1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng nền kinh tế tri thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam

143 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng nền kinh tế tri thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Tác giả Dương Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Lương Minh Cừ
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tìm hiểu và làm rõ những tiền đề để hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam; làm rõ những đặc trưng, sự phát triển và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, tác động c

Trang 1

-

DƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ

QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Lương Minh Cừ

TP HOÀ CHÍ MINH - 2012

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử nền kinh tế thế giới, từ thập niên 80 của thế kỷ XX cho đến nay, do sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng v.v nền kinh tế thế giới đã và đang

có sự biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Có thể khẳng định rằng, đây là sự phát triển đột biến, tạo

ra một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế thế giới sẽ chuyển biến từ một nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế tri thức; nền văn minh của loài người sẽ chuyển từ văn minh công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ

Thật ra, kinh tế tri thức đã bắt đầu xuất hiện từ gần ba thập kỷ qua; và

vì vậy, trong các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, kinh tế tri thức, đã diễn ra với nhiều chuyển biến mới rất đáng chú ý với những đặc trưng riêng biệt, vốn có của nó Các hoạt động kinh doanh, thương mại, cách tổ chức sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, vị trí của con người trong sản xuất v.v… đều có sự thay đổi to lớn, so với nền kinh tế công nghiệp truyền thống Tri thức và công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, quan trọng hơn so với vốn, tài nguyên và lao động Nền kinh tế tri thức trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với tất cả các nước, các quốc gia trên thế giới; đồng thời hội nhập sẽ là sự lựa chọn duy nhất, bởi vì hội nhập chính là quá trình hợp tác

và đấu tranh để phát triển

Trong giai đoạn hiện nay, cũng như trong một tương lai xa hơn, việc hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam, có nghĩa là Việt Nam phải tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực như AFTA, APEC, WTO phát

Trang 4

triển các quan hệ thương mại và đầu tư rộng rãi với mọi quốc gia, đặc biệt là các trung tâm kinh tế thế giới để từng bước phát triển lợi ích quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế là thách thức đối với tất cả các nền kinh tế trên thế giới,

kể cả các nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam Thách thức này đối với Việt Nam lại càng khắc nghiệt hơn, bởi lẽ chúng ta là một nước đang phát triển, và đồng thời còn là nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế Nhưng, trong khi đó hội nhập kinh tế quốc tế lại mở ra thị trường rộng lớn để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; tạo điều kiện cho nước ta tiếp nhận các nguồn vốn, công nghệ sản xuất và quản lý từ các nước, các quốc gia

có nền kinh tế và khoa học tiên tiến, phát triển Đây là những nguồn lực to lớn khả dĩ góp phần đưa nền kinh tế nước ta đi lên với sự phát triển, tăng trưởng tương đối mạnh mẽ như trong những thập kỷ đổi mới vừa qua

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phải là một nền công nghiệp hóa dựa vào tri thức, vận dụng những thành tựu tri thức tiên tiến nhất của nhân loại để hiện đại hóa nền sản xuất, chứ không phải theo mô hình cổ điển mà các nước công nghiệp phát triển đã thực hiện trong lịch sử Dưới sự tác động, ảnh hưởng rất mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và của xu thế toàn cầu hóa, thì vấn đề chuyển sang kinh tế tri thức, đã và đang là một thực tế khách quan và ngày càng được khẳng định một cách rất rõ ràng ở các nước phát triển, cũng như các nước mới công nghiệp hóa

Trong xu thế toàn cầu hóa, quá trình phát triển kinh tế tri thức biểu hiện, phản ánh những sự thay đổi sâu rộng về kinh tế kể từ bản thân các yếu

tố sản xuất, đến phương thức sản xuất và các sản phẩm làm ra Mặt khác, kinh tế tri thức sẽ tác động hết sức to lớn tới cấu trúc kinh tế, phương thức hoạt động và tổ chức quản lý về kinh tế và xã hội trong mỗi quốc gia, cũng như làm thay đổi diện mạo, cấu trúc và bản chất các mối quan hệ quốc tế,

Trang 5

đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế

Những sự thay đổi rất đa dạng với tốc độ nhanh của thời đại mới, đã đặt ra nhiều cơ hội và thách thức cho mỗi quốc gia nói chung, trong đó có Việt Nam nói riêng Vì vậy, việc tìm hiểu và làm rõ những tiền đề để hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam; làm rõ những đặc trưng, sự phát triển và

xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với kinh tế tri thức, trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp để xây dựng nền kinh tế tri thức đất nước trong giai đoạn phát triển tới có ý nghĩa khoa học đặc biệt quan trọng, là một nhu cầu nhận thức thiết yếu, khách quan

Xuất phát từ cách đặt vấn đề và tiếp cận như trên, tác giả chọn đề tài :

“Xây dựng nền kinh tế tri thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt cao học triết học của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, lĩnh vực kinh tế tri thức đang còn là vấn đề khá mới

mẻ, xét cả trên phương diện nghiên cứu lý luận lẫn thực tiễn Mặc dù vậy, vấn đề kinh tế tri thức đã được rất nhiều nhà khoa học có tên tuổi, có uy tín tiếp cận và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

Hội thảo khoa học “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” do Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học; Công nghệ và môi

trường; Bộ ngoại giao phối hợp tổ chức ở Hà Nội vào 6/2000, đã tập trung phân tích và nhấn mạnh về sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, sự bùng nổ các công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…đang tạo ra những biến đổi về chất chưa từng có trong lực lượng sản xuất, đưa nhân loại từng bước quá độ sang một nền văn minh mới “ văn minh trí tuệ”, mà nội dung chủ yếu của nó là nền kinh tế tri thức Sau cuộc hội thảo này cũng đã có nhiều nhà khoa học, nhà

Trang 6

nghiên cứu, nhà kinh tế bắt đầu quan tâm đến nền kinh tế tri thức Tuy nhiên vào thời điểm cách đây 30 năm, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức còn quá hiếm hoi, các bài viết trên báo và tạp chí mới chỉ đề cập đến từng khía cạnh theo cách hiểu và phương hướng tiếp cận của mỗi nhà khoa học Nhưng cho đến nay, sau một thập kỷ nghiên cứu về kinh

tế tri thức ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao

Các công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức đã được in thành sách chẳng hạn như:

Tác giả Đặng Mộng Lân với công trình: “Kinh tế tri thức - Những khái niệm và vấn đề cơ bản”, Nxb Thanh niên, 2001 Có thể nói đây là

công trình nghiên cứu của một tác giả trong nước về kinh tế tri thức Đặng Mộng Lân là một chuyên gia trong lĩnh vực thông tin và dự báo khoa học và công nghệ Tác giả tập trung vào phân tích khái niệm thông tin và kiến thức,

và nhấn mạnh vai trò của “kiến thức ngầm” trong sự phát triển kinh tế tri thức Từ đó tác giả phân tích sự xuất hiện kinh tế tri thức trong các nước công nghiệp phát triển nói riêng và trong nền kinh tế thế giới nói chung, trong những thập kỷ gần đây

GS, Viện sĩ Đặng Hữu với công trình nghiên cứu về “Kinh tế tri thức thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam”, Nxb Chính

trị quốc gia, 2004, giáo sư đã đưa ra khá nhiều thông tin, những tư liệu giới thiệu về khái niệm nền kinh tế tri thức, đặc trưng, lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế tri thức; kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức của một số nước Đặc biệt trên cơ sở trình bày thực trạng của kinh tế Việt Nam, giáo

sư đã đưa ra những gợi ý về định hướng và các giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Trang 7

Công trình “ Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức” do

GS.TSKH Vũ Đình Cự và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, đã khái quát một cách tương đối hệ thống sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện nay cũng như ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của nền kinh tế tri thức Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại giữa thế kỷ XX đã làm xuất hiện các công nghệ hoàn toàn mới (được gọi là công nghệ cao) chính là nòng cốt của lực lượng sản xuất mới, đặc trưng cho nền kinh tế tri thức

Tập thể tác giả: GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Đào Duy

Huân, TS Lương Minh Cừ với công trình “Hướng đến nền kinh tế tri thức

ở Việt Nam” đã tập trung mô tả về nền kinh tế tri thức một cách khá hệ

thống, từ quá trình hình thành, phát triển, thực trạng xã hội Việt Nam trên con đường tiến đến nền kinh tế tri thức và các giải pháp chủ yếu đảm bảo xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề liên quan tới việc phát triển kinh tế tri thức, như: TS.Nguyễn

Thị Luyến với “Nhà nước với phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa”, tạp chí Khoa học xã hội, 2005; hay PGS.TS Trần Cao Sơn, (2004), đã viết về “ Môi trường xã hội nền kinh tế tri thức - Những nguyên

lý cơ bản” , Nxb, Khoa học xã hội , Hà Nội; Ngô Quý Tùng, (2001), Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỉ XX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; Trần Văn Tùng, (2001), Nền kinh tế tri thức yêu cầu và đổi mới giáo dục Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội; Nguyễn Kế Tuấn, (2004), Phát triển kinh

tế tri thức đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Ngoài những công trình đã nêu trên, luận văn cũng đã tham khảo và

kế thừa có chọn lọc một số bài viết được đăng trên các báo, các tạp chí khoa

Trang 8

học đề cập đến vấn đề kinh tế tri thức như:

