Bên cạnh đó, cây niên biểu của đồ gốm của Việt Nam cũng như các nước đã được xác định tương đối chính xác qua địa tầng khai quật, so sánh đối chiếu, phân tích chất liệu và dựa vào những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
========
HÀ THỊ SƯƠNG
VIỆT NAM TRONG CON ĐƯỜNG
GỐM SỨ TRÊN BIỂN (QUA CỨ LIỆU KHẢO CỔ HỌC)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Khảo cổ học
Mã số: 60.22.60
Tp Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
========
HÀ THỊ SƯƠNG
VIỆT NAM TRONG CON ĐƯỜNG
GỐM SỨ TRÊN BIỂN (QUA CỨ LIỆU KHẢO CỔ HỌC)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Khảo cổ học
Mã số: 60.22.60
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG
Tp Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
DẪN LUẬN……… - 1 -
1 Lý do chọn đề tài - 1 -
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 3 -
3 Giả thuyết và giải thích một số thuật ngữ - 4 -
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 7 -
5 Phương pháp nghiên cứu - 15 -
6 Ý nghĩa đề tài - 17 -
7 Bố cục của đề tài - 17 -
CHƯƠNG 1 BIỂN VIỆT NAM VÀ CON ĐƯỜNG GỐM SỨ TRÊN BIỂN- 19 - 1.1.Biển Việt Nam - 19 -
1.1.1 Biển Đông - 19 -
1.1.2 Biển Đông Việt Nam - 22 -
1.2.Con đường gốm sứ trên biển - 24 -
1.2.1 Lịch sử giao thương biển từ con đường tơ lụa đến con đường gốm sứ- 24 - 1.2.1.1.Con đường tơ lụa - 24 -
1.2.2 Các nhân tố tác động lớn đến con đường gốm sứ qua hải phận Việt Nam ……….- 33 -
1.2.2.1 Mùa Mậu dịch - 33 -
1.2.2.2 Sóng và hải lưu - 35 -
1.2.2.3 Mùa sản xuất - 37 -
CHƯƠNG 2CÁC TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC -
39 - 2.1 Tư liệu khảo cổ học hàng hải - 39 -
2.1.1 Những tàu đắm ở các nước Đông Nam Á có chứa gốm sứ Việt Nam- 40 - 2.1.1.1 Tàu đắm Rang Kwian (Thái Lan – Thế kỷ XIV) - 40 -
2.1.1.2 Tàu đắm Turiang (Malaysia - niên đại ± 1370) - 41 -
Trang 42.1.1.3 Tàu cổ Pandanan (Philippines - đầu thế kỷ XV) - 41 -
2.1.1.4 Tàu đắm Ko Khram (Thái Lan – thế kỷ XV) - 46 -
2.1.1.5 Tàu đắm Ko Si Chang 3 (Thái Lan – thế kỷ XV) - 47 -
2.1.1.6 Tàu đắm Hoàng gia Nam Hải (Royal Namhai wreck) (Malaysia – thế kỷ XV) - 48 - 2.1.1.7 Thuyền mành Hatcher (Hatcher Junk) (Thái Lan – thế kỷ XV) - 49 - 2.1.1.8 Tàu đắm Blanakan (Indonesia – thế kỷ XV – XIV) - 49 -
2.1.2 Những tàu đắm cổ phát hiện và khai quật ở vùng biển Việt Nam - 49 -
2.1.2.1 Tàu cổ Bình Châu (thế kỷ XIII) - 49 -
2.1.2.2 Khai quật tàu cổ Hòn Dầm (đầu thế kỷ XV) - 52 -
2.1.2.3 Tàu đắm Cù Lao Chàm (thế kỷ XV) - 55 -
2.1.2.4 Tàu đắm Bình Thuận ( cuối thế kỷ 16) - 59 -
2.1.2.5 Tàu đắm Hòn Cau ( 1690) - 61 -
2.1.2.6 Tàu đắm Cà Mau (1723 – 1735) - 64 -
2.1.2.7 Một số tàu đắm khác được khảo sát và khai quật trên vùng biển Việt Nam ……… - 71 -
2.2.Đồ gốm nước ngoài phát hiện ở trên đất liền Việt Nam - 78 -
2.2.1 Những phát hiện ở Hoàng Thành Thăng Long - 78 -
2.2.2 Thương cảng Vân Đồn - 81 -
2.2.3 Khu vực miền Trung Việt Nam - 82 -
2.3.Đồ gốm Việt Nam được phát hiện trên các di tích khảo cổ trên đất liền ở các nước trên CHƯƠNG 3VIỆT NAM TRONG CON ĐƯỜNG GỐM SỨ TRÊN BIỂN QUA CÁC THỜI KỲ………-
91 - 3.1 Trước thế kỷ IX - 91 -
3.2 Thế kỷ IX – đầu thế kỷ XIV - 95 -
3.3 Cuối thế kỉ XIV – cuối thế kỉ 16 - 104 -
3.3.1 Bối cảnh lịch sử - 104 -
3.3.2 Các trung tâm sản xuất gốm sứ xuất khẩu - 105 -
Trang 53.3.3 Thương cảng - 108 -
3.3.4 Ý nghĩa - 109 -
3.4.Thế kỷ 19 - 111 -
3.4.1 Bối cảnh lịch sử - 111 -
3.4.2 Các lò sản xuất gốm xuất khẩu - 114 -
3.4.3 Thương cảng - 116 -
3.3.Thế kỷ 18 - 19 - 118 -
KẾT LUẬN ……… 121
-TÀI LIỆU THAM KHẢO -124-
PHỤ LỤC -134-
PHẦN 1 BẢNG THỐNG KÊ -134-
PHẦN 2 BẢN ĐỒ -148-
PHẦN 3 BẢN VẼ -166-
PHẦN 4 BẢN ẢNH -188-
Trang 6CHỮ VIẾT TẮT
Cb: Chủ biên
CN: Công Nguyên
EIC ( East India Company): Công ty Đông Ấn
GIS (Geographic Information System): hệ thống thông tin địa lý
GPS (Global Positioning System): Hệ thống định vị toàn cầu
HN: Hà Nội
INA (The Institute of Nautical Archaeology): Viện khảo cổ học hàng hải
ICCROM (International Centre for the Study of the Preservation and Restoration of Cultural Property): Trung tâm nghiên cứu quốc tế về bảo tồn và phục chế di sản văn hóa
VHTT: Văn hóa thông tin
UBND: Ủy ban nhân dân
VOC (tiếng Hà Lan: Vereenigde Oost-Indische Compagnie): Công ty Đông
Ấn Hà Lan
WWF (World Wide First): Một công ty nghiên cứu các tàu đắm của Pháp làm việc nhiều ở Philippines
Trang 7đã chính thức tham gia vào mạng lưới thương mại biển và hình thành con đường gốm sứ trên biển trong cái nôi của con đường tơ lụa Gốm Trường Sa (Trung Quốc)
và gốm Islam (Tây Á) đóng vai trò khai thông con đường này, cũng từ đó con đường gốm sứ trên biển mở ra những triển vọng mới con ngành chế tạo đồ gốm sứ tại Việt Nam và các nước trong khu vực
Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông với hơn 3.000km bờ biển Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa
Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nên từ rất sớm biển Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ kinh tế, thương mại và văn hóa với các nước trên thế giới, nơi đây được coi là cửa ngõ Đông Nam Á Đồng thời, so với các nước các nước trong khu vực, thì Việt Nam có truyền thống sản xuất gốm sứ, sản xuất tơ lụa lâu đời và phát triển nhất Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước có nhiều lâm sản, hải sản, hương liệu, gia vị quý giá Đây là những mặt hàng quan trọng trên con đường thương mại đã kích thích các lái buôn nước ngoài tìm đến thị trường Việt Nam, mở
ra viễn cảnh giao lưu kinh tế - văn hóa đầy thú vị
Việc đi lại bằng đường thủy với những thuyền buồn ở Việt Nam đã có từ thời rất xa xưa Kỹ thuật hàng hải cổ đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỷ 5 TCN khi những hình thuyền cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn Những yếu tố văn hóa liên quan đến thuyền buồm, sông nước, biển in đậm vào văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ Từ rất sớm trên lãnh thổ
Trang 8- 2 -
nước ta hiện nay đã hình thành những cảng thị thương mại phát triển, đóng vai trò quan trọng trong con đường thương mại trên biển Nhưng việc buôn bán, xuất khẩu gốm sứ bằng đường biển ở nước ta phát triển mạnh từ thế kỷ 14 - 17 và trở thành một bộ phận quan trọng của con đường gốm sứ trên biển
Cùng với những thuận lợi mà giao thông đường thủy mang lại, biển cả luôn chứa đựng những mối nguy hiểm lớn: những cơn gió to, sóng lớn, bão có thể gây chìm tàu, đánh tan tàu; sương mù có thể làm tàu mắc cạn hoặc tai nạn; những dải đá ngầm trên biển, san hô cũng có thể đâm thủng tàu; hoạt động mạnh của các loại hải tặc gây ra những trận cướp bóc, chém giết làm đắm tàu… Vì thế, lòng biển chứa nhiều thông tin sôi động trong mọi thời kỳ lịch sử, với những hoạt động hàng hải lâu đời Đây là nguồn tài liệu lớn, quan trọng không chỉ của dân tộc mà là của cả thế giới
Khác với các vật phẩm thương mại khác như tơ lụa, hương liệu,… đồ gốm sứ vẫn tồn tại trong các di chỉ trong một khoảng thời gian dài mà không bị phân hủy và biến mất, thậm chí ngay cả khi chúng bị vỡ thành những mảnh nhỏ thì vẫn chứa đựng những tư liệu lịch sử quan trọng Bên cạnh đó, cây niên biểu của đồ gốm của Việt Nam cũng như các nước đã được xác định tương đối chính xác qua địa tầng khai quật, so sánh đối chiếu, phân tích chất liệu và dựa vào những đồ gốm có minh văn… Với phát hiện, khảo sát, khai quật và nghiên cứu các con tàu đắm ở trên vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á có chở mặt hàng gốm sứ Việt Nam kết hợp với nghiên cứu các di tích cảng thị, lò gốm xuất khẩu trong nước, các di tích ở nước ngoài có phát hiện được gốm mậu dịch Việt Nam có thể giúp ta chứng minh được
trong lịch sử, Việt Nam tích cực tham gia một cách tích cực vào con đường gốm sứ
trên biển, trong đó mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất là đồ gốm
Vì vậy, học viên chọn đề tài “Việt Nam trong con đường gốm sứ trên biển
(qua cứ liệu khảo cổ học)” nhằm tổng kết lại các tư liệu về những thành tựu mà
ngành khảo cổ học đã đạt được trong thời gian qua đối với việc nghiên cứu những con tàu đắm, những cảng thị, những trung tâm gốm thương mại ở Việt Nam Từ đó,
Trang 9- 3 -
chứng minh vị trí, vai trò, những đóng góp của Việt Nam trong con đường gốm sứ trên biển qua từng thời kỳ lịch sử
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các cuộc khai quật khảo cổ học hàng hải ở vùng biển Việt Nam và các cuộc khai quật khảo cổ học hàng hải ở Đông Nam Á mà chứa hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam; Nghiên cứu các hàng hóa thu được từ các cuộc khai quật đó cũng như các gốm sứ thương mại phát hiện ở các cảng biển, trên đất liền ở trong nước và trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Việt Nam trong con đường gốm sứ trên biển
