Redlander từ nguồn có gen kháng của VC9-1 và sau này là Scorbio (Herrington

et al 1988)

Sathyanarayana et al (1992) thông qua kết quả lai tạo giống cà chua cógen kháng vi khuẩn héo xanh (dòng S1-6, S1-11, BWR5, BWR14-1,BWR15SB)với các dòng có năng suất cao, chất lượng quả tốt (thích hợp cho chế biến như

độ khô cao, hàm lượng licopen cao ) nhưng mẫn cảm với R.solanacearum Kếtquả là ở thế hệ con lai F1 các giống đều thể hiện tính kháng cao và có các dặctính cho phép đưa vào sản xuất cà chua cho chế biến

Trang 36

Tại Ấn Độ, Pter et al (1992) đã công bố kết quả nghiên cứu chọn giống

cà chua kháng bệnh Trong 165 dòng giống cà chua, dòng CL32-d-0-1-19 vàdòng Louisiana Pink kháng HXVK

Nhiều nghiên cứu, chọn tạo giống kháng bệnh HXVK đã được công bố,

cho thấy trên thế giới nhiều giống cà chua kháng R.solanacearum đã được chọn

tạo và đưa vào sản xuất hay trở thành vật liệu khởi đầu cho chọn tuyển giốngkháng có khả năng kháng một số bệnh quan trọng và tuyến trùng như Scott J.W

et al (1993) với các giống Hawaii 7998, CRA66, PI126480, Peterson et al.(1983), Somodi (1993)

Tại Nepal, Adhicari et al (1993) đã chọn ra được giống CL1131 và giốngRampur Locar kháng cao bệnh HXVK

Trong kết quả thử nghiệm lây bệnh nhân tạo với chủng BN1, biovar 3, race 1của 36dòng/giống cà chua trong bộ giống kháng chuẩn quốc tê, Trần Văn Lai,Chua Văn Chuông và CTV (2002) đã cho rằng các giống Caraibo Caravel, CLN1464-111-30-45 và một số dòng giống nhóm thuộc Hawaii có khả năng khángbệnh cao, các nguồn gen kháng như: UPCA1169, CRA 84-26-3, VC-1, CRA66,PT127805 A có vai trò quyết định tạo nên tình kháng của một số dòng giốngkhảo nghiệm

Trong các giống cà chua nhập nội có nguồn gốc từ Trung tâm Nghiên cứu

và Phát triển rau Châu Á được lây nhiễm nhân tạo bằng các dòng vi khuẩn

R.solanacearum được phân lập từ các mẫu bị bệnh từ các vùng khác nhau để

đánh giá mức độ kháng, sau đó có những thí nghiệm đánh giá, so sánh và chọngiống khả dĩ có thể áp dụng cho sản xuất kết quả là chọn được giống CHX1 thểhiện tính kháng khá cao, có năng suất cao và ổn định hơn hẳn các giống hiệnđang phổ biến trong sản xuất đã được Hội đồng khoa học của Bộ Nông Nghiệp

và Phát triển Nông thôn cho phép khu vực hóa năm 2002

2.9.3 Biện pháp canh tác trong phòng chống bệnh HXVK

Luân canh cây là R solanacearum với những cây trồng không phải là ký

chủ của vi khuẩn này là một trong những giải pháp quan trọng giúp giảm mật độ

vi khuẩn trong đất va hạn chế tối đa nguồn bệnh từ các tàn dư thực vật từ các vụtrước Một trong các cây trồng được coi là cây không phải là ký chủ và làmgiảm tỷ lệ bệnh đáng kể là cây lúa Luân canh cà chua với cây lúa tỷ lệ nhiễmbệnh HXVK giảm đáng kể Các nghiên cứu từ Philippin, Ấn Độ cho rằng luâncanh cây họ cà với cây một lá mầm như lúa, ngô, mía tỷ lệ nhiễm bệnh HXVKgiảm đáng kể

