Đã có nhiều nghiên cứu về công nhân tìm hiểu về điều kiện lao động, ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe người lao động, phân tầng xã hội nghề nghiệp dưới gốc độ vĩ mô với phươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của thầy cô giáo trong khoa, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè Tác giả xúc động và xin bày tỏ tri ân đến:
PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Xoan- Trưởng Khoa Xã hội học, là người hướng dẫn trực tiếp tác giả Trong quá trình làm bài, cô luôn theo sát, động viên
và hướng dẫn tận tình, góp ý sâu sắc cho đề tài
Qúy thầy cô Khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành chương trình cao học và bảo vệ luận văn
Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng hợp đã cung cấp một số tài liệu quan trọng để tác giả có cơ
Các cán bộ phường 3, cô chú, anh chị em gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…
đã ủng hộ và cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ tác giả hoàn thành luận văn
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Xoan
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Khách thể nghiên cứu 5
4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5
4.1 Ý nghĩa lý luận 5
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
5 Hạn chế của đề tài 5
6 Kết cấu của luận văn 6
PHẦN 2 7
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Những nghiên cứu về cách phân chia sự phân tầng xã hội 8
1.1.2 Những nghiên cứu về vị thế xã hội dựa vào yếu tố nghề nghiệp 13
1.1.3 Những nghiên cứu về sự di động vị thế xã hội 16
1.1.4 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế xã hội 18
1.1.5 Những nghiên cứu về công nhân 21
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 24
1.2.1 Lý thuyết phân tầng xã hội 24
1.2.2 Lý thuyết vai trò, vị thế 26
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu tượng 28
1.2.4 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 30
1.3 Những khái niệm chính 33
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 36
1.5 Phương pháp nghiên cứu 36
1.6 Phương pháp thu thập thông tin 37
1.6.1 Đối với thông tin thứ cấp 37
Trang 6ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH CỦA CÔNG NHÂN VỆ
SINH MÔI TRƯỜNG 42
2.1 Giới thiệu về công ty TNHH MTV Môi trường đô thị thành phố HCM 42
2.1.1 Giới thiệu chung 42
2.1.2 Đối với xí nghiệp dịch vụ môi trường 45
2.1.3 Đặc điểm về ngành vệ sinh môi trường quận 6 46
2.2 Điều kiện làm việc của công nhân vệ sinh môi trường 48
2.2.1 Yêu cầu vị trí nghề nghiệp 48
2.2.2 Thời gian làm việc 52
2.2.3 Mức độ nặng nhọc của công việc 53
2.2.4 Mức độ nguy hiểm 56
2.3 Các chế độ, chính sách của công ty đối với công nhân vệ sinh môi trường 61
2.3.1 Chính sách bảo hiểm 61
2.3.2 Dụng cụ bảo hộ lao động 62
2.3.3 Trang thiết bị và vệ sinh lao động 64
2.3.4 Chế độ phụ cấp độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm 65
2.3.5 Các chế độ khác 66
CHƯƠNG III 69
VỊ THẾ XÃ HỘI CỦA CÔNG NHÂN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG 69
3.1 Vị thế kinh tế 69
3.1.1 Lý do chọn nghề vệ sinh môi trường 69
3.1.2 Yếu tố thu nhập 72
3.2 Đánh giá về vị thế kinh tế của công nhân vệ sinh môi trường 77
3.2.1 Tự đánh giá về vị thế kinh tế của bản thân 77
3.2.2 Đánh giá của xã hội 81
1.6 Uy tín, tiếng nói của công nhân 82
3.3.1 Yếu tố nguồn gốc gia đình 83
3.3.2 Trình độ học vấn 87
3.3.3 Mạng lưới xã hội 93
3.3.4 Vị trí, vai trò trong các tổ chức xã hội 96
3.4 Đánh giá về vị thế uy tín, tiếng nói của công nhân vệ sinh môi trường 101
Trang 73.4.3 Đánh giá của xã hội về uy tín, tiếng nói của công nhân 119
PHẦN 3 129
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 129
1 Kết luận 130
2 Khuyến nghị 133
Trang 8Bảng 1.1 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu là công nhân vệ sinh môi trường 39 Bảng 1.2 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu là quần chúng lao động 41 Bảng 2.1 Các mốc hoạt động chính của công ty môi trường đô thị Tp HCM 42 Bảng 2.2 Các lĩnh vực hoạt động của công ty 43 Bảng 2.3 Thu nhập của người lao động 44 Bảng 3.1 Tình hình thu nhập của công nhân theo các tiêu chí 73
Trang 9Tp Thành phố
TNHH MTV trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 10PHẦN 1:
MỞ ĐẦU
Trang 111 Lý do chọn đề tài
Vị thế xã hội phản ánh mức độ uy tín và sự kính trọng từ người khác Cơ sở của sự kính trọng đó tùy thuộc vào phẩm chất cá nhân được người khác coi là quan trọng trong xã hội Nghề nghiệp là một trong những chỉ báo quan trọng nhất của vị thế vì nó thể hiện cách thức chủ yếu để có quyền lực và tài sản (Bùi Quang
Dũng, 2013)
Trong số các loại vị thế xã hội khác nhau của con người ở xã hội hiện đại, nghề nghiệp được xem như là một trong những vị thế cơ bản khi nhận diện về một con người Chẳng hạn khi đặt câu hỏi “người kia là ai?”, ta thường nhận
được câu trả lời: “anh ấy là bác sĩ” hoặc “ông ấy là kiến trúc sư”, “cô ấy là giáo viên”,…mà hầu như người ta sẽ không trả lời là “anh ta giàu lắm” hay “anh ta trẻ lắm”…điều đó cho thấy ý nghĩa quan trọng của tiêu chí nghề nghiệp trong xã hội (Nguyễn Hồng Hà, 2012)
Và vị thế nghề nghiệp cũng có sự thay đổi trong các xã hội khác nhau Nếu như xã hội truyền thống ở nước ta, thang bậc xã hội được xếp theo: “Sĩ- Nông-Công-Thương” thì xã hội ngày nay, trong hệ thống phân tầng xã hội theo nhóm nghề nghiệp, được chia làm 9 tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt Nam Và
có thế gộp thành 3 tầng lớp xã hội lớn: tầng lớp cao (lãnh đạo, doanh nhân, chuyên môn cao), tầng lớp giữa (nhân viên, buôn bán-dịch vụ, công nhân, tiểu
thủ công nghiệp) và tầng lớp thấp (lao động giản đơn, nông dân) (Phạm Đỗ, 2012) Điều đó cho ta thấy rằng, có sự thay đổi mạnh mẽ về địa vị xã hội của
nhóm nghề nghiệp trong các thời kỳ kinh tế- xã hội Mỗi ngành nghề đều gắn với một vị thế xã hội khác nhau và nghề nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định đến
vị thế xã hội của một con người Nhưng dù ở xã hội truyền thống hay xã hội hiện đại thì công nhân vẫn là nghề không được xã hội coi trọng nhiều
Công nhân vệ sinh môi trường được biết đến với hình ảnh người lao động vất vả, nguy hiểm, cực khổ,…thông qua các tạp chí khoa học cũng như các phương tiện truyền thông: báo chí, truyền hình, hay trong thơ ca với hình ảnh:
Trang 12“Chị lao công như sắt như đồng/Chị lao công đêm đông quét rác” (Tố Hữu,
1960)
Đối với sự phát triển kinh tế- xã hội như ngày nay vệ sinh môi trường là một ngành nghề thực sự cần thiết và rất quan trọng trong việc giữ gìn thành phố sạch sẽ Hiện nay, trung bình mỗi ngày Việt Nam phát sinh 12 triệu tấn rác thải sinh hoạt Dự kiến đến năm 2020, lượng rác thải đô thị phát sinh là 20 triệu tấn/ngày Phần lớn lượng rác phát sinh chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội,
Tp HCM, Hải Phòng Riêng Tp HCM mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, điều đó cũng đồng nghĩa với việc công nhân vệ sinh môi trường càng ngày
càng phải đối mặt với tình trạng rác thải, ô nhiễm càng tăng (Ngô Minh Phương, 1998)
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao động đang vượt mức cho phép
và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe của người lao công Bệnh nghề nghiệp đang là vấn đề cần được giải quyết cho công nhân lao động Hơn 3000 công nhân của công ty vệ sinh môi trường đô thị Hà Nội hàng năm phải thu gom và vận chuyển trên 350 ngàn mét khối rác và phế thải của thành phố bao gồm cả phế thải của dân cư, bệnh viện và các cơ sở sản xuất, và khối lượng phân tươi 30 ngàn tấn hàng năm ở các cư dân thiếu điều kiện vệ sinh thải ra Công việc của công nhân
vệ sinh môi trường bao gồm: quét rác, xúc đất rác, quét dọn vệ sinh công cộng và thu dọn phân Trong đó, hầu hết mắc bệnh ngoài da, đa phần mắc bệnh răng hàm mặt, tai mũi họng và mắt, bệnh nội khoa và da liễu Bên cạnh đó, công nhân vệ sinh môi trường còn phải đối mặt với các bệnh truyền nhiễm, da liễu, viêm phổi,…do điều kiện giải quyết vệ sinh cá nhân còn hạn chế, thường xuyên tiếp
xúc với chất độc hại, ô nhiễm (Ngô Minh Phương, 1998)
Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu những hi sinh thầm lặng, bất chấp nguy hiểm, cực nhọc của công nhân để đổi lấy môi trường trong sạch cho xã hội có được xã hội coi trọng, tôn vinh? Và vị thế xã hội của họ như thế nào trong xã hội hiện đại ngày nay?
