Tuy nhiên, một số vấn đề chính trị quan trọng vẫn nằm trong tay các chính quyền các quốc gia thành viên như việc cải cách Hiến pháp, mở rộng liên minh, ngân sách… Về luật pháp bảo đảm an
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2019
ĐỀ TÀI:
YẾU TỐ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ AN NINH KHU VỰC THÔNG QUA TRƯỜNG HỢP CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) VÀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
(ASEAN)
Nhóm sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Dương Thùy Dương
Thành viên: La Võ Phương Ngân
Lê Khắc Quỳnh Vân
Huỳnh Ngọc Sơn Uyên
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
Trang 2ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2018 – 2019
Tên đề tài: Yếu tố cơ cấu tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề an ninh khu vực
thông qua trường hợp của Liên minh châu Âu (EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Thành phần tham gia thực hiện đề tài
1 Dương Thùy Dương 1 Chủ nhiệm 0858151246 thuyduong.dtd138@gmail.com
2 La Võ Phương Ngân Tham gia 0939054698 phuongngan1401@gmail.com
3 Lê Khắc Quỳnh Vân Tham gia 0937110012 lekhac.quynhvan@gmail.com
4 Huỳnh Ngọc Sơn Uyên Tham gia 0702446867 sonuyenhuynh@gmail.com
TP.HCM, tháng 06 năm 20 19
Trang 3Khoa/Bộ môn Quan hệ Quốc tế
YẾU TỐ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ AN NINH KHU VỰC THÔNG QUA TRƯỜNG HỢP CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) VÀ HIỆP HỘI CÁC
QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á (ASEAN)
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
DẪN NHẬP 3
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.1 KHÁI NIỆM AN NINH 11
1.2 AN NINH KHU VỰC 14
1.2.1 Khái niệm an ninh khu vực 14
1.2.2 Các hình thái an ninh khu vực 15
1.2.3 Vai trò của tổ chức khu vực trong việc giữ gìn an ninh khu vực 19
CHƯƠNG 2 – CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA EU VÀ ASEAN 20
2.1 CẤU TRÚC CỦA MỘT TCQT 20
2.1.1 Tư cách pháp lý quốc tế của một TCQT 20
2.1.2 Quyền năng pháp lý của một TCQT 25
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của một TCQT 31
2.2 CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA EU 33
2.2.1 Lịch sử hình thành EU 33
2.2.2 Tư cách pháp lý quốc tế của EU 34
2.2.3 Quyền năng pháp lý của EU 41
2.2.4 Cơ cấu tổ chức của EU 51
2.3 CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA ASEAN 72
2.3.1 Lịch sử hình thành ASEAN 72
2.3.2 Tư cách pháp lý quốc tế của ASEAN 73
2.3.3 Quyền năng pháp lý của ASEAN 81
2.3.4 Cơ cấu tổ chức của ASEAN 92
2.4 SO SÁNH CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA EU VÀ ASEAN 118
2.4.1 Điểm tương đồng 118
Trang 52.4.2 Điểm khác nhau 119
2.4.3 Kết luận 127
CHƯƠNG 3 – THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH KHU VỰC CỦA EU VÀ ASEAN 130
3.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH KHU VỰC CỦA EU 130
3.1.1 Các cơ quan và cơ chế bảo vệ an ninh 131
3.1.2 Vai trò và thành tựu gìn giữ hoà bình của EU 136
3.1.3 Kết luận 141
3.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ BẢO VỆ AN NINH KHU VỰC CỦA ASEAN 142
3.2.1 Giai đoạn trước Hiến chương ASEAN 143
3.2.2 Giai đoạn sau Hiến chương ASEAN 149
3.2.3 Kết luận 156
KẾT LUẬN 157
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 710 AICHR ASEAN Intergovernmental
Commission on Human Rights
Ủy ban liên chính phủ ASEAN
Community
Cộng đồng Chính trị - An ninh
ASEAN
Hiệp định Khuyến khích và Bảo
hộ Đầu tư ASEAN
Hội nghị Tổ chức Cảnh sát các nước ASEAN
Trang 821 ASLOM ASEAN Senior Law Officials
European Union
Tòa án Công lý Liên minh châu
Âu
the Continental Shelf
Ủy ban Ranh giới ngoài Thềm
Tổng cục Hỗ trợ Nhân đạo và Hoạt động bảo vệ dân sự thuộc
Uỷ ban châu Âu
Directors-General of Immigration and Consular
Matters
Hội nghị Tổng Vụ trưởng Lãnh
sự các nước ASEAN
Parties in the South China Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên
ở Biển Đông
Trang 932 EC European Community Cộng đồng châu Âu
to Moldova and Ukraine
Phái đoàn hỗ trợ biên giới với Moldova và Ukraine
Trang 1043 FPI The Service for Foreign Policy
Instruments
Dịch vụ Công cụ chính sách đối
ngoại
Integration Taskforce Sáng kiến liên kết ASEAN
Control and Supervision
Ban kiểm soát và Giám sát của
LHQ
47 ICJ International Court of Justice Tòa án công lý quốc tế
Trang 1154 NATO North Atlantic Treaty
Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác
ở Đông Nam Á
62 TCPLQT International legal personality Tư cách pháp lý quốc tế
64 TEU The Treaty on European Union Hiệp ước về Liên minh châu Âu
Trang 1265 TFEU The Treaty on the Functioning
of the European Union
Hiệp ước về chức năng của Liên
minh châu Âu
Trang 13Liên minh châu Âu (European Union - EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN) đều được đánh giá là tổ chức nổi bật,
đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh khu vực Tuy vậy, nhóm nghiên cứu nhận thấy EU thể hiện một cách rõ ràng và thành công vai trò bảo vệ an ninh khu vực của mình trong khi ASEAN đang bỏ ngỏ khả năng giải quyết những vấn đề liên quan tới an ninh trong và ngoài khối, nhất là trong vấn đề biển Đông Trước những quan sát đó, nhóm
đã đặt ra câu hỏi nghiên cứu “Cấu trúc của một tổ chức khu vực có tác động gì tới việc
đảm bảo an ninh khu vực” và chứng minh giả thuyết “EU có khả năng giải quyết vấn đề
an ninh khu vực hiệu quả hơn ASEAN nhờ tính chặt chẽ trong cấu trúc tổ chức”
Ở chương 1, nhóm sẽ đưa ra khung lý thuyết về an ninh khu vực và các hình thức hợp tác để bảo vệ an ninh Trong chương 2, nhóm sẽ trình bày về cấu trúc cơ bản của một
tổ chức quốc tế từ đó phân tích cấu trúc của EU và ASEAN Phần này sẽ bàn luận về tư cách pháp lý quốc tế, quyền năng pháp lý và các cơ quan của một tổ chức quốc tế, đi từ tổng quát đến chi tiết tập trung vào hai tổ chức khu vực EU và ASEAN Sau phần phân tích cấu trúc của EU và ASEAN là phần so sánh sự tương đồng và khác nhau giữa hai tổ chức này Có thể thấy rằng, EU và ASEAN đều là những tổ chức quốc tế khẳng định mình có tư cách pháp lý và chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế Đồng thời cả hai đều xác định một trong những mục tiêu quan trọng cốt lõi của mình là bảo vệ hòa bình, an ninh Điểm khác nhau giữa hai tổ chức này là cách thức xây dựng cơ cấu tổ chức Trong khi EU xây dựng xây dựng cấu trúc của mình với những đặc tính của chủ nghĩa siêu quốc gia
Trang 14cùng với mô hình tam quyền phân lập – các cơ quan có chức năng và thẩm quyền độc lập với nhau, thì cấu trúc của ASEAN mang nhiều đặc điểm của chủ nghĩa liên chính phủ, với
mô hình “hình chóp quyền lực” với Cấp cao ASEAN là cơ quan cao nhất có quyền quyết định hầu hết công việc của ASEAN Cuối cùng ở chương III, nhóm nghiên cứu sẽ xem xét thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh khu vực của EU và ASEAN, chứng minh thực tiễn bảo vệ an ninh của EU thành công hơn so với ASEAN thông qua nghiên cứu các tình huống trong lịch sử hình thành và phát triển của hai tổ chức này
Nhóm đi tới kết luận cho rằng nhờ sự chặt chẽ trong cấu trúc tổ chức và quyền lực tách biệt của các cơ quan mà EU đã thực hiện tốt vai trò bảo vệ an ninh của mình Trong khi đó, ASEAN với một mô hình cấu trúc hình chóp, quyền lực dồn về một cơ quan – Cấp cao ASEAN, vai trò của ASEAN trong việc đảm bảo an ninh khu vực không được
thể hiện một cách rõ ràng Dưới sự chi phối của phương thức ASEAN (ASEAN Way),
ASEAN không đạt được nhiều thành tựu trong việc đảm bảo an ninh của nội khối giai đoạn gần đây Do đó, các thành viên ASEAN cần xem xét lại cơ cấu tổ chức và các nguyên tắc hoạt động của mình để đáp ứng được khả năng bảo vệ an ninh khu vực như mục tiêu mà ASEAN đã đề ra trong phương hướng hoạt động
Trang 15DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