Nguyễn Cảnh Hồ, Bàn về thực chất của kinh tế tri thức, Tạp chí

đề tài: “Xây dựng nền kinh tế tri thức trong quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế ở Việt Nam”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Luận văn có mục đích, nghiên cứu làm rõ sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế đối với vấn đề xây dựng kinh tế tri thức ở Việt Nam, trên

cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cơ bản để xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

Trang 9

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện những mục đich nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu, cụ thể sau đây:

Thứ nhất, trình bày và phân tích một cách tổng quát lý luận chung về

kinh tế tri thức và cơ sở lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, trình bày và phân tích sự ảnh hưởng và tác động của sự

hội nhập quốc tế đối với vấn đề xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

bản để phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày, tác giả luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam để triển khai nghiên cứu Đồng thời, tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp qui nạp - diễn dịch; phương pháp kinh

tế học; phương pháp liên ngành v.v… để thực hiện luận văn

5 Cái mới của luận văn

- Luận văn đã góp phần trình bày một cách có hệ thống về khái niệm, đặc trưng của kinh tế tri thức, đồng thời, đã phân tích làm rõ sự tác động của kinh tế tri thức đối với nền kinh tế Việt Nam, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Luận văn đã nêu và phân tích làm rõ một số quan điểm, định hướng

và đặc biệt là các nhóm giải pháp chủ yếu, phù hợp và có tính khả thi để xây dựng nền kinh tế tri thức Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Trang 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn đã làm rõ được những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức, về bối cảnh và thực tràng nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, về những điều kiện và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu các vấn đề về kinh tế tri thức ở Việt Nam; tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến kinh tế tri thức, và kinh tế học nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn được kết cấu thành hai chương, 6 tiết Chương 1: Khái luận chung về kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Thực trạng và những giải pháp chủ yếu xây dựng kinh tế tri thức ở Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 11

Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tri thức và đặc điểm cơ bản của tri thức khoa học

1.1.1 Khái niệm tri thức

Trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại, vấn đề tri thức đã được bàn đến từ rất sớm Tri thức, đặc biệt là tri thức khoa học chính là phương tiện để con người nhận thức thế giới Ngay từ đầu khi mới tách ra khỏi loài vật, con người đã phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên hung hãn và bí ẩn Để tồn tại và phát triển với tư cách là một loài độc lập, con người tự tìm hiểu thế giới xung quanh, dần dần phát hiện ra những đặc điểm, những mối liên hệ, những thuộc tính của thế giới, từ đó đúc kết, khái quát các hiểu biết riêng lẻ lại thành hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật về thế giới nói chung Những tri thức đó trải qua kiểm nghiệm, từng bước giúp con người thích nghi với thế giới Hơn thế nữa chúng còn giúp con người cải tạo thế giới theo các nhu cầu lợi ích của mình Do vậy, tri thức gắn liền một cách tất yếu đối với con người, là nét ưu việt riêng có ở con người và là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt con người với tất cả các loài động vật khác

Xã hội loài người phát triển được là do con người biết dựa vào tri thức, và con người có khả năng hoạt động sáng tạo Thật vậy, sự chuyển đổi

từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh mới, mà chúng ta quen gọi

là nền văn minh trí tuệ, đã có những sự đổi mới quan niệm về tri thức và ý nghĩa mới của nó trong thời đại ngày nay, đặc biệt được đề cao

Vậy tri thức là gì? Tại sao tri thức lại có vai trò to lớn trong đời sống

xã hội loài người như vậy?

Xét về mặt lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng ngay từ thời kỳ cổ đại

Trang 12

trong các tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây, đều đặc biệt quan tâm đến vai trò của tri thức Chẳng hạn, theo Platon thì chức năng của tri thức do chính bản thân nó vì nhu cầu nào đó của sự phát triển đạo đức và tinh thần cá nhân mà xuất hiện v.v… Cũng vậy, triết học Nho giáo thì tri thức là hiểu được cái gì cần nói, và làm thế nào để nói đúng, nói ra ý nghĩ của mình; rằng tri thức là con đường dẫn đến mọi thành công trong hoạt động nói chung của con người… Đối với triết học Phật giáo và tư tưởng Lão giáo cũng cho rằng tri thức cũng vì nó, nhưng có lẽ đó lại là con đường

đi đến sự thông thái, khôn ngoan… Như vậy, trên cơ sở đó có thể nói, trong thời kỳ cổ đại, không phải ngẫu nhiên mà bản thân thuật ngữ triết học được gọi là “Philosophia”, “sự thông thái”, “trí tuệ” hoặc “Trí”, cũng chính vì vậy các nhà tư tưởng trong thời kỳ cổ đại thường được gọi một cách thật kính trọng, đó là các nhà hiền triết, minh triết, các nhà thông thái

Nếu đi sâu nghiên cứu bản chất các học thuyết cổ đại về tri thức, chúng ta có thể khẳng định rằng, theo cách hiểu truyền thống, thì tri thức là những sự hiểu biết nói chung của con người về thế giới, nhưng nội dung của

nó còn khá trừu tượng thuần túy, hoặc là cụ thể một cách giản đơn Trong thời kỳ phong kiến với đêm trường trung cổ, sự nhận thức thế giới bị coi là tội lỗi, khoa học được coi là kẻ thù của chúa trời và bị kìm hãm; hoặc ít ra

nó tồn tại cũng nhằm phục vụ cho tư tưởng thiên chúa, cho chế độ thần quyền tôn giáo

Trong các thời đại về sau, quan niệm về tri thức và ý nghĩa của nó ngày càng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu bởi các phương pháp và các mục đích rất khác nhau Nhưng nguyên lý xuất phát được coi là nền tảng để xác định vai trò và ý nghĩa của tri thức, vẫn dựa trên cơ sở cuộc cách mạng công nghiệp như một quan niệm chính thống trong lịch sử phát triển của xã hội để khẳng định nền văn minh công nghiệp

Trang 13

Theo quan điểm Mác - Lênin, thì “Tri thức là sản phẩm của hoạt động lao động xã hội và tư duy con người, làm tái hiện trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ, những mối liên hệ khách quan, hợp quy luật của thế giới khách quan đang được cải biến trong thực tế” [54, tr.596-597] Như

vậy, tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người một cách sáng tạo, tri thức xuất hiện với tính cách là sản phẩm lao động và tư duy của con người Một số nhà khoa học trước đây của Liên Xô đưa ra khái niệm chung

về tri thức, “tri thức là sản phẩm của hoạt động xã hội và tư duy con người làm tái hiện trong tư tưởng, dưới hình thức ngôn ngữ, những mối liên hệ khách quan, hợp qui luật của thế giới khách quan đang được cải biến trên thực tế” [54, tr.186]

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), tri thức được con người sáng tạo ra từ trước đến nay trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về quản lý là các bộ phận quan trọng nhất

Theo GS.TSKH Vũ Đình Cự: “ Tri thức, theo nghĩa thông thường, là

sự hiểu biết có hệ thống của con người về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc

xã hội” [4, tr.169]

Trong từ điển Tiếng Việt do Văn Tân biên soạn có định nghĩa: “ Tri thức là những điều hiểu biết thu được do hoạt động có hệ thống, liên tục trong một thời gian dài của trí tuệ” [44, tr.797]

Như vậy có thể hiểu, tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hình thức ký hiệu khác

Tri thức là kết quả của quá trình con người phản ánh nhận biết thế giới khách quan nhằm cải tạo các điều kiện phục vụ tiến trình phát triển của

Trang 14

nhân loại Tính đúng đắn của tri thức được kiểm nghiệm bằng thực tiễn Mọi hiện tượng ý thức đều có nội dung tri thức nhất định, nếu không có tri thức con người không có hoặc ít có khả năng hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới

Trong các yếu tố cấu thành ý thức của con người như tri thức, tư tưởng,tình cảm, ý chí, niềm tin… thì tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi nhất giữ vai trò là phương tiện tồn tại, là bản chất của ý thức Quá trình hình thành và phát triển của ý thức là quá trình con người tìm kiếm, tích lũy, hiểu biết, tri thức về thế giới khách quan Con người càng hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới sâu sắc bao nhiêu, thì con người lại càng có khả năng cải tạo hiện thực, chinh phục thế giới bấy nhiêu Điều đó có nghĩa là, muốn cải tạo hiện thực có hiệu quả, trước hết con người cần phải có sự hiểu biết về đối tượng đó, tức là phải có tri thức về đối tượng mà con người tác động, biến đổi

Tri thức xét đến cùng là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, là hoạt động khách quan của quá trình nhận thức lý tính của con người đối với thế giới khách quan Thông qua hoạt động thực tiễn cơ bản lao động sản xuất

mà con người dần tích lũy được tri thức Chính tri thức đã giúp cho hoạt động của con người càng ngày càng có hiệu quả trong việc cải tạo thế giới, cải tạo chính bản thân con người một cách toàn diện Ngoài ra, các hoạt động thực tiễn trong đấu tranh chính trị - xã hội nhằm làm biến đổi các quan

hệ xã hội, chế độ xã hội, làm lịch sử phát triển đi lên Hoạt động thực nghiệm - khoa học cũng ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển văn hóa, văn minh vật chất cho loài người nhất là trong giai đoạn hiện nay khi loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức - một nềm kinh tế đặc biệt trong lịch sử nhân loại

