MỞ ĐẦU ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN CAO THANH THUẬN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN – TỈNH QUẢNG NGÃI LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội, 2015 ĐẠI HỌC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN
VĂN -
CAO THANH THUẬN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN – TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN
VĂN -
CAO THANH THUẬN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN – TỈNH QUẢNG NGÃI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Cao Thanh Thuận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong cuộc đời mỗi học viên, niềm vui lớn nhất là lúc nhận được tấm bằng tốt nghiệp cao học, đó không chỉ đơn thuần là chứng chỉ hoàn thành khóa học, mà quan trọng hơn, nó còn là một minh chứng về sự khẳng định năng lực bản thân của mỗi người Với tôi, khi bắt tay vào làm luận văn tốt nghiệp, tôi rất
lo lắng, nhưng tôi nghĩ đây sẽ là một thử thách chứa đầy hạnh phúc cho những ai dám vượt qua Tôi luôn tin chắc điều đó vì quanh tôi, có rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ, cổ vũ động viên từ các thầy cô, bạn bè và những người thân trong gia đình.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa du lịch học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã đem hết tâm huyết, truyền dạy cho học viên những kiến thức, kinh nghiệm làm việc quý báu, giúp người học có hành trang vững chắc để phục vụ tốt cho công việc của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Tạ Quy, Vụ phó - Phó Giám đốc Cơ quan đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, các anh chị trong phòng Nghiệp vụ Du lịch, cùng UBND huyện Lý Sơn, đã tạo điều kiện tốt nhất, cung cấp tư liệu, hình ảnh để tôi hoàn thành bài viết của mình.
Là một phần cuộc sống của tôi, tôi vô cùng biết ơn cha mẹ và những người thân trong gia đình đã luôn bên tôi, động viên, cung cấp cho tôi những điều kiện sống và học tập tốt nhất để tôi có thể thực hiện ước mơ của mình.
Và cuối cùng, tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến người đã cho tôi kiến thức quý giá để tôi có thể tự tin hoàn thành và bảo vệ luận văn, đó là TS Phạm
Lê Thảo – Vụ phó Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch Trong quá trình viết luận văn,
Cô đã tạo điều kiện cho tôi phát huy năng lực bản thân, cung cấp cho tôi những phương pháp tiếp cận đề tài một cách khoa học và hiệu quả nhất.
Chân thành cảm tạ!
Cao Thanh Thuận
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
6.Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6
1.1 Các khái niệm về du lịch 6 1.1.1 Du lịch 6 1.1.2 Khách du lịch 6 1.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ du lịch 7 1.1.4 Lao động trong ngành du lịch 9 1.1.5 Thị trường du lịch 9 1.1.6.Thu nhập du lịch 10
1.1.7 Sản phẩm du lịch 11 1.1.8.Điểm du lịch, tuyến du lịch 12
1.1.9.Loại hình du lịch 13
1.2.Phát triển du lịch 16
1.2.1.Khái niệm 16
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 17
1.2.3.Quy hoạch phát triển du lịch 22
Trang 61.3.Khái quát chung về du lịch Quảng Ngãi 24
Chương 2: TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 27
2.1.Tiềm năng du lịch huyện đảo Lý Sơn 27
2.1.1.Vị trí địa lý 27
2.1.2 Tài nguyên du lịch 28
2.1.3 Cơ sở hạ tầng 50
2.1.4 Những đặc điểm về dân cư, xã hội 52
2.2.Thực trạng phát triển du lịch tại huyện đảo Lý Sơn 55
2.2.1 Lượng khách và tổng thu du lịch 55
2.2.2.sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 56
2.2.3.Nguồn nhân lực du lịch 58
2.2.4.Thị trường và sản phẩm 59
2.2.5.điểm du lịch, tuyến du lịch trên đảo 60
2.2.6.ông tác quản lý nhà nước về du lịch 61
2.2.7.ông tác quảng bá, xúc tiến du lịch 62
2.2.8.Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tại Lý Sơn (SWOT) 62
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 70
3.1.Những căn cứ xây dựng định hướng 70
3.1.1.Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ngãi đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 70
3.1.2.ục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo Lý Sơn 70
3.2.Định hướng phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn 71
3.2.1Định hướng phát triển các dịch vụ du lịch 71
3.2.2Định hướng khai thác các tuyến du lịch trên đảo 73
3.2.3 Định hướng thị trường khách du lịch 74
3.2.4Định hướng đầu tư phát triển du lịch 75
3.2.5Định hướng các chỉ tiêu phát triển 76
3.3.Giải pháp phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn 79
Trang 73.3.1.Về quy hoạch phát triển du lịch và quản lý thực hiện quy hoạch 79
3.3.2.Về cơ chế chính sách 82
3.3.3.Về huy động vốn đầu tư 83
3.3.4.Về phát triển nguồn nhân lực 84
3.3.5.Về giữ gìn bản sắc văn hóa bản địa 86
3.3.6.Về phát triển sản phẩm du lịch 86
3.3.7.Về ứng dụng khoa học và công nghệ 89
3.3.8.Về xúc tiến, quảng bá du lịch 90
3.3.9.Về liên kết phát triển du lịch 91
3.3.10.Về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 92
3.3.11.Về đảm bảo an ninh, quốc phòng 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu dân số theo thành phần kinh tế năm 2013 52
Bảng 2.3: Báo cáo tình hình hoạt động du lịch tại Lý Sơn từ 2009-2013 56
Bảng 2.2 : Tổng hợp cơ sở lưu trú trên địa bàn Lý Sơn (tháng 6/2014) 57
Bảng 3.1: Dự báo lượng khách du lịch đến Lý Sơn giai đoạn 2015 - 2020 78
Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu khách sạn của Lý Sơn giai đoạn 2015 - 2020 79
Bảng 3.3: Dự báo nhu cầu lao động du lịch của Lý Sơn giai đoạn 2015 - 2020 79
Trang 101 Lí do chọn đề tài MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay, du lịch đang trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn, mang lại lợi ích kinh tế cao không chỉ ở Quảng Ngãi nói riêng mà cho cảnước nói chung Với lợi thế về sự đa dạng của các nguồn tài nguyên du lịch được phân
bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh, hoạt động du lịch Quảng Ngãi trong những năm qua đã
có sự tăng trưởng vượt bậc Ngày càng có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã
và đang đầu tư, khai thác các khu du lịch, khu kinh tế Dung Quất và các khu côngnghiệp trên địa bàn tỉnh với quy mô ngày càng lớn và đa dạng Du lịch đã góp phầngiải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân;phát huy được một phần tiềm năng các nguồn tài nguyên; đồng thời góp phần vào sựchuyển dịch kinh tế chung của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…
Để hoạt động du lịch tại Quảng Ngãi ngày càng khởi sắc, muốn thu hút được dukhách, kéo dài thời gian lưu trú, mang lại lợi nhuận cao hơn, thì bên cạnh việc đầu tưvào cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, còn cần phải xây dựng một sản phẩm dulịch đặc trưng, một điểm nhấn cho du lịch Quảng Ngãi Thuộc vùng đồng bằng duyênhải miền Trung, tỉnh có lợi thế về tài nguyên du lịch biển, và Lý Sơn là nơi có đầy đủtiềm năng để có thể quy hoạch phát triển thành một điểm du lịch lí tưởng
Nằm về phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 14 hải lý, được bao bọcbởi biển Đông, Lý Sơn như một chiến hạm nổi, tiền đồn canh giữ sự bình yên của lãnhhải Việt Nam Người dân đảo bao đời chất phác, bao lớp cha ông đã nối tiếp nhau xâydựng nên mảnh đất thanh bình tươi đẹp Nơi đây nổi tiếng với nhiều danh thắng đẹpnhư chùa Hang, hang Câu, những bờ biển uốn lượn soi bóng rặng dừa, những đồng tỏimênh mông bát ngát…
Cù lao Ré – đảo Lý Sơn là nơi ra đời của Hải đội Hoàng Sa, đội quân góp phầnquan trọng trong việc đánh dấu chủ quyền lãnh hải Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa trên biển Đông Trên đảo còn lưu giữ nhiều bằng chứng, tài liệu lịch
sử liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hiện là vấn đề mang tính thời sự hiệnnay giữa Việt Nam và Trung Quốc Vương quốc tỏi Lý Sơn, nơi trồng giống tỏi đượccông nhận là ngon nhất Việt Nam, còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, danh thắng đặcsắc, các lễ hội đặc trưng của vùng Trung Bộ và chỉ riêng có ở nơi đây Đặc biệt, LễKhao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ thức hết sức độc đáo, được đánh giá là một lễ hội
Trang 11mang đậm tính nhân văn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của người dânhuyện đảo, vừa tri ân những người có công trong việc giữ gìn biên cương tổ quốc, vừayên lòng những người còn sống, và thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trong lịch
sử giữ gìn và xây dựng của cha ông Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở huyện đảo Lý Sơn và mỗi công trình đều cónhững đóng góp nhằm làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, tính độc đáo của nó trongkho tàng lễ hội cổ truyền của dân tộc Nghiên cứu các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡngqua các di tích, lễ hội dân gian ở một địa phương cụ thể như đảo Lý Sơn sẽ gópphần vào việc xây dựng toàn cảnh về văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội dân gian ở miền
Trung Việt Nam.Cuối cùng, là người con của quê hương núi Ấn sông Trà, tác giả có vốn hiểubiết về đảo Lý Sơn Qua luận văn, tác giả muốn góp một phần công sức nhỏ bé củamình vào việc phát triển hoạt động du lịch Lý Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn - tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Củng cố lý thuyết về du lịch và phát triển du lịch
- Xây dựng cơ sở lý thuyết phát triển bền vững du lịch cho huyện đảo Lý Sơn.Vận dụng cơ sở lý luận vào thực tiễn để đưa ra định hướng và giải pháp hợp lý
- Kết quả của công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo giúp các cơ quan quản
lý nhà nước xây dựng quy hoạch phát triển du lịch sát với thực tiễn các tài nguyên củađảo Lý Sơn
- Ngoài ra, đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và nhữngngười nghiên cứu tiếp theo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận đã được trang bị vào đánh giá tiềm năng, hiện trạnghoạt động du lịch tại đảo Lý Sơn, đề ra những biện pháp hợp lí góp phần phát triển dulịch Lý Sơn theo hướng bền vững, nâng cao đời sống cho người dân, và tạo thêm mộtsản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn cho du khách khi đến với Quảng Ngãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những
Trang 12nhiệm vụ sau:
Trang 13- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch và phát triển du lịch.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển du lịch tại Lý Sơn trong thời gian tới.
