1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Phát triển nông sản vùng đồng bằng Sông Cửu Long

31 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Nông Sản Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Kỹ thuật Nông nghiệp
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 395,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (4)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (4)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (4)
    • 1.1 Vị trí địa lý (5)
    • 1.2 Địa hình (0)
    • 1.3 Khí hậu (5)
    • 1.4 Nguồn nước (5)
  • Chương 2: Tình hình sản xuất nông sản và những khó khăn (7)
    • 2.1 Các nhóm nông sản chủ lực (7)
      • 2.1.1 Lúa (7)
      • 2.1.2 Rau màu (7)
      • 2.1.3 Cây ăn trái (7)
      • 2.1.4 Thủy sản (8)
    • 2.2 Những khó khăn (9)
  • Chương 3: Nâng cao chất lượng nông sản của vùng (10)
    • 3.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp (10)
      • 3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất nông sản (10)
      • 3.1.2 Xây dựng hệ thống thủy lợi (10)
      • 3.1.3 Hệ thống giao thông vận tải (11)
    • 3.2 Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất (0)
    • 3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (13)
  • Chương 4: Giải quyết đầu ra cho nông sản (14)
    • 4.1 Sự can thiệp của chính phủ (14)
      • 4.1.1 Cung cấp tín dụng và hỗ trợ người sản xuất (14)
      • 4.1.2 Xây dựng nền tài chính vi mô (14)
      • 4.1.3 Ổn định giá nông sản (15)
    • 4.2 Thành lập hợp tác xã nông nghiệp (15)
    • 4.3 Mở rộng thị trường tiêu thụ (18)
    • 4.4 Thiết lập hệ thống thông tin thị trường (18)
    • 4.5 Sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp (19)
    • 4.6 Bảo hiểm nông sản (20)
    • 4.7 Xây dựng thương hiệu nông sản (0)
    • 4.8 Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nông sản (0)
  • Chương 5: Các mô hình sản xuất kết hợp hiệu quả (0)
    • 5.1 Mô hình trang trại (22)
    • 5.2 VAC (24)
    • 5.3 VACR (26)
    • 5.4 VACB (28)

Nội dung

PHÁT TRIỂN NÔNG SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2- Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu thực trạng sản xuất cũng như tiêu thụ nông sản của vùng ĐBSCL nhằm tiềm kiếm những biện pháp

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ nông sản tại vùng ĐBSCL nhằm tìm kiếm các biện pháp nâng cao chất lượng nông sản Mục tiêu là đảm bảo đầu ra ổn định cho nông sản, từ đó cải thiện đời sống của nông dân trong khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các khái niệm lý thuyết sản xuất nông sản

Phương pháp nghiên phi thực nghiệm: quan sát thực tế thu thập và phân tích số liệu.

Tình hình sản xuất nông sản và những khó khăn

Các nhóm nông sản chủ lực

ĐBSCL hiện trồng khoảng 3,6 đến 3, 7 triệu hécta lúa, tương ứng với lượng giống cần gieo sạ ít nhất là 500.000 tấn Sản lượng lúa năm

2005 đạt 19 triệu tấn, chiếm 53% sản lượng lúa gạo của cả nước

Các vụ chính trong năm bao gồm vụ đông xuân, vụ hè thu và vụ thu đông Trong số đó, vụ đông xuân có năng suất cao nhất, theo thông tin từ Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) Cụ thể, trong vụ đông xuân năm 2008, sản lượng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt trên mức kỷ lục.

2.1.2 Rau màu ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước Hàng ngày, toàn vùng ĐBSCL tiêu thụ bình quân gần 3.000 tấn rau, màu các loại

Hiện nay, cây trồng cạn ở ĐBSCL chủ yếu phát triển theo hình thức luân canh với lúa, thiếu quy hoạch riêng cho các loại cây màu Việc thiếu chính sách hỗ trợ vùng nguyên liệu khiến nông dân trồng cây một cách tự phát, dẫn đến diện tích thấp và khó khăn trong việc thu gom sản phẩm cũng như tìm kiếm thị trường tiêu thụ Các địa phương cần định hướng đầu tư, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích cây trồng cạn, chú trọng nghiên cứu và cải tiến giống cây, đồng thời chuyển giao khoa học kỹ thuật để phát triển các loại cây màu hiệu quả hơn.

ĐBSCL nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng và măng cụt, với sản lượng đạt 3,3 triệu tấn/năm (năm 2006) Tuy nhiên, xuất khẩu trái cây còn hạn chế do năng suất thấp, thiếu đồng đều về chủng loại và hệ thống canh tác manh mún, kỹ thuật lạc hậu Mỗi mùa vụ, tình trạng “trúng mùa lại rớt giá” diễn ra thường xuyên, đặc biệt là sự cạnh tranh không nổi với trái cây ngoại Do đó, cần đầu tư vào hệ thống canh tác, kỹ thuật trồng trọt, bảo quản, bao gói và chế biến Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, nhấn mạnh rằng để có trái ngon, cần tổ chức nhiều cuộc thi để chọn lựa Mặc dù các địa phương ĐBSCL đã nỗ lực trong những năm qua, nhưng hiệu quả vẫn chưa cao, khi trái cây vẫn chú trọng vào số lượng hơn là chất lượng, và diện tích canh tác còn manh mún, không theo quy hoạch vùng.

Tổng diện tích vườn cây ăn trái ở ĐBSCL đạt khoảng 300.000 ha, trong đó có khoảng 120.000 ha trồng các loại cây đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng, bưởi da xanh và bưởi Năm Roi Các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp và Hậu Giang là những nơi tập trung nhiều nhất các loại cây này.

2.1.4 Thủy sản ĐBSCL có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng điểm là đông và tây Nam bộ.Năm 2006, sản lượng khai thác của vùng ĐBSCL đạt khoảng 850.000 tấn, bằng khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cả nước, trong đó trên 80% khai thác từ biển

Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 400.000ha mặt nước nuôi thủy sản, với tổng sản lượng hàng năm vượt 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước Riêng đối với cá tra và basa, diện tích nuôi toàn vùng gần 5.000ha, tổng sản lượng năm 2007 đạt khoảng 1 triệu tấn.

Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của vùng ĐBSCL đạt khoảng 2 tỷ USD, chiếm 60% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước, trong đó tỉnh Cà Mau đóng góp gần 580 triệu USD Sự phát triển mạnh mẽ của chế biến xuất khẩu thủy sản cùng với chế biến và tiêu thụ nội địa đã tạo nên thế mạnh cho ĐBSCL, biến nơi đây thành “vựa cá” lớn nhất cung cấp sản phẩm thủy sản cho TP Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và toàn quốc.

Những khó khăn

Thứ nhất là sản xuất manh mún nhỏ lẽ, khó khăn trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật Do đó năng suất và chất lượng nông sản thấp

Thứ hai là vấn đề chế biến, bảo quản nông sản

Thứ ba là vấn đề thị trường cho nông sản của ÐBSCL

Thị trường nông sản hiện nay đang gặp phải nhiều nghịch lý, khi nông dân phải bán sản phẩm với giá thấp, trong khi người tiêu dùng lại phải mua với giá cao gấp 2 – 3 lần Nguyên nhân chính là do sự tồn tại của quá nhiều trung gian trong chuỗi phân phối nông sản Mặc dù Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã được ban hành nhằm khuyến khích tiêu thụ nông sản qua hợp đồng, nhưng mối quan hệ giữa các bên vẫn chưa được cải thiện.

Vào cuối tháng 10/2008, bưởi Năm Roi ở Mỹ Hoà (Bình Minh – Vĩnh Long) được thương lái mua tại vườn với giá từ 2.500 – 3.000 đồng/kg, tùy loại Anh Nguyễn Minh Hoàng Em, chủ 10 công bưởi, cho biết rằng với mức giá này, người trồng bưởi đang chịu lỗ nặng Trong khi đó, tại cửa hàng bưởi Năm Roi Hoàng Gia, cách vườn nhà anh Minh hơn 5km, giá bưởi lại cao hơn.

1 lên tới 8.000 đồng/kg Và từ đây, nếu hàng được đưa đi siêu thị hoặc tiêu thụ tại các chợ đầu mối, giá có thể lên tới 12.000 – 15.000 đồng/kg.

Nâng cao chất lượng nông sản của vùng

Xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp

Nền nông nghiệp Việt Nam hiện vẫn còn nhỏ lẻ và manh mún, với việc nông dân sản xuất theo tập quán lạc hậu Điều này dẫn đến sản lượng nông sản không lớn, không đồng đều về giống, mẫu mã và chất lượng, từ đó làm tăng giá thành và giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Cần phát triển các vùng sản xuất tập trung dựa trên tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai, nhằm tránh tình trạng nông dân sản xuất tự phát Việc hình thành các vùng sản xuất theo quy hoạch chung là rất quan trọng Một ví dụ điển hình về vùng chuyên canh hiệu quả là HTX vú sữa.

Lò Rèn Vĩnh Kim ở Châu Thành, Tiền Giang vừa ký hợp đồng xuất khẩu 50 tấn vú sữa sang Nga và Đức, với yêu cầu sản phẩm phải đạt chứng nhận GlobalGap Ông Cao Văn Hùng, nông dân trồng vú sữa, cho biết họ đã thực hiện được 128 trong tổng số 144 tiêu chuẩn cần thiết.

Vú sữa Vĩnh Kim được công nhận là sản phẩm an toàn và thân thiện với môi trường, với giá xuất khẩu đạt từ 32.000 đến 40.000 đồng/kg, cao gấp 1,5 lần so với thị trường nội địa Ông Nguyễn Văn Ngàn, Chủ nhiệm HTX, cho biết HTX có 47ha vú sữa trồng theo tiêu chuẩn GlobalGap, với sản lượng bình quân 15 tấn/ha, đủ cung cấp cho Công ty Metro theo hợp đồng đã ký HTX đã ký hợp đồng cụ thể với từng hộ, cam kết thu mua toàn bộ sản phẩm nếu đáp ứng yêu cầu, giúp sản phẩm luôn có giá cao và tiêu thụ ổn định Hiện tại, HTX vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim đang lên kế hoạch mở rộng thêm 40ha đạt chứng nhận GlobalGap.

3.1.2 Xây dựng hệ thống thủy lợi

Tăng cường quản lý và khai thác các công trình thuỷ lợi để đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ Cần xây dựng các phương án quy hoạch thuỷ lợi nhằm hỗ trợ chống sạt lở tại khu vực biên giới với Campuchia, cũng như các khu vực sạt lở ven sông Tiền và sông Hậu Điều này sẽ giúp bảo đảm an toàn và sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê Kông, đặc biệt trong bối cảnh có những thay đổi bất lợi từ thượng nguồn.

Tiếp tục phát triển các công trình thủy lợi mới để phục vụ sản xuất theo quy hoạch vùng chuyên canh, đồng thời sửa chữa hoặc loại bỏ những công trình không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện tại.

Hệ thống thủy lợi cần đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất trong mùa khô và ngăn ngừa ngập lụt trong mùa mưa Cần xây dựng các công trình để chống ngập mặn và nhiễm phèn.