Trang 15

Tri thức, là một khái niệm rộng, bao gồm tri thức về tự nhiên, xã hội, bản thân con người như những đối tượng vận động và phát triển trên

cơ sở các qui luật khách quan vốn có của hiện thực Trong đó, tri thức được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như tri thức cảm tính - tri thức

lý tính; tri thức kinh nghiệm - tri thức lý luận; tri thức tiền khoa học - tri thức khoa học

Với tính chất đúng đắn của tri thức khi phản ánh hiện thực khách quan, dựa vào lý trí và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, khoa học luôn luôn chiếm giữ vị trí cơ bản trong sự nhận thức hiện thực, là cơ sở trí tuệ cho các hình thái ý thức xã hội khác nhau trong quá trình phản ánh hiện thực Xét về hình thức và về nội dung của tri thức khoa học, thì khoa học cần phải có tính hệ thống và tính có căn cứ, nhất là khả năng vận dụng nó trong thực tiễn xã hội Đây là đặc trưng quan trọng để chúng ta có thể phân biệt khoa học với những sản phẩm của hoạt động nhận thức thông thường khác, trong hoạt động ý thức người

Căn cứ vào sự khác nhau giữa các hình thức vận động của vật chất, với tính cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học, người ta phân loại các khoa học dưới nhiều hình thức Về cơ bản, khoa học ngày càng được phát triển thì quá trình chuyên môn hóa càng sâu, phân ngành khoa học càng nhiều, xuất hiện thêm nhiều ngành khoa học mới Đồng thời, sự thâm nhập lẫn nhau giữa các ngành khoa học đã tạo ra nhiều khoa học trung gian mang tính giao tiếp giữa các ngành khoa học, tạo nên tính chất tổng hợp liên ngành của khoa học Chính vì vậy, trong hệ thống các khoa học có khoa học

tự nhiên, khoa học xã hội; khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng v.v… Căn cứ vào vai trò của tri thức đối với phát triển, thì nền tảng trực tiếp tạo ra các giai đoạn phát triển của tri thức và có ý nghĩa đích thực, phải

kể đến cách mạng công nghiệp, cách mạng năng suất và cách mạng về quản

Trang 16

lý Sở dĩ như vậy, là bởi vì thông qua các cuộc cách mạng này đã làm thay đổi căn bản ý ngĩa của tri thức và cũng càng thấy rõ hơn tính qui luật về vai trò của tri thức, đối với các lý thuyết phát triển

Để thực hiện có kết quả của tính mục đích trong mọi hoạt động con người và khả năng thỏa mãn ngày càng cao hơn những nhu cầu, thì tri thức cần phải đạt đến trình độ chuyên môn sâu Và như vậy, chúng ta phê phán

có lý khi mà trước đây người ta thường hiểu tri thức chuyên môn sâu cũng đồng thời với kỹ năng, kỹ xảo của chính lao động xét về khía cạnh của tri thức cảm tính; tri thức kinh nghiệm; và là tri thức tiền khoa học theo nghĩa nhất định nào đó Mặc dù, theo các quan điểm trước đây, thì kỹ năng, kỹ xảo là những tri thức chuyên môn sâu và nó thật sự khó khăn trong quá trình dạy và học, chứ chưa nói đến sự hoàn thiện và phát triển của nó trong cuộc sống Quả thực có vấn đề đó, nhưng điều quan trọng là hiểu tri thức chuyên môn sâu không tự giới hạn trong kỹ năng và kỹ xảo, mà chính là quá trình chuyển đổi ý nghĩa của tri thức, nhất là tri thức khoa học theo khuynh hướng là chuyển từ số ít sang số nhiều, từ đặc quyền của một số cá nhân sang quyền lợi cơ bản của mọi tầng lớp trong cộng đồng xã hội, từ chỗ được ứng dụng trong một phạm vi, nhỏ hẹp sang việc ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh trên qui mô toàn cầu bởi tính phổ biến của nó [56, tr.10]

Có thể thấy rằng, đây chính là một thay đổi đã vượt lên quan niệm truyền thống cổ xưa về tri thức và càng đi xa hơn với quan niệm đơn giản

về tri thức chuyên môn sâu là kỹ năng, kỹ xảo của lao động Chính sự thay đổi đó, đã lý giải một cách khoa học cho việc chúng ta hiểu tri thức chuyên môn sâu, là tri thức có khả năng phổ biến và lan tỏa có ý nghĩa toàn nhân loại, mọi quốc gia và đến từng con người Do vậy, bí quyết của sự thành công và hiệu quả trong mọi công việc đã có một bước chuyển từ tri thức

Trang 17

kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống tri thức, lý luận và nó được vật chất hóa, mô hình hóa dưới nhiều hình thức khác nhau

Nghiên cứu lịch sử phát triển của khoa học để thấy được quá trình hình thành và phát triển của tri thức, ngoài cách phân chia theo truyền thống còn có nhiều cách phân chia khác Nhưng trước hết, chúng ta xét theo quan niệm truyền thống, chia làm 3 giai đoạn để làm rõ quá trình phát triển này của tri thức nói chung:

Ở giai đoạn đầu (bắt đầu từ thời kỳ cổ đại đến thế kỷ XV) sự phát triển của khoa học, do tính chất sơ khai và bó hẹp trong vài lĩnh vực của tri thức khoa học cho nên ảnh hưởng của nó đối với sản xuất còn rất hạn chế Trong thời kỳ phong kiến, sự nhận thức thế giới bị coi là điều tội lỗi, khoa học bị kìm hãm, do đó, vai trò của khoa học còn sơ khai và chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực như: thiên văn, toán học, cơ học, hải dương học v.v… Giai đoạn thứ hai (từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XIX) khoa học đã phát triển, trở thành một tiền đề công nghiệp hóa, trở thành nội dung tinh thần của lực lượng sản xuất Khoa học là cơ sở lý luận để chế tạo ra những công cụ, máy móc ngày càng hoàn thiện, làm tăng hiệu quả sản xuất vật chất Mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất ngày càng gắn kết chặt chẽ, thì khoa học càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng tác động đến sản xuất đã làm cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển với tốc độ ngày càng nhanh

Giai đoạn thứ ba, khoa học và kỹ thuật kết hợp với nhau thành một thể thống nhất, đi sâu nghiên cứu và phát hiện ra những đặc tính mới, những quy luật mới của sự sống, tạo ra và sử dụng nguồn năng lượng mới, vật liệu mới v.v… đã đẩy nhanh năng suất và hiệu quả của sản xuất vật chất, không chỉ có khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội cũng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Như chúng tôi đã phân tích ở trên, sự phân chia các thời kỳ khác

Trang 18

nhau trong lịch sử phát triển khoa học, ngoài quan niệm truyền thống để thấy được quá trình hình thành, phát triển của tri thức và ý nghĩa của nó đối với lịch sử xã hội thì cũng có sự phân chia khác để mà chúng ta coi đó là nền tảng tạo ra những bước ngoặt trong cách mạng của tri thức Đó là các nền tảng tạo ra ba giai đoạn phát triển của tri thức là cách mạng công nghiệp, cách mạng năng suất và cách mạng về quản lý

Cách mạng công nghiệp từ thế kỷ thứ XVII và đặc biệt trong những năm đầu ở thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, đã có chuyển biến nhanh chóng và mạnh mẽ từ kỹ năng sang công nghệ Điều này dẫn đến thay đổi vai trò của tri thức và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản Cách mạng về năng suất thực ra chỉ là một yếu tố trong cách mạng công nghiệp, nhưng được dùng rất phổ biến để nói đến một sự chuyển biến tích cực của năng suất lao động xã hội khi tri thức được áp dụng có hiệu quả trong quá trình sáng tạo, hoàn thiện các công cụ, phương tiện lao động và

kể cả trong các phương pháp sản xuất, tổ chức và phân công lao động xã hội

đã làm gia tăng mạnh mẽ năng suất lao động Vấn đề quan trọng nhất của cách mạng năng suất trên cơ sở tri thức mới của khoa học, là phải tìm mọi cách để giảm thiểu lao động chân tay và giúp con người càng gián tiếp hơn, trong việc sử dụng công cụ, phương tiện lao động tác động vào đối tượng lao động dưới các hình thức khác nhau Trong đó một yêu cầu mang tính bản chất của cách mạng năng suất là phải vận dụng tri thức vào quá trình ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả ngày càng cao của tri thức khoa học Cách mạng quản lý, trên thực tế không chỉ là cách gọi chung của các

mô hình tổ chức quản lý xã hội Nhưng vấn đề đặt ở ra ở đây, đó là mô hình quản lý sản xuất vật chất của xã hội, hay ít nhất, thì cũng là mô hình quản lý kinh tế Định nghĩa về quản lý được thay đổi từ quan niệm đơn giản

là qui trách nhiệm trong tổ chức điều hành về quản lý, dưới các hình thức

Trang 19

khác nhau, mà chủ yếu là trách nhiệm dân sự giữa các cấp, được chuyển thành quan niệm chịu trách nhiệm về vận dụng tri thức thế nào cho tốt hơn, vốn tri thức vào trong quản lý và trên cơ sở phải có quá trình vận động của bản thân tri thức ở trong hệ thống tri thức quản lý

