1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

197 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tòa Án Trong Cơ Chế Bảo Vệ Quyền Của Phụ Nữ Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Phạm Thị Bích Phượng
Người hướng dẫn GS.TS. Thái Vĩnh Thắng
Trường học Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI PHẠM THỊ BÍCH PHƯỢNG TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2023 VIỆN HÀN LÂM K[.]

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS THÁI VĨNH THẮNG

HÀ NỘI, 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận án đảm bảo tính chính xác, nghiêm túc, tin cậy và trung thực

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Thị Bích Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 8

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài luận án 27

1.3 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ 32

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ 32

2.2 Phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ 60

2.3 Các yếu tố tác động đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ 69

2.4 Chuẩn mực pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền của phụ nữ và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 88

Chương 3: THỰC TRẠNG TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM 90

3.1 Khái quát về Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam 90

3.2 Kết quả hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam 102

3.3 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam 134

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 147

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 148

4.1 Phương hướng bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay 148

Trang 5

4.2 Giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở

Việt Nam hiện nay 151

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 175

KẾT LUẬN 176

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 178

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 179

Trang 6

ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

ICESCR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Luật THAHS Luật Thi hành án Hình sự năm

QPN Quyền của phụ nữ

UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng tổng hợp số liệu số lượng bị cáo nữ / tổng số vụ án xét xử và số bị cáo từ

năm 2018 đến 2022 103 Bảng tổng hợp số liệu bị hại là nữ trong hoạt động xét xử một số tội thuộc nhóm

tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm phụ nữ, mua bán người từ năm 2018 đến 2022 105 Bảng tổng hợp số liệu bị cáo là nữ trong hoạt động xét xử một số tội thuộc

nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm phụ nữ, mua bán người từ năm 2018 đến 2022 106

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Quyền con người là khái niệm rộng, bao gồm các quyền của cá nhân, tập thể, của nhóm người, cộng đồng người trong xã hội Trong đó, với những đặc trưng về giới tính, phụ nữ là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ một cách đặc biệt Tuy nhiên, trên thực tế, phụ nữ thường không nhận được sự quan tâm, bảo vệ thích đáng của xã hội, thậm chí bị phân biệt đối xử, bị ngược đãi Chính vì vậy, để bảo vệ QPN, từ đầu thế kỉ XX đến nay, Liên Hợp Quốc

và các tổ chức quốc tế khác đã xây dựng nhiều cam kết quốc tế nhằm bảo vệ QPN, trong đó, nổi bật nhất là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW) Mục đích của CEDAW là nhằm trao cho phụ nữ những quyền con người đã được pháp luật quốc tế thừa nhận nhưng họ không được hưởng trên thực tế bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ CEDAW giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới theo hướng: không chỉ đưa ra những quy phạm chung áp dụng cho cả nam

và nữ mà còn xây dựng những quy phạm riêng có tính chất ưu tiên, chỉ áp dụng cho phụ nữ, nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng về quyền và cơ hội giữa nam và nữ Đồng thời, CEDAW nêu rõ những lĩnh vực chính cần tập trung xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ: Giáo dục - đào tạo; quan hệ hôn nhân - gia đình; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội; giao dịch dân sự; tư cách cá nhân trước pháp luật; chăm sóc sức khỏe; quốc tịch

Ở Việt Nam, từ xưa đến nay người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, công cuộc dựng nước và giữ nước Từ khi giành được độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định và đề cao QPN, coi đây là bước tiến trong sự nghiệp giải phóng con người nói chung và giải phóng phụ nữ nói riêng Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc thực hiện các chính sách, pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới Ngay từ Hiến pháp

năm 1946, tại Điều 9 đã khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương

diện” Qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, QPN liên tục được tái khẳng

định và đến Hiến pháp năm 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng của phụ nữ và chính sách bảo vệ QPN Điều 26 Hiến pháp năm 2013 nhấn

mạnh: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm

quyền và cơ hội bình đẳng giới”

Trang 9

Để bảo vệ QPN trong thực tế, cùng với hệ thống các văn bản pháp luật, Nhà nước ta cũng có các cơ chế để thúc đẩy sự phát triển, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Trong đó, hoạt động của Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QPN với mục đích là xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm đến QPN Bảo vệ QPN thông qua hoạt động của Tòa án (đặc biệt là hoạt động xét xử) là phương thức chủ yếu nhằm trừng trị kẻ phạm tội và giúp phụ nữ khôi phục quyền khi có vi phạm, đồng thời, tạo điều kiện cho phụ nữ thụ hưởng quyền và tự bảo

vệ mình theo quy định của pháp luật

Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động Tòa án bảo vệ QPN còn bộc lộ nhiều hạn chế Trên phương diện lý luận, vẫn còn nhiều vấn đề khiếm khuyết liên quan đến hệ thống pháp luật cùng cơ chế đảm bảo thực hiện QPN trong lĩnh vực tư pháp Những quy định của pháp luật vẫn còn bộc lộ một số hạn chế về việc tạo ra các điều kiện thuận lợi, nhanh chóng và chắc chắn để phụ nữ nhận được sự bảo vệ của Tòa án nhằm chống lại những hành vi vi phạm các quyền của họ Pháp luật chưa có quy định chi tiết

và cụ thể nhằm giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, sự không bị phân biệt đối

xử đối với phụ nữ Cơ chế pháp lý về bảo vệ phụ nữ khi tham gia vào các hoạt động tư pháp chưa được làm sáng tỏ Trên phương diện thực tiễn, hiệu quả thực thi QPN trong hoạt động xét xử của Tòa án chưa cao Tuy khuôn khổ pháp lý về bảo đảm QPN đã tương đối hoàn chỉnh nhưng quá trình áp dụng và thực thi trong thực tiễn xét xử của Tòa án vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, dẫn đến các chủ trương, chính sách bảo đảm QPN khi đi vào đời sống vẫn chưa đạt hiệu quả cao, đặc biệt là trong hoạt động xét xử bảo vệ quyền của phụ nữ ở nông thôn, phụ nữ là người dân tộc thiểu số Mặt khác, tình hình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề Tòa án bảo vệ QPN và vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, bộc lộ những khoảng trống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

Bối cảnh nói trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về

cơ chế bảo vệ QPN và về vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế đó nhằm xây dựng luận

cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay Đây chính là lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu đề

tài “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các khía cạnh lý luận về Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, trong

đó tập trung làm rõ quan niệm về cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, đặc điểm và vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, các phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay, trong đó điểm nhấn là thực trạng triển khai các phương thức hoạt động của Tòa án hướng tới mục tiêu bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu xây dựng phương hướng và đề xuất một số giải pháp đột phá, khả

thi nhằm bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các quan điểm khoa học liên quan đến QPN, cơ chế bảo vệ QPN, vai trò và phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

- Chính sách pháp luật và hệ thống các quy định pháp luật về QPN và về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam

- Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Các chuẩn mực pháp lý quốc tế và kinh nghiệm hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở một số quốc gia trên thế giới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay là

vấn đề lớn, được tiếp cận từ nhiều góc độ với nhiều nội dung khác nhau Trong quy

mô của luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN thông qua một số phương thức hoạt động chủ đạo của Tòa án, đặc biệt là hoạt động xét

xử trong lĩnh vực hình sự và dân sự - đây là những lĩnh vực đặc thù, cơ bản, phổ biến

mà QPN dễ bị xâm hại

Trang 11

Trong giới hạn nội dung nói trên, cơ chế bảo vệ QPN được nhìn nhận từ góc độ của

khoa học pháp lý - cơ chế pháp lý Luận án đặc biệt chú trọng nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án và thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu vấn đề “Tòa án trong cơ chế bảo vệ

quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam, nhằm làm rõ cơ

chế quốc gia ở Việt Nam về bảo vệ QPN Trong quá trình nghiên cứu, pháp luật quốc tế và khu vực cũng như thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở một số quốc gia trên thế giới cũng được luận án đề cập ở các mức độ khác nhau

- Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt

Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), trọng tâm là từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án

4.1 Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của luận án là phương pháp duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lên nin

Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, tư duy nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về bản chất của nhà nước và pháp luật, về công lý, quyền con người và vai trò của Tòa án trong bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng

Để đảm bảo tính khách quan và khoa học của các kết luận nghiên cứu, luận án đồng thời vận dụng một số lý thuyết cơ bản và hiện đại được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới: lý thuyết về phân công lao động quyền lực của Montesquieu, lý thuyết về tiếp cận dựa trên quyền, học thuyết Nhà nước pháp quyền…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: được sử dụng chủ yếu từ Chương 1 đến Chương 3 của

luận án nhằm làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ rõ các khía cạnh lý luận và giải thích rõ thực trạng hoạt động thể hiện vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam Kết quả áp dụng phương pháp phân tích hướng tới cung cấp một

cách nhìn chính xác, toàn diện, thuyết phục về các khía cạnh nghiên cứu nói trên

- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng chủ yếu trong Chương 1, Chương 3,

Chương 4 của luận án nhằm đưa ra các kết luận khoa học về tình hình nghiên cứu đề

Trang 12

tài luận án, về toàn cảnh bức tranh đa chiều phản ánh vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam, về những quan điểm và giải pháp tổng thể nhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Phương pháp luật học so sánh: được sử dụng ở Chương 2, Chương 3 để xác

định những điểm tương đồng và khác biệt giữa các quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới liên quan đến QPN và cơ chế bảo vệ QPN thông qua hoạt động Tòa án, từ đó góp phần xây dựng luận cứ xác thực cho các giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (phân tích vụ việc/ bản án): được sử

dụng chủ yếu ở Chương 3 bằng việc lựa chọn một số vụ việc điển hình trong hoạt động của Tòa án liên quan đến việc bảo vệ QPN bị xâm hại để phân tích, đánh giá, xác định rõ bản chất vụ việc, phương thức giải quyết của Tòa án và hiệu quả tác động đến mục tiêu bảo vệ QPN ở Việt Nam Áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp góp phần minh chứng và tăng tính thuyết phục của các nhận định, kết luận của luận án, đồng thời bổ trợ cho những lý lẽ, luận giải và kiến nghị của luận án