3.1.3 Hệ thống giao thông vận tải Để phát triển theo kịp vận tải đa phương thức trong khu vục và trên thế giới, vận tải thủy nội địa ĐBSCL phải được phát triển toàn diện về hạ tầng cơ sở và phương tiện vận tải Vận tải thủy ở ĐBSCL là phương tiện vận tải quan trọng nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh phía Đông - Nam, bao gồn 5 tuyến vận tải: TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh - Long Xuyên, TP Hồ Chí Minh - Mộc Hóa, TP Hồ Chí Minh - Kiến Lương, TP Hồ Chí Minh - Cà Mau trong đó TP Hồ Chí Minh - Cà Mau và

TP Hồ Chí Minh - Kiên Lương là hai tuyến quan trọng nhất

Phát triển đồng bộ hệ thống luồng tuyến, cảng bến và đội tàu vận tải là cần thiết để tạo ra mạng lưới vận tải đa phương thức hiện đại, giúp hàng hóa nông sản được vận chuyển dễ dàng Cần xây dựng và mở rộng nhiều sông, ngòi để tàu 10.000 DWT có thể vào cảng Cần Thơ, đồng thời tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng hiện có Tập trung nâng cấp các luồng tuyến chính và khai thác điều kiện tự nhiên để phát triển các tuyến liên vận quốc tế, cùng với việc đầu tư vào các cảng đầu mối và cảng khu vực.

3.2 Ứng đụng công nghệ cao vào sản xuất Ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất là mối quan tâm của các nhà khoa học tâm huyết với đồng bằng sông Cửu Long Theo họ, nếu nhìn nhận và triển khai phát triển nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đồng bằng sông Cửu Long sẽ bắt kịp với các trung tâm, đô thị lớn trong nước và trong khu vực

Tốc độ đô thị hóa cao đang khiến diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng thu hẹp, với khoảng 70 ngàn ha đất sản xuất lúa bị giảm mỗi năm Do đó, cần phải nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích Giải pháp cho vấn đề này là áp dụng quy trình sản xuất khép kín, sử dụng máy móc, thiết bị và sản phẩm sinh học từ nền công nghiệp hiện đại Giáo sư Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, nhấn mạnh sự cần thiết phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực này.

Để duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hiện tại, chúng ta cần chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao, vì nếu tiếp tục phương pháp truyền thống, tốc độ tăng trưởng sẽ giảm dần từ 4% xuống 3% và rồi 2% Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp nâng cao năng suất, giảm giá thành, cải thiện chất lượng sản phẩm và tạo ra thị trường ổn định hơn.

Để khuyến khích doanh nghiệp áp dụng mô hình nông nghiệp công nghệ cao, năm đối tượng cụ thể cần được chú trọng bao gồm chăn nuôi kết hợp với chế biến, thủy sản, hoa cắt cành nhiệt đới, rau an toàn và trái cây đặc sản theo quy trình nông sản sạch GAP Tuy nhiên, nguồn nhân lực chưa thích ứng là vấn đề lớn nhất, khi đội ngũ nhà khoa học nổi tiếng đang dần về hưu và lực lượng trẻ thay thế còn mỏng Việc đào tạo nhân tài ở nước ngoài diễn ra chậm và điều kiện đãi ngộ không hấp dẫn Bên cạnh đó, cơ sở vật chất như phòng thí nghiệm hiện đại và trung tâm nghiên cứu công nghệ thông tin vẫn chưa hoàn chỉnh, đòi hỏi sự đầu tư liên tục từ chính phủ Mặc dù còn nhiều thách thức, chính quyền và các nhà khoa học đã khởi động một hội thảo khoa học tại Cần Thơ để bàn về định hướng công nghệ cao cho khu vực, hứa hẹn sẽ cải thiện tình hình với sự phát triển của sân bay quốc tế Trà Nóc và cầu Cần Thơ trong tương lai.

3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Làm nông nghiệp cần đầu tư chất xám để thích ứng với thị trường, đặc biệt tại ĐBSCL, nơi 80% lao động nông nghiệp chưa được đào tạo chính thức Việc dựa vào kinh nghiệm truyền thống đã dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Phát triển nguồn nhân lực cần được thực hiện đồng bộ thông qua việc nâng cao dân trí, tăng cường số lượng và chất lượng giáo dục ở các cấp Cần phát triển đa dạng các hình thức đào tạo nghề phù hợp với từng đối tượng và ngành nghề tại mỗi địa phương Đồng thời, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý và doanh nhân có năng lực, cùng với cơ chế và chính sách hợp lý để thu hút nhân tài và cán bộ khoa học - kỹ thuật trình độ cao Cần thường xuyên bổ sung và áp dụng chính sách sử dụng hiệu quả cán bộ từ các cơ quan, doanh nghiệp trung ương cho tỉnh, huyện, đồng thời thực hiện luân chuyển cán bộ nòng cốt xuống cấp xã.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần đầu tư nhiều hơn vào tri thức và kỹ năng, đặc biệt là tại ĐBSCL, nơi mà 80% lao động nông nghiệp chưa được đào tạo chính quy Việc phụ thuộc vào kinh nghiệm truyền thống đã dẫn đến những bất cập trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Phát triển nguồn nhân lực cần được thực hiện đồng bộ thông qua việc nâng cao dân trí, tăng cường số lượng và chất lượng giáo dục ở các cấp Cần phát triển đa dạng các hình thức đào tạo nghề phù hợp với từng đối tượng và ngành nghề tại địa phương Đồng thời, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý và doanh nhân có năng lực, cùng với cơ chế và chính sách hợp lý để thu hút nhân tài và cán bộ khoa học - kỹ thuật trình độ cao Cần thường xuyên bổ sung và áp dụng chính sách sử dụng hiệu quả cán bộ từ các cơ quan, doanh nghiệp trung ương cho tỉnh, huyện, đồng thời thực hiện luân chuyển cán bộ nòng cốt xuống cấp xã.

Giải quyết đầu ra cho nông sản

Sự can thiệp của chính phủ

4.1.1 Cung cấp tín dụng và hỗ trợ người sản xuất Ngân hàng nông nghiệp khuyến khích nông dân mở rộng đầu tư sản xuất bằng cách cho nông dân vay vốn ưu đãi với lãi xuất thấp Hỗ trợ nông dân khi mua vật tư nông nghiệp như miễn thuế khi nông dân mua những máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp Hỗ trợ về giống cây trồng,vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…

Chính phủ cần thực hiện giảm thuế cho các mặt hàng nông sản, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu, và hỗ trợ đầu tư với lãi suất bằng không cho nông dân nhằm tăng cường năng lực dự trữ Hệ thống dự trữ quốc gia sẽ bao gồm cả dự trữ của Nhà nước và nông gia, giúp người nông dân hưởng lợi nhiều hơn khi giá lúa tăng và giảm thiểu bất lợi do yếu tố mùa vụ.

Khả năng dự trữ của nông dân bị hạn chế do thiếu kho chứa và nhu cầu tiền mặt để trả nợ chi phí sản xuất Do đó, một hệ thống tín dụng hiệu quả ở nông thôn có thể hỗ trợ họ Ngay cả trong thời kỳ lạm phát, việc cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng nông nghiệp và đảm bảo hàng hóa dịch vụ đến khu vực nông thôn một cách thuận lợi sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp trợ cấp trực tiếp cho người nghèo.

Hỗ trợ người sản xuất nông nghiệp bằng cách cung cấp vật tư như phân hóa học, thuốc trừ sâu, và hướng dẫn thâm canh nhằm tăng năng suất trong trồng trọt và chăn nuôi.

4.1.2 Xây dựng nền tài chính Vi mô Hoạt động tài chính vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường, mở rộng tiếp cận tài chính cho khu vực nông thôn Đây thực sự là kênh tài chính có ý nghĩa bởi không chỉ cung cấp vốn, tài chính vi mô còn hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến kinh nghiệm làm ăn hiệu quả cho người nghèo

Phát triển tài chính vi mô là một trong những mục tiêu quan trọng của Chính phủ Việt Nam Dù có nguồn tín dụng phong phú và hệ thống cho vay hiệu quả, Nhà nước không thể giải quyết hoàn toàn các vấn đề tín dụng của người dân Các tổ chức tài chính vi mô đóng vai trò là kênh tín dụng hiệu quả cho người nghèo, đồng thời là giải pháp tối ưu cho chính sách xã hội của Nhà nước Hiện tại, Việt Nam có hàng ngàn tổ chức tài chính vi mô hoạt động, trong đó khoảng 60 tổ chức là phi chính phủ.

Nhà nước luôn chú trọng đến hoạt động tài chính vi mô, thể hiện qua việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam, cùng với Nghị định số 165/NĐ-CP điều chỉnh một số điều trong Nghị định 28 Điều này khẳng định cam kết của Chính phủ trong việc phát triển ngành tài chính vi mô bền vững theo khuôn khổ pháp lý Đây là bước ngoặt quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển của ngành tài chính vi mô trong tương lai.

4.1.3 Ổn định giá nông sản Chính phủ định giá sàn: nhằm bảo vệ người sản xuất đảm bảo cho người sản xuất có lợi nhuận và duy trì sản xuất Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện mua nông sản thừa của nông dân khi cung về hàng hóa nông sản vượt cầu tuy nhiên chỉ mua những mặt hàng có chất lượng cao

Và như thế cũng khuyến khích người sản xuất chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm.

Thành lập hợp tác xã nông nghiệp

Để nâng cao hiệu quả sản xuất, việc liên kết các hoạt động đầu ra và đầu vào là rất quan trọng, và hình thức hợp tác xã trong nông nghiệp là một giải pháp tối ưu Hợp tác xã không chỉ giúp tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên mà còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực, phù hợp với tôn chỉ hoạt động của mình.

+ Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng

Giúp nông dân tiêu thụ hàng hóa một cách dễ dàng và có kế hoạch, đồng thời giảm chi phí và đảm bảo giá cả hợp lý Thúc đẩy buôn bán văn minh và tiêu chuẩn hóa sản phẩm ở mức cao.

+ Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá

+ Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp

+ Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân

Các giá trị này chỉ đạt được khi hợp tác xã hoạt động dựa trên nguyên tắc tự lực, tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả cao và có sự tương trợ lẫn nhau.

Để hợp tác xã nông nghiệp phát triển hiệu quả, cần có sự hỗ trợ từ Nhà nước trong việc tạo ra khung pháp lý, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, điện, nước, và tuyên truyền, quảng bá cho các hợp tác xã Nhà nước cũng cần giúp đỡ trong việc kiểm soát, ngăn chặn tình trạng lãnh đạo hợp tác xã lạm dụng, biến tướng thành doanh nghiệp tư nhân để hưởng các ưu đãi.

Tiêu thụ sản phẩm với giá cả hợp lý và chi phí thấp là sự hỗ trợ quan trọng mà các hộ nông dân Việt Nam cần Để đạt được điều này, các hợp tác xã nông nghiệp tại Việt Nam cần đáp ứng ba điều kiện thiết yếu.

Ban quản lý hợp tác xã cần phải có tâm huyết với mục tiêu hỗ trợ nông dân làm giàu, thay vì sử dụng hợp tác xã để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc tích lũy lợi nhuận cho chính hợp tác xã.

Người nông dân nhận thức rằng hợp tác xã là tổ chức do chính họ thành lập, vì vậy họ cần hợp tác với ban quản lý để thiết lập chế độ hoạt động tối ưu cho hợp tác xã.

Chính quyền địa phương không được can thiệp vào hoạt động của hợp tác xã, nhưng cần tạo điều kiện thuận lợi để các mục tiêu xã hội của hợp tác xã được thực hiện một cách dễ dàng nhất.

Hợp tác xã nông nghiệp cần được tổ chức ở những khâu mà chúng có thể hoạt động hiệu quả hơn hộ gia đình, tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước Việc lựa chọn khâu phù hợp cho hợp tác xã là rất quan trọng Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hóa tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, và tiêu thụ sản phẩm cùng khuyến nông là rất thích hợp Để cạnh tranh với khu vực tư nhân, hợp tác xã nên tổ chức theo kiểu đa năng và chọn người giỏi làm giám đốc để quản lý Nhân sự là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã.

Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, việc nâng cao giáo dục và đào tạo nhân lực cho hợp tác xã là rất quan trọng Các tổ chức Liên hiệp hợp tác xã ở tỉnh và quốc gia đều chú trọng nhiệm vụ này, vì nó sẽ giúp phong trào hợp tác xã phát triển bền vững Đặc biệt, cần tập trung vào đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật và tư vấn cho hợp tác xã và nông dân Hợp tác xã cũng nên coi hoạt động khuyến nông là phương tiện thiết yếu để giúp nông dân vượt khó và thoát nghèo Để cạnh tranh hiệu quả trong nền kinh tế toàn cầu, hợp tác xã nông nghiệp cần cải thiện tư tưởng, phong cách và lề lối sản xuất của nông dân, từ đó giúp họ phát triển lực lượng sản xuất Mục tiêu là 100% nông dân sẽ trở thành xã viên của hợp tác xã, giống như mô hình ở Nhật Bản.

Hợp tác xã vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim tại Tiền Giang là đơn vị duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và là đơn vị thứ hai trên toàn quốc được cấp chứng chỉ Global GAP Hợp tác xã đã đáp ứng 141 yêu cầu khắt khe đối với tổ chức và xã viên, đồng thời thỏa mãn 236 tiêu chí do Global GAP đề ra.

Mở rộng thị trường tiêu thụ

Trong kinh doanh, đầu ra sản phẩm và lợi nhuận là yếu tố quyết định thành bại của mô hình kinh tế Tuy nhiên, nông dân đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ nông sản do tình trạng mua bán trôi nổi, thiếu hợp đồng, quá nhiều trung gian và thiếu sự liên kết Do đó, cần thiết phải cải thiện mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi tiêu thụ nông sản để đạt hiệu quả cao hơn.

Thị trường tiêu thụ cần mở rộng ra ngoài nước để tăng cường xuất khẩu, đồng thời cần duy trì thị trường nội địa trước sự cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao và giá rẻ từ Thái Lan và Trung Quốc.

Thiết lập hệ thống thông tin thị trường

Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT đang thực hiện dự án xây dựng mạng lưới thông tin thị trường nông nghiệp nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về thị trường và giá cả nông sản.

Thông tin thị trường nông sản ngày càng quan trọng không chỉ với nông dân mà còn với các tác nhân khác trong ngành hàng như người thu gom, bán buôn và doanh nghiệp.

Việc cung cấp thông tin thị trường kịp thời giúp giảm chi phí trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, từ đó hỗ trợ nông dân và các nhà quyết định đưa ra những quyết định chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành hàng.

Thông tin thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định sản xuất và marketing, giúp nông dân và các bên liên quan trong chuỗi cung ứng xác định các hoạt động có lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro liên quan đến các chiến lược sản xuất và marketing.

Nông dân sẽ được cập nhật thông tin về giá cả nông sản, thời tiết và thị trường nông sản trong nước và quốc tế Họ cũng có thể tham khảo các công nghệ nông nghiệp tiên tiến trên thế giới Đặc biệt, nông dân có thể nhờ nhân viên điều hành trung tâm hỗ trợ điền các mẫu văn bản hành chính trực tuyến, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí di chuyển.

Mở rộng hệ thống thông tin thị trường là cần thiết cho nông dân, doanh nghiệp và cán bộ quản lý Để đạt được điều này, việc xây dựng và phát triển các phương pháp điều tra thu thập thông tin là rất quan trọng, quyết định sự thành công của hệ thống thông tin, đặc biệt là trong lĩnh vực nông sản Bên cạnh đó, cần kết hợp nhiều kênh truyền thông như tivi, đài, báo, bản tin và mạng điện thoại di động để tăng cường việc thu thập và phổ biến thông tin thị trường, cũng như xúc tiến thương mại trong nông nghiệp Để thông tin nông nghiệp có thể chia sẻ miễn phí cho nông dân, sự quan tâm và hỗ trợ từ ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương là rất cần thiết.

Sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Trong những năm gần đây, mô hình liên kết “bốn nhà” (Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà nông - nhà khoa học) tại ĐBSCL đã mang lại hiệu quả tích cực trong sản xuất và tiêu thụ nông sản Để giảm thiểu khó khăn và khuyến khích nông dân tham gia vào mô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng, cần triển khai một số giải pháp nhằm giúp họ hưởng lợi từ chuỗi giá trị nông nghiệp.

Cần xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư từ cả doanh nghiệp trong và ngoài nước vào lĩnh vực nông sản Sự tham gia của nhiều doanh nghiệp sẽ tạo ra tính cạnh tranh, từ đó tối ưu hóa và nâng cao năng lực sản xuất của nông dân.

Cần nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện hợp đồng bằng cách cải thiện môi trường pháp lý, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến tính ràng buộc và chế tài xử phạt của hợp đồng.

Cần duy trì hỗ trợ cho các tổ chức liên kết của nông dân nhằm phát triển mạnh mẽ hơn, từ đó tạo ra kênh kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp và nông dân.

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cùng với các tổ chức hợp tác xã nông dân nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó hướng tới việc xây dựng thương hiệu cho từng loại nông sản.

Bảo hiểm nông sản

Việt Nam, với 60 - 70% dân số sống ở nông thôn, là một quốc gia nông nghiệp lớn, tạo ra tiềm năng lớn cho thị trường bảo hiểm nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng chỉ một phần nhỏ diện tích cây trồng và vật nuôi được bảo hiểm, điều này phản ánh sự thiếu hụt trong việc áp dụng bảo hiểm nông nghiệp tại nước ta.

2001 là khoảng từ 0,05 - 0,3% tham gia bảo hiểm và từ đó đến nay, thị trường này vẫn không có sự chuyển biến nào đáng kể

Bảo hiểm nông nghiệp giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất do thiên tai và dịch bệnh, nhưng hiện tại, các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp còn hạn chế, chủ yếu chỉ phục vụ cho cây công nghiệp như cao su Các dịch vụ bảo hiểm khác chưa được triển khai do rủi ro cao, người dân thiếu khả năng tham gia và khó khăn trong quản lý rủi ro Do đó, cần có những doanh nghiệp dám đầu tư vào thị trường này cùng với các quy định rõ ràng về bảo hiểm nông sản.

Xây dựng thương hiệu nông sản

Việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu nông sản đã được đề cập từ lâu, nhưng Việt Nam vẫn chưa có những thương hiệu mạnh mặc dù sở hữu nhiều đặc sản giá trị Xây dựng thương hiệu không chỉ đơn thuần là gán tên cho sản phẩm, mà còn cần tạo nền tảng để phát huy giá trị của nó Tuy nhiên, những nỗ lực hiện tại cho thương hiệu nông sản vẫn chỉ dừng lại ở bước khởi đầu.

Để tăng cường sức cạnh tranh trong xuất khẩu, việc đầu tiên là sản xuất các sản phẩm nông sản chất lượng cao và an toàn Đồng thời, cần đảm bảo cung cấp liên tục lượng nông sản cho thị trường.

Xây dựng thương hiệu là yếu tố quan trọng trong việc quảng bá và phát triển thương hiệu bền vững trên thị trường trong và ngoài nước Một số loại trái cây ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thành công trong việc xây dựng thương hiệu và được người tiêu dùng ưa chuộng, như “Thanh Long Chợ Gạo” từ Tiền Giang, đã xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ và Châu Âu, hay “Bưởi năm roi” từ Vĩnh Long.

Việc xây dựng thương hiệu cần sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ thông qua các chính sách cụ thể, nhằm tránh tình trạng người nông dân phải tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình.

4.8 Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hóa Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động nông dân, doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác thực hiện các hình thức tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, gắn sản xuất với chế biến, nhất là ở vùng sản xuất nguyên liệu tập trung Nâng cao nhận thức trong việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng

Tăng cường đầu tư và hỗ trợ xây dựng các vùng sản xuất quy mô lớn cùng với vùng nguyên liệu tập trung nhằm thúc đẩy các hình thức liên kết và hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ.

Trong quy hoạch, cần tạo điều kiện để nông dân, các HTX và tổ hợp tác cùng tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến và thực hiện.

Các mô hình sản xuất kết hợp hiệu quả

Mô hình trang trại

Mô hình kinh tế trang trại đã mang lại sự chuyển biến rõ rệt về giá trị sản phẩm hàng hóa và thu nhập, vượt trội hơn hẳn so với kinh tế hộ Cụ thể, vào năm 2004, tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của các trang trại ước tính đạt 70.047 tỷ đồng, với giá trị sản xuất bình quân mỗi trang trại đạt 980 triệu đồng, gấp 6-8 lần so với giá trị sản xuất trung bình của một hộ nông nghiệp.

Tại Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa trung bình của mỗi trang trại đạt khoảng 1,1 tỷ đồng/năm Trong đó, trang trại nuôi trồng thủy sản có giá trị cao nhất, với mức bình quân từ 1,2 đến 1,5 tỷ đồng/trang trại/năm, và một số trang trại đặc biệt có thể đạt trên 10 tỷ đồng/năm, như trang trại của Vietfram Hùng Tiến ở Bình Quới, TPHCM.

Mặc dù chỉ có 3.376 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông- lâm- thủy sản, nhưng những doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào sự phát triển dịch vụ nông nghiệp Sự phát triển của kinh tế trang trại đã tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, thúc đẩy mạnh mẽ ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Theo báo cáo từ các địa phương, giá trị sản xuất của trang trại trên toàn quốc chưa cao, nhưng đã tăng gần gấp đôi so với giá trị sản xuất bình quân của kinh tế nông nghiệp.

Công ty TNHH Thang Nguyên, do ông Trần Văn Nguyên sáng lập tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc, là một điển hình thành công trong mô hình trang trại và doanh nghiệp nông thôn Hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi, công ty đã đạt được thu nhập (lãi) hàng năm ổn định tại địa bàn Đắc Lắc.

Ông Vũ Đức Bằng, Giám đốc Nhà máy Chè Bằng An tại tỉnh Lai Châu, đã đầu tư vào sản xuất nguyên liệu và chế biến chè, đạt doanh thu hàng năm lên tới 8,8 tỷ đồng.

Việc phát triển kinh tế trang trại và doanh nghiệp nông thôn đã tạo ra hàng triệu việc làm cho lao động nông thôn, góp phần nâng cao đời sống và xóa đói giảm nghèo Các chủ trang trại và doanh nghiệp có nhu cầu lớn về lao động, với hơn 60.000 lao động được thu hút vào lĩnh vực này Điều này không chỉ giảm áp lực thiếu việc làm ở nông thôn mà còn đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động, dao động từ 400.000 đến 600.000 đồng/tháng, trong khi lao động thời vụ thường nhận khoảng 20.000 đồng/ngày.

Riêng các DN nông thôn đã giải quyết cho trên 1 triệu lao động có việc làm trong các xí nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ 700.000 – 1.000.000/tháng

Mặc dù đời sống của người dân nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng đã có những thay đổi đáng kể, giúp xóa đói và giảm nghèo Các trang trại và doanh nghiệp nông thôn đã đóng góp tích cực vào những thành tựu này.

Nhiều trang trại và doanh nghiệp đã đóng góp hàng trăm triệu đồng để xây dựng trường học, xóa nhà tạm và hỗ trợ trẻ mồ côi, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo của cả nước xuống còn khoảng 10% Những thành quả này chứng tỏ mô hình kinh tế trang trại và doanh nghiệp nông thôn đã thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế đa thành phần của Đảng và Nhà nước.

Mô hình này đã chứng minh hiệu quả vượt trội so với kinh tế hộ nông dân, nhờ vào việc khai thác tiềm năng lao động, đất đai và huy động vốn đầu tư trong dân Nó áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn và tập trung Đồng thời, mô hình này cũng tạo ra nhiều nhân tố mới ở nông thôn, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, hướng tới xây dựng những vùng nông thôn mới văn minh và hiện đại.

VAC

Đồng Bằng Sông Cửu Long sở hữu một hệ thống sông ngòi phong phú và nhiều ao hồ, tạo điều kiện cho nông dân phát triển mô hình nông nghiệp đa dạng Nhiều hộ gia đình không chỉ có nhà ở mà còn kết hợp vườn trồng rau, cây ăn trái, ao nuôi cá và chuồng nuôi gia súc, gia cầm Mô hình này được xem là một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, hay còn gọi là VAC (Vườn-ao-chuồng).

Hệ thống VAC là mô hình canh tác tích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa làm vườn, nuôi cá và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Vườn là nơi kết hợp trồng nhiều loại cây theo nhiều tầng, trong đó vườn trồng cây ăn trái có thể kết hợp với các loại rau, đậu, cùng một số cây gia vị và cây làm thuốc.

Trong ao nuôi cá, việc kết hợp nhiều giống cá giúp tối ưu hóa việc sử dụng thức ăn Bên cạnh đó, quanh bờ ao có thể trồng khoai nước, trong khi một phần mặt ao được thả bèo để làm thức ăn cho lợn Ngoài ra, trên mặt ao cũng có thể trồng các loại cây như bầu bí và mướp.

+ Chuồng: nuôi gia súc, gia cầm (thường là lợn, gà, vịt)

Tiền Giang: Làm giàu từ mô hình VAC ở vùng nhiễm mặn ven biển

Gò Công Đông, huyện biển của tỉnh Tiền Giang, từng đối mặt với điều kiện đất đai nhiễm mặn, phèn và thời tiết bất lợi, khiến người dân chỉ có thể canh tác một vụ lúa mùa với năng suất thấp Nhiều người đã phải tha hương kiếm sống trong thời kỳ khó khăn Tuy nhiên, nhờ vào dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công và mô hình kinh tế VAC (vườn – ao - chuồng), đời sống của bà con đã được cải thiện, ổn định và phát triển bền vững với chất lượng nông sản cao và quy mô trang trại.

Theo ông Nguyễn Văn Re, Phó Giám đốc sở Khoa học Công nghệ tỉnh, hơn 80% hộ dân Gò Công Đông phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Mặc dù gặp khó khăn do điều kiện thiên nhiên và hạn chế trong nông nghiệp trước đây, dự án thủy lợi ngọt hóa Gò Công đã mở ra cơ hội mới cho nông dân, giúp họ tăng mùa, chuyển vụ và thay đổi tư duy sản xuất theo hướng hàng hóa quy mô lớn Ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn cùng các đơn vị địa phương đã triển khai dự án “Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông thôn xã Kiểng Phước” với sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ Dự án, kết thúc vào năm 2002, đã trang bị kiến thức mới về thâm canh lúa chất lượng cao, trồng cây ăn quả trong điều kiện đất đai từ nhiễm mặn sang ngọt hóa, và phát triển chăn nuôi gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa.

Tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình, mô hình VAC được áp dụng linh hoạt để phù hợp với thực tế sản xuất Các hộ có vốn và trình độ khoa học công nghệ cao đầu tư vào mô hình khép kín hoặc mở rộng quy mô trang trại, tạo thu nhập cao và việc làm cho lao động nông thôn Việc chuyển đổi đất lúa một vụ sang hai vụ lúa chất lượng cao và trồng cây ăn quả đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, sơ ri, táo, mãng cầu, sapôchê kết hợp với chăn nuôi lợn lai, nuôi dê và thủy sản xuất khẩu đã giúp nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhanh chóng Mặc dù diện tích đất hạn chế, nhiều hộ đã thành công nhờ mô hình VAC, cải thiện đời sống và đầu tư vào sản xuất Huyện Gò Công Đông hiện có 2.500 ha trồng cây ăn trái đặc sản, 5.500 ha rau màu và hơn 1.000 ha nuôi thủy sản, với sản lượng hàng năm đạt trên 27.500 tấn trái cây, 88.000 tấn rau màu, 6.500 tấn thịt gia súc, gia cầm và trên 4.000 tấn thủy sản Các nông sản chủ lực như xơ ri, tôm càng xanh, tôm sú, gà ta thả vườn và lúa chất lượng cao đang trở thành mặt hàng xuất khẩu mạnh của tỉnh, mang lại nguồn ngoại tệ lớn.

VACR

Phát triển nông nghiệp hữu cơ thông qua mô hình kinh tế VACR tại nông hộ/trang trại giúp tận dụng tối đa phế phẩm từ các hoạt động sản xuất khác, giảm thiểu việc sử dụng phân hóa học và thuốc sát trùng Đây là lộ trình khả thi hướng tới nền nông nghiệp hữu cơ bền vững Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, nổi bật là dự án “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi cho vùng sản xuất khó khăn” của sở Khoa học.

Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh đã mang lại ấn tượng mạnh mẽ cho chúng tôi khi thăm gần 10 mô hình thuộc dự án, đặc biệt là sự biến mất của mùi hôi khai từ phân gia súc và gia cầm.

