1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố sắc tộc trong chính sách đối ngoại singapore công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 10 năm 2008

80 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu tố sắc tộc trong chính sách đối ngoại Singapore
Người hướng dẫn ThS. Hà Anh Tuấn
Trường học Đại học Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội và Nhân văn
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 574,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách dân tộc hướng tới sự khoan dung là một chính sách quan trọng, vì không chỉ tác động đến nội tại của xã hội, mà còn đóng vai trò nền tảng thúc đẩy quan hệ hợp tác với các quốc

Trang 1

-o0o -

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA

LẦN THỨ 10 NĂM 2008

TÊN CÔNG TRÌNH:

YẾU TỐ SẮC TỘC TRONG CHÍNH SÁCH

ĐỐI NGOẠI SINGAPORE

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU : XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Mã số công trình: ………

Trang 2

-o0o -

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA

LẦN THỨ 10 NĂM 2008

TÊN CÔNG TRÌNH:

YẾU TỐ SẮC TỘC TRONG CHÍNH SÁCH

ĐỐI NGOẠI SINGAPORE

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU : XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn : ThS Hà Anh Tuấn Thực hiện : Dương Văn Nguyên chủ nhiệm

Lê Thùy Mai Trâm tham gia Nguyễn Trần Anh Quốc tham gia Nguyễn Tuấn Ngọc tham gia

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Trang 3

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation

ASEAN Association of South East Asia Nations

Trang 4

Bảng 1: Tỉ lệ người Malay trong cơ cấu dân số Singapore

Bảng 2: Cơ cấu các nhóm người trong cộng đồng Malay thời kỳ 1931-1990Bảng 3: Phân bố lao động trong các ngành kinh tế và dịch vụ dân sinh theo

nhóm dân tộc

Trang 5

TÓM TẮT 01

MỞ ĐẦU 03

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẮC TỘC SINGAPORE 1.1 Quá trình hình thành và phát triển 08

1.1.1 Cộng đồng người Hoa tại Singapore 08

1.1.2 Cộng đồng người Malay tại Singapore 10

1.1.2.1 Người Orang Laut (Sea Nomads) 11

1.1.2.2 Người Malay 12

1.2 Tác động của các cộng đồng đối với xã hội Singapore 17

1.2.1 Tác động từ cộng đồng người Hoa 17

1.2.2 Tác động từ cộng đồng người Malay 21

1.3 Chính sách dân tộc của Singapore 26

Chương 2 - SINGAPORE TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC VÀ MALAYSIA 2.1 Chính sách của Trung Quốc đối với người Hoa ở Singapore 32

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1967 33

Trang 6

2.1.3 Giai đoạn từ năm 1978 trở về sau 35

2.2 Chính sách của Malaysia đối với người Malay ở Singapore 38

Chương 3 - TÁC ĐỘNG CỦA YẾU TỐ SẮC TỘC ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA SINGAPORE 3.1 Ảnh hưởng của yếu tố sắc tộc đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Singapore 44

3.2 Tác động của yếu tố sắc tộc đối với phương thức cân bằng trong chính sách đối ngoại của Singapore 50

3.2.1 Thời kỳ 1965 đến khi kết thúc Chiến tranh lạnh 52

3.2.2 Thời kỳ sau Chiến tranh lạnh 54

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

TÓM TẮT

Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển, nhân loại đã trải qua nhiều biến đổi to lớn, thể hiện qua các cuộc di cư có quy mô khác nhau mang theo di sản của các thế hệ đi trước để lại đến môi trường xã hội mới

Song song đó, sự hình thành nhà nước và biến động về mặt dân cư đã làm thay đổi căn bản đặc thù sắc tộc của từng quốc gia Do đó, làm cho quan hệ giữa các quốc gia không chỉ đơn thuần ở cấp độ dân tộc - dân tộc, mà còn ở cấp độ các xã

hội đa sắc tộc với nhau Tức là, giữa các thiết chế tồn tại liên kết vô hình về mặt con người và đặc tính xã hội Quan hệ này càng trở nên phức tạp khi hầu hết các

quốc gia ngày nay đều có sự đa dạng nhất định về mặt xã hội, bao gồm nhiều sắc tộc, cộng đồng, đặc thù văn hóa và huyết thống

Trong thời đại hiện nay, hầu hết các nhà nước đều mang những ràng buộc trên, do sự hỗn tạp về mặt sắc tộc Chính phủ phải đối diện với những vấn đề đối

nội cơ bản, tức là chọn lựa hòa hợp dân tộc hay bảo tồn nguyên vẹn giá trị của từng cộng đồng Chính sách dân tộc hướng tới sự khoan dung là một chính sách

quan trọng, vì không chỉ tác động đến nội tại của xã hội, mà còn đóng vai trò nền tảng thúc đẩy quan hệ hợp tác với các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia có chung đặc tính đa dạng bản sắc và hòa hợp dân tộc Khi các chính phủ biết cách xử

lý vấn đề dân tộc một cách khoan dung và hòa hợp, thì về lâu dài có xu hướng liên kết với nhau tốt hơn các xã hội có cách tiếp cận cực đoan hoặc một chiều

Sức mạnh chính sách, nền văn hóa và hệ giá trị quốc gia làm nên sức mạnh

và “năng lực chủ động” của một quốc gia trên trường quốc tế.

***

Trang 8

Đông Nam Á sau khi bị thực dân phương Tây dòm ngó và thiết lập ách cai trị trở thành một “hàn thử biểu” cho mối quan hệ lợi ích giữa các cường quốc trên thế giới Đặc tính trên của khu vực, theo nhiều học giả Quan hệ quốc tế, gần như ít thay đổi và thậm chí ngày một rõ nét trong quan hệ song phương và đa phương giữa các quốc gia.

Singapore, đảo quốc nằm tại trung tâm khu vực với những thay đổi rõ nét và quan trọng, là một ví dụ điển hình cho hiện tượng trên Để giải quyết thực trạng xã hội phức tạp của đất nước, giới kỹ trị Singapore không ngại ngần thi hành nhiều chính sách có phần khá cứng rắn Về ngắn hạn, những quyết sách này gây ra khó chịu cho dân chúng, nhưng lại mang đến hiệu quả lâu dài Chính phủ đã xử lý khéo léo và uyển chuyển các vấn đề nảy sinh từ khía cạnh sắc tộc, biến chúng thành động lực thúc đẩy quan hệ với các quốc gia chia sẻ sự thân thuộc về giá trị văn hóa

Với một không gian phát triển nhỏ, chỉ tương đương diện tích huyện đảo Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh, và là một xã hội mở có mức độ đa dạng cao về mặt sắc tộc, Singapore đã thực thi chính sách dân tộc theo hướng cân bằng và trung lập hóa trong quan hệ với từng sắc tộc Thành công của Singapore trong công cuộc xây dựng và phát triển đã vượt ra khỏi giới hạn về lãnh thổ và không gian tồn tại, mà quan trọng là nhờ việc giải quyết tốt các vấn đề nội tại, góp phần giảm sức ép lên chính sách đối ngoại

Một chính sách dân tộc thực dụng và linh hoạt cùng với một chính sách đối

ngoại với những nguyên tắc kiên định đã làm nên “phong cách Singapore” trong

quan hệ quốc tế

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Singapore ra đời trong bối cảnh hệ thống luật quốc tế chưa hình thành, các nước nhỏ thường bị các nước lớn chi phối hoặc biến thành chư hầu, nhưng lại là một trong số ít các nước thành công trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Với chính sách đối ngoại năng động, linh hoạt nhưng kiên trì nguyên tắc lợi ích quốc gia trong mọi hoàn cảnh và mọi thử thách, Singapore đã có những thành công ngoạn mục trong hơn bốn thập kỉ phát triển cũng như khắc phục được những hạn chế do lãnh thổ gây nên.1

Xuất phát từ hoàn cảnh là một quốc gia đa sắc tộc, chủ yếu là dân nhập cư, cùng với hạn chế do yếu tố không gian lãnh thổ gây ra, yếu tố sắc tộc luôn có tác động thường trực lên việc hoạch định chính sách của Singapore Chính sách đối

ngoại, do đó, luôn phải thực hiện nguyên tắc cân bằng nhằm đảm bảo các mục tiêu

và lợi ích quốc gia

Việt Nam, xét về bối cảnh lịch sử cũng như về vị trí địa lý, có những điểm khá tương đồng với Singapore Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, đòi hỏi Việt Nam phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập về chiều sâu, ổn định, bền vững theo các nguyên tắc đã được Đảng và Nhà nước đề ra

Đồng thời, “nhằm giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế

thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ

1Dương Văn Quảng (2007), “Về chính sách đối ngoại độc lập tự chủ và năng động của Singapore”, Tạp chí

Nghiên cứu Quốc tế, số 3 (70) tháng 09/2007.