An ninh khu vực luôn là một đề tài nóng bỏng vì có liên hệ trực tiếp đến sự phát triển và ổn định của các quốc gia Bên cạnh nỗ lực từ chính các quốc gia thì các tổ chức khu vực cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và giải quyết các vấn đề an ninh khu vực Cùng là tổ chức liên kết khu vực nhưng Liên minh châu Âu (EU) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có sự khác biệt về cấu trúc tổ chức, từ đó dẫn đến sự khác nhau trong hiệu quả giải quyết các vấn đề về an ninh khu vực Cũng vì lý do này, nhóm chọn đề tài với mong muốn tìm ra sự khác nhau giữa cấu trúc của hai tổ chức cũng như đánh giá tầm quan trọng của cấu trúc tổ chức đến khả năng giải quyết các vấn
đề an ninh khu vực Nhóm nghiên cứu mong muốn có thể tìm ra những ưu điểm trong cơ cấu tổ chức của Liên minh Châu Âu mà Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á có thể học hỏi, đặc biệt trước tình hình an ninh biển Đông đang diễn biến ngày càng phức tạp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
*Sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước
Công trình Các thể chế chính trị Liên minh châu Âu do Thạc sĩ Phan Đặng Đức Thọ thực hiện vào năm 2010 đã đặt ra vấn đề “Liệu hệ thống thể chế chính trị EU có mang
tính chất liên bang?” Ông đã nêu quan điểm của mình thông qua việc phân tích cơ cấu tổ
chức của EU theo lý thuyết liên bang Vấn đề EU đã là một liên bang hay chưa đến nay vẫn còn nhiều tranh luận Theo công trình này, tuy hệ thống cấu trúc chính trị EU có tính chất siêu quốc gia của một liên bang nhưng nhiệm vụ của cấu trúc tổ chức vẫn còn một số điểm trái với lý thuyết liên bang Cụ thể, mỗi cấp chính quyền EU có thẩm quyền riêng,
có cùng cơ quan tư pháp tối cao và có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, quyền lực cấu trúc tổ chức có sự phân chia giữa các thiết chế chính quyền trung ương và thiết chế chính quyền địa phương khu vực Tuy nhiên, một số vấn đề chính trị quan trọng vẫn nằm trong tay các chính quyền các quốc gia thành viên như việc cải cách Hiến pháp, mở rộng liên minh, ngân sách… Về luật pháp bảo đảm an ninh khu vực, luật pháp liên minh có hiệu
Trang 16lực pháp lý cao nhất đối với toàn bộ lãnh thổ liên minh, cao hơn cả luật pháp quốc gia thành viên nhưng thật ra chính quyền liên minh không có khả năng hợp pháp sử dụng
“biện pháp cưỡng chế pháp lý" đối với cá nhân công dân trên lãnh thổ EU
Công trình Mô hình hội nhập của EU – ASEAN: So sánh những tương đồng, khác
biệt và bài học kinh nghiệm cho ASEAN do Phó Giáo sư - Tiến sĩ Đinh Công Tuấn của
Viện nghiên cứu Châu Âu thực hiện năm 2012 đã đưa ra so sánh những tương đồng và khác biệt về mô hình hội nhập khu vực của EU và ASEAN Theo công trình này, bộ máy
EU và ASEAN khác biệt không phải ở cấu trúc tổ chức hay chức năng nhiệm vụ mà là tính chất của toàn hệ thống Các cấu trúc tổ chức EU được cấu tạo mang hai dạng thức vừa hợp bang vừa liên bang với tính chất liên bang nổi trội hơn hẳn, trong khi đó hệ thống
tổ chức ASEAN chủ yếu là hợp bang, còn tính chất liên bang chiếm khá ít Công trình đã chứng minh rằng sự liên kết trong cấu trúc tổ chức của EU chặt chẽ hơn, mang đậm dấu
ấn pháp lý, luật pháp nghiêm minh, quy chế rõ ràng; còn ASEAN có mức độ liên kết lỏng lẻo hơn do không được đảm bảo bằng pháp lý rõ ràng, chỉ được đảm bảo dựa trên nguyên tắc đồng thuận
*Sơ lược tình hình nghiên cứu quốc tế
Công trình EU and ASEAN: Issues of regional security do Nicholas Rees thực hiện,
Palgrave Macmillan UK xuất bản năm 2010 cũng đồng ý với nhận định EU có cấu trúc tổ chức phát triển cao hơn ASEAN EU, như một hình thức hợp tác cao về cấu trúc, đã dễ dàng giải quyết các vấn đề an ninh, trái ngược với ASEAN, vốn đã phản ứng với các mối
đe dọa an ninh theo cách thức từng phần và liên chính phủ hơn Nicholas cho rằng việc chia sẻ quyền lực phản ánh cách thức mà EU hoạt động như một hệ thống đa cấp độ Về phía ASEAN, tổ chức này cũng tiếp tục phụ thuộc vào đối thoại và hợp tác an ninh dựa trên các tổ chức khu vực khác bao gồm Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Có thể thấy rằng, ASEAN đang dần thay đổi theo hướng tích cực đảm nhận các nhiệm vụ an ninh, tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót
về cấu trúc tổ chức, nguồn lực và diễn biến tình hình phức tạp ở châu Á Việc giải quyết
Trang 17an ninh khu vực đối với ASEAN phần lớn vẫn phụ thuộc vào khả năng hợp tác và sự sẵn sàng thay đổi cách làm việc cùng nhau của các nước thành viên tham gia
Công trình Diffusing Regional Integration: The EU and Southeast Asia do Anja
Jetschke và Philomena Murray thực hiện, Routledge xuất bản năm 2011 đã đưa ra nhận định rằng các thành viên ASEAN đã bắt đầu áp dụng các cấu trúc theo phong cách EU, đặc biệt là Ủy ban Thường trực của EU và các quá trình hội nhập kinh tế Các thành viên ASEAN cho rằng khoảng cách giữa châu Âu và Đông Nam Á là một cơ hội chứ không phải là một hạn chế: trong khi các thành viên ASEAN phụ thuộc vào EU đối với phần lớn xuất khẩu của họ thì EU lại có mối quan tâm đặc biệt đến việc tiếp cận thị trường Đông Nam Á Hiện tại, tình hình chính trị và văn hóa của các nước Đông Nam Á hạn chế việc ASEAN xây dựng một liên minh kinh tế và chính trị giống với cấu trúc tổ chức của EU,
do đó, các quốc gia thành viên ASEAN cần có sự chọn lọc để xây dựng một cấu trúc tổ chức phù hợp và tiến bộ hơn cho khu vực Đông Nam Á
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đã được thực hiện đều chứng minh được rằng về mặt cấu trúc tổ chức, EU có phần nhỉnh hơn hẳn so với ASEAN Nhận thức được điều đó, ASEAN cũng đang dần học hỏi theo mô hình EU để xây dựng khối tổ chức khu vực ngày càng tiến bộ Do có mục đích nghiên cứu khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa thể hiện được cái nhìn toàn diện các vai trò của yếu tố cấu trúc tổ chức trong việc đảm bảo an ninh khu vực của EU và ASEAN
*Những nghiên cứu về khả năng và hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng gìn giữ hoà bình của Liên minh châu Âu và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN
Công trình nghiên cứu The Role of Regional Organisations in Conflict Prevention
and Resolution được thực hiện bởi Herbert Wulf vào năm 2009 nhằm xác định vai trò của
tổ chức khu vực trong việc thực hiện cam kết đảm bảo an ninh và phòng ngừa xung đột trong khu vực đã chỉ ra những điểm yếu, hạn chế của tổ chức khu vực trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình bao gồm: Sự thiếu hụt các giá trị chung, cạnh tranh về chủ quyền, trách nhiệm chồng lấn giữa các bên, sự thiếu hụt nguồn lực cả về hữu hình và vô hình, và cuối cùng, ảnh hưởng của các nước chiếm ưu thế hơn làm chi phối các nỗ lực
Trang 18hợp tác đảm bảo an ninh khu vực, cả trong và ngoài tổ chức, đối với trường hợp ASEAN
là Indonesia Sự bất đối xứng trong quy mô kinh tế và quân sự sẽ làm kìm hãm hợp tác giữa các quốc gia láng giềng Tuy vậy đây không còn là một vấn đề đáng lo tại ASEAN vì giờ đây tổ chức đã đạt được sự phân bổ quyền lực, ảnh hưởng và nguồn lực đồng đều hơn Vấn đề lớn nhất mà ASEAN gặp phải, theo tác giả, đó chính là sự lạm dụng quy chế đồng thuận dẫn đến thiếu khả năng ra quyết định về các vấn đề giải quyết mâu thuẫn và an ninh chung Khái niệm chủ quyền quốc gia vẫn là giá trị chung cao nhất mà các quốc gia thành viên ASEAN chia sẻ, và cả nguyên tắc không can thiệp vào quyền tự quyết của các nước khác Một ví dụ mà tác giả đưa ra đó là vào những năm 1990, khi Thái Lan và Malaysia
đề nghị nới lỏng định mức không can thiệp, kêu gọi tổ chức tham gia sâu hơn vào các giải pháp mang tính xây dựng tại các quốc gia khác (ví dụ: ra các quyết định có thể ảnh hưởng ảnh hưởng đến chính trị và chính quyền ở Myanmar), các thành viên ASEAN khi đó coi đây là một động thái nguy hiểm và từ chối tranh luận về đề nghị này Tác giả kết luận, trái ngược với Liên minh châu Âu, vốn đã đạt đến mức độ phát triển tiên tiến với đặc thù là tổ chức khu vực với tính chất siêu quốc gia, có vị trí quan trọng và độc nhất trong việc gìn giữ hoà bình và ngăn chặn xung đột khu vực và cả trên thế giới, ASEAN mới chỉ ở mức