Như vậy, tri thức là một nguồn lực cụ thể, chứ không phải là một nguồn lực trừu tượng thuần túy xét về mặt nhận thức, cho dù quá trình hình thành và phát triển của nó đều được biểu đạt trong giai đoạn khác nhau của

sự phát triển khoa học Khi nói đến tri thức cũng không phải chỉ là sự hiểu biết nói chung của con người về hiện thực khách quan, mà là hệ thống tri thức của khoa học, nhất là từ cách mạng khoa học công nghiệp cho đến cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Tùy theo nhu cầu và năng lực nhận biết của chủ thể nhận thức mà cũng có những cách phân loại tri thức khác nhau Theo B.Lundvall, B.Johnson, D.Foray, thì tri thức gồm có 4 loại: tri thức về sự vật trả lời câu hỏi “biết cái gì”; tri thức về nguyên nhân trả lời câu hỏi “biết tại sao”; tri thức về cách làm trả lời câu hỏi “biết làm thế nào”; tri thức về người biết trả lời câu hỏi “biết gì”

Tri thức khác với thông tin, nhưng giữa tri thức và thông tin nhiều khi không có ranh giới rõ ràng Thông tin sau khi được thu thập, xử lý (phân tích, phê phán, hệ thống hóa) để nhận thức được sẽ trở thành tri thức Tri thức có thể tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, không chuyển ra khỏi phạm vi một cá nhân hay một tổ chức, do không dễ dàng truyền đạt được Ngược lại, tri thức được trình bày một cách hệ thống có thể dễ dàng truyền đạt được đến lúc này, đến lượt mình, nó lại trở thành thông tin Có thể nói, thông tin là cơ

sở của tri thức, với ý nghĩa nó là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất tri thức, nhưng cũng có thể nói nội dung của tri thức được truyền đạt là thông tin Tri thức là khái quát của quá trình xử lý thông tin, là kết quả của

Trang 20

xử lý dữ liệu Tri thức có thể thu nhận được bằng nghiên cứu khoa học thực tiễn, hoặc bằng suy luận từ các thông tin, tri thức khác hoặc tiếp thu được từ các kho tàng tri thức dân gian, từ các kênh truyền thông sách báo hay tạp chí v.v

Những quan điểm lý thuyết khoa học mới không thể có được nếu chỉ

là sự tập hợp thông tin thuần túy, cho dù không có thông tin thì không có chất liệu để sản sinh ra tri thức mới Sở dĩ, có những tri thức mới là nhờ vào năng lực nhận biết, khả năng, trình độ tập hợp, xử lý thông tin trong đầu óc con người một cách sáng tạo Thực tiễn đã cho thấy vai trò rất quan trọng của tri thức về khoa học và công nghệ; về lãnh đạo, quản lý trong kinh tế tri thức Nhưng không vì thế mà không coi trọng tri thức trong các lĩnh vực văn hóa xã hội khác

Có ba nguồn để tiếp nhận tri thức Một là, tiếp thu tri thức của quá khứ truyền lại từ sách vở, từ các nguồn truyền bá tri thức khác…Hai là, tiếp nhận từ các thực nghiệm - khoa học có được các dữ liệu, thông tin rồi dùng

tư duy nhận thức xử lý chúng để đạt được các tri thức mới Ba là, suy luận

lý thuyết từ các tri thức đã có để đạt được các tri thức sáng tạo, tri thức mới Trong thời kì kinh tế công nghiệp, tức là làn sóng thứ hai theo nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ Alvin Tofler, sự phát triển kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản chỉ quyết định bởi hai nhân tố là vốn hay tư bản và lao động, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và luôn luôn là kinh tế khan hiếm

Từ nửa cuối thế kỷ XX, loài người đã bắt đầu từ bỏ làn sóng thứ hai với kinh tế công nghiệp cổ điển để bước vào làn sóng thứ ba với nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế mới này, những nhân tố quyết định phát triển bao gồm: nhân tố tri thức; nhân tố vốn (tư bản), nhân tố lao động; và nhân tố vốn con người [4, tr.195] Trong bốn nhân tố này thì tri thức có vai trò hàng

Trang 21

đầu bao gồm cả thông tin, tri thức khoa học và công nghệ, nhất là tri thức về công nghệ cao, tri thức về quá trình sản xuất, tri thức về khoa học xã hội và vốn xã hội, về tổ chức và vốn tổ chức Trong đó, tri thức khoa học chính là kết quả khái quát của quá trình nhận thức hiện thực, đã được kiểm nghiệm bởi hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xã hội, phù hợp với logic, phản ánh hiện thực một cách sáng tạo trong đầu óc con người dưới dạng các quan niệm, phán đoán, suy luận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Tóm lại, sau khi nghiên cứu, kế thừa, tổng hợp tất cả các quan điểm,

chúng ta có thể hiểu: Tri thức là những hiểu biết đúng đắn của con người đối với thế giới khách quan và khả năng vận dụng những hiểu biết đó vào cải tạo thực tiễn, nó là sản phẩm của quá trình học tập, tích lũy thông tin hay tích lũy kinh nghiệm mà có, đồng thời tri thức chỉ có giá trị và được công nhận sau khi đã được thực tiễn kiểm nghiệm

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của tri thức khoa học trong nền kinh tế tri thức

(1) Đặc điểm của tri thức khoa học trong nền kinh tế tri thức

Trình độ tri thức của mỗi con người, mỗi nhóm xã hội, dân tộc, quốc gia, nhân loại phụ thuộc vào những điều kiện khách quan, chủ quan trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Mọi loại tri thức đều cần thiết đối với sự sinh tồn và phát triển của con người, nhưng tri thức lý luận khoa học

là quan trọng nhất trong việc hướng dẫn con người cải tạo tự nhiên, xã hội Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, là “bản chất” ,là “hạt nhân” của ý thức và cũng như ý thức, tri thức là sự phản ánh đối tượng vật chất thông qua hoạt động của bộ não của con người, phản ánh là thuộc tính của mọi đối tượng vật chất và phản ánh thông qua óc con người (loại vật chất đặc biệt có tổ chức cao) là trình độ phản ánh cao nhất Tri thức biểu

Trang 22

hiện thông qua “cái vỏ” vật chất là ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), nhờ ngôn ngữ mà ý thức có thể biểu đạt được nội dung trong thực tế

Tri thức không ngừng phát triển trong toàn bộ lịch sử nhân loại Trong quá trình sử dụng, tri thức không những không bị mất đi mà trái lại nó còn được bổ sung, tăng cường, phong phú hơn về nội dung và sâu sắc hơn về trình độ Bởi vì, tri thức cần được khuyến khích sử dụng và cứ mỗi lần được

sử dụng theo thời gian, thông qua con người (cá nhân, nhóm xã hội) thì tri thức lại được tăng lên Ngày nay, khối lượng tri thức của loài người đã tăng lên rất nhanh chóng, nhưng để khai thác được tri thức cần phải có những con người có trình độ nhất định để sử dụng tri thức đó Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng “chìm ngập trong thông tin mà vẫn đói tri thức” [49, tr.4] Ngày nay tri thức trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất trong cuộc sống con người, hơn cả nguồn vốn tài nguyên thiên nhiên, theo kinh tế truyền thống

Tri thức trong xã hội hiện đại có đặc điểm nổi bật là tốc độ phát triển ngày càng tăng trên mọi lĩnh vực Đồng thời tri thức loài người luôn được đổi mới, sáng tạo và ứng dụng nhanh chóng trong điều kiện hiện nay

Người ta tính rằng ngày nay cứ khoảng ba năm (thế kỷ XIX là 50 năm, đầu thế kỷ XX là 30 năm, giữa thế kỷ XX là 10 năm, những năm 70 của thế

kỷ XX là 5 năm), thì khối lượng kiến thức lại tăng lên gấp đôi Trung bình mỗi ngày, loài người sản xuất ra khoảng 20.000 công trình khoa học mới, trung bình 10 năm thành tựu giáo dục tăng lên gấp 2 lần [56, tr.34]

Nói đến vai trò của tri thức đối với sự phát triển xã hội nói chung, với sản xuất nói riêng C.Mác đã chỉ rõ: “ có một lực lượng sản xuất khác mà nhà tư bản có được không mất khoản chi phí nào, đó là sức mạnh của khoa học… Nhưng tư bản chỉ có thể chiếm hữu được sức mạnh ấy của khoa học bằng cách sử dụng máy móc, bản thân những lực lượng ấy cần tồn tại dưới dạng lao động và đã được vật hóa” [3, tr.368-369]

Trang 23

Như vậy theo quan điểm của Mác, tri thức đã làm cho tư bản cố định (nhà máy, máy móc, công cụ…được sử dụng trong sản xuất) chuyển hóa đến một mức độ nhất định nào đó, sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là phải có phát minh, sáng tạo, có sự phát triển của hệ thống máy móc