- Phương pháp diễn giải, quy nạp: được sử dụng chủ yếu trong Chương 2 và

Chương 4 của luận án để khẳng định nhận thức của tác giả luận án về các khía cạnh lý luận

cơ bản liên quan đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, xác định các phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Phương pháp lịch sử: được sử dụng tại Chương 1, Chương 2, Chương 3 của

luận án nhằm tìm hiểu, phân tích lịch sử nghiên cứu các nội dung liên quan đến chủ đề luận án, quá trình phát triển nhận thức lý luận và pháp luật về vai trò, phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, một số kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật ở Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới gắn với

cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình đầu tiên tiến hành tổng hợp tương đối đầy đủ, cập nhật hoạt động nghiên cứu khoa học về cơ chế bảo vệ QPN và Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam, nhận diện rõ trạng thái hiện hành của vấn đề nghiên cứu (những nội dung khoa học đã đạt được sự thống nhất, những nội dung khoa học còn đang tranh luận, những nội dung khoa học chưa được đề cập giải quyết), qua đó góp phần xây

Trang 13

dựng định hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý về bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung, QPN nói riêng ở Việt Nam hiện nay

- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh lý luận và pháp

lý liên quan đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN Luận án đưa ra quan điểm độc lập

về khái niệm, đặc điểm, vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, chỉ ra các phương thức hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, luận chứng đầy đủ về nhu cầu và thực tiễn điều chỉnh pháp luật liên quan đến hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN trên phạm vi quốc tế và ở Việt Nam

- Luận án là công trình nghiên cứu công phu về thực trạng Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam Luận án xây dựng được bức tranh nhiều chiều, đa màu về hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, luận án

đã phát hiện và chỉ ra một cách đầy đủ những hạn chế, bất cập của pháp luật thực định

và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Luận án là công trình nghiên cứu nghiêm túc về phương hướng và giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam Đóng góp quan trọng về mặt khoa học của luận án nằm ở hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi, có giá trị ứng dụng cao đối với mục tiêu bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về mặt lý luận, luận án đưa ra góc nhìn đa chiều, toàn diện về Tòa án trong cơ

chế bảo vệ QPN; xây dựng khung lý thuyết cơ bản về cơ chế bảo vệ QPN và cơ chế Tòa án bảo vệ QPN; cung cấp những luận cứ khoa học cơ bản cho việc xây dựng chính sách pháp luật và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ QPN thông qua hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

- Về mặt thực tiễn, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên

cứu, giảng dạy trong lĩnh vực khoa học Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hình sự… Các quan điểm khoa học và giải pháp do luận án xây dựng có thể được vận dụng trong quá trình hoạt động của các cơ quan hoạch định chính sách pháp luật, Tòa án các cấp trong hệ thống Tòa án Việt Nam cũng như các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận

án được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án

Chương 2: Những vấn đề lý luận về Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ Chương 3: Thực trạng Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam Chương 4: Phương hướng và giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về Tòa án trong cơ chế bảo

vệ quyền của phụ nữ

Chủ đề: “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” là

vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác

nhau Vì vậy, trên phương diện lý luận đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên

quan đến chủ đề này:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2006), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc

thực hiện bình đẳng giới trong ngành Tòa án nhân dân do TAND tối cao thực hiện

Đề tài đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung của việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, Chương I của đề tài đã nêu khái quát những vấn đề chung của việc thực hiện bình đẳng giới, làm rõ một số thuật ngữ như “giới”, “giới tính”, “bình đẳng giới”; hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới; Quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới Đặc biệt, trong phần các chuyên đề của đề tài, có hai chuyên đề đã làm rõ về mặt lý luận đặc thù công tác xét

xử một số loại án cụ thể là chuyên đề “Đặc thù công tác xét xử các vụ án hình sự và

vấn đề bình đẳng giới trong công tác xét xử các vụ án hình sự” và chuyên đề “Đặc thù công tác xét xử sơ thẩm các loại án và vấn đề bình đẳng giới trong công tác xét xử

sơ thẩm” Trên cơ sở làm rõ các căn cứ phát sinh vụ án, yêu cầu đối với người cán bộ

làm công tác xét xử đối với từng loại vụ án, hai chuyên đề này liên hệ với thực trạng vấn đề bình đẳng giới trong công tác xét xử để đánh giá những vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động của cán bộ nữ trong công tác xét xử các vụ án

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2016), Bảo đảm quyền của phụ nữ ở Việt Nam

hiện nay do Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

thực hiện Đây gần như là công trình nghiên cứu đầu tiên có quy mô lớn, nội dung luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm QPN ở Việt Nam hiện nay Với phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành triết học, chính trị học, luật học, văn hóa học, kinh tế học, sử học, đặc biệt là tiếp cận từ góc độ quyền con người đề tài đã làm sáng tỏ cơ sở lý

Trang 16

luận và thực tiễn về bảo đảm QPN Đặc biệt, với nội dung của Chương 1: Cơ sở lý luận và

thực tiễn về bảo đảm quyền của phụ nữ, đề tài đã đạt được thành công trong việc nâng cao

nhận thức cho các cấp lãnh đạo, xã hội, gia đình và phụ nữ về QPN

- Sổ tay Thẩm phán năm 2023 do Tòa án nhân dân tối cao ban hành trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý của cuốn Sổ tay Thẩm phán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), sửa đổi những nội dung không còn phù hợp, cập nhật những văn bản pháp luật mới, và bổ sung các nội dung mới chỉ dẫn áp dụng Giải đáp, Án lệ và đường lối xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với một số loại vụ việc cụ thể Tại Phần thứ nhất Sổ tay Thẩm phán năm 2023 với nội dung "Tòa án nhân dân và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân" cung cấp hệ thống những quy định, thông tin, hiểu biết cần thiết về:

Vị trí, chức năng của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước; Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân; Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; Thẩm phán Tòa án nhân dân; Những yêu cầu đối với Thẩm phán khi làm nhiệm vụ Tại Phần thứ hai

"Xét xử các vụ án hình sự"có mục riêng về "Xét xử các vụ án liên quan đến phụ nữ" với hai nội dung chính là xét xử các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là phụ nữ và xé xử các vụ

án hình sự mà bị hại là phụ nữ bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm đúng thủ tục tố tụng chung và những đặc điểm riêng của phụ nữ, phải nắm chắc và thực hiện đúng các quy định của pháp luật và Bộ luật Hình sự khi bị hại là phụ nữ và về đường lối

xử lý bị cáo là phụ nữ [47]

- Sách “Công ước của Liên Hợp Quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt

đối xử với phụ nữ” do TS Dương Thanh Mai chủ biên (2004) Cuốn sách cung cấp

những thông tin, hiểu biết cần thiết về Công ước CEDAW - một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Trên cơ sở

làm rõ các thuật ngữ cơ bản “phân biệt đối xử với phụ nữ”, “sự bình đẳng giữa nam và

nữ” theo CEDAW, cuốn sách bàn luận đến sự cần thiết nhận thức ngày một sâu sắc và

đầy đủ, toàn diện hơn khái niệm “phân biệt đối xử với phụ nữ” và trách nhiệm xóa bỏ

mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Nội dung chính của cuốn sách là phân tích, bình luận khoa học theo từng điều của Công ước nhằm làm rõ mối quan hệ giữa CEDAW với hệ thống pháp luật Việt Nam vì quyền bình đẳng của phụ nữ, giúp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và tăng cường trang bị nhận thức giới, tư duy lồng ghép giới, góp phần phục vụ nhu cầu xây dựng Dự thảo Luật về bình đẳng giới

Trang 17

- Sách “Quyền con người trong thi hành công lý: Sổ tay về quyền con người dành

cho Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư” do Vụ hợp tác quốc tế, TAND tối cao biên dịch

(2010) Trên cơ sở tài liệu gồm 16 chương của Cao ủy Liên Hợp Quốc về các quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm các quyền này trong quá trình thực thi công lý, cuốn sách lựa chọn và giới thiệu một số nội dung cơ bản của tài liệu nhằm giúp cho các Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư hiểu rõ thêm các quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng Nội dung Chương II của cuốn sách giới thiệu những văn kiện pháp lý cơ bản chung về quyền con người và cơ chế thực thi, nhấn mạnh nội dung của những văn kiện pháp lý liên quan mang lại một hiểu biết cơ bản về việc những người hành nghề luật có thể sử dụng các nguồn luật này như thế nào, chủ yếu ở cấp quốc gia và trong một phạm vi nào đó, ở tầm quốc tế Đặc biệt, Chương XI với nội

dung “Quyền của phụ nữ trong thi hành công lý ” giúp người đọc hiểu được các vấn đề

chuyên biệt về quyền con người mà phụ nữ gặp phải trong những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống, tăng cường nhận thức của Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư về QPN được bảo vệ như thế nào trong luật của quốc gia và có thể làm gì để tăng cường việc bảo vệ QPN

tại quốc gia của mình Chương XV “Bảo vệ và bồi thường cho nạn nhân tội phạm và nạn

nhân vi phạm quyền con người” giúp cho những người hành nghề luật xác định những biện

pháp mà các quốc gia phải thực hiện và nhận thức về chức năng của mình với tư cách là Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư trong việc bảo vệ nạn nhân của tội phạm và nạn nhân

bị xâm phạm quyền con người Những thông tin về các quyền cơ bản của con người và việc bảo đảm các quyền này trong quá trình thực thi công lý mà cuốn sách cung cấp có đóng góp rất quan trọng trong bối cảnh lý luận về bảo vệ QPN ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những khoảng trống về nhận thức vị trí, vai trò của Tòa án và các chức danh của nghề luật nói chung nhằm bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các QPN

- Sách “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người ” do GS.TS Võ Khánh Vinh

chủ biên (2011) Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở nước ta, ngoài những vấn đề nhận thức chung về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người của Liên Hợp Quốc và của một số khu vực, cuốn sách có những chuyên

đề bàn sâu về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay như “Cơ chế

bảo vệ quyền con người bằng Tòa án ở Việt Nam”, “Một số suy nghĩ về cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay”, “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền của người bị hại ở Việt Nam” Cuốn sách đã thành công trong những luận giải về cơ chế bảo