độ hợp tác chập chững, nếu so sánh với Liên minh châu Âu thì không khác gì giai đoạn sơ sinh, còn rất lâu nữa mới có thể đạt đến mức độ phát triển và hợp tác đủ để ảnh hưởng và tác động đến nền hoà bình khu vực, chưa bàn đến việc giải quyết và ngăn chặn các mâu thuẫn và căng thẳng leo thang, hoặc ít nhất là trong tương lai gần, khi các quốc gia thành viên vẫn để nỗi sợ đánh mất chủ quyền quốc gia ngăn cản khả năng phát triển của tổ chức trong lĩnh vực đảm bảo an ninh và ổn định của khu vực
Trong tác phẩm Regional Security: The capacity of international organizations bởi
tác giả Rodrigo Tavares, xuất bản năm 2012, đề cập đến nỗ lực của các tổ chức quốc tế, trong vòng vài thập niên trở lại, phát triển mục tiêu và phạm vi hoạt động của mình ra khỏi các lĩnh vực truyền thống như hợp tác kinh tế, chính trị và môi trường, để tiến đến thực hiện nhiệm vụ gìn giữ an ninh, hoà bình khu vực và tái thiết sau chiến tranh, việc trước kia được đảm nhiệm chủ yếu bởi các quốc gia riêng lẻ Tác phẩm là nghiên cứu có
hệ thống đầu tiên nhằm đánh giá năng lực của các tổ chức khu vực lớn (được công nhận)
Trang 19trên thế giới trong việc giữ gìn an ninh khu vực, bao gồm Liên minh châu Phi (AU), Cộng đồng kinh tế của các quốc gia Tây Phi (ECOWAS), Cơ quan liên chính phủ về phát triển (IGAD), Cộng đồng phát triển Nam Phi (SADC), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS), Liên minh các quốc gia Ả Rập (LAS), Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương (PIF), Liên minh châu Âu (EU) và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)
Các tổ chức được đánh giá dựa trên năng lực tổ chức (tính pháp lý và cấu trúc tổ chức), nguồn lực hiện hữu (tài chính và nhân lực) và kinh nghiệm thực tế, với những phân tích so sánh mới nhất được cập nhật đến thời điểm viết bài Trong phần kết luận, tác giả đúc kết khả năng gìn giữ hoà bình của ASEAN bị kìm hãm bởi, thứ nhất là nguồn lực hạn chế, cả về nhân lực và nguồn tài chính hạn hẹp, để mở rộng và tăng cường năng lực của tổ chức trong việc xây dựng và duy trì hoà bình Thứ hai, nguyên tắc nền tảng của ASEAN
về bất khả xâm phạm về mặt chủ quyền và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội
bộ của các quốc gia thành viên là trở ngại lớn khác của tổ chức này, ví dụ trong khủng hoảng về nhân quyền tại Myanmar Tuy vậy ASEAN vẫn có nhiều tiềm năng và khả năng nâng cao năng lực hợp tác của tổ chức này trong tương lai là hoàn toàn khả thi Về phía Liên minh châu Âu, tác giả đánh giá nhận xét “tổ chức có nền tảng pháp lý và cấu trúc vững chãi, phù hợp và tương thích với khả năng gìn giữ hoà bình, an ninh khu vực” Được đánh giá là tổ chức với kinh nghiệm thực tế dày dặn, với các chính sách và quy trình bài bản, Liên minh châu Âu không thực sự gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo
an ninh và trật tự trong nội bộ khu vực, với chính sách an ninh và quốc phòng chung (ESDP) là một điểm sáng trong nỗ lực này Một số vấn đề mà Liên minh có thể cải thiện
để hoạt động hiệu quả hơn nằm ở vấn đề xác định và xây dựng bản sắc phòng thủ chung cho khu vực, kiểm soát chi tiêu quân sự của các quốc gia thành viên và quan trọng hơn hết, ý chí và mức độ cam kết của các quốc gia nhằm thực hiện những đề xuất này Từ nghiên cứu này có thể thấy sự khác biệt chính nằm ở cơ chế hoạt động và mức độ cam kết của các quốc gia thành viên trong việc hợp tác chung dẫn đến sự kết quả khác nhau trong năng lực của tổ chức nhằm gìn giữ hoà bình khu vực
Trang 20Nhìn chung các nghiên cứu hiện tại đều đã chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa năng lực thực tế của hai tổ chức, dựa trên các yếu tố tổ chức, mức độ cam kết hợp tác và nguồn lực hiện tại Các thế lực ngoài tác động cũng được xác định là một trong những trở ngại khiến ASEAN khó đưa ra được những cam kết và hành động chung trong nỗ lực gìn giữ hoà bình và an ninh khu vực Tuy vậy những công trình nghiên cứu này phần lớn dựa vào những lý thuyết và so sánh diện rộng, thiếu đi các ví dụ và trường hợp chứng minh cụ thể
để hỗ trợ cho kết luận của bài nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài với mục tiêu trả lời cho câu hỏi: “Cấu trúc của một tổ chức có vai trò gì trong việc đảm bảo an ninh khu vực” Bằng cách phân tích cấu trúc, tư cách pháp lý cùng quyền năng của hai tổ chức khu vực EU và ASEAN và thông qua các trường hợp điển hình (case study), nhóm nghiên cứu muốn chứng minh giả thuyết
“EU có khả năng giải quyết vấn đề an ninh khu vực hiệu quả hơn ASEAN nhờ tính chặt chẽ trong cấu trúc tổ chức” Đồng thời, nhóm nghiên cứu hy vọng có thể cung cấp, ở một
mức độ nhất định, tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quan hệ quốc tế nói chung và Luật quốc tế nói riêng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu luật học
Phương pháp nghiên cứu luật học được nhóm sử dụng với mục đích lý giải các định nghĩa, tìm hiểu về cấu trúc tổ chức của EU VÀ ASEAN, tìm ra luật xác định tư cách pháp lý và quyền năng của tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề an ninh khu vực Từ
đó nhóm chứng minh cho giả thuyết đã đặt ra bên trên
Đồng thời nhóm sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study), đưa ra các ví dụ mang tính đại diện điển hình trong vấn đề giải quyết an ninh khu vực của hai tổ chức Thông qua nghiên cứu tình huống, nhóm mong muốn chứng minh được EU xử lý các vấn đề an ninh khu vực hiệu quả hơn ASEAN
4.2 Phương pháp so sánh pháp luật
Trang 21Phương pháp so sánh được dùng ở đây mang mục đích đem đến cái nhìn khách quan hơn, hiểu rõ hơn về cấu trúc tổ chức của ASEAN Phương pháp này cũng phù hợp cho việc học hỏi các giải pháp đã có của nước ngoài (trong trường hợp này là EU) để giải quyết các vấn đề mới về an ninh khu vực Từ đây, ASEAN có thể có những điều chỉnh để cải thiện cấu trúc tổ chức của mình
4.3 Phương pháp nghiên cứu hệ thống cấu trúc
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là hai tổ chức khu vực ASEAN và EU Nhóm tập trung nghiên cứu cấu trúc của hai tổ chức và tác động của yếu tố cấu trúc tới an ninh khu vực
EU và ASEAN trong giai đoạn trước đây và sau này, từ đó thấy được tương quan về thực tiễn thực hành quyền năng của mình của hai tổ chức
6 Đóng góp thực tiễn của đề tài
Đề tài nhằm phân tích, đánh giá tính hiệu quả của việc bảo đảm an ninh khu vực thông qua việc so sánh cấu trúc của hai tổ chức EU và ASEAN Kết quả nghiên cứu của
Trang 22đề tài sẽ là tài liệu giúp cho sinh viên quan tâm đến Luật Quốc tế nói riêng, cũng như sinh viên khoa Quan hệ Quốc tế nói chung có cái nhìn khách quan hơn về tính bảo đảm an ninh khu vực của hai tổ chức EU và ASEAN Đồng thời, đề tài tổng hợp những cơ sở có tính hệ thống góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho hướng nghiên cứu khoa học
về Luật Quốc tế sau này
7 Bố cục của đề tài
Chương 1 - An ninh khu vực: Trong phần này, nhóm sẽ đưa ra các định nghĩa về
an ninh và an ninh khu vực, các hình thái của an ninh khu vực, và vai trò của tổ chức khu vực trong việc giữ gìn an ninh khu vực
Chương 2 - Cấu trúc và so sánh cấu trúc của EU và ASEAN: Trong phần phân tích cấu trúc EU và ASEAN, nhóm sẽ chia ra làm ba phần: tư cách pháp lý, quyền năng pháp
lý và các cơ quan của hai tổ chức Sau đó, nhóm so sánh điểm giống và khác về cấu trúc
tổ chức của EU và ASEAN nhằm chứng minh giả thuyết cấu trúc của EU chặt chẽ hơn ASEAN
Chương 3 - Thực tiễn bảo vệ an ninh khu vực của EU và ASEAN: Trong phần cuối, nhóm sẽ phân tích các tình huống đại diện để chứng minh trong việc giải quyết vấn
đề an ninh khu vực, EU giải quyết hiệu quả hơn ASEAN