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng các nguồn tài nguyên vàhoạt động du lịch tại huyện đảo Lý Sơn từ thực tế trong những năm qua
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung
Luận văn nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
du lịch nhằm đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại Lý Sơn.
Giới hạn về thời gian và không gian
Luận văn tập trung thu thập, nghiên cứu, phân tích số liệu phục vụ đánh giá thực trạng phát triển, xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng tại huyện đảo Lý Sơn trong thời gian 05 năm (từ 2009 – 2013).
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình, khảo cứu về văn hóa, lịch sử, các đề án phát triển kinh
tế - xã hội Lý Sơn như : “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Nhã, bảo vệ tại trường Đại học
khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh), năm 1992 Tác giảnghiên cứu về lịch sử hình thành đảo Hoàng Sa và Trường Sa, về việc ra đời độiHoàng Sa tại Lý Sơn Đây là một đề tài khoa học lịch sử có giá trị rất lớn trong việckhẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam;
“Lý Sơn – Đảo du lịch lí tưởng” của tác giả Lê Trọng do nxb Văn hóa Thông tin
ấn hành tại Hà Nội năm 2007, là tập hợp các bài viết giới thiệu về lịch sử, văn hóa, cácyếu tố kinh tế xã hội nói chung của Lý Sơn Tuy nhiên, quyển sách chưa nêu ra đượccác định hướng để phát triển du lịch;
“Non nước Việt Nam” của Trung tâm công nghệ thông tin (Tổng cục Du lịch
Việt Nam), do nxb Văn hóa Thông Tin ấn hành tại Hà Nội năm 2007, chỉ nêu vài dònggiới thiệu sơ lược về Lý Sơn là một điểm du lịch ở Quảng Ngãi;
Trang 14“Quảng Ngãi một số vấn đề lịch sử văn hóa” của tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, nội
dung sách chia làm 3 phần: Con người, lịch sử, văn hóa Trong đó tác giả cũng dành một
số trang nói về quần đảo Hoàng Sa như “Người dựng bia chủ quyền trên quần đảoHoàng Sa 170 năm trước”[tr.66-69], hay trong phần hiện tượng văn hóa dân gian tácgiả có bài “Lễ hội Khao lề thế lính Hoàng Sa”[tr.110-127] Tác giả Nguyễn Đăng Vũ
đã phân tích và đi sâu nghiên cứu nhiều chi tiết đặc sắc của Lễ Khao lề thế lính HoàngSa;
Ngoài ra còn một số bài viết, tác phẩm, phóng sự liên quan đến đề tài đã đượcxuất bản, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng
Luận văn đã tập trung tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau, từ cơ sở đó tổng kếtcác tiềm năng và nguồn lực để đánh giá thực trạng và xây dựng các phương hướngphát triển cho hoạt động du lịch tại Lý Sơn
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn: Tác giả đã khảo sát
thực địa và phỏng vấn người dân địa phương cũng như những nhà quản lý du lịch tại Quảng Ngãi, để từ đó kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu về tài nguyên, cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động du lịch và các tài liệu liên quan khác
về huyện đảo Lý Sơn.
6.2 Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp cơ bản được
sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch Với địa bàn huyện đảo Lý Sơn, từ các nguồn tài nguyên ban đầu, phân loại để tạo nên các sản phẩm du lịch khác biệt, không trùng lắp nhưng mang tính liên hoàn hỗ trợ nhau Bài luận văn sử dụng phương pháp phân tích những ưu, khuyết điểm, những lợi thế bên trong và những cơ hội, thách thức bên ngoài đối với việc khai thác, phát triển các tiềm năng du lịch tại Lý Sơn.
6.3 Phương pháp thống kê du lịch: Đây là phương pháp không thể thiếu
trong quá trình nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và quá trình, đối chiếu biến động, phát triển của hoạt động du lịch, trên cơ sở đó đưa ra các nhận định và dự báo.