Trang 10

và tiến bộ xã hội”2, Việt Nam cần nghiên cứu và học tập những kinh nghiệm phát

triển, cũng như tiếp thu bài học về phương thức cân bằng trong chính sách ngoại

giao của Singapore để đạt được các mục tiêu và chính sách đã đề ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một nước nhỏ, nhưng cùng với quá trình phát triển liên tục trong hơn bốn thập niên qua, Singapore đã không ngừng tự tích lũy và xây dựng nền tảng học thuật về ngành Quan hệ quốc tế Mặt khác, chính sách đối ngoại của Singapore – đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khu vực cũng như quốc tế, điển

hình là Michael Leifer (Singapore’s Foreign Policy: Coping with Vulnerability) và

N Ganesan (Realism and Interdependence in Singapore’s Foreign Policy), cùng

với một số học giả khác – cũng đóng góp đáng kể vào thư mục về nghiên cứu Quan

hệ quốc tế của Singapore

Thời gian gần đây, nhiều nhà nghiên cứu trong nước bắt đầu báo động về tình hình nghiên cứu khu vực Đông Nam Á không đáp ứng kịp thời các yêu cầu và tính chất của ngành Quan hệ quốc tế hiện đại Đặc biệt, tại Thành phố Hồ Chí Minh

vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về tác động của yếu tố sắc tộc đối với phương

thức cân bằng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia, mà cụ thể là phương thức cân bằng trong chính sách đối ngoại của Singapore.

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu

và phân tích chính sách đối ngoại của Singapore kể từ khi giành được độc lập đến nay (chủ yếu từ sau thời kỳ Chiến tranh lạnh) nhằm tìm hiểu về cách thức mà quốc

gia này đã thực hiện phương thức cân bằng dựa trên tác động của yếu tố sắc tộc.

Với đề tài “Yếu tố sắc tộc trong chính sách đối ngoại Singapore”, nhóm

nghiên cứu hi vọng có thể đề xuất một số ý kiến cơ bản về việc vận dụng những

2Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần X của Đảng Cộng sản Việt

Nam, NXB Chính trị Quốc gia, TPHCM.

Trang 11

thành công trong phương thức cân bằng của Singapore vào tình hình thực tiễn của

Việt Nam, đặc biệt đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu, tiếp thu và vận dụng một số vấn đề

về phương thức xây dựng chính sách đối ngoại từ góc độ của chủ nghĩa kiến tạo và

chủ nghĩa hiện thực trong Quan hệ quốc tế Bên cạnh đó, nhóm đã sử dụng chủ yếu

phương pháp thư viện (tìm kiếm và tổng hợp, phân tích tư liệu từ nhiều nguồn khác)nhằm cố gắng bổ sung và hoàn thiện hơn nữa về mặt cơ sở lý luận cũng như phương pháp nghiên cứu cho đề tài

5 Giới hạn của đề tài

Đề tài sẽ tập trung vào phân tích chính sách đối ngoại của Singapore trong tương quan với hai quốc gia Trung Quốc và Malaysia từ năm 1965 đến nay, dựa trên việc hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại xét từ những tác động của yếu

tố sắc tộc

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài “Yếu tố sắc tộc trong chính sách đối ngoại Singapore” hi vọng sẽ

đóng góp một đề tài nghiên cứu khoa học về tầm ảnh hưởng của yếu tố sắc tộc đối với việc hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của một quốc gia nhằm bổ sung thêm kiến thức cơ bản cho sinh viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Nhóm nghiên cứu hi vọng góp phần nâng cao khả năng lý luận về lý thuyết

phương thức cân bằng của sinh viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế tại Thành phố

Hồ Chí Minh Đồng thời phác thảo cơ bản một số ý tưởng cũng như bước đầu đề xuất một số kinh nghiệm tham khảo cho các nhà kỹ trị của Việt Nam về cách thức

Trang 12

“cân bằng hóa” sức ép từ bên ngoài trong quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế và khu vực trên các lĩnh vực khác nhau.

8 Kết cấu của đề tài

Với những mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, đề tài “Yếu tố sắc tộc trong

chính sách đối ngoại Singapore” được chia thành các chương mục như sau:

Chương 1 – Tổng quan về tình hình sắc tộc Singapore: Chương này tập

trung nghiên cứu về sự hình thành, đặc tính, vị thế của các cộng đồng trong lịch sử phát triển của Singapore

Từ đó, phân tích nền tảng sắc tộc và sự biến đổi dữ dội về kết cấu dân cư –

xã hội đã khắc họa nên chân dung một “bức khảm văn hóa” đa dạng tại đảo quốc

Chương 3 – Tác động của yếu tố sắc tộc đối với chính sách đối ngoại của Singapore: Chương này tập trung phân tích những ảnh hưởng do các yếu tố nội tại

tác động lên sự hình thành chính sách đối ngoại của Singapore

Từ đó vạch ra những thành công cũng như hạn chế trong phương thức cân

bằng mà quốc gia này đã thực hiện nhằm điều hòa các vấn đề sắc tộc.

***

Trang 13

Do hạn chế và thiếu sót về mặt học thuật cũng như kinh nghiệm nghiên cứu, nhóm thực hiện trông đợi những hiệu chỉnh, bổ sung chuyên môn quý báu từ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và những góp ý, phản hồi từ các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện.

Nhóm thực hiện

Trang 14

Cho đến đầu thế kỷ XIX, đảo Singapore vẫn rất hoang vắng Năm 1819, khi Stanford Raffles cập bến sông Singapore, chỉ có khoảng vài trăm người sinh sống bằng nghề chài lưới dọc theo hai bờ sông Chỉ sau khi Singapore trở thành thương cảng tự do và hoạt động buôn bán nhộn nhịp thì số dân trên đảo mới tăng nhanh Trước hết người Hoa và người Malay di cư từ Malacca đến; tiếp theo đó là người Indonesia đến từ các đảo lân cận và đảo Java Người dân Ấn Độ đến từ Penang và một số lính phục vụ dưới quyền của Stanford Raffles.” 3

1.1.1 Cộng đồng người Hoa tại Singapore

Đợt di dân người Hoa đầu tiên xuất hiện vào thời thượng cổ, 4 và từ đó về sau các đợt di dân khác diễn ra thường xuyên hơn trong lịch sử quan hệ giữa Trung Hoa đại lục và khu vực Đông Nam Á

3 Dương Văn Quảng (2007), Xingapo đặc thù và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.25-26.

4 Viện Thông tin Khoa học Xã hội, “Những người Trung Quốc ở hải ngoại”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số

TN 93-61, Hà Nội, dẫn theo: De Beer Luong Brigitte (1993), Les Chinols d’outre-mer, “Défense Nationale”.

Trang 15

Nguyên nhân của các luồng di cư này chủ yếu là do tác động của ba yếu tố: kinh tế, chính trị và xã hội.

Về mặt chính trị, vào giai đoạn cuối Minh đầu Thanh, chiến tranh loạn lạc

thường xuyên xảy ra nên nhiều tổ chức “phản Thanh phục Minh” xuất hiện Và để bảo vệ sự cai trị của mình, nhà Thanh không ngừng khủng bố, càn quét những tổ chức này Do đó, một phần lớn người Hoa di cư ra nước ngoài ở giai đoạn này là những người có tư tưởng chống đối chính quyền nhà Thanh

Về mặt xã hội, dân thường không chịu đựng được cảnh chiến tranh, loạn lạc

nên rời khỏi Trung Quốc tìm chốn an cư lạc nghiệp Đặc biệt, số dân thường di cư tăng cao vào giai đoạn Trung Quốc đương đầu với sự xâm nhập của thực dân phương Tây và kết quả là bị buộc phải mở cửa, trở thành “cái bánh béo bở” cho quân xâm lược xâu xé

Về mặt kinh tế, chiến tranh loạn lạc gây khó khăn cho việc phát triển thương

nghiệp nên một bộ phận thương nhân đã rời khỏi Trung Quốc, mang theo khốilượng tài sản lớn đến nơi khác lập nghiệp Đặc biệt, vào giai đoạn trước Chiến tranh nha phiến (1840-1842) với đế quốc Anh, triều đình phong kiến Trung Quốc thực

hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” khiến cho giới thương nhân cảm thấy rất “ngột

ngạt” và bị gò ép vì họ muốn mở rộng buôn bán với bên ngoài Chính vì thế, đây cũng là l ý do khiến một bộ phận không nhỏ di cư đến nơi khác để tìm cơ hội làm ăn thuận lợi hơn

Điểm đến chủ yếu của ba luồng di cư người Hoa nói trên chính là khu vực Đông Nam châu Á, vùng Biển Nam hay Nangyang (Nam Dương) theo cách gọi của người Hoa Trong đó, Singapore nổi lên như là một trong những điểm đến thu hút

nhất, như Thomas Stafford Raffles đã từng nhận định: “Thành phố Singapore của

tôi thực chất đã lôi cuốn những người Hoa ôn hòa, cần cù, tham vọng” 5

Không giống những thương cảng khác trong khu vực, Singapore là một thương cảng mở và được hưởng rất nhiều ưu đãi từ giới cầm quyền, trong đó quan

5 Joseph B Tamney (1996), The Struggle Over Singapore‘s Soul, Western Modernization and Asian Culture,

Walter de Gruyer, Berlin, New York, p.3, dẫn theo: T George 1973:11.