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 KHÁI NIỆM AN NINH
Khái niệm an ninh vẫn luôn là một khái niệm gây tranh cãi trong giới học thuật.1Trên thực tế không tồn tại một khái niệm an ninh duy nhất được nhất trí công nhận mà tùy vào từng giai đoạn trong lịch sử, cách hiểu và cách tiếp cận, các học giả sẽ định nghĩa an ninh theo những cách khác nhau
Bắt đầu với bài viết „An ninh quốc gia‟ - một biểu tượng mơ hồ, Arnold Wolfers cho
rằng từ góc độ khách quan, an ninh có thể được hiểu là sự vắng mặt của các mối đe dọa đối với những giá trị đã có sẵn; còn từ góc độ chủ quan, an ninh là việc vắng đi nỗi lo sợ rằng các giá trị (có sẵn) đó sẽ bị tấn công.2
Tuy nhiên, khái niệm “vắng mặt các mối đe dọa” mà Wolfers đưa ra được xem là còn khá mơ hồ Để giải quyết vấn đề này, Baldwin3
và William4 cho rằng nên định nghĩa lại khái niệm an ninh của Wolfer thành “có ít các khả năng gây tổn hại đến các giá trị có sẵn”
Trước và trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các yếu tố đe dọa đến an ninh chủ yếu đến
từ các cuộc xung đột vũ trang và mang tính chất quân sự Thời kỳ này, an ninh thường được hiểu theo nghĩa hẹp là an ninh của một quốc gia, bị đe dọa bởi khả năng quân sự của một quốc gia khác và được bảo vệ bởi chính sức mạnh quân sự của quốc gia đó Có thể thấy mô hình an ninh này đại diện cho chủ nghĩa hiện thực trong lý thuyết quan hệ quốc tế khi quốc gia là là nhân tố quan trọng nhất, sở hữu, duy trì và bảo vệ an ninh thông qua sức mạnh quân sự hay liên minh với các quốc gia khác
Sau này, khi bắt đầu bước vào kỷ nguyên toàn cầu hoá, thế giới đã không còn phải đối mặt nhiều với các cuộc xung đột vũ trang, các mối đe dọa an ninh đã dần chuyển hoá theo hướng phi quân sự và không còn bị giới hạn bởi đường biên giới Các vấn đề như
Trang 24kinh tế, thương mại, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh… ngày càng trở thành mối bận tâm to lớn đối với các quốc gia Hơn thế, nếu như khái niệm an ninh trước đây chỉ tập trung vào cấp độ quốc gia và hệ thống quốc tế thì giờ đây an ninh đã xoay quanh thêm cấp độ cá nhân Những lý do này đòi hỏi cần phải có một định nghĩa an ninh rộng và đầy
đủ hơn Dựa nguồn gốc của các mối đe dọa, có thể phân loại an ninh thành an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Còn nếu căn cứ vào đối tượng tác động, an ninh được chia thành an ninh quốc gia và an ninh con người
An ninh truyền thống như đã trình bày, chủ yếu nhấn mạnh mối đe dọa mang yếu tố
quân sự An ninh truyền thống gắn liền với an ninh quốc gia, cùng với chủ thể chính là nhà nước Nhà nước đảm bảo an ninh quốc gia bằng những công cụ như quân đội, chiến
tranh… để đương đầu trước các nguy cơ về đe doạ an ninh Khái niệm an ninh phi truyền
thống được đưa ra khá súc tích trong bài viết của Richard H Ullman5 vào năm 1983 Richard cho rằng an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và
an ninh con người.6
Thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” xuất hiện chính thức trong Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, diễn ra tại Phnôm Pênh (Campuchia) vào ngày 01/11/2002 Trong bản tuyên bố này các nhà lãnh đạo của ASEAN
và Trung Quốc bày tỏ “sự quan ngại về những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng
Đoàn Minh Huấn, An ninh phi truyền thống: Quan niệm và đặc điểm chủ yếu*, Tạp chí Cộng sản, tháng
Mười Một 2007 Truy xuất từ ninh-phi-truyen-thong-quan-niem-va-dac-diem-chu-yeu.aspx
Trang 25http://www.tapchicongsan.org.vn/home/nghiencuu-traodoi/2017/47816/an-gia tăng như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu
vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao” 7
Về phần “an ninh con người”, khái niệm này lần đầu được nêu lên trong Báo cáo
Phát triển Con người của Chương trình Phát triển LHQ (United Nations Development
Programme - UNDP) vào năm 1994 Theo đó, UNDP đề ra bao gồm bảy thành tố chính
trong an ninh con người bao gồm an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh y tế, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng, và an ninh chính trị Tuy khái niệm này xuất hiện lần đầu vào năm 1994 nhưng ý tưởng về an ninh lấy con người làm trung tâm đã xuất hiện từ trước đó
Trong cuốn Con người, Quốc gia và Nỗi sợ hãi: Chương trình nghị sự cho các
Nghiên cứu về An ninh quốc tế thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh, Buzan đã tranh luận rằng,
“an ninh của tập thể con người bị ảnh hưởng bởi yếu tố trong năm lĩnh vực: quân sự,
chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường”. 8
Tuy mỗi lĩnh vực tập trung và ưu tiên vào các yếu tố khác nhau nhưng năm lĩnh vực này không hoạt động độc lập mà liên kết với nhau chặt chẽ Có thể thấy quân sự từ một yếu tố chính yếu trong an ninh truyền thống, giờ chỉ
là một trong năm hình thức đe dọa mà một quốc gia có thể đối mặt Tuy vẫn giữ quan điểm quốc gia là đối tượng chính của an ninh, Buzan vẫn lưu ý một trong những rắc rối có
thể xảy ra khi giả định rằng công dân được đảm bảo an ninh Theo ông, “mỗi công dân
phải đối mặt với nhiều mối đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp từ nhà nước”. 9
Điều này có thể hiểu rằng thay vì là người bảo vệ, chính quốc gia cũng có thể trở thành mối đe dọa với
an ninh của công dân nước đó Nếu chỉ hiểu an ninh đơn thuần là an ninh quốc gia, ta sẽ
bỏ qua sự mất an ninh của những cá nhân đang bị đe dọa bởi chính quốc gia đó
7
Chu Duy Ly, An ninh phi truyền thống (Nontraditional Security), Nghiên cứu Quốc tế, tháng Mười một
2014 Truy xuất từ http://nghiencuuquocte.org/2014/11/16/an-ninh-phi-truyen-thong/
Trang 26Ken Booth trong cuốn An ninh và Giải phóng đưa ra một cách tiếp cận an ninh khác.
10
Ông cho rằng đối tượng của an ninh không phải là các quốc gia mà là con người Theo Booth, giải phóng chính là an ninh và cá nhân con người mới là đối tượng nền tảng của an ninh
Mặc dù an ninh quốc gia và an ninh con người có cách tiếp cận khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn đối nghịch, mà ngược lại có mối quan hệ nhất định Năm 2003,
Ủy ban về An ninh và Con người đưa ra một báo cáo cho rằng nếu không có an ninh con người thì an ninh quốc gia sẽ không được bảo đảm và ngược lại Điều này cũng dễ lý giải
vì nếu người dân của một nước phải chịu đựng các vấn đề như nghèo đói, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, thì nguồn lực của quốc gia đó sẽ bị suy giảm và làm ảnh hưởng tới khả năng tự vệ của quốc gia đó trước các nguy cơ xâm lược Ngược lại, nếu quốc gia bị xâm lược thì an ninh của người dân cũng sẽ bị đe dọa nghiêm trọng Vì vậy, có thể nói nâng cao an ninh con người chính là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia và ngược lại
Có thể thấy khái niệm an ninh đã có nhiều sự thay đổi theo thời gian Từ khái niệm
an ninh truyền thống lấy quân sự làm trung tâm đã mở rộng sang an ninh phi truyền thống liên quan đến các vấn đề từ “chính trị cấp thấp” như kinh tế, xã hội cho đến môi trường, việc làm, từ an ninh tập trung vào cấp độ quốc gia sang an ninh con người Nhưng dù có thay đổi thế nào đi chăng nữa, việc đảm bảo an ninh luôn là một mục tiêu tối thượng của mỗi quốc gia hay cá nhân con người, nhất là trước bối cảnh các mối đe dọa ngày càng trở nên khó nắm bắt hơn và không bị giới hạn bởi các đường biên giới
1.2 AN NINH KHU VỰC
1.2.1 Khái niệm an ninh khu vực
Chúng ta sẽ không thể hiểu được mô hình an ninh quốc gia nếu không có sự hiểu biết vững chắc về mô hình an ninh khu vực Trong suốt thế kỷ 20, các quốc gia nhìn nhận những nước láng giềng kề bên mình hoặc là mối đe dọa hoặc là người bảo vệ tiềm năng Bằng việc tập trung vào các quốc gia gần bên, các quốc gia đã tìm cách đưa ra các quy tắc
và chuẩn mực chung, quy định phương thức một nhóm quốc gia trong cùng một khu vực
10
Booth, K (1991), Security and emancipation, Review of International studies, 17(4), tr 319.