Trang 157 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương Cụ thể là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch tại huyện đảo Lý Sơn
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện đảo Lý Sơn
Trang 16NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Các khái niệm về du lịch
1.1.1 Du lịch
Khi nói đến du lịch, thường thì người ta nghĩ đến một chuyến đi đến nơi nào đó
để tham quan, nghỉ dưỡng, thăm viếng bạn bè họ hàng và dùng thời gian nhàn rỗi đểtham gia các hoạt động thể dục thể thao, đi dạo, phơi nắng, thưởng thức ẩm thực, xemcác chương trình biểu diễn nghệ thuật… hay chỉ đơn giản quan sát các môi trườngxung quanh Hoặc ở khía cạnh rộng hơn, có thể kể đến những người tìm các cơ hộikinh doanh, công tác, dự hội nghị, hội thảo hay đi học tập, nghiên cứu khoa học kĩthuật… Do hoàn cảnh khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội, thời gian và không gian,
và cũng do các góc độ nghiên cứu khác nhau, nên mỗi ngành khoa học, mỗi người đều
có cách hiểu khác nhau về du lịch Theo luật Du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là cáchoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyêncủa mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định”
Qua định nghĩa trên, ta có thể nhận thấy du lịch được tách thành hai phần, cómối quan hệ mật thiết với nhau, đó là:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cánhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhậnthức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tựnhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng
- Lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trongquá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhânhay tập thể ngoài nơi cư trú
1.1.2 Khách du lịch
Khách du lịch là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịchcủa hướng dẫn viên, là đối tượng của các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch Nóiđến du lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con ngườiđến nơi khác nhằm mục đích thoả mãn mọi nhu cầu về nghỉ dưỡng, chữa bệnh, vănhoá, nghệ thuật, thể thao… Đối với hoạt động du lịch, con người với vai trò là một dukhách có nhu cầu du lịch, rời khỏi nơi cư trú để thực hiện tour du lịch Điều này có
Trang 17nghĩa để trở thành một khách du lịch, con người phải hội tụ các điều kiện sau:
- Có thời gian rỗi;
- Có khả năng thanh toán;
- Có nhu cầu cần đươc thoã mãn
Năm 1963, Hội nghị do liên hiệp quốc tổ chức tại Roma (Italia) để thảo luận về
du lịch đã đi đến kết luận phạm trù khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch làcông dân của một nước sang thăm và lưu trú tại nước khác trong khoảng thời gian ítnhất là 24 giờ mà ở đó họ không có nơi ở thường xuyên, nhưng cũng không công nhậnnhững người nước ngoài ở quá một năm hoặc những người đi ra nước ngoài thực hiệnhợp đồng, hoặc tìm nơi lưu trú của mình cũng như những người ở vùng biên giới, sốngnước này sang làm việc nước khác”
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Khách du lịch là người đi du lịch hoặckết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ởnơi đến” Trên cơ sở đó, khách du lịch có quyền lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc dulịch theo đoàn; lựa chọn một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịchcủa tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợpđồng và bảo hiểm du lịch khi sử dụng các dịch vụ du lịch, dựa trên cơ sở quy định hiệnhành Được đối xử bình đẳng, được yêu cầu thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn
về tính mạng, sức khỏe, tài sản khi sử dụng dịch vụ du lịch, được cứu trợ, cứu nạntrong trường hợp khẩn cấp Được bồi thường thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân cungcấp dịch vụ gây ra Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về du lịch
1.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịchcũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng dulịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự phát triển củangành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹthuật Du lịch là ngành sản xuất nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằmthoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật du lịch gồm nhiềuthành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệthống các cơ sở, công trình đặc biệt…
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm nhiều thành phần, chúng có nhữngchức năng và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo ra, thực hiện các sản phẩm du lịch Đểđảm bảo cho việc tham quan du lịch trên quy mô lớn cần phải xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật tương ứng như các khách sạn, nhà hàng, camping, cửa hiệu, trạm cung cấpxăng dầu, trạm y tế, nơi vui chơi thể thao… Khâu trung tâm của cơ sở vật chất
Trang 18kỹ thuật là phương tiện phục vụ cho việc ăn ngủ của khách, tức là nguồn vốn cố định của du lịch Việc đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch căn cứ vào 3 tiêu chí:
- Đảm bảo những điều kiện tốt cho nghỉ ngơi du lịch
- Đạt hiệu quả kinh tế tối ưu trong quý trình xây dựng và khai thác cơ sở vậtchất kỹ thuật
- Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến
Nếu nói du lịch là sự di chuyển của một cá nhân hay một tập thể từ vùng nàyđến vùng khác, từ nước này đến nước khác để thỏa mãn những nhu cầu về vật chất vàtinh thần nhằm tạo cho cuộc sống tươi đẹp thêm thì phục vụ du lịch lại là một guồngmáy sản xuất và cung ứng các dịch vụ từ công tác tuyên truyền quảng cáo, vận chuyển,hướng dẫn đến việc phục vụ ăn, ngủ, vui chơi giải trí, hoạt động xã hội đòi hỏi đượctiến hành một cách đồng bộ, ăn khớp nhịp nhàng và yêu cầu ngày một được cải tiến,nâng cao phù hợp với thị hiếu của khách du lịch Trong đó, việc cung ứng chỗ ăn nghỉcho du khách là một dịch vụ không thể thiếu
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuêbuồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó kháchsạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu” Cơ sở lưu trú du lịch được phân thành:
- Cơ sở đạt tiêu chuẩn tối thiểu là cơ sở lưu trú du lịch có cơ sở vật chất, trangthiết bị và một số dịch vụ chủ yếu có chất lượng tối thiểu, đáp ứng được nhu cầu cơbản của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt trong thời gian lưu trú
- Cơ sở đạt tiêu chuẩn xếp hạng 1 sao, 2 sao, 3 sao, 4 sao, 5 sao là cơ sở lưu trú
du lịch có cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ có chất lượng cao hơn các cơ sở đạttiêu chuẩn, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch về ăn, nghỉ, sinh hoạt,giải trí theo tiêu chuẩn của từng hạng
Đối với những người đi du lịch, điều mà họ quan tâm đầu tiên là cảm tưởng mới
mà họ nhận được ở nơi họ đến du lịch, có thể nói ngành du lịch là ngành xuất khẩu cáccảm tưởng Do vậy các dịch vụ du lịch phải làm sao tạo được cảm tưởng mới chokhách, gợi cho họ những cảm tưởng đẹp Mỗi đất nước, mỗi dân tộc có những cái đẹpđặc trưng khác nhau, ở nước này dân tộc này muốn tìm hiểu cái đẹp ở nước khác, dântộc khác
“Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứngnhu cầu của khách du lịch” [Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005]
Vì vậy các dịch vụ du lịch phải mang sắc thái của dân tộc, trong đó tính dân tộcđộc đáo tiêu biểu phải được chọn lọc, nâng cao, tạo được cảm xúc tốt đẹp cho
Trang 19khách Đây là một yêu cầu lớn của những người làm công tác du lịch Chính vì vậy, dulịch có thể xem như một dạng nghỉ ngơi tích cực của con người, đồng thời nó là mộtthành phần không thể thiếu được trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con ngườitrong thời đại hiện nay.
1.1.4 Lao động trong ngành du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế đang phát triển mạnh mẽ với sự cạnh tranh ngày càng cao ở cấp địa phương, quốc gia cũng như toàn thế giới Thực tế đó đòi hỏi mỗi quốc gia, địa phương và các doanh nghiệp du lịch, khách sạn ngày càng phải quan tâm hơn, tìm cách thức để đáp ứng tốt hơn nhu cầu, mong muốn của khách hàng và tạo ra giá trị cao hơn cho họ Để thực hiện được mục đích này, có rất nhiều yếu tố liên quan nhưng yếu tố quyết định đó chính là nguồn nhân lực du lịch.
Theo tác giả Phạm Trọng Lê Nghĩa [Bài giảng môn Tổng quan Du lịch, trường Cao đẳng nghề Du lịch Vũng Tàu, tr.29]: “Lao động du lịch là bao gồm những người trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra những sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của con người và nhu cầu phát triển xã hội”.
Du lịch là hoạt động gắn trực tiếp với con người nên nguồn nhân lực cần
có chất lượng cao, số lượng đủ, có kỹ năng nghiệp vụ để phục vụ du khách với tâm lý, nhu cầu, ngôn ngữ, văn hóa… rất khác nhau; cần có phong thái, bản sắc,
ấn tượng riêng để tạo thương hiệu Kỹ năng lao động phải được du khách thừa nhận Lao động trong kinh doanh du lịch có những nét đặc trưng riêng biệt so với lao động trong các lĩnh vực khác.
1.1.5 Thị trường du lịch
Thị trường du lịch là phạm trù cơ bản của kinh doanh sản phẩm hàng hóa dulịch, nó là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế của cả du khách và người kinhdoanh phát sinh trong quá trình trao đổi
Theo nghĩa hẹp: Thị trường du lịch chỉ là thị trường nguồn khách du lịch, tức làvào một thời gian nhất định, thời điểm nhất định tồn tại người mua hiện thực và ngườimua tiềm năng có khả năng mua sản phẩm hàng hóa du lịch
Theo nghĩa rộng: Thị trường du lịch chỉ là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh
Trang 20trường du lịch là mâu thuẫn giữa nhu cầu và cung cấp sản phẩm du lịch.
Phân loại thị trường theo phạm vi lãnh thổ:
- Thị trường du lịch quốc tế là thị trường mà ở đó cung thuộc một quốc gia còncầu thuộc một quốc gia khác Trên thị trường du lịch quốc tế, các doanh nghiệp du lịchcủa một quốc gia kết hợp với doanh nghiệp nước khác đáp ứng nhu cầu của các doanhnhân nước ngoài Quan hệ tiền – hàng được hình thành và thực hiện ở ngoài biên giớiquốc gia
- Thị trường du lịch nội địa là thị trường mà ở đó cung và cầu du lịch đều nằmtrong biên giới lãnh thổ của một quốc gia Trên thị trường nội địa, mối quan hệ nảysinh do việc thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch là mối quan hệ kinh tế trong một quốcgia Vận động tiền – hàng chỉ di chuyển từ khu vực này đến khu vực khác
Phân loại theo đặc điểm không gian của cung và cầu du lịch:
- Thị trường gửi khách: Là thị trường mà tại đó xuất hiện nhu cầu du lịch Dukhách xuất phát từ đó để đi đến nơi khác để tiêu dùng du lịch
- Thị trường nhận khách: Là thị trường mà tại đó đã có cung du lịch, có đầy
đủ các điều kiện sẵn sàng cung ứng các dịch vụ tiêu dùng sản phẩm du lịch
Phân loại theo thực trạng thị trường du lịch:
- Thị trường du lịch thực tế: Là thị trường mà dịch vụ hàng hóa du lịch thựchiện được, đã diễn ra các hoạt động mua – bán sản phẩm du lịch
- Thị trường du lịch tiềm năng: Là thị trường mà ở đó thiếu một số điều kiện
để có thể thực hiện được dịch vụ hàng hóa du lịch, sẽ diễn ra các hoạt động mua – bánsản phẩm ở tương lai
- Thị trường du lịch mục tiêu: Những khu vực thị trường được chọn để sửdụng thu hút du khách trong một thời gian kinh doanh nhất định Việc tiếp cận thịtrường mục tiêu đòi hỏi phải phân tích tiềm năng buôn bán của một hay các khu vựcthị trường, nó bao gồm việc xác định số lượng du khách hiện nay cũng như du kháchtiềm năng và đánh giá mức tiêu xài mỗi ngày của mỗi du khách Sự tuyển chọn thịtrường mục tiêu giúp các nhà marketing dễ dàng giải quyết việc sử dụng phương tiệnquảng cáo để đạt tới thị trường đó
1.1.6 Thu nhập du lịch
Du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây và đang từngbước hướng đến một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Cùng với sự phát triển
Trang 21kinh tế - xã hội, Du lịch Việt Nam ngày càng đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế Hoạtđộng du lịch diễn ra sôi động từ đô thị đến nông thôn, từ vùng ven biển, hải đảo đếnvùng núi, cao nguyên.