Việt Nam được nhận thức là các cộng đồng quốc gia và tộc người đã từng sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam hiện nay, đóng góp vào sự phát triển của văn hóa và văn minh Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Học viên nghiên cứu vị trí của Việt Nam trên thương mại biển với cái nhìn đa tuyến mà điểm xuất phát là sự tồn tại thời kỳ cổ đại của ba trung tâm văn hóa dẫn đến sự hình thành những nhà nước sơ khai: trung tâm văn hóa Đông Sơn và nhà nước Văn Lang – Âu Lạc ở miền Bắc, trung tâm văn hóa Sa Huỳnh và nhà nước Lâm Ấp (Champa) ở miền Trung, trung tâm văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam ở miền Nam Ngoài ra, trong các tài liệu học viên sử dụng cũng như trong các văn bản khác, các nhà nghiên cứu còn dùng một số thuật ngữ khác để chỉ những vùng đất của Việt Nam trước đây như An Nam, Tonkin, Đại Việt… Những thuật ngữ này học viên sẽ trình bày rõ hơn ở phần chú thích của luận văn
Con đường gốm sứ trên biển thực chất là tên gọi chung cho nhiều hải trình giao lưu trao đổi thương mại giữa các nước, các khu vực Mở mỗi thời kỳ lộ trình không giống nhau Tuy nhiên, trong giai đoạn học viên nghiên cứu Việt Nam là giao điểm của hai trục tuyến Trục tuyến Bắc – Nam nối liền Nhật Bản qua các vùng bờ biển Trung Quốc, Đài Loan xuống đến Việt Nam và các nước Đông Nam
Á khác.Trục tuyến Đông – Tây với trạm dừng chân là Ấn Độ Từ đây, các tàu
Trang 10- 4 -
thuyền phương Tây qua eo Malacca, tới Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và Nhật Bản
Thời gian: khoảng thế kỷ 9 – 19
Đây là khoảng thời gian hình thành và phát triển của con đường gốm sứ trên biển Con đường gốm sứ này vốn được hình thành từ cái nôi là con đường tơ lụa trên biển Tuy nhiên, để làm rõ thêm vấn đề, học viên cũng điểm qua một số nét về Việt Nam trên con đường thương mại trước thế kỷ IX
Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu chính mà tác giả sử dụng là các báo cáo khai quật, bài viết khoa học, bài báo cáo tại các hội thảo trong nước và quốc tế… về di tích, di vật, chủ nhân, niên đại, hành trình của các con tàu đắm đã khai quật ở trên vùng biển Việt Nam và Đông Nam Á thế kỷ 9 - 19
Các ấn phẩm sách, tạp chí có trình bày về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách thương mại của các nước liên quan đến con đường gốm sứ trên biển
Tài liệu hình ảnh, phim là những hình ảnh chụp, quay được từ các cuộc khảo sát, khai quật, chỉnh lý và từ các hiện vật đã khai quật tại các di chỉ tàu đắm dưới biển Việt Nam và Đông Nam Á
Những bản đồ, bản vẽ các di tích, bản vẽ hải trình thương mại khu vực từ các tài liệu thành văn
Nguồn tư liệu gốm sứ, tư liệu hình ảnh, bản đồ, bảo vẽ từ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hải Dương, Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch (tại Hội An), Bảo tàng Bảo tàng Quảng Nam, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Vũng Tàu, Bảo tàng Quảng Ngãi, Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa, Bảo tàng
Mỹ Thuật… mà học viên đã tiếp cận
3 Giả thuyết nghiên cứu và giải thích một số thuật ngữ
Giả thuyết nghiên cứu
Biển Việt Nam có vị trí địa chiến lược rất quan trọng đối với giao thông trên biển Quốc tế?
Trang 11- 5 -
Gốm sứ, hương liệu, gia vị và hoạt động của các thương nhân Việt Nam có vị trí, vai trò rất quan trọng trong con đường gốm sứ trên biển của thế giới Tuy nhiên,
ở các giai đoạn lịch sử khác nhau thì mức độ ảnh hưởng này cũng khác nhau
Từ những cứ liệu khảo cổ học ở Việt Nam và Đông Nam Á, đặc biệt là những
cứ liệu ở các con tàu đắm đã khai quật có niên đại thế kỷ 9 – 19, kết hợp với các tư liệu thành văn sẽ giúp học viên trả lời cho giả thuyết nghiên cứu này
Giải thích một số thuật ngữ được dùng trong luận văn
Thuật ngữ liên quan đến các địa danh thuộc lãnh thổ Việt Nam
- An Nam là chữ của các triều đình Trung Hoa chỉ lãnh thổ của Việt Nam, và
bắt đầu chính thức xuất hiện từ năm 679 khi nhà Đường bên Trung Hoa đổi tên Giao Châu đô hộ phủ thành An Nam đô hộ phủ Địa danh An Nam là một trong 6
đô hộ phủ trong đó ngoài An Nam, còn có An Bắc, An Đông và An Tây Địa danh
An Nam cũng bị thay đổi nhiều lần, cho tới thời nhà Lý của Việt Nam, Trung Hoa đổi tên từ Giao Chỉ bộ sang thành An Nam Quốc năm 1139 và phong cho vua Lý Anh Tông làm An Nam Quốc Vương Cho đến thời Pháp thuộc, danh từ An Nam lại bị thu nhỏ lại để chỉ xứ Trung Kỳ không thôi Có điều cần ghi nhớ là không có một triều đại nào của Việt Nam lại tự gọi quốc hiệu mình là An Nam mà đây chỉ là quốc hiệu do Trung Hoa đặt ra để gọi Việt Nam {59}
- Cochin-China là tên sứ bộ người Bồ Đào Nha – ông Tomé Pires gọi phần
đất mà theo nằm giữa Trung Hoa và Chiêm Thành (Chàm) Theo các sử liệu của Bồ Đào Nha, vào năm 1512, thuyền trưởng Francisco Rodriguez đã vẽ một bản đồ hải hành vùng vịnh Bắc Việt, trong đó ghi địa danh khu vực Hà Nội là Cauchin de China (tức Cauchin thuộc Trung Hoa) Chắc đây là tên do Rodriguez đặt ra vì ông
ta không rõ tên chính thức của khu vực Hà Nội khi đó, và rõ ràng có sự liên tưởng với thành phố Cochin mà Bồ Đào Nha chiếm được của Ấn Độ Vì thế có thể nhìn nhận đây là lần đầu tiên địa danh Cochin-China xuất hiện trong các văn bản, tức từ năm 1512 Cochin-China là địa danh mà phần lớn các tác giả Tây Phương đã dùng
để chỉ phần đất Việt Nam, cho đến khi nước Pháp xâm chiếm toàn thể lãnh thổ Việt Nam rồi chia làm ba xứ: Bắc Kỳ hay tên Pháp là Tonkin, Trung Kỳ hay còn gọi là
Trang 12- 6 -
An Nam, và Nam Kỳ hay tên Pháp là Cochin-China Do đó nếu được dùng trước nửa sau thế kỷ 19, địa danh Cochin-China trong phần lớn trường hợp là để chỉ toàn thể lãnh thổ Việt Nam khi đó Chỉ sau khi người Pháp biến Việt Nam thành thuộc địa, địa danh Cochin-China mới có nghĩa để chỉ riêng vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh{59}
- Danh từ Tonkin để chỉ miền Bắc là do người Tây Phương khi đó dịch từ
chữ Đông Kinh, tức Hà Nội ngày nay, mà ra Nguyên vào năm 1397, Hồ Quý Ly đã cưỡng ép vua Trần Thuận Tông dời đô từ Thăng Long, kinh đô của Việt Nam từ thời nhà Lý, về Thanh Hóa và xây thành Tây Đô hay còn gọi là Tây Kinh, thuộc xã Yên Tôn, Vĩnh Lộc ngày nay Thành Thăng Long được đổi tên lại thành Đông Đô hay Đông Kinh từ đó Đến năm 1428, vua Lê Lợi sau khi đánh đuổi được quân nhà Minh đã lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, thành Đông Đô hay Đông Kinh Nhà Lê cũng có cho xây cất cung điện thành quách tại quê quán Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa,
và gọi là Lam Kinh để phân biệt với Đông Kinh tức Hà Nội ngày nay Địa danh Đông Kinh này đã xuất hiện trở lại trong danh hiệu Đông Kinh Nghĩa Thục năm
1907 khi cụ Phan Bội Châu, vừa từ Nhật Bản trở về, đã nhóm họp và cùng quyết định với cụ Lương Văn Can lập ra một trường học mở mang dân trí theo kiểu Khánh Ứng Nghĩa Thục tại Đông Kinh (Tokyo), Nhật Bản Địa danh Đông Kinh để chỉ miền bắc Việt vẫn còn được xử dụng cho đến giờ phút này, trong các sách vở của Tây Phương{59}
Tên một số dòng gốm:
- Gốm Trường Sa (changsha): Gốm có cốt dày, men phủ màu da bò với
nước men trong có ánh lục hoặc ánh vàng
- Gốm Việt Châu (hay còn gọi là gốm Việt) là tên gọi cho dòng sứ xanh được
sản xuất vào từ thời Đường ở các lò ở vùng đông bắc Chiết Giang (lấy hồ Thượng Lâm Dư Diêu làm trung tâm), trong đó tiêu biểu nhất là di chỉ lò hồ Thượng Lâm Sản phẩm của lò Việt gồm bình đựng nước, ống nhổ, cốc, bát, lọ có nắp, đồ rửa bút long, khay, chung, đĩa, hũ, chén, chậu, bát nhỏ… và một số đồ chơi trẻ em hình ngựa, gà, chó{23:41}
Trang 13- 7 -
- Gốm Định Châu (hay còn gọi là gốm Định) là tên gọi những loại gốm sứ
sản xuất ở các lò thôn Yến Sơn Đông Tây, Khúc Dương huyện Tống thuộc Định Châu Thời Đường, ở các lò này đã sản xuất được sứ trắng, đến thời Tống trở về sau, sắc men trắng sữa và trắng ngà cùng với lối trang trí, hoa văn chạm trổ, hoa văn
in ấn tinh tế, trở thành loại sản phẩm điển hình sứ trắng của vùng và xuất khẩu đi nhiều khu vực thế giới
- Gốm Islam (Islamic Ceramic): đây là tên gọi những mảnh gốm men xanh lam có nguồn gốc xuất xứ từ những nước Tây Á Loại gốm có xương gốm bở, xốp,
do vậy không được bền
- Gốm men ngọc (Céladon): Men ngọc do gốc từ silicat và kiềm, cộng thêm
tạp chất có nhiều hàm lượng ôxy sắt mà thành Gốm men ngọc hàm lượng ôxy sắt, phải nung theo lửa hoàn nguyên (tức là lửa khử ôxy), thì màu sắt đó mới chuyển sang màu ngọc xanh dịu Gốm men ngọc thường trang trí hoa văn chạm khắc chìm
Những chỗ trang trí nông sâu không đều làm cho men đọng lại chỗ dày chỗ mỏng
- Gốm hoa nâu ( Iron Brown hay Inlaid Brown), thường thuộc loại sành
xốp, men ngà bóng, hoa văn màu nâu Hoa được khắc vạch trên xương đất ướt trước khi tô màu Cũng có loại nền nâu, hoa văn trắng
- Gốm men xanh trắng (blue and white): là thuật ngữ để chỉ đồ gốm
men trắng được vẽ hoa văn màu xanh cobalt dưới men
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Thương mại ở Việt Nam, Đông Nam Á và con đường gốm sứ trên biển
Nghiên cứu về thương mại ở Việt Nam và Đông Nam Á đã được rất nhiều học giả quan tâm, nổi bật là Anthony Reid Trong các công trình chuyên khảo lớn 2 tập