Anh Lâm Hố ở xã Vĩnh Trạch, thị xã Bạc Liêu, đã cải thiện mô hình canh tác của gia đình theo hướng nông nghiệp hữu cơ Gia đình anh nuôi 4 con bò cái và đã thêm 2 con bê, với những con bò này được coi là “nhà máy” sản xuất phân bón hữu cơ sinh học Phân và nước tiểu bò được khử mùi bằng chế phẩm EM, sau đó chế biến thành thức ăn cho trùn quế, mà anh nuôi trong lán rộng 60m2, chia thành 16 ô để thu hoạch luân phiên Ngoài ra, anh còn nuôi 200 con gà Lương Phượng và có 9 ao nuôi tôm sú cùng 1 ao nuôi cá bống tượng trên tổng diện tích gần 4ha Anh Hố cho biết cách nuôi trùn quế và khử mùi bằng EM rất dễ thực hiện Theo anh Ngọc, cộng tác viên kỹ thuật của dự án, việc nuôi trùn đã giúp giảm chi phí bổ sung đạm cho tôm, gà từ 200.000 đồng xuống còn khoảng 50.000 đồng Phân bò không chỉ dùng để nuôi trùn mà còn là phân bón sạch, tốt cho rau và hoa quả Từ khi tham gia dự án, doanh thu của gia đình anh Hố đạt 600 triệu đồng/năm, với lãi gần 20%.

Sử dụng chế phẩm sinh học EM không chỉ giúp cải thiện môi trường sống mà còn khuyến khích việc tận dụng phân và nước tiểu gia súc để sản xuất phân sạch Theo thông tin từ Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và PTNT Bạc Liêu), tỉnh đã khảo sát và tổng kết 20 mô hình canh tác có doanh thu cao trong năm 2007 Trong đó, mô hình chuyên màu đạt doanh thu từ 60-90 triệu đồng/ha, mô hình lúa - màu từ 55-75 triệu đồng/ha, lúa - cá từ 55-70 triệu đồng/ha, và mô hình tôm-cua-cá từ 50-80 triệu đồng/ha Đặc biệt, mô hình cá bống tượng và VACR dẫn đầu với doanh thu vượt 100 triệu đồng/ha.

Có nhiều loại đề tài và dự án chuyển giao kỹ thuật mới vào sản xuất, mỗi loại đều có những ưu điểm riêng Tuy nhiên, các đề tài tác động đến hệ thống VACR lại đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nông dân, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của nông hộ, giúp nâng cao trình độ sản xuất và tăng thu nhập một cách nhanh chóng và bền vững.

Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã tổng kết công tác khoa học và công nghệ năm 2007 với tổng vốn đầu tư lên tới 484 tỷ đồng, đạt được nhiều kết quả nổi bật như phát triển giống lúa, ngô, đậu đỗ, rau có năng suất cao và chất lượng tốt, cũng như sản xuất vắc-xin và chế phẩm sinh học ứng dụng rộng rãi Năm 2008, nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường tính ứng dụng của các công trình khoa học để hỗ trợ nông dân Đề tài “ứng dụng mô hình sản xuất tích hợp nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi” do sở Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu và Trà Vinh thực hiện là một trong những hoạt động quan trọng nhằm thực hiện nhiệm vụ này.

VACB

Khí sinh học Biogas là hỗn hợp khí được sản sinh từ quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong môi trường yếm khí, chủ yếu là khí mê-tan, với khả năng đốt cháy tạo ra nhiệt lượng cao từ 5.200 - 5.800 kCal cho mỗi m³ Việc ứng dụng công nghệ sản xuất Biogas không chỉ cung cấp nguồn năng lượng tái sinh rẻ và sạch mà còn giúp bảo vệ môi trường, giảm chi phí chất đốt cho hộ gia đình, đặc biệt trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao Đầu tư cho hệ thống Biogas chỉ khoảng 3,5 triệu đồng, với độ bền từ 20-25 năm, có thể tiết kiệm trung bình 1 triệu đồng mỗi năm, mang lại giá trị gấp 7 lần so với vốn đầu tư Bã thải sinh học từ Biogas là nguồn phân bón sạch, giàu dinh dưỡng cho cây trồng và nuôi thuỷ sản, đồng thời giúp giảm ô nhiễm môi trường và thúc đẩy chăn nuôi bền vững theo mô hình kinh tế V.A.C.B (Vườn - Ao - Chuồng).

Biogas đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Nó không chỉ cung cấp một phần chất đốt và nguyên liệu cho sinh hoạt hàng ngày, mà còn giúp bảo vệ môi trường Sự phát triển của biogas góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, tạo ra một không gian sống văn minh, sạch đẹp, đồng thời nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nông dân.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận, sản xuất nông sản ở ĐBSCL gặp nhiều khó khăn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, khiến nông dân không chỉ phải sản xuất mà còn phải tự tiêu thụ sản phẩm của mình.

Nông dân còn luôn trong vòng luẩn quẩn được mùa mất giá, được giá lại mất mùa

Vùng nông nghiệp hiện chưa có sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng để cạnh tranh trong xuất khẩu Mặc dù có nhiều vùng trồng lúa, nhưng lúa đặc sản và chất lượng cao chưa phát triển đủ để xuất khẩu Các vùng trồng cây chuyên canh và hàng hóa xuất khẩu còn nhỏ lẻ và manh mún Do đó, nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung vào công nghệ sinh học để phát triển các vùng chuyên canh sản phẩm hàng hóa đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao và khối lượng lớn, nhằm nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Sau khi phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhóm chúng tôi đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông sản và nâng cao đời sống cho người nông dân.

Để nâng cao năng suất, cần duy trì diện tích đất trồng lúa có hệ thống thuỷ lợi ổn định và phát triển các giống lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu Đồng thời, cần đẩy mạnh trồng cây ăn quả, rau, hoa và cây cảnh tại những khu vực phù hợp, hình thành các vùng chuyên canh cây ăn quả và hoa có giá trị xuất khẩu.

Các doanh nghiệp chế biến lúa gạo đang chủ động đầu tư vào máy móc thiết bị, trong khi người nông dân ngày càng chú trọng đến việc chọn giống và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất Họ cũng hạn chế sử dụng thuốc hóa học để nâng cao chất lượng sản phẩm.

Xây dựng các nhà máy chế biến, các ngành công nghiệp chế biến để chế biến nông sản.

Ngày đăng: 04/07/2023, 10:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w