Các học giả Liên Xô khi nghiên cứu về vấn đề này đã khẳng định: Khoa học được đưa vào lực lượng sản xuất thông qua hoạt động của con người, nó được vật chất hóa trong sản xuất thông qua công cụ lao động và đối tượng lao động; cao hơn nữa là sự tác động của khoa học trở thành yếu

tố tác động trực tiếp vào nền sản xuất Do vậy, quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp gắn liền với sự phát triển như vũ bão của tri thức khoa học và công nghệ

Với sự ra đời của khoa học, một trình độ mới về chất nhận thức ở con người cũng xuất hiện, đó là tri thức khoa học Sự ra đời và phát triển của tri thức khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, đánh dấu một bước tiến mới trong nhận thức và cải tạo thế giới Tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người và vai trò đặc biệt đó ngày càng tăng trong đời sống xã hội

Khác với tri thức thông thường, tri thức khoa học được hình thành một cách tự giác và mang tính trừu tượng, tính khái quát ngày càng cao Nó thể hiện sức mạnh, tính năng động sáng tạo của tư duy trừu tượng Nó phản ánh dưới dạng lôgíc trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối quan

hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan Tri thức khoa học hướng tới nắm bắt cái quy luật, cái bản chất hiện thực; nó không dừng lại ở cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, cái đơn nhất Tri thức khoa học được thể hiện trong các phạm trù, quy luật của khoa học và đến lượt mình, các quy luật, phạm trù đó lại trở thành chỗ dựa, trở thành công cụ của tri thức khoa học

Trang 24

Theo đó, tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện

Căn cứ theo cuốn Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, quyển XIX thì:

“Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội”

Như vậy, tri thức khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,

nó phản ánh hiện thực khách quan trong mối quan hệ tương tác giữa khách thể nhận thức và chủ thể nhận thức, nó xây dựng nên hệ thống chân lý về thế giới, hệ thống chân lý này được diễn đạt bằng các khái niệm, các cặp phạm trù, các quy luật, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết khoa học v.v… Tri thức khoa học, không chỉ hướng vào việc giải thích thế giới, mà quan trọng hơn còn hướng tới việc cải tạo, làm biến đổi

thế giới theo xu hướng có lợi cho con người “Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển, vì tư duy của con người không có giới hạn trong nhận thức” [28, tr4], vì vậy tri thức khoa học không ngừng phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển khả năng nhận thức của con người và trình độ phát triển của lịch sử xã hội

Tri thức khoa học có tính khách quan Tri thức khoa học hướng tới

nghiên cứu các khách thể của tự nhiên, xã hội và bản thân con người như những đối tượng vận động và phát triển phục tùng các quy luật khách quan Tri thức khoa học phải dựa vào sự thật và lý trí của con người chứ không thể dựa vào những ảo tưởng chủ quan, vào lòng tin mù quáng nào đó Khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu cả hiện thực tư tưởng, như những khách thể tồn tại độc lập với chủ thể Dĩ nhiên, những phẩm chất cá nhân và những

Trang 25

định hướng giá trị của nhà khoa học có vai trò quan trọng trong sáng tạo khoa học, song kết quả nghiên cứu mang giá trị khoa học lại không phụ thuộc vào ý muốn của người nghiên cứu Nghĩa là tri thức khoa học đưa ra phải dựa trên sự kiểm nghiệm và chứng thực của thực tiễn, đồng thời phải là kết quả của một quá trình nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ và đáng tin cậy, phải dựa trên quá trình khái quát hóa và trìu tượng hóa cao, gạt bỏ những cái không cơ bản nhằm phát hiện ra bản chất, hiện tượng ra những quy luật khách quan về thế giới, do vậy có thể nói tri thức khoa học là sản phẩm cao cấp của trí tuệ con người

Tri thức khoa học phải có tính hệ thống và tính có căn cứ Đây là đặc

trưng quan trọng để phân biệt tri thức thông thường với tri thức khoa học Tri thức khoa học là một hệ thống chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ nội tại với nhau mang tính chân thực Tri thức khoa học phải hướng tới chân lý, hướng tới việc tìm tòi, nhận thức chân lý; tính chân lý được chứng minh không chỉ bằng việc áp dụng vào thực tiễn mà nhận thức khoa học còn tạo ra những phương thức, chứng minh, những tiêu chuẩn của riêng mình Cũng vì vậy mà tri thức khoa học mang tính chặt chẽ, tính logic cao Đối tượng phản ánh của tri thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy, như vậy đối tượng của tri thức khoa học rất rộng lớn, đây cũng là một trong những sự khác biệt giữa tri thức khoa học với hệ thống những hình thái ý thức xã hội khác

Tri thức khoa học trong quá trình thâm nhập vào các hình thái ý thức

xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với các hình thái đó, chẳng hạn như ý thức chính trị với chính trị học, ý thức tôn giáo với tôn giáo học,

ý thức đạo đức với đạo đức học… để phản ánh các lĩnh vực đặc biệt khác nhau của đời sống con người Nhờ vào tri thức khoa học, con người đã không ngừng vươn tới cái mới, tới sự sáng tạo, và từ đó ngày càng làm chủ

Trang 26

tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân

Động lực thực sự để phát triển khoa học xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cuộc sống của con người, và biểu hiện cụ thể là thông qua nhu cầu phát triển sản xuất, cho nên cùng với sự phát triển của sản xuất, thực tiễn xã hội, tri thức khoa học cũng không ngừng phát triển Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của tri thức khoa học, công nghệ, có thể tiến hành ứng dụng, nâng cao năng suất và hiệu quả của nền sản xuất nói riêng và nền kinh tế nói chug Hơn nữa trong nền kinh tế mới, người ta đánh giá năng lực của mỗi quốc gia căn cứ trên trình độ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

Do vậy, sự phát triển của tri thức khoa học đang trở thành một trong những chuẩn mực để đánh giá về sự phát triển xã hội

Thông qua sự trình bày một cách khái quát và sơ lược về tri thức khoa học, chúng ta có thể nhận thấy sự gắn kết giữa tri thức khoa học và kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay Tri thức tạo nên sự khác nhau cơ bản giữa con người với động vật, biểu hiện thông qua sự sáng tạo, mà động lực đầu tiên và là điều kiện quan trọng nhất để tiến hành sáng tạo, chính là tri thức Vì vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng không có bất kỳ hoạt động nào của con người có thể tách rời tri thức, và khi xã hội loài người càng phát triển thì những tri thức mà con người vận dụng cho hoạt động sống của mình càng đòi hỏi phải trình độ cao, đó là tri thức khoa học Phát triển song song và ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, đó là lịch sử phát triển tương ứng của tri thức, tuy nhiên mối quan hệ mật thiết giữa phát triển kinh

tế với tri thức khoa học không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ một cách trực tiếp trên thực tế, hiện nay trong xu thế phát triển kinh tế tri thức thì mối quan hệ này mới được thể hiện một cách rõ rệt

(2) Vai trò của tri thức khoa học trong nền kinh tế tri thức

Tri thức khoa học ra đời và phát triển cùng với lịch sử tiến hóa của xã

Trang 27

hội loài người, xuất hiện trực tiếp trong quá trình đấu tranh giữa con người với tự nhiên và trong thực tiễn sản xuất, đấu tranh xã hội Phát hiện, sở hữu tri thức khoa học tạo cho con người vị thế làm chủ cuộc sống của mình, làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội Tri thức khoa học xét về bản chất, thể hiện

sự tiến bộ cách mạng của con người và đánh dấu các giai đoạn phát triển khác nhau Do vậy, khi nghiên cứu về vai trò của tri thức khoa học trong nền kinh tế tri thức, ta cần phải xem xét một số khía cạnh sau:

Tri thức khoa học là bộ phận quan trọng nhất tác động đến cơ sở hạ tầng của nền kinh tế tri thức Thực ra, nếu xét đến cùng thì tri thức khoa

học chính là yếu tố quyết định đối với quá trình biến đổi cải tạo công cụ lao động và phương tiện lao động - những yếu tố năng động nhất và quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, bởi sự phát triển của nó kéo theo toàn bộ tiến trình biến đổi và thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên

Tri thức khoa học là sản phẩm trí tuệ cao cấp của các nhà khoa học

và nó thuộc bộ phận quan trọng nhất trong hình thái ý thức xã hội và là yếu

tố tinh tế nhất trong kiến trúc thượng tầng Xét theo phương diện đó thì tri thức khoa học, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, nên nó là loại tri thức có độ tin cậy cao, và có thể áp dụng vào thực tiễn, dẫn dắt thực tiễn phát triển Cho nên, vai trò của tri thức đối với phát triển xã hội nói chung và đối với phát triển kinh tế nói riêng là biểu hiện cụ thể của sự ảnh hưởng, tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, đó là vai trò dẫn dắt, định hướng của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng

Khi bàn về một xã hội với nền kinh tế tri thức, trong tác phẩm “Chào đón xã hội tri thức xuất hiện” của học giả Trung Quốc, Jin Wulun đã đề cập