“Southeast Asia in the Age of Commerce 1460-1680The Lands Below the Winds”
(Kỷ nguyên thương mại của khu vực Đông Nam Á 1460 – 1680 Các miền đất bên
dưới luồng gió thổi) và “Southeast Asia in the Age of Commerce 1460-1680
Expansion and crisis” (Kỷ nguyên thương mại của khu vực Đông Nam Á
1460-1680 Mở rộng và khủng hoảng) Hai công trình này được nhà xuất bản New Haven,
Trang 14- 8 -
Yale University Press xuất bản vào năm 1993 Trong đó, Anthony Reid đã coi thế
kỷ 15 - 17 là “Kỷ nguyên thương mại” của khu vực Đông Nam Á Kỷ nguyên thương mại này được bắt đầu vào những năm 1400, nhưng thực sự lên đến đỉnh cao
là giai đoạn 1450-1680 Trong 2 tập sách này ông đã trình bày rõ điều kiện tự nhiên, môi trường, địa chất của Việt Nam và Đông Nam Á thế kỷ 15 - 17, những sản vật thương mại của khu vực này, cũng như nguyên nhân dẫn đến những biến chuyển lớn lao liên quan tới hoạt động thương mại như: sự dự nhập ngày càng phong phú những mặt hàng có giá trị thương mại của Đông Nam Á vào mạng lưới buôn bán quốc tế; sự tham gia ngày càng tích cực của thương nhân Đông Nam Á vào hoạt động thương mại; và là sự vương lên cũng như sự tàn lụi của một số thương cảng “cũ” và sự ra đời của hàng loạt những thương cảng mới Đây là nguồn tài liệu quan trọng để bổ trợ cho những tài liệu khảo cổ học hàng hải giúp tác giả lý giải nguyên nhân xuất hiện nhiều tàu đắm, nguồn gốc hàng hóa và xây dựng con đường đi, hành trình của những chuyến tàu đắm được phát hiện trên biển Đông
Geoff Wade và Sun Laichen với cuốn sách “Southeast Asia in the Fifteenth
Century: The China Factor” (Đông Nam Á trong thế kỷ mười lăm: Yếu tố Trung
Quốc) đã cho rằng thế kỷ 15 là một điều bí ẩn trong lịch sử Đông Nam Á Lập luận dựa trên sự phát triển chẳng hạn như sự ra đời của vũ khí; nông nghiệp trồng lúa chuyên sâu hơn; sự xuất khẩu gốm sứ Thái và Việt, Hàn Quốc và Ryukyu; sự sụp
đổ của Champa; sự ra đời của các vương quyền Hồi giáo ở Melaka và tạo ra một nền văn minh mới trên bờ biển phía bắc của Java;… Trùng khớp với những thay đổi này, chính là sự tham gia của các chính sách nhà Minh và họat động của các thương nhân, thợ thủ công Trung Quốc di cư đến các khu vực khác ở châu Á
Ngoài ra ở các tạp chí và các kỷ yếu hội thảo cũng có một số bài viết về thương mại Việt Nam và Đông Nam Á như:
Tác giả John K Whitmore với bài viết “The Rise of the Coast: Trade, State
and Culture in Early Đai Viet” (Sự trỗi dậy của miền duyên hải, mậu dịch, quốc gia
và văn hóa thời ban sơ của Đại Việt) được đăng ở tạp chí Journal of Southeast Asia Studies, tháng 2 2006, các trang từ 103-123 Bài viết tập trung nghiên cứu hoạt
Trang 15- 9 -
động thương mại ở Việt Nam – một lĩnh vực vốn ít được các nhà nghiên cứu quan tâm, từ đó cung cấp cho chúng ta những cái nhìn từ ngoài biển và vùng duyên hải Tác giả khảo sát văn hóa vùng duyên hải phía đông, và để đo lường tác động của nó trên xã hội Việt Nam nói chung, từ đó dẫn đến một cái nhìn phần nào khác biệt về
sự tương tác của Việt Nam với Trung Hoa trong các thế kỷ này Bài viết này sẽ bắt đầu với một cái nhìn về cách thức mà Đại Việt đã được gộp chung lại như thế nào trong các thế kỷ thứ mười và mười một, làm thế nào các miền của nó được nối kết với nhau Sau đó sẽ xem xét sự thay đổi về kinh tế và vai trò của hoạt động mậu dịch một khi Đai Việt đã được thành lập, trong các thế kỷ thứ mười hai và mười ba
Kế tiếp, chúng ta sẽ tìm hiểu về tác động của các sự thay đổi kinh tế và của hoạt động mậu dịch trong thế kỷ thứ mười ba trên chính trị và văn hóa của Đại Việt, đặc biệt, sự kiểm soát từ duyên hải của triều đại nhà Trần dựa trên sự phát triển thương mại Với sự trổi dậy của một nền văn hóa duyên hải, hậu quả, của cải và quyền lực
đã dẫn tới một sự phân cách với vùng hạt nhân trong nội đia, ở phía thượng nguồn của Đại Việt Trong thế kỷ thứ mười bốn, các nỗ lực để kết hợp vùng hạ lưu với thượng nguồn, vùng nội địa với duyên hải của Đại Việt đã tiếp diễn trong khi văn hóa duyên hải thu hút các phần tử nội địa
Tác giả Momoki Shiro (1998) với bài viết “Dai Viet and the South China Sea
Trade, from the 10th to the 15th Century” (Đại Việt và mậu dịch vùng Biển Đông
từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 15), đăng tại An Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies, 12(1): trang 1-34, Center for Southeast Asian Studies, Northern Illinois University Bài viết này nhằm khảo sát vị thế của Đại Việt, tiền thân của Việt Nam ngày nay, trong mạng lưới mậu dịch vùng Biển Đông, và đặc biệt về các phương cách theo đó mạng lưới đã ảnh hưởng đến cấu trúc của quốc gia Đại Việt từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 15 Nhiều sử gia nhìn Đại Việt trong suốt thời kỳ này như là một quốc gia nông nghiệp tự túc, hướng nội, nhưng sự thực không phải như vậy Các căn bản nông nghiệp của Đông Nam Á thời ban sơ trong thực tế chưa được phát triển đầy đủ để chống đỡ cho các chính thể to lớn, và những tiến bộ nông nghiệp xảy ra phần lớn để đáp ứng với sự kích thích của mậu dịch và
Trang 16- 10 -
sự trổi lên của các đô thị đòi hỏi các sự cung cấp gia tăng trong các sản phẩm nông nghiệp dành cho sự tiêu thụ thực phẩm và cho sự xuất cảng hơn là để đáp ứng với các sự phát triện nội bộ Bài viết này mang cho chúng ta sự hiểu biết của về lịch sử Đại Việt thời ban sơ hòa nhịp với xư hướng hiện hành trong việc viết sử ký Á Châu,
sử dụng đến học thuyết mậu dịch để lượng giá các ảnh hưởng xã hội của công cuộc mậu dịch (đặc biệt trên biển) quốc tế thời kỳ tiền hiện đại tại Á Châu
Tác giả Johannes Widodo đã viết cuốn “The Boat and The City, Chinese
Diaspora and the Architecture of Southeast Asian Coastal Cities” (Thuyền và
Thành phố, dòng người di cư từ Trung Quốc và kiến trúc của thành phố ven biển Đông Nam Á) trong đó có chương 2 viết về “The Maritime Trade and the Advent of Coastal Cities in Southeast Asia (1st-16th Ceturies)” (Hoạt động mậu dịch biển và
sự xuất hiện các thành phố duyên hải tại Đông Nam Á (từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 16)), nhà xuất bản Marshall Cavendish International, Singapore xuất bản năm
2004 Bài viết dưới này không chỉ nói đến vai trò của Phù Nam, Lâm Ấp trong hoạt động mậu dịch với Trung Hoa ở vùng biển đông, mà còn xác định miền bắc Trung
Bộ và Bắc Bộ, đặc biệt là Hà Nội như trạm xuất nhập hàng hóa chính yếu giữa các nước phương nam với kinh đô Trung Hoa vào thời điểm đó, với nhiều nguồn tư liệu
từ phía Trung Hoa
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết khác của các nhà nghiên cứu nước ngoài được viết bằng tiếng Việt như “Thử phác hoạ cấu trúc lịch sử Đông Nam Á thông qua mối quan hệ giữa biển và lục địa” của GS Sakurai Yumio, in trong tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á 1996; bài “Hoạt động thương mại của Ấn Độ ở Đông Nam Á thời cổ trung đại của GS Noburu Karashima, in trên Nghiên cứu lịch sử, số 3-1995; bài “Vai trò của các cảng thị vùng ven biển Đông Nam Á từ thế kỷ 2 tr.CN đến đầu thế kỷ 19” của GS Shigeru Ikuta, in trong kỷ yếu hội thảo về đô thị cổ Hội
An được Nxb KHXH xuất bản 1991; v.v…
Tại Việt Nam, nghiên cứu về biển đảo tổ quốc, lịch sử thương mại và bang
giao quốc tế đã có nhiều thành tựu đáng kể Ngoài các bài nghiên cứu được công bố tại các kỷ yếu hội thảo quốc tế như: kỷ yếu hội thảo “Đô thị cổ Hội An” được tổ
Trang 17- 11 -
chức tại Đà Nẵng ngày 22, 23 tháng 8 năm 1980, năm 1981 đã xuất bản thành sách
“Đô Thị Cổ Hội An”; kỷ yếu hội thảo “Quan hệ Việt – Nhật thế kỷ XV - XVII qua giao lưu gốm sứ; kỷ yếu Văn hoá Quảng Nam những giá trị đặc trưng… Trong đó
có rất nhiều những bài viết mang nhiều thông tin khoa học liên quan đến hoạt động
thương mại ở Việt Nam như bài “Vị trí một số thương cảng Việt Nam trong hệ
thống buôn bán biển Đông thế kỷ XVI - XVII” của TS Nguyễn Văn Kim in trong
Kỷ yếu quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XV - XVII qua giao lưu đồ gốm sứ; bài “Cù Lao
Chàm và hoạt động thương mại ở biển Đông thời vương quốc Cham Pa” của ThS
Hoàng Anh Tuấn trong kỷ yếu hội thảo năm 2001; bài “Quan hệ Việt Nam – Nhật
Bản thế kỷ XV - XVII trong bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực”, của GS Phan Huy
Lê in trong Kỷ yếu quan hệ Việt - Nhật thế kỷ XV - XVII qua giao lưu đồ gốm sứ, v.v Những hội thảo này mang nhiều tư liệu tổng hợp về những phát hiện mới liên quan đến lịch sử ngoại thương của nước Việt Nam với các nước trên thế giới
Về sách, chúng ta có cuốn “Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và
đầu XIX” của tác giả Thành Thế Vĩ, nhà xuất bản sử học xuất bản năm 1961 Cuốn
sách đã cung cấp cho học viên những tư liệu khái quát lại hoàn cảnh trong nước và thế giới, tình hình ngoại thương Việt Nam với các nước trên thế giới từ thế kỷ 17
đến trước thời kỳ Pháp thuộc Hai cuốn “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á