Trang 18

đảm, bảo vệ quyền con người nói chung và ở Việt Nam nói riêng Đồng thời, làm sáng tỏ

cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người mang tính nhà nước ở Việt Nam, theo đó, tư pháp

là một thiết chế ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền

con người Đặc biệt, chuyên đề “Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án ở Việt Nam”

của tác giả Đinh Thế Hưng đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền

con người bằng Tòa án với việc đưa ra định nghĩa “bảo vệ quyền con người bằng Tòa án”,

phân biệt cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án với cơ chế bảo vệ quyền con người bằng hành chính hay cơ chế bảo vệ xã hội, nêu lên những đặc điểm riêng của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng Tòa án

- Sách “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị ” do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2011) Với tập hợp các chuyên đề như: “Nhận thức chung

về quyền dân sự: Khái niệm và nội dung”, “Quyền chính trị và việc thực hiện các quyền chính trị ở Việt Nam”, “Quyền sống của con người - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”,

“Quyền bình đẳng trước pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, “Quyền con người

trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, cuốn

sách giúp hình thành nhận thức chung và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền dân

sự, quyền chính trị: khái niệm, bản chất, thuộc tính, nội dung một số quyền cơ bản Đặc

biệt, chuyên đề “Cơ chế tư pháp bảo đảm quyền dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả

Trần Văn Biên đã làm sáng tỏ quan niệm thế nào là hoạt động tư pháp, hoạt động tư pháp với việc bảo đảm quyền dân sự Theo tác giả, hoạt động tư pháp với việc bảo đảm quyền dân sự là lĩnh vực hoạt động đảm bảo quyền dân sự có hiệu lực, hiệu quả cao nhất, thường được tiến hành khi các quyền dân sự của công dân bị xâm hại hoặc có tranh chấp, có nhiệm

vụ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân

- Sách “Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính” do GS.TSKH Đào Trí Úc

- PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên (2014) Cuốn sách gồm hơn 20 bài nghiên cứu của các chuyên gia luật học có uy tín ở Việt Nam và một số bài viết tham khảo có liên quan của một số tổ chức quốc tế, trong đó, Phần I của nội dung cuốn sách là nhóm bài viết với chủ đề

Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Trong chủ đề này, các bài viết

đã đưa ra những khái niệm, nhận định, phân tích để làm rõ cơ sở lý luận về một số vấn đề của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như: Tư pháp, quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền; bản chất, đặc điểm và các nguyên tắc chủ đạo của quyền

tư pháp; tính độc lập của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền

Trang 19

- Sách "Quyền con người" do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2015) Trong

đó phần 2 và phần 3 của cuốn sách có nhiều nội dung nghiên cứu chuyên sâu nhằm làm rõ cơ chế pháp lý quốc gia và cơ chế pháp lý quốc tế bảo vệ quyền con người Đặc biệt, phần 2 của cuốn sách gồm các chương về Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án, Bảo vệ quyền con người bằng các hình thức pháp lý hành chính, Các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong trật tự nhà nước pháp quyền ở nước ngoài, Bảo đảm quyền con người bằng các tổ chức xã hội tự quản trong các đơn vị dân cư truyền thống ở Việt Nam đã đưa ra những khái niệm, nhận định, phân tích để làm rõ một số vấn đề của bảo vệ quyền con người bằng Tòa án và bảo vệ quyền con người bằng các hình thức pháp lý khác tại Việt Nam và nước ngoài

- Sách "Các chiều cạnh giới của sự tách biệt xã hội hướng tới chính sách toàn diện

hơn đối với phụ nữ" do GS.TS Võ Khánh Vinh và GS.TS Nguyễn Hữu Minh đồng chủ

biên (2016) Là tập hợp các nghiên cứu tập trung vào 3 chủ đề: Các quan điểm nghiên cứu

về các chiều cạnh giới của sự tách biệt xã hội, cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội và những vấn đề mới trong việc hoạch định chính sách hướng tới sự hòa nhập xã hội, cơ hội phát triển cho nhóm phụ nữ yếu thế Trong đó, các bài nghiên cứu thuộc chủ đề phụ nữ tiếp cận với các nguồn lực xã hội tập trung vào các vấn đề phụ nữ tham chính, phụ nữ với việc tiếp cận, sử dụng đất đai, phụ nữ với việc tiếp cận các nguồn lực xã hội đã đưa ra các đề xuất về chính sách pháp luật và các biện pháp pháp lý nhằm tăng cơ hội cho phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ nghèo, dân tộc thiểu số

- Bộ tài liệu tập huấn “Quyền và giới tại Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển

xã hội (2015) Trên cơ sở nghiên cứu tiếp cận về quyền và giới, tài liệu phân tích, làm rõ tình trạng định kiến giới, bất bình đẳng giới, hạn chế về quyền sở hữu tài sản của phụ nữ hiện nay và sự cần thiết xây dựng và thực thi quyền sở hữu tài sản của phụ nữ Tài liệu đã

hệ thống những quyền về tài sản của phụ nữ trong các văn bản pháp luật như Bộ luật Dân

sự, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình làm cơ sở pháp lý cho việc xem xét, bảo vệ quyền tài sản của phụ nữ trong thực tiễn

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bảo đảm quyền và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ

trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật” do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức

tháng 10/2016 Là tập hợp nghiên cứu của nhiều tác giả, trong đó đề cập đến những khía cạnh khác nhau về QPN, bảo vệ QPN như: QPN trong tiến trình hội nhập từ góc độ quản lý nhà nước; QPN trong các luật đất đai của Việt nam; Pháp luật hộ tịch với việc lồng ghép và

Trang 20

bảo đảm vấn đề bình đẳng giới; Công tác xã hội với việc bảo vệ QPN; Vấn đề mang thai hộ với việc bảo đảm QPN và trẻ em Đây là những nội dung nghiên cứu có đóng góp rất quan trọng nhằm tăng cường nhận thức và làm sáng tỏ về QPN và bảo vệ QPN trong từng lĩnh vực pháp lý cụ thể

- Một số báo cáo có nội dung liên quan đến đề tài như: Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hệ thống tòa án một số nước trên thế giới của Văn phòng Quốc Hội (4/2014); Tập hợp các báo cáo, chuyên đề về hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; về quyền tư pháp và chế định Thẩm phán (2014) của Tòa án nhân dân tối cao Là tập hợp các báo cáo, nghiên cứu, giải trình và đề xuất tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, đặc biệt là sự cần thiết thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên là một phương thức thực hiện nguyên tắc hiến định và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Ngoài ra, có một số chuyên đề nghiên cứu

về tiêu chuẩn, phương thức tuyển chọn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán trên thế giới là nguồn thông tin tham khảo liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

- Một số luận án tiến sĩ luật học có nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài

như: Luận án "Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện

nay" (2013) của Đặng Công Cường, Trường Đại học Luật Hà Nội

Ngoài ra, còn có một số lượng đáng kể các bài báo khoa học được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành đã tập trung giải mã một hoặc một số vấn đề lý luận liên quan đến chủ đề của luận án Có thể kể đến nhóm các bài báo nghiên cứu về QPN như:

Bài báo của tác giả Lưu Bình Nhưỡng, Tổng quan về quyền của phụ nữ theo pháp luật

Việt Nam, Bài báo của tác giả Chu Mạnh Hùng, Ảnh hưởng của Nho giáo đến việc đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ ở Việt Nam, Tạp chí Luật học (2010); Bài báo

của tác giả Ngô Vương Anh, Quyền của phụ nữ Việt Nam nhìn từ lịch sử đến đương

đại, Tạp chí Nhân quyền Việt Nam (2013) Nghiên cứu theo hướng tìm hiểu QPN

dưới góc độ so sánh luật thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, phạm vi và đối tượng nghiên cứu theo hướng này đa dạng và cụ thể với giá trị ứng dụng cao Đáng chú ý nhất là chùm bài viết trên Tạp chí Luật học, số chuyên đề tháng 2/2010: Bài

“Quyền của phụ nữ các nước ASEAN dưới góc độ so sánh luật” của tác giả Vũ Thị Lan Anh; bài “Cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của phụ nữ trong khuôn

khổ ASEAN” của tác giả Chu Mạnh Hùng và Nguyễn Thị Hồng Yến; bài Quyền dân sự

Trang 21

và quyền kinh tế của phụ nữ ở nước Cộng hòa Indonesia của tác giả Đỗ Đức Hồng

Hà; và các bài báo đăng rải rác trên các tạp chí: bài báo của tác giả Trần Thị Huệ, “Một

số khía cạnh pháp lý về quyền của phụ nữ ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”,

Tạp chí Luật học (2/1011); bài báo của tác giả Lê Thị Anh Đào, Quyền của phụ nữ

nhiễm HIV/AIDS dưới góc độ luật quốc tế, Tạp chí Luật học (6/2013); bài báo của tác

giả Vũ Thị Lan Anh, “Quyền của phụ nữ và pháp luật hiện hành bảo vệ quyền của phụ

và 2/ Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam Cụ thể:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2006), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc

thực hiện bình đẳng giới trong ngành Tòa án nhân dân do TAND tối cao thực hiện

Đề tài đã dành một phần lớn nội dung của Chương II để làm rõ đặc thù nghề nghiệp,

cơ sở thực tiễn của việc thực hiện bình đẳng giới trong ngành TAND Đề tài đã đánh giá những đặc điểm chung, đặc điểm riêng của từng giới tính, với sự tiến bộ của từng giới trong nghề nghiệp Bên cạnh đó, phần các chuyên đề của đề tài, có những chuyên

đề đi sâu phân tích thực trạng bình đẳng giới trong ngành TAND như: “Bình đẳng giới trong ngành Tòa án nhân dân - Thực trạng và một số kiến nghị”, “Thực trạng tổ chức

và hoạt động của cán bộ nữ Văn phòng TAND tối cao - Giải pháp và kiến nghị”; hoặc

ở cả hai góc độ là thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án bảo vệ QPN và thực trạng tổ chức và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngành Tòa án như: “Vấn đề bình đẳng giới trong công tác xét xử các vụ án dân sự”, “Vấn đề bình đẳng giới trong công tác giải quyết các vụ án lao động, kinh doanh, thương mại”, “Thực tế công tác xét xử phúc thẩm các loại vụ án và vấn đề bình đẳng giới trong công tác xét xử phúc thẩm”… Trên

cơ sở phân tích thực trạng hoạt động xét xử của Tòa án bảo vệ QPN bằng cách nêu và phân tích một số vụ án cụ thể, điển hình; thống kê số lượng nữ Thẩm phán, số lượng

nữ cán bộ lãnh đạo ở một số đơn vị Tòa án cụ thể, phân tích và luận giải về tổ chức lao động nữ, kết quả xét xử của nữ Thẩm phán, cán bộ Tòa án, đề tài đã đưa ra một số giải pháp để thực hiện bình đẳng giới trong ngành TAND