Du lịch mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội Hoạt động du lịch thu hút
sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại thu nhậpkhông chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp đối với cácngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư địaphương “Thu nhập du lịch là toàn bộ những lợi ích về kinh tế thu được từ việc bán cácdịch vụ và sản phẩm du lịch” Thu nhập du lịch chủ yếu từ sự chi tiêu của du khách, vìvậy, để tăng thu nhập từ du lịch thì bên cạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng sảnphẩm, kéo dài thời gian lưu trú, kích thích sự mua sắm của du khách… còn cần nângcao chất lượng đội ngũ lao động để phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của khách
du lịch
1.1.7 Sản phẩm du lịch
Du lịch được hình thành và phát triển theo nhu cầu đời sống của con người.Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật, giao thông, nền kinh tế phát triển đời sống con ngườiđược nâng lên thì nhu cầu phát triển du lịch càng lớn Tùy theo điều kiện kinh tế mỗinước, con người đang nghĩ đến việc dành một phần thu nhập của mình hàng năm cho
du lịch Du lịch càng phát triển thì khuynh hướng tiêu thụ dịch vụ du lịch đang tạo nênthị trường du lịch rộng lớn, không còn ở phạm vi một ngành kinh tế hay ở một nước
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch được tạonên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng cácnguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một đơn vị, một vùng hay một quốcgia nào đó
Như vậy có thể hiểu sản phẩm du lịch được hợp thành bởi những bộ phận sau(xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến đi du lịch):
- Dịch vụ vận chuyển;
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống;
- Dịch vụ tham quan, giải trí;
- Hàng hoá tiêu dùng và đồ lưu niệm;
- Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cầnthiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Trang 221.1.8 Điểm du lịch, tuyến du lịch
1.1.8.1 Điểm du lịch
Đối với quốc gia, vùng, miền và các nhà làm du lịch thì điểm du lịch được xem
là nguồn lực, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần cạnh tranh, khai thácnguồn khách và đem lại nguồn thu cho mình Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005)điểm du lịch được định nghĩa như sau: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” Vì vậy, điểm du lịch phải đáp ứngcác yêu cầu sau:
- Gắn liền với nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách
du lịch
- Tạo điều kiện công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương
- Đem lại nguồn thu và quảng bá cho đất nước và cộng đồng địa phương.Các sản phẩm, dịch vụ tại điểm du lịch càng phong phú, độc đáo, chất lượng,giá cả hợp lý thì càng chiếm được cảm tình, kích thích tiêu dùng và quay lại của dukhách Điều này đỏi hỏi những nhà quản lý, người kinh doanh tại điểm, khu du lịchcần có chính sách về sản phẩm cũng như giá hợp lý để đáp ứng tốt hơn nhu cầu củakhách du lịch Bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh tại điểm du lịch cần gắn liền vớiviệc đầu tư, bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ
sở vật chất kỹ thuật phù hợp, phát triển và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bềnvững
1.1.8.2 Tuyến du lịch
Các điểm du lịch, các khu du lịch được nối với nhau sẽ tạo thành tuyến du lịch.Trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội tỉnh (trong lãnh thổcủa một tỉnh, thành phố); tuyến nội vùng (trong phạm vi lãnh thổ của một vùng dulịch); tuyến liên vùng (giữa các vùng du lịch); hoặc tuyến liên quốc gia (giữa các quốcgia và vùng lãnh thổ) Nếu dựa vào loại hình phương tiện vận chuyển, chúng ta có thểphân chia ra tuyến du lịch đường bộ, đường không, đường thủy… Theo quy định tạikhoản 9, điều 4, chương I của Luật Du lịch (2005): “Tuyến du lịch là lộ trình liên kếtcác khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyếngiao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”
Các tuyến du lịch được xem là những sản phẩm du lịch đặc biệt, việc xác địnhcác tuyến du lịch phải dựa vào một số tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo được tính
Trang 23hấp dẫn cao của sản phẩm du lịch đặc biệt này Để xác định các tuyến du lịch cần căn
cứ vào một số tiêu chí chính sau đây: Định hướng tổ chức không gian du lịch chínhcủa toàn lãnh thổ; Tài nguyên du lịch và sự hấp dẫn của các cảnh quan trên toàn tuyến
và ở các điểm dừng tham quan du lịch; Các khu, điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí vớikhả năng thu hút khách; Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giaothông và các cửa khẩu quốc tế, về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch; Sự phân bố và xuhướng của các luồng khách du lịch; Sự trong sạch của môi trường tự nhiên và văn hóa
xã hội; Các điều kiện về an ninh, trật tự an toàn xã hội Nhu cầu giao lưu và hội nhậpkhu vực và quốc tế
Mặt khác, việc lập tuyến tham quan du lịch phải dựa vào nguồn tài nguyên dulịch có thể khai thác, dựa vào nhu cầu của khách du lịch và khả năng cung cấp các dịch
vụ cho khách du lịch tại các điểm đến Để lập tuyến tham quan, thông thường cần cónhững chuyên gia về những nội dung liên quan tới các đối tượng tham quan trên tuyếntham quan dự định lập, trong đó có cả hướng dẫn viên du lịch
Quá trình lập tuyến tham quan du lịch cần được bắt đầu bằng việc tìm hiểu,nghiên cứu tư liệu liên quan tới các điểm du lịch, các đối tượng có thể lựa chọn chotham quan cùng với các tài liệu về lịch sử, địa lý, văn hoá, kinh tế – xã hội của địaphương có điểm du lịch, có đối tượng tham quan Chính từ nguồn tư liệu này, cácchuyên gia và hướng dẫn viên được cung cấp một cách cơ bản ban đầu những hiểu biếtphục vụ cho việc lập tuyến tham quan và cho việc hướng dẫn khách sau này
1.1.9 Loại hình du lịch
1.1.9.1 Du lịch biển đảo
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, vớihàng ngàn đảo ven bờ với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng hàng loạt bãitắm đẹp Những bãi biển như Cát Bà, Lăng Cô, Non Nước, Cam Ranh, Mũi Né, VũngTàu… không thua kém hoặc có thể nói vượt trội về độ hấp dẫn so với những tuyếnđiểm biển nổi tiếng thế giới như Pattaya, Phuket, Ko-Samui (Thái Lan), hay Bali(Indonesia), Penang, Langkawi (Malaysia) Không chỉ có biển, Việt Nam còn sở hữunhiều vịnh đẹp thuộc đẳng cấp quốc tế như Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới,Vịnh Nha Trang - một trong những vịnh đẹp nhất thế giới Ngoài những hòn đảo đãquá quen thuộc như Phú Quốc, Cát Bà, Côn Đảo, Tuần Châu… còn nhiều hòn đảohoang sơ như Quan Lạn, Cù Lao Chàm, Cù Lao Câu, Lý Sơn… có tiềm năng rất lớn
Trang 24để phát triển du lịch.