thế kỷ XV-XVII” và cuốn “Nhật Bản với Châu Á những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xă hội”, nxb Đại Học Quốc Gia năm 2003 của TS Nguyễn
Văn Kim đã trình bày bối cảnh ngoại thương khu vực từ thế kỷ XV – XVII, trong
đó đặc biệt chú trọng đến quan hệ của Nhật Bản với các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Tác giả Nguyễn Minh Mẫn và Hoàng Văn Việt cũng đã xuất bản cuốn sách
“Con đường tơ lụa quá khứ và tương lai” trong đó có trình bày quá trình con đường
tơ lụa trên biển hình thành, phát triển Tuy nhiên, nguồn tại liệu hai tác giả sử dụng chủ yếu là tài liệu Trung Quốc nên chưa trình bày được nhiều về sự tham gia của Việt Nam trong con đường thương mại biển
Trang 18- 12 -
Năm 2011, một tài liệu quan trọng được nhà xuất bản Thế giới xuất bản đó là
cuốn sách “Người Việt với Biển” do Nguyễn Văn Kim (chủ biên) với 3 phần: “phần
1 “Truyền thống và tư duy hướng biển của người Việt”, phần 2 “Vị trí thương mại biển và quan hệ giao thương”, phần 3 “Ý thức chủ quyền về an ninh và kinh tế biển” Cuốn sách vừa cung cấp những tư liệu lí luận vừa cung cấp những bằng chứng thực tiễn cho các hoạt động liên quan đến biển của người Việt
Về tài liệu từ các tạp chí phải kể tới 2 bài viết quan trọng đăng trong tạp chí
Khảo cổ học của TS Bùi Minh Trí là: “Tìm hiểu ngoại thương Việt Nam qua “con
đường gốm sứ”, số 5 năm 2003 và bài viết “Gốm Việt Nam trong thương mại biển châu Á thế kỷ XVII”, số 6 năm 2008 Hai bài viết đã đưa ra bằng chứng quan trọng
về gốm sứ Việt Nam phát hiện được ở các di tích trên đất liền và dưới biển ở các nước trên thế giới, từ đó chứng minh vị trí quan trọng của Việt Nam trong thương mại biển từ thế kỷ 14 - 17
- Tài liệu về khảo cổ học hàng hải
Tài liệu nước ngoài:
Do những cuộc khai quật khảo cổ học hàng hải ở Việt Nam thường phải hợp tác với các cơ quan, tổ chức nước ngoài, sau các cuộc khai quật hiện vật cũng thường được mang ra nước ngoài bán đấu giá nên hiện nay cũng đã có một số bài viết, sách báo nước ngoài trình bày những bài viết liên quan đến vị trí của Biển Đông Việt Nam trong lịch sử cũng như những bài viết liên quan đến Khảo cổ học hàng hải ở Việt Nam Các tài liệu xuất bản bằng nhiều thứ tiếng, nhưng chủ yếu vẫn
sử dụng tiếng Anh hoặc những báo cáo bằng tiếng Anh Trong đó, có những tài liệu quan trọng như:
T Wells với tác phẩm “Shipwrecks and Sunken Treasure in Southeast Asia”
(Tàu đắm và kho báu tàu chìm ở Đông Nam Á), Sách xuất bản năm 2002 bởi nhà xuất bản Times Editions Pte Ltd Tài liệu cung cấp những tư liệu quan trọng về lịch
sử giao thương hàng hải Đông Nam Á và sự phong phú các tàu đắm nơi đây, giải thích một số lý do vì sao các con tàu bị chìm và cung cấp tài liệu về các kho tàng di tích ở vùng biển Đông Nam Á Cuốn sách cũng giới thiệu độc giả để nghiên cứu tàu
Trang 19- 13 -
đắm, các khía cạnh thực tế của việc khảo sát kho tàng hàng hải, các kỹ năng khảo sát, tìm kiếm, xác định tàu đắm và khai quật hiện vật Trong cuốn sách này cũng cập nhật những khám phá, khai quật về tàu đắm ở Đông Nam Á Và một vấn đề quan trọng nữa là cuốn sách đã cung cấp một danh sách hơn 450 di tích tàu bị chìm
ở vùng biển châu Á từ đầu những năm 1500 tới cuối thế kỷ 19, trong đó có những di tích nằm ở khu vực Đông Nam Á cũng như ở Việt Nam
Bài viết của Dr Michael Flecker về các cuộc khai quật tàu đắm cổ và khảo cổ
học hàng hải ở Việt Nam “The Binh Thuan shipwreck Archaeological report” (Báo cáo khai quật khảo cổ học tàu đắm Bình Thuận), “Excavation of an oriental vessel
of c 1690 off Con Dao, Vietnam” (Khai quật một tàu đắm năm 1690 của phương
Đông ở Côn Đảo, Việt Nam) Những bài nghiên cứu này chủ yếu được đăng trên
tạp chí quốc tế về khảo cổ học hàng hải “The international journal of nautical
Archaeology” của hội khảo cổ học hàng hải (The Nautical Archaeology Society),
tạp chí di sản châu Á (Heritage Asia Magazine), hay sách Underwater Archaeologist Đây là nguồn tài liệu quan trọng để tìm hiểu về những thành tựu Khảo cổ học hàng hải ở Việt Nam
“Ceramics from the Guft of Thailand” (Đồ gốm từ vịnh Thái Lan), xuất bản
năm 1990 Đây là cuốn sách trình bày về gốm Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc được phát hiện từ các cuộc khai quật khảo cổ học hàng hải ở khu vực vịnh Thái Lan Và nhiều trang web của các bảo tàng quốc gia, bảo tàng khảo cổ học hàng hải, các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khảo cổ học hàng hải, trang web của các cá nhân buôn bán đồ cổ đã đề cấp đến các cuộc khai quật khảo cổ học hàng hải cũng như các hiện vật từ biển Đông Việt Nam Tuy nhiên, tất cả công trình đều tản mạn, nghiên cứu ở cuộc khai quật, từng nước riêng lẽ Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về vị trí của biển Đông Việt Nam trong con đường tơ lụa trên biển qua những phát hiện và khai quật khảo cổ học hàng hải
Tài liệu trong nước:
Tài liệu khảo cổ học hàng hải Việt Nam chúng tôi sử dụng chủ yếu tài liệu bậc
1 là các báo cáo khoa học về quá trình khai quật, chỉnh lý các con tàu cổ trên vùng
Trang 20- 14 -
biển Việt Nam như: Phạm Quốc Quân, Tống Trung Tín, “Báo cáo kết quả khai quật
khảo cổ học dưới nước tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam) (1997 – 1999)”,
báo cáo năm 2000; Ban Thăm dò, “Khai quật tàu đắm cổ Bình Châu, Báo cáo sơ bộ
Kết quả khai quật tàu đắm tại vùng biển thôn Châu Thuận Biển, Xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi”, báo cáo năm 2013; Lưu Trần Tiêu (1992), “Báo cáo
số 1 về kết quả giám định số cổ vật trên tàu chìm tại vùng biển đảo Hòn Dầm, Phú Quốc, Kiên Giang”, tư liệu báo cáo “tàu cổ Hòn Cau (Vũng Tàu)” lưu tại Bảo tàng
Vũng Tàu; Phạm Chí Thân, “Báo cáo kết quả khảo sát tàu chìm X3”, báo cáo gửi
Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu – Bảo tàng Tỉnh năm 2013…
Một số tư liệu từ các công trình mới xuất bản như: sau khi tiến hành khai quật ban khai quật tàu đắm cổ Cà Mau, năm 2002 Nguyễn Đình Chiến viết và cho xuất
bản cuốn “Tàu cổ Cà Mau – the Ca Mau Shipwerk 1723 - 1735” Trong cuốn sách
này đã trình bày những nét chung nhất từ quá trình phát hiện, chuẩn bị khai quật, hai đợt khai quật, hiện trạng tàu, hiện vật trong tàu, chủ nhân, niên đại và mối quan
hệ thương mại, giá trị khoa học của cuộc khai quật tàu cổ Cà Mau
Ngô Vĩ Phong, Tạ Nhật Vạn, Phạm Quốc Quân (chủ biên) với cuốn sách
“Kho báu từ con đường tơ lụa trên biển – đồ gốm sứ khai quật từ những con tàu
đắm dưới đáy biển Việt Nam”, được xuất bản năm 2008 Sách do Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Khu tự trị Dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc tổ chức biên soạn và xuất bản Nội dung chính của cuốn sách giới thiệu
về thành tựu khảo cổ học hàng hải tại Việt Nam trong những năm qua, thông qua 5 cuộc khai quật tiêu biểu: tàu cổ Hòn Cau, tàu cổ Hòn Dầm, tàu cổ Cù Lao Chàm, tàu cổ Cà Mau, tàu cổ Bình Thuận Ngoài phần đề từ và giới thiệu khái quát quá trình phát hiện, nghiên cứu, khai quật tàu cổ tại Việt Nam, nhóm tác giả đã đi sâu miêu tả, phân loại hiện vật trong từng tàu cụ thể (bao gồm các bản ảnh và chú thích ngắn gọn) nhằm giúp cho độc giả quan tâm đến gốm sứ xuất khẩu, con đường tơ lụa trên biển có thêm tư liệu Phần cuối của cuốn sách, nhóm tác giả giành nhiều trang cho bản thuyết minh từng hiện vật với những khảo tả và chú giải kỹ càng hơn và
Trang 21- 15 -
đặc biệt đã xác định nguồn gốc cho các hiện vật Đồ gốm sứ được giới thiệu trong cuốn sách này, không chỉ có những đồ gốm sứ thời Minh - Thanh, Trung Quốc, mà còn có cả gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam (chủ yếu từ tàu đắm cổ Cù Lao Chàm), Thái Lan, niên đại cuối thế kỷ 15
Cuốn sách “Gốm sứ trong năm con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam” Sách do
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam biên soạn và xuất bản Tác giả: Nguyễn Đình Chiến - Phạm Quốc Quân được xuất bản năm 2008 Cuốn sách ngoài phần giới thiệu và niên biểu so sánh, gồm có 4 chương: Giới thiệu đôi nét về con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam; gốm sứ Việt Nam; gốm sứ Trung Quốc; gốm sứ Thái Lan Cuốn sách cũng cung cấp những hình ảnh đẹp, hoa văn phong phú về các hiện vật được được khai quật tại vùng biển Việt Nam trong những năm qua
Ngoài ra, ở Việt Nam cũng có những bài báo, tạp chí, thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, các bài viết tham dự các hội thảo, Những phát hiện mới
về khảo cổ học thường niên và một số website có đề cập đến vấn đề khảo cổ học hàng hải hay có trình bày về việc phát hiện, khám phá, khai quật các di tích khảo cổ học hàng hải trong nước