Trang 22

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2016), Bảo đảm quyền của phụ nữ ở Việt Nam

hiện nay do Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

thực hiện Với nội dung của Chương 2: Thực trạng bảo đảm QPN ở Việt Nam hiện nay, đề tài đã tập trung luận giải các vấn đề thực tiễn về bảo đảm QPN, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành tựu, hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm QPN ở Việt Nam hiện nay

- Sổ tay Thẩm phán hướng dẫn xét xử vụ án hình sự về các tội liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em gái là tài liệu tập huấn biên soạn bởi sự hợp tác của Tòa án nhân dân tối cao và UNODC tại Việt Nam nhằm nâng cao hiểu biết, kỹ năng, năng lực cho Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong hoạt động giải quyết các vụ

án bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái Sổ tay có các nội dung cơ bản về: Tìm hiểu về bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em gái; Cơ sở pháp lý về phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em gái; Nhiệm vụ của Tòa án khi xét xử các vụ

án hình sự có liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em gái Với nội dung đặc biệt chú trọng đến phụ nữ và trẻ em gái bị bạo lực, Sổ tay giúp nâng cao nhận thức cho cán bộ Tòa án nhận biết và vượt qua các phân biệt đối xử mang tính cấu trúc và thúc đẩy bình đẳng giới; Nâng cao chuẩn mực và ứng xử của Thẩm phán và nâng cao hiệu quả công việc của Tòa án; Tăng cường tiếp cận công lý cho nạn nhân của bạo lực trên cơ

sở giới và giảm thiểu nguy cơ biến họ trở thành nạn nhân lần thứ hai nạn nhân gián tiếp; Thúc đẩy chia sẻ những thông lệ tốt của các Tòa án trên thế giới nhằm đảm bảo rằng phụ

nữ và trẻ em gái với tư cách là bị hại nhận được sự bảo vệ và hỗ trợ đầy đủ trong suốt quá trình tha gia tố tụng hình sự [47]

- Sách “Công ước của Liên Hợp Quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân

biệt đối xử với phụ nữ” do TS Dương Thanh Mai chủ biên, xuất bản năm 2004 Trên

cơ sở phân tích, đưa ra những số liệu, bảng biểu minh họa về những quy định pháp luật của Việt Nam tương ứng với từng điều luật của CEDAW, nghiên cứu đưa ra những luận giải về sự tương thích và đáp ứng trong thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam để bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ Việt Nam theo đúng tinh thần của Công ước CEDAW Nghiên cứu đã đưa ra được một số nhận định khách quan và mang tính thuyết phục về nhiều vấn đề liên quan đến xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, trong

đó một số vấn đề đáng quan tâm là: các quy định pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ cũng như các chế tài áp dụng đối với những người có hành vi xâm

Trang 23

phạm tới các quyền đó tương đối đầy đủ; hệ thống các cơ quan Tòa án, cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp đảm bảo giải quyết tranh chấp, vi phạm liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ đã góp phần quan trọng vào việc thực thi quyền bình đẳng của phụ nữ, phòng ngừa, ngăn chặn các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và các công dân khác tiến hành các hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ; pháp luật hình sự Việt Nam luôn luôn coi phụ nữ là đối tượng được bảo vệ bình đẳng như mọi công dân khác và là đối tượng được bảo vệ đặc biệt trong một số lĩnh vực và trong những điều kiện nhất định liên quan đến đặc thù giới và giới tính của phụ nữ… Kết quả nghiên cứu của đề tài trên phương diện thực tiễn đã được ứng dụng vào quá trình

đề xuất xây dựng Dự thảo Luật về bình đẳng giới

- Sách: Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính do GS.TSKH Đào Trí Úc -

PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên, xuất bản năm 2014 Với 2 trên 3 nhóm chủ đề lớn được đề cập trong cuốn sách là: Cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và Liêm chính tư pháp: Những vấn đề và giải pháp, các bài viết đã phân tích và làm rõ những vấn đề thực tiễn trong công tác cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án; tính độc lập của Thẩm phán và vấn đề liêm chính, thực tiễn giám sát việc thực hiện quyền tư pháp, đảm bảo tăng cường liêm chính của cơ quan tư pháp hiện nay làm cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị nhằm đề cao liêm chính tư pháp và cải cách tư pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

- Kỷ yếu Hội thảo: Đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, hình sự liên quan

đến phụ nữ, trẻ em trong giai đoạn 2001 - 2004 của Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân

tối cao (2005) Tài liệu hội thảo do các Thẩm phán trình bày nhằm đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, hình sự liên quan đến phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn 2001 - 2004 Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, hình sự liên quan đến phụ nữ trong giai đoạn này đã được tổng kết tương đối đầy đủ trên cơ sở phân tích, đánh giá số liệu thống kê của TAND tối cao về tình hình thụ lý, xét xử các vụ án có liên quan đến phụ nữ và phân tích một số vụ án liên quan đến phụ nữ đã xét xử sai hoặc gặp khó khăn, vướng mắc Có hai mảng nội dung chính được đề cập, bao gồm: Tình hình xét xử các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là phụ nữ và một số vấn đề cần quan tâm, những vướng mắc cần tháo gỡ trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là phụ nữ Tình hình xét xử các vụ án dân sự và hôn nhân gia đình

có liên quan đến phụ nữ và một số vấn đề cần quan tâm, những vướng mắc cần tháo gỡ

Trang 24

cơ sở đánh giá công tác xét xử của Tòa án đối với từng loại án hình sự, dân sự có liên quan đến phụ nữ, các tác giả đã đưa ra nhiều nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật bảo vệ phụ nữ, hoàn thiện kỹ năng, nâng cao nghiệp vụ của Thẩm phán để đảm bảo chất lượng xét xử bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong các vụ án khi được giải quyết tại Tòa án

- Kỷ yếu Hội thảo: Bình đẳng giới trong hệ thống Tòa án Việt Nam và trong hoạt

động xét xử do TAND tối cao tổ chức (2009) Mặc dù được thực hiện trong quy mô hội

thảo nhưng những chuyên đề được trình bày cho phép hình dung bức tranh thực trạng đa chiều, nhiều mầu sắc về bình đẳng giới trong hệ thống Tòa án Việt Nam và trong hoạt động xét xử Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cho phép đánh giá một cách khái quát và toàn diện về phụ nữ trong hệ thống Tòa án Việt Nam: các hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ trong ngành Tòa án, những thách thức đối với người phụ nữ công tác trong ngành Tòa án, bình đẳng giới

và sự tiến bộ phụ nữ với sự phát triển của Tòa án Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp các số liệu cụ thể về kết quả thực hiện bình đẳng giới trong hoạt động xét xử các

vụ án hình sự, dân sự; đặc biệt chỉ ra những hạn chế, bất cập trong hoạt động áp dụng pháp luật, xét xử các vụ án liên quan đến phụ nữ trong hai lĩnh vực này để đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong hoạt động xét xử của Tòa án

Nghiên cứu thực tiễn pháp luật và hoạt động của Tòa án bảo vệ QPN ở Việt Nam được thể hiện bằng hình thức bài báo đăng trên các tạp chí nghiên cứu khoa học còn khá hạn chế, thể hiện qua số lượng khiêm tốn của các công trình được công bố theo

hướng này: Bài báo của tác giả Bùi Thị Đào, Pháp luật Việt Nam với việc bảo đảm quyền

bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe theo CEDAW, Tạp chí Luật học

(3/2006); bài báo của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự ở

Việt Nam trong việc bảo vệ phụ nữ, Tạp chí Nghiên cứu Luật học (3/2008); bài báo của

tác giả Phan Chí Hiếu, Tình hình tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em và công tác xét xử của

ngành Tòa án nhân dân, Tạp chí Thông tin khoa học xét xử (3/2008); bài báo của tác giả

Phùng Trung Tập, Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Tạp chí

Nghiên cứu Lập pháp (5/2012); Bên cạnh đó, một số bài báo theo hướng nghiên cứu

thực tiễn pháp luật nước ngoài về QPN như: bài báo của tác giả Dương Tuyết Miên: Pháp

luật hình sự Lào với việc bảo vệ quyền của người phụ nữ, Tạp chí Luật học (2/2010); bài

báo của tác giả Nguyễn Tuyết Mai: Pháp luật phòng chống bạo lực gia đình ở Singapore

nhìn từ góc độ bảo vệ quyền của phụ nữ, Tạp chí Luật học (2/2010);

Trang 25

Thời gian gần đây, các luận án, luận văn trong lĩnh vực khoa học pháp lý thường lựa chọn chủ đề gắn với thực tiễn để tăng cường tính ứng dụng của công trình nghiên cứu Theo đó, các luận án nghiên cứu về bảo vệ QPN ở Việt Nam chuyên sâu theo hướng này phải kể đến: Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Thu Thảo (bảo vệ tại

Khoa Luật, ĐHQG, 2014) với chủ đề: Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong

lĩnh vực hôn nhân và gia đình tại Việt Nam hiện nay; Luận án Tiến sĩ Luật học của

Nguyễn Thị Thanh Nhàn (bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội, 2017) với chủ đề:

Đảm bảo quyền của phụ nữ ở nông thôn Việt Nam hiện nay; Bên cạnh đó, nhóm

luận văn thạc sĩ liên quan đến nghiên cứu của đề tài chủ yếu là những nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội với mũi nhọn là đào tạo cử nhân luật học chuyên ngành quyền con người: Luận văn Thạc sĩ Luật học của Ngô Thị

Thanh (bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG năm 2013) với chủ đề: Bảo đảm quyền con

người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trương

Thị Thùy Dung (bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2014) với chủ đề: Vai trò của tư pháp

trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Phan

Thị Sánh (bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2014) với chủ đề: Vai trò của Tòa án trong

việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay; Luận văn Thạc sĩ Luật học của