Trang 13Đã có nhiều nghiên cứu về công nhân tìm hiểu về điều kiện lao động, ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe người lao động, phân tầng xã hội nghề nghiệp dưới gốc độ vĩ mô với phương pháp nghiên cứu định lượng là chủ yếu Tính đến thời điểm hiện tại, tác giả chưa tìm thấy có đề tài nào tìm hiểu về
vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường Đây là một ngành nghề khá nhạy cảm đối với xã hội bởi tính chất và đặc thù của công việc mà công nhân lao động
thực hiện mỗi ngày Do đó, thông qua việc nghiên cứu về “Vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường (Nghiên cứu công nhân vệ sinh môi trường phường 3, quận 6, TP HCM) tác giả muốn tìm hiểu sâu sắc về vị thế xã hội của công nhân
được xếp ở thứ bậc nào trong xã hội thông qua cách đánh giá của chính bản thân công nhân và quần chúng lao động Bản thân người công nhân cảm nhận như thế nào về thái độ của xã hội đối với chính công việc của mình? Họ có được coi trọng, thông cảm, chia sẻ hay là bị coi thường, xem nhẹ trong xã hội?
2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua nghiên cứu, đề tài muốn tìm hiểu sâu về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường thông qua cách nhìn nhận đánh giá từ chính bản thân công nhân
và từ phía xã hội Tác giả lần lượt đi tới các mục tiêu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu điều kiện làm việc và các chế độ chính sách của công nhân vệ sinh môi trường
- Tìm hiểu vị thế về kinh tế, uy tín và tiếng nói của công nhân vệ sinh môi trường thông qua cách đánh giá của chính bản thân công nhân, gia đình và xã hội Trong đó yếu tố về thu nhập thể hiện vị thế kinh tế; yếu tố về trình độ học vấn, nguồn gốc gia đình, mạng lưới xã hội, vị trí vai trò của công nhân trong các
tổ chức xã hội để thể hiện vị thế về uy tín, quyền lực
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là thái độ, cách nhìn nhận,
sự đánh giá của chính bản thân công nhân và của xã hội đối với vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường
Trang 143.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài thuộc 2 đối tượng:
- Công nhân vệ sinh môi trường
sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan Đồng thời, nghiên cứu này còn được sử dụng như một nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, công tác giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên có quan tâm đến vấn đề trên
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần tìm hiểu thực trạng về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường trong xã hội thông qua việc tìm hiểu nhận thức, thái độ của xã hội cũng như của bản thân người công nhân Tìm hiểu rõ hơn về tâm sự, chia sẻ, nguyện vọng của công nhân về nghề nghiệp này Kết quả từ cuộc nghiên cứu có thể làm cơ sở để các cơ quan chức năng đưa ra các chính sách một cách khách quan, hạn chế hoặc rút ngắn khoảng cách về bất bình đẳng xã hội, phân tầng xã hội, nâng cao vị thế xã hội cho công nhân nói chung và công nhân vệ sinh môi trường nói riêng
Trang 15trường Do đó đã gây khó khăn cho tác giả trong quá trình tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo cũng như trong quá trình tổng quan tài liệu Đối với các đề tài nước ngoài thì do hạn chế về ngôn ngữ, văn hóa cũng như việc tiếp xúc với tài liệu gốc nên không thể khai thác được nhiều khía cạnh
- Về khách thể nghiên cứu: Việc xác định đối tượng ban đầu không như trên thực
tế vì có một số công nhân mặc cảm và không chịu chia sẻ Mặt khác, tính chất công việc thường xuyên tiếp xúc với rác, di chuyển và làm việc liên tục, hơn nữa thời gian làm việc ban đêm nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của cuộc nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Trong chương III, tác giả chỉ có tiếp xúc và phỏng vấn công nhân mà không thể trực tiếp gặp và phỏng vấn gia đình, người thân của công nhân để tìm hiểu về vị thế của họ trong gia đình Do đó có thể bỏ qua một
số thông tin quan trọng và chưa thực sự khách quan
6 Kết cấu của luận văn
` Luận văn với đề tài tìm hiểu về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường được tác giả phân làm 3 phần chính: mở đầu, phần nội dung và phần kết luận- kiến nghị
Ở phần mở đầu, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và khách thể nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài;
Phần II nội dung chính của đề tài gồm 3 chương Chương I là phần cơ sở
lý luận và phương pháp luận áp dụng trong đề tài Qua chương II tác giả tìm hiểu
về điều kiện làm việc và các chế độ chính sách đối với công nhân vệ sinh môi trường Ở chương III là phần nội dung chính của đề tài về việc tự đánh giá của chính bản thân công nhân và đánh giá của xã hội về vị thế kinh tế và vị thế về uy tín, quyền lực Cuối cùng là phần kết luận và khuyến nghị cho đề tài
Trang 16PHẦN 2 NỘI DUNG
Trang 17CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Để có cơ sở nghiên cứu cho đề tài này, tác giả đã tiến hành tổng quan các các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết khoa học trên thế giới và cả ở Việt Nam liên quan đến các yếu tố về vị thế xã hội, phân tầng xã hội, di động xã hội cũng như một số chủ đề viết về công nhân, vị thế xã hội, vị thế xã hội của công nhân
Những chủ đề nghiên cứu về vị thế xã hội còn rất ít Nghiên cứu về vị thế
xã hội có những công trình chủ yếu đề cập đến những nội dung cơ bản sau: phân tầng xã hội, di động xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế xã hội Bên cạnh đó, nghiên cứu về công nhân có một số công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các yếu tố: đời sống vật chất, tinh thần, vị thế xã hội của công nhân
1.1.1 Những nghiên cứu về cách phân chia sự phân tầng xã hội
1.1.1.1 Những nghiên cứu phân tầng xã hội trên thế giới
Hiện nay với sự phát triển của xã hội, sự phân tầng xã hội diễn ra ngày càng mạnh mẽ và gay gắt Do đó có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu cũng như các tạp chí khoa học trong nước mà cả ở các nước trên thế giới bàn về vấn đề này
Mỗi một nhà xã hội học đều có những lý luận và cơ sở xếp loại thứ bậc khác nhau trong phân tầng xã hội Một số nhà xã hội học chia phân tầng xã hội theo yếu tố nghề nghiệp, thu nhập (Max Weber, Ian Robertson, Tominaga Kenichi, Gilbert Kahl ), hay dựa vào tài sản, của cải hay giai cấp - mối quan hệ với PTSX (Max Weber, Marx), và vị thế (danh dự xã hội hay uy tín), quyền lực (khả năng ảnh hưởng hành động chung), hoàn cảnh xuất thân (Max Weber) để xếp loại thứ bậc trong hệ thống phân tầng xã hội
Đối với Marx, khái niệm phân tầng xã hội có liên quan chặt chẽ với khái niệm giai cấp.Giai cấp được quyết định hoàn toàn bởi mối quan hệ cá nhân với phương thức sản xuất Mối quan hệ với phương thức sản xuất có liên hệ với nghề nghiệp nhưng không hoàn toàn như nhau Và yếu tố chủ yếu không phải là thu
Trang 18nhập hay nghề nghiệp mà liệu cá nhân có kiểm soát công cụ hay phương thức sản xuất của họ hay không, có nghĩa là có kiểm soát cơ hội cuộc sống của họ hay không Theo Marx, giai cấp khác nhau là do địa vị kinh tế của chúng trong xã hội khác nhau Giai cấp nào nắm các điều kiện vật chất, phương tiện vật chất thì giai
cấp đó sẽ nắm toàn bộ quá trình sản xuất dưới mọi hình thức (Theo Bùi Quang Dũng, 2013)
Theo Max Weber xã hội học về phân tầng xã hội dựa trên 3 nền tảng chủ yếu: địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xã hội Ông cho rằng, lĩnh vực kinh
tế không còn đóng vai trò là nhân tố duy nhất quyết định sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại Cấu trúc xã hội nói chung và phân tầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản: yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường,…); các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực,…) trong quá trình hình thành và biến đổi cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội Và ông cũng cho rằng, yếu tố kinh tế, xét cho cùng bị chi phối bởi vị thế xã hội, phụ thuộc vào uy tín, danh vọng và sự đánh giá của xã hội Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy, cả hai nhóm người có tài sản và không có tài sản đều có thể thuộc về cùng một nhóm vị thế Theo ông, quyền lực chính trị có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, nhưng đôi khi địa vị xã hội, uy tín hay quyền lực chính trị lại dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ học vấn, văn hóa,