Nhìn chung lại qua phần trình bày về lịch sử nghiên cứu vấn đề có thể thấy vấn đề Biển Đông Việt Nam, vấn đề thương mại biển trong lịch sử là những vấn đề gần đây được các nhà khoa học rất quan tâm Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có công trình nào trong nước cũng như trên thế giới công bố nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Việc nghiên cứu đề tài này yêu cầu phải có sự kết hợp nhiều nguồn tư liệu Nhưng những tài liệu của những nhà nghiên cứu trình bày trên sẽ là cơ sở, góp phần quan trọng giúp học viên có thể thực hiện được đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài với góc độ nghiên cứu là tổng kết lại những thành tựu đã đạt được trên nhiều lĩnh vực, mảng nghiên cứu để nhằm làm sáng tỏ một vấn đề mới Do vậy, để
đề tài có ý nghĩa khoa học và sức thuyết phục đòi hỏi tác giả phải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên
Trang 22- 16 -
ngành: Phương pháp loại hình, phương pháp nghiên cứu so sánh, các phương pháp như tổng hợp, thống kê, các phương pháp của các ngành hữu quan như khảo cổ học, văn hoá học, dân tộc học… ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành với khoa học lịch sử, chính trị học, xã hội học… mong rằng sẽ làm rõ hơn được về các cứ liệu khảo cổ học liên quan đến con đường gốm sứ trên biển
Phương pháp ngành khảo cổ học: do học viên không có điều kiện cũng như
khả năng để có thể tiến hành cùng với các nhà khoa học để khai quật các hiện vật
Vì vậy khi nghiên cứu khảo cổ học hàng hải, học viên dựa vào các số liệu, bản ảnh, bản vẽ, các đoạn quay video và các báo cáo của các nhà khoa học đã tham gia khai quật đặc biệt là của TS Nguyễn Đình Chiến, PGS.TS Đặng Văn Thắng cung cấp để làm nguồn tư liệu phân tích, xử lý Đồng thời, học viên đã đến nhiều bảo tàng trong nước quan sát, đo, vẽ và chụp hình một số hiện vật, xem các bảng biểu thống kê, phân loại của các hiện vật vớt được từ tàu đắm và các hiện vật mà hải quan các tỉnh bắt và tịch thu của những người buôn đổ cổ có tại các bảo tàng
Phương pháp nghiên cứu so sánh được học viên sử dụng nhiều như so sánh
hiện vật thu được từ tàu đắm trên biển Đông Việt Nam với hiện vật khai quật được
từ các di chỉ trên đất liền và trên biển ở các khu vực khác trên thế giới để xác định nguồn gốc hàng hóa trên con đường thương mại So sánh kỹ thuật đóng tàu của Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ và của các nước phương tây với những di vật về thân tàu được phát hiện trong các cuộc khai quật, so sánh tài liệu thành văn và các nguồn sử liệu vật thật là các hiện vật khảo cổ…
Phương pháp Nghiên cứu lịch sử (đồng đại và lịch đại) là một trong những
phương pháp nghiên cứu, phân tích các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu điền dã Phương pháp này cho phép học viên có thể tham khảo về những tư liệu được viết trước kia về khảo cổ học hàng hải ở Việt Nam Đánh giá và lựa chọn tài liệu phù hợp nhất với yêu cầu mà đề tài đưa ra
Ngoài ra học viên còn sử dụng kết hợp tài liệu của một số phương pháp của các ngành Khoa học tự nhiên trong phân tích các thành phần cấu tạo gốm, men gốm, lò nung… hay các phương pháp của ngành xã hội học, lịch sử …
Trang 23Bằng những cứ liệu khoa học, chúng tôi đã đưa ra được những nhận định về
sự tham gia của Việt Nam trong con đường gốm sứ trên biển Đồng thời, giải thích, chứng minh sự thay đổi vai trò của Việt Nam trên con đường ngoại thương này qua các thời kỳ
Ý nghĩa thực tiễn:
Trong tình hình căng thẳng biển Đông hiện nay, vấn đề nghiên cứu Biển Đông đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm Với đề tài này, học viên mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào nguồn tư liệu về lịch sử giao lưu gốm sứ trên biển gắn với một thời kỳ dài trong lịch sử Việt Nam Tư liệu này sẽ góp phần cho việc nghiên cứu biển đảo, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành khảo cổ học khi tiếp cận môn học khảo cổ học dưới nước và sinh viên chuyên ngành khác trong việc tiếp cận môn học lịch sử ngoại thương, con đường tơ lụa…
7 Bố cục của đề tài
Đề tài bao gồm phần dẫn luận, 3 chương nội dung và phần kết luận
Phần mở đầu gồm 18 trang, trình bày những vấn đề chung nhất như: lý do chọn đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, lịch
Trang 24Chương 2 Các tư liệu khảo cổ học gồm 52 trang, đây là chương chính, chương tư liệu của đề tài, tập hợp các nguồn tư liệu chính thể hiện sự tham gia của Việt Nam vào con đường gốm sứ trên biển từ thế kỷ 9 – thế kỷ 19 bao gồm tài liệu gốm Việt Nam từ các con tàu đắm, tài liệu về gốm Việt Nam ở các nước và các tài liệu về gốm nước ngoài có mặt tại Việt Nam qua con đường gốm sứ trên biển
Chương 3 Việt Nam trong con đường gốm sứ trên biển qua các thời kỳ, gồm
29 trang, qua phần tư liệu ở chương 2, kết hợp các nguồn tư liệu thành văn, chứng minh sự tham gia vào con đường gốm sứ trên biển của Việt Nam từ thế kỷ 9 đến thế
kỷ 19 qua các giai đoạn: trước thế kỷ 9, thế kỷ 9 – đầu thế kỷ 14, cuối thế kỷ 14 –
Trang 25- 19 -
CHƯƠNG 1 BIỂN VIỆT NAM VÀ CON ĐƯỜNG GỐM SỨ TRÊN BIỂN
1.1 Biển Việt Nam
1.1.1 Biển Đông
“Biển Đông nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, là một biển kín được bao bọc
bởi đảo Đài Loan, quần đảo Philippines ở phía đông các đảo Indonesia (Borneo, Sumatra) và bán đảo Malaysia ở phía nam và đông nam, bán đảo Đông Dương ở phía tây và lục địa nam Trung Hoa ở phía bắc Theo định nghĩa của Ủy ban Thủy văn quốc tế, đường ranh giới cực bắc của Biển Đông là đường nối điểm cực bắc của đảo Đài Loan đến Thanh Đảo lục địa Trung Hoa, gần vị trí vĩ độ 25 0 10’N, ranh giới phía cực nam của biển là vùng địa hình đáy bị nâng lên giữa đảo Sumatra và Borneo (Kalimantan) gần vĩ độ 3 0 00’S Diện tích Biển Đông khoảng 3.400.000km 2 ,
độ sâu trung bình khoảng 1140m và độ sâu cực đại khoảng 5016m”{43:1}
Thời Hán và Nam Bắc triều, người Trung Quốc gọi biển này là “Trướng Hải” (Hán văn phồn thể: 漲海, Hán văn giản thể: 涨海), “Phí Hải” (Hán văn: 沸海), từ thời Đường dần dần đổi sang gọi là “Nam Hải” (南海) Hiện tại “Nam Hải” là tên gọi quan phương của biển này ở Trung Quốc Từ thời cận đại, do tên gọi của biển này trong nhiều ngôn ngữ mang ý nghĩa là biển nằm ở phía nam Trung Quốc nên khi dịch sang Trung văn đã làm phát sinh thêm tên gọi “Nam Trung Quốc Hải” (Hán văn phồn thể:南中國海, Hán văn giản thể:南中国海) và “Trung Quốc Nam Hải” (Hán văn phồn thể: 中國南海, Hán văn giản thể: 中国南海) {121}
Tên gọi Biển Đông theo tên tiếng Anh là The South China Sea và tiếng Pháp
là Mer de Chine Méridionale, là một biển rìa Tây Thái Bình Dương “Tên quốc tế
của Biển Đông là “South China Sea” được đặt theo nguyên tắc quốc tế, dựa vào vị trí địa lý tương đối gần nhất của một lục địa tiếp giáp lớn nhất Biển Đông nằm phía nam lục địa Trung Hoa không thuộc quyền sở hữu riêng của một quốc gia nào Các vùng biển chủ quyền của các quốc gia ven biển được quy định theo Công ước của LHQ về luật bộ 1982 và tập quán quốc gia, quốc tế” {43:1} Có thể kể ra các
Trang 26- 20 -
thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á
và châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản
Philippines gọi là biển Luzon (theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippines)
hoặc biển Tây Philippines “Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen
như một danh từ riêng” {116}
Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Khu vực Đông Nam Á, một khu vực mà yếu tố biển được xem như một đặc trưng mang tính phổ quát cho toàn khu vực{13:287}.Theo giáo sư Sakurai Yumio thì chỉ số duyên hải ISCL (Index of Sea Coastal Line) của khu vực Đông Nam Á (bao gồm cả Đông Nam Á lục địa) là 5 (Area/ length of Sea Coastal Line) Chỉ số này có ý nghĩa
là tính bình quân 1 km bờ biển chỉ che phủ 5 km2 đất liền Trong khi đó ở Trung Quốc chỉ số này là 500, thậm chí ngay cả ở Nhật Bản, được coi là “Đảo quốc” chỉ
số này cũng còn là 20{35:38} Trước thế kỷ 16, khi các nhà hảng hải chưa tìm ra được con đường nào nối thông Thái Bình Dương và Đại Tây Dương cũng như Ấn
Độ Dương với Đại Tây Dương Trong khi đó ở Đông Nam Á đã có một số kênh nối
Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương… Do đó, khu vực Đông Nam Á có một vị trí
địa lý vô cùng quan trọng – một điểm trung gian có tính chất cửa ngõ quốc
tế{35:39} trong việc kết nối thị trường Đông và Đông Bắc Á với thị trường Nam và
Tây Á mà “trong nhiều thế kỷ hầu như tất cả các thuyền buôn đều sử dụng những
kho hàng ở Đông Nam Á như là một điểm trung chuyển để vận chuyển hàng hóa cũng như hướng đến một sự trao đổi khác” {55:96}
Biển Đông có khả năng trao đổi với các biển và các đại dương lân cận qua các
eo biển Phía tây nam Biển Đông giao lưu với Ấn Độ Dương qua eo biển Karimata
và eo biển Malacca Phía bắc và phía đông Biển Đông giao lưu thuận lới với Thái Bình Dương qua các eo biển sâu rộng như eo biển Đài Loan rộng 100 hải lý, độ sâu nhỏ nhất là 70m và eo biển Bashi rất sâu, độ sâu nhỏ nhất là 1800m tạo nên vị trí chiến lược trong khu vực{43:1}
Trang 27- 21 -