Nhiếp Thị Liên (Bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2015) với chủ đề: Tòa án với vai trò

bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự Mặc dù chủ

đề chung của những nghiên cứu này là về thực tiễn vai trò, hoạt động bảo vệ quyền con người trong hoạt động của Tòa án nhưng vẫn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đi theo định hướng bảo vệ QPN như: Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thu

Hằng (bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2012) với chủ đề: Thực hiện pháp luật bình đẳng

giới ở Việt Nam hiện nay; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thị Hồng Nhung (bảo

vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2013) với chủ đề: Bảo vệ quyền của người phụ nữ trong

quan hệ tài sản giữa vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Luận

văn Thạc sĩ Luật học của Phạm Thị Chuyền (bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQG, 2015) với

chủ đề: Bảo vệ quyền của phụ nữ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng theo Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Từ kết quả nghiên cứu nhóm luận án, luận văn này cho thấy, chủ đề bảo vệ QPN thường được tìm hiểu, tiếp cận theo hướng nghiên cứu chính là bảo vệ quyền con

Trang 26

người Nhóm luận án, luận văn đã chỉ ra một số vấn đề thực tiễn về bảo vệ QPN, thể hiện sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đến việc vận dụng lý luận cơ bản về bảo vệ QPN vào thực tiễn, đánh giá tác động của việc áp dụng pháp luật trong một số lĩnh vực

cụ thể nhằm bảo vệ QPN…

1.1.1.3 Tình hình nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

- Sách: Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính do GS.TSKH Đào Trí Úc -

PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên, xuất bản năm 2014 Với 2 trên 3 nhóm chủ đề lớn được đề cập trong cuốn sách là: Cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và Liêm chính tư pháp: Những vấn đề và giải pháp, các bài viết đã phân tích và làm rõ những vấn đề thực tiễn trong công tác cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án; tính độc lập của Thẩm phán và vấn đề liêm chính, thực tiễn giám sát việc thực hiện quyền tư pháp, tăng cường liêm chính của cơ quan tư pháp hiện nay

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2016), Bảo đảm quyền của phụ nữ ở Việt Nam

hiện nay do Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

thực hiện Trên cơ sở chương I, II của đề tài đã làm rõ lý luận và thực tiễn bảo đảm QPN ở Việt Nam hiện nay, chương III của đề tài đã đưa ra kiến nghị cần quán triệt năm quan điểm

cơ bản và thực hiện đồng bộ sáu giải pháp để bảo đảm QPN ở Việt Nam hiện nay Theo đó,

đề tài nhấn mạnh để đảm bảo QPN, cần chú trọng xử lý vi phạm pháp luật về QPN, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật bằng cách nội luật hóa kịp thời và đầy đủ các cam kết quốc tế về QPN; Chú trọng rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành không còn phù hợp, bổ sung các quy định đặc thù cho phụ nữ ở nông thôn, miền núi; Mặt khác, bản thân người phụ nữ phải nỗ lực vươn lên, vượt qua rào cản để tiếp cận và hưởng thụ quyền Mặc dù, chưa được công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành nhưng lượng thông tin do các bài viết, báo cáo nói trên phản ánh hàm lượng khoa học đậm đặc và là nguồn tư liệu vật chất rất quan trọng cần được tham khảo khi triển khai

các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề Tòa án bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

- Bài viết: Hoàn thiện pháp luật về quyền bảo vệ đời tư, quyền tiếp cận thông

tin, giám sát trực tiếp của người dân trong bối cảnh đại dịch Covid - 19 ở Việt Nam

của tác giả Phan Thị Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (408), tháng 4/2020 Trong bài viết tác giả cho rằng: Các quyền con người vốn là những giá trị cao quý cần được tôn trọng và bảo đảm, nhưng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay,

Trang 27

chúng ta cần đặt quyền con người trong mối quan hệ với lợi ích chung của xã hội; có nghĩa là, các quyền cá nhân phải hài hoà với quyền của nhóm, quyền của số đông Từ

đó tác giả đã kiến nghị: Cần nâng cao nhận thức về vai trò của người dân trong giám sát trực tiếp hoạt động của các cá nhân, cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp ngăn chặn Cụ thể là, cần ban hành Luật Giám sát của Nhân dân, trong đó quy định riêng về hình thức giám sát trực tiếp của người dân trong trường hợp xảy ra dịch bệnh; Việc hạn chế quyền bảo vệ đời

tư của người bệnh cần được quy định rõ trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm… Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập tới quyền con người nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu QPN

- Bài viết: Bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của phụ nữ đăng trên web:

phu-nu-275756 của tác giả Phan Thị Thùy Trâm Trong bài viết tác giả đã kiến nghị: Cần hướng đến việc hỗ trợ phụ nữ khai thác, phát huy điểm mạnh một cách hợp lý, thông qua đó hạn chế bất lợi có thể nảy sinh trong thực tế và cần có các chính sách hỗ trợ để giảm thiểu khoảng cách về lương, thu nhập, thời gian của nữ so với nam; Nên tăng cường các chính sách bù đắp dành riêng cho phụ nữ theo từng nhóm cụ thể, như với nữ cán bộ, công chức, viên chức là chính sách, quy định pháp luật về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại, quy hoạch, bổ nhiệm, các vấn đề an sinh xã hội hỗ trợ hài hòa công việc xã hội, gia đình và tuổi lao động…

https://nhandan.com.vn/chuyen-de-cuoi-tuan/bao-dam-quyen-tiep-can-binh-dang-cua Bài viết: Bình đẳng giới và xã hội hiện đại, đăng trên trang web:

https://tcnn.vn/news/detail/45939/Binh-dang-gioi-va-xa-hoi-hien-dai.html năm 2020, tác giả Lê Thị Quý đã đề xuất : Cần phải xác lập hệ thống chỉ tiêu giới rõ ràng, không chung chung để phấn đấu, chẳng hạn, nếu một nam và một nữ cùng có trình độ ngang nhau ở cơ quan, tổ chức thì phải tính đến con đường đi đến thành công của họ có khác biệt giới để ứng xử công bằng Phụ nữ tuyệt đối không cần ưu tiên vì thực tế đã chứng minh sự phấn đấu của phụ nữ là phi thường; Việc giám sát các kế hoạch có tính đến giới và thực thi luật pháp về giới phải làm thường xuyên, hiệu quả và hiệu quả đó phải

đo được từ thực tế; Chính quyền, cơ quan chức năng, người dân phải kịp thời có các giải pháp chống xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em, bạo lực và buôn bán người Các giải pháp cần được thực hiện nghiêm túc và đề cao tính thượng tôn của pháp luật, lấy việc bảo vệ nạn nhân là mục tiêu; Hoàn thiện hệ thống luật pháp, sửa đổi, bổ sung

Trang 28

- Bài viết: Hoàn thiện luật thi hành án hình sự nhằm bảo đảm tốt hơn quyền

con người của phạm nhân của tác giả Bùi Xuân Phái, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

1(377)- kỳ 1, tháng 1/2019 Trên cơ sở phân tích một số bất cập trong việc bảo đảm quyền con người của phạm nhân, tác giả đã kiến nghị: Bổ sung nguyên tắc về bảo đảm thân thể, sức khỏe, danh dự của người chấp hành án và nghiêm cấm hành vi tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo trong thi hành án hình sự cho thống nhất với các quy định của các đạo luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự đã được ban hành và tương thích với các quy định trong Bộ luật nhân quyền quốc tế và các văn bản pháp luật quốc tế khác có liên quan; bổ sung quy định về cơ quan có trách nhiệm trong thi hành án hình sự là Bộ Ngoại giao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân là người nước ngoài; bổ sung quy định và có hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng kinh sách và bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân…Tuy nhiên, bài viết mới nghiên cứu về quyền con người nói chung mà chưa đi sâu nghiên cứu về QPN

- Bài viết: Bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ trong thích ứng với

biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai của tác giả Vũ Ngọc Bình, Tạp chí dân số

kế hoạch hóa gia đình số 9/2018, tác giả đã nhấn mạnh: Phụ nữ cần được tham gia đầy

đủ và hiệu quả trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ rủi ro thiên tai; Việt Nam cam kết tiếp cận bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ sẽ được thúc đẩy hoặc đưa vào trong quá trình thực hiện Thỏa thuận Pa-ri và Khung hành động Sen-đai Kế hoạch hành động nhằm mục tiêu mang đến những tác động xã hội tích cực thông qua cải thiện bình đẳng xã hội và đầu tư có ưu tiên vào những khu vực và nhóm

xã hội dễ bị tổn thương nhất, bao gồm phụ nữ, người nghèo, trẻ em, người già, dân tộc thiểu số… Đặc biệt lồng ghép giới và thúc đẩy bình đẳng giới là một nguyên tắc trong cấu phần về thích ứng của Việt Nam…

- Bài viết: Nguyên tắc “Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của đương sự” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà và Vũ Hoàng Anh, Tạp chí Nghiên cứu

Lập pháp số 13 (413), tháng 7/2020 Bài viết đã phân tích nội dung của nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, những bất cập trong quy định của pháp luật về nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất một số kiến nghị sau: Cần sửa đổi quy định của khoản

2 Điều 4 BLTTDS năm 2015 như sau: Tòa án không được từ chối giải quyết tranh

chấp, yêu cầu dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng Tranh chấp, yêu cầu dân

Trang 29

sự chưa có điều luật để áp dụng là tranh chấp, yêu cầu dân sự thuộc phạm vi điều

chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm tranh chấp, yêu cầu dân sự đó phát

sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng; sửa đổi quy định của khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015 về chủ thể có quyền khởi kiện, yêu cầu và các điều có liên quan trong Bộ luật này cho phù hợp với BLDS năm 2015; theo đó, chỉ có cá nhân, pháp nhân có quyền khởi kiện, yêu cầu và được xác định là đương sự trong vụ việc dân sự Đồng thời, TAND tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn về quyền khởi kiện và việc xác định tư cách đương sự của hộ gia đình,

tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân theo hướng: Tranh chấp liên quan đến tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thì thành viên của tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức không có tư cách pháp nhân là người khởi kiện và được xác định là đương sự trong vụ án dân sự…