Trang 28

như sau: kinh tế tri thức là hình thái kinh tế không phải của xã hội công nghiệp mà là của xã hội tri thức Chỉ nghiên cứu sự biến đổi của hình thái kinh tế mà không đi sâu nghiên cứu sự biến đổi tư tưởng với nó của toàn bộ kết cấu xã hội, thể chế chính trị và văn hóa thì việc nghiên cứu đó khó đạt tới sự hiểu biết và nắm bắt toàn diện sâu sắc Sự phát triển kinh tế chịu sự chế ước của điều kiện xã hội và thể chế xã hội, chỉ có tạo điều kiện xã hội

và thể chế xã hội tốt đẹp có lợi cho sản xuất, truyền bá và ứng dụng tri thức, thì mới có sự phát triển với tốc độ nhanh của kinh tế tri thức, có sự đảm bảo đáng tin cậy Nghĩa là, Jin Wulun đang muốn nhấn mạnh cần quan tâm đúng mức về mối quan hệ giữa phát triển tri thức khoa học với kiến trúc thượng tầng trong một xã hội nhất định

Việc đổi mới tư duy và liên tục phát triển tri thức khoa học để có được tri thức mới trên cơ sở của những phát hiện khoa học mới Đồng thời không nuối tiếc những tri thức khoa học đã trở nên lạc hậu, cũ kỹ và không còn phù hợp, đây là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của cơ

sở hạ tầng, của kết cấu kinh tế Thật vậy, tri thức khoa học phát triển và đổi mới liên tục của các thành tựu khoa học đã liên tục trang bị cho chúng ta có những hiểu biết sâu sắc hơn về đối tượng nhận thức, từ đó giúp ta cải tạo được cơ sở hạ tầng và kết cấu kinh tế

Như vậy rõ ràng, kết cấu kinh tế và các yếu tố vật chất trong lực lượng sản xuất - yếu tố cơ sở và nền tảng nhất của một hình thái kinh tế xã hội - sẽ được cải thiện và biến đổi rất lớn nhờ có sự ứng dụng tri thức khoa học Một nền sản xuất, một lực lượng sản xuất mà cụ thể hơn là những con người lao động cũng như những yếu tố của đối tượng lao động, công cụ lao động… chỉ có thể vận động và phát triển theo chiều hướng tích cực khi có

sự hỗ trợ đắc lực của tri thức khoa học với tư cách là sự tác động trở lại, sự hướng dẫn và sự vượt trước của ý thức khoa học như là một hình thái ý thức

Trang 29

xã hội Người lao động và tư liệu sản xuất, nếu được trang bị những tri thức khoa học mới tiến bộ, năng động hơn, linh hoạt hơn, nhiều sức sống hơn, thì mới đủ niềm tin để khắc phục những nếp tư duy và làm việc cũ, đã trở thành trì trệ lạc hậu, để sẵn sàng tiếp nhận cái mới tiến bộ đưa lại hiệu quả và năng suất cao cho toàn bộ nền sản xuất nói riêng và nền kinh tế nói chung Việc phát triển tri thức khoa học và ứng dụng mạnh mẽ tri thức khoa học, xác lập và nâng cao bồi dưỡng thường xuyên tri thức khoa học cho một nền kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết để tiếp tục con đường cải cách Trước mắt xóa bỏ mọi rào cản để mọi yếu tố tích cực, năng động được tự do phát triển trong một nền kinh tế lành mạnh, tiếp tục chăm lo, tạo môi trường thuận lợi cho mọi nhân tố mới, mọi tài năng được tự do nảy nở

và tranh đua, làm cho đất nước ta dân giàu mạnh trong nền kinh tế tri thức, vững vàng tiến vào con đường hội nhập chung với thế giới

Tri thức, các lý thuyết khoa học, kỹ thuật v.v… mặc dù, thuộc về đời sống tinh thần, tuy nhiên, sự phát triển của tri thức khoa học trong ý thức xã hội, trong kiến trúc thượng tầng có tác động rất lớn đến kết cấu kinh tế, cơ

sở hạ tầng Như Mác đã từng khẳng định: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội của chủ nghĩa tư bản công nghiệp” Điều này chứng tỏ, công cụ lao động là

phương tiện lao động quyết định tính chất của nền sản xuất xã hội, mà công

cụ lao động và phương tiện lao động biến đổi, là do trực tiếp chịu sự tác động của tri thức khoa học

Nền kinh tế thế giới ngày càng chuyển đổi sang kinh tế thông tin, kinh

tế tri thức, thì cuộc cạnh tranh sắp tới không phải là chiếm hữu đất đai, chiếm hữu tài nguyên, chiếm hữu người lao động và công cụ sản xuất mà quan trọng hơn là sự sở hữu tri thức Thực tế này chỉ ra được vị trí và vai trò quan trọng của tri thức khoa học đối với cơ sở hạ tầng kết cấu chung của một xã hội

Trang 30

Tri thức khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế tri thức Khi nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chúng ta phải

xem xét tri thức khoa học trên hai phương diện Một là, mặt tinh thần, xem tri thức khoa học như một hệ thống tri thức có chức năng phản ánh, giải thích thế giới và đưa ra những sự tiên đoán khoa học là một dạng đặc biệt của hình thái ý thức xã hội, có khả năng tác động đến tồn tại xã hội Hai là, khi xem xét tri thức khoa học là lực lượng sản xuất tri thức khoa học tác động đến mọi yếu tố của lực lượng sản xuất Do đó, ngày nay tri thức khoa học và trình độ ứng dụng khoa học - công nghệ đã làm biến đổi lực lượng sản xuất, đời sống kinh tế của con người, nghĩa là bản thân sinh hoạt vật chất và kinh tế của nền sản xuất xã hội phải chịu sự kiểm soát của tri thức Khoa học một khi được vận dụng vào sản xuất không chỉ là cơ sở tạo

ra được nền kinh tế tri thức, mà còn là một trong những động lực giải phóng con người, cải tạo con người, đưa con người lên vị trí làm chủ tự nhiên, xã hội Nền kinh tế tri thức, thực chất là nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ rất cao và là một trong những hình thức phát triển của xã hội

để tiến dần đến chủ nghĩa cộng sản Trên thực tế, tri thức khoa học chỉ có thể phục vụ lợi ích của con người và sự tiến bộ của xã hội, tham gia vào việc giải phóng con người, khi nó tìm thấy một cơ sở xã hội, một quan hệ sản xuất thích hợp đó là quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Tri thức khoa học trong nền kinh tế tri thức còn xâm nhập và nâng cao kỹ năng lao động của người lao động, nâng họ lên vị trí chủ thể, sáng tạo của cải vật chất, làm thay đổi tính chất lao động của họ, chuyển những chức năng lao động của con người sang máy móc và giải phóng họ khỏi quá trình lao động trực tiếp Do đó, người lao động cũng cần phải nâng cao

tri thức vì vậy trong nền kinh tế tri thức, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, cần phải đào tạo mặt bằng tri thức chung cho người lao động, bởi ở Việt

Trang 31

Nam mặt bằng chung tri thức vẫn còn khá thấp, so với một số nước phát triển trong khu vực

Tóm lại, hiểu tri thức khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp, không

có nghĩa là khoa học trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất mà nó là một dạng đặc biệt của hình thái ý thức xã hội, có phương thức tác động riêng vào các yếu tố của lực lượng sản xuất để làm thay đổi chúng một cách căn bản

Tri thức khoa học không chỉ tác động trực tiếp vào các yếu tố của lực lượng sản xuất mà nó còn tác động đến con người, nhân tố chủ yếu và quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất Con người ở đây bao gồm cả công

nhân, những người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất cũng như những con người tiến hành hoạt động khoa học - kỹ thuật, công nghệ, gắn liền với nền sản xuất của xã hội Vai trò của tri thức khoa học là nâng cao hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người, làm chỗ dựa vững chắc cho các nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, tìm tòi và khám phá ra những tri thức mới, tác động vào tư liệu sản xuất để chuyển hóa thành những công nghệ tiên tiến hơn, phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của sản xuất Mặt khác, tri thức khoa học còn là nhân tố quan trọng nhất để tiến hành cải tiến và ngày càng hoàn thiện dần các công cụ lao động, phương tiện lao động trong lực lượng sản xuất

Vai trò của tri thức khoa học còn thể hiện cả trong những hình thức

tổ chức tương ứng của sản xuất Như vậy, người lao động không còn là

nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật, mà chủ yếu là vận dụng tri thức khoa học để điều khiển quá trình sản xuất Ngày nay, hoạt động khoa học, công nghệ còn trở thành một ngành sản xuất với quy mô lớn, bao hàm hàng loạt các viện, phòng thí nghiệm, trạm, trại, xí nghiệp với số chuyên gia có trình độ ngày càng tăng, vốn đầu tư ngày càng lớn, hiệu quả

Trang 32

đầu tư ngày càng cao, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, biểu hiện quan trọng nhất chính là ở chỗ, nó làm thay đổi tận gốc những yếu tố của lực lượng sản xuất, từ đó tạo ra những biến đổi tiến bộ có tính bước ngoặt của nền sản xuất xã hội

Vai trò của tri thức khoa học, với tư cách là yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, tri thức khoa học đã giúp sáng tạo ra những công cụ lao động mới làm nên những cuộc cách mạng có tính bước ngoặt trong sản xuất, nó tạo nên bước chuyển từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, từ việc sử dụng lao động chân tay sang máy móc và ngày nay chuyển chức năng lao động trí óc sang các phương tiện kỹ thuật Hiện nay, tri thức khoa học chính là nhân tố đẩy nhanh nền kinh tế thế giới bước sang nền kinh tế tri thức