Trên bản đồ giao thông vận tải thế giới, các đường hàng hải quốc tế chủ yếu giữa khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua Biển Đông Tuyến đường hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông - Ấn
Độ Dương, đến Đông Nam Á qua Biển Đông và đi Đông Bắc Á, với hai cảng lớn của thế giới án ngự hai đầu là: Cảng Hồng Công ở phía bắc và Cảng Singapor ở phía Nam{43:2}
Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước này Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với Việt Nam mà còn là địa bàn chiến lược của các nước trong khu vực, của châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ{116}
Cho đến hiện nay, biển Đông vẫn nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu
có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên{116} Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại
từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong
số đó phải đi qua vùng Biển Đông{116}
Thêm vào đó, Đông Nam Á là nơi có nhiệt lượng và độ ẩm cao nhất trên thế
giới: “nhờ ở nhiệt độ và vũ lượng cao một cách đáng tin cậy, Đông Nam Á hưởng
lợi tức thời từ các nhiệt độ, trung bình quanh năm cao như bất kỳ miền nào khác có
Trang 28- 22 -
kích thước tương đương” {65:41-42} Điều đó đã biến Đông Nam Á thành thiên
đường của thế giới thực vật: “rừng Đông nam Á phơi bày một sự phong phú và đa
loại các hình dạng không hề thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, trong đó nhiều chủng loại có giá trị về mặt kinh tế” {65:43} Vì thế, nơi đây được biết đến là cung
cấp chính những sản vật của xứ sở nhiệt đới Trong suốt thời cổ trung đại những thương thuyền của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Tây Á thường xuyên tới khu vực này để nhập về quế, trầm hương, long não, đinh hương, nhục đậu khấu, tô mộc Qua tay của các lái thương, những sản phẩm này dần được trở nên nổi tiếng
ở nhiều nơi trên thế giới: “long não, một loại nhựa sớm có giá trị như một dược
phẩm và như một thành tố của hương, trầm và dầu sơn bóng (véc-ni) Kể từ đó trở
đi, long não đắt giá nhất là long não của vùng Barus, một hải cảng trên bờ biển tây bắc của Sumatra Các gỗ có mùi thơm như gỗ gharu và gỗ đàn hương (sandalwood) (một đặc sản của Timor, cách Phù Nam về phía đông nam khoảng 1.800 dặm) cũng trở thành các hàng hóa mậu dịch quan trọng vào thời điểm này”
{87:18-36}
Khi viết về khu vực Đông Nam Á, “Nhà văn và nhà khoa học cổ La Mã
Phinius (23-79 sau CN) đã viết rằng “đất ở đấy là đất vàng đất bạc” còn Ptolemeus (90 – 168 sau CN) – nhà địa lý thành Alexandria – đã họa đồ Đông Nam
Á như là một bán đảo rộng lớn thuộc “Ấn Độ ngoại sông Hằng” (India extra Gangem) và đặt tên là “Lục địa (dạng) đảo vàng” (Aurea Chersonesus)” {37:10}
Hội tụ tất cả những yếu tố trên đã giúp cho Đông Nam Á có điều kiện đón tiếp các
luồng giao lưu thương mại mang tính chất quốc tế: “Đông Nam Á là một khu vực
giàu có nhất và quan trọng nhất về thương mại” {55:93}
1.1.2 Biển Đông Việt Nam
Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 Bờ biển
Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trải dài trên 13
vĩ độ, trung bình khoảng 100 km 2 đất liền có 1 km bờ biển có tỷ lệ chiều dài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất Đông Nam Á và đứng thứ 27/157 nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600 km 2 đất liền/1 km bờ biển, Việt Nam là
Trang 29- 23 -
100 km 2 đất liền/1 km bờ biển), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển
hơn 500 km “Tính chất dài và hẹp của lãnh thổ làm cho nó mang đặc tính của một
bán đảo, ít nhất xét về mặt khí hậu vì ảnh hưởng của biển len lỏi đến khắp nơi, trừ phần phía bắc vì gần khối Hoa Nam (Trung Quốc) nên ít nhiều mang tính lục địa”
{37:9}
Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc
Bộ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100
km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn l km2 và khoảng trên l.400 đảo chưa có tên Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 1 thì “nước ta có
diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2) Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa được phân bố khá đều theo chiều dài bờ biển của đất nước, có vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông đất nước; một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm
cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển” {122}
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc
ta Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khu vực
cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thông hàng hóa
Trang 30- 24 -
thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước ta cũng như các nước quanh bờ Biển Đông Biển Việt Nam nối thông với nhiều hướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia và Malaysia) để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi
Hoặc cũng có thể qua ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia là Sunda, Blombok
và Makascha trong tình huống eo biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do gì đó; qua
eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam
Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển Philippines, Singapore đến Australia và New Zealand Đây là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong
khu vực và trên thế giới
Vị trí chiến lược của biển Việt Nam còn tăng thêm tầm quan trọng do bờ biển nước ta có rất nhiều cảng nước sâu, cùng hàng loạt vũng, vịnh kín gió và nhiều đảo,
quần đảo, là những nơi tàu bè có thể ghé lại được “Lái phương Tây coi Việt Nam là
ở một vị trí rất quan trọng cho việc buôn bán của họ với Trung Quốc Và họ thấy rất nhiều thuận lợi nếu họ có một thương điếm ở Việt Nam, vì từ bờ biển Việt Nam chỉ trong ba ngày đi biển là tới Áo – môn (Macao) tới Ma-ni (Manille – Phi – luật – tân) tới Booc – nê – ô (Borneo) Ba-ta-vi-a (Indonesia)” {53:182}
Hiện nay, chúng ta đã khai quật được 6 con tàu đắm, và tiến hành khảo sát nhiều con tàu đắm khác ở trên vùng biển Việt Nam Công ty Seabed Exploration đã từng công bố họ biết ít nhất 40 con tàu đắm trên vùng biển Việt Nam Tháng 9 năm
2013, Phòng Nghiên cứu Khảo cổ học dưới nước thuộc Viện Khảo cổ đã được thành lập
1.2 Con đường gốm sứ trên biển
1.2.1 Lịch sử giao thương biển từ con đường tơ lụa đến con đường gốm
sứ
1.2.1.1 Con đường tơ lụa
“Nền kinh tế hàng hóa bất kỳ một giai đoạn nào cũng có mối quan hệ chặt chẽ
với những sản phẩm trở thành hàng hóa Quá trình tiến triển của ngoại thương
Trang 31- 25 -
cũng là quá trình tiến triển của kinh tế hàng hóa được mở rộng ra khỏi khuôn khổ thị trường trong nước”{45:49} Những nguồn hàng hóa mà lái thương nước ngoài
quan tâm ở thị trường Đông Nam Á và Trung Quốc ở thời kỳ cổ trung đại chính là
tơ lụa, gốm sứ và hương liệu Chính sự giao lưu, buôn bán các mặt hàng này mà con đường thương mại được đặt tên là “con đường tơ lụa”, “con đường gốm sứ”
“Khái niệm “con đường tơ lụa” được nhà địa lý học người Đức Ferdinand
von Richthofen đặt tên 130 năm trước đây để đề cập đến tuyến đường buôn bán Đông – Tây Sự xuất hiện của khái niệm này đã thu hút giới nghiên cứu, trước tiên
là các nhà nghiên cứu khảo cổ và lịch sử tìm hiểu về lịch sử của vấn đề này Và cũng từ đó, những tranh luận mạnh mẽ mang tính học thuật liên tiếp diễn ra”
{21:22}
Con đường tơ lụa bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh (Trung Quốc) qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung quanh vùng Địa Trung Hải và đến tận châu Âu Con đường cũng đi đến cả Hàn Quốc và Nhật Bản Nó có chiều dài khoảng 4.000 dặm, hay 6.437 km Theo
các tài liệu “Trung Quốc là nước đầu tiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén
ươm tơ, dệt lụa sớm nhất trên thế giới vào thế kỷ 3 TCN Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quí tộc, sau này lụa tơ tằm được đưa đi các vùng Con đường tơ lụa dần dần được hình thành từ đó Thế kỷ 2 TCN, Trương Khiên nhận lệnh từ Hán Vũ Đế đi về phía Tây tìm người Nguyệt Chi nhằm kết đồng minh chống lại quân Hung Nô Trải qua nhiều gian khổ, Trương Khiên đã tìm được người Nguyệt Chi ở nơi là miền Bắc Ấn Độ ngày nay Trên đường về ông cùng tùy tùng đã mang theo nhiều sản vật mà triều đình rất quan tâm Nhờ đó những tuyến đường nhỏ trước đây đã được kết nối lại với nhau, nhiều tuyến mới được khai phá và an toàn hơn do được sự bảo vệ của triều đình Tuyến đường mà Trương Khiên đã khai phá được người đời sau gọi là Con đường tơ lụa” {123}
Con đường tơ lụa đó được hình thành từ thế kỷ 2 TCN nhưng lúc đầu con đường này được thành lập với ý định quân sự nhiều hơn mục tiêu thương mại {123} Muốn tìm được những đồng minh nhằm khống chế bộ lạc Hung Nô (匈奴),
Trang 32- 26 -