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Cùng với lịch sử của phong trào nữ quyền bắt đầu từ thế kỷ XVIII, tư tưởng về

nữ quyền đã được phản ánh rất sớm trong các tác phẩm về QPN Kể từ năm 1792, với

“Bản chứng minh các quyền của Phụ nữ” của bà Mary Wollstonecraft được coi là bản

Tuyên ngôn nữ quyền đầu tiên Tuy nhiên, đến năm 1945, với sự ra đời của Liên hiệp quốc, vấn đề QPN mới được thực sự quan tâm và có những chuyển biến mạnh mẽ Liên hiệp quốc đã ban hành và thông qua rất nhiều các văn bản pháp lý về QPN và bảo

vệ QPN là kim chỉ nam cho các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong việc hoạch

định đường lối hành động vì sự phát triển, tiến bộ của phụ nữ Đặc biệt, “Công ước về

xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (The Convention on the Elimination of all forms of Discimination Against Women - CEDAW) được thông qua

ngày 18/12/1979 đã đề ra những cách thức, biện pháp loại trừ những sự phân biệt đối

xử đối với phụ nữ CEDAW là cơ sở cho việc hoàn thiện về lý luận cũng như thực tiễn cho cuộc đấu tranh bảo vệ QPN trên mọi khía cạnh và lĩnh vực của đời sống xã hội của tất cả các nước nói chung và từng khu vực, quốc gia nói riêng Trong tình hình đó, đã

có một khối lượng khá lớn các tác phẩm nghiên cứu lý luận thuộc lĩnh vực luật học liên quan mật thiết đến nội dung nghiên cứu của đề tài, có thể chia thành từng nhóm vấn đề như sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về QPN

và cơ chế bảo vệ QPN, được công bố dưới dạng các sách chuyên khảo, bài báo khoa

Trang 30

Rights (Quyền của chúng ta: Quyền của phụ nữ là Quyền con người), Zed Books and

North - South Institute, 1993; Caroline Sweetman, Women and Rights (Phụ nữ và

Quyền), Oxfam UK and Ireland, 1995; Andrew Byrnes, Jane Connors, Lum Bik,

Advancing the human rights of Women: Using international human rights standards in domestic litigation (Thúc đẩy quyền con người của Phụ nữ: Sử dụng các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế trong tranh tụng trong nước), The commonwealth Secretariat,

10/1997; Mechanisms for advancing women’s human rights: A guide to using the

Optional Protocol to CEDAW and other international complaint mechanisms (Các cơ

chế thúc đẩy quyền con người của phụ nữ: Hướng dẫn sử dụng cho Công ước CEDAW

và các cơ chế khiếu nại quốc tế khác), Australian Human Rights Commission, 2011;

Haleema Sadia, Rukhsana Shaheen Waraich, Sadia Halima, Cedaw & Woman's Right

to Work in Islamic Law (Cedaw & Quyền làm việc của phụ nữ trong luật Hồi giáo),

Journal of Social Science and Humanities, Vol 30 (2), 8/2022; Liên Hiệp Quốc,

Women’s Rights are Human Rights (Quyền của phụ nữ là quyền con người), 2014…;

và một số bài viết đáng chú ý là: Joan McFarland, From Feminism to Women’s Human

Rights: The Best Way Forward? (Từ nhân quyền đến quyền của phụ nữ: Con đường tốt nhất phải theo?), Atlantis, Volume 22.2 Sring/Summer 1998; Camila Ida Ravnbol, The Human Rights of Minority Women: Romani Women’s Rights from a Perspective

on International Human Rights Law and Politics (Các quyền con người của phụ nữ thiểu số: Các quyền của phụ nữ La-tinh từ quan điểm về luật nhân quyền quốc tế và chính trị), International Journal on Minority and Group Rights 17 (2010) ); Mulki Al-

Sharmani, Legal Reform, Women's Empowerment and Social Change: The Case of

Egypt (Cải cách pháp lý, trao quyền cho phụ nữ và thay đổi xã hội: Trường hợp của

Ai Cập), IDS Bulletin Volume 41 (2), 3/2010; Lisa Reinsberg, Protecting Women’s Rights: International Law and Advocacy (Bảo vệ Quyền của Phụ nữ: Luật pháp Quốc

tế và Vận động chính sách), báo cáo trình bày tại Trung tâm tài nguyên tư pháp quốc

tế (International Justice Resource Center) San Francisco, California ngày 19/6/2014;

Eghosa Osa Ekhator, Women and the Law in Nigeria: A Reappraisal (Phụ nữ và Luật

pháp ở Nigeria: Đánh giá lại), Journal of International Women’s Studies, 16 (2),

(01/2015) 285-296; Gurpinder Kumar, Indian Constitution, women's rights and

empowerment: A gender perspective (Hiến pháp Ấn Độ, quyền và trao quyền cho phụ nữ: Một góc nhìn về giới), Indian Journal of Social Research Vol.62(1+2), (1-4/2021),

Trang 31

69-85 …Những tác phẩm, bài viết này đều có nội dung chính giới thiệu về QPN, phần lớn tác phẩm có điểm chung là đưa ra lý luận về QPN trên cơ sở những điều khoản chính trong luật nhân quyền quốc tế và tiếp tục giải thích các khái niệm có liên quan đặc biệt để hiểu đầy đủ về QPN Mục đích của nhóm nghiên cứu này là cung cấp một

sự hiểu biết cơ bản về quyền con người của phụ nữ nói chung, nhưng do nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến QPN, nên mỗi tác phẩm có một vai trò khác nhau góp phần xây dựng nên lý luận tổng thể về QPN

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu những khía cạnh lý luận và thực tiễn

về Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, được trình bày dưới dạng ấn phẩm là các sách

chuyên khảo, báo cáo, bài nghiên cứu, bao gồm: Sách "Những vấn đề cơ bản của Luật

pháp Mỹ (Fundamental of Amerian Law)" do Khoa Luật trường Đại học New York

biên soạn, do Alan B.Morrison chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia (2007) Đây là công trình nghiên cứu công phu và toàn diện, bao quát mọi lĩnh vực cơ bản trong hệ thống luật pháp Mỹ do tập thể các giáo sư luật hàng đầu trong các lĩnh vực của Đại học New York đảm nhiệm Trong đó, phần Những nguyên tắc chung có các nội dung đáng chú

ý liên quan đến đề tài: giới thiệu chung về sự phân chia cơ bản thẩm quyền giữa bang

và liên bang, trong đó có sự phân bố thẩm quyền tư pháp; ngành tư pháp mạnh theo quy định của Hiến pháp; Tòa án gồm nội dung giới thiệu chung về Tòa án, cách thức lựa chọn Thẩm phán, chia sẻ khối lượng công việc của bộ máy tư pháp, các hệ thống xét xử song song; Luật Hành chính gồm các nội dung về các cơ quan hành chính, các

cơ quan độc lập và sự phân lập quyền lực, trao quyền, thủ tục hành chính, rà soát tư pháp Phần Luật pháp bang và Luật liên bang gồm nhiều nội dung, trong đó có các nội dung về luật hình sự, luật tố tụng hình sự và thực thi luật hình sự; Luật gia đình, công pháp gia đình và tư pháp gia đình; Luật Lao động và việc làm là những giới thiệu tổng quát về pháp luật trong từng lĩnh vực và chỉ dẫn về áp dụng quy định pháp luật trong

một số trường hợp cụ thể ; Báo cáo Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp

hình sự Việt Nam (10/2013), của nhóm chuyên gia đánh giá của Cơ quan Phòng chống

Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) Báo cáo này của nhóm chuyên gia đưa ra các đánh giá trong 3 nội dung chính là: phụ nữ là nạn nhân của tội phạm, phụ nữ vi phạm pháp luật và phụ nữ công tác trong lĩnh vực tư pháp hình sự Trên cơ

sở kết quả nghiên cứu pháp luật, điều tra và khảo sát thực tế nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự và xác định các lĩnh vực cần phải cải thiện

Trang 32

Nghiên cứu đặt ra vấn đề việc thực hiện Luật Bình đẳng giới năm 2006 không nhất thiết yêu cầu đối xử với phụ nữ giống hệt như với nam giới, vì điều này vẫn có thể dẫn tới sự phân biệt Ngược lại, trong một số trường hợp cần áp dụng các biện pháp đặc thù với phụ nữ nhằm đảm bảo cho họ được hưởng sự bình đẳng đầy đủ so với nam giới

và tiếp cận được tất cả các quyền của mình; Các báo cáo của các tổ chức, cá nhân đánh giá về tình hình thực thi quyền của phụ nữ trong thực tế và về tổ chức, hoạt động của Tòa án trong lĩnh vực bảo vệ quyền của phụ nữ: Báo cáo của Ngân hàng quốc tế về tái

thiết và phát triển, Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 2012 Bình đẳng

giới và phát triển - Tổng quan, 2010; Thông cáo báo chí của UN Women, Justice still out of reach for thousands of women in South Asia (Công lý vẫn ngoài tầm với của hàng nghìn phụ nữ ở Nam Á), 7/2011; Báo cáo của Simone Cusack, Eliminating judicial stereotyping Equal access to justice for women in gender-based violence cases, Final paper, Submitted to the Office of the High Commissioner for Human Rights (Xóa bỏ định kiến tư pháp Tiếp cận công lý bình đẳng cho phụ nữ trong các vụ bạo lực trên cơ sở giới, Báo cáo cuối cùng, trình lên Văn phòng Cao ủy Nhân quyền),6/2014; Edwin Cameron, Judicial Accountability in South Africa (Trách nhiệm

tư pháp ở Nam Phi), South African Journal on Human Rights, Vol.6 (2), 1990; [67]

Muhammad Jum'at Dasuki, Women's Right in Islamic Law of Inheritance: Justification

and Illustration (Quyền của phụ nữ trong Luật thừa kế Hồi giáo: Biện minh và minh họa), Burjis, Vol.9 (2),7-12/2022; Adv.Anat Thon Ashkenazy, The Ramifications of the Judicial Reform for the Status of Women in Israel (Hệ quả của cải cách tư pháp đối với vị thế của phụ nữ ở Israel), đăng trên tạp chí The Israel Democracy Institute online ngày

05/3/2023 https://en.idi.org.il/articles/48099; Sri Mardiana Joisangadji, Faissal Malik,

Suwarti, Fulfillment of Women Prisoner's Rights (Case Study of Class II B Penitentiary in

North Maluku) (Thực hiện các quyền của tù nhân nữ (Nghiên cứu điển hình về Trại giam loại II B ở Bắc Maluku), Journal of Social Science, Vol.04 (02), 3/2023; Các nghiên cứu