nghề nghiệp (Trích theo Lê Văn Toàn, 2012)
Theo Weber mặc dù vị thế, uy tín hay quyền lực thường thay đổi theo địa vị kinh tế nhưng chúng cũng có thể có địa vị riêng và tác động độc lập đến sự bất bình đẳng xã hội Weber cho rằng, uy tín xã hội thường đối lập với quyền lực kinh tế Trong khi Marx đưa ra một chiều cạnh (giai cấp) thì Weber đề xuất 3 chiều cạnh, dựa vào đó để xếp loại trong hệ thống phân tầng xã hội: giai cấp (mối quan hệ với PTSX), vị thế (danh dự xã hội hay uy tín), quyền lực (khả năng ảnh hưởng hành động chung) Theo đó, địa vị giai cấp trong xã hội là yếu tố tác động mạnh mẽ đến lối sống Vị thế nói đến mối quan hệ của một cá nhân với những địa vị xã hội được thiết lập trong xã hội mà những địa vị này thay đổi theo nghĩa
Trang 19uy tín Các vị thế thường khác nhau tùy thuộc vào nghề nghiệp hoặc hoàn cảnh
xuất thân (Trích theo Bùi Quang Dũng, 2013)
Dựa trên cơ sở thu nhập và nghề nghiệp, nghiên cứu về PTXH ở Mỹ có tác giả Ian Robertson, đã phân chia xã hội Mỹ thành 6 giai tầng: (tầng 6) giai cấp thượng lưu lớp trên- là tầng lớp quý tộc thuộc dòng dõi nổi tiếng, là những nhà tư bản lớn, lâu dài, có quyền lực và uy tín lớn nhất trong xã hội; (tầng 5) giai cấp thượng lưu lớp dưới là những người có tiền, họ là những người buôn bán bất động sản, các ông trùm thức ăn nhanh, trùm máy tính, người trúng xổ số và những người giàu mới nổi; (tầng 4) giai cấp trung lưu lớp trên bao gồm những gia đình thương gia và các chủ doanh nghiệp; (tầng 3) giai cấp trung lưu lớp dưới bao gồm những thương nhân cỡ nhỏ và đại lý buôn bán, giáo viên, y tá, kỹ thuật viên và các nhà quản lý cỡ trung bình, họ là những người có thu nhập trung bình
và công việc của họ không phải là lao động chân tay; (tầng 2) giai cấp lao động bao gồm một số đông những người da màu và ít được học hành so với giai cấp trên Giai cấp này bao gồm chủ yếu những công nhân “cô hồn xanh”, những người bán hàng, nhân viên phục vụ, công nhân bán hàng chuyênnghiệp Đặc trưng của họ là lao động chân tay và hầu như không có uy tín; tầng 1: giai cấp hạ lưu bao gồm những người thất nghiệp kéo dài, không nghề nghiệp, không những nghèo khổ, sống nhờ trợ cấp của xã hội mà họ còn là những người có địa vị hèn kém nhất trong xã hội
Dựa trên cơ sở địa vị việc làm, quy mô kinh doanh và nghề nghiệp, giáo sư Tominaga Kenichi phân chia xã hội Nhật Bản thành 7 tầng lớp: tầng 7 gồm những nhà Kinh doanh; tầng 6 là những người lao động trí óc (viên chức) xí nghiệp lớn, tầng 5 là những người lao động trí óc xí nghiệp vừa và nhỏ; tầng 4 gồm công nhân xí nghiệp lớn; tầng 3 gồm những công nhân làm trong xí nghiệp nhỏ; tầng 2 là những người tự do kinh doanh quy mô nhỏ; tầng 1 gồm những người làm nông nghiệp, nông dân Ở xã hội Mỹ và Nhật Bản, tính di động của các giai cấp và tầng lớp rất mạnh, do vậy vị thế của cá nhân thường được thể hiện qua địa vị đạt được Đặc biệt là Nhật Bản, sự phân tầng xã hội đã khác nhiều so
Trang 20với lý thuyết kinh điển của K.Marx và Weber.Hai nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa cao nên chiều cạnh biến đổi nghề nghiệp trở thành một trong những
tiêu chí chủ yếu để phân hạng các tầng lớp trong xã hội (Trích theo Lê Văn Toàn, Ian Robertson: Sociology)
Dựa vào mức thu nhập, đối với Gilbert Kahl (1996) đưa ra cách phân chia
mô hình cấu trúc tầng lớp xã hội Mỹ thành 6 tầng lớp Tầng lớp đỉnh (tầng 6) là các nhà tư bản, chiếm khoảng 1% dân số có mức thu nhập khoảng 2 triệu USD/ năm, họ là các nhà đầu tư, những nhà thừa kế tài sản lớn, các nhà quản trị; tầng thứ 5 là những người thuộc tầng lớp trung lưu trên, họ là những nhà quản lý cao cấp, những người có chuyên môn và là chủ sở hữu các doanh nghiệp cỡ trung bình chiếm khoảng một phần nhỏ dân số, tầng thứ 4 là những người thuộc lớp trung lưu với gần một phần ba dân số Là những nhà quản lý cấp thấp, những người bán chuyên nghiệp, thợ thủ công, quản đốc, đốc công và những người buôn bán; tầng thứ 3 là những người lao động, chiếm gần một phần ba dân số, là những người lao động chân tay với trình độ kỹ năng thấp; tầng thứ 2 là những người lao động nghèo, bao gồm những người lao động chân tay được trả lương thấp, những người bán lẻ và những người làm dịch vụ; cuối cùng là tầng đáy gồm những người thất nghiệp, những người giúp việc gia đình bán thời gian, những
người nhận trợ cấp xã hội (Theo Đỗ Thiên Kính, 2002)
Nhìn chung, sự phân chia thứ bậc trong hệ thống phân tầng xã hội được các nhà xã hội học trên thế giới dựa vào chủ yếu gồm các tiêu chí: thu nhập, nghề nghiệp, xuất thân, vị trí việc làm và tài sản
1.1.1.2 Những nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam
Phân tầng xã hội không chỉ là chủ đề được Thế giới quan tâm mà đối với
Việt Nam cũng được các nhà khoa học nghiên cứu.Tiêu biểu như: Đỗ Thiên
Kính, Nguyễn Đức Toàn, Bùi Quang Dũng,…
Phân tầng xã hội dựa vào tiêu chuẩn xếp hạng tài sản và quyền lực Xã hội
Việt Nam từ thời kỳ dựng nước Văn Lang- Âu Lạc đến thời kỳ đầu độc lập thuộc loại hình công xã nông thôn, gồm 3 tầng lớp chính: Tầng lớp thống trị: bao gồm
Trang 21quý tộc, quan lại và một số “thổ hào”, “hào trưởng”, “lệnh tộc”; Tầng lớp nông dân công xã; Tầng lớp nô tỳ Ba tầng lớp trên thể hiện địa vị gán cho trong xã hội
là chủ yếu
Tiếp theo xã hội Việt Nam đến thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc tồn tại hai mảng: vua - quan, bình dân và xuất hiện tầng lớp nho sĩ do họ phấn đấu trở thành Lúc này yếu tố học vấn đã có một vai trò tác động đối với phân tầng xã hội
Xã hội Việt Nam còn tồn tại cơ cấu phân tầng theo tiêu chí nghề nghiệp: sĩ- nông- công- thương Và từ 1945 đến trước khi đối mới thì có sự giảm dần cơ cấu nhiều giai tầng, gồm: giai cấp công nhân, nông dân tập thể và tầng lớp tri thức Những nghiên cứu về phân tầng xã hội chủ yếu ở xã hội hiện nay là theo mức sống (thu nhập, chi tiêu, tài sản) Và dự đoán có thể có những chiều cạnh thuộc về nghề nghiệp và học vấn sẽ được dựa vào để xếp hạng thứ bậc trong nghiên cứu phân tầng ở Việt Nam trong tương lai với nhứng lý do như sau: Nghề nghiệp và học vấn là hai yếu tố chính đóng góp vào việc giành địa vị đạt được của cánhân Trong xã hội công nghiệp hiện nay, thu nhập, nghề nghiệp và học vấn trở thành tiêu chuẩn để xếp hạng cấp bậc trong hệ thống phân tầng xã hội Những nghiên cứu về cơ động xã hội ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn nghề nghiệp Đó là sự cơ động theo cơ cấu nghề nghiệp Trong lịch sử Việt Nam, tính đa chiều trong phân tầng xã hội rất rõ và dựa trên nhiều tiêu chí xếp hạng nghề nghiệp: sĩ – nông- công- thương Trong cơ cấu này, yếu tố học vấn đã được thể hiên thông qua tầng lớp nho sĩ Bên cạnh đó, một kết quả nghiên cứu mới đã tìm ra sự tác động mạnh dần lên của nhân tố học vấn đến
nâng cao mức sống khi xã hội phát triển (Đỗ Thiên Kính)
Như vậy, từ hệ thống phân tầng xã hội mà loài người đã trải qua và cơ sở lý thuyết xã hội học của nó đến các nghiên cứu trên thế giới, từ trong quá khứ đến thực tiễn hiện nay có thể thấy rằng yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn đang và
sẽ là yếu tố quan trọng quyết định đến sự phân tầng xã hội, ảnh hưởng đến vị thế
xã hội của con người trong xã hội
Trang 22Cũng theo mạch đó, một số tác giả lại cho rằng phân tầng xã hội là kết quả trực tiếp của phân công lao động và sự phân hóa của những nhóm xã hội khác nhau Nó phản ánh sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc của tất cả xã hội, sự khác biệt về khả năng thăng tiến xã hội của các cá nhân do địa vị của họ trong các
thang bậc trong xã hội (Đỗ Nguyên Phương, Trần Xuân Kiên, 2012; Nguyễn Đình Tấn, 2005)
Tóm lại, phân tầng xã hội là hiện tượng tất yếu của xã hội Sự phân hóa xã hội diễn ra không chỉ giữa các tầng lớp xã hội khác nhau mà ngay trong cùng một tầng lớp xã hội Sự phân tầng xã hội diễn ra mạnh mẽ khi xã hội ngày càng phát triển Ở Việt Nam, các nhà khoa học phân chia sự phân tầng xã hội dựa vào một
số yếu tố chủ yếu: mức sống, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hoàn cảnh xuất thân