Trang 16

trọng nhất là chính sách miễn thuế đối với các thương thuyền cập cảng Thêm vào

đó, dù là thuộc địa của thực dân Anh, nhưng Singapore không chịu sự bóc lột nặng

nề Một mặt, do đây chỉ là đảo nhỏ nên không có tài nguyên để khai thác Mặt khác, người Anh xem Singapore là thương cảng trung chuyển, là trụ sở để đặt bộ máy cai trị, giám sát những thuộc địa khác trong khu vực nên đã kiến thiết Singapore trở thành một nơi mang đậm bản sắc châu Âu Chính vì vậy, nhu cầu lao động phục vụtrong quân đội, cũng như phục vụ cho cuộc sống thượng lưu của giới chức cầm quyền và công dân Anh sinh sống tại đây đã biến Singapore thành điểm thu hút dân

cư đến từ khắp mọi nơi

Không chỉ bị hấp lực bởi nguồn cung công việc, người Hoa di cư còn bị nền văn hóa phương Tây tại Singapore thu hút và lôi cuốn Xu hướng tôn sùng văn hóa Tây phương xuất hiện khá phổ biến trong một bộ phận người Hoa tại đây Nguyên nhân là do người Anh có xu hướng thích cộng tác với người gốc Hoa nên đã mở trường học Điều đó, cho nên, bỗng chốc trở thành con đường tiến thân hiệu quả cho những gia đình người Hoa tham vọng Họ cho con em mình vào các trường Anh học và trông đợi vào tương lai tươi sáng đang hứa hẹn phía trước

Như vậy, Singapore đã trở thành miền đất hứa cho người Hoa di cư từ Trung Hoa đại lục Ngày càng có nhiều người Hoa di cư đến đây và, quan trọng nhất, trở thành sắc tộc chiếm đa số ở đảo quốc này từ năm 1827.6

1.1.2 Cộng đồng người Malay tại Singapore

Thực chất, Singapore không phải là vùng đất hoang tại thời điểm Stamford Raffles đặt chân đến đây vào năm 1819 Sông Telok Blangah, sông Kallang và những con sông khác từ lâu đã trở thành nhà của người Orang Laut (hay còn gọi là Sea Nomads) Đồng thời nơi đây cũng có những khu định cư của người Malay dọc theo lưu vực sông Kallang và sông Singapore Ước đoán rằng vào thời điểm này có xấp xỉ 1.000 người sống tại Singapore, bao gồm khoảng 950 người Orang Laut, 20

6 Trần Khánh (1991), “Nhà nước và sự hình thành bản sắc quốc gia – dân tộc Singapore”, Tạp chí Nghiên

cứu Đông Nam Á, số 3 (1991), tr.18 và Bài viết về lịch sử Singapore trên Wikipedia:

http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Singapore

Trang 17

đến 30 người Malay là cư dân theo vua Malay Abdul Rahman đến cai quản vùng đất này và khoảng 20 đến 30 người Trung Hoa 7

Người Malay bản địa ở Singapore không chỉ có nhóm Orang Laut và nhóm Malay mà còn có những nhóm khác như Java, Bawean (hay còn gọi là Boyan), Bugis, Minangkabaus, Banjar và Batak Do vậy, việc khái quát hóa quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Malay ở Singapore sẽ trở nên thiếu sót nếu không đề cập đến cơ cấu sắc tộc này

1.1.2.1 Người Orang Laut (Sea Nomads)8

Người Orang Laut còn được gọi là người Sea Nomads vì chuyên sống theo kiểu du cư trên thuyền ở khắp các vùng biển Họ có bốn nhóm nhỏ hơn được biết đến với các tên gọi: Orang Kallang (hay là Orang Biduanda Kallang), Orang Seletar, Orang Selat và Orang Gelam Năm 1819, theo thống kê có khoảng 500 người Orang Kallang, 200 người Orang Seletar và 150 người Orang Gelam tại Singapore 9

Nhóm Orang Kallang (Orang Biduanada Kallang) sống trên thuyền tại

những khu đầm lầy của sông Kallang, duy trì cuộc sống bằng cách câu cá và thu lượm nguyên liệu từ rừng Sau 1819, vua Temenggong Abdul Rahman chuyển họ đến vùng Sungai Pulau phía bắc eo biển Singapore, song đến 1848 họ bị diệt vong

do dịch đậu mùa

Nhóm Orang Seletar sống tại khu vực đầm lầy của các con sông và một số

hòn đảo nhỏ xung quanh phần đất liền của Singapore Họ thường tụ tập ở vùng biển, đặc biệt là tại cửa sông Seletar Nhóm này duy trì đời sống du mục cho đến những năm 1850 rồi bắt đầu sống trên đất liền và dần dần theo phong cách sống của những nhóm khác

7 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “Migration of Malays to Singapore after 1819”.

8 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Orang Laut (Sea Nomads)”, dẫn theo: Sopher (1977).

9 Xem chú thích (8).

Trang 18

Nhóm Orang Selat sống tại khu vực cảng nước sâu Keppel Người ta tin

rằng việc nghiên cứu kỹ lưỡng thủy văn của cảng Keppel từ đầu thế kỷ XVI đã khiến họ trở thành những cư dân đầu tiên của vùng này Nhóm này bán cá và trái cây cho các thương thuyền đi ngang qua cảng

Nhóm Orang Gelam có nguồn gốc từ một bộ lạc trên đảo Batam của

Indonesia, 10 được vua Temenggong mang đến Singapore khi ông cùng tùy tùngthiết lập những khu định cư tại vùng đất này vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX Nam giới thường sống dọc theo sông Singapore và chèo thuyền cho tàu buôn, trong khi vợ con họ bán trái cây trên tàu

Nhìn chung, khác biệt giữa người Orang Laut với người Malay thể hiện ở chỗ: người Orang Laut chuộng lối sống du cư trên thuyền ở sông hoặc biển, cònngười Malay có tập quán định cư trong những ngôi làng trên đất liền

1.1.2.2 Người Malay

Như đề cập ở trên, vào thời điểm Raffles đến Singapore đã có hàng trăm người Malay bản địa sinh sống Lượng người Malay tăng dần khi có một luồng nhập cư đến từ lục địa Malaya và quần đảo Malaya11 (như các bang Riau, Sumatra, Penang, Malacca và Johore của Malaysia) do chính sách phát triển Singapore thành một trung tâm thương mại và hành chính của người Anh Số liệu của cuộc điều tra dân số vào năm 1931 cho thấy tổng số nam giới người Malay làm việc tại đây là

10 Đảo Batam thuộc tỉnh Riau Islands của Indonesia, có diện tích 415 km2, nằm cách bờ biển phía Nam của Singapore 20 km Đảo có số dân đông nhất toàn tỉnh 724.315 người (số liệu tháng 12/2007), bao gồm 85% là người Malay, 14% là người Trung Hoa và vài bộ lạc Orang Laut bản xứ.

Đảo Batam còn được biết đến như là một khu vực thương mại tự do (FTZ – Free Trade Zone) theo thỏa thuận

hợp tác Sijori Growth Triangle ký kết giữa Singapore, Johor và Riau Islands vào năm 1989 với mục đích tạo

ra sức mạnh cạnh tranh tổng hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư khu vực và quốc tế.

Còn tỉnh Riau Islands (tiếng Indonesia là Riau Kepulauan hoặc Kepri Kepulauan) tiền thân thuộc tỉnh Riau

của Indonesia Sau, tỉnh Riau được tách ra thành Riau Archipelago, Natuna Islands, Anambas, Lingga Islands

và thành phố chính Tanjung Pinang từ từ tháng 7/2004.

Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Batam_Island ,

http://www.batam.go.id/home/eng/data_kependudukan.php ,

http://en.wikipedia.org/wiki/Riau_Islands_Province , http://en.wikipedia.org/wiki/Sijori_Growth_Triangle

11 Thuật ngữ gọi là Malaya Archipelago, bao gồm các đảo chính như: Borneo, Java, Luzon, Mindanao, New

Guinea, Sulawesi và Sumatra.

Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malay_Archipelago

Trang 19

11.290 người, trong đó 18% làm nghề chài lưới và 12% sống nhờ vào hoạt động nông nghiệp.12

Vào khoảng những năm 30 và 50 của thế kỷ XX, rất nhiều công dân Malay

đã phục vụ trong quân đội Anh Chỉ tính riêng trong năm 1957 đã có hơn 10.000 người Malay làm việc trong lĩnh vực này do họ được người Anh ưa chuộng hơn người Java và người Malay đến từ Indonesia 13 Nhưng vào giai đoạn 1957-1970, hầu hết số này đã quay về Malaysia khi kết thúc thời hạn làm việc

Theo thời gian, cư dân người Malay chiếm một cơ cấu đáng kể tại Singapore Dưới đây là bảng số liệu thống kê lượng người Malay trong tổng thể dân số của Singapore: 14

of Statistics, 1970, p.53); Khoo Chian Kim, Census of Population 1980, Singapore Release, No.1 (Singapore,

Department of Statistics, December 1980, p.12).

Trang 20

Năm Dân số Singapore Số người Malay Tỉ lệ %

Nhóm Java đến từ đảo Java của Indonesia, đứng thứ hai trong cơ cấu người

Malay ở Singapore Đặc biệt, cộng đồng môi giới hành hương (pilgrim brokers) đã

góp phần quan trọng trong việc thu hút người nhập cư vào Singapore 15 Sau Thế

15 Do vị trí chiến lược của khu vực (đã được người Hà Lan thiết lập từ trước) khiến cho số người Java hành hương về thánh địa Mecca bằng con đường ngang qua Singapore gia tăng đáng kể Từ giữa thế kỷ XIX cho đến năm 1910 đã có 2.000-7.000 người Java hành hương ngang qua đây cho đến khi quy định này được nới lỏng Thông thường, những người hành hương sẽ làm việc tại Singapore vào trước hoặc sau chuyến đi để kiếm thêm tiền hay trả nợ cho người môi giới hành hương Nhiều người trong số họ ở lại Singapore và trở thành một phần của cộng đồng Hồi giáo tại đây.