“Du lịch biển đảo là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổchức các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván, mô tônước…) Loại hình này có tính mùa vụ rõ rệt nên thường được tổ chức vào mùa nóngvới nhiệt độ nước biển và không khí trên 200C” [Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý du lịchViệt Nam, 2013, tr.15]
Du lịch biển đảo là sự tổng hợp nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉdưỡng, thể thao, nghiên cứu khoa học… có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng khác nhaucủa du khách
Khí hậu nước ta có tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy, hoạt động du lịch biểnđảo chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố khí hậu Khí hậu xác định độ dài và chất lượngcủa mùa du lịch cũng như đóng vai trò chính trong quyết định lựa chọn điểm đến vàchi tiêu của khách du lịch Do tính chất bất thường của thời tiết nên hoạt động du lịchbiển diễn ra không thường xuyên, liên tục
Bên cạnh đó, các điểm du lịch biển đảo là đối tượng dễ bị tổn thương trướcnhững tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Chính những tác động xấucủa biến đổi khí hậu gây nên những thay đổi về môi trường, ảnh hưởng đến hoạt động
du lịch biển đảo như: Thay đổi nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học, mất thẩm mỹcảnh quan, xói mòn ven biển, thiên tai…
Đối với người dân vùng ven biển, phát triển du lịch biển đảo đã mang lại cơ hộixóa đói giảm nghèo, cải thiện đáng kể đời sống của họ Bộ mặt của nhiều địa phươngcũng đã được tân trang với việc xây dựng cơ sở lưu trú mới cũng như nâng cấp cơ sở
hạ tầng du lịch như vùng biển Mũi Né (Bình Thuận), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), LýSơn (Quảng Ngãi)…
1.1.9.2 Du lịch sinh thái
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịchsinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phươngvới sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý cáchoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu
“Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sựtham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”
Trang 25Theo các nhà chuyên môn, du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào các giátrị thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồngnhằm phát triển bền vững Ở một khía cạnh khác, có thể hiểu du lịch sinh thái là loạihình du lịch mà lợi ích của nó gắn chặt với trách nhiệm bảo tồn môi trường và cảithiện phúc lợi cho người dân địa phương.
Địa điểm tổ chức loại hình du lịch sinh thái thường là những khu vực có hệ sinhthái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồngần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển,các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng văn hóa… Loại hình này hiện đang thu hút sựchú ý của hầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới
1.1.9.3 Du lịch cộng đồng
Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch được sở hữu bằng quản lý cộng đồng,các hình thức này gồm: Du lịch sinh thái, Du lịch nông nghiệp, Du lịch nông thôn, Dulịch làng, Du lịch bản địa và Du lịch văn hóa…Dựa trên cách hiểu này thì Việt Nam -nơi có cộng đồng dân cư đa dạng về sắc tộc và có nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú sẽ là lợi thế rất lớn để phát triển loại hình du lịch độc đáo này Thực tế, trong thờigian gần đây, du lịch cộng đồng bắt đầu phát triển khá mạnh ở Việt Nam Trong đó, Sa
Pa (Lào Cai) hay bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) được xem là những điển hình cho sựthành công của mô hình homestay (khách du lịch cư trú tại nhà của người dân địaphương) tại Việt Nam
Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): "Du lịchsinh thái cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phươngđứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tếđịa phương"
Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh tháicộng đồng là "phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội Dulịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phépkhách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thườngcủa họ"
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức, dựa vào thiênnhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường Du lịch cộng đồng đềcao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 26cho cộng đồng Với khách du lịch, du lịch cộng đồng tạo cơ hội tìm hiểu, nâng caonhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày củacộng đồng Như vậy, du lịch cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và dulịch bền vững, nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi trường, du lịch và cộng đồng.
1.2 Phát triển du lịch
1.2.1 Khái niệm
Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọngtrong sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liênngành, liên vùng và xã hội hóa cao Chính phủ xác định phát triển du lịch trở thànhngành kinh tế mũi nhọn nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, phụchồi sức khỏe của nhân dân và khách du lịch quốc tế; góp phần nâng cao dân trí, tạoviệc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Hiệu quả của ngành Du lịch thườngđược đánh giá qua các chỉ số chính như: tốc độ tăng trưởng khách, độ dài lưu trú bìnhquân của khách, chi tiêu bình quân của khách, đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chínhquyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ của các bộ,ngành liên quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế, sự năngđộng tích cực của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, sự đồng cảm và tham gia củacộng đồng dân cư, du khách và sự quan tâm khích lệ của các cơ quan thông tin truyềnthông – một kênh quan trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch đất nước
Nguyên tắc phát triển du lịch
1 Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữakinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịchvăn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên dulịch
2 Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
3 Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, antoàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh dulịch
4 Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trongphát triển du lịch
5 Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình
Trang 27ảnh đất nước, con người Việt Nam.
6 Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hútngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Mỗi tài nguyên du lịch được phân bố trên các vùng lãnh thổ nhất định, tạo nênnét đặc trưng cho vùng đất, con người nơi ấy Nếu tài nguyên du lịch nằm ở những nơithuận lợi về giao thông, dễ khám phá, gần các trung tâm du lịch lớn… thì tài nguyên
ấy sẽ được khai thác có hiệu quả các giá trị của nó Đối với những du khách có quỹthời gian hạn chế, thì việc lựa chọn điểm đến, ngoài sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch,thì yếu tố quyết định là vị trí điểm đến phải tiện lợi Vì vậy, vị trí địa lý có vai trò rấtquan trọng đối với phát triển du lịch
Từ việc phân bố tài nguyên du lịch ở những địa bàn khác nhau, sẽ tạo ra nhiềuloại hình du lịch như: Du lịch biển đảo gắn liền với biển, nghỉ dưỡng, các môn thể thaobiển…; du lịch núi gắn liền với các khu vực có địa hình cao, thuận lợi cho các môn thểthao mạo hiểm, nghỉ mát, treking…; du lịch đô thị với các điểm đến thường là cácthành phố, trung tâm kinh tế…
1.2.2.2 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch.Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành sản phẩm du lịch Số lượng, chấtlượng, sự phân bố của các dạng tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, sốlượng, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động du lịch Tài nguyên du lịch là cơ sởquan trọng để phát triển các loại hình du lịch Mặt khác, vì tài nguyên du lịch không bịsuy giảm trong quá trình khai thác và nguồn tài nguyên này có thể được sử dụng với sốlần không hạn chế, nếu như chúng được bảo vệ và tôn tạo… nên tài nguyên du lịchcòn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để tổ chức lãnh thổ du lịch, là cơ
sở để tạo nên vùng du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiênnhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của conngười và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch,
là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị dulịch”
Trang 28Theo sách Địa lý Du lịch Việt Nam [Nguyễn Minh Tuệ, tr.31], các tác giả đãđưa ra định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng cácthành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác,cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững”.
Từ những khái niệm trên, có thể thấy tài nguyên du lịch được phân thành 2nhóm gồm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khaithác và chưa được khai thác Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sởhữu của tổ chức, cá nhân
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khíhậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mụcđích du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá,văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình laođộng sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách dulịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệthống các công trình Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạngcủa hầu hết các thành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Khả năng tiếp nhận của tàinguyên du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch Sức hấpdẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này Sự kết hợp hài hoà giữatài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch giúp cho cơ sở phục vụ du lịch cóhiệu quả, kéo dài thời gian sử dụng chúng trong năm Vị trí của tài nguyên du lịch làcăn cứ để bố trí hợp lý cơ sở vật chất kỹ thuật trên các vùng lãnh thổ của đất nước và
là tiền đề cơ bản để hình thành các trung tâm du lịch Sự phụ thuộc của cơ sở vật chất
kỹ thuật vào tài nguyên du lịch không chỉ diễn ra theo một chiều, mà về phía mình cáccông trình, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mức độ sử dụng tàinguyên du lịch và việc gìn giữ bảo vệ chúng
Trang 291.2.2.3 Cơ sở hạ tầng
a Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng
hàng đầu: Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điều này
phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đốivới du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải.Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành mộthiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt.Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giaothông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định Giao thông đường hàngkhông rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền Giao thông đường thuỷ tuychậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí… dọc theo sông hoặc ven biển.Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay đã có một sốphương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch Nhìnchung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng đượchoàn thiện Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch
b Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế.
Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tảiphục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiện việc vận chuyểncác tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữacác vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế Trong đời sống hiện đại nói chung, cũngnhư ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc
c Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi
nơi cư trú thường xuyên… Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểmkhác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo vềđiện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tố điện,nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giảitrí của khách
1.2.2.4 Các yếu tố khác
a Dân số
Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế - xã hội,
Trang 30thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng một tháp dân số Dân
số của một quốc gia nhiều hay ít cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều đối với một nền kinh tế.Khi dân số nhiều, đồng nghĩa với việc đất nước đó sẽ có rất nhiều nhân công lao động
và dễ dàng phát triển kinh tế khi đất nước đó có những chính sách phù hợp cho từngđịa phương hay những cải cách đúng hướng cho kinh tế cũng như nguồn nhân lựcquốc gia
Dân số luôn đóng vai trò hai mặt trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chungcũng như hoạt động du lịch nói riêng Một mặt, dân số là nguồn cung cấp lao động cho
xã hội, mà lao động là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.Mặt khác họ là người tiêu dùng sản phẩm do chính con người tạo ra, dân số và kinh tế
là hai quá trình có tác động qua lại một cách mạnh mẽ và có quan hệ mật thiết vớinhau
Dân số và phát triển du lịch là những quá trình tác động lẫn nhau thể hiện ởnhững khía cạnh sau:
- Sự phát triển dân số tạo nên nguồn lực lao động nói chung và lao động tronglĩnh vực du lịch nói riêng – nhân tố quyết định của mọi quá trình phát triển Nếu dân
số quá thấp hạn chế sự phân công lao động xã hội Thiếu nhân lực, mọi quá trình pháttriển mất đi cả động lực và mục đích của nó Dân số tăng nhanh sẽ hạn chế sự tích luỹ
để tái sản xuất trong phạm vi từng gia đình cũng như phạm vi toàn xã hội Khi quy mô
mở rộng sản xuất thì cả quy mô cũng như vốn đầu tư cho một chỗ làm việc giảm đi.Hậu quả của quá trình này là năng suất lao động tăng chậm hoặc không tăng, thunhập/người cũng như điều kiện sống và làm việc đều giảm
- Dân số tăng nhanh gây nên ảnh hưởng xấu tới môi trường Mật độ dân số caodẫn đến thiếu đất canh tác, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ônhiễm môi trường, thiếu quỹ đất, gây xung đột giữa khách du lịch và cư dân địaphương khi vượt quá ngưỡng sinh thái
- Dân số tăng nhanh ảnh hưởng đến nhịp độ đô thị hoá và mức độ đáp ứng cácnhu cầu khác của đời sống dân cư cũng trở nên khó khăn hơn
b An ninh chính trị, an toàn xã hội
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cũngnhư các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng Sự bảo đảm vững chắc về
Trang 31quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan.
Chính sách phát triển du lịch của nước ta theo điều 6, Luật Du lịch Việt Nam(2005) như sau:
1 Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư pháttriển du lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
2 Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụngđối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnhvực sau đây:
a) Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch;
b) Tuyên truyền, quảng bá du lịch;
c) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch;
d) Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới;
đ) Hiện đại hoá hoạt động du lịch;
e) Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nhập khẩuphương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyêndùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia;
g) Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tạichỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo
3 Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kếtcấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền,quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu,ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch
4 Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt
Trang 32Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch.
5 Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phầnkinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa
du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế
6 Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch
từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tựnguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
Chính phủ quy định cụ thể chính sách phát triển du lịch quy định tại Điều này.Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động dulịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương; giữ gìn anninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch
2 Cộng đồng dân cư được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục vàphát huy các loại hình văn hoá, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ công truyềnthống; sản xuất hàng hoá của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng caođời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương
1.2.3 Quy hoạch phát triển du lịch
“Quy hoạch du lịch là luận chứng khoa học về phát triển và tổ chức không gian
du lịch tối ưu trên lãnh thổ của quốc gia và vùng” [Theo Trần Văn Thông, Giáo trìnhQuy hoạch du lịch, 2007, tr.7]
Quy hoạch du lịch là bước cụ thể hóa các mục tiêu của kế hoạch phát triển dulịch của một quốc gia hoặc một vùng Công việc cụ thể của quy hoạch là phân vùng dulịch quốc gia, thiết kế các sơ đồ quy hoạch tổng thể và sơ đồ các khu du lịch chuyên
đề Là một quá trình động, có trọng điểm cho từng giai đoạn phát triển, do vậy, quyhoạch phải đưa ra nhiều phương án khác nhau, phải thường xuyên cập nhật, bổ sung tưliệu thông tin mới, cần thiết để có giải pháp điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với thực
tế Là một quá trình thường xuyên liên tục, vì vậy cần có một tổ chức quy hoạch cóđầy đủ trình độ chuyên môn và năng lực quản lý cao để điều hành công việc Là mắtxích nối liền giữa chiến lược phát triển du lịch quốc gia với các kế hoạch trung hạn vàngắn hạn (các chương trình và các dự án phát triển), vì vậy, quy hoạch du lịch có cácnhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Khảo sát và đánh giá tổng hợp, chính xác các nguồn lực phát triển du lịch của
Trang 33quốc gia hoặc vùng, trên cơ sở đó xác định phương hướng khai thác, sử dụng hợp lý vàgiải pháp bảo vệ tối ưu.
+ Nghiên cứu lựa chọn cơ sở phương pháp luận và phương pháp quy hoạch dulịch phù hợp với thực tiễn phát triển của quốc gia và vùng
+ Thiết lập tối ưu giữa sơ đồ quy hoạch du lịch với sơ đồ quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và vùng
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030 đã xác định không gian 7 vùng du lịch đặc trưng, 46 khu du lịch quốc gia,
40 điểm du lịch quốc gia và 12 đô thị du lịch Cho đến nay, 4/7 vùng du lịch, 63 tỉnhthành phố trực thuộc Trung ương đã có quy hoạch phát triển du lịch Nhiều tỉnh đãđiều chỉnh hoặc lập mới quy hoạch theo quan điểm mới của Chiến lược Hầu hết cáckhu, điểm du lịch quan trọng cũng đã có quy hoạch Có thể nói, hệ thống quy hoạchphát triển du lịch trên phạm vi cả nước đã hình thành cơ bản và là cơ sở định hướngquan trọng cho hoạt động du lịch ở mọi cấp
Tuy nhiên, qua đánh giá cho thấy thực tế ở hầu hết các nơi hoạt động du lịchkhông diễn ra theo đúng quy hoạch Nhiều quy hoạch chỉ tồn tại trên giấy mà ít đượcthực thi trong thực tế Hầu hết các quy hoạch vẽ ra bức tranh khá lạc quan về các chỉtiêu phát triển nhưng cũng rất ít quy hoạch đạt được mục tiêu đề ra Biểu hiện rõ nét làhoạt động du lịch ở nhiều nơi diễn ra tự phát, lộn xộn; sản phẩm không có phong cáchriêng; thị trường mục tiêu không rõ ràng; không tạo lập được giá trị thụ hưởng chokhách Nút thắt của vấn đề ở đây chính là chất lượng quy hoạch và quản lý quyhoạch Một mặt, chất lượng các quy hoạch còn nhiều hạn chế, còn nặng về ý chí chủquan, chủ yếu dựa trên cái mình có về tiềm năng tài nguyên du lịch mà chưa thực sựbám sát vào nhu cầu và xu hướng thị trường Quy hoạch chưa dọn đường cho cung vàcầu gặp nhau Ngay cả khi một số quy hoạch được lập có sử dụng tư vấn quốc tế vớichất lượng được coi là khả dĩ nhưng việc thực thi quy hoạch cũng không đạt được kếtquả như mục tiêu đặt ra Mặt khác, việc quản lý quy hoạch ở mọi cấp cũng chưa đếnnơi đến chốn Do tính chất đặc thù của ngành du lịch mà quy hoạch du lịch phụ thuộcnhiều vào quy hoạch các ngành khác Nếu không có quan điểm, tầm nhìn đúng đắntrong quản lý quy hoạch thì quy hoạch phát triển du lịch luôn bị tác động, làm biếndạng bởi quy hoạch các ngành khác Thực tế cho thấy nhiều khu, điểm du lịch đã đượcđưa vào quy hoạch nhưng đồng thời người ta lại cho triển khai các dự án phát triển
Trang 34công nghiệp, khai khoáng, thủy điện, sản xuất vật liệu xây dựng vì mục tiêu trước mắt đã làm phá vỡ không gian du lịch và hủy hoại tài nguyên du lịch.