1.1.2 Những nghiên cứu về vị thế xã hội dựa vào yếu tố nghề nghiệp
Vị thế xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ,
hành vi của con người Cơ sở của sự đánh giá về vị thế xã hội của các đối tượng
có những điểm chung và riêng khác nhau Người thầy giáo, học sinh, công nhân của các đề tài sau thuộc 4 đối tượng khác nhau tương ứng với 4 tầng lớp trong xã hội Khi tìm hiểu về vị thế xã hội của họ, các tác giả đều dựa trên một số cơ sở để đánh giá, đó là: các yếu tố hình thành nên vị thế xã hội, ảnh hưởng của vị thế xã hội Tuy nhiên, mỗi đối tượng đều có một đặc điểm khác nhau, do đó cách tiếp cận để tìm hiểu về vị thế xã hội cũng có sự khác nhau
Tìm hiểu về vị thế xã hội của người thầy trong xã hội trên cơ sở thăm dò ý kiến của giảng viên, giáo viên, phụ huynh, học sinh, sinh viên ở các trường trung học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đề tài tìm hiểu nguyên nhân, thực trạng, và đưa ra nhận định về vị thế của người thầy trong xã hội Đề tài chỉ ra và phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến vị thế của người thầy giáo, đồng thời chỉ ra thực trạng về vị thế của người thầy theo đánh giá của khách thể nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vị thế xã hội của người thầy giáo bao gồm yếu tố khách quan và chủ quan Trong đó, phẩm chất đạo đức, lối sống tác phong
Trang 23của người thầy là yếu tố quan trọng quyết định đến vị thế của họ (Lê Thị Thu Diệu, Võ Thị Ngọc Lan, 2014)
Không chỉ có nhà xã hội học quan tâm đến vị thế xã hội con người, mà chủ
đề này còn được quan tâm dưới gốc độ tâm lý học tiêu biểu như đề tài tìm hiểu
về Quan hệ giữa vị thế của học sinh trong nhóm nhỏ với kết quả học tập tại lứa tuổi học sinh trung học cơ sở cho thấy vị thế có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển con người, ảnh hưởng đến nhân cách cũng như sự tiến bộ của con người Kết quả khảo sát cho thấy có mối quan hệ giữa vị thế và kết quả học tập của các em Vị thế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân cách và kết quả học tập của học sinh Các em có vị thế càng cao thì kết quả học tập càng cao và ngược lại học tập tốt là điều kiện để nâng cao vị thế của người học Khi có vị thế cao, được nhiều bạn bè thầy cô yêu mến, tin tưởng là động lực to lớn để phấn đấu trong học tập cũng như trong phát triển nhân cách Như vậy có thể thấy rằng, vị thế xã hội
có ảnh hưởng qua lại đến nhân cách, phẩm chất cũng như năng lực của các em
(Nguyễn Thị Huệ, 2014)
Hay trong một nghiên của Bùi Thế Cường (2015), tác giả dựa vào nguồn lực mà mỗi nhóm xã hội nghề nghiệp trong xã hội thụ đắc để xét đến vị thế xã hội của người nông dân Trong bài viết này, tác giả sử dụng ba biến số để đo ba kiểu nguồn lực tiêu biểu nơi các nhóm xã hội Đó là “thu nhập bình quân đầu người năm” để phản ánh nguồn lực kinh tế, “số năm đi học” để phản ánh nguồn lực tri thức, và “là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam” để phản ánh nguồn lực quyền lực Phân tích dựa trên dữ liệu hai cuộc khảo sát ở Đông Nam Bộ hẹp và
TP HCM cho thấy sự phân bố của ba nguồn lực có sự khác biệt lớn giữa các nhóm xã hội, và mang tính phân tầng rõ rệt Trong đó, nông dân lao động luôn cùng với nhóm lao động giản đơn đứng chót bảng phân tầng ở ba biến số phản ánh nguồn lực Nông dân lao động cũng là nhóm khó khăn nhất trong quá trình dịch chuyển lên những tầng lớp cao hơn trên tháp phân tầng Đối với họ, “cấu trúc xã hội” dường như đã “an bài”, khó có khả năng thay đổi vị thế của mình, hay như người đời thường nói, thay đổi “thân phận” Và ông cũng đưa ra kết luận
Trang 24rằng hoàn cảnh và vị thế của nông dân không thể tách rời bối cảnh cấu trúc xã hội chung Và dự đoán đến năm 2020 hoặc xa hơn nữa, đời sống kinh tế của người nông dân có sự cải thiện nhất định nhưng vị thế xã hội trong cấu trúc phân tầng lại ít thay đổi (Bùi Thế Cường, 2015)
Nghiên cứu về công nhân khá phổ biến Tuy nhiên, nghiên cứu về vị thế xã hội của công nhân thì còn rất hạn chế Một trong những nghiên cứu về chủ đề
này có luận án tiến sĩ của Bùi Thị Thanh Hà Trong luận án này, tác giả đưa ra
các khái niệm về vị thế xã hội, khi nói đến vị thế của nữ công nhân là nói đến vị trí của nhóm trong cơ cấu xã hội theo sự đánh giá của xã hội Tác giả tìm hiểu về các yếu tố tạo nên vị thế đó là: điều kiện kinh tế- xã hội, trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi, giới tính Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên các lý thuyết cơ bản sau: lý thuyết con người và xã hội, lý thuyết về cơ cấu xã hội, lý thuyết về biến đổi và phát triển kinh tế- xã hội và lý thuyết giới Trọng tâm của cuộc nghiên cứu nêu lên những biểu hiện cụ thể về vị thế của nữ công nhân Trong đó, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật được sử dụng như yếu tốđộc lập để phân tích các chiều cạnh của vị thế Để tìm hiểu về vị thế xã hội của nữ công nhân, tác giả đi sâu tìm hiểu và phân tích vai trò, vị trí và uy tín của nữ công nhân trong và ngoài doanh nghiệp thông qua việc tự đánh giá của nữ công nhân và của doanh nghiệp đối với họ Nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận sau: thực trạng vị thế của nữ công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước được xác định bởi các đặc trưng: thu nhập, vị trí trong quá trình sản xuất, vai trò, uy tín trong tập thể lao động, di động xã hội nghề nghiệp Vị thế của họ thay đổi đa dạng, phong phú theo các loại hình doanh nghiệp, nghề nghiệp, độ tuổi, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, hợp đồng lao động Vị thế này không đồng đều trong nhóm nữ công nhân So với nam giới, vị thế của nữ giới thấp hơn trong thu nhập và cơ hội thăng tiến So với nhóm nữ nông dân và nhóm nữ làm nghề tự do thì vị thế của nữ công nhân cao hơn hẳn Sự khác biệt về vị thế cũng diễn ra ngay giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân
Trang 25Như vậy có thể thấy rằng, vị thế xã hội đặc biệt được chú trọng trong xã hội không chỉ ở các nước phát triển trên thế giới mà còn ở trong nước và nó diễn ra ở
cả xã hội truyền thống và xã hội hiện đại và ở những đối tượng khác nhau theo nhiều khía cạnh khác nhau Vị thế xã hội có được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong
đó, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp trở thành những tiêu chí rất quan trọng trong sự nghiên cứu cấu trúc xã hội, là nhân tố quan trọng quyết định đến vị thế của mỗi người trong xã hội hiện nay Đây cũng là yếu tố chính góp phần giành địa vị đạt được của cá nhân
1.1.3 Những nghiên cứu về sự di động vị thế xã hội
Di động xã hội là sự vận động qua hệ thống phân tầng, như là kết quả của
sự thay đổi về nghề nghiệp, tài sản hay thu nhập Có thể phân chia thành 3 loại di động xã hội:
Dựa theo khoảng thời gian mà di động xuất hiện: di động trong thế hệ, di động liên thế hệ; dựa theo xu hướng của di động xã hội: di động đi lên, di động
đi xuống hay di dộng theo chiều ngang và di động theo chiều dọc; dựa theo nguyên nhân của sự di động: di động dựa trên nỗ lực của cá nhân hay theo biến
đổi xã hội lớn hơn (Bùi Quang Dũng, 2013)
Một cuộc nghiên cứu quy mô lớn của Đỗ Thiên Kính đã khẳng định sự di động xã hội giữa các tầng lớp trong xã hội diễn ra chủ yếu ở các tầng lớp xã hội truyền thống, tức là những tầng lớp xã hội thấp mà không phải các tầng lớp xã hội hiện đại Theo ông, trong hệ thống phân tầng xã hội, tầng lớp ở trên đỉnh và dưới đáy thấp phân tầng thường có sự khép kính xã hội khá rõ Tầng lớp ở trên thì bảo vệ quyền lợi của mình, còn tầng lớp ở dưới đáy thì buộc phải chịu đựng
hoàn cảnh bị “khép kín” một cách bất lợi đối với họ Điều đó có nghĩa là sự khép
kín xã hội càng lớn thì bản thân tầng lớp có sự cố kết càng cao tức là di động ít hơn Và để duy trì sự khép kín này, họ đã thực hiện một trong những phương thức tái tạo xã hội thông qua con đường hôn nhân, tức là việc lựa chọn bạn đời, con dâu, con rễ và cách lựa chọn bạn bè Và kết quả nghiên cứu của ông cũng cho thấy rằng có sự tương đồng về những tiêu chí lựa chọn bạn đời cùng tầng lớp
Trang 26xã hội với họ theo quan điểm “nồi nào vung ấy” hay “môn đăng hộ đối” (Đỗ Thiên Kính, 2012).