Trang 21

chiến thứ hai, số người Java đã xấp xỉ con số 10.000 do chính sách tuyển lính của quân Nhật 16 và luồng di cư đến từ Malaya 17

Nhóm Bawean (hay Boyan) đến từ đảo Bawean 18vào cuối thế kỷ XIX Họ xây dựng Kampung Boyan (làng của người Boyan) từ thời vua Abdullah bin Abdul Kadir 19 Người Bawean và người Java chia sẻ giá trị chung về tín ngưỡng, chủng tộc nên hòa trộn một cách tự do và dần dần cà hai nhóm đều trở thành người Malay

Nhóm Bugis hầu hết là thương nhân đến từ đảo Celebes 20Đầu thế kỷ XIX,

số lượng thương nhân Bugis tại khu vực ngày càng tăng Chính điều này đã thu hút một số lượng lớn tàu thuyền cập cảng Singapore

Nhóm Minangkabaus đến từ đông Sumatra, đặc trưng bởi trật tự xã hội và

“chủ nghĩa xê dịch” 21 Họ nhập cư vào Malaysia và Singapore từ rất lâu đời Khi Người Java đến Singapore hoàn toàn tự nguyện, thông qua sự giúp đỡ của các tay môi giới và phần lớn đều là thanh niên trẻ Các thanh niên này được ở trong khu tạm trú của người môi giới cho đến khi tìm được công việc thích hợp Họ thường bán thức ăn, làm vườn và xây dựng nhà cửa cho các tay môi giới khác trong thành phố Đồng thời, các tay này sẽ chuyển những người còn thiếu nợ sang bang Johore của Malaya chặt cây rừng

để lấy đất xây dựng các khu dân cư mới Hoạt động này kéo dài cho đến những năm 20 của thế kỷ XX mới kết thúc Chỉ tính riêng giai đoạn 1886-1890 đã có đến 21.000 người Java trở thành con nợ của Ủy ban bảo

hộ người Hoa Singapore (Singapore Chinese Protectorate) – một tổ chức do người Anh sáng lập vào năm

1877 nhằm kiểm soát dân cư người Hoa – và phải làm việc trong các đồn điền cao su Sau khi xóa được nợ,

họ tiếp tục khai phá đất đai và định cư tại Johore.

Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Javanese”, dẫn theo: Roff, 1967:37; Roff, 1967:39; Roff, 1967:43.

16 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Javanese”, dẫn theo: Turnbull, 1976:216.

17 Điều tra dân số năm 1970 cho thấy có 21.324 người Malay được sinh ra tại Malaya (sau này là Malaysia)

đã chuyển đến Singapore vào giai đoạn 1946-1955 Con số này vào các năm 1956-1970 là 29.679 người Đa

số đều là các thanh niên trẻ gặp lúc sa sút nên muốn đến Singapore tìm kiếm cuộc sống mới Tuy nhiên, do

có trình độ học vấn thấp và kĩ năng làm việc kém nên họ chuyên nhận công việc lao động chân tay, đặc biệt

là vào những năm trước chiến tranh.

Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Javanese”, dẫn theo: Census 1970:262-3.

18 Cái tên “Bawean” trong tiếng Sanskrit có nghĩa là “There is sunlight”, tạm dịch là “Ánh sáng mặt trời” Đảo Bawean thuộc khu vực biển Java, cách Surabaya 200 km về phía bắc, dân số khoảng 65.000 người, trong đó có 40.000 người sống tại thành phố chính Sangkapura và số còn lại sống tại những ngôi làng nhỏ nằm rải rác xung quanh hòn đảo.

Sankapura là thành phố lớn thứ hai của Indonesia, là trung tâm hành chính của tỉnh East Java Đến năm 2007, dân số của thành phố này đã xấp xỉ 4 triệu người.

Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Bawean_Island , http://en.wikipedia.org/wiki/Surabaya

19 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Munshi_Abdullah

20 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Celebes_Islands

21 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Minangkabaus”.

Trang 22

Singapore độc lập năm 1965, hầu hết nhóm Minangkabaus tại Singapore di cư đến Malaysia hoặc quay về Sumatra Số còn ở lại dần dần bị đồng hóa với cộng đồng Malay.

Nhóm Banjar22 có nguồn gốc từ vùng biển Kalimantan 23 Họ nhập cư với mục đích truyền bá đạo Hồi, thoát khỏi đói nghèo và ách cai trị của người Hà Lan

Số khác muốn thoát khỏi sự đe dọa của các loài động vật hoang dã nguy hiểm Đến những năm 1980-1990, nhóm Banjar đã gần như đồng hóa hoàn toàn với cộng đồng Malay

Nhóm Batak24 đến Singapore với lý do chính là giáo dục Họ là nhóm thiểu

số nhất trong cộng đồng người Malay Cho đến năm 1978, tại Singapore chỉ còn khoảng 350 người Không giống các nhóm khác theo đạo Hồi, số đông người Batak theo Cơ đốc giáo Nhưng sau khi kết hôn với người Malay, nhiều người đã cải sang đạo Hồi

Mặc dù người Malay ở Singapore có nguồn gốc chủ yếu từ sự pha trộn các nhóm người khác nhau, họ vẫn được thừa nhận là người Singapore bản xứ theo

Điều 152, Phần XIII của Hiến pháp Singapore 25

Trong bảng 2 thể hiện thành phần các nhóm tộc trong cộng đồng Malay ở Singapore trong khoảng 60 năm: 26

22 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Banjar”.

23 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Kalimantan

24 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “The Batak”.

25 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “Status of Malays in Singapore” dẫn theo: The Singapore Constitution, Part XIII, General Provisions, Minorities and Special Position of Malays, Section 152:

“The Government shall exercise its functions in such manner as to recognise the special position of the Malays, who are the indigenous people of Singapore, and accordingly it shall be the responsibility of the Government to protect, safeguard, support, foster and promote their political, educational, religious, economic, social and cultural interests and the Malay language”.

26 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Malays_in_Singapore , “Ethnic Composition of Malay Population

1931-1990”, dẫn theo: Arumainathan 1973, Vol 1:254; Pang, 1984, Appendix m; Sunday Times, 28 June 1992.

Trang 23

Về tinh thần cố kết của người Hoa, khi đến vùng đất mới, họ thường lập

chợ, chùa chiền, hội quán nhằm giữ gìn các giá trị truyền thống cho những người xa quê cũng như lập ra trường học cho chính con em mình Bên cạnh đó, hoạt động bang hội rất mạnh cũng là một “kênh” hiệu quả khiến họ cực kỳ gắn kết với nhau

Do đó, người Hoa vẫn bảo tồn tốt những đặc trưng riêng, nhất là tư tưởng Khổng giáo và tục thờ cúng tổ tiên

Trang 24

Về sự đa dạng ngôn ngữ, do người Hoa di cư từ các vùng miền khác nhau

của Trung Quốc nên khi đến Singapore họ không dùng tiếng Anh mà vẫn nói tiếng địa phương Trong số này chủ yếu là tiếng Hokkien (Phúc Kiến), Teochew (Triều Châu), Cantonese (Quảng Đông), Hakka (Hẹ) và Hainanese (Hải Nam)

Về mặt giáo dục, dù cho nền Tây học tại Singapore đã phát triển từ rất sớm,

cũng như có một bộ phận thiểu số người Hoa tham vọng mong muốn mưu cầu lập thân bằng con đường Tây học, thì hầu hết cộng đồng người Hoa ở đây vẫn duy trì

hệ thống đào tạo riêng Cụ thể, họ có cả một loạt các trường Hoa học trải dài từ bậc tiểu học cho đến bậc đại học Họ thậm chí vẫn sử dụng sách giáo khoa nhập từ Đại lục và Đài Loan trong một thời gian dài và học lịch sử Trung Hoa

Về sự hòa nhập và tinh thần dân tộc, người Hoa không gây ra nhiều sự thù

nghịch hoặc các vấn đề nghiêm trọng Rất nhiều người hòa nhập xã hội tốt thông qua việc gắn kết với dân cư địa phương, nói tiếng bản ngữ và tuân theo những phong tục tập quán chung

Luận ngữ Trung Hoa có câu: “Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi

bất hòa” Đây là câu nói kết tinh nghệ thuật xử thế, hàm chứa nhận thức sâu sắc về

quy luật tồn tại và phát triển của sự vật “Hòa nhi bất đồng” có thể được hiểu là

“hòa bình cùng tồn tại, phát triển với sự khác biệt”, và đơn giản là “hòa nhập mà không hòa tan”.27 Câu nói trên dường như thấm nhuần trong ý nghĩ của người Hoa, trong trường hợp này là sự khác biệt giữa văn hóa người Hoa với văn hóa Malay bản địa Do đó, họ nỗ lực tiếp biến và hòa nhập với văn hóa mới, song vẫn cố gắng gây tác động ngược trở lại

Song, người Hoa ở Singapore có sự phân hóa tâm lý nhất định về tinh thần dân tộc Có một bộ phận ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa phương Tây đúng như Lý

Quang Diệu nhận định: “Dù vẫn còn giữ nhiều nét văn hóa Trung Quốc, nhiều

người trong số họ đã thôi sử dụng tiếng địa phương của mình, và chỉ nói tiếng Malay… Phần lớn họ trung thành với nước Anh, và họ gửi con cháu đến các trường

27 Dã Thảo (2007), “Hòa nhi bất đồng – Gia tài tinh hoa văn hóa Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung

Quốc, số 7 (77).