1.3 Khái quát chung về du lịch Quảng Ngãi
Nằm ở vị trí trung tâm của hai đầu tổ quốc, Quảng Ngãi chính là nơi đất nướcưỡn mình nhô xa nhất về phía biển Đông Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung
Bộ, lưng tựa vào dãy Trường Sơn, mặt hướng ra biển Đông, phía bắc giáp tỉnh QuảngNam, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây nam giáp tỉnh Kon Tum và Gia Lai Bờbiển Quảng Ngãi dài 135km với nhiều cửa sông, vịnh, đầm tạo nên một hệ sinh tháiven bờ rất đa dạng, ngoài khơi còn có đảo Lý Sơn Ở vào vị trí chính giữa của đấtnước, tỉnh có sự thuận lợi về giao thông: Quốc lộ 1A chạy dọc chiều dài, quốc lộ 24Anối với Tây Nguyên, Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan Đường sắt chạy suốt theo chiềudài của tỉnh, có cảng nước sâu Dung Quất đón được tàu trọng tải lớn, các cảng nhỏnhư Sa Cần và Sa Kỳ, gần sân bay Chu Lai (Quảng Nam)
Địa hình có 4 vùng rõ rệt: Vùng núi, trung du, đồng bằng duyên hải, vùng biển
và hải đảo Tỉnh có khá nhiều sông chạy theo hướng tây sang đông, nhưng chủ yếu làsông nhỏ, có các sông lớn Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ, Trà Câu
Quảng Ngãi có hơn 1,3 triệu người, trong đó 1/10 số dân thuộc các dân tộcH’re, Cor, Cadong phân bố rộng khắp trên 01 thành phố và 13 huyện; người dân nơiđây cần cù, sáng tạo, giàu kinh nghiệm đã để lại những đặc trưng riêng có: Bờ xenước, nghề đúc, nghề gốm, nghề dệt thổ cẩm, nghề dệt chiếu… Mảnh đất này còn làquê hương của nhiều danh nhân dân tộc mà tiêu biểu là Cố Thủ tướng Phạm VănĐồng, Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định…
Quảng Ngãi là sự hoà hợp của những dòng sông xen lẫn núi đồi, ghềnh tháccùng nhiều di tích, kiến trúc cổ: di chỉ văn hoá Sa Huỳnh, chùa Thiên Ấn, thành cổChâu Sa, chứng tích Sơn Mỹ, địa đạo Đám Toái… và với nhiều danh lam thắng cảnhthiên nhiên tuyệt đẹp và hữu tình như: Thiên Ấn Niêm Hà, Cổ Luỹ Cô Thôn… QuảngNgãi còn được nhắc đến với các bãi biển sạch, đẹp và giá trị để phát triển thành khu dulịch nghỉ dưỡng hấp dẫn như Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Khe Hai- Dung Quất, Minh Tân -Đức Minh, Tân Định…
Quảng Ngãi có những cảnh đẹp được nhiều người ngợi ca Vào giữa thế kỷXVIII, khi đến trấn nhậm Quảng Ngãi, Nguyễn Cư Trinh đã làm thơ vịnh 10 cảnh đẹpQuảng Ngãi đó là: Thiên Bút Phê Vân (bút vẽ trời mây), Thiên Ấn niêm hà (ấn trời
Trang 35đóng trên sông), Long Đầu hý thuỷ (đầu rồng giỡn nước), La Hà thạch trận (trận đá LaHà), Liên Trì dục nguyệt (trăng tắm ao sen), Hà Nhai vãn độ (bến đò Hà Nhai buổichiều tà), Cổ Luỹ cô thôn (thôn Cổ Luỹ cô quạnh), An Hải sa bàn (mâm cát An Hải),Thạch Bích tà dương (chiều tà ở núi Thạch Bích), Vân Phong dạ vũ (núi Vân Phongđêm mưa) Về sau các nho sĩ địa phương vịnh thêm 2 cảnh nữa là Vu Sơn trường lộc(đàn nai ở núi Vu Sơn) và Thạch Ky điếu tẩu (ông câu trên ghềnh đá)
Nếu như núi Ấn sông Trà, Thiên Bút phê vân là biểu tượng của một vùng đấtđịa linh nhân kiệt, thì các di tích lịch sử khởi nghĩa Ba Tơ, Ba Gia, Vạn Tường, địađạo Đám Toái, chứng tích Mỹ Lai - Sơn Mỹ là minh chứng hùng hồn của chủ nghĩaanh hùng cách mạng nhưng cũng không ít đau thương của nhân dân Quảng Ngãi Đếnnay Quảng Ngãi đã có 29 di tích được xếp hạng DTLS-VH cấp quốc gia và hơn 160 ditích cấp tỉnh
Một nét hấp dẫn khác của Quảng Ngãi là những món ăn riêng có không giốngbất cứ ở vùng nào trên cả nước, đó là cá bống sông Trà, chim mía, kẹo gương, mạchnha, đường phổi và món don… tất cả rất đậm đà hương vị của một miền quê; những lễhội cầu ngư, đua thuyền của ngư dân vùng biển, những phong tục độc đáo của dân tộcH’rê, Cor, Cadong và đặc biệt là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa… mang đậm sắc tháicủa Quảng Ngãi
Tiểu kết chương 1
Du lịch từ lâu đã là một trong những hoạt động quan trọng trong đời sống nhânloại Kinh doanh du lịch đã đem lại lợi ích kinh tế lớn cho nhiều quốc gia Du lịchkhông chỉ là một ngành kinh tế chuyên biệt, mà nó là động lực thúc đẩy các ngànhkinh tế khác cùng phát triển Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng hội nhập, hợp tác,cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệtrong nền kinh tế tri thức trên thế giới và khu vực đã và đang tạo những cơ hội đồngthời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam Trước bối cảnh và xuhướng đó, định hướng phát triển Du lịch Việt Nam phải đáp ứng được những yêu cầumới của thời đại về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại, hội nhập và hiệu quả đồng thờibảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, yếu tố truyền thống để phát triển bền vững, tươngxứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước và đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế
Với tiềm năng và lợi thế so với các khu vực khác trong cả nước cùng với hệthống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng được đầu tư hoàn thiện, vùng
Trang 36duyên hải Nam Trung Bộ đang trở thành nơi dừng chân lý tưởng của khách du lịchtrong và ngoài nước Tuy nhiên, trong thời gian qua, mỗi địa phương lại có cơ chếkhác nhau, mạnh ai nấy làm, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch cạnh tranhthiếu lành mạnh, sản phẩm du lịch trong vùng có sự trùng lặp, chưa mang nét riêng,chưa tạo được thương hiệu cho từng địa phương.