Sự di động về vị thế xã hội được tác động bởi nhiều yếu tố Các yếu tố cá nhân gồm: học vấn, sự kỳ vọng, kỹ năng… chẳng hạn như khát vọng thành đạt là nguyên nhân chính cho tính cơ động xã hội trong số người châu Á di cư ở Hoa
Kỳ Một số nghiên cứu cho rằng, trẻ em Mỹ gốc Việt có khả năng vào trường đại
học 2 lần lớn hơn so với trẻ em Mỹ trung bình (Trích theo Bùi Quang Dũng,
2013, Gardner, Robey và Smith, 1985)
Các nghiên cứu khác cho thấy, trong suốt thế kỷ XX, di động đi lên thường xảy ra nhiều hơn di động đi xuống và hầu hết sự di động diễn ra ngay trong tầng lớp xuất thân của cá nhân Blau, Duncan phát hiện ra rằng ở Hoa Kỳ chỉ có 2/5
số người sinh ra trong các hộ gia đình có việc làm cổ cồn xanh trải qua sự di động xã hội đi lên vào làm cổ cồn trắng Trong khi đó, chưa đầy 1/3 số người sinh trong các hộ gia đình cổ cồn trắng trải qua sự di động vào làm việc cổ cồn xanh Như vậy, hầu hết sự di động diễn ra trong phạm vi hẹp, tức là không có sự dịch chuyển lớn về lên hoặc xuống so với thế hệ cha họ, trừ khi có một sự mở
rộng kinh tế đặc biệt (Theo Bùi Quang Dũng, Blau và Duncan, 1967; Featherman và Hauser, 1978) Điều đó cũng phù hợp với kết quả của Bùi Thị
Thanh Hà khi nghiên cứu về sự di động nghề nghiệp của nữ công nhân Kết quả cho thấy, công nhân có xu hướng di động nghề nghiệp theo chiều ngang Có nghĩa là sự di động vẫn có ở công nhân nhưng sự di động này chỉ nằm trong mức
độ, phạm vi nhỏ như thay đổi vị trí từ công nhân chính sang làm tổ trưởng hoặc
từ công nhân hợp đồng lên công nhân biên chế,…(Bùi Thị Thanh Hà, 2009)
Ngoài ra còn có sự khác biệt về chủng tộc và dân tộc liên quan đến sự di động xã hội.Mỹ la tinh và Mỹ da đen thường có tỉ lệ di động lên thấp hơn so với
người da trắng (Trích theo Bùi Quang Dũng, Featherman và Hauser, 1978) Và
sự di động nghề nghiệp trong hệ thống phân tầng xã hội hiện nay diễn ra mạnh
mẽ, giảm mạnh nhóm nghề nghiệp thuộc tầng đáy xã hội và tăng nhanh các
Trang 27nhóm nghề nghiệp hiện đại, trong đó tăng nhanh các nhóm: buôn bán- dịch vụ;
chuyên môn cao; doanh nhân và công nhân (Trần Văn Thạch, 2014)
Bên cạnh đó, các yếu tố về cá nhân khác và các yếu tố khách quan của xã hội cũng đã ảnh hưởng đến sự di động nghề nghiệp Các yếu tố cá nhân bao gồm: giới tính, độ tuổi, địa bàn cư trú, vốn xã hội; hoàn cảnh xuất thân, địa bàn cư trú; vàcác yếu tố xã hội như: chế độ chính sách lao động, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, sự phát triển ngành nghề, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, và do chiến lược phát triển cơ cấu nền kinh tế hướng đến xã hội hiện đại, điều kiện kinh tế xã hội,…cũng ảnh hưởng đến sự di động vị
thế xã hội (Trần Văn Thạch, 2014; Nguyễn An Ninh, 2008; Bùi Thị Thanh Hà, 2009)
1.1.4 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế xã hội
Nghiên cứu về sự di động vị thế xã hội trong hệ thống phân tầng xã hội, có rất nhiều yếu tố tác động Theo Marx, vị thế xã hội là do yếu tố kinh tế quyết định Những người có tài sản càng lớn thì vị thế xã hội càng cao.Yếu tố kinh tế quyết định đến uy tín, quyền lực của con người Và căn cứ này cũng được áp dụng đối với xã hội truyền thống nước ta, những ai có tài sản lớn, thường là vua, quan, tầng lớp quý tộc được xếp ở tầng lớp cao nhất, tầng lớp quý tộc Và những người nô lệ, không có tài sản, phải sử dụng công lao động để đi làm thuê, họ
thuộc tầng lớp cuối cùng trong hệ thống phân tầng xã hội (Đỗ Thiên Kính) Còn
phân tầng xã hội chủ yếu ở xã hội hiện nay là theo mức sống bao gồm: thu nhập, chi tiêu, tài sản Và dự đoán có những chiều cạnh thuộc về nghề nghiệp và học vấn sẽ được dựa vào để xếp hạng thứ bậc trong nghiên cứu phân tầng ở Việt Nam
trong tương lai (Đỗ thiên Kính, Lê Văn Toàn, Ian Robertson: Sociology, Nguyễn
An Ninh)
Kể từ những năm 1980, các nhà nghiên cứu khi khảo sát thành tựu nghề nghiệp trong khuôn khổ một sơ đồ diễn giải về sự đạt vị thế- đã cố gắng hợp nhất
xã hội trong cách giải thích của họ Họ hướng đến việc phân tích tác động đối với
sự biến thiên của những thành tựu nghề nghiệp trong các cơ cấu và các quá trình
Trang 28của thị trường lao động (Đỗ thiên Kính, 2002) Cho đến ngày nay nhiều nghiên
cứu cũng đã chỉ ra rằng, sự di động liên thế hệ trong cơ cấu phân tầng ở các xã hội công nghiệp phát triển đều được thể hiện qua sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp Tiếp đó là yếu tố học vấn, giáo dục cũng ảnh hưởng đến quá trình này và
trở thành tiêu chí quan trọng bên cạnh nghề nghiệp (Theo Lê Văn Toàn, Ian Robertson: Sociology)
Các nhà xã hội học Mỹ Blau, Duncan (1967), Treiman (1977) là những người đầu tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu phân loại nghề nghiệp theo vị thế hay uy tín xã hội căn cứ vào dư luận xã hội Những nghiên cứu đó cho thấy rằng, những việc làm cổ cồn trắng thường có uy tín cao hơn các việc làm cổ cồn xanh Hay là những việc làm liên quan đến ý tưởng hay con người thì có uy tín cao hơn những nghề nghiệp làm bằng tay hoặc liên quan đến các đối tượng vật
chất (Trích theo Bùi Quang Dũng, 2013, Treiman, 1977)
Những nghiên cứu về cơ động xã hội ở các nước công nghiệp phát triển chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn nghề nghiệp Trong lịch sử Việt Nam, tính đa chiều trong phân tầng xã hội rất rõ và dựa trên nhiều tiêu chí xếp hạng nghề nghiệp: sĩ - nông- công- thương Trong cơ cấu này, yếu tố học vấn đã được thể hiện thông qua tầng lớp nho sĩ Bên cạnh đó, một kết quả nghiên cứu mới đã tìm ra sự tác động mạnh dần lên của nhân tố học vấn đến nâng cao mức sống khi xã hội phát
triển (Đỗ Thiên Kính, 2002; Trần Văn Thạch, 2014)
Và những nhà xã hội học cũng khẳng định rằng nghề nghiệp và học vấn là hai yếu tố chính đóng góp vào việc giành địa vị đạt được của cánhân Trong xã hội công nghiệp hiện nay, thu nhập, nghề nghiệp và học vấn trở thành tiêu chuẩn để
xếp hạng cấp bậc trong hệ thống phân tầng xã hội (Lê Văn Toàn, Bùi Quang Dũng, Đỗ Thiên Kính)
Bên cạnh yếu tố nghề nghiệp, trình độ học vấn được xem là yếu tố quyết định đến sự phân tầng xã hội hay sự di động xã hội thì yếu tố di truyền, nguồn gốc gia đình cũng được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng.Theo mô hình nguồn gốc của Blau- Duncan cho Hoa kỳ năm 1962, có mối tương quan tổng thể
Trang 29giữa nghề hiện tại của con trai và nghề của người cha Có nghĩa là tác động gián tiếp thông qua giáo dục và tác động ròng của giáo dục đối với nghề nghiệp của con trai Ông đã kết luận rằng thành tích học tập có vai trò quan trọng hơn so với truyền thống gia đình trong việc quyết định tình trạng nghề nghiệp ở Mỹ giữa thế
kỷ XX Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với một số lượng sách báo nghiên cứu việc thành tích học và những chỉ số khác nhau về kỹ năng và năng lực đã chuyển hóa như thế nào vào những công việc được xếp loại theo địa vị hay uy tín kinh tế- xã hội như các nghiên cứu của Peter M Blau và Otis Dudley Duncan Chương trình nghiên cứu đạt vị thế cố gắng giải thích những khuôn mẫu của thăng tiến xã hội, bằng cách nhận diện những phẩm chất dường như tạo điều kiện cho các cá nhân tiến vào những nghề đáng mong muốn Và kết quả cũng cho thấy, trong chừng mực nào đó thì những thành tựu nghề nghiệp được hình thành bởi gia đình hay nguồn gốc hơn là những phẩm chất cá nhân như thành tích giáo dục hay nền tảng gia đình ảnh hưởng đến giáo dục và thành tựu nghề nghiệp thông qua ảnh hưởng của cha mẹ Trong những nghiên cứu khác, hệ thống thứ bậc này được mở rộng để bao hàm những khía cạnh khác nữa của địa vị kinh tế-
xã hội, như thu nhập hay số năm học hành (Từ điển xã hội học Oxford, 2012)
Và các nhà xã hội học cũng đồng quan điểm với Weber khi cho rằng có thể
dễ dàng phân biệt địa vị về uy tín theo lối sống của họ, cụ thể dựa vào tập tục, những thói quen của xã hội, giáo dục và uy tín mà nguồn gốc gia đình và nghề nghiệp đem lại Khi đạt được uy tín, địa vị cũng đảm bảo cho quyền thế về mặt kinh tế và có thể biểu hiện bằng cách cư xử về mặt kinh tế như lối ăn tiêu phong