Trang 25

tiếng Anh ở địa phương với hi vọng rằng cuối cùng chúng sẽ trở thành những viên chức chính phủ và những chuyên viên trong một thuộc địa được cai trị bằng tiếng Anh Các phần tử trung thành nhất gia nhập Hội Anh Hoa vùng eo biển được dân chúng gọi chung là người Hoa quý tộc Các thành viên của họ được phong tước quý tộc.”28Tuy nhiên, số này chỉ chiếm thiểu số của cộng đồng.

Số khác không bị đồng hóa, vẫn có cuộc sống riêng và rất ít khi giao tiếp với chính quyền thực dân Anh Họ mang tư tưởng nước lớn, luôn luôn hướng về Trung Quốc đại lục với tâm lý “đất khách” khá rõ ràng: sau khi kiếm được một khoản kha khá sẽ quay trở về cố hương sinh sống Thậm chí, trước và sau khi Singapore độc lập, cộng đồng người Hoa ở đây vẫn luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Trung Quốc

Ý thức dân tộc này có thể gọi nôm na là “chủ nghĩa dân tộc của người Hoa ở hải

ngoại”: phần lớn người Hoa ở hải ngoại dù là công dân nước sở tại nhưng vẫn

coi mình là người Trung Hoa.

Tuy nhiên, ý thức tự hào dân tộc trong người Hoa di cư chỉ thực sự định hình sau khi Tôn Trung Sơn thành công với tư tưởng “Tam dân” trong cách mạng Tân Hợi Điều này đã tạo nên niềm tin, niềm tự hào cho người Hoa ở hải ngoại khiến họ khá “e dè” với những luồng tư tưởng phương Tây Chủ nghĩa dân tộc đặc biệt dâng cao trong bộ phận Hoa kiều, thể hiện qua việc tích cực ủng hộ nhiều mặt cho phongtrào kháng chiến khi phát xít Nhật đánh chiếm Đông Bắc Trung Quốc

Trong thời gian Nhật chiếm đóng Đông Nam Á, chủ nghĩa dân tộc của người Hoa tại khu vực, đặc biệt là tại Malaya (bao gồm Singapore) dâng lên cực kỳ mạnh

mẽ Chính sách “chia để trị” của người Nhật - như đối xử tốt hơn với người Malay, dùng người Malay đàn áp người Hoa - đã dẫn đến sự bùng nổ thù hằn giữa người Hoa và người Malay Sự nghi kỵ và thù hằn dân tộc giữa hai nhóm cộng đồng này được nhân lên từ khi Nhật đầu hàng Đồng minh (1945) 29

28 Lý Quang Diệu (2000), Hồi ký Lý Quang Diệu, NXB TPHCM, tr.79-80.

29 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.25.

Trang 26

Khi cách mạng Trung Quốc thành công (1949), chủ nghĩa dân tộc của người Hoa bị phân hóa thành cực tả do Đảng Cộng sản Malay lãnh đạo và cực hữu do Quốc dân Đảng kiểm soát Trên thực tế, cả hai trường phái đều nuôi dưỡng một chủ nghĩa dân tộc Đại Hán hướng về quê cha đất tổ Một số thiếu thiện chí và tinh thần hòa nhập xây dựng quốc gia Singapore mới trở nên độc lập, phồn thịnh Thậm chí, nhiều học sinh người Hoa không học tiếng Anh và tiếng Malay, chỉ “say sưa” với tiếng Hoa phổ thông (tiếng Quan Thoại) Sách giáo khoa sử dụng ở các trường Hoa chủ yếu xuất bản tại Thượng Hải và Đài Bắc Học sinh được học nhuần nhuyễn các môn văn học, lịch sử và địa lý Trung Hoa Năm 1954, học sinh một số trường của người Hoa tẩy chay việc dạy tiếng Anh và ẩu đả với cảnh sát 30

Về vai trò trong sự nghiệp phát triển của Singapore, cộng đồng Hoa kiều

đã có những đóng góp và tác động rất lớn đến xã hội

Người Hoa nổi tiếng với truyền thống kinh doanh tài tình: có chiến lược làm kinh tế dài hạn, biết tiếp thu khoa học công nghệ và phương pháp quản lý của phương Tây, có ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và kỷ luật cao Ngay từ những ngày đầu thành lập Singapore, cộng đồng này đã góp phần không nhỏ vào việc biến đổi nền kinh tế bán khép kín, nhân công rẻ mạt, chủ yếu dựa vào sức lao động con người trở thành một nền kinh tế thị trường mở, hưng thịnh

Một đóng góp quan trọng nữa của người Hoa là cách huy động nguồn vốn và

sử dụng nguồn vốn đó Nhận thức được tầm quan trọng của tư bản trong kinh doanh, họ rất có ý thức tích lũy tư bản thông qua việc triệt để tôn trọng giá trị hàng đầu: “chữ tín”.31Số vốn ngoại tệ của người Hoa tại Singapore lên đến 43,7 tỷ USDtính trên 2.360.000 người 32

30 Xem chú thích (28).

31 Châu Thị Hải (1998), “Vị trí kinh tế người Hoa ở các nước ASEAN”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số

3 (32), tr.23.

32 Châu Thị Hải (1999), “Làm thế nào để huy động nguồn lực kinh tế của người Hoa cho sự phát triển bền

vững của các nước ASEAN”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 (35), tr.17.

Trang 27

Người Hoa còn có hình thức kinh doanh mạng rất đặc trưng Đây chính là hình thức liên kết, liên doanh người Hoa ở các quốc gia khác nhau, hình thành đặc trưng tập trung tư bản theo xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa.33

Singapore có ba tập đoàn tài chính hùng mạnh là Đại Hoa, Hoa Kiều và Hoa Liên đều do người Hoa khống chế và được xếp trong danh sách 500 ngân hàng lớncủa người Hoa trên thế giới Đại Hoa là ngân hàng có số vốn lớn nhất, với 135 chi nhánh trong và ngoài nước Tiếp theo là Hoa Kiều, có lịch sử hình thành lâu đời nhất, khống chế 70 công ty trực thuộc trong và ngoài nước, trực tiếp chi phối ngân hàng xuyên đại dương Tứ Hải Thông Hoa Liên đứng thứ ba, làm chủ 32 công ty trong và ngoài nước, trong đó có bốn siêu thị lớn ở Trung Quốc Ngoài ra còn có các tập đoàn kinh tế của người Hoa hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản như gia đình họ Quách, họ Hoàng, họ Thái,… 34

Trong giai đoạn tư bản nước ngoài thâm nhập thị trường Đông Nam Á, với lợi thế về nguồn vốn sẵn có và sự nhạy bén về thị trường, người Hoa ở Singapore đã sớm tiếp xúc với khoa học kỹ thuật phương Tây và ứng dụng có hiệu quả công nghệ tiên tiến của các nước phát triển vào thực tiễn sản xuất

1.2.2 Tác động từ cộng đồng người Malay

Về mặt dân cư, tỉ lệ người Malay sinh ra tại Singapore lớn hơn các cộng

đồng khác Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của họ thậm chí cũng cao hơn người Hoa

và các dân tộc khác 35 Tuy nhiên, dù cộng đồng này chiếm xấp xỉ 15% tổng số dân

cư nhưng sức lao động của họ chỉ đạt khoảng 8,5% 36

Về mặt tôn giáo, theo số liệu thống kê năm 1931, chỉ có 0,1% người Hoa

theo đạo Hồi trong khi tỉ lệ tương ứng ở người Malay là 100% Đến năm 1980, tỉ lệ

33 Châu Thị Hải (1999), tlđd, tr.18.

34 Châu Thị Hải (1998), tlđd, tr.22.

35 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.19.

36 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.23-24.

Trang 28

người Malay từ 10 tuổi trở lên theo đạo Hồi là 99,4% Như vậy, sự phân hóa dựa trên khác biệt về tín ngưỡng giữa người Malay với các cộng đồng khác thể hiện rất

rõ ràng 37

Không những thế, đa số cộng đồng Hồi giáo tại Singapore (mà người Malay chiếm chủ yếu) cũng khá “nhạy cảm” và có thái độ tương đối khắt khe với những vấn đề có liên quan đến yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng Điển hình như vào tháng 12/1950, xảy ra sự việc một cô gái người Hà Lan – từng được mẹ nuôi người Malay cải sang đạo Hồi – được đưa vào tu viện theo lệnh của Tòa án tối cao Khi báo chí đăng bức hình cô gái quỳ trước tượng Đức Mẹ Đồng Trinh, lập tức khiến những người theo đạo Hồi từng xem cô là một người Hồi giáo nổi giận Họ đã gây ra một cuộc náo loạn suốt mấy ngày liền và giết vô tội vạ những người da trắng Với họ, bất cứ ai liên quan tới Thiên chúa giáo là chống lại đạo Hồi 38

Về mặt lao động, người Malay trước đây chủ yếu làm nghề nông, đánh cá và

dịch vụ giao thông vận tải Hiện nay, phần lớn làm nghề lái xe, công nhân bốc vác

và vệ sinh môi trường Bảng dưới đây thể hiện mức phân bố lao động trong các lĩnh vực hoạt động của mỗi cộng đồng: 39

37Trần Khánh (1991), tlđd, tr.21, dẫn theo: C.A Vlieland, Opcit, pp.203-207; Singapore 1990 (Singapore,

Ministry of Communication and Information, 1990, p.9.