Trang 37

Để giảm thiểu tác hại của bệnh HXVK, việc trồng khải phối hợp các biệnpháp canh tác như: luân canh, chọn địa điểm, thời vụ trồng, sử dụng đất sạchbệnh, giống xác nhận sạch bệnh, sử dụng dụng cụ lao động đã được tiệc trùng vàdùng nước sạch để tưới cho cây trồng Luân canh để phòng bệnh cũng được cáctác giả đề cập đến luân canh khoai tây với lúa nước ở vùng đồng bằng nhiệt đới

và những cây trồng khác như ngô, mía, lúa mạch đều có tác dụng phòng ngừabệnh phát triển Hơn nữa nếu phơi ải đất 5 tháng và không trồng luân canh vớicây họ cà thì hiệu quả phòng bệnh HXVK sẽ ổn định hơn

Trên cây lạc, biện pháp canh tác cũng được coi trọng trong phòng chốngbệnh HXVK Những nghiên cứu ở Sơn Đông, Trung Quốc cho thấy luân canhlạc với lúa nước trong 3 năm thì tỷ lệ bệnh giảm từ 83,4% xuống 1,5% (Wang et

al 1982) Tác giả He (1990) cũng cho rằng ngâm ruộng 15 - 30 ngày trước trồnglạc hoặc luân canh với cây lúa nước 2 - 4 năm có tác dụng giảm tỷ lệ nhiễmbệnh của lạc Ở các công thức luân canh khác nhau, hiệu quả phòng trừ bệnhHXVK cũng khác nhau theo thứ tự từ cao đến thấp: lạc - lúa nước, lạc - ngô, lạc

- đậu tương, lạc - lạc (giống kháng bệnh HXVK), vụ lạc - khoai lang(Machmud, 1993) Đối với các vùng đất cao, khó khăn trong việc trồng lúa vàtưới nước nói chung thì luân canh với cây lúa mì, đại mạch, tiểu mạch, ngôtrong chu kỳ 4 -5 năm cũng có tác dụng giảm tỷ lệ bệnh Trên chân đất sét, bónvôi kết hợp với phân hữu cơ cũng có hiệu lực phòng bệnh nhưng không ổn định.Kết quả nghiên cứu của Chang et al (1998) cũng chỉ ra rằng sự thay đổi thànhphần đất qua việc bổ xung oxit canxi cùng với các thành phần các chất hữu cơ,

vô cơ trong đất cũng như ure cũng có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh

2.9.4 Sử dụng phương pháp ghép vào phòng chống bệnh héo xanh vi khuẩn

Kỹ thuật ghép trong sản xuất cây giống rau được ứng dụng lần đầu tiêntại Nhật Bản năm 1927 để chống bệnh héo do Fusarium sp Trên dưa hấu, người

Nhật Bản đã nghiên cứu ứng dụng ghép dưa hấu (Citrullus lanatus) trên gốc bầu, ghép cà trên gốc cà tím (Solanum integrifolium) vào những năm 50 và ghép

dưa chuột vào những năm 60 và ghép cà chua vào những năm 70 của thế kỹ XX

Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh hại đến sản xuất rau, người ta đãtiến hành điều tra ảnh hưởng của các nguyên nhân đến năng suất của rau Quađiều tra 881 mẫu ở các điều kiện khác nhau, kết quả cho thấy bệnh hại là nguyênnhân chính (72%) gây mất mùa đối với sản xuất rau, trong đó bệnh có nguồngốc từ đất chiếm tỷ lệ cao nhất (60,9%), trong khi đó các bệnh khác là nguyênnhân gây mất mùa ở tỷ lệ 11,1% Oda (1995) Điều này cho thấy để trồng rau đạt

Trang 38

năng suất cao và ổn định, nhiệm vụ hàng đầu là phải phòng chống các bệnh cónguồn gốc từ đất.