Trang 27nên hành động Không phải ở cấp độ toàn cầu hay địa phương, cấp độ khu vực mới là nơi tập trung chủ yếu các mối đe dọa và bất ổn an ninh; 11
và đây cũng là nơi hầu hết các thỏa thuận an ninh đạt được sau năm 1945.12 Như vậy, khu vực là cấp độ phân tích thích hợp nhất để kiểm tra các vấn đề liên quan đến trật tự quốc tế
Để hiểu rõ hơn về an ninh khu vực, trước hết, cần tìm hiểu khái niệm về khu vực
Theo Snyder, “khu vực” được định nghĩa là “một tập hợp các trạng thái nằm gần nhau về
mặt địa lý, tất cả các quốc gia trong một khu vực không cần phải có sự tương tác an ninh trực tiếp, tuy nhiên vẫn có thể có tương tác một cách gián tiếp nếu bị lôi kéo vào cùng một liên minh hay khủng hoảng”.13
1.2.2 Các hình thái an ninh khu vực
Snyder trong bài viết Cấu trúc An ninh khu vực cũng đã đưa ra 6 cách tiếp cận đối với an ninh khu vực bao gồm phòng thủ tập thể (collective defence), an ninh tập thể (collective security), nhóm hòa hợp an ninh (concert security), an ninh chung (common
security), an ninh hợp tác (cooperative security) và an ninh toàn diện (comprehensive security).14
Phòng thủ tập thể là hình thức an ninh khu vực chiếm ưu thế nhất trong thế kỷ 19 và
20 Khái niệm về phòng thủ tập thể nổi lên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi Mỹ hứa
sẽ giúp dân tộc chống lại mối đe doạ từ bên ngoài thông qua học thuyết Truman vào tháng 03/1947 Mỹ đã thiết lập hệ thống phòng thủ tập thể ở Tây Âu để chống lại Chủ nghĩa Cộng sản với tên gọi Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Với hình thức này, các quốc gia nhất trí hợp tác để tiêu diệt mối đe dọa từ một kẻ thù đã được xác định, dù là trong hiện thực hay tiềm tàng Sự hợp tác này thường dưới hình thức quan hệ liên minh, liên hiệp hay hiệp ước hỗ tương nhằm răn đe kẻ âm mưu xâm lược
13 Như trên, trang 102.
14 Như trên, trang 102.
Trang 28An ninh tập thể có thành viên là những quốc gia không cần cùng chung chí hướng
nhưng đồng ý sẽ không dùng vũ lực để giải quyết các bất đồng và sẽ phản ứng tập thể trước bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này Cơ sở của an ninh tập thể là “tất cả chống lại một” Nghĩa là nếu một quốc gia nào đó trong liên hiệp bị tấn công, thì các thành viên khác cũng bị coi là tấn công và có nghĩa vụ tham gia các biện pháp trừng phạt, cấm vận
về kinh tế hay quân sự để chống lại kẻ xâm lược đó.15 So sánh với phòng thủ tập thể thì hai hình thức này giống nhau ở điểm các quốc gia cam kết giúp đỡ nhau khi một quốc gia
bị tấn công Tuy nhiên cần lưu ý điểm khác nhau giữa hai hình thức để tránh nhầm lẫn Điểm khác nhau giữa an ninh tập thể và phòng thủ tập thể là cách xác định kẻ thù Nếu phòng thủ tập thể, kẻ tấn công đã được biết hoặc nhận thức, thì trong an ninh tập thể, các quốc gia cam kết đáp trả một kẻ thù chưa biết hoặc chưa xác định vi phạm đến nguyên tắc Nói đơn giản thì phòng thủ tập thể sẽ là một hệ thống chống lại một chủ thể bên ngoài, còn đối với an ninh tập thể, kẻ thù có thể là một trong các thành viên trong hệ thống nếu họ vi phạm nguyên tắc không dùng vũ lực để giải quyết bất đồng
An ninh tập thể là một hệ thống an ninh đáng tin cậy để cân bằng các liên minh, tuy nhiên phương pháp này cũng có một số hạn chế nhất định Với số lượng lớn và đa dạng các quốc gia thành viên tham gia ký kết, sẽ rất khó để đạt được sự đồng nhất ý kiến để chống lại một kẻ thù Điều này cũng sẽ gây khó khăn trong việc phối hợp và có thể cản trở khả năng đáp ứng của tập thể Để ngăn những tác động hạn chế của an ninh tập thể,
nhóm an ninh hoà hợp đã ra đời
Giống như an ninh tập thể, nhóm an ninh hoà hợp hoạt động cũng dựa trên nguyên
tắc hành động tập thể, nhưng điểm khác biệt trong hệ thống này là nhóm nhỏ các cường quốc có cùng quan điểm về một trật tự quốc tế ổn định Các thành viên không bị ràng buộc bởi một cam kết chính thức để đối phó với mối nguy an ninh mà là hợp tác để giải quyết các tranh chấp hoặc khủng hoảng thông qua đàm phán không chính thức Khi tham gia nhóm an ninh hoà hợp, các quốc gia thành viên phải chấp nhận một số quy tắc ứng xử
15
Hà Hồng Hải, Giới thiệu một số khái niệm an ninh, Tạp Chí Nghiên Cứu Quốc Tế, tháng Ba 2012 Truy
xuất từ gioi-thieu-mot-so-khai-niem-an-ninh.html
Trang 29https://www.dav.edu.vn/en/publications/international-studies-review/back-issues/2000/468-so-33-chung làm việc cùng nhau, phải công nhận lợi ích an ninh của nhau và tôn trọng công việc nội bộ của nhau Ngoài ra, điều kiện cơ bản để một nhóm hoà hợp hoạt động là sự nhất trí giữa các thành viên của nhóm là không được hành động đơn phương mà phải tham khảo ý kiến của nhau.16 Điển hình cho nhóm hòa hợp an ninh là Nhóm hòa hợp các cường quốc châu Âu bao gồm năm quốc gia là Anh, Pháp, Phổ, Áo-Hung và Nga, thành lập thời kỳ hậu Napoleon của thế kỷ 19
Khái niệm an ninh chung lần đầu được đưa ra vào năm 1982 bởi Uỷ ban về các vấn
đề giải trừ quân bị và an ninh do cố Thủ tướng Thụy Điển, Olof Palme làm Chủ tịch Theo đó, Ủy ban định nghĩa an ninh chung là một tiến trình lâu dài, liên quan đến nỗ lực thay đổi suy nghĩ đã gây ra và duy trì những cuộc chạy đua vũ trang giữa các siêu cường, ngăn chặn sự kiểm soát và giải trừ vũ khí Nguyên tắc của an ninh chung cho rằng trong thời đại hạt nhân, an ninh đơn phương là không thể vì các quốc gia ngày càng phụ thuộc
về kinh tế, văn hóa, chính trị cũng như quân sự Bên cạnh đó, an ninh lâu dài sẽ không đạt được thông qua các cuộc chạy đua vũ trang do nghi ngờ lẫn nhau Thay vào đó, an ninh cần dựa trên một cam kết chung để cùng tồn tại và thừa nhận mối quan tâm an ninh hợp pháp của quốc gia khác.17
Do đó, các quốc gia cần áp dụng các chính sách an ninh không
đe dọa đến an ninh của các quốc gia khác trong khu vực, mà nổi bật là nguyên tắc phòng thủ không khiêu khích
An ninh toàn diện có hai hình thức chính, một được đưa ra bởi Nhật Bản và hình
thức còn lại được phát triển bởi các quốc gia Đông Nam Á thông qua tổ chức ASEAN Vào cuối những năm 1970, Nhật Bản đã dùng khái niệm an ninh toàn diện làm nền tảng cho chính sách an ninh chính thức của mình An ninh toàn diện đã mở rộng lĩnh vực tập trung của an ninh quốc gia Nhật Bản, trước đơn thuần về quân sự sang chính trị, kinh tế, cũng như giải quyết vấn đề an ninh nội tại, song phương, khu vực và toàn cầu ASEAN ủng hộ khái niệm này Tuy nhiên, cách giải thích của các nước ASEAN về khái niệm an ninh toàn diện có khác với Nhật Bản An ninh toàn diện ở Đông Nam Á được phát triển