được trình bày tại các hội thảo: Hội thảo tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên Việt Nam của Giáo sư/ Thẩm phán Kim Jung Min, Viện nghiên cứu và đào tạo tư pháp Hàn

Quốc, Thực trạng và xu hướng xét xử hôn nhân và gia đình tại Hàn Quốc, ngày

01/7/2014; Hội thảo tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên Việt Nam của Giáo sư/

Thẩm phán Cho Soon-pyo, Viện nghiên cứu và đào tạo tư pháp Hàn Quốc, Cơ cấu tổ

chức và thực tiễn xét xử của Tòa án gia đình Hàn Quốc, ngày 09/6/2015; Hội thảo tìm

Trang 33

hiểu về Tòa án gia đình của Nhật Bản, do Tòa án nhân dân tối cao và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tổ chức, 12/2014

Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu phát hành dưới dạng sổ tay, cẩm nang

hướng dẫn về QPN và bảo vệ QPN do Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế về nhân

quyền thực hiện, bao gồm: Equality for Women: A Handbook for NHRIs on Economic,

Social and Cultural Rights (Bình đẳng cho phụ nữ: Sổ tay cho các cơ quan nhân quyền quốc gia về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá), Trung tâm quốc tế về giáo

dục quyền con người Equitas, xuất bản năm 2008; Handbook for Legislation on

Violence against Women (Sổ tay pháp luật về bạo lực đối với phụ nữ), Ban Kinh tế -

Xã hội, Liên Hiệp quốc, xuất bản năm 2009; Mechanisms for advancing women’s

human rights: A guide to using the optional protocol to Cedaw and other international complaint mechanisms (Cơ chế thúc đẩy quyền con người của phụ nữ: Hướng dẫn sử

dụng giao thức tùy chọn cho Cedaw và các cơ chế khiếu nại quốc tế khác), Ủy ban

nhân quyền Australian, xuất bản năm 2011; Supplement to the Handbook for

legislation on violence against Women:"Harmful Pratices" against Women (Bổ sung cho Sổ tay pháp luật về bạo lực đối với phụ nữ: "Hành vi xâm phạm" đối với phụ nữ),

UN Women, New York, 2012; Cedaw Casebook an analysis of case law in Southeast

Asia (Phân tích các trường hợp luật theo Cedaw ở Đông Nam Á), UN Women, 2016; Women's access to Justice: A guide for legal practitioners (Tiếp cận Tư pháp của Phụ nữ: Hướng dẫn dành cho những người hành nghề luật), European Union and the

Council of Europe, 10/2018…

Thứ tư, nhóm luận án, luận văn nghiên cứu có liên quan đến đề tài, đáng chú ý

như: Luận án tiến sĩ luật học Protection of women’s rights in Bangladesh: a legal

study in an internationals and comparative perspective (Bảo vệ quyền của phụ nữ ở Băng la des: nghiên cứu pháp lý trên cơ sở quốc tế và so sánh) của Afroza Begum,

Đại học Wollongong University năm 2004; Luận án tiến sĩ luật học Protection of

Women’s Human Rights Role of Judiciary in India (Bảo vệ quyền con người của phụ

nữ Vai trò của ngành tư pháp ở Ấn Độ) của Haider Ali, Đại học Aligarh Muslim

University, 2010; Luận văn thạc sĩ luật học Indonesian Law and Policy on Rape:

Paralegals and Access to Justice for Rape Victims (Luật pháp và chính sách của Indonesia về hiếp dâm: Trợ lý pháp lý và tiếp cận công lý cho các nạn nhân bị hiếp dâm) của Dewi Novirianti, Đại học Lund University, 2010; Luận văn thạc sĩ Legal and

Trang 34

Policy Framework for Gender Equality and Women’s Empowerment: A Critical Analysis of the Third Millennium Development Goal in Liberia (Khung pháp lý và chính sách về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ: Phân tích quan trọng về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ ba ở Liberia) của Jerry Calson Kammah, Đại học

Malmo University, 2014; Luận án tiến sĩ triết học Law and the Protection of Women

from violence in Jordan (Khung pháp lý và chính sách về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ: Phân tích quan trọng về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ ba ở Liberia)

của Zainab Nimer Khashman, Trường luật Sussex Law School, Đại học University of

Sussex, 2018

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài luận án

1.2.1 Những kết quả đã có và được kế thừa trong luận án

Từ quá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan

đến chủ đề “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, tác

giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đã đạt được sự thống nhất cao trong một

số vấn đề sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã công nhận QPN là một thuật ngữ để chỉ

các QPN với tư cách là một con người và được xem xét thông qua lăng kính giới Theo

đó, QPN được xem là tất cả các quyền con người mà nhân loại tiến bộ thừa nhận và có thêm những quyền mang đặc thù giới nữ Và nhóm quyền của phụ nữ được Tòa án bảo

vệ gồm 2 nhóm quyền: Đó là quyền con người nói chung và quyền của nhóm người dễ

bị tổn thương

Thứ hai, trong các cơ quan thực hiện bảo vệ QPN thì Tòa án là cơ quan truyền

thống thực hiện nhiệm vụ này, khi QPN bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm thì Nhà nước thông qua hoạt động của Tòa án để bảo vệ cho nó được nguyên vẹn, khôi phục lại hiện trạng Với vị trí là cơ quan được trao thực hiện quyền tư pháp, Tòa án giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ QPN Thậm chí có quan điểm cho rằng: Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy để gìn giữ quyền con người [54, tr.261]

Thứ ba, có rất nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau về cơ chế bảo vệ QPN

bằng Tòa án, song nhìn chung, các tác giả đã đưa ra một số lĩnh vực cơ bản mà QPN hay

bị xâm phạm đó là: Lĩnh vực dân sự; lĩnh vực hình sự; lĩnh vực hôn nhân và gia đình và lĩnh vực lao động Tòa án thông qua phương thức đặc trưng là xét xử nhằm bảo vệ QPN trong các lĩnh vực đó, ngoài ra Tòa án cũng thông qua phương thức phối với với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ QPN

Trang 35

Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế bảo

vệ QPN bằng Tòa án ở Việt Nam trong những năm gần đây đã mang lại những thành tựu khá lớn, bảo đảm sự công bằng cho người phụ nữ, các vụ việc giải quyết liên quan đến phụ nữ đều khách quan, minh bạch và thời gian giải quyết nhanh, đúng hạn… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong cơ chế bảo vệ QPN của Tòa

án như: Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán còn yếu kém, hay Thẩm phán thiếu quan tâm, giải thích nên người phụ nữ không biết đưa ra yêu cầu bảo

vệ quyền lợi cho mình, chưa phân chia hợp lý, xem xét, xác định đầy đủ công sức của người phụ nữ trong việc phân chia tài sản chung…

Thứ năm, các giải pháp tăng cường vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

ở Việt Nam đều nhấn mạnh cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện pháp luật về QPN, bảo vệ

QPN; hoàn thiện quy định pháp luật bảo đảm tính độc lập, vô tư và khách quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán; tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của phụ nữ

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Mặc dù các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án đã đạt được kết quả ấn tượng về số lượng và các kết luận khoa học nhưng do góc độ tiếp cận, mục

đích và phạm vi nghiên cứu của các công trình khác nhau nên chủ đề “Tòa án trong

cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” vẫn chưa được đề cập một

cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống Mặt khác, dễ nhận thấy là một số các công trình nghiên cứu được triển khai trước khi ban hành BLTTDS 2015, BLTTHS 2015, BLDS

2015, BLHS 2015…, tuy vẫn chứa đựng nhiều tư liệu tham khảo có giá trị nhưng đã không còn bắt kịp với sự thay đổi mang tính cải cách trong quy định của pháp luật Vì vậy, bên cạnh giá trị cung cấp nguồn tư liệu quý giá, một số luận điểm khoa học xác đáng để có thể kế thừa, tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tình hình

nghiên cứu cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến chủ đề “Tòa án trong cơ chế

bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”chưa được giải mã đầy đủ

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận án đã được xác định, luận án sẽ tập trung giải quyết trọn vẹn một số vấn đề sau:

Một là, phân tích, đưa ra quan điểm khoa học về Tòa án trong cơ chế bảo vệ

QPN, trong đó tập trung xây dựng các khái niệm công cụ: QPN, cơ chế bảo vệ QPN, Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN, đồng thời làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò, phương thức

Trang 36

hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN Kết quả giải mã những vấn đề nêu trên phải dẫn đến xây dựng được tiền đề nhận thức cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

Hai là, mô tả, phân tích, đánh giá đầy đủ về thực trạng pháp luật và thực tiễn

hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam Trong đó, luận án đặt trọng tâm vào việc chỉ ra những bất cập, hạn chế và xác định nguyên nhân của những bất cập, hạn chế của pháp luật và thực tiễn hoạt động ở những lĩnh vực mà QPN dễ bị xâm hại, thể hiện vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam

Thứ ba, luận án xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm

bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay Một số giải pháp có thể kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước đó nhưng cần được luận chứng thuyết phục hơn Một số giải pháp mang tính mới được đề xuất nhờ kết quả nghiên cứu độc lập của luận

án về các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề luận án Các giải pháp cần được xây dựng sát thực tiễn, có tính toàn diện, có điểm đột phá nhằm tập trung giải quyết tương đối trọn vẹn nội dung đề cập trong chủ đề luận án

1.3 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu

Quyền của phụ nữ và bảo vệ QPN nói chung, Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN

nói riêng là vấn đề được cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân chủ đặc biệt quan tâm, thể hiện thông qua hoạt động điều chỉnh pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy nhiên, hoàn toàn có thể diễn ra một thực tế là QPN chưa được bảo vệ một cách hiệu quả trong những không gian và lĩnh vực nhất định

Tình hình nói trên đã có thể diễn ra ở Việt Nam trong thời gian qua do nhận thức lý luận chưa thật đầy đủ, do bất cập đáng kể trong điều chỉnh pháp luật, do nhiều khiếm khuyết, hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật hoặc do chưa có những giải pháp cần và đủ để giải quyết trọn vẹn, triệt để những vấn đề đặt ra Luận án dựa trên giả thuyết đó để định hướng hoạt động nghiên cứu các nội dung liên quan đến chủ đề luận án

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN cần được nhận thức như thế nào?