phú, lối sinh hoạt giao tiếp,…( Lê Văn Toàn, Bùi Quang Dũng)
Theo Nguyễn Đình Tấn thì vị thế xã hội dựa trên các yếu tố gồm: Dòng dõi, của cải, nghề nghiệp, chức vụ và quyền lợi do chức vụ mang lại, trình độ học vấn, các cấp bậc trong chức sắc, dòng dõi, làng bản, những đặc điểm về sinh lý, giới tính và một số đặc điểm khác như: sắc đẹp, sức mạnh thể chất, trí thông minh, sắc sảo, sự táo bạo, gan dạ, ý chí dám mạo hiểm, dám nghĩ dám làm, khả năng tế nhị trong giao tiếp, ý chí biết kiềm chế những thỏa mãn nhất thời, tuổi kết
Trang 30hôn, địa vị người ban đời cũng góp phần tạo nên vị thế của con người trong xã hội Và theo ông, những yếu tố cấu thành nên vị thế trên không đứng riêng rẽ, tách bạch với nhau mà đươc phổ biến, sắp xếp theo những cách khác nhau Tùy theo từng người, từng thời gian, hoàn cảnh hoặc sự hiện diện của hệ thống những giá trị chuẩn mực hay tập quán truyền thống của từng giai đoạn lịch sử cụ thể, từng vùng từng địa phương, từng quốc gia mà một số vị thế của những người nào
đó được hình thành (Nguyễn Đình Tấn, 2005)
Có thể thấy rằng, yếu tố nghề nghiệp là một tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến vị thế xã hội của một người hoặc nhóm người Bên cạnh đó, các yếu tố về trình độ học vấn, của cải, chức vụ, dòng dõi và các yếu tố cá nhân như giới tính, sắc tộc cũng là những tiêu chí quan trọng để xét đến vị thế xã hội
1.1.5 Những nghiên cứu về công nhân
1.1.5.1 Những nghiên cứu về đời sống, điều kiện làm việc của công nhân
Tìm hiểu về đời sống vật chất tinh thần của công nhân, điều kiện làm việc của công nhân hay là giá trị, vị thế của công nhân đối với xã hội luôn là chủ đề của xã hội học Có thể kể đến một số đề tài của các nhà nghiên cứu về các nội
dung này như: Tạ Thị Kim Oanh, 2008; Mai Tuấn Hưng, 2011; Trần Thị Loan,
2012 Các tác giả trên đều có chung đối tượng nghiên cứu là công nhân- những
người làm việc trong nhà máy, xưởng, khu công nghiệp có điều kiện làm việc không thuận lợi, họ phải làm trong môi trường ô nhiễm, bụi bặm, độc hại và mức nguy hiểm cao gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người công nhân
Đa số phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong các nghiên cứu trên Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu định tính cũng được sử dụng kết hợp để tìm hiểu sâu sắc hơn tình cảm, tâm lý của người công nhân lao động với mục tiêu nghiên cứu đó là tìm hiểu về điều kiện làm việc và ảnh hưởng của nó đến công nhân lao động hay mô tả tình trạng sức khỏe và bệnh tật của công nhân tiếp xúc với môi trường làm việc ở công ty Ngoài ra, các đề tài còn tìm hiểu về chế độ, chính sách của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần
Trang 31cho người lao động Các đề tài đều nghiên cứu về chủ đề điều kiện làm việc của công nhân và ảnh hưởng của điều kiện lao động đến công nhân như: tư thế làm việc, yếu tố vi khí hậu, yếu tố vật lý, yếu tố hơi khí độc; Thiết bị bảo hộ lao động; Kỹ thuật công nghệ máy móc; Tình hình thực hiện chế độ chính sách: chính sách tiền lương thu nhập, chế độ bảo hiểm xã hội, chính sách bảo hộ lao động, chế độ phụ cấp độc hại; Ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện lao động tới sức khỏe nữ công nhân: tìm hiểu sức khỏe của nữ công nhân, mối quan hệ nghề nghiệp với sức khỏe của công nhân, tác động của tính chất công việc đến sức
khỏe công nhân (Tạ Thị Kim Oanh) Bên cạnh đó,cũng có đề tài tìm hiểu về điều
kiện lao động nhưng lại tìm hiểu về thực trạngvề điều kiện làm việc của công nhân, mức độ ảnh hưởng của môi trường nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn, hơi khí độc, bụi, stress đến công nhân Ngoài ra các tác giả còn tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng như: tuổi, trình độ, thâm niên công tác và các yếu tố ảnh hưởng như: thời gian làm việc, cường độ làm việc, thu nhập, đời sống tinh thần, vật chất của công
nhân, chế độ bảo hiểm xã hội của công ty đối với công nhân (Mai Tuấn Hưng)
Các đề tài trên đều có chung kết quả nghiên cứu là điều kiện làm việc của công nhân chưa được đảm bảo, còn gặp nhiều khó khăn và điều kiện làm việc đã ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe, bệnh nghề nghiệp của người lao động như: tim mạch, khớp, viêm nhiễm, bệnh đường hô hấp, da liễu, mắt, tai do tiếp xúc với tiếng ồn, dung môi hữu cơ Hay là công nhân phải làm việc trong môi trường bị ô
nhiễm như: nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép (Tạ Thị Kim Oanh, Mai Tuấn Hưng)
Bên cạnh đó, các đề tài cũng cho thấy kết quả cường độ làm việc của công nhân cao, thời gian dài, và có một số chế độ chính sách như luật bảo hiểm xã hội,
an toàn vệ sinh lao động và đời sống tinh thần của công nhân chưa được đáp ứng Kết quả còn cho thấy công nhân chưa hài lòng về chế độ tiền lương cũng như điều kiện làm việc của công ty
Sự phân hóa không chỉ diễn ra ở các tầng lớp xã hội khác nhau mà sự phát triển mạnh mẽ của xã hội đã tác động mạnh mẽ đến sự phân hóa trong bộ phận
Trang 32công nhân.Sự phát triển của của khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho công nhân phát triển nhưng đây cũng chính là thách thức đối với họ.Công nhân đang đối diện với quá trình bị phân hóa sâu sắc, với lối tư duy duy ý chí, cạnh tranh thị trường diễn ra sâu sắc và khá quyết liệt mở ra không ít cơ hội và thách thức đối
với những người làm công nhân (Nguyễn An Ninh, 2008)
1.1.5.2 Những nghiên cứu về công nhân vệ sinh môi trường
Cho đến hiện nay, số đề tài nghiên cứu về công nhân vệ sinh môi trường là rất hiếm Chủ yếu công nhân vệ sinh môi trường được biết đến với hình ảnh người công nhân vất vả, nguy hiểm, độc hại trên báo chí, truyền hình,… Trong số
đó có đề tài nghiên cứu của Ngô Minh Phương về nữ công nhân vệ sinh môi trường Theo tác giả tính chất công việc đã ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe của
nữ công nhân vệ sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao động đang vượt mức cho phép và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe của người lao động Bệnh nghề nghiệp đang là vấn đề cần được giải quyết cho công nhân lao động Hơn 3000 công nhân của Công ty vệ sinh môi trường đô thị Hà Nội hàng năm phải thu gom và vận chuyển trên 350 ngàn mét khối rác và phế thải của thành phố bao gồm cả phế thải của dân cư, bệnh viện và các cơ sở sản xuất, và khối lượng phân tươi 30 ngàn tấn hàng năm ở các cư dân thiếu điều kiện vệ sinh thải
ra Công việc của công nhân vệ sinh môi trường bao gồm:quét rác, xúc đất rác, quét dọn vệ sinh công cộng và thu dọn phân Trong đó, hầu hết mắc bệnh ngoài
da, đa phần mắc bệnh răng hàm mặt, tai mũi họng và mắt, bệnh nội khoa và da liễu Bên cạnh đó, nữ công nhân vệ sinh môi trường còn phải đối mặt với các bệnh phụ khoa do điều kiện giải quyết vệ sinh cá nhân còn hạn chế, không có chỗ
để giải quyết (Ngô Minh Phương, 1998)
Có thể thấy rằng, điều kiện làm việc của công nhân vệ sinh môi trường rất đặc biệt, khối lượng công việc nặng nhọc, ô nhiễm đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân Tuy nhiên đề tài chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu điều kiện làm việc của công nhân thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng mà chưa
Trang 33tìm hiểu về thái độ, tâm lý của người lao động khi làm công việc này cũng như thái độ, cách nhìn nhận của xã hội đối với công việc này trong xã hội ngày nay Tóm lại, đa số các đề tài trên đều khái quát cho thấy tình hình điều kiện làm việc của công nhân lao động, sự phân tầng xã hội ở gốc độ vĩ mô, cũng có đề tài tìm hiểu về vị thế xã hội của họ nhưng ở dưới gốc độ giới để làm rõ vai trò và vị thế của nữ giới so với nam giới trong xã hội