Trước những yêu cầu đó, việc đưa ra định hướng phát triển du lịch cho từng địaphương sẽ tạo được bước đột phá về sản phẩm du lịch, tạo nên những sản phẩm du lịchđặc thù Trên cơ sở các chỉ tiêu phát triển du lịch, các cấp quản lý sẽ có những việclàm cụ thể xây dựng cơ chế chính sách, cải thiện mội trường đầu tư, đầu tư cơ sở hạtầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng du lịch, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên du lịch,góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
Trang 37Chương 2: TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI HUYỆN ĐẢO LÝ SƠN 2.1 Tiềm năng du lịch huyện đảo Lý Sơn
Lý Sơn là đảo duy nhất của Quảng Ngãi với diện tích hơn 10km2, nằm cách đấtliền 14 hải lý về hướng Đông, nó như bức bình phong, nơi tiền tiêu của tỉnh Nơi đâynổi tiếng với nhiều danh thắng đẹp như chùa Hang, hang Câu, những bờ biển uốn lượnsoi bóng rặng dừa, những đồng tỏi mênh mông bát ngát… Đảo chính là quê hương củaHải đội Hoàng Sa, một đội quân được lệnh các vua nhà Nguyễn hằng năm vượt biển raHoàng Sa và Trường Sa lấy sản vật, đo đạc hải trình, và quan trọng hơn là đánh dấuchủ quyền bờ cõi đất nước Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa có từ hơn 200 năm trước, làhoạt động tâm linh được tổ chức vào ngày 18, 19 và 20 tháng 2 (Âm lịch) hằng nămnhằm tưởng nhớ về những người con của quê hương Lý Sơn đã ra đi để giữ gìn phầnmáu thịt thiêng liêng, bảo vệ chủ quyền lãnh hải của tổ quốc Bên cạnh lễ hội Khao lề,
du khách còn biết đến Lý Sơn như một “Vương quốc tỏi”, đã có thương hiệu và đượcmệnh danh là loại tỏi ngon nhất Việt Nam Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế,ngành du lịch đã bắt đầu hình thành, khai thác những tài nguyên, khơi dậy tiềm năng
du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp người dân Lý Sơn có thêm công ăn việc làm
2.1.1 Vị trí địa lý
Tọa độ địa lý : 15032’04’’ – 15038’14’’ vĩ độ Bắc; 109005’04’’ - 109014’02’’kinh độ Đông
Lý Sơn là huyện đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi, được tách ra từ huyện BìnhSơn theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ Việt Nam năm 1992 Huyện đảo LýSơn bao gồm đảo Lớn (còn gọi là cù lao Ré), đảo Bé (còn gọi là cù lao Bờ Bãi), và hòn
Mù Cu, nằm ở phía đông bắc tỉnh, cách cảng Sa Kỳ 14 hải lý (hơn 28km), cách cảngnước sâu và khu công nghiệp Dung Quất 5 hải lý về phía đông Huyện được chia thành
03 xã: An Vĩnh (trung tâm huyện lỵ), An Hải và An Bình (đảo Bé) Tổng chiều dàiđường bờ biển trên 25km Diện tích của huyện khoảng hơn 10km2 nhưng dân số lênđến hơn 21.000 người Người dân trên đảo sống chủ yếu bằng nghề trồng hành tỏi vàđánh bắt hải sản Lý Sơn có mối quan hệ gần gũi và chặt chẽ với các khu vực trọngđiểm phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi như Dung Quất, Tp.Quảng Ngãi Xéttrong tổng thể tỉnh Quảng Ngãi, huyện đảo Lý Sơn nằm án ngữ trên con đường ra biểnĐông của khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung qua cửa ngõ Dung Quất
Trang 38Lịch sử hình thành
Truyền thuyết dân tộc Kor kể rằng, đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi TràBồng trôi dạt về phía Biển Ðông sau trận giao tranh dữ dội của Thần Nước và ngườianh hùng Doang Ðác Tố, chủ làng Tali Talok Theo các nhà địa chất, đảo Lý Sơn đượchình thành cách đây vài triệu năm do vận động phun trào nham thạch của các núi lửaphủ lên nền những nếp gấp tạo sơn đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏimặt nước biển Chính các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ
sở cho việc hình thành nhiều hang động do tác động xâm thực của nước biển trongthời kỳ biển tiến, mà ngày nay chúng ta nhìn thấy được ở khu vực núi Thới Lới, nơivận động tạo sơn theo kiểu xếp tầng đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cảtrong hệ thống đảo Lý Sơn Còn vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hìnhdạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạođiều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ Có thể nói rằng, toàncảnh đảo Lý Sơn là một thắng cảnh thiên nhiên độc đáo với năm ngọn núi nhô caogiữa một vùng trời biển bao la mà những ngày đẹp trời từ ngọn núi Nam Châm (ngọnnúi cao nhất nằm ở ven biển, thuộc khu vực Dung Quất) có thể nhìn thấy khá rõ Trênđỉnh ngọn núi là những thảm rừng, gần dưới chân là nhà cửa, đường sá và những cánhđồng hành tỏi xanh tươi bốn mùa
Địa hình bờ biển của huyện phần lớn là các vách đá và hốc sóng Chính nhữngđịa hình vách dốc này đã tạo cho đảo nét hùng vĩ có giá trị về cảnh quan
Địa hình theo dạng tích tụ - mài mòn, nghiên thoải bị chia cắt bởi các mángtrũng với độ sâu khác nhau Đảo nằm trên thềm lục địa có độ sâu trung bình dao động
Trang 3950-60m Điểm sâu nhất là 120m nằm phía Đông của đảo Địa hình đáy biển phân bậc
rõ ràng, do vậy có thể sử dụng làm cầu cảng và tổ chức các hoạt động thể thao trênbiển
b Khí hậu
Lý Sơn chịu tác động chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, song cũng có mộtvài đặc điểm của khí hậu hải đảo Điều kiện khí hậu, thời tiết của huyện được xác địnhnhư sau:
- Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng,song có năm đột xuất do sự chèn ép của khối không khí lạnh phía Bắc nên có gió bãovào tháng 4, tháng 5
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Thời gian này tập trungkhoảng 75% lượng mưa của cả năm, có năm lượng mưa lên đến 2.600mm, gây ngậpúng phần lớn diện tích trồng tỏi
- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26.50C Các tháng có nhiệt độ cao nhất
là 6,7,8, nhiệt độ lên đến 360C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là 12, 1, 2, nhiệt độkhoảng 22 – 230C Song có năm chênh lệch nhiệt độ khá cao (thấp nhất 170C và caonhất 350C) Tổng luợng bức xạ hằng năm trên 2.000cal
- Độ ẩm không khí trung bình hằng năm 85% Độ ẩm cao nhất vào tháng 3,4khoảng 90 – 91% Độ ẩm thấp nhất vào tháng 8 khoảng 78 – 80 %
- Vào mùa Đông có hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc với tốc độ giótrung bình 2,4 – 3,3 m/s, mùa hè hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Nam Hằngnăm ở huyện có 130 ngày gió cấp 6 trở lên
Tính thời vụ của hoạt động du lịch
Khí hậu trên đảo Lý Sơn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Trung lắm mưa nhiều bão, và cũng mang đặc điểm riêng của khí hậu hải đảo ở độ nóng của nhiệt độ và sự khắc nghiệt, tác động trực tiếp của mưa bão Khí hậu nơi đây
đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch, vì cách duy nhất để đến đảo là bằng đường biển Cụ thể, các mùa du lịch tại Lý Sơn được xác định như sau:
- Mùa cao điểm: Từ đầu tháng 02 đến cuối tháng 8 Vì đây là mùa của các
lễ hội đặc trưng chỉ riêng có ở Lý Sơn (lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, hội Dồi bòng…), là mùa thu hoạch tỏi, hành và các hải sản Đây cũng là mùa biển lặng,
Trang 40thời tiết thuận lợi cho việc giao thông đường thủy.
- Mùa thấp điểm: Bắt đầu từ đầu tháng 9 kéo dài đến cuối tháng 01 năm
sau Đây là mùa mưa bão với các diễn biến rất phức tạp của thời tiết, khó khăn cho việc di chuyển từ đất liền ra đảo và ngược lại.
c Thủy văn
Vùng biển Lý Sơn có chế độ nhật triều không đều, hàng tháng có từ 18 – 20ngày thủy triều lên cao, độ lớn trung bình kỳ nước cao nhất là 1,2 – 2,0m; độ lớn trungbình kỳ nước kém là 0,5m Thủy triều thay đổi trong ngày, nước rút ra xa khỏi bờkhoảng 500m từ 06 giờ sáng đến 17 giờ chiều, sau đó nước biển dâng lên vào banđêm
Nằm giữa vùng biển miền Trung nên đảo Lý Sơn có đặc điểm khí tượng thủyvăn, hải văn rất điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa, có độ mặn cao và ổn định; đáybiển chủ yếu là đá, đá gốc, cuội sỏi thuận lợi cho các quần xã động thực vật đáy trúngụ Có nhiều hang hốc và nền đáy cứng để bám là điều kiện thuận lợi để hình thànhmột thế giới sinh vật đa dạng về giống loài, dồi dào về sinh vật lượng Đặc trưng là hệsinh thái san hô và cỏ biển với nhiều loài hải sản có giá trị cao và một số loài quýhiếm, như san hô xanh, san hô đen, rong câu chỉ vàng, rong sụn, bào ngư, trai taitượng Hệ sinh thái rạn san hô khu vực Lý Sơn có năng suất sinh học cao, chúng lànguồn sản sinh ra các hợp chất hữu cơ, cung cấp thức ăn không chỉ cho chính nó mà
có ý nghĩa cho toàn vùng biển Hệ sinh thái rong biển cùng với cỏ biển cũng có vai trònhư hệ sinh thái rạn san hô Vì cũng là nơi cư trú quan trọng của sinh vật quanh đảo,cung cấp nơi ở, nơi đẻ và nuôi dưỡng con non của nhiều loài sinh vật có giá trị kinh tế.Trong số hơn 140 loài rong biển ở đây, chủ yếu là thuộc các ngành rong Đỏ, rong Lục,rong Nâu, nhiều đối tượng có giá trị và sản lượng cao, có thể khai thác hàng năm hàngtrăm tấn rong khô thành phẩm Nó còn là cảnh quan tự nhiên rất độc đáo dưới đáy biểnvới các loài cá, san hô muôn màu thu hút khách du kịch đến tham quan, tắm biển và dulịch sinh thái ngầm Sự đa dạng và độ phủ san hô còn là một trong các tiêu chí đượcđặc biệt chú ý trong việc xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên biển, phục vụ du lịch, nhất
là du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng mà điểm nhấn là lặn biển, ngắm san hô và câu cá
d Hang Câu
Trên đảo Lý Sơn, hang Câu là hang động lớn thứ hai sau chùa Hang, được