năm 138 TCN, vua Hán Vũ Đế đã cử Trương Khiên đi về phía Tây với chiếu chỉ ngoại giao trong tay, nhưng không may Trương Khiên đã bị chính bộ lạc Hung Nô bắt và giam giữ Sau 10 năm bị bắt giữ, Trương Khiên trốn khỏi trại và vẫn tiếp tục nhiệm vụ, ông hành trình về Trung Á, Tây Vực Tiếp kiến biết bao vị thủ lĩnh ở khu vực này nhưng chẳng ai chịu giúp nhà Hán cả Năm 126 TCN, Trương Khiên trở về nước Tuy thất bại nhưng với những kiến thức và thông tin thu được, ông đã viết cuốn sách Triều dã kim tài trong đó đề cập đến những vùng đất ông đã đặt chân tới,
vị trí địa lý, phong tục tập quán, sản vật, hàng hóa và đặc biệt là tiềm năng giao thương Triều dã kim tài đã kích thích mạnh các thương gia Trung Hoa Sau đó Con đường tơ lụa dần được hình thành, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc, sa, nhiễu đến Ba Tư và La Mã đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa{123}
Thời kỳ đầu, những bậc đế vương và những nhà quý tộc của La Mã thích lụa Trung Hoa đến mức họ cho cân lụa lên và đổi chỗ lụa đó bằng vàng với cân nặng tương đương Chuyện cũng nói rằng Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra lúc đó chỉ diện váy lụa Trung Quốc mà thôi Chính trị thời đó cũng có ảnh hưởng lớn đến Con đường tơ lụa Khi nhà Hán suy vong vào thế kỷ 3, Con đường tơ lụa cũng bị đình lại Chỉ khi nhà Tống hưng thịnh, con đường này mới phát triển trở lại Cũng vào thời Tống, do thấy được giá trị của con đường giao thương Đông - Tây này, các vị hoàng đế đã ban hành hàng loạt những chiếu chỉ nhằm khuyến khích thương mại và cũng từ đó, những nhà truyền giáo đã bắt đầu tìm đến với phương Đông Con đường
tơ lụa dưới triều Tống đã trở thành một điểm nhấn rõ nét trong lịch sử thương mại thế giới{123}
Bên cạnh con đường tơ lụa này còn có một con đường tơ lụa khác mà được các nhà nghiên cứu gọi là con đường tơ lụa trên biển Hiện nay, cả trong nước lẫn trên thế giới vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mốc ra đời của con đường tơ lụa trên biển cũng như nguyên nhân xuất hiện, phát triển của con đường tơ lụa đặc biệt này Khi xét về nguyên nhân xuất hiện của con đường tơ lụa trên biển, học viên nhận thấy con đường này xuất hiện bởi một số nguyên nhân chính:
Trang 33- 27 -
- Sau khi Tần Thuỷ Hoàng thôn tính sáu nước Tề, Yên, Triệu, Sở, Ngô, Việt, nhân dân các nước chạy loạn đã tìm đường vượt biển sang Triều Tiên, dần hình thành nên tuyến giao thông trên vùng biển phía Đông Tuyến đường này thông qua Đông Hải (Hoàng Hải ngày nay), nối với Triều Tiên và Nhật Bản
- Nếu như con đường giao lưu thương mại trên bộ chỉ đến được một số quốc gia nhất định thì con đường tơ lụa trên biển có thể đến hầu hết các quốc gia, đặc biệt các quốc gia hải đảo và những khu vực có biển
- “Con đường tơ lụa trên biển ít bị khống chế bởi các thế lực chính trị, dễ
dàng lưu thông, ít chịu tác động của những biến loạn và thay đổi của các quốc gia Sau khi Ba Tư thao túng con đường tơ lụa trên bộ, năm 166 hoàng đế La Mã đã cho thiết lập con đường tơ lụa trên biển với các nước phương Đông” {30:115}
Còn thời gian ra đời của con đường thương mại này học viên đồng ý với ý kiến của phần lớn các nhà nghiên cứu khi cho rằng con đường tơ lụa trên biển ra đời khoảng giữa thế kỷ 2 TCN Một số tư liệu về con đường tơ lụa trên biển qua tài liệu
khảo cổ học như: “Năm 1983, các nhà khảo cổ học Trung Quốc tiến hành khai quật
di chỉ mộ Nam Việt Vương – Triệu Mục (206 – 111 TCN) tại Quảng Châu Trong số nhiều hiện vật khảo cổ học được phát hiện, đáng lưu ý là chiếc hộp bạc mà từ hình dáng đến hoa văn trang trí đều thể hiện một phong cách khác với các hiện vật khác
Nó rất giống những đồ vật bằng bạc được tìm thấy tại di chỉ Susa (Iran) Đặc biệt hơn, các nhà khoa học đã phát hiện tại di chỉ mộ Nam Việt Vương những công cụ liên quan đến kỹ thuật in hoa, nhuộm màu Đó là những mảnh của bộ dụng cụ in, mặt trước có đồ án hoa văn hình ngọn lửa khắc lồi, mặt sau để trơn Đây là những tài liệu chứng minh cho kỹ thuật in hoa, nhuộm màu đầu tiên của người Trung Hoa Các hiện vật này hiện vẫn đang được trưng bày tại bảo tàng Nam Việt Vương tại trung tâm thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc” {12:40} Một
dẫn chứng khác là“Cũng tại Quảng Châu, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di chỉ
xưởng đóng tàu có niên đại Tần – Tây Hán (221 – 111TCN) Trong số 3 ụ được phát hiện, ụ 1 có chiều dài hơn 88m, rộng 1,8m Cả 3 ụ này nằm song song theo hướng Đông – Tây Theo các nhà nghiên cứu, các ụ này có thể đảm bảo để đóng
Trang 341.2.1.2 Con đường gốm sứ
Để thích ứng với sự phát triển của nhu cầu buôn bán gốm sứ, hương liệu ra nước ngoài, vận chuyển bằng đường biển không ngừng được mở rộng Thời cổ đại, ngoài tơ lụa, gốm sứ cũng được xem là mặt hàng xuất khẩu chủ lực Gốm sứ là mặt hàng dễ vỡ, cho nên khi vận chuyển với số lượng lớn, ưu thế vận chuyển bằng đường biển cao hơn so với đường bộ vì những con thuyền có trọng tải lớn và tính
ổn định cao Ví dụ như trường hợp tàu đắm Belitung, theo các nhà nghiên cứu con tàu chỉ dài khoảng 22m, rộng khoảng 7 – 8m nhưng chứa được tới 60.000 cổ vật phần lớn là gốm sứ Do đó, từ thế kỷ 9, khi mà gốm sứ tham gia vào con đường thương mại trên biển thì nhiều học giả cho rằng nên gọi con đường tơ lụa trên biển
là con đường gốm sứ Định danh con đường tơ lụa, con đường gốm sứ hay con đường tơ gốm không phải để chỉ có mặt hàng thương mại đó trên con đường thương mại mà trong quá trình phát triển của con đường thương mại biển này tơ lụa, gốm
sứ, các loại hương liệu có nguồn gốc đều có những vị trí tích cực và tham gia vào con đường buôn bán chung
Từ thế kỷ 9, đồ gốm sứ đã chính thức tham gia vào mạng lưới thương mại biển
và hình thành con đường gốm sứ trên biển trong cái nôi của con đường tơ lụa
“Gốm Trường Sa (Trung Quốc) và gốm Islam (Tây Á) đóng vai trò khai thông con
đường này, cũng từ đó con đường gốm sứ trên biển đã mở ra những triển vọng mới cho ngành chế tạo đồ sứ tại chính quốc và các nước trong khu vực{74:67}
Đồ Trung Quốc đã được xuất khẩu sang Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và Châu Phi… Thời nhà Đường, đồ sứ Trung Quốc đã được xuất khẩu như gốm sứ lò Việt Châu (Chiết Giang), gốm sứ men trắng lò Hình, gốm Tam Thái… Đến thời
Trang 35- 29 -
Tống, nghề gốm sứ phát triển rực rỡ, sản phẩm đa dạng, nhu cầu của thị trường quốc tế tăng, một điểm thuận lợi nữa cho ngành sản xuất gốm sứ là ngành đóng tàu đến thời Bắc Tống cũng rất phát triển – có thể đóng tàu lớn 10 cột 10 buồm, chứa
400 – 500 người, tải trọng lên tới 150.000kg, sử dụng la bàn để xác định phương hướng, trang thiết bị trên tàu đầy đủ Đồng thời, nhà Tống thiết lập “ty hàng hải” ở Quảng Châu, Tuyền Châu, Ninh Ba, Hàng Châu (ba địa danh đầu đều là cảng, Hàng Châu là điểm cuối của kênh đào nối Bắc Kinh – Hàng Châu, đồng thời là kinh đô của Nam Tống)…
Vô số cảng thị, nơi giữ vai trò là các vùng trung gian, các vùng tích lũy và các vùng tiêu dùng của đồ gốm sứ thương mại, ra đời và phát triển rồi lại biến mất trong khu vực xung quanh bờ biển, nam Trung Quốc vốn là con đường giữa Trung Quốc -
Ấn Độ - Tây Á Các loại gốm sứ phổ biến trong con đường gốm sứ trên biển chủ yếu là của Trung Quốc có niên đại từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 19 Ngoài ra, trong một số giai đoạn nhất định ngoài gốm Trung Quốc cũng có sự tham gia của gốm Islam, gốm Việt Nam, gốm Thái, gốm Champa, gốm Nhật Bản Cụ thể:
Các di chỉ nổi tiếng phát hiện được gốm sứ thương mại từ TK 9 đến TK 10
Các di chỉ tiêu biểu của giai đọa này là di chỉ Laem Po ở Chaiya tỉnh Sulatani
và đảo Kho Kao đối diện Takuapa ở phía đông và phía tây của Isthumus của Kra
Ba loại gốm Trung Quốc gốm men ngọc lò Việt, gốm trắng của lò Định hoặc lò Tây Thôn và gốm đa sắc to dưới men của lò Trường Sa, Long Tuyền, được gọi là gốm thương mại sớm ở Nhật Bản và gốm Hồi đặc trưng bởi gốm tráng men lam xám, xanh ngọc được tìm thấy ở những di chỉ này Gốm men xanh lam Islam cũng được tìm thấy ở các di chỉ sau: Pengkalan Bujan ỏ Kedah, Malaysia, Jurua ở Nakkon Si Thammarat ở nam Thái Lan, đảo Côn Đảo ở nam Việt Nam và Trà Kiệu ở miền trung Việt Nam (cạnh Đà Nẵng), di chỉ Laurel ỏ tỉnh Batangas và di chỉ Ba Langay
ở Butua, Philippiness, Dương Châu và Phúc Châu ở Trung Quốc, Korokan và Dazaifu ở Nhật Bản Những gốm Islam này được coi là đã được chế tạo ở Basra, Irac hoặc Siraf ở Iran Chúng được mang từ biển Ả Rập (vịnh Ba Tư), và biển Ấn
Độ Dương qua dải Malacca hoặc ngang qua bá đảo Malaysia từ đảo Khokao đến
Trang 36- 30 -
Laem Po ở Chaiya, sau đó được mang tới phía bắc ở biển nam Trung Quốc và tới Quảng Châu ở Trung Quốc, cuối cùng tới Dương Châu ở Trung Quốc và Korokan ở Nhật Bản Đồ gốm Islam được tìm thấy ở những vùng bờ biển Việt Nam và Philipin
có liên quan đến gốm thương mại sớm của Trung Quốc như là trường hợp những di chỉ ở Nhật Bản Mặc dù các di chỉ TK 9 có gốm Hồi ở Philippines và Nhật Bản hơi