38 Lý Quang Diệu (2000), tlđd, tr.136.

39 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.24, dẫn theo: C.A Vlieland, British Malaya: A Report on the Colonies, 1931,

pp.256-279.

Trang 29

Các ngành kinh tế và dịch vụ dân sinh Người

Hoa

Người Malay

Người

Ấn Độ

Người các dân tộc khác

- Nông nghiệp và đánh cá 11,6 30,5 5,4 2,6

- Công nghiệp 18,1 9,2 7,9 10,1

- Giao thông vận tải và thông tin liên lạc 15,3 31,2 15,6 5,8

- Thương mại và tài chính 23,6 7,0 17,2 20,5

- Quản lý công cộng và phòng thủ 0,2 2,5 3,6 20,2

- Dịch vụ dân sinh 31,2 19,6 50,3 40,8

Bảng 3: Phân bố lao động trong các ngành kinh tế và dịch vụ dân sinh

theo nhóm dân tộc (đơn vị tính: phần trăm)

Từ bảng trên chúng ta dễ dàng nhận thấy lực lượng lao động người Malay chiếm tỉ trọng cao nhất trong các lĩnh vực: nông nghiệp và đánh cá, giao thông vận tải và thông tin liên lạc Trong khi đó, ở khu vực kinh tế và quản lý xã hội lại có rất

ít người Malay tham dự Điều này có lẽ phần nào đã lý giải cho hiện tượng: vị trí của người Malay trong bậc thang địa vị kinh tế - xã hội và chính trị của Singapore không cao, nếu không muốn nói là thấp nhất 40

Về mặt ngôn ngữ, tiếng Malay bình dân là thứ ngôn ngữ đơn giản và được

nhiều người thông hiểu nhất 41 Cộng đồng người Malay, cũng giống các cộng đồng khác, đều có trường học dạy bằng ngôn ngữ Malay trước khi chuyển đổi theo yêu cầu của Chính phủ là dạy thêm tiếng Anh, tiếng Hoa và tiếng Tamil Số liệu các

40 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.19.

41 Lý Quang Diệu (2000), tlđd, tr.303.

Trang 30

năm 1931 và 1947 lần lượt cho thấy chỉ có 4,7% và 6,2% người Malay biết tiếng Anh Đồng thời, số người biết đọc, viết tiếng Malay vào cùng thời điểm năm 1947 cũng chỉ đạt 0,9% ở người Hoa; 4,6% ở người Ấn và 9,6% ở người Âu mặc dù ngôn ngữ này được xem là ngôn ngữ bản địa 42

Vào năm 1959, khi chính phủ Singapore ủng hộ việc coi tiếng Malay là ngôn ngữ chung trong nỗ lực đấu tranh cho sự hợp nhất với Liên bang Malaya, cũng như

sự hòa hợp giữa các cộng đồng chủng tộc tại Singapore, thì vẫn không thể thu hút được cộng đồng người Malay vì lý do chính trị 43Chính điều này đã hình thành nênkhoảng cách giao tiếp giữa nhóm Malay với các nhóm khác

Về mặt giáo dục, kết quả học tập về toán học và khoa học của một số lớn

sinh viên người Malay vẫn thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của những sinh viên ở các nhóm cộng đồng khác

Thủ tướng Lý Quang Diệu từng hồi tưởng lại ấn tượng về các sinh viên

người Malay trong Hồi ký của mình: “… Một sinh viên bang Kedah nói với tôi vào

năm thứ hai, sau khi chúng tôi đã trở thành bạn, “Người Hoa các anh quá năng động và khôn ngoan so với chúng tôi Ở Kedah chúng tôi đã có quá nhiều người Hoa Chúng tôi không chịu nổi sức ép ấy.”44

Chính vì vậy, ngay trước khi sự chia tách diễn ra, giới chức Singapore đã ban hành các chính sách khích lệ tinh thần học tập của người Malay Đồng thời, cũng làm cho họ hiểu rằng không nên trông chờ vào sự giúp đỡ của Chính phủ mà phải

có ý thức tự vươn lên, mặc dù điều này khiến cho cộng đồng người Malay không hài lòng vì cảm giác bị tước đoạt đặc quyền từng quy định trong Hiến pháp Có thể

42 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.23.

43 Lý Quang Diệu (2000), tlđd, tr.316.

44 Lý Quang Diệu (2000), tlđd, tr.33.

Trang 31

kể đến ở đây là chính sách ưu tiên, miễn giảm học phí cho học sinh Malay từ bậc tiểu học đến đại học xuất phát từ Điều 152 của Hiến pháp 45

Về mặt chính trị, trước năm 1965, người Malay ở Singapore chịu ảnh hưởng

rất lớn về xu hướng, quan điểm và diễn biến chính trị từ Malaysia nên có “một tình

cảm sâu rộng bênh vực người Malay và chống lại dân nhập cư”, 46 mà đối tượng cụ thể ở đây chính là người Hoa nhập cư

Khi người Nhật chiếm đóng Singapore trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới

lần hai, họ đã áp dụng chính sách “chia để trị” khiến cho sự thù hằn giữa người

Hoa và người Malay bùng phát Sự kình chống này thậm chí càng lúc càng dâng caosau khi chiến tranh kết thúc 47 Tình hình này khiến cho người Malay - chiếm đa số

ở Malaysia và người Hoa - đa số ở Singapore khó tồn tại hòa hợp

Thêm vào đó, sự hòa hợp giữa hai nhóm còn bị một hàng rào khác ngăn

cách, đó là “sự bất đồng ngày càng tăng về vấn đề Liên bang Malaysia mới thành

lập phải là một xã hội đa chủng tộc hay là một nước do người Malay thống trị” 48

Mâu thuẫn này đặc biệt sâu sắc đến mức khi thủ tướng Lý Quang Diệu vừa đọc lời tuyên bố độc lập cho Singapore vào năm 1965, thì các thương gia tại Chinatown

(phố Tàu) lập tức “đốt pháo chào mừng việc được thoát khỏi nền cai trị sắc tộc của

người Malay ở Kuala Lumpur và rải giấy hoa đỏ rực các đường phố” 49

Vấn đề này có nguyên nhân từ việc người Malay cảm thấy địa vị thống trị của mình đang bị lung lay và bất an do ý nghĩ không thể cạnh tranh bình đẳng được

45 Lê Thanh Hương (2007), “Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công trong phát triển đất nước: Trường

hợp Singapore”, Một số vấn đề về xung đột sắc tộc và tôn giáo ở Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội,

Trang 32

với người Hoa và người Ấn Vì thế, họ quyết định củng cố quyền lực đang có, bất chấp công bằng hay không công bằng, đối với các chủng tộc khác 50

1.3 Chính sách dân tộc của Singapore

Đứng trước những thách thức từ bài toán sắc tộc, các nhà kỹ trị Singapore đã đưa ra nhiều chính sách thực dụng, linh hoạt và khôn khéo, tạo điều kiện cho việc thống nhất dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, nhưng vẫn tôn trọng bốn nguyên tắc sau:

(1) Công nhận người Malay là dân bản địa của Singapore, được ghi nhận trong Hiến pháp của Singapore;51

(2) Tạo môi trường xã hội công bằng cho tất cả các công dân Singapore, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc hay địa vị kinh tế - xã hội;

(3) Bảo tồn “những giá trị truyền thống riêng biệt của các nền văn hóa khác nhau”;52

(4) Thực hiện đồng thời việc xây dựng thiết chế nhà nước, hệ thống pháp luật và việc kiến tạo bản sắc độc đáo Singapore, hai nhiệm vụ này có mối quan hệ hữu cơ với nhau.53

Chính phủ Singapore tôn trọng và nhấn mạnh đa dạng văn hóa, nhưng trên

hết là hướng tới một bản sắc Singapore đặc trưng với ý thức về các giá trị, nhằm

“tạo ra một người Singapore riêng biệt, độc đáo – một con người có cội nguồn gốc

rễ trong các nền văn hóa của bốn nền văn minh lớn nhưng không thuộc về riêng một nền văn hóa nào trong số đó”.

50 Lý Quang Diệu (2000), tlđd, tr.563-564.

51 Xem chú thích (25).

52 Lý Quang Diệu (2001), Bí quyết hóa rồng: Lịch sử Singapore 1965-2000, NXB Trẻ, tr.157.

53Dương Văn Quảng (2008), “Chính sách đối ngoại của Singapore”, Bài nói chuyện tại Học viện Quan hệ

Quốc tế, ngày 17/02/2008.