Với mục đích khai thác thông tin một cách toàn diện, sâu sắc nên không như những đề tài nghiên cứu định lượng với dung lượng mẫu lớn khác mà luận văn chỉ sử dụng phương pháp nghiên định tính dựa trên những chỉ báo lớn đã được tác giả chỉ ra, nhằm tìm hiểu về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường xét theo gốc độ phân tầng xã hội nghề nghiệp hiện nay thông qua cách nhìn nhận đánh giá của chính bản thân công nhân và của xã hội đối với nghề nghiệp của họ dựa trên những chỉ báo cơ bản Dựa trên những cơ sở lý luận trên,
là cơ sở để tác giả tham khảo và vận dụng vào nghiên cứu của mình nhằm tìm ra cái mới, cái đặc trưng ở một góc nhìn khác, góp phần thể hiện bức tranh toàn cảnh về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường hiện nay Cái mới có thể
là xuất phát từ nguồn lực có sẵn được xã hội quy gán hoặc có thể xuất phát từ nguồn lực mà cá nhân đạt được trong những yếu tố hình thành vị thế của công nhân vệ sinh môi trường Và cũng có thể xuất phát từ chính những nhóm người khác nhau trong xã hội Với những nhóm người xã hội khác nhau sẽ có những quan niệm, định kiến khác nhau đối với công nhân vệ sinh môi trường
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội (PTXH) là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học Do đó, có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Theo Sorokin: PTXH thể hiện ở việc phân phối một cách bất bình đẳng các quyền lợi và đặc quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, tặng thưởng và tước quyền, uy quyền xã hội và ảnh hưởng, giữa các thành viên của một xã hội
Trang 34Quan điểm của Talcott Parsons thì dựa vào nguyên tắc của hệ thống đẳng cấp, và đã đưa ra định nghĩa: PTXH là sự sắp xếp có tính chất sai biệt đối với các
cá nhân trong một hệ thống xã hội nhất định, và xác định rõ những người này ở vào vị trí cao hơn hay thấp hơn đối với những người khác, trên cơ sở những giá trị quan trọng đối với xã hội Talcott Parson coi PTXH là sự sắp xếp các cá nhân vào trong một hệ thống xã hội trên cơ sở phân chia những ngạch bậc và những tiêu chuẩn chung về giá trị, phân tầng là kết quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội và sự phân hóa của những nhóm xã hội khác nhau
I Robertsons thì cho rằng: PTXH là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả các xã hội loài người, là sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội bởi địa
vị của họ trong bậc thang xã hội
Theo Weber, xã hội học về phân tầng xã hội dựa trên 3 nền tảng chủ yếu: địa vị kinh tế, địa vị chính trị và địa vị xã hội Ông cho rằng, lĩnh vực kinh tế không còn đóng vai trò là nhân tố duy nhất quyết định sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại Cấu trúc xã hội nói chung và phân tầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản: yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường,…); các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực,…) trong quá trình hình thành và biến đổi cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội Và ông cũng cho rằng, yếu tố kinh tế, xét cho cùng bị chi phối bởi vị thế xã hội, phụ thuộc vào uy tín, danh vọng và sự đánh giá của xã hội Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy, cả hai loại người có tài sản và không có tài sản đều có thể thuộc về cùng một nhóm vị thế Theo ông, quyền lực chính trị có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, nhưng đôi khi địa vị xã hội, uy tín hay quyền lực chính trị lại dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ học vấn, văn hóa, nghề nghiệp
Theo Weber mặc dù vị thế, uy tín hay quyền lực thường thay đổi theo địa vị kinh tế nhưng chúng cũng có thể có địa vị riêng và tác động độc lập đến sự bất bình đẳng xã hội Theo đó, địa vị giai cấp trong xã hội là yếu tố tác động mạnh
mẽ đến lối sống Vị thế nói đến mối quan hệ của một cá nhân với những địa vị xã
Trang 35hội được thiết lập trong xã hội mà những địa vị này thay đổi theo nghĩa uy tín Các vị thế thường khác nhau tùy thuộc vào nghề nghiệp hoặc hoàn cảnh xuất thân
Đối với đề tài này, tác giả sử dụng lý thuyết của Max Weber để lý giải về vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường, đây cũng là một yếu tố cấu thành nên sự phân tầng xã hội nghề nghiệp Trong đề tài tác giả sử dụng ba yếu tốđể đo
vị thế xã hội dựa trên ba nguồn lực tiêu biểu nơi các nhóm xã hội, đó là: yếu tốvề thu nhập để phản ánh nguồn lực kinh tế; yếu tốvề nghề nghiệp, nguồn gốc xuất thân, trình độ học vấn, mạng lưới xã hội, vai trò vị trí trong các tổ chức xã hội để phản ánh vị thế về uy tín xã hội, tiếng nói hay quyền lực của công nhân
1.2.2 Lý thuyết vai trò, vị thế
Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của cá nhân trong
hệ thống những cấp độ cá nhân- nhóm xã hội Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền lợi kèm theo Nói cách khác, vị thế xã hội chính
là một khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với các vị trí đó Mỗi một cá nhân trong xã hội đều có những
vị trí nhất định ngay từ khi sinh ra và hình thành chức năng cụ thể với quyền và nghĩa vụ phù hợp Chính những quyền và nghĩa vụ cao, thấp khác nhau của các
vị trí xã hội sẽ tạo ra thứ bậc của chúng Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập với những quyền và nghĩa vụ tương ứng thì chúng ta không thể xác định được hay so sánh được thứ bậc cao thấp giữa các vị trí xã hội của các cá nhân bởi khi tách ra như vậy thì các cá nhân lại ở những vị trí xã hội tương đồng Mỗi một xã hội, mỗi một nền văn hóa lại có những cách nhìn nhận của riêng mình về các vị trí xã hội của cá nhân Những cách nhìn nhận đó sẽ xác định các quyền lợi và trách nhiệm nhất định được thực hiện song song với nhau ở mỗi một vị thế xã hội Mỗi một cá nhân có nhiều vị trí xã hội, do đó có nhiều vị thế xã hội
Các vị thế được chia làm 2 loại: vị thế gán cho và vị thế đạt được Trong
đó vị thế gán cho liên quan đến những gì mà xã hội thừa nhận đối với cá nhân đó ngay từ khi nó tham gia vào cấu trúc xã hội và không phụ thuộc vào việc cá nhân
Trang 36đó có chấp nhận hay không Đó là những yếu tố tự nhiên bẩm sinh như: tuổi, giới tính, chủng tộc, dòng họ, thành phần xuất thân Ví dụ người già có vị thế cao hơn người trẻ tuổi, người phụ nữ được coi là có vị thế xã hội thấp hơn so với nam giới, người da đen có vị thế thấp hơn người da trắng Vị thế xã hội của người già, người trẻ, nam hay nữ giới, da đen hay da trắng ngay từ khi sinh ra đã được xã hội quy gán tùy thuộc vào quan niệm hay cách nhìn nhận về vị trí xã hội của họ
Vị thế đạt được là những vị thế mà các cá nhân giành được bằng sự cố gắng, nỗ lực, bằng khả năng của cá nhân trong quá trình hoạt động sống
Vai trò là một khái niệm then chốt trong lý thuyết xã hội học Nó nhấn mạnh đến sự kỳ vọng của xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong
xã hội và nó phân tích sự vận hành của những kỳ vọng ấy Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở những vị thế xã hội tương ứng của cá nhân Để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, cá nhân phải thực hiện những hành động phù hợp Nghĩa là khi xã hội nhìn nhận vị thế nào đó của cá nhân đồng thời cũng
đã xác định một mô hình hành vi tương ứng và mong đợi cá nhân thực hiện mô hình hành vi đó Như vậy vai trò xã hội của cá nhân là việc thực hiện những hành
vi nhằm thỏa mãn sự mong đợi của xã hội để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế xã hội của mình Những đòi hỏi, mong đợi của xã hội đối với vai trò của cá nhân thường dựa trên các chuẩn mực xã hội Chính vì vậy
mà vai trò xã hội được cá cá nhân luôn luôn biến đổi và khác nhau ở các xã hội khác nhau, thậm chí ở các xã hội khác nhau ở và từng thời kỳ khác nhau Bởi các chuẩn mực xã hội không phải là một phạm trù bất biến mà nó có thể thay đổi ở từng thời kỳ khác nhau, có thể khác nhau ở các xã hội khác nhau và thậm chí khác nhau ngay cả giữa các xã hội khác nhau đang tồn tại trong cùng một thời điểm lịch sử