xa tuyến đường buôn bán bằng đường biển chính giữa phương đông và phương tây: Siraf ở vịnh Ba Tư và Quảng Châu ở Trung Quốc, những đồ gốm Islam này được tìm thấy ở Philippines và Nhật Bản có thể chỉ ra rằng Philippines và Nhật Bản có thể cũng nằm trong mạng lưới buôn bán với các thương gia Ả Rập vào thời gian đó Thêm vào đó, một mảnh gốm 3 màu Hi Lạp, được những người khác gọi là gốm Faiyum đa sắc và được sản xuất tại bờ biển phía nam hồ Faiyum của thủ đô Cairo, cũng khai quật được ở di chỉ Laurel ở Philippines{2:684} Vào giai đoạn này, một
số khu vực ở Việt Nam và các đảo ở khu vực Đông Nam Á đã hình thành khu vực giao dịch đồ gốm thương mại của Trung Quốc {2:684}
Di chỉ ở thế kỷ 10 – 11 và các đồ gốm lò Tây Thôn ở Quảng Châu
Di chỉ tiêu biểu của giai đoạn này là Balangay, thành phố Butuan, Mindanao ở nam Philippines Nó ở đầu nguồn sông Agsan, nổi tiếng là vùng sản xuất vàng
“Các đồ gốm được khai quật chính là các bát trắng, các ấm rượu men ngọc cổ
hình con phượng hoàng với văn in hình dây lá và các đĩa trắng tô màu nâu sắt của Tây Thôn, Quảng Châu Các loại gốm tương tự cũng được khai quật ở các địa điểm sau: Pengkalan Buijang và Sungai Mas ở tỉnh Kedab và Nippa ở đảo Tioman, tỉnh Pahang ở Malaysia, Kupang ở Brunei, Gedong của tình Sarawak ở đông Malaysia, Jurua ở Nakhon Si Thammarat và Satingpura – Songkhla của Nam Thái Lan và Trà Kiệu ở miền Trung Việt Nam”{2:685}
Các di chỉ thế kỷ 12 – 13 và đồ gốm ở lò Tuyền Châu ở Phúc Kiến
Cuối thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 12, gốm sứ đã trở thành sản phẩm chủ đạo trong khối lượng hàng hóa thương mại xuất khẩu bằng đường biển của Trung Quốc{72:34} Sự tăng nhanh của sản xuất và xuất khẩu gốm sứ càng được thấy rõ khi vào năm 1175 nhà Tống ban ngành lận cấm xuất khẩu đồng và sau đó là năm
Trang 37tô nâu sắt tráng men vàng của lò Tuyền Châu khai quật được ở Mindolo, các di chỉ Brunei và ở Sanrawak Ở Nhật Bản, loại vò này được biệt được khai quật ở Kamakura và Dazaifu{2:685}
Các di chỉ từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 14 và đồ gốm men ngọc của các lò Long Tuyền
Di chỉ tiêu biểu thời kỳ này là Sta Ana ở thành phố Manila Và gần đây là phát
hiện tàu cổ Bình Châu (Quảng Ngãi, Việt Nam) “Đồ gốm tiêu biểu của con đường
gốm sứ trên biển là gốm men ngọc của kiểu lò Long Tuyền ở tỉnh Triết Giang, đã kế tịch đồ gốm tráng men màu của lò Quảng Châu ở tỉnh Phúc Kiến và đồ gốm trắng của lò Đức Hóa thời kỳ trước Thêm vào đó, đồ gốm men xanh trắng của lò Cảnh Đức Trấn ở tỉnh Quảng Tây cũng là một thành phần gốm thời kỳ này, mặc dù chúng chỉ có rất ít”{2:686}
Ngoài ra, theo những tư liệu mới khai quật được gần đây thì trên những chuyến tàu buôn gốm sứ thời kỳ này cũng đã xuất hiện một số hiện vật gốm men nâu Việt Nam và gốm Thái Lan
Di chỉ thế kỷ 15 và đồ gốm sản xuất ở Đông Nam Á
Di chỉ tiêu biểu thời kỳ này là tàu đắm Pandanan ở mũi phía nam của đảo Palawan, Philippines; tàu cổ Cù Lao Chàm ở Quảng Nam, Việt Nam; các tàu đắm ở vùng biển Kiên Giang (Việt Nam) như tàu Hòn Dầm, Hòn Thơm…
Đồ gốm phát hiện ở các di chỉ thời kỳ này bao gồm đồ gốm Trung Quốc, gốm Việt Nam và gốm Thái Lan Đồ gốm Trung Quốc bao gồm các đĩa men xanh trắng
Trang 38- 32 -
của lò Cảnh Đức Trấn, các đĩa men ngọc với diềm hình lá của lò Long Tuyền Đồ gốm Thái bao gồm những bát nông lòng với hoa văn hình cá tô màu nâu sắt của lò Sukhothai, các vò men nâu có 4 tai của các lò dọc sông Noi và các đĩa men ngọc với các hoa văn dây lá khắc chìm và diềm hình dây là của lò Suwankhalok Đồ gốm Việt Nam bao gồm gốm men xanh trắng của các lò Bắc Việt Nam, đồ gốm của khu
Gò Sành, miền Trung Việt Nam {2:687}
Trong các di chỉ phát hiện được ở thời kỳ này thường xuất hiện kèm với đồng tiền Hồng Vũ (1403 – 1424)
Các di chỉ và hiện vật gốm tiêu biểu thế kỷ 15 – 16
Di chỉ tiêu biểu thời kỳ này là Calatagan ở Philippines Đồ gốm tiêu biểu của giai đoạn này là gốm men xanh trắng của lò Cảnh Đức Trấn, gốm Thái Lan, gốm Việt Nam và gốm Champa
Các di chỉ và hiện vật gốm tiêu biểu thế kỷ 17
Thế kỷ 17, phát hiện được nhiều tàu đắm ở Đông Nam Á như: tàu đắm Wanli
ở Malaysia, tàu đắm Hatcher ở Indonesia, các tàu đắm trên biển Vũng Tàu ở Việt Nam Gốm chủ yếu giai đoạn này là gốm men trắng và men xanh trắng ở Cảnh Đức Trấn Ngoài ra, gốm Việt Nam, gốm Nhật Bản cũng được phát hiện ở một số địa điểm, học viên sẽ trình bày kỹ hơn trong chương sau
Từ thế kỷ 17, là sự tiếp tục của các dòng gốm Trung Quốc được phát hiện ở khắp nhiều nơi trên thế giới Sau thế kỷ 17, gốm Việt Nam, Thái Lan dường như vắng bóng trong con đường gốm sứ trên biển
Các di chỉ và hiện vật gốm tiêu biểu thế kỷ 18 - 19
Di chỉ tiêu biểu như tàu cổ Cà Mau phát hiện ở vùng biển Việt Nam, tàu cổ Nanking (Geldermaisen) ở Indonesia, tàu cổ Diana ở Malaysia, tàu đắm Tek Sing ở Indonesia và tàu cổ Desaru ở Malaysia
Hiện vật tiêu biểu được tìm thấy là gốm men xanh trắng và gốm nhiều màu có nguồn gốc từ các lò ở Cảnh Đức Trấn Gốm men xanh trắng Đức Hóa, một ít gốm men nâu Phúc Kiến và cốc uống trà sứ màu trắng lam
Trang 39thời gian nhất định, thuận lợi cho việc đi và về của các đoàn thuyền buôn “Người ta
gọi đó là “mùa mậu dịch””{18:21} Tàu thuyền cho đến đầu thế kỷ 19, đã được
đóng rất vững chắc nhưng vẫn chịu sự chi phối của thiên nhiên “Giôn Oét viết: buôn bán đường biển với Cô – Sanh – sin (miền nam Việt Nam ngày nay) là phải chịu điều kiện của gió mùa (trade wind)” {53:186}
Vě vậy, khi mô tả về điều kiện địa lý ở vůng biển Đông Nam Á, học giả
Anthony Reid đã gọi miền này là “các vůng đất nằm bęn dýới các luồng gió thổi”
{57:1-10} bởi vě các gió theo můa đă mang các thuyền chở hŕng đến đó xuyęn qua
Ấn Độ Dýőng Anthony Reid còn mô tả cụ thể như sau: “Gió thě điều hňa vŕ có thể
tięn đoán đýợc, với gió můa thổi từ phía tây hay phía nam trong khoảng từ tháng Năm đến tháng Tám, vŕ từ tây bắc hay đông bắc trong khoảng từ tháng Mýời Hai đến tháng Ba Ngoại trừ trong vňng đai băo tố tại phần ngoại vi phía đông của miền nŕy, các cőn giông không phải lŕ một bất trắc lớn lao cho các thủy thủ, các kẻ tręn toŕn vůng sẽ phải lo sợ về các luồng chảy xiết tại một số eo biển nŕo đó Nhiệt
độ nýớc không thay đổi, với kết quả lŕ các chiếc tŕu không thể sống sót qua một cuộc hŕnh trěnh sang Âu Châu hay Nhật Bản vẫn có thể hoạt động một cách hiệu quả trong nhiều năm tại các hải phận Đông Nam Á” {57:1-10} Từ đó, ông đi đến
kết luận:“Tất cả các yếu tố nŕy đă biến vůng biển Đông Nam Á thŕnh một địa điểm
gặp gỡ, đại thủy lộ hiếu khách vŕ hấp dẫn hőn vůng Địa Trung Hải của phýőng Tây – női sâu hőn vŕ nhiều giông băo hőn” {57:1-10}
Năm 1678, thuyền Hà Lan không chịu theo quy luật gió mùa nên khi có gió Đông Bắc (mùa rét) đã nhổ neo đi từ Đàng Ngoài sang Nhật, gặp bão và đã bị đắm
Do đó lệnh của công ty Batavia là từ đấy hàng buôn cất đi Nhật Bản nhất thiết phải
Trang 40- 34 -
chở đi Batavia đã rồi mới được đi Nhật Bản{53:186} Những tàu Hà Lan đi từ Batavia đến Đàng Ngoài hay Đàng Trong cũng phải đợi khi có gió mùa hạ (tây
nam) thì mới nhổ neo đi (Bản đồ 10)
Các lái buôn ở Bồ Đào Nha sau khi chiếm được Ma Cao (Trung Quốc) thì hàng năm cho một hai chuyến tàu rời Macao vào tháng chạp hay tháng giêng đi
xuống miền nam vào Đàng Trong Đó là mùa gió Đông Bắc{53:186}(bản đồ 11)
Các tàu của Ấn Độ đi sang hướng đông, được đẩy bởi Gió Mùa tây nam giữa tháng Tư và Tháng Tám, và quay trở về bởi Gió Mùa đông bắc từ tháng Mười Hai Trong các thời kỳ gió lốc hay Gió Mùa thay đổi, các thương nhân trú ngụ lại ở các cảng Đông Nam Á, trong khi chờ đợi các bạn hàng buôn của họ từ các nơi khác trên thế giới đến Trong thời gian lưu trú của mình, các đoàn viên thủy thủ và các hành khách cư ngụ trong thành phố và hòa lẫn vào dân chúng địa phương{58:65} Các thương thuyền của các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Siam… đến Thăng Long, Phố Hiến và các thương cảng khác thì phải đi theo mùa gió Đông Bắc, bắt đầu thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tốc đổ gió ở khu vực Biển Đông thường khoảng từ 15 – 20m/s nên rất thuận lợi việc lưu hành các đoàn thuyền Thời gian này, ở Việt Nam cho đến trước dịp tết Âm lịch vẫn là thời kỳ khô ráo, tương đối thuận lợi cho việc thu mua, vận chuyển, bốc dỡ hàng Đến tháng 6, tháng 7 mùa gió Đông Nam lại thổi lên hướng Bắc Theo hướng gió, các thuyền buôn Trung Hoa, Nhật Bản … lại dong thuyền về nước Theo ghi chép của các thương lại phương Tây thì thương nhân Nhật Bản luôn phải chời khi gió nồm Nam thuận mới nhổ neo về Nhật Thuyền Nhật phải rời các cảng Đàng Ngoài chậm nhất
là ngày 20 tháng 7 Âm lịch{53:165}
Trên cơ sở kinh nghiệm hàng hải đồng thời để có những thông tin xác thực trong việc giao thương, các thương nhân nước ngoài khi đến Việt Nam đều có những ghi chép cụ thể về phong tục, tập quán, giá cả, chất lượng từng chủng loại hàng hóa Mặt khác, họ cũng rất chú ý đến điều kiện tự nhiên đặc biệt là vị trí địa lý, các tuyến buôn bán cũng như khoảng cách địa lý giữa các thương cảnh Ví dụ như các thương nhân Nhật Bản đã tính được, tuyến đường từ thương cảng quốc tế lớn