Tác giả Wang et al (2000) đã sử dụng 3 giống cà tím kháng bệnh HXVK

là EG 190, EG 203, EG 219 làm gốc ghép và dùng cành ghép là giống cà chuaquả nhỏ (cherry tomato): Satana, ASVEG#6 sau đó cây ghép được lây nhiễmnhân tạo và trồng trong nhà lưới Kết qủa là trong vụ hè, giống ASVEG#6 có từ

20 - 31,8% số cây bị chết xanh so với 100% số cây không được ghép bị chết doHXVK Tương tự là kết quả đối với giống Satana ghép trên 3 gốc cà tím nói trênnhưng tỷ lệ cây héo ở mức độ lớn hơn từ 34,7 - 55,0% Ở vụ thu khi điều kiệnkhông hoàn toàn thích hợp với bệnh, nhưng tỷ lệ bệnh cây chết héo do HXVK

có sai khác khá lớn từ 2,1 - 12,5% tùy theo gốc ghép so với 17,2% cây héo ở đốichứng Về năng suất và chất lượng cà chua ghép, giống Satana, ở các công thức,dưới áp lực của bệnh hại, cây cà chua ghép trên gốc cà tím kháng bệnh đã tăngnăng suất với chất lượng đảm bảo bằng hoặc tốt hơn so với không ghép (độ Brixcao hơn) Các nghiên cứu về cơ chế káng bệnh HXVK của cây cà chua ghép trêngốc ghép kháng bệnh HXVK cũng đã được Grimault et al (1994) nghiên cứu vàcông bố

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ

NGHIỆM

Ngày đăng: 28/05/2014, 13:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Diện tích 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến trên thế giới - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.2. Diện tích 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến trên thế giới (Trang 14)
Bảng 2.5: Những nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới năm 2010 - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.5 Những nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới năm 2010 (Trang 15)
Bảng 2.4: Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm 2010 - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.4 Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm 2010 (Trang 15)
Bảng 2.6: Những nước có giá trị nhập khẩu cà chua lớn nhất thế giới năm 2008 - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.6 Những nước có giá trị nhập khẩu cà chua lớn nhất thế giới năm 2008 (Trang 16)
Bảng 2.7: Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua Việt Nam - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.7 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua Việt Nam (Trang 18)
Bảng 2.8: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chuaViệt Namgiai đoạn 2007 – 2009 - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.8 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chuaViệt Namgiai đoạn 2007 – 2009 (Trang 19)
Bảng 2.9:Sản xuất cà chua của một số tỉnh năm 2008 - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 2.9 Sản xuất cà chua của một số tỉnh năm 2008 (Trang 20)
Hình 1: Vi khuẩn Ralstonia solanacearum trên môi trường TZC - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Hình 1 Vi khuẩn Ralstonia solanacearum trên môi trường TZC (Trang 28)
Hình 3: các cấp bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Hình 3 các cấp bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum (Trang 42)
Hình 4: Mẫu cây bị bệnh                  Hình 5: Khuẩn lạc R. solanacearum trên môi trường TZC - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Hình 4 Mẫu cây bị bệnh Hình 5: Khuẩn lạc R. solanacearum trên môi trường TZC (Trang 45)
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn đến tỷ lệ bệnh các mẫu giống cà chua - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn đến tỷ lệ bệnh các mẫu giống cà chua (Trang 48)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn Phú Thọ đến các mẫu giống cà chua - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn Phú Thọ đến các mẫu giống cà chua (Trang 50)
Đồ thị 1: Độc tính của isolatevi khuẩn Phú Thọ trên các giống cà chua thí nghiệm - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
th ị 1: Độc tính của isolatevi khuẩn Phú Thọ trên các giống cà chua thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn Hải Dương đến các mẫu giống cà chua - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của isolate vi khuẩn Hải Dương đến các mẫu giống cà chua (Trang 51)
Đồ thị 2: Độc tính của isolate vi khuẩn Hải Dương trên các giống cà chua 4.2.3. Đánh giá độc tính của chủng vi khuẩn héo xanh phân lập trên cây cà chua ở Quảng Ninh - ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc
th ị 2: Độc tính của isolate vi khuẩn Hải Dương trên các giống cà chua 4.2.3. Đánh giá độc tính của chủng vi khuẩn héo xanh phân lập trên cây cà chua ở Quảng Ninh (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w