Trang 30gồm các nguyên tắc “phát triển quốc gia một cách đồng đều thông qua nỗ lực trong mọi
khía cạnh của cuộc sống như tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và quân sự”.18
Cuối cùng là an ninh hợp tác Giống như an ninh chung và an ninh toàn diện, an
ninh hợp tác cố gắng tăng cường sự hiểu biết về tính tương hỗ của an ninh cũng như mở rộng định nghĩa về an ninh vượt ra ngoài mối quan tâm chủ yếu về quân sự truyền thống,
mở rộng ra bao gồm các mối quan tâm về môi trường, kinh tế và xã hội An ninh hợp tác tìm cách định hình quan điểm của các nhà hoạch định chính sách quốc gia về an ninh cũng như tìm những định nghĩa mới thay thế cho khái niệm an ninh đơn thuần xoay quanh vấn đề quân sự An ninh hợp tác thay đổi hành vi của một quốc gia, từ cạnh tranh lẫn nhau sang hợp tác Những gì mà an ninh hợp tác cung cấp là phương tiện để vượt qua nỗi
sợ hãi đã có từ lâu giữa các quốc gia, sự do dự đi kèm với rủi ro chính trị; phá tan bớt bức tường được dựng lên giữa các quốc gia, chính phủ sau thời kỳ thuộc địa và chiến tranh Lạnh; và vượt qua các rào cản về lợi ích quốc gia
Trong diễn văn đọc tại LHQ 1993, cựu Ngoại trưởng Australia, Evans đã nêu rõ:
“An ninh hợp tác là một cách tiếp cận nhấn mạnh việc đảm bảo an ninh cho nhau chứ
không phải là răn đe; nó bao gồm tất cả chứ không mang tính loại trừ; chủ trương đa phương hơn là đơn phương và song phương; không đặt giải pháp quân sự lên trên giải pháp phi quân sự; giả định rằng các quốc gia là chủ thể chính trong hệ thống an ninh, nhưng chấp nhận các chủ thể phi nhà nước đóng vai trò quan trọng; không nhấn mạnh việc hình thành các thể chế an ninh chính thức, nhưng cũng không bác điều đó; và đặc biệt là nhấn mạnh giá trị hình thành “thói quen đối thoại””.19
An ninh hợp tác là cấu trúc an ninh khu vực hiệu quả nhất từ sau thời kỳ chiến tranh Lạnh.20 An ninh hợp tác cung cấp một định nghĩa an ninh rộng hơn, giúp các chủ thể phi quốc gia có tiếng nói hơn trong môi trường quốc tế Cách tiếp cận an ninh theo hướng hợp tác cũng giúp cho các quốc gia dần tăng cường hợp tác lẫn nhau trong khi vẫn duy trì mô
Trang 31hình phòng thủ tập thể phòng trường hợp các quốc gia đối thủ không tuân thủ cam kết hợp tác mà họ đã tuyên bố Về phần năm cách tiếp cận còn lại, tất cả đều là cách tiếp cận lấy nhà nước làm trung tâm
1.2.3 Vai trò của tổ chức khu vực trong việc giữ gìn an ninh khu vực
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn an ninh khu vực mà một trong số đó là các tổ chức khu vực Có sáu lý do được đưa ra để chứng minh rằng các tổ chức khu vực
sẽ có lợi thế hơn Liên Hiệp Quốc (United Nations – UN) trong việc bảo đảm an ninh khu
vực
Lợi thế đầu tiên mà tổ chức khu vực có được là các quốc gia thành viên có cùng nền tảng văn hóa Do đó, họ sẽ ăn khớp khi có xung đột xảy ra Tổng Thư ký LHQ thứ 8, Ban Ki-moon, cũng nhận ra rằng các tổ chức khu vực có một vị trí tốt để tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ gây ra xung đột, bất ổn an ninh ở một khu vực và nhờ vào sự hiểu biết về khu vực, các tổ chức có thể ngăn chặn và giải quyết các cuộc xung đột.21
Thứ hai, thời gian là vấn đề cốt yếu trong việc giải quyết khủng hoảng Các tổ chức khu vực có thể phản ứng kịp thời hơn các TCQT quan liêu như LHQ hay các quốc gia Thứ ba, về mặt logic, việc quản lý xung đột ở cấp khu vực cũng ít tốn kém hơn việc phải vận chuyển vũ khí, quân đội từ một nơi xa Thứ tư, vì các thành viên trong tổ chức khu vực sẽ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các cuộc xung đột, họ có lợi ích sống còn trong việc đảm bảo và giữ gìn an ninh khu vực.22
Thứ năm, trong một vài trường hợp
cụ thể, các tổ chức khu vực được hoan nghênh để giải quyết xung đột hơn Và cuối cùng, quản lý xung đột cấp khu vực tạo cơ hội các quốc gia nhỏ và ít có ảnh hưởng góp vai tròn trong giải quyết vấn đề.23
23
Lepgold, J (2003), Regionalism in the post-Cold War era: Incentives for conflict management, Regional Conflict Management, Lanham: Rowman & Littlefield, tr 13.
Trang 32CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA EU VÀ ASEAN
2.1 CẤU TRÚC CỦA MỘT TCQT
2.1.1 Tư cách pháp lý quốc tế của một TCQT
2.1.1.1 Khái quát về tư cách pháp lý quốc tế
Uỷ ban Pháp luật Quốc tế (International Law Commission - ILC) đã định nghĩa về TCQT như sau:““Tổ chức quốc tế” là một tổ chức được thành lập bởi một hiệp ước hoặc
các văn bản được thừa nhận tính pháp lý bởi luật quốc tế, công nhận tư cách pháp lý của mình TCQT bao gồm các thành viên tổ chức, thêm vào đó là các quốc gia hoặc các thực thể khác.” 24
Theo đó thấy được ngoài hai yếu tố quan trọng là được thành lập bởi các quốc gia và trên cơ sở điều ước quốc tế thì một TCQT cần phải có tư cách pháp lý quốc tế (TCPLQT) để được công nhận TCPLQT là một khía cạnh quan trọng của luật pháp quốc
tế vì khi và chỉ khi có tư cách pháp lý, một chủ thể mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ quốc tế và có khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý do chính hành vi của chủ thế đó gây
ra.25
Từ Hòa ước Westphalia ký kết vào năm 1648 cho đến nửa sau của thế kỷ 17, các quốc gia có chủ quyền được xem là những chủ thể duy nhất có tư cách pháp lý theo luật quốc tế.26 Điều này đồng nghĩa với việc các thực thể phi quốc gia sẽ không chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế vì không tồn tại tư cách pháp lý Tuy nhiên, do quá trình tác động của toàn cầu hóa và tư nhân hóa, các thực thể phi quốc gia ngày càng trở nên phổ biến và khẳng định vị trí của mình trong quan hệ quốc tế nói chung và luật quốc tế nói riêng Sự
ra đời của LHQ vào năm 1945 đã bước đầu đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của các TCQT
Schermers, H G., & Blokker, N M (2011), International institutional law: unity within diversity,
Martinus Nijhoff Publishers, tr 993.
26
Hickey Jr, J E (1997), The Source of International Legal Personality in the 21st Century, In Hofstra L
& Pol'y Symp, (Vol 2, p 1), tr 3.
Trang 33LHQ có ảnh hưởng sâu sắc đến việc giải quyết các vấn đề chung của nhân loại, đặc biệt là việc bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới Các TCQT trong lĩnh vực kinh tế như
Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF), Ngân hàng Thế giới (World
Bank - WB) thành lập năm 1945 và Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) năm 1995 cũng cho thấy vai trò của mình trong việc phát triển hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính-thương mại Bên cạnh đó, các TCQT khu vực như
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN) thành lập năm 1967 hay Liên minh châu ÂU (European Union - EU) thành lập năm 1993
cũng cho thấy sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mình đến tiến trình hội nhập, xóa bỏ khoảng cách địa lý, kinh tế chính trị và xã hội của các quốc gia, duy trì và thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực Có thể thấy từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các TCQT phát triển một cách mạnh mẽ Điều này đã đặt ra một vấn đề quan trọng cần giải quyết đó là việc xác định tư cách pháp lý của các TCQT
Đến năm 1949, vụ việc Bồi thường thiệt hại gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của
LHQ27 càng khiến việc trả lời câu hỏi về xác định tư cách pháp lý của TCQT trở nên cấp
bách Vụ việc Bồi thường thiệt hại phát sinh khi Hòa giải viên của LHQ, Bá tước Folk
Bernadotte của Wisborg, bị ám sát bởi các nhóm dân quân theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái khi đang thi hành nhiệm vụ tại Jerusalem Đại Hội đồng LHQ đã yêu cầu một ý kiến
tư vấn từ Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice - ICJ) rằng liệu LHQ có
thể đưa ra một yêu sách, buộc Israel phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho tổ chức này cũng như cho nạn nhân (đại diện bởi người thân của nạn nhân) hay không Nhưng trước khi có thể đưa ra lời tư vấn cho LHQ, ICJ đã phải xem xét TCPLQT của tổ chức này Thực tế, tư cách của LHQ chưa bao giờ được xác định rõ ràng trong bất kì điều khoản nào của Hiến chương. 28
Điều 104 của Hiến chương LHQ cũng chỉ quy định rằng LHQ sở hữu năng lực pháp lý trong lãnh thổ của các quốc gia thành viên, và tại thời điểm
Trang 34đó, Israel chưa là thành viên của tổ chức này Sau khi xem xét các điều khoản trong Hiến chương cũng như thực tiễn các hoạt động của LHQ, Tòa đã đưa ra kết luận rằng LHQ có
tư cách pháp lý của một chủ thể của luật quốc tế vì tổ chức này được trao cho các quyền
để có thể thực hiện các ý định, mục tiêu cùng nhiệm vụ của các quốc gia thành viên
“Tổ chức được chỉ định để thực hiện và thụ hưởng, trên thực tế, đang thực hiện và
thụ hưởng các chức năng và quyền mà chỉ có thể được giải thích trên cơ sở sở hữu một tiêu chuẩn đầy đủ về tư cách chủ thể quốc tế và năng lực hoạt trong môi trường quốc tế Trung tâm hiện nay đang là TCQT tối cao, và không thể thực hiện những ý định của người sáng lập nếu không có tư cách chủ thể Cần phải thừa nhận rằng các Quốc gia thành viên, thông qua việc trao cho tổ chức này một số chức năng nhất định, cùng với các nghĩa vụ và trách nhiệm, đã khoác lên mình tổ chức này một quyền năng cần thiết để cho phép các chức năng trên được thực thi một cách hiệu quả.”29
Việc áp dụng phán quyết của ICJ về vụ việc này lên các tổ chức liên chính phủ khác luôn là một vấn đề gây tranh cãi Tuy nhiên, có thể thấy ý kiến tư vấn của ICCJ trong vụ
việc Bồi thường thiệt hại là một nền tảng cho việc xem xét tư cách pháp lý của các TCQT
Bằng việc cho rằng LHQ có tư cách chủ thể quốc tế, ICJ đã phần nào khẳng định vai trò của các TCQT trong pháp luật quốc tế
Đến năm 2011, khi thông qua dự thảo Các điều khoản về trách nhiệm pháp lý của
các TCQT, Ủy ban Luật pháp Quốc tế (International Law Commission - ILC) đã khẳng
định ngoài việc được thành lập từ các điều ước quốc tế, một tổ chức cần phải có TCPLQT riêng biệt.30
Nhìn chung, trong giới học giả hiện nay có hai học thuyết nổi bật để trả lời cho câu
hỏi về TCPLQT là học thuyết chủ quan (subjective theory) hay còn gọi là học thuyết ý chí của quốc gia thành lập (will of the founders theory) và học thuyết khách quan (objective
Trang 35theory) Hai học thuyết này cố gắng giải thích cách các TCQT có được TCPLQT và trên
những phương diện nhất định nội hàm của hai học thuyết này là đối nghịch lẫn nhau
2.1.1.2 Các học thuyết về tư cách pháp lý của TCQT
Học thuyết chủ quan
Học thuyết chủ quan hay học thuyết ý chí của các quốc gia thành lập đôi khi được xem là học thuyết có tính phổ biến hơn Học thuyết này cho rằng ý chí chủ quan của các nhà sáng lập là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định tư cách pháp lý của một TCQT.31 Điều này có thể hiểu rằng việc xác định tư cách pháp lý của một TCQT phải dựa trên việc các nhà sáng lập ra TCQT có muốn cung cấp tư cách pháp lý cho TCQT đó hay không Ý chí của nhà sáng lập có thể được thể hiện rất rõ ràng thông qua sự khẳng định rằng một tổ chức có TCPLQT trong hiệp ước thành lập của mình Tuy nhiên, ý chí này cũng có thể được ngầm hiểu bằng cách xem xét các hoạt động mà tổ chức được quyền làm, thể hiện qua các điều khoản ghi trong điều ước quốc tế thành lập nên tổ chức, và liệu thực hiện các hoạt động này có hàm ý rằng tổ chức có tư cách pháp lý hay không.32 Một khi các quốc gia thành lập trao cho TCQT quyền được ký kết các điều ước quốc tế, quyền
cử và tiếp nhận đại diện tại TCQT hay quyền khởi kiện và tham gia vào các vụ kiện thì cũng đồng nghĩa với việc các nhà sáng lập đã có ý định cấp tư cách pháp lý cho tổ chức này
Việc ý chí của các quốc gia thành lập đóng vai trò chủ đạo cũng thể hiện tầm quan trọng của chủ quyền và vai trò chủ động của các quốc gia.33 Điều này phù hợp với quan
điểm của trường phái thực nghiệm (legal positivism) của luật quốc tế cho rằng quốc gia là
chủ thể duy nhất xây dựng nên luật quốc tế và luật quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí
31
Reinisch, A (2000), International organizations before national courts (Vol 10), Cambridge University
Press, tr 57.
32
Schermers, H G., & Blokker, N M (2011), International institutional law: unity within diversity,
Martinus Nijhoff Publishers, tr 989.
33
Klabbers, J (2002), An Introduction to International Institutional Law, Cambridge: Cambridge
University Press, tr 55 doi:10.1017/CBO9781139165051; Phạm Ngọc Minh Trang (2018), Trách nhiệm
của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực, Nghiên cứu quốc tế Truy xuất từ
http://nghiencuuquocte.org/2018/07/18/trach-nhiem-cua-asean-voi-cac-van-de-an-ninh-khu-vuc/
Trang 36của quốc gia.34 Bất kể một tổ chức hoạt động như thế nào trong thực tế, tư cách pháp lý của nó chỉ được khẳng định khi và chỉ khi các quốc gia thành lập có ý định, rõ ràng hay ngầm hiểu, trao cho nó tư cách này.35
Tuy nhiên, học thuyết ý chí của các quốc gia thành lập vấp phải hai vấn đề cần giải quyết.36
Một là TCPLQT không phải lúc nào cũng được thể hiện rõ nét trong các hiến
chương thành lập nên tổ chức đó Ví dụ như trường hợp LHQ đã nêu trên Điều này khiến
việc xác định tư cách pháp lý thông qua hiến chương trở nên khó khăn Hai là khái niệm
tư cách pháp lý phụ thuộc vào ý chí của các nhà sáng lập có khả năng trở thành một khái niệm vô nghĩa Các quốc gia có thể đồng ý trao cho tổ chức tư cách pháp lý, quy định trong các văn bản thành lập Tuy nhiên, trên thực tế, không quốc gia nào sẵn lòng thực hiện cam kết này Điều này khiến tư cách pháp lý trở thành những con chữ vô nghĩa chỉ được ghi trên giấy ASEAN là trường hợp điển hình cho vấn đề vừa nêu Các quốc gia thành lập nên ASEAN đồng ý trao cho tổ chức này tư cách pháp lý riêng biệt, thể hiện rõ
ở điều 3 Hiến chương ASEAN Dù đã được khẳng định trong văn bản pháp lý, nhưng trong thực tế, tư cách pháp lý của ASEAN không được sử dụng một cách hiệu quả Như trong việc ký kết các hiệp ước với các chủ thể khác của luật quốc tế, bên ký kết thường là mười quốc gia thành viên thay vì là ASEAN trên danh nghĩa của chính tổ chức này Điều này thể hiện sự thiếu cam kết của các quốc gia thành viên và khiến tư cách pháp lý của ASEAN thiếu đi tính thực tiễn cần có Một số học giả ủng hộ học thuyết ý chí đã đưa ra cách giải quyết cho vấn đề thứ hai là cho một bên thứ ba công nhận TCPLQT của tổ chức Nhưng việc dùng nước thứ ba để công nhận sẽ đi ngược lại với quan điểm cốt lõi của lý thuyết này, cho rằng ý chí quốc gia là tối quan trọng
Học thuyết khách quan
34
Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Công pháp quốc tế - Quyển 1, Nxb Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam
35
Klabbers, J (1998), Presumptive personality: the European Union in international law, International
Law Aspects of the European Union, Martinus Nijhoff Publishers.