Trang 33

Do vậy, chính sách của Singapore ngay từ đầu đã hướng đến mục tiêu xóa bỏ

sự bất bình đẳng trong xã hội, tránh mọi xung đột và đạt được sự hòa hợp trong một quốc gia đa sắc tộc, làm cho người Singapore có ý thức về một cộng đồng lớn chứ không chỉ quan tâm riêng dân tộc mình 54 Thậm chí, “nếu một chính sách phục vụ

tốt cho Singapore, nếu nó có thể đưa quốc đảo này tiến tới những mục tiêu thực dụng cao của Thủ tướng, thì đó là một chính sách tốt Nếu chính sách đó không có kết quả, nó bị xếp xó ngay Và chỉ có thế thôi.”55

Giới lãnh đạo Singapore, đứng đầu là thủ tướng Lý Quang Diệu, từ năm

1959 trở đi đã từng bước thực thi một số biện pháp cụ thể sau:

(iv) Tất cả sách giáo khoa phải được “Singapore hóa” về nội dung và phải đa dạng về thể loại 56 nhằm giúp thế hệ trẻ của các dân tộc gần gũi, cảm thông, hiểu biết lẫn nhau và cùng xây dựng một Singapore phồn thịnh;

54 Lê Thanh Hương (2007), tlđd, tr.330-331.

55 Robert Elegant (2004), “Singapore: Con sư tử ở Nam Hải”, Vận mệnh Thái Bình Dương nội cảnh châu Á

ngày nay, NXB Chính trị quốc gia, tr.360.

56 Bao gồm những câu chuyện về thành phố sư tử, ngày độc lập dân tộc, quốc huy, quốc kỳ, sự hình thành các nhóm cộng đồng dân tộc của xã hội Singapore, được giảng dạy tỉ mỉ ở tất cả các trường phổ thông Do trước đây học sinh thuộc các nhóm cộng đồng khác nhau chỉ biết đến nền văn hóa riêng của dân tộc, bây giờ

họ được học hỏi những giá trị truyền thống đặc trưng của các nền văn hóa khác.

Trang 34

(v) Tất cả học sinh trước khi vào lớp phải xếp hàng, chào cờ, hát quốc cabằng tiếng Malay, đọc lời thề danh dự với tổ quốc Singapore bằng tiếng Malay, Trung Quốc, Tamin và tiếng Anh nhằm giáo dục tinh thần yêu nước;

Điều này được hiện thực hóa bằng đề xuất Lời thề quốc gia57năm 1966 của ông Sinnathamby Rajaratnam - ngoại trưởng đầu tiên của Singapore với nội dung(tạm dịch) như sau:

“Chúng tôi, công dân của đất nước Singapore

Nguyện thề rằng chúng tôi là thống nhất

Không phân biệt sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo,

Cùng nhau xây dựng một xã hội dân chủ,

Dựa trên luật pháp và công bằng,

Hướng đến hạnh phúc, thịnh vượng và tiến bộ cho toàn quốc gia.”

Kể từ đó, lời thề này đã trở thành văn bản quan trọng, nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng một quốc gia Singapore mà bất cứ công dân nào đều có thể tự hào

(vi) Thực hiện “nguyên tắc toàn tài” (meritocracy) nhằm thu hút nhân tài,

theo đó, “mọi người không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính và thành phần xuất

thân, đều có cơ hội như nhau để phát huy năng lực và sở trường của mình” 58

“We, the citizens of Singapore

pledge ourselves as one united people,

regardless of race, language or religion,

to build a democratic society,

based on justice and equality,

so as to achieve happiness, prosperity and progress for our nation.”

58Dương Văn Quảng (2007), Xingapo - Đặc thù và giải pháp, Học viện Quan hệ Quốc tế, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội, tr.114.

Trang 35

(franca lingua) ở các nhóm sử dụng tiếng Hoa Các đài phát thanh - truyền hình phát xen kẽ những thứ tiếng khác nhau, song Anh ngữ được ưu tiên phát nhiều nhất;

(ii) Các câu lạc bộ thể dục thể thao được tổ chức theo khu phố, đường phố để mọi người cùng nhau tranh tài;

(iii) Chủ trương xây dựng các cụm dân cư mới, trong đó người Hoa, người Malay và các dân tộc khác được phân bố xen kẽ;59

(iv) Công nhận những ngày lễ đặc trưng của tất cả các nhóm sắc tộc đều là ngày lễ quốc gia 60

Thứ ba, về mặt quân sự - an ninh:

(i) Đưa ra khái niệm quốc phòng tổng thể (total defence) bao gồm năm yếu

tố: tâm lý, xã hội, kinh tế, dân sự và quân sự Theo đó, mọi công dân Singapore đều

có nghĩa vụ bảo đảm sự sống còn, an ninh và sự thành công của đất nước;61

(ii) Cơ cấu lại lực lượng trong SAF (Singapore Armed Force) để đảm bảo sự trung thành của binh lính và quân đội đối với quốc gia, cũng như khẳng định quyền kiểm soát tuyệt đối của chính phủ Singapore;

(iii) Khuyến khích công dân các nhóm sắc tộc khác nhau gia nhập quân đội, đặc biệt chú trọng đến nhóm người Hoa bằng việc thay đổi tâm lý cộng đồng này.62

Như vậy, nhờ giữ vững nguyên tắc cân bằng tuyệt đối, cũng như kết hợp có hiệu quả các biện pháp cụ thể trong việc tiếp cận những vấn đề do đặc thù sắc tộc

đặt ra, chính phủ Singapore đã gần như “tạo cơ hội công bằng cho tất cả các thành

viên trong xã hội, chứ không phải tạo ra điều kiện sinh hoạt công bằng cho tất cả”.

59 Trần Khánh (1991), tlđd, tr.25-26.

60 Dương Văn Quảng (2008), “Chính sách đối ngoại của Singapore”, tlđd.

61Dương Văn Quảng (2007), Xingapo - Đặc thù và giải pháp, tlđd, tr.130-131.

62 Trước năm 1965, quân đội Singapore nằm dưới sự chi phối của người Malay và người Ấn Độ.

Trang 36

Với những điều kiện hết sức thuận lợi về chính sách, công cuộc hòa hợp dân tộc ở đảo quốc này đã bước đầu gặt hái những kết quả tốt đẹp:

(1) Làm hòa dịu mâu thuẫn giữa các sắc tộc và hình thành liên kết trung gian về ngôn ngữ bằng chính sách giáo dục song ngữ linh hoạt, khiến họ dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận văn hóa của nhau.

(2) Rút ngắn khoảng cách biên giới nghề nghiệp giữa các nhóm cộng đồng trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, để hạn chế sự phân hóa giữa các sắc tộc, Chính phủ đã thực hiện một số chủ trương đặc biệt dành riêng cho từng cộng đồng Nhờ đó đã hạn chế được các mâu thuẫn sắc tộc phát sinh trong quá trình tiếp nhận lẫn nhau

(3) Tạo nền tảng cho việc xây dựng một đất nước có tính cố kết xã hội

cao.

Chính phủ xây dựng các cộng đồng đa chủng tộc với mức độ hòa hợp cao, song vẫn tôn trọng và bảo tồn giá trị truyền thống của các sắc tộc tồn tại trong xã hội Việc thể chế hóa chủ trương trên cho phép mọi công dân tham gia hệ thống quan hệ xã hội một cách bình đẳng

(4) Tạo một cơ chế linh hoạt, đối phó thành công với những biến đổi do tình hình thế giới tác động, cũng như do sự phát triển của Singapore mang lại Đặc biệt là tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát triển một

phương thức cân bằng trong chính sách đối ngoại của Singapore.

(5) Góp phần giải tỏa sức ép từ chính sách của một số quốc gia khác nhờ giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong nội tại xã hội.

Vì sự thân thuộc về mặt bản sắc là một trong những yếu tố quan trọng xác lập và định hình nên xu hướng chính trị của các cộng đồng, nên chính phủ

Singapore đã thực hiện nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ của

nhau” nhằm đảm bảo được tính chất đa sắc tộc, đa văn hóa của xã hội Singapore.

Trang 37

Nhờ đó, chính quyền Singapore đã dung hòa được các xu hướng chính trịtrong nước, tìm được tiếng nói nhất quán với các quốc gia trên trường quốc tế và ngăn chặn ý đồ của những thế lực bên ngoài muốn lợi dụng đặc tính trên để can thiệp vào công việc nội bộ của Singapore 63

63 Dương Văn Quảng (2007), Xingapo - Đặc thù và giải pháp, tlđd, tr.126.

Trang 38

Chương 2

SINGAPORE TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI

NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC VÀ

MALAYSIA

2.1 Chính sách của Trung Quốc đối với người Hoa ở Singapore

Trung Quốc bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao và đặt lãnh sự quán với các quốc gia Đông Nam Á kể từ năm 1967 Tầm quan trọng của người Hoa ở khu vực này đối với chính sách ngoại giao của Trung Quốc vốn dĩ bao hàm hai mặt chính trị

và kinh tế 64

Xét về khía cạnh kinh tế, người Hoa có sức khống chế tương đối lớn trong

nền kinh tế của các nước Đông Nam Á Đặc biệt tại Singapore thì hiện tượng trên càng rõ rệt

Xét về khía cạnh chính trị, do dân số đông nên người Hoa đã hình thành

một số tổ chức chính trị có sức ảnh hưởng lớn đến nền chính trị của các nước trong khu vực

Do vậy, chính sách của Chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PRC) đối với người Hoa ở Đông Nam Á được điều chỉnh theo từng thời kì Tùy theo lợi ích quốc gia và các mục tiêu chiến lược mà trong những giai đoạn cụ thể Trung Quốc chú trọng đến quan hệ kinh tế hoặc quan hệ chính trị

64 Viện thông tin Khoa học Xã hội (1995), “Chính sách của Trung Cộng đối với Hoa Kiều ở Đông Nam Á:

Nhìn từ giác độ chính trị và kinh tế”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 95-04, Hà Nội, dẫn theo: Gu

Changyung, Qiong zhengzhi jing ji cengmian iun Zong Gong de Dongnanya Huaqiao zhengse Taipei,

“Zhongguo dalu yanjiu”, 1994 n., d.37j., d.9q.