Câu hỏi này liên quan đến những nội dung cần làm rõ: Quyền của phụ nữ là gì?

Cơ chế bảo vệ QPN được hiểu thế nào và có những cơ chế nào? Quan niệm như thế

Trang 37

nào về Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN? Tòa án có vai trò gì trong cơ chế bảo vệ QPN? Tòa án thông qua phương thức nào để bảo vệ QPN?

- Thực tiễn điều chỉnh pháp luật và thực trạng hoạt động của Tòa án trong cơ

chế bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào?

Câu hỏi này gắn với một số yêu cầu cần giải mã: Trạng thái của chính sách và pháp luật thực định ở Việt Nam về QPN và bảo vệ QPN như thế nào? Thực tiễn hoạt động của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam có những ưu điểm, hạn chế gì? Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế là gì? Những vấn đề pháp lý nào đang đặt ra hiện nay?

- Cần những giải pháp nào nhằm bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?

Câu hỏi này liên quan đến những nội dung cần làm rõ: Nhu cầu bảo đảm Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Những phương hướng chủ yếu là gì? Cần thiết kế các nhóm giải pháp và xây dựng nội dung của từng nhóm giải pháp như thế nào?

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án “Tòa án trong cơ

chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, có thể rút ra một số kết luận sau:

1 Nghiên cứu đề tài thể hiện tính cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng những đòi hỏi về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn và nhu cầu của quá trình hội nhập Với tư cách là một trong những nội dung quan trọng của quyền con người, QPN đã, đang và sẽ ngày càng được coi trọng

2 Hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất cách hiểu về khái niệm cũng như đặc trưng của Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN Tuy có nhiều cơ chế bảo vệ QPN khác nhau nhưng với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền thì Tòa án là cơ chế hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ QPN Cơ chế bảo vệ QPN bằng Tòa án chính là cách thức, phương thức mà Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật thực hiện việc xử lý các hành vi xâm phạm đến QPN và giải quyết các tranh chấp liên quan đến QPN trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

3 Mặc dù, các công trình nghiên cứu đã thống nhất với nhau về một số vấn đề liên quan đến Tòa án trong cơ chế bảo vệ QPN nhưng vẫn còn những vấn đề tranh luận, chưa thống nhất, có nhiều ý kiến khác biệt xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ QPN ở Việt Nam hiện nay

4 Trên cơ sở những quan điểm chưa thống nhất, còn tranh luận, tác giả xác định một số nội dung cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, đồng thời nêu giả thuyết nghiên cứu và đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu cụ thể nhằm định hướng cho việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án

5 Thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích cơ sở lý thuyết

và phương pháp nghiên cứu của luận án, có thể khẳng định rằng, đến nay chưa có công

trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về “Tòa án trong cơ chế bảo

vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” như cách tiếp cận của đề tài, việc nghiên

cứu đề tài “Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” rất có

ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, các công trình nghiên cứu đã nói trên là tài liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ nghiên cứu của mình

Trang 39

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN TRONG CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ

2.1.1 Khái niệm Tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ

2.1.1.1 Quyền của phụ nữ

Phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số nhân loại, là nhóm đông nhất trong các nhóm

xã hội dễ bị tổn thương, vì vậy QPN được hiểu như thế nào và được tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ ra sao luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế và các quốc gia

Những lý thuyết đầu tiên về QPN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX cùng với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội, chính trị… và những đòi hỏi về bình đẳng pháp lý, chính trị của phụ nữ diễn ra ở cấp độ quốc gia tại nhiều nước phương Tây Thuật ngữ “feminist” hoặc “les féministes”, có nghĩa là “chủ nghĩa nữ quyền” được triết gia người Pháp Charles Fourier nêu ra vào năm 1837 [65, tr.92], đến năm

1872 thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp và Hà Lan [68, tr.31], tại Anh quốc vào thập niên 1890 [70 Tr.34] và ở Mỹ vào năm 1910 [72,135] Từ điển Oxford English Dictionary đưa từ "feminist" với nghĩa “người theo nữ quyền” lần đầu vào năm 1852 và "feminism" với nghĩa “chủ nghĩa nữ quyền” vào năm 1895 Theo đó, điểm chung trong cách hiểu về “nữ quyền”, “chủ nghĩa nữ quyền” có nghĩa là phong trào đấu tranh của nữ giới đòi bình đẳng giới tính, lý thuyết bình đẳng về chính trị, kinh tế và xã hội giữa nam và nữ giới, tư tưởng nam nữ bình đẳng, học thuyết ủng hộ quyền bình đẳng giữa hai giới về mặt chính trị, xã hội và nhiều quyền lợi khác Xuất hiện trong bối cảnh nói trên, ở mức độ tổng quát, Woman's Rights - QPN hay quyền

của phụ nữ - được thừa nhận chung là “quyền của phụ nữ được đối xử bình đẳng với

nam giới trong mọi lĩnh vực của xã hội” Cách hiểu này có những biến thể khác nhau

tùy thuộc vào cách tiếp cận của lĩnh vực nghiên cứu Năm 1981, nhà nghiên cứu

Hosken Fran P nhận định: “Nữ quyền, tức quyền nữ giới hay quyền của phụ nữ, là các

quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc

Trang 40

chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn

về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai (trọng nam khinh nữ)” [73, tr.5] Nhà hoạt động nữ quyền Kamla

Bhasin thì cho rằng: “Nữ quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự bóc lột

và áp bức ở các cấp độ vật chất và tư tưởng đối với lao động, sự sinh sản và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung, là hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó” [71] Nữ quyền hiện nay bao gồm cả sự đấu tranh chống lại sự phục tùng của người phụ nữ với đàn ông trong gia đình; chống lại sự bóc lột trong gia đình; chống lại địa vị thấp kém bị duy trì của họ trong nơi làm việc, xã hội, văn hóa và tôn giáo của đất nước họ; và chống lại gánh nặng kép trong việc sinh nở và chăm sóc gia đình của họ Trải qua hàng trăm năm đấu tranh, gắn với các giai đoạn phát triển của phong trào nữ quyền trên toàn thế giới thì quyền của phụ nữ được ghi nhận và ngày càng được trân trọng ở tất cả các quốc gia

Nhìn nhận từ góc độ pháp lý, các nhà khoa học và các chuyên gia pháp lý đều thống nhất rằng QPN không thể tách rời quyền con người, là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời của các quyền con người phổ biến [54], phụ nữ với tư cách là con người đương nhiên có tất cả những quyền gắn với cá nhân con người cần được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ Về nguyên tắc, quyền con người có bao nhiêu nội dung thì QPN cũng có tất cả bấy nhiêu nội dung, các QPN cũng có những đặc trưng của quyền con người và có tính phổ biến đối với phụ nữ Với tính chất là một phần không thể tách rời của quyền con người, QPN cũng là những quyền do tạo hóa ban tặng cho mỗi con người như quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng về quyền lợi, quyền mưu cầu hạnh phúc nhưng để các quyền đó trở thành hiện thực phải được ghi nhận, thể chế hóa thành pháp luật để được xã hội thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ Do

đó, nếu hiểu theo nghĩa rộng, QPN là khái niệm dùng để chỉ quyền con người của phụ

nữ, đó là những quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai, bất cứ chính thể nào Là quyền con người cụ thể, QPN cũng hàm chứa những đặc tính cơ bản của quyền con người Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gắn với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là nhóm người dễ bị tổn thương [17, tr.55] Tiếp cận theo hướng này, QPN (nghĩa hẹp) được hiểu là những

Ngày đăng: 04/07/2023, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Chỉ tiêu 2 Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2007)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
14. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1979), Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”(Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1979), "Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
Tác giả: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
Năm: 1979
16. Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự - Tố tụng Việt Nam, xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dân sự - Tố tụng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đẩu
Năm: 1962
17. Vũ Công Giao - Đinh Ngọc Thắng (2018), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng
Tác giả: Vũ Công Giao - Đinh Ngọc Thắng
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2018
18. Nguyễn Thị Thu Hà (2017), Cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp năm 2013 - Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp năm 2013 - Đề tài khoa học cấp cơ sở
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2017
19. Trần Thu Hạnh (2018), "Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:Luật học, Tập 34. Số 3 (2018) 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Trần Thu Hạnh
Năm: 2018
20. Học viện Toà án (2018), Giáo trình Những vấn đề chung về nghề Thẩm phán, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những vấn đề chung về nghề Thẩm phán
Tác giả: Học viện Toà án
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2018
23. Nguyễn Quốc Hưng (1957), Hình sự Tố tụng, Nxb. Nhà sách Khai Trí Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình sự Tố tụng
Tác giả: Nguyễn Quốc Hưng
Nhà XB: Nxb. Nhà sách Khai Trí Sài Gòn
Năm: 1957
24. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
25. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
26. Khiếu nại số 263/1987, Vụ Gonzalez del Rio kiện Peru (Các quan điểm được thông qua ngày 28/10/1992), trong Tài liệu của Liên Hợp Quốc. GAOR, A/48/40 (tập II), trang 20, đoạn 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu của Liên Hợp Quốc. GAOR, A/48/40
27. Khiếu nại số 387/1989, Vụ Arvo O.Karttunen kiện Phần Lan (các quan điểm được thông qua ngày 23/10/1992), trong tài liệu của Liên hiệp quốc.GAOR, A/48/40 (tập II), trang 120, đoạn 7.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: trong tài liệu của Liên hiệp quốc.GAOR, A/48/40
28. Trần Thị Hồng Lê ( 2016), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam
31. Chu Thị Ngọc, (2017), Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Chu Thị Ngọc
Năm: 2017
32. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng 33. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt," Nxb. Đà Nẵng 33. Quốc hội (2013)
Tác giả: Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng 33. Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng 33. Quốc hội (2013)
Năm: 2013
39. Lý Văn Quyền (2011), "Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam hiện nay", Tạp chí Luật học. Số 3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lý Văn Quyền
Năm: 2011
40. Lê Thị Quý, Giáo trình Xã hội học về giới, Nxb Giáo dục Việt Nam, H.2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học về giới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
50. Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2011
51. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2004
81. (1985)2.S.C.R Valiente kiện Nữ hoàng 673, http://wwwlexum.umontreal.ca/csc-scc/en/pub/1985/vol2/html/1985scr2_0673.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w