Ngày nay, với trình độ cao của tri thức khoa học không chỉ làm biến đổi xã hội và nền sản xuất ở từng mảng nhỏ như trước, mà biến đổi ở phương diện tổng hợp, biến đổi toàn bộ các lĩnh vực, từ phát triển công cụ lao động bằng việc sản xuất ra các loại máy móc hiện đại, tối tân có ứng dụng công nghệ cao, cho năng suất cao đến việc tìm kiếm các nguồn năng lượng mới cho sản xuất Hiện nay, người ta còn đang nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, các vật liệu siêu dẫn, điện tử tin học, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa Tri thức khoa học đã đi trước kỹ thuật và hướng dẫn cho kỹ thuật phát triển, quá trình đó diễn ra ngày càng nhanh chóng và sâu sắc hơn với quy mô rộng lớn và hiệu quả cao trong chủ trương phát triển nền kinh tế tri thức

Ngoài ra, nếu phân loại tri thức khoa học theo kiểu chia ra thành hai lĩnh vực lớn là nhóm ngành khoa học tự nhiên - ký thuật và nhóm ngành khoa học xã hội thì hai lĩnh vực này cũng có vai trò to lớn trong nền kinh tế tri thức

Trang 33

Vai trò của nhóm ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật trong nền kinh

tế tri thức thể hiện khá rõ ràng, vì sự ảnh hưởng của nó luôn tác động đến

xã hội ở bề nổi và mang tính định lượng rất dễ nhận thấy Vai trò của tri thức khoa học của nhóm ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế tri thức là loại tri thức này, khi được áp dụng và triển khai vào thực tiễn, nó ngay lập tức trở thành công nghệ, thành máy móc và những phương tiện hiện đại, trực tiếp gia nhập vào nền kinh tế và có những tác động hữu hình, đo lường được ngay trước mắt với bằng chứng của nó là hiệu suất kinh tế, là năng suất lao động, là chất lượng sản phẩm, là hàm lượng chất xám trong sản phẩm…

Nền kinh tế tri thức có 4 trụ cột cơ bản là khoa học công nghệ cao, nguồn nhân lực chất lượng cao, thị trường (đặc biệt là thị trường công nghệ)

và cơ sở hạ tầng kinh tế Có thể thấy rằng, nhóm ngành khoa học và kỹ thuật đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các trụ cột nói trên, bởi chính các nhà khoa học tự nhiên - kỹ thuật nghiên cứu tìm tòi ra các lý thuyết, các

hệ thống tri thức khoa học, và sau khi ứng dụng vào thực tiễn nó trở thành công nghệ, công nghệ cao, từ đó hình thành thị trường công nghệ

Do vậy, nhận thức rõ được tầm quan trọng của tri thức khoa học, trong thời gian sắp tới, trong chiến lược phát triển kinh tế tri thức để nâng cao chất lượng sống của người Việt, nâng tầm vị thế của quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần đầu tư tổng lực để đẩy nhanh quá trình phát triển khoa học - kỹ thuật - công nghệ, để đạt được những thành quả cao hơn nữa, phục

vụ cho chiến lược quốc gia trong thời đại mới

Những tác động của ngành khoa học xã hội và nhân văn đến sự phát triển kinh tế tri thức

Khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu cơ bản và toàn diện về con người và xã hội loài người Vì vậy, nó là những ngành khoa học giữ những

Trang 34

chức năng rất quan trọng, cho phép con người nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề chính trị xã hội thông qua lịch sử phát triển của nhân loại, qua đó giúp cho con người có thể xây dựng cho mình một thế giới quan, nhân sinh quan hợp lý Mặt khác, khoa học xã hội và nhân văn còn là khoa học giúp kiến tạo và xây dựng đời sống tinh thần cho con người, xây dựng nên tâm hồn và nhân cách con người… Ngoài ra, xét ở bình diện quản lý xã hội, đó còn là những ngành khoa học đem lại những hiểu biết và kiến thức để cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, thẩm định các chương trình, dự án kinh tế - xã hội trọng điểm, góp phần nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, đội ngũ nhà giáo cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Đối với vấn đề phát triển kinh tế tri thức, thì khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò rất quan trọng, nó là cơ sở để đảm bảo phát triển thành công, hai trong 4 trụ cột cơ bản của kinh tế tri thức, là đội ngũ nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, đội ngũ nhà giáo… cho sự nghiệp phát triển đất nước ở mọi thời kỳ, hoạch định chính sách, xây dựng để phát triển xã hội Việt Nam toàn diện nhất, mà ở thời đại ngày nay thì cơ chế đó phải tạo được động lực mạnh mẽ và nền móng vững chắc nhất, để cho kinh

tế tri thức định hình và phát triển một cách bền vững

Nhìn chung, khoa học xã hội và nhân văn rất hữu ích cho sự phát triển của cá nhân mỗi người cũng như của toàn thể xã hội, soi sáng cho chúng ta về những việc cần làm và phải làm, để đời sống và môi trường sống ngày càng tốt hơn, kinh tế xã hội phát triển Và nó còn là một trong những nhân tố giữ vai trò rất quan trọng để góp phần làm động lực, tạo môi trường, thúc đẩy cho sự phát triển và tạo cơ hội cho kinh tế tri thức xuất hiện và phát triển lớn mạnh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Nói

Trang 35

chung, tri thức khoa học sẽ trang bị cho chúng ta phương pháp tư duy, phản biện và giúp cho chúng ta có một cái nhìn tổng thể trong lý luận và trong sự phê bình, phản biện, giúp chúng ta có cái nhìn nhiều chiều, toàn diện về vấn

đề cần giải quyết để tiến hành các hoạt động hiệu quả hơn, để từ đó có sách lược cũng như chiến lược phát triển cho các cá nhân, cho các tổ chức, doanh nghiệp, và cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Việt Nam

1.2 Kinh tế tri thức, khái niệm và những đặc trưng cơ bản

Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới, cũng như nhiều tổ chức nghiên cứu kinh tế quốc tế đã đưa ra những khái niệm, phân tích các định nghĩa, về một mẫu hình kinh tế mới đang hình thành và phát triển, đó là “kinh tế tri thức” Như vậy kinh tế tri thức là gì, và nó có những đặc trưng cơ bản nào? Dưới đây chúng ta khảo sát về vấn đề này

1.2.1 Khái niệm và những nội dung cơ bản của kinh tế tri thức (1) Khái niệm kinh tế tri thức

Như đã trình bày ở trên, tri thức được nhìn nhận là một yếu tố quan trọng của sản xuất, là động lực của tăng năng suất lao động và của quá trình tăng trưởng kinh tế Vai trò của thông tin, công nghệ và giáo dục đào tạo đối với năng lực của nền kinh tế ngày nay trở nên đặc biệt quan trọng Thuật ngữ “Kinh tế dựa vào tri thức” là xuất phát từ việc thừa nhận vị trí của tri thức và của khoa học công nghệ trong các nền kinh tế phát triển nhất trên thế giới hiện nay

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến nay, do tác động trực tiếp và mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng v.v… đã làm cho nền kinh tế thế giới biến đổi sâu sắc, mạnh

mẽ, cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động, tạo nên sự phát

Trang 36

triển nhảy vọt, đột biến, một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại, sang giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế thế giới Chính vì vậy, tương ứng với quá trình đó, người ta đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức”, với nhiều tên gọi khác nhau, cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế mới Đó là những thuật ngữ như:

“Kinh tế mới - (new economy)”, đây là tên gọi chung, chưa được xác

định rõ nội dung của nền kinh tế mới; nhưng nó khẳng định tính tất yếu khách quan của một quá trình hình thành và phát triển một nền kinh tế mới, với những đặc trưng mới

“Kinh tế thông tin - information economy”; “Kinh tế mạng - Network economy”… những thuật ngữ này đã nói lên vai trò quyết định của công

nghệ thông tin trong phát triển kinh tế (nhưng nó chưa bao gồm được các yếu tố tri thức và công nghệ khác)

“Nền kinh tế học hỏi - learning economy”, thuật ngữ này nói lên một

yêu cầu, một đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế là sự học tập suốt đời của mọi người và theo một nghĩa nào đó, cũng nói đến vai trò của tri thức

“Kinh tế dựa vào tri thức - knowledge based economy”; “Kinh tế dẫn dắt bởi tri thức - Knowledge driven economy”; “Kinh tế tri thức - Knowledege economy”, những tên gọi này nói lên vai trò quyết định của tri

thức, bao gồm cả khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế

Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng thuật ngữ “ kinh tế tri thức” đã được sử dụng khá rộng rãi mang tính chất phổ biến, nhưng nội dung của nó lại được nhiều nhà khoa học, chuyên gia kinh tế thế giới cũng như tổ chức nghiên cứu kinh tế quốc tế giải thích với những khác biệt lớn Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa về kinh tế tri thức là “một nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức là nền kinh tế mà

Trang 37

việc sản sinh và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình cải tạo của cải”

