Chuyên đề 7NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT: QUỐC PHÒNG, AN NINH QUỐC GIA, AN NINH MẠNG,NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VA AN NINH, DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG DỰ BỊ DỘNG VIÊNI. LUẬT QUỐC PHÒNG NĂM 20181. Khái quát chung, kết cấu Luật Quốc phòng Luật Quốc phòng năm 2018 đã được Quốc hội thông qua ngày 8 tháng 6 năm 2018 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV. Luật Quốc phòng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.Luật Quốc phòng có phạm vi điều chính rộng, chỉ phối toàn bộ hệ thống pháp luật về quốc phòng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Luật Quốc phòng năm 2018 đã thế chế đầy đủ quan điếm, đường lối của Đảng về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng họp để bảo vệ Tố quốc; đồng thời, đã cụ thế hóa Hiến pháp năm 2013, thống nhất với hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và pháp luật có liên quan. Đặc biệt, Luật Quốc phòng có nhiều quy định mới, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong bổi cảnh tỉnh hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; hình thái chiến tranh tương lai có nhiều thay đổi, phát triển mới.Kết cấu Luật Quốc phòng gồm: 7 chương, 40 điều.2. Một số nội dung cơ bản của Luật Quốc phònga) Nội dung cơ bảnNguyên tắc hoạt động quốc phòng được quy định tại Điều 3, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tồng họp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân. Kết họp quốc phòng với kinh tế xã hội và kinh tế xã hội với quốc phòng. Kết họp quốc phòng với an ninh, đối ngoại.
Trang 1NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VA AN NINH, DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG DỰ BỊ DỘNG VIÊN
I LUẬT QUỐC PHÒNG NĂM 2018
1 Khái quát chung, kết cấu Luật Quốc phòng
Luật Quốc phòng năm 2018 đã được Quốc hội thông qua ngày 8 tháng 6 năm
2018 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV Luật Quốc phòng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019
Luật Quốc phòng có phạm vi điều chính rộng, chỉ phối toàn bộ hệ thống pháp luật về quốc phòng, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Luật Quốc phòng năm 2018 đã thế chế đầy đủ quan điếm, đường lối của Đảng về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng họp để bảo vệ Tố quốc; đồng thời, đã cụ thế hóa Hiến pháp năm 2013, thống nhất với hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và pháp luật có liên quan Đặc biệt, Luật Quốc phòng có nhiều quy định mới, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trong bổi cảnh tỉnh hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; hình thái chiến tranh tương lai có nhiều thay đổi, phát triển mới Kết cấu Luật Quốc phòng gồm: 7 chương, 40 điều
2 Một số nội dung cơ bản của Luật Quốc phòng
a) Nội dung cơ bản
Nguyên tắc hoạt động quốc phòng được quy định tại Điều 3, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước
- Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tồng họp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt
- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền
an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân
- Kết họp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng
- Kết họp quốc phòng với an ninh, đối ngoại
b) Phòng thủ dân sự
Phòng thủ dân sự được quy định tại Điều 13, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Phòng thủ dân sự là bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân
- Nhiệm vụ phòng thủ dân sự bao gồm:
+ Xây dựng cơ chế hoạt động, kế hoạch phòng thủ dân sự
+ Tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, diễn tập
+ Xây dựng hệ thống công trình phòng thủ dân sự
Trang 2+ Xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, nghiên cứu dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động
+ Thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự
- Lực lượng phòng thủ dân sự bao gồm:
+ Lực lượng nòng cốt gồm dân quân tự vệ; công an xã, phường, thị trấn; lực lượng chuyên trách hoặc kiêm nhiệm của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các bộ, ngành Trung ương, địa phương
+ Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia
- Chính phủ quy định chỉ tiết Điều này
c) Tình trạng chiến tranh và tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
Tuyên bổ, công bổ, bãi bỏ tình trạng chiến tranh được quy định tại Điều 17, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Khi Tổ quốc bị xâm lược, Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh
Khi hành vi xâm lược được chấm dứt trên thực tế, Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng chiến tranh
- Trong trường họp Quốc hội không thế họp được, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tuyên bổ tình trạng chiến tranh và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất
- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bổ, bãi bỏ quyết định tuyên bổ tình trạng chiến tranh
Ban bổ, công bổ, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được quy định tại Điều 18, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bổ tình trạng khấn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ
Khi không còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ
- Căn cứ vào nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quổc hội, Chủ tịch nước công bổ quyết định ban bổ, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở tùng địa phương
Trong trường họp ủy ban Thường vụ Quốc hội không thế họp được, Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị cua Thú tướng Chính phủ
- Chính phủ quy định việc thi hành quyết định ban bổ, công bổ, bãi bở tình trạng khẩn cấp về quốc phòng
Quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được quy định tại Điều 20, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Căn cứ vào quyết định tuyên bổ tình trạng chiến tranh hoặc quyết định ban bổ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền ra mệnh lệnh đặc biệt để bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực có chiến sự
- Người đứng đầu chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có chiến sự phải chấp hành mệnh lệnh đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
d) Thiết quân luật
Trang 3Thiết quân luật được quy định tại Điều 21, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Thiết quân luật là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt có thời hạn do quân đội thực hiện
- Khi an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở một hoặc một số địa phương bị xâm phạm nghiêm trọng tới mức chính quyền ở đó không còn kiểm soát được tình hình thì Chủ tịch nước ra lệnh thiết quân luật theo đề nghị của Chính phủ
- Lệnh thiêt quân luật phải xác định cụ thế địa phương cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
- Lệnh thiết quân luật phải xác định cụ thế địa phương cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thiết quân luật, biện pháp, hiệu lực thi hành; quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân; các quy tắc trật tự xã hội cần thiết ở địa phương thiết quân luật và được công bổ liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước về thiết quân luật, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện lệnh thiết quân luật, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo, chỉ huy đơn vị Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ được giao thực hiện nhiệm vụ tại địa phương thiết quân luật thực hiện các biện pháp thi hành lệnh thiết quân luật theo quy định của pháp luật
- Trong thời gian thiết quân luật, việc quản lý nhà nước tại địa phương thiết quân luật được giao cho đơn vị quân đội thực hiện Người chỉ huy đơn vị quân đội được giao quản lý địa phương thiết quân luật có quyền ra lệnh áp dụng các biện pháp đặc biệt quy định tại khoản 6 Điều này và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện lệnh thiết quân luật và chịu trách nhiệm về việc áp dụng các biện pháp đó Người chỉ huy đơn vị quân đội được giao quản lý địa phương cấp tỉnh thiết quân luật được quyền trưng mua, trưng dụng tài sản Việc trưng mua, trưng dụng tài sản thực hiện theo quy định của Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản
- Các biện pháp đặc biệt được áp dụng trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật bao gồm:
+ Cấm hoặc hạn chế người, phương tiện đi lại; đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại các nơi công cộng
+ Cấm biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa, tụ tập đông người
+ Bắt giữ hoặc cưỡng chế cá nhân, tổ chức có hoạt động xâm hại đến quốc phòng, an ninh phải rời khỏi hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc một khu vực nhất định + Huy động người, phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân
+ Quản lý đặc biệt đối với các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; kiểm soát chặt chẽ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phương tiện thông tin, hoạt động báo chí, xuất bản, cơ sở in, sao chụp, việc thu thập,
sử dụng thông tin
- Mọi hoạt động tại địa phương thiết quân luật phải tuân thủ lệnh thiết quân luật
và các biện pháp đặc biệt
- Việc xét xử tội phạm xảy ra ở địa phương trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Khi tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương thiết quân luật đã ổn định thì Chủ tịch nước ra lệnh bãi bỏ lệnh thiết quân luật theo đề nghị của Chính phủ
Trang 4- Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của người chỉ huy đơn vị quân đội, cơ quan, tổ chức, địa phương liên quan thi hành lệnh thiết quân luật, lệnh bãi bỏ lệnh thiết quân luật
e) Giới nghiêm
Giới nghiêm được quy định tại Điều 22, Luật Quốc phòng năm 2018 như sau:
- Giới nghiêm là biện pháp cấm, hạn chế người, phương tiện đi lại và hoạt động vào những giờ nhất định tại những khu vực nhất định, trừ trường họp được phép theo quy định của người có thẩm quyền tổ chức thực hiện lệnh giới nghiêm
- Lệnh giới nghiêm được ban bổ trong trường họp tình hình an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội tại một hoặc một số địa phương diễn biến phức tạp đe dọa gây mất ổn định nghiêm trọng và được công bổ liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Thẩm quyền ban bổ lệnh giới nghiêm được quy định như sau:
+ Thủ tướng Chính phủ ban bổ lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số địa phương cấp tỉnh
+ Úy ban nhân dân cấp tỉnh ban bổ lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số địa phương cấp huyện
+ ủy ban nhân dân cấp huyện ban bổ lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số địa phương cấp xã
+ Úy ban nhân dân đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban bổ lệnh giới nghiêm tại một hoặc một số khu vực trên địa bàn
- Lệnh giới nghiêm phải xác định nội dung sau đây:
+ Khu vực giới nghiêm
+ Đơn vị đảm nhiệm và nhiệm vụ thi hành lệnh giới nghiêm
+ Thời hạn bắt đầu và kết thúc hiệu lực, nhiều nhất không được quá 24 giờ; khi hết liệu lực, nếu cần thiết phải tiếp tục giới nghiêm thì phải ban bổ lệnh mới
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tố chức, cá nhân trong khu vực giới nghiêm + Quy tắc trật tự xã hội cần thiết ở khu vực giới nghiêm
- Các biện pháp được áp dụng trong thời gian giới nghiêm bao gồm:
+ Cấm tụ tập đông người
+ Cấm người, phương tiện đi lại, hoạt động trong những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định
+ Đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại một số nơi công cộng trong những thời điếm nhất định
+ Đặt trạm canh gác và kiểm soát địa bàn, kiểm tra vật phẩm, hành lý, phương tiện, giấy tờ của người đi lại qua trạm canh gác và kiểm soát
+ Kịp thời bắt giữ và xử lý người, phương tiện vi phạm lệnh giới nghiêm và vi phạm quy định khác của pháp luật
- Chính phủ quy định trình tự ban bổ lệnh giới nghiêm; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương liên quan thi hành lệnh giới nghiêm
II LUẬT AN NINH QUÓC GIA NĂM 2004
1 Khái quát chung, kết cấu của Luật An ninh quốc gia
An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa
và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Bảo vệ an ninh quốc gia là
Trang 5phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia
Ngày 3 tháng 12 năm 2004 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước ( Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật An ninh quốc gia Đây là một đạo luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam được ban hành nhằm tạo ra cơ sở pháp lý thống nhất cho việc bảo vệ an ninh quốc gia Luật An ninh quốc gia quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia
để sẵn sàng đối phó kịp thời, có hiệu quả trước các hành động xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tố quốc
Luật gồm 5 chương, 36 điều
2 Một số nội dung cơ bản của Luật An ninh quốc gia
a) Chính sách an ninh và nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh
Điều 4, Luật An ninh quốc gia năm 2004 quy định về chính sách an ninh quốc gia như sau:
- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và họp tác với tất cả các nước trên cơ sở tổn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi
- Nhà nước có chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị để bảo đảm an ninh quốc gia
Điều 5, Luật An ninh quốc gia năm 2004 quy định về nguyên tắc hoạt động bảo
vệ an ninh như sau:
- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng họp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt
- Kết họp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triến kinh tế, văn hoá, xã hội; phối họp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại
- Chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia
b) Các hành vi bị nghiêm cấm
Điều 13, Luật An ninh quốc gia năm 2004 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm như sau:
-Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm chống chính quyền nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉa cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Nhận nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tham gia, giúp sức, cung cấp tài chính, vũ khí, phương tiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia
- Thu thập, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, tiết lộ, cung cấp, tán phát trái phép tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước
Trang 6- Xâm phạm mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.
- Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia
- Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nuớc, quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức, cá nhân
- Hành vi khác xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan
c) Một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bổ tình trạng khẩn cấp
Áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bổ tình trạng khẩn cấp được quy định tại Điều 21, Luật An ninh quốc gia năm 2004 như sau:
- Khi có nguy cơ đe đọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bổ tình trạng khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủ được quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây: + Tăng cường bảo vệ các mục tiêu quan trọng
+ Tổ chức các trạm canh gác đe hạn chế hoặc kiểm soát người, phương tiện hoạt động vào những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định
+ Thực hiện kiềm soát đặc biệt tại các cửa khấu, các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường bộ
+ Hạn chế hoặc tạm ngừng việc vận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóng xạ thuộc quyền sử dụng họp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ
hồ trợ
+ Cấm, giải tán hoặc hạn chế các cuộc tụ tập đông nguời và những hoạt động của
cá nhân, tổ chức xét thấy có hại cho an ninh quốc gia
+ Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạt động của nhà hát, rạp chỉếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác
+ Kiếm soát việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định
+ Buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú + Huy động nhân lực, vật lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia
- Cơ quan, tố chức, cá nhân phải chấp hành các mệnh lệnh, quyết định của cơ quan và người thi hành các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này
III LUẬT AN NINH MẠNG NĂM 2018
1 Khái quát chung, kết cấu cua Luật An ninh mạng
Thứ nhất, phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian
mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động
Thứ hai, phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các hoạt động
tấn công mạng, khủng bổ mạng, phòng, chống chiến tranh mạng khi hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin nước ta gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự,
Trang 7an toàn xã hội Trong khi đó, khủng bổ mạng nổi lên như một thách thức toàn cầu, chiến tranh mạng là một trong những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia Những vấn đề trên đặt vấn đề phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, có phương án và sự chuẩn bị sẵn sàng để kịp thời xử lý các tình huống xấu có thế xảy ra
Thứ ba, phòng ngừa, ngăn chặn, loại bỏ tác nhân tiến hành hoạt động gián điệp
mạng, sử dụng không gian mạng để chỉếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật nhà nước, đặc biệt là hoạt động xâm nhập, tấn công vào hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; đồng thời, hạn chế và tiến tới không còn tình trạng đăng tải bí mật nhà nước trên mạng Internet do chủ quan hoặc thiếu kiến thức an ninh mạng
Thứ tư, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia và áp dụng các
biện pháp cần thiết, tương xứng Đây là hệ thống thông tin của các mục tiêu quan trọng quốc gia, cơ sở hạ tầng quan trọng quốc gia, cơ quan chứa đựng bí mật nhà nước, nếu bị tấn công, xâm nhập, phá hoại, chỉếm đoạt thông tin có thế gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, gây rối loạn trật tự, an toàn xã hội nên cần có biện pháp bảo vệ chặt chẽ, tương xứng và ở mức độ cao hơn
so với những mục tiêu cần bảo vệ ít quan trọng hơn
Thứ năm, quy định và thống nhất thực hiện phòng ngừa, ứng phó nguy cơ, sự cố
an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia Hoạt động ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng theo quy định của Luật An toàn thông tin mạng hiện nay chỉ phát huy được vai trò bảo đảm 3 thuộc tính của thông tin là tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xử lý sự cố, huy động lực lượng ứng phó, cũng như loại bỏ các tác nhân gây hại tồn tại sẵn bên trong hệ thống thông tin hoặc hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng ảnh hưởng tới hệ thống thông tin quan trọng về
an ninh quốc gia
Thứ sáu, quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an ninh mạng đối với hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, một số quốc gia trên thế giới đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng để áp dụng cho các mục tiêu, đối tượng và yêu cầu bảo vệ an ninh mạng cụ thế Ở nước ta, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng được ban hành rộng rãi, được áp dụng chung cho toàn xã hội, mang tính phổ thông, đại chúng Tuy nhiên, đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, ngoài những tiêu chuẩn an toàn thông tin mạng, cần có những quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an ninh mạng ở mức độ cao hơn để đáp ứng yêu cầu đặt ra
Thứ bảy, triển khai công tác bảo vệ an ninh mạng trong hệ thống cơ quan nhà
nước từ Trung ương đến địa phương Hiện nay, hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước tồn tại nhiều lỗ hổng bảo mật không được khắc phục, nhận thức của cán bộ, nhân viên còn nhiều hạn chế, chưa nhận thức được mức độ cần thiết của công tác an ninh mạng Trong khi đó, công nghệ thông tin đã được ứng dụng rộng rãi từ Trung ương đến địa phương, chính phủ điện tử và các hệ thống điều khiển, xử lý tự động đã xuất hiện ở mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực
Thứ tám, đặt nền móng và triển khai công tác nghiên cứu, dự báo, phát triển các
giải pháp bảo đảm an ninh mạng Hiện nay, công tác này chưa được chú trọng, nhà nước cũng chưa có định hướng quản lý, bảo đảm an ninh mạng đối với các xu hướng công nghệ có khả năng thay đổi tương lai như cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
Trang 8tư, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, dừ liệu nhanh Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, một số quốc gia đã xây dựng nhiều đạo luật chuyên ngành của an ninh mạng, tập trung nâng cao năng lực dự báo, chỉa sẻ thông tin và tăng cường năng lực an ninh mạng
Thứ chín, thường xuyên kiểm tra, đánh giá thực trạng an ninh mạng đối với hệ
thống thông tin của bộ, ngành, địa phương Mặc dù Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì, phối họp với bộ, ngành liên quan triển khai nhiều kế hoạch kiểm tra, đánh giá thực trạng an ninh mạng tại hàng chục bộ, ngành, địa phương nhưng đây là hoạt động đột xuất, chưa được triến khai hằng năm, không tạo thành được trách nhiệm và ý thức kiểm tra, đánh giá an ninh mạng định kỳ Trong khi đó, cơ quan chủ quản hệ thống thông tin chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình, chưa chủ động hoặc triển khai các hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách chỉếu lệ, hình thức Để phòng ngừa, hạn chế nguy cơ an ninh mạng, cần xây dựng quy trình, cơ chế kiểm tra, đánh giá thực trạng
an ninh mạng phù họp, thống nhất trên phạm vi cả nước
Thứ mười, xây dựng cơ chế chỉa sẻ thông tin, thông báo tình hình an ninh mạng
để nâng cao nhận thức về an ninh mạng, chủ động phòng ngừa các nguy cơ an ninh mạng có thế xảy ra
Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều
2 Một số nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng
a) Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng
Điều 8, Luật An ninh mạng năm 2018 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm về
an ninh mạng như sau:
- Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:
+ Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này
+ Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
+ Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tổn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc
+ Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích họp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
+ Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
+ Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội
- Thực hiện tấn công mạng, khủng bổ mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây
sự cố, tấn công, xâm nhập, chỉếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
- Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính,
hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống
Trang 9thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác
- Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công,
vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng
- Lợi dụng hoặc tạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích họp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi
- Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này
b) Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quan lý kinh tế
Điều 16 “Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật
tự quản lý kinh tế” quy định:
- Thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm;
+ Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân
+ Chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chỉa rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tổn giáo và nhân dân các nước;
+ Xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc
- Thông tin trên không gian mạng có nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng bao gồm:
+ Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chỉa rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân
+ Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự
- Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm: + Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác
+ Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích họp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
- Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm:
+ Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác
+ Thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoản
- Thông tin trên không gian mạng có nội dung bịa đặt, sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích họp pháp của cơ quan, tố chức, cá nhân khác
Trang 10- Chủ quản hệ thông thông tin có trách nhiệm triên khai biện pháp quản lý, kỹ thuật để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này trên hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý khi
có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
- Lực lượng chuyên trách báo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp quy định tại các điểm h, i và 1 khoản 1 Điều 5 của Luật này để xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1,2, 3, 4 và 5 Điều này
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch
vụ gia tăng trên không gian mạng và chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm phối họp với cơ quan chức năng xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này
- Tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng
có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này phải gỡ bỏ thông tin khi
có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
IV LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ NĂM 2015
1 Khái quát chung, kết cấu của Luật Nghĩa vụ quân sự
Luật Nghĩa vụ quân sự được kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015 thay thế Luật Nghĩa
vụ quân sự năm 1981 (sửa đổi, bổ sung năm 1990, năm 1994 và năm 2005) Có nhiều quy định mới liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, trong đó có các quyền
và nghĩa vụ về bảo vệ Tổ quốc cần phải được cụ thế hóa Hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước cũng từng bước được hoàn thiện, nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ quân sự đã được ban hành để phù họp với thực tiễn cuộc sống và sự phát triên của đất nước trong công cuộc đổi mới Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới, bảo đảm cho công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc theo quy định của Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, đồng
bộ của hệ thống pháp luật, việc ban hành Luật Nghĩa vụ quân sự là cần thiết
Luật Nghĩa vụ quân sự gồm 9 chương, 62 điều
2 Một số nội dung cơ bản của Luật Nghĩa vụ quân sự
a) Kéo dài độ tuổi gọi nhập ngũ đối với sinh viên được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học
Luật Nghĩa vụ quân sự cũ quy định độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình cao nhất là hết 25 tuổi, dẫn đến tỷ lệ công dân có trình độ cao đẳng, đại học tham gia thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ thấp; khi hoàn thành chương trình đào tạo, nhiều trường họp đã đến tuổi 25 Mặt khác, những công dân không học cao đẳng, đại học thì phải thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ ngay từ khi đủ 18 tuổi, nên đã tạo
ra sự bất bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ quân sự Do vậy, để nâng cao chất lượng công dân nhập ngũ và hạn chế sự bất bình đẳng, Điều 30 của Luật mới, ngoài quy định chung độ tuổi gọi công dân nhập ngũ trong thời bình giống như Điều 12 của
Luật cũ, còn bổ sung thêm: “công dân đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi"
So với Điều 12 của Luật cũ, thì Điều 30 Luật mới còn có sự thay đổi đáng chú ý là: cụm từ “Công dân nam đủ mười tám tuổi” được thay bằng cụm từ “Công dân đủ