Trong đề tài này, lý thuyết vị thế - vai trò cho phép chúng ta nhận định được vị thế, vai trò của những công nhân trong đời sống gia đình và xã hội Nó cho phép chúng ta xác định được vị thế nào của công nhân vệ sinh môi trường là
vị thế gán cho và vị thế nào là vị thế đạt được, cho phép chúng ta xác định được
Trang 37những mô hình hành vi mà họ phải thực hiện để thỏa mãn những mong đợi của
xã hội, của gia đình sao cho phù hợp với những vị thế đó Đối với đề tài này thì
vị thế được xã hội gán cho công nhân vệ sinh môi trường là các yếu tố: nguồn gốc gia đình, giới tính, tuổi Và vị thế đạt được là các yếu tố: thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, vai trò vị trí công việc, mạng lưới xã hội, quyền lực hay tiếng nói Qua đó chúng ta cũng có thể so sánh được thứ bậc cao hay thấp trong tương quan vị thế- vai trò giữa công nhân vệ sinh với những người cùng thứ bậc hoặc khác thứ bậc trong hệ thống phân tầng xã hội nghề nghiệp thông qua những giá trị, chuẩn mực được xã hội quy định Từ đó có thể nhìn nhận và đánh giá được sự phân công vai trò giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau trong xã hội cũng như vị thế xã hội của công nhân vệ sinh môi trường so với những ngành nghề khác trong xã hội hiện nay
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu tượng
Lý thuyết tương tác biểu trưng (tương tác biểu tượng) có rất nhiều quan điểm khác nhau trong đó nổi bật lên là quan điểm của Herbert Blumer và Mead Theo quan điểm này, trước hết thế giới của con người là tập hợp các biểu tượng: thực thể (sự vật và các thuộc tính của chúng) và các hành vi, hành động tác động lên các thực thể này Theo quan điểm của H Blumer, có hai hướng cơ bản để giải
mã ý nghĩa của biểu tượng: thực nghiệm và phi thực nghiệm Các nhà thực chứng cho rằng ý nghĩa của các biểu tượng được kế thừa từ chính sự vật còn lý thuyết chủ yếu của phái phi thực chứng là các ý nghĩa của biểu tượng mang thuộc tính tâm lý H Blumer đã kết hợp cả hai quan điểm này trong việc lý giải ý nghĩa của các biểu tượng trong mọi bình diện của đời sống con người, mà trước hết là đời sống xã hội H Blumer đặc biệt được đề cao với những luận điểm của ông về sự tương tác của các biểu tượng trong đời sống xã hội, trong những vận động xã hội Theo quan điểm của Herbert Blumer thì tương tác luận biểu trưng dựa trên ba luận đề sau: Thứ nhất: Con người hành động dựa trên cơ sở các ý nghĩa mà họ gán cho các đối tượng và sự kiện hơn là hành động nhằm phản ứng lại với những kích thích bên ngoài như các động lực xã hội hay với những kích thích bên trong
Trang 38như các bản năng Do đó, tương tác luận biểu trưng phủ nhận cả quyết định luận sinh học lẫn quyết định luận mang tính thiết chế xã hội Thứ hai, các ý nghĩa nảy sinh từ quá trình tương tác hơn là có ngay từ khi bắt đầu và định hình hành động tương lai Các ý nghĩa được sáng tạo, cải biến, phát triển và thay đổi trong các tình huống tương tác hơn là được cố định và xác định trước Trong quá trình tương tác, chủ thể không tuân thủ một cách nô lệ các chuẩn mực được xác định trước, cũng không máy móc thực hiện các vai trò được thiết lập chính thức Thứ
ba, các ý nghĩa là kết quả của những thủ tục lý giải mà các chủ thể thực hiện trong bối cảnh tương tác Bằng việc đóng vai trò của người khác, chủ thể lý giải các ý nghĩa và ý định của người khác Bằng cơ chế "tự tương tác", các cá nhân biến cải hoặc thay đổi các xác định của họ về tình huống, nhẩm lại các chuỗi hành động thay thế hay loại trừ nhau và cân nhắc những hậu quả khả dĩ Như vậy, các ý nghĩa chỉ đạo hành động nảy sinh trong quá trình tương tác thông qua một chuỗi những thủ tục lý giải phức tạp
Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng Theo khái niệm thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hành động cử chỉ đó tức là các biểu tượng Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác, ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những cử chỉ, hành động của họ.Tất cả những vật thể, hình ảnh, hành động, cử chỉ xung quanh chúng ta có thể được con người gán cho những ý nghĩa và trở thành biểu tượng trong giao tiếp Ví dụ khi cha mẹ không đồng ý với hành động của trẻ thì cha mẹ sẽ lắc đầu hoặc đồng ý thì
sẽ gật đầu…
Lý thuyết tương tác biểu trưng cũng không bỏ qua hệ thống biểu tượng quan trọng bậc nhất trong quá trình tương tác giữa các cá nhân đó là ngôn ngữ nói và viết Bởi quá trình tương tác rất phong phú và đa dạng các biểu tượng được gán cho không thể diễn đạt được hết những suy nghĩ, hành động của các đối
Trang 39tượng trong quá trình giao tiếp nên các biểu tượng quy ước như ngôn ngữ nói và viết
Tóm lại Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hành động trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tương tác xã hội của họ Đây
là quá trình xã hội trong đó đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các quy tắc, chứ không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm
Đối với đề tài này, thuyết tương tác biểu tượng được thể hiện rõ nét qua mối quan hệ, tương tác qua lại giữa các cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và nhóm xã hội hay giữa các nhóm nghề nghiệp với nhau Điều đó được biểu hiện qua thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ dành cho nhau Gia đình, xã hội là nhóm đưa ra nhận định, đánh giá của mình về công nhân thông qua các yếu tố như: cách ăn mặc, vị trí nghề nghiệp, trình độ học vấn, …của công nhân Còn đối tượng được đánh giá ở đây là công nhân sẽ tự cảm nhận được bằng cách lý giải những biểu hiện mà xã hội dành cho họ, đó có thể là thái độ cảm thông, chia sẻ hoặc thái độ khinh khi, miệt thị
Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ XVIII, XIX Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người
là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lảng tránh sự đau khổ Một số nhà kinh tế học thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người đưa ra quyết định lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn
Trang 40hành động thuyết này gắn liền với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như: Geogre Homans, Peter Blau, James Coleman
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiêu đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ
“lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định
sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Phạm vi của mục đích đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập)
mà còn cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần Homas cho rằng: khi lựa chọn trong
số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó
là lớn nhất Homas đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hóa
Tương tự như vậy thì J Elster lại phát biểu nội dung của thuyết này bằng câu nói đơn giản: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”
G Simmel nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” của mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân, để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân Ông cho rằng mọi mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế cho- nhận tức là trao đổi những thứ ngang giá nhau Như vậy, xã hội được hiểu là mạng lưới các quan hệ trao đồi giữa các cá nhân Friedman và Hechter cho rằng đối với chủ thể thì không có nhiều sự lựa chọn hay cơ may có sẵn bởi trên thực tế không có nhiều cơ may cho các trường hợp Như vậy, bắt buộc họ phải có sự lựa chọn sao cho phù hợp với nhu cầu hay những sở thích cơ bản, cần thiết nhất và đạt đến mục đích cuối cùng Nhưng trong khi đó chủ thể cũng luôn có xu hướng tính đến lợi ích kế tiếp của họ nên hai ông đã đặt vấn đề trong sự lựa chọn của chủ thể có xét đến chi phí (cost) với cái mà anh ta đạt được, có tính đến khả năng thực hiện của bản