36
Klabbers, J (2002), An Introduction to International Institutional Law, Cambridge: Cambridge
University Press, tr 52-59 doi:10.1017/CBO9781139165051
Trang 37Bên cạnh quan điểm cho rằng TCPLQT phụ thuộc vào ý chí của các nhà sáng lập của học thuyết chủ quan, học thuyết khách quan thể hiện một quan điểm đối nghịch Học thuyết này nhấn mạnh việc một TCQT sẽ có tư cách pháp lý khi thực hiện các hoạt động khách quan của luật pháp quốc tế.37 Theo quan điểm này thì một khi TCQT đáp ứng đủ các tiêu chí cụ thể, hệ thống pháp luật quốc tế sẽ cung cấp cho tổ chức các quyền và nghĩa
vụ, bất kể ý chí của các quốc gia thành lập Do đó, nó sẽ có TCPLQT trong hệ thống pháp luật quốc tế Với quan điểm rằng TCPLQT được trao khi một TCQT đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quan trọng, học thuyết khách quan cho thấy cách một TCQT có được tư cách pháp lý cũng giống cách các quốc gia có chủ quyền được hiểu là có tư cách pháp lý trong luật quốc tế.38
Học thuyết khách quan được khởi xướng bởi Finn Seyersted39 vào những năm 1960 Seyersted cho rằng một tiêu chí được xem là quan trọng nhất để xem xét TCPLQT là tổ chức đó phải có ít nhất một cơ quan có thể biểu hiện cho ý chí riêng biệt của TCQT, tách biệt khỏi ý chí của các quốc gia sáng lập.40
Tuy không đồng ý với quan điểm rằng TCPLQT phụ thuộc vào ý chí của các nhà sáng lập, học thuyết khách quan không phủ nhận việc TCQT được thành lập và nằm dưới
sự kiểm soát của các quốc gia thành viên Sự kiểm soát này thể hiện thông qua việc xác định chức năng, mục đích và năng lực của TCQT trong điều ước thành lập cũng như duy trì khả năng chấm dứt sự tồn tại của tổ chức đó
2.1.2 Quyền năng pháp lý của một TCQT
2.1.2.1 Các học thuyết về quyền năng pháp lý của TCQT
37
Schermers, H G., & Blokker, N M (2011), International institutional law: unity within diversity,
Martinus Nijhoff Publishers, tr 989.
38
Klabbers, J (2002), An Introduction to International Institutional Law, Cambridge: Cambridge
University Press, tr 55 doi:10.1017/CBO9781139165051
Trang 38Một TCQT khi có được TCPLQT sẽ phát sinh các quyền năng pháp lý của nó Quyền năng pháp lý của một TCQT có thể được hiểu là quyền lực hay quyền hạn mà TCQT sở hữu để thực hiện các mục tiêu được đề ra.41 Khác với các quốc gia, quyền năng của các TCQT mang tính chất phái sinh, thể hiện ở việc quyền năng pháp lý của các TCQT bị giới hạn trong chừng mực mà các quốc gia thành lập trao cho nó cũng như lĩnh vực hoạt động của tổ chức.42 Vì thế, khi một TCQT tham gia vào những quan hệ quốc tế không đúng với mục đích và phạm vi hoạt động, hành vi của tổ chức có thể được xem là không hợp pháp
Cơ sở lý luận về quyền năng pháp lý của một TCQT vẫn luôn là chủ đề tranh luận trong khoa học pháp lý quốc tế Câu hỏi về nguồn gốc và phạm vi quyền hạn của một TCQT đã xuất hiện từ năm 1922 trong các kết luận tư vấn đưa ra bởi Tòa án Thường trực công lý quốc tế của Hội quốc liên về quyền năng của Tổ chức lao động quốc tế
(International Labour Organization - ILO).43 ILO được thành lập với mục tiêu xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế đã đưa ra câu hỏi rằng liệu tổ chức này có thể mở rộng quyền năng của mình để điều chỉnh các điều kiện lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hay không Tòa đưa ra kết luận rằng theo Hiến chương của Tổ chức lao động quốc tế thì
tổ chức này thực sự được trao quyền để điều chỉnh quan hệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Tuy nhiên, vì là vụ việc đầu tiên về quyền năng pháp lý của TCQT nên có thể thấy Tòa chưa nhận thức ý nghĩa hình thành nên nguyên tắc của vụ việc mà chỉ kết luận
41Phạm Ngọc Minh Trang (2018), Trách nhiệm của ASEAN với các vấn đề an ninh khu vực, Nghiên cứu
quốc tế Truy xuất từ http://nghiencuuquocte.org/2018/07/18/trach-nhiem-cua-asean- voi-cac-van-de-an-
ninh- khu- vuc
42
Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Công pháp quốc tế - Quyển 2, Nxb Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam
43
Permanent Court of International Justice (1922), Competence of the ILO to Regulate the Conditions of Labour of Persons Employed in Agriculture, Advisory Opinion, PCIJ Publication, Series B, Nos 2 and 4; Permanent Court of International Justice (1922), Competence of the ILO to Examine Proposals for the Organisation and Development of Methods of Agricultural Production, Advisory Opinion, PCIJ Publication, Series B, Nos 2 and 3, tr 53-55; Permanent Court of International Justice (1926), Competence of the International Labour Organization to Regulate, Incidentally, the Personal Work of the Employer, Advisory Opinion, PCIJ Publication No 13.
Trang 39đơn giản dựa trên việc xem xét điều ước quốc tế thành lập nên tổ chức.44 Do đó không có học thuyết nào nổi lên từ các kết luận này
Hiện nay có hai học thuyết cơ bản về quyền năng pháp lý của TCQT là học thuyết
về thẩm quyền chỉ định (doctrine of attributed powers) và học thuyết về thẩm quyền mặc định (doctrine of implied powers)
Học thuyết về thẩm quyền chỉ định
Học thuyết về thẩm quyền chỉ định cho các TCQT ra đời sau kết luận tư vấn của Toàn Thường trực công lý của Hội quốc liên về phạm vi của các quyền hạn của Ủy ban châu Âu về sông Danube vào năm 1926.45 Tòa đã kết luận rằng Ủy ban châu Âu không phải là một quốc gia, mà là một TCQT với các mục đích đặc biệt nên chỉ có thể hoạt động trên cơ sở những quyền năng được ấn định một cách rõ ràng cho tổ chức đó; Ủy ban châu
Âu có những quyền nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng của mình trong chừng mực mà điều lệ của tổ chức không có những hạn chế đối với chúng Kết luận này của tòa án đã xây dựng nên học thuyết thẩm quyền chỉ định sau này
Trong vụ Lotus năm 1927, Tòa cũng đã khẳng định rằng trong khi quyền của các quốc gia là không thể bị hạn chế, thì các TCQT chỉ có quyền năng pháp lý giới hạn trong chừng mực các quyền được ấn định cho chúng. 46
Như vậy, học thuyết về thẩm quyền chỉ định có nội dung tuyên bố rằng TCQT và các cơ quan của tổ chức chỉ có quyền hạn trong chừng mực mà điều ước quốc tế thành lập nên tổ chức đó đã ấn định cụ thể Như thế, TCQT chỉ có thể tiến hành những hoạt động trong những lĩnh vực mà nó được trao quyền Học thuyết này lấy cơ sở từ việc các quốc gia thành viên khi thành lập tổ chức đã nhất trí trao quyền cho tổ chức đó
44
Klabbers, J (2002), An Introduction to International Institutional Law, Cambridge: Cambridge
University Press, tr 60-63 doi:10.1017/CBO9781139165051
Trang 40Mặc dù vậy, học thuyết này vẫn có những hạn chế Thứ nhất, về mặt thực tiễn, TCQT bị giới hạn bởi các quyền được ấn định rõ ràng cho mình, thuần túy trở thành công
cụ của các quốc gia thành viên thay vì là một thực thể tồn tại khách quan Thứ hai, điều ước quốc tế hình thành nên TCQT sẽ luôn có những chỗ thiếu sót, đơn giản vì các nhà soạn thảo nên các văn bản không thể nghĩ được hết tất cả các khả năng sẽ xảy ra Trong thực tế, TCQT sẽ không thể thực hiện được những hoạt động mà chưa được quy định rõ ràng trong điều ước vào thời điểm ký kết Điều này khiến TCQT không thể đảm đương, thực thi sứ mệnh của mình đối với những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai Đây cũng
là lý do chính mà học thuyết thứ hai, học thuyết về thẩm quyền mặc định ra đời, bởi lẽ vai trò của TCQT liên chính phủ ngày nay đang trở nên có ý nghĩa quan trọng và TCQT nên
có sự linh hoạt thay vì bị giới hạn bởi những quyền hạn được trao cho
Học thuyết về thẩm quyền mặc định
Nội dung cốt lõi của học thuyết này là quyền năng pháp lý của một TCQT có thể được mặc định suy diễn từ những quyền hạn cụ thể mà TCQT đã được trao cho bởi các quốc gia thành viên Những học giả ủng hộ học thuyết này cho rằng có (ít nhất) hai cách
để chứng minh rằng TCQT có các thẩm quyền mặc định.47
Trong đó cách chứng minh chiếm ưu thế cho rằng thẩm quyền mặc định được thiết lập nhằm giúp cho TCQT có thể thực thi một cách hiệu quả các mục đích được đề cập trong hiệp ước thành lập của mình Trên cơ sở đó, TCQT có thẩm quyền và khả năng tiến hành những hoạt động không được quy định rõ ràng trong điều ước thành lập TCQT, nếu như điều đó được giải thích là giúp cho các TCQT có thể thực thi hiệu quả các chức năng và mục đích
Học thuyết thẩm quyền mặc định có được nhằm thực thi hiệu quả các mục đích được nêu ra lần đầu tiên trong bản kết luận tư vấn của Toà án Thường trực công lý quốc
tế vào năm 1928 liên quan đến việc Giải thích Hiệp định Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ ký kết vào ngày 1 tháng 12 năm 1926.48 Hiệp định này đã thống nhất thành lập nên một Ủy ban Liên