Cũng trong năm 1998, công trình “ The Knoledge Economy” của Nxb Butterworth Heinemann, cho rằng: đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh

tế tri thức là tri thức đã vượt qua các nhân tố sản xuất truyền thống là vốn

và sức lao động để trở thành nhân tố quan trọng nhất, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia Nói một cách khác, đang có sự chuyển biến toàn cầu từ các nền kinh tế dựa trên bắp thịt và tiền vốn, chuyển sang nền kinh tế dựa trên trí não

Học giả Ngô Qúy Tùng cho rằng: “Tổng hợp các khái niệm về kinh

tế tri thức từ 30 năm nay, có thể thấy định nghĩa tương đối sát thực nhất về nền “kinh tế tri thức” là nền kinh tế mà trong đó nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối trí lực và việc sáng tạo, phân phối, sử dụng tri thức trong các ngành sản xuất có hàm lượng kỹ thuật cao” [57, tr.34]

Trong tham luận tại Hội thảo “Các xu hướng và vấn đề năm 2001: Tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức và những tác động của xã hội chính trị

ở Đông Á” ở Tokyo, diễn ra vào 25 và 26 tháng 10 năm 2000, tác giả Tian ZhongQing, đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Nền kinh tế tri thức là một loại nền kinh tế được hình thành trên cơ sở sản xuất, phân phối, áp dụng và sử dụng tri thức và thông tin” Định nghĩa này giống với định nghĩa của Liên hợp quốc đã đưa ra, nhưng tác giả lại giải thích một cách kỹ càng hơn: “Nền kinh tế này có nhiều lớp ý nghĩa: Thứ nhất, các nhân tố sản xuất mà tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào đã thay đổi về cơ bản Sự đổi mới và tích lũy tri thức khoa học đã làm cho tri thức trở thành nhân tố chủ yếu Thứ hai, thiết bị sản xuất cũng có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, thay đổi về

cơ bản Các thiết bị “thông minh”, chẳng hạn như máy tính, các loại phần mềm, mạng đặc biệt là mạng Internet, đã cho thấy tầm quan trọng của

Trang 38

chúng trong các hoạt động chế tác và quản lý Thứ ba, các ngành dẫn đầu có ảnh hưởng chủ yếu đến tăng trưởng kinh tế, đã có sự thay đổi về chất Người ta hi vọng rằng ngành thông tin sẽ thay thế ngành dầu lửa như ngành công nghệ số 1 Thứ tư, những thay đổi to lớn đang diễn ra trong các lĩnh vực tiêu dùng cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến tăng trưởng kinh tế Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dựa trên tri thức đang tăng lên nhanh chóng và hoạt động buôn bán bằng sáng chế và công nghệ đang trở thành một trong những hoạt động thương mại và có sự tăng trưởng nhanh nhất thế giới” Trong số các khái niệm vừa nêu và phân tích ở trên, “kinh tế tri thức”

là thuật ngữ thường được sử dụng nhất, được công nhận bởi nhiều người, đó

là định nghĩa do tổ chức OECD chính thức sử dụng từ năm 1996 Tên gọi này đã nói lên được nội dung cốt lõi của nền kinh tế mới Theo đó, cốt lõi

của kinh tế tri thức hay nền kinh tế dựa vào tri thức là sự sản sinh, phổ cập

và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống [61, tr

123] Đây là khái niệm được sử dụng phổ biến hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta

Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam (trong văn kiện Đại hội X của Đảng) đưa ra cách hiểu kinh tế tri thức là kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, các hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng tri thức, các hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng tri thức chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm xã hội

Ở đây, chúng ta không tranh luận về khái niệm, đặc biệt là câu chữ trong mỗi khái niệm, mà điều cơ bản là ở chỗ, các cách tiếp cận đều thống nhất nhận thức được bản chất của nền kinh tế tri thức là khẳng định vai trò hàng đầu của tri thức với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Như vậy, có thể khái quát lại, Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó

việc sáng tạo, sử dụng tri thức là một cách rộng rãi để phát triển sản xuất,

Trang 39

là động lực thúc đẩy, tăng trưởng kinh tế và tri thức chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm xã hội

(2) Những nội dung cơ bản của nền kinh tế tri thức

Trên cơ sở các quan niệm, các ý kiến khác nhau về “kinh tế tri thức”, trước hết chúng ta cần làm rõ nội dung cơ bản của kinh tế tri thức Như chúng ta đã biết, tất cả mọi nền kinh tế trên thế giới đều có các lĩnh vực cơ bản như: sản xuất, lưu thông và tiêu dùng, hợp thành một hệ thống thống nhất, có tác động qua lại mật thiết, trong đó lĩnh vực sản xuất có vai trò cơ bản, quyết định Do đó, đánh giá trình độ phát triển của lĩnh vực sản xuất, trong đó yếu tố có tính cách mạng nhất là công cụ sản xuất, là phương pháp

Trong “Tư bản”, C.Mác đã phân tích rất cụ thể vai trò của từng bộ phận trong công cụ sản xuất, mọi công cụ sản xuất đều có 3 bộ phận cơ bản: động lực, truyền lực và công tác Bộ phận công tác còn gọi là bộ phận chấp hành hay tác động, trực tiếp tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm Bộ phận truyền lực truyền năng lượng từ nguồn động lực đến bộ phận công tác và chứng minh rằng, cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII đã bắt đầu khi bộ phận công tác, vốn do bàn tay con người thao tác trong công cụ thủ công, đã giao cho máy thực hiện, nhờ đó đã đem lại một năng suất lao động nhảy vọt, mặc dù nguồn động lực vẫn là sức người (công cụ này lần đầu tiên xuất hiện ở máy kéo sợi năm 1735) Còn máy hơi

Trang 40

nước, tuy được phát minh từ cuối thế kỷ XVIII nhưng sau gần một thế kỷ cũng không dẫn đến cuộc cách mạng nào trong công nghiệp Tuy vậy, sau khi có máy công tác, máy hơi nước đã phát huy tác dụng rất to lớn, thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ, thông qua việc cung cấp nguồn động lực cho các công xưởng tư bản chủ nghĩa thực hiện quá trình cơ khí hóa Như vậy, đặc trưng cơ bản của nền kinh tế công nghiệp là công cụ sản xuất cơ khí, hay thường nói là máy móc

Trong nền kinh tế tri thức, chiếm đa số là các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế tri thức đã vượt qua các nhân tố sản

xuất truyền thống là vốn và sức lao động, để trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia hiện nay trên thế giới

Hiện nay, kinh tế tri thức là xu thế tất yếu và là phương hướng phát triển chung của loài người, có ý nghĩa to lớn với tất cả các nước trên thế giới Tất nhiên, kinh tế tri thức có các giai đoạn phát triển, giai đoạn phát triển khác nhau, tùy theo từng nước và lĩnh vực Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ trong 30 năm gần đây, khiến tốc độ cơ cấu, các yếu tố và các chế độ có những thay đổi tương ứng Sự phát triển kinh tế hiện nay, dựa vào việc truyền bá và ứng dụng kỹ thuật hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây Khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

và quan trọng hàng đầu, tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, đến sự biến đổi của xã hội

Mặc dù là một hình thức kinh tế mới xuất hiện, và nội dung của nó có thể còn được bổ sung và phát triển Song nội dung của kinh tế tri thức liên quan trực tiếp tới tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, kinh tế tri thức là mức độ phát triển cao của lực lượng sản xuất mà

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Toffer, (1980), Làn sóng thứ ba, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ ba
Tác giả: Alvin Toffer
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1980
2. Avil Toffer, (1992), Cú sốc tương lai, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú sốc tương lai
Tác giả: Avil Toffer
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1992
3. C.Mác - Ph.Ănghghen, Toàn tập, tập 46, Phần 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 46, Phần 2
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4. Vũ Đình Cự - Trần Xuân Sầm, (2006), Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức
Tác giả: Vũ Đình Cự - Trần Xuân Sầm
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2000), Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1987
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1991
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. GS.TS.Tô Xuân Dân - TS.Nguyễn Thành Công (Đồng chủ biên) (2006), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam
Tác giả: GS.TS.Tô Xuân Dân - TS.Nguyễn Thành Công (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Phan Đình Diệu, (1999), Phát huy nguồn tài nguyên trí thức của đất nước. Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn tài nguyên trí thức của đất nước
Tác giả: Phan Đình Diệu
Năm: 1999
16. Thẩm Vinh Hoa, (1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - Kế lớn trăm năm, chấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - Kế lớn trăm năm, chấn hưng đất nước
Tác giả: Thẩm Vinh Hoa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Nguyễn Cảnh Hồ, Bàn về thực chất của kinh tế tri thức, Tạp chí Cộng Sản, số 7 (4/2001), tr. 33 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thực chất của kinh tế tri thức
18. Nguyễn Văn Hòa (2009), Phát triển giáo dục và đào tạo - Một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, Tạp trí Triết học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo - Một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2009
19. Hội kinh tế Việt Nam, (2007), Kinh tế 2006 - 2007 Việt Nam và thế giới, Tạp chí thời báo kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế 2006 - 2007 Việt Nam và thế giới
Tác giả: Hội kinh tế Việt Nam
Năm: 2007
20. Trần Đình Huỳnh (2009), Nhân tài và vấn đề sử dụng nhân tài. Tạp chí xây dựng Đảng, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tài và vấn đề sử dụng nhân tài
Tác giả: Trần Đình Huỳnh
Năm: 2009

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w