Trang 39

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1967

Từ đầu thế kỷ XIX, Trung Quốc triều Mãn Thanh xem bộ phận người Hoa hải ngoại là “thần dân của Thiên tử” và không thừa nhận họ Đến khi Singapore độc lập, Trung Quốc coi đây là “mảnh đất của chủ nghĩa thực dân mới”.65

Sau khi thành lập, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa dùng “chính sách song

hướng”, tức là “chính phủ với chính phủ” và “đảng với đảng”, để phát triển quan hệ

với các quốc gia Đông Nam Á và với người Hoa ở khu vực Điều này có thể lý giải bằng hai nguyên nhân sau:

Thứ nhất, người Hoa ở nước ngoài có thế mạnh trong việc triển khai cách

mạng cộng sản ở nước sở tại

Thứ hai, việc thành lập các chính quyền cộng sản trong khu vực có lợi cho

an ninh quốc gia Trung Quốc và “cửa sau” của họ sẽ không bị đe dọa

Vào những năm 1950, khi chính quyền Trung Quốc hãy còn chưa vững chắc, hai lý do này rất được ủng hộ

Thời điểm chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á, Trung Quốc đối kháng với Chính phủ các nước và ủng hộ hoạt động của các Đảng cộng sản thân Trung Đặc biệt, tuy rằng Trung Quốc vốn áp dụng chế độ “hợp nhất đảng và chính quyền”, song lại thực hiện chính sách “tách biệt đảng với chính quyền” đối với các nước chưa thiết lập quan hệ bang giao

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tăng cường sự gắn bó của cộng đồng Hoa kiều với “đất mẹ” và thúc đẩy cách mạng cộng sản ở khu vực Động thái cụ thể là việc thành lập Ủy ban công tác Hoa kiều và xây dựng Đài Phát thanh tiếng Hoa Quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á nói chung và với Singapore nói riêng vào thời điểm này chủ yếu tập trung ở khía cạnh chính trị

Về phần Singapore, quốc gia này “đề kháng” khá mạnh với chủ nghĩa cộng sản Chính sách của Trung Quốc, do đó, mang lại nhiều căng thẳng trong quan hệ

65 Dương Văn Quảng (2007), Xingapo - Đặc thù và giải pháp, tlđd, tr.196.

Trang 40

song phương Tuy nhiên, đây chỉ là mâu thuẫn về lập trường chính trị giữa chính phủ Singapore với chính phủ Trung Quốc nên không tác động nhiều đến quan hệ mậu dịch giữa đôi bên.

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1967 đến trước năm 1978

Năm 1967, Trung Quốc bắt đầu thiết lập lãnh sự quán tại các cựu thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan tại Đông Nam Á, trong đó có Singapore Mục đích nhằm buộc cộng đồng người Hoa trung thành với Trung Quốc và tận dụng khả năng tài chính của họ thông qua kênh quảng bá văn hóa - giáo dục, chứ không nhằm bảo vệ công dân của mình 66

Từ giữa năm 1970, Trung Quốc chưa từ bỏ hoàn toàn “chính sách song

hướng”, nhưng đã chuyển trọng tâm ngoại giao sang quan hệ “chính phủ với chính

phủ” và bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến tiềm năng kinh tế của người Hoa ở Đông Nam Á xét trên khía cạnh viện trợ, mậu dịch,… với Đại lục Nguyên nhân cho sự chuyển hướng này được nhìn nhận bởi hai lý do:

Thứ nhất, do Hoa kiều thường viện trợ cho việc xây dựng Tổ quốc nên sau

năm 1949, Trung Quốc vẫn duy trì và cổ súy cho truyền thống này

Thứ hai, quan hệ mậu dịch phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa cộng đồng

người Hoa ở Đông Nam Á và Trung Quốc

Điển hình như giai đoạn 1965-1969, Singapore và Malaysia luôn là bạn hàng lớn thứ tư của Trung Quốc, chỉ sau Nhật Bản, Hồng Kông (Hương Cảng) và Tây Đức Đáng chú ý là trong khoảng thời gian 1973-1974, dù Trung Quốc chịu tác động nặng nề của Cách mạng văn hóa và Ủy ban công tác Hoa kiều bị đóng cửa, nhưng quan hệ mậu dịch hai bên vẫn không bị ảnh hưởng Nguyên nhân doSingapore và Malaysia vốn là hai thị trường mà Trung Quốc luôn duy trì tình trạng xuất siêu, đồng thời cũng là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu

66 Dương Văn Quảng (2007), Xingapo - Đặc thù và giải pháp, tlđd, tr.195-196.

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Học viện Quan hệ Quốc tế (2003), Thuật ngữ an ninh châu Á – Thái Bình Dương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ an ninh châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Học viện Quan hệ Quốc tế
Năm: 2003
12. Học viện Quan hệ Quốc tế (2007), Tài liệu tham khảo môn Phương pháp nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo môn Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Học viện Quan hệ Quốc tế
Năm: 2007
13. Lê Thanh Hương (2007), Một số vấn đề về xung đột sắc tộc và tôn giáo ở Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xung đột sắc tộc và tôn giáo ở Đông Nam Á
Tác giả: Lê Thanh Hương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
15. Lý Quang Diệu (2001), Bí quyết hóa rồng – Lịch sử Singapore 1965-2000, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết hóa rồng – Lịch sử Singapore 1965-2000
Tác giả: Lý Quang Diệu
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
16. Nguyễn Thùy Vân (2002), Chính sách giữ cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ của Việt Nam từ năm 1995 đến nay, Luận văn tốt nghiệp, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giữ cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ của Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thùy Vân
Năm: 2002
17. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
18. Paul R. Viotti, Mark V. Kauppi (2003), Lý luận Quan hệ quốc tế, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Quan hệ quốc tế
Tác giả: Paul R. Viotti, Mark V. Kauppi
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
19. Phan Thị Hồng Xuân (2003), “Vấn đề dân tộc và một số đặc trưng cơ bản trong quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 (59) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và một số đặc trưng cơ bản trong quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Phan Thị Hồng Xuân
Năm: 2003
20. PGS. Nguyễn Quốc Hùng (2008), “An ninh khu vực Đông Á – Nhìn lại lịch sử và hiện tại”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 (95) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh khu vực Đông Á – Nhìn lại lịch sử và hiện tại
Tác giả: PGS. Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2008
21. Robert Elegant (2004), Vận mệnh Thái Bình Dương nội cảnh châu Á ngày nay, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận mệnh Thái Bình Dương nội cảnh châu Á ngày nay
Tác giả: Robert Elegant
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
23. Thông tấn xã Việt Nam (Hồng Kông 29/5), “Hoa kiều, người Hoa và dân tộc Trung Hoa”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 04/06/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa kiều, người Hoa và dân tộc Trung Hoa”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
24. Thông tấn xã Việt Nam (Xítni 4/8), “Xingapo: Cha nào con nấy?”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 07/08/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xingapo: Cha nào con nấy?”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
25. Thông tấn xã Việt Nam (Hồng Công 13/8), “Xingapo thời Lý Hiển Long”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 190-TTX ngày 17/08/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xingapo thời Lý Hiển Long”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
26. Thông tấn xã Việt Nam (2004), “Người chèo lái Xingapo 14 năm”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 20/08/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người chèo lái Xingapo 14 năm”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2004
27. Thông tấn xã Việt Nam (Hồng Công 23/8), “10 ngày cầm quyền của Lý Hiển Long và triển vọng của Xingapo”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 26/08/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 ngày cầm quyền của Lý Hiển Long và triển vọng của Xingapo”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
28. Thông tấn xã Việt Nam (Niu Yoóc 23/8), “Quan hệ với các nước láng giềng – Sứ mệnh của ngoại giao Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 01/09/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ với các nước láng giềng – Sứ mệnh của ngoại giao Trung Quốc”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
29. Thông tấn xã Việt Nam (2004), “Lý Hiển Long kế nghiệp cha như thế nào?”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 21/09/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Hiển Long kế nghiệp cha như thế nào?”, "Tài liệu tham khảo đặc biệt
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2004
30. Trần Khánh (1991), “Nhà nước và sự hình thành bản sắc quốc gia – dân tộc Singapore”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (1991) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và sự hình thành bản sắc quốc gia – dân tộc Singapore”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Trần Khánh
Năm: 1991
31. Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1995), “Chính sách của Trung Cộng đối với Hoa Kiều ở Đông Nam Á: Nhìn từ giác độ chính trị và kinh tế”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 95-04, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Trung Cộng đối với Hoa Kiều ở Đông Nam Á: Nhìn từ giác độ chính trị và kinh tế”, "Tài liệu phục vụ nghiên cứu
Tác giả: Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Năm: 1995
32. Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1993), “Những người Trung Quốc ở hải ngoại”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, số TN 93-61, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người Trung Quốc ở hải ngoại”, "Tài liệu phục vụ nghiên cứu
Tác giả: Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm