Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Xứ Trung ương Cục miền Nam, truyền thống yêu nước của quân dân Nam Bộ được nâng lên một tầm cao mới, những phẩm chất cao qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ CẨM LIÊN
XỨ ỦY-TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ
(1954-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP HỒ CHÍ MINH THÁNG 08 NĂM 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ CẨM LIÊN
XỨ ỦY-TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ
(1954-1975)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ NGÀNH: 8229015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học
TS Đặng Thị Minh Phượng
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH THÁNG 08 NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Những thông tin, số liệu được tôi trích dẫn trong luận văn là trung thực Các nhận xét, đánh giá, kiến nghị có trong luận văn đều xuất phát từ quá trình nghiên cứu và nhận thức của tôi, không có sự sao chép từ các công trình nghiên cứu khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với Nhà trường về sự cam đoan này
Học viên thực hiện
Ngô Thị Cẩm Liên
Trang 4Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến Tiến sĩ Đặng Thị Minh Phượng, giảng viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là người đồng hành với em trong quá trình học tập từ lúc còn là học viên cao học cho đến khi em bắt đầu thời gian hoàn thành luận văn
Em cũng gửi lời cám ơn đến quý cơ quan, quý anh, chị tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Viện Lịch sử Đảng-Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh,… đã hỗ trợ hết mình, nhiệt tình cung cấp những tài liệu giúp em hoàn thành luận văn
Học viên thực hiện
Ngô Thị Cẩm Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu đề tài 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ (1954-1975) 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài 11
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ (1954-1975) 26
1.2.2 Thực trạng đời sống văn hóa ở Nam Bộ trước năm 1954 33
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG NAM BỘ (1954 – 1975) 37
2.1 Chủ trương xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam 37
Trang 62.1.1 Giai đoạn 1954-1964: Xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ tiến
bộ 37
2.1.2 Giai đoạn 1965-1968: Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược 43
2.1.3 Giai đoạn 1969-1975: Phát triển nền văn hóa kháng chiến, góp phần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” 47
2.2 Quá trình chỉ đạo xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ 51
2.2.1 Giai đoạn 1954-1964: Tiến hành xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ tiến bộ 51
2.2.2 Giai đoạn 1965-1968: Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ……….……… 76
2.2.3 Giai đoạn 1969-1975: Văn hóa góp phần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” 91
Tiểu kết chương 2 103
CHƯƠNG 3: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA KHÁNG CHIẾN (1954-1975) 105
3.1 Thành tựu, hạn chế 105
3.1.1 Ưu điểm 105
3.1.2 Hạn chế 113
3.2 Đặc điểm nền văn hóa kháng chiến ở chiến khu, vùng giải phóng Nam Bộ………118
3.2.1 Nền văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng Nam Bộ là nền văn hóa mang đầy đủ các tính chất được Đảng hoạch định trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 118
Trang 73.2.2 Nền văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng Nam Bộ là nền văn hóa kháng
chiến 120
3.2.3 Nền văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng được xây dựng trên tinh thần nội lực cao độ của quân và dân Nam Bộ 123
3.3 Bài học kinh nghiệm 125
3.3.1 Văn hóa phục vụ cho nhiệm vụ chính trị 125
3.3.2 Phải dựa vào dân để xây dựng văn hóa 129
3.3.3 Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa có chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt đẹp, giàu nhiệt huyết cách mạng 130
Tiểu kết chương 3 131
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Sự nghiệp chống ngoại xâm là “người trước súng sau”, “vũ khí
là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”, “dù có bao nhiêu khí giới tinh xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng cũng bỏ đi” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.357, 358) Do vậy, muốn thắng lợi trong công cuộc chống xâm lược, yếu tố cơ bản nhất là con người Đó là những con người cách mạng thấm đẫm truyền thống văn hóa Việt Nam, thấm đẫm lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, tự lực, tự cường, khí phách, trí tuệ, bản lĩnh trở thành “cốt cách” của cả dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của Xứ Trung ương Cục miền Nam, truyền thống yêu nước của quân dân Nam Bộ được nâng lên một tầm cao mới, những phẩm chất cao quý mới định hình, phát triển trong môi trường văn hóa, chủ nghĩa yêu nước được phát huy cao độ rồi chuyển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, điều này giải thích tại sao quân dân Nam bộ có thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để cùng cả dân tộc đưa sự nghiệp giải phóng Tổ quốc đến thắng lợi cuối cùng
ủy-Đề cập đến văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa Việt Nam trong kháng chiến, trong chiến tranh cách mạng, văn hóa kháng chiến… luôn là một đề tài hấp dẫn; do vậy, quá trình xây dựng, phát triển và nội dung của nó đã được nhiều nhà khoa học, các học giả quan tâm nghiên cứu Nhưng vấn đề như quá trình hình thành chiến khu, vùng giải phóng, chủ trương xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam chưa được khái quát, hệ thống, phân tích sâu
Để hiểu rõ vai trò của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong việc lãnh đạo xây dựng, phát triển nền văn hóa-một trong những yếu tố giúp nhân dân Nam bộ trở nên “thành thành đồng Tổ quốc”, đi trước về sau trong 30 năm chống giặc ngoại xâm, đặc biệt là trong 21 năm đối đầu với đế quốc Mỹ xâm lược-một tên đế quốc hùng mạnh và tàn bạo nhất thế giới Dù có nhiều khó khăn, đặc biệt là khâu tiếp cận hệ thống tư liệu lịch sử, tuy nhiên, với ước muốn hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển
Trang 9của nền văn hóa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tác giả mạnh dạn chọn đề tài:
“Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ (1954-1975)” làm Luận văn
Thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu
Xây dựng và phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ (1954-1975) là một mảng đề tài hấp dẫn thu hút được nhiều học giả, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Kết quả nghiên cứu được đề cập ở những mức độ, phạm vi khác nhau, điều này được thể hiện rõ trong các sách xuất bản, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí,… trong đó một số công trình có đề cập đến chủ trương, quan điểm và quá trình lãnh đạo của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam về xây dựng, phát triển văn hóa
Các công trình đề cập đến hoạt động văn hóa cách mạng ở Nam Bộ trong giai đoạn 1954-1975 có thể chia thành các nhóm sau:
2.1.1 Các công trình đề cập đến Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam
Năm 2008, cuốn sách Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) của Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh-Viện Lịch
sử Đảng do GS,TS Trịnh Nhu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác phẩm phản ánh quá trình ra đời, phát triển và hoạt động của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong suốt 21 năm kháng chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Thông qua việc trình bày các sự kiện theo mốc thời gian từng năm, cuốn sách đã dựng lại hoạt động của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong xây dựng bộ máy lãnh đạo, các ban ngành của Trung ương Cục miền Nam, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xây dựng Mặt trận và chính quyền cách mạng, hình thành ba vùng chiến lược (rừng núi, đồng bằng, đô thị),… Qua các sự kiện, tác phẩm làm sáng tỏ sự sự chủ động, sáng tạo, cũng đóng góp to lớn của
Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Năm 2010, công trình Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) của Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh-Viện Lịch sử
Trang 10Đảng do GS.TS Nguyễn Quý (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Công trình đã khái quát về quá trình xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam, các liên tỉnh ủy, khu ủy, các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam; sự chỉ đạo linh hoạt, sáng tạo của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong đề ra đường lối, chủ trương cho cách mạng miền Nam trong từng thời kỳ Đặc biệt, tác phẩm đã có sự phân tích, đánh giá thành tựu, kinh nghiệm trong lãnh đạo của
Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975 Công trình đánh giá một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của quân dân Nam Bộ nói riêng và cả nước nói trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam
2.1.2 Các chuyên khảo về lịch sử Đảng bộ và lịch sử chiến tranh cách mạng
Năm 1996, tác phẩm Quân khu 9 ba mươi năm kháng chiến (1945-1975) của Bộ tư
lệnh quân khu 9, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Tác phẩm đề cập đến sự lãnh đạo của
Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 trong ba mươi năm kháng chiến (1945-1975) về xây dựng, phát triển các căn cứ địa tại vùng U Minh-Năm Căn (Nam Cà Mau)-căn cứ địa vững chắc của miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam
Bộ nói chung trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; căn cứ Bảy Núi (Châu Đốc-An Giang), phiên họp đầu tiên của Xứ ủy Nam Bộ (10-1954) tại Chắc Băng (Cà Mau) với sự ra đời của Liên tỉnh ủy miền Tây, sự ra đời của “làng rừng” ở tỉnh Cà Mau
Năm 1998, tác phẩm Quân khu 8 ba mươi năm kháng chiến (1945-1975) của Đảng
uỷ-Bộ Tư lệnh quân khu 9, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội đã phản ánh những hoạt động chủ yếu của các lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu 8 trong 30 năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ từ ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945) đến Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, nêu bật quá trình chiến đấu và trưởng thành của các lực lượng vũ trang quân khu 8 Tác phẩm cũng đề cập đến sự lãnh đạo của
Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 trong ba mươi năm kháng chiến (1945-1975), trong xây dựng các căn cứ địa: Đồng Tháp Mười, Bảy Núi; sự ra đời Liên tỉnh ủy miền Trung-tiền thân của Khu uỷ 8
Trang 11Năm 2010, tác phẩm Lịch sử Đảng bộ Quân khu 7 (1945-2005) của Đảng ủy quân
sự Trung ương, Đảng bộ Quân khu 7, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Tại phần thứ hai của tác phẩm với tiêu đề: “Đảng bộ khu 7 và Đảng bộ khu Sài Gòn-Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”, tập trung thể hiện sự tái thành lập Đảng bộ Quân khu 7, Đảng bộ Quân khu Sài Gòn-Gia Định, xây dựng lực lượng vũ trang và kiện toàn tổ chức đảng các cấp, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, sự lãnh đạo quân và dân Quân khu 7 góp phần vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc
Ngoài những công trình tiêu biểu trên, chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam về xây dựng, phát triển văn hóa còn được thể hiện qua các tác phẩm công tác đảng, công tác chính trị của các tỉnh ở Nam Bộ như:
Năm 2005, Căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) của Trần Ngọc Long, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Hà Nội; Năm 2011, Căn cứ Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (Cuối 1949-đầu 1955) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau, Nxb Phương
Đông, TP Hồ Chí Minh,…
2.1.3 Các công trình nghiên cứu về lịch sử đoàn thể, ban, ngành
Năm 1997, Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập điện ảnh kháng chiến Nam Bộ (1947-1997) của Hội điện ảnh TP Hồ Chí Minh, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh,
với 45 bài viết dưới dạng là những hồi ký về ngành điện ảnh Nam Bộ của nhiều tác giả, tập hợp nhiều hình ảnh, tư liệu quý Kỷ yếu tái dựng lại bức tranh toàn cảnh về điện ảnh Nam Bộ từ khi thành lập Điện ảnh khu 8 tại chiến khu Đồng Tháp Mười-căn
cứ của Bộ Tư Lệnh chiến khu 8, Điện ảnh khu 7 và khu 9, cho đến khi điện ảnh ba khu sát nhập thành một vào năm 1952 Kỷ yếu khắc họa những đóng góp và sự hy sinh đầy gian khổ nhưng đem lại niềm vui cho quân dân ở chiến khu Nam Bộ
Năm 2017, kỷ yếu Tọa đàm khoa học Chín năm xây dựng nền giáo dục kháng chiến ở Nam Bộ-Thành quả và kinh nghiệm (1945-1954) do Ban Tuyên giáo Thành ủy
TP.Hồ Chí Minh tổ chức; xuất bản thành sách, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, năm
2018 Kỷ yếu phản ánh một cách khái quát về công tác dạy và học của thầy, trò và hoạt động văn hóa nhân dân ở chiến khu, vùng giải phóng dưới những tán rừng trong
Trang 12điều kiện vô cùng khó khăn Kỷ yếu nêu lên một số thành tựu nổi bật của quân dân Nam Bộ về công tác xóa nạn mù chữ cho nhân dân, xây dựng nền giáo dục trong thời
kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954
Năm 2018, công trình Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thành ủy TP Hồ Chí Minh chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập hợp những bài viết dưới dạng hồi ký, kể-ghi, nội dung phong phú về văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
như: Cỗ máy phát đầu tiên của Đài Phát thanh Giải phóng của Đặng Hồng Nhựt, Trần Minh Tâm; Hoạt động của Đài Phát thanh Giải phóng và Đài truyền hình giải phóng
ở chiến khu Bắc Tây Ninh của Hồ Vĩnh Thuận; Phòng hội họa Giải phóng những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Trang Phượng
2.1.4 Các tác phẩm hồi ký của cán bộ lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử
Năm 1995, tác phẩm Sơ thảo 30 năm giáo dục miền Nam 1945-1975 do Trần
Thanh Nam chủ biên, Nxb Giáo dục, TP Hồ Chí Minh, tập hợp 27 bài viết của nhiều tác giả Tác phẩm nhấn mạnh sự phát triển của giáo dục cách mạng ở miền Nam với hai ngành học: Giáo dục phổ thông và bình dân học vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng Tác phẩm đánh giá ngành giáo dục ở miền Nam đã vận dụng sáng tạo quan điểm quần chúng của Đảng khi biết tìm và dựa vào quần chúng để xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục, phát huy tốt sự chi viện của giáo dục miền Bắc
Năm 1997, tác phẩm Hồi ức 50 năm âm nhạc cách mạng miền Nam của Hội âm
nhạc TP.Hồ Chí Minh, do Xuân Hồng chủ biên, Nxb
Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh Tác phẩm trình bày dưới dạng hồi ức về sự hình thành và hoạt động âm nhạc cách mạng ở miền Nam qua các giai đoạn, khái quát được quá trình phát triển của âm nhạc miền Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hình thức trình bày phong phú: từ tiểu luận đến hồi kí, ghi chép, kể chuyện, tường thuật…
về con người, về sự việc, về các tác giả và tác phẩm âm nhạc một cách chân thật
Trang 13Trong lời tựa tác phẩm, nghệ sĩ Xuân Hồng nhận định: “Âm nhạc cách mạng là vũ khí đấu tranh, nghệ sĩ là chiến sĩ”
2.1.5 Luận văn, luận án nghiên cứu về văn hoá ở chiến khu, vùng giải phóng
Năm 2005, luận án Căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) của Trần Ngọc Long, Viện Lịch sử
Quân sự Việt Nam, Hà Nội Luận án trình bày sự hình thành, quá trình xây dựng, củng
cố, bảo vệ và mở rộng căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Luận án rút ra đặc điểm, vai trò, bài học kinh nghiệm trong xây dựng căn cứ địa U Minh (1945-1975) dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam
Năm 2015, luận văn Ca khúc cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954-1975 dưới góc nhìn văn hóa của Nguyễn Đăng Khoa, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, TP Hồ Chí Minh Luận văn cho thấy vị trí, vai trò, sự tác động của âm nhạc trong đời sống tinh thần, đời sống văn hoá và đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta trong giai đoạn 1954-1975 Các ca khúc cách mạng nhìn từ chủ thể sáng tạo, chủ thể tiếp nhận và dưới góc nhìn văn hoá nghệ thuật (đề tài, chủ đề, chất liệu âm nhạc, mối quan
hệ giữa hình thức và nội dung, giá trị xã hội và giá trị nghệ thuật của ca khúc cách mạng) được làm sáng tỏ
Năm 2015, luận văn Đảng bộ Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định lãnh đạo hoạt động báo chí giai đoạn 1954-1975 của Bế Thị Thắm, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, TP Hồ Chí Minh Luận văn đã trình bày được khái quát điều kiện, vai trò của hoạt động báo chí đối với cách mạng miền Nam, những nội dung chủ yếu và kết quả của hoạt động báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định (1954-1975), từ đó nhận định về quá trình lãnh đạo hoạt động báo chí của Đảng bộ Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, trong đó hoạt động báo chí ở chiến khu, vùng giải phóng
2.1.6 Tạp chí chuyên ngành và công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa
Năm 2011, bài báo Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà giai đoạn 1954-1960 của tác giả Bùi Huy Khiên và Tống Duy Tình, đăng
Trang 14trên tạp chí Giáo dục, Số 262, kỳ 2, đề cập đến vai trò, vị trí, phương pháp, nội dung giáo dục Việt Nam từ sau Hiệp định Gièneve
Năm 2019, bài báo Giáo dục cách mạng Nam Bộ (1954-1975)-Ý nghĩa lịch sử
và bài học kinh nghiệm của tác giả Nguyễn Xuân Tế và Đỗ Thị Cường, đăng trên tạp
chí Khoa học Đại học Văn Lang, số 18, bài báo đã phác họa bức tranh toàn cảnh những thành tựu của giáo dục cách mạng Nam Bộ trong 21 năm chống Mỹ, cứu nước Qua đó, đánh giá ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của giáo dục cách mạng Nam Bộ (1954-1975)
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa kháng chiến, cụ thể
là các công trình nghiên cứu về văn nghệ, văn học, điện ảnh, báo chí, thông tin, giáo dục, xây dựng đời sống mới,… ở chiến khu, vùng giải phóng Tuy nhiên, các công trình mới chỉ đề cập đến từng mảng, từng nội dung cụ thể, chưa nghiên cứu sâu, chưa đánh giá quá trình lãnh đạo và vai trò của Đảng Lao động Việt Nam, của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong việc xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
2.2 Những nội dung kế thừa từ các công trình nghiên cứu:
Thông qua nhóm những công trình nghiên cứu trên, nhiều nội dung liên quan đến đề tài đã được đề cập đến, có ba vấn đề cơ bản tác giả kế thừa từ các công trình nghiên cứu trên là:
Thứ nhất, Nắm bắt sự thành lập, chức năng, nhiệm vụ của Xứ ủy-Trung ương
Cục miền Nam; từ đó có cái nhìn bao quát khi đánh giá vai trò, vị trí của công tác văn hóa trong cuộc kháng chiến toàn diện dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ-Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
Thứ hai, Khai thác, sử dụng sự tái lập các căn cứ địa và vùng giải phóng ở các
quân khu sau phong trào Đồng Khởi để viết về sự hình thành chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
Thứ ba, Kế thừa tư liệu về điện ảnh, giáo dục, âm nhạc… kháng chiến vào quá
trình chỉ đạo thực hiện chủ trương, đường lối Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam về văn hóa của các cơ quan, các cấp chính quyền ở Nam Bộ (1954-1975) Ngoài ra,tranh ảnh về hoạt động của điện ảnh, âm nhạc,… được sử dụng minh họa phụ lục luận văn
Trang 153 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ; qua đó đánh giá những thành công, hạn chế và đúc kết một số bài học về quá trình lãnh đạo của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn hình thành chủ trương xây dựng và phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
- Làm rõ quá trình Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào thực tiễn của Nam Bộ
- Tái dựng lại quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975
- Đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
- Khái quát những đặc điểm của văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ (1954-1975)
- Đúc kết thành những kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam (1954-1975)
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trình bày một số lĩnh vực của văn hóa kháng chiến có liên quan trực tiếp đến cán bộ, chiến sĩ, nhân dân ở chiến
Trang 16khu, vùng giải phóng gồm: Văn nghệ, văn học, báo chí, thông tin, điện ảnh, giáo dục
và xây dựng đời sống văn hóa mới
Về không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
Về thời gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, từ năm 1954 đến năm 1975 Trong một chừng mực nhất định, luận văn
có mở rộng thời gian trước năm 1954 làm tiền đề cho nội dung nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để đi sâu vào phân tích hoàn cảnh, quá trình hình thành, phát triển chủ trương, chính sách cũng như sự chỉ đạo thực hiện của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong xây dựng văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ (1954-1975)
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các thao tác như so sánh, phân tích, tổng hợp, đối chiếu tư liệu để giải quyết những mục tiêu mà đề tài đặt ra Kết hợp chặt chẽ với việc thu thập thông tin khoa học, tư duy logic để tái dựng một bức tranh toàn cảnh, khách quan đối với quá trình Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ
ở chiến khu, vùng giải phóng
- Góp phần hệ thống lại các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam nói riêng về xây dựng, phát triển văn hóa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Nam Bộ (1954-1975)
Trang 17- Cung cấp cho người đọc một cách nhìn toàn diện hơn về vị trí, vai trò của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam trong việc lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện xây dựng, phát triển văn hóa ở chiến khu, vùng giải phóng
- Góp phần cung cấp những cứ liệu khoa học thông qua tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển văn hóa kháng chiến, rút ra kinh nghiệm
- Ngoài ra, đề tài còn có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình thực hiện các nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa, giáo dục kháng chiến của những sinh viên, học viên cao học… chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG NAM BỘ (1954-1975)
CHƯƠNG 3: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA KHÁNG CHIẾN (1954-1975)
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CHIẾN KHU, VÙNG GIẢI PHÓNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ (1954-1975)
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
Văn hóa là một phạm trù rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời
sống nhân loại, toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội, những giá trị về vật chất và tinh thần của con người
Năm 2010, Tổ chức Khoa học, Giáo dục, Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO) định nghĩa văn hóa: “là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật
chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” (UNESCO, 2010,
https://unstats.un.org/) Dựa trên định nghĩa văn hóa của tổ chức UNESCO, có thể
hiểu văn hóa chính là sự tập hợp những giá trị đặc trưng về tinh thần và vật chất của con người, văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân, có óc phê phán và có đạo lý, từ đó thôi thúc con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo, tự hoàn
thiện bản thân Định nghĩa văn hóa của tổ chức UNESCO trở thành một trong những
chuẩn để xem xét, đánh giá, soi xét hoạt động và vai trò văn hóa
Trong mục đọc sách phần cuối của tác phẩm Nhật kí trong tù (1942-1943), Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.458)
Khái niệm văn hóa mà Hồ Chí Minh quan niệm được hiểu theo nghĩa rộng, bao
quát nhưng hết sức sâu sắc: “Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và những giá trị tinh
Trang 19thần mà loài người sáng tạo ra nhằm đáp ứng sự sinh tồn cũng như mục đích sống của loài người Và muốn xây dựng nền văn hoá dân tộc thì phải xây dựng tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý con người…” (Nguyễn Duy Thành, 2010, tr.32) Ở góc độ khác, Hồ Chí Minh xem văn hóa theo nghĩa hẹp hơn văn hóa được Người xác định là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng của
xã hội Văn hoá được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội, tạo thành bốn lĩnh vực chủ yếu của xã hội: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng” (Đặng Xuân Kỳ, 2005, tr.157) Người từng viết:
“văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.246) Tuỳ vào từng thời kỳ, từng hoàn cảnh, Người sử dụng khái niệm “văn hóa” với những nội hàm khác nhau để phát huy vai trò của văn hóa
Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa đã được cụ thể hóa
qua Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước:
“1- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội
2- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học
3- Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo
4- Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu
tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế
Trang 205- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan
trọng” (Báo điện tử ĐCSVN, 2014, http://tulieuvankien.dangcongsan.vn)
Như vậy, khái niệm văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất là toàn bộ những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình trong tiến trình đi lên của lịch sử Do đó, văn hóa là đặc trưng của toàn
bộ đời sống của loài người, xây dựng văn hóa là xây dựng tất cả các mặt đời sống xã hội và trình độ phát triển của con người Theo nghĩa hẹp hơn, văn hóa là những giá trị tinh thần, là đời sống tinh thần của xã hội như: tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức, thẩm
mỹ, nghệ thuật,… Hiểu theo cách này thì văn hóa chỉ là một mặt mà không phải là toàn bộ đời sống xã hội loài người
- Khái niệm Căn cứ địa (chiến khu):
Đại từ điển Tiếng Việt giải thích căn cứ địa là: “vùng làm chỗ dựa để tiến hành
chiến tranh” (Nguyễn Như Ý, 1998, tr.269)
Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam định nghĩa căn cứ địa cách mạng là:
“Vùng lãnh thổ và dân cư do lực lượng cách mạng làm chủ, tương đối an toàn (có thể
là vùng tự do hoặc căn cứ địa du kích đã được xây dựng, củng cố vững chắc); nơi đứng chân và làm chỗ dựa để lực lượng cách mạng chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa hoặc chiến tranh cách mạng Theo đơn vị hành chính, có CCĐCM: trung ương, địa phương, cơ sở; theo địa hình và vùng lãnh thổ, có CCĐCM: ở đồng bằng, rừng núi, đô thị, sông rạch; ngoài ra còn có CCĐCM vùng sau lưng địch (căn cứ lõm)… Điều kiện xây dựng CCĐCM: có cơ sở chính trị và chính quyền CM vững chắc; vũ trang toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kinh tế đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng và nuôi quân đánh giặc; địa thế thuận lợi cho cả tiến công và phòng ngự” (Bộ Quốc phòng-Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự, 2004, tr.127)
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về căn cứ địa đã viết: “Đội du kích trong lúc
hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ Đội du kích hoạt động phát
Trang 21triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được Có chính quyền cách mạng của địa phương, có
căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính
quy (quân chính quy là đội quân tổ chức theo quy củ nhất định về mặt biên chế, kỷ luật, súng ống, áo quần, ăn uống đều theo quy củ nhất định ấy)” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.536)
Trong tác phẩm Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, đại tướng Võ
Nguyên Giáp cho rằng: “Căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu trang vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng” (Võ Nguyên Giáp, 1970, tr.90)
Từ những định nghĩa trên có thể hiểu căn cứ địa là vùng lãnh thổ và dân cư do
lực lượng cách mạng làm chủ, tương đối an toàn (có thể là vùng tự do hoặc căn cứ du kích) đã được xây dựng, củng cố vững chắc, là nơi đứng chân và làm chỗ dựa để lực lượng cách mạng, của cơ quan đầu não Căn cứ địa là nơi đặt cơ quanchỉ đạo, tổ chức cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến và là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh cách mạng
Căn cứ địa có thể phân chia thành các loại chủ yếu sau:
Theo đơn vị hành chính có: Trung ương, địa phương
Theo địa hình có: đồng bằng, rừng núi, đô thị…
Căn cứ địa cách mạng bao gồm các loại hình: chiến khu, căn cứ du kích, căn cứ lõm (có lõm du kích và lõm chính trị)
Trên chiến trường Nam Bộ hầu hết tỉnh nào, địa phương nào cũng có căn cứ địa, trong đó nổi bật là các trung tâm kháng chiến lớn ở khu 7, khu 8, khu 9 và nơi
Trang 22đóng quân của Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam có căn cứ địa: Đồng Tháp Mười, Dương Minh Châu, U Minh…
Chiến khu đóng chức năng là căn cứ địa, quân địch chưa chiếm đóng, được ta
chọn làm nơi để cách mạng dựa vào đó xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam lý giải “chiến khu” là: “1) căn cứ địa cách mạng hoặc kháng chiến được vũ trang để tự bảo vệ và làm bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang, làm chỗ dựa tích lũy và phát triển lực lượng về mọi mặt nhất là quân
sự, phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng… 2) tên gọi đơn vị hành chính-quân sự được tổ chức ở các khu vực tác chiến chiến lược của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đầu kháng chiến chống Pháp, sau này gọi là khu” (Bộ Quốc phòng-Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, 2004, tr.209)
- Khái niệm Vùng giải phóng:
Đại từ điển tiếng Việt lý giải vùng giải phóng là: “Vùng dân cư đã được lực
lượng kháng chiến giải thoát khỏi chiến tranh của đối phương” (Nguyễn Như Ý, 1998, tr.1837)
Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam giải thích vùng giải phóng là: “Vùng lãnh
thổ và dân cư đã được lực lượng kháng chiến giải phóng khỏi ách thống trị của quân xâm lược và chính quyền tay sai Ở vùng giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập nhưng chưa thật ổn định Vùng giải phóng có thể bị đối phương đánh chiếm lại nếu chính quyền cách mạng không củng cố vững mạnh” (Bộ Quốc phòng-Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, 2004, tr.1192)
Việc xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng trên các chiến trường được: “Tiến hành từng bước, với quy mô, hình thức thích hợp tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng giữa
ta và địch trên từng vùng, từng địa bàn Ở vùng rừng núi, các căn cứ (chiến khu) từ
thời kháng chiến chống Pháp, ta có điều kiện mở rộng và phát triển thành vùng giải
phóng ở các địa bàn chiến lược quan trọng như ở miền Đông Nam Bộ Ở vùng giải phóng, ta xây dựng chính quyền cách mạng, củng cố quyền làm chủ, thực hiện cương lĩnh của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, khuyến khích sản xuất…” (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 1995, tr.218) Vùng giải phóng còn là
Trang 23những nơi được mở rộng thành căn cứ địa, được quy hoạch, phát triển thành một vùng căn cứ liên hoàn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Mỹ, vùng giải phóng không giống như vùng tự do rộng lớn và tương đối ổn định như trong kháng chiến chống Pháp bởi đối phương lúc này là đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đông đảo, có sức mạnh quân sự gấp nhiều lần quân đội Pháp, được trang thiết bị quân sự hiện đại cùng những chiến thuật thần tốc, đánh bất ngờ Do đó, vùng giải phóng tồn tại rất cơ động, linh hoạt,
dưới nhiều hình thức phong phú Cũng vì thế, khái niệm vùng giải phóng cũng cần
được hiểu là: “Vùng có sự hiện diện của những lực lượng cách mạng dưới những hình thức khác nhau, thường không công khai và không ổn định Những lực lượng này là một tồn tại thực tế Nhưng nó không tồn tại theo cách chiếm lĩnh hay cát cứ hẳn một vùng theo kiểu rạch đôi sơn hà” (Đặng Phong, 2004, tr.965)
- Khái niệm Chiến trường:
Đại từ điển Tiếng Việt giải thích chiến trường là: “Nơi diễn ra các cuộc chiến
đấu”, là “khoảng không gian đang và sẽ diễn ra chiến tranh hoặc tác chiến chiến lược” (Nguyễn Như Ý, 1998, tr.359)
Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam lý giải chiến trường: “1) gọi chung nơi
tác chiến Theo môi trường tác chiến, có: CT mặt đất, chiến trường mặt nước, CT trên
không, CT vũ trụ; 2) vùng đất, vùng biển và vùng trời trên chúng, nơi có thể hoặc đang
diễn ra cuộc chiến tranh hoặc các hoạt động tác chiến chiến lược Theo quy mô và vai trò, vị trí, có: CT chiến tranh và CT tác chiến; theo môi trường có: CT trên bộ (lục địa), CT trên đại dương (biển); theo vị trí địa dư, có: CT trong nước, CT ngoài nước Ranh giới CT do ban lãnh đạo chính trị-quân sự của quốc gia (liên minh các quốc gia) xác định Trong luật pháp quốc tế, CT được xác định là vùng đất, vùng biển và vùng trời trên nó, mà ở đó các quốc gia tham chiến đang hoặc sẽ có thể tiến hành chiến tranh hoặc các hoạt động tác chiến chiến lược Theo luật pháp quốc tế, CT không được gồm vùng đất, vùng trời và vùng biển của các quốc gia trung lập Trong chiến tranh cách mạng ở Việt Nam hình thành các CT: CT A (miền Bắc Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 ra phía bắc), CT B (miền Nam VN, từ vĩ tuyến 17 vào nam)” (Bộ Quốc phòng-Trung tâm
từ điển Bách khoa Quân sự, 2004, tr.239)
Trang 24Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam được Đảng giao phụ trách chiến trường Nam
Bộ Đến năm 1961, đây là chiến trường trọng điểm, quan trọng nhất của lực lượng cách mạng có mật danh B2 (gồm các chiến trường: Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên) Chiến trường Nam Bộ bao gồm:
“Khu 7 (miền Đông Nam Bộ-T1) gồm các tỉnh: Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Bà Rịa
Khu 8 (miền Trung Nam Bộ-T2) gồm các tỉnh: Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong
Khu 9 (miền Tây Nam Bộ-T3) gồm các tỉnh: An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau
Khu Sài Gòn-Gia Định (T4)” (Có lúc gồm cả Khu 10) (Bộ Quốc phòng-Quân khu 7, 2004, tr.100, 101)
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa
* Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa
Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa gồm nhiều nội dung như: các vấn đề chung về văn hóa, một số lĩnh vực chính của văn hóa Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả chỉ tập trung khái quát một số nội dung cơ bản trong quan điểm của
Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa
Văn hóa giáo dục
Hồ Chí Minh phê phán nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục thực dân Người cho rằng, việc xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà phải được coi là một mặt trận quan trọng, nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược, cơ bản và lâu dài Trong quá trình xây dựng nền văn hóa giáo dục ở Việt Nam, Người đã đưa ra một hệ thống quan điểm rất phong phú, toàn diện, định hướng cho nền giáo dục phát triển đúng đắn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà
Mục tiêu của văn hóa giáo dục: thể hiện cả ba chức năng của văn hóa thông
qua việc dạy và học Dạy và học là nhằm mở mang dân trí, nâng cao kiến thức; bồi
Trang 25dưỡng những tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, những phẩm chất trong sáng
và phong cách lành mạnh cho con người, đào tạo con người có ích cho xã hội
Nội dung giáo dục: phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam Giáo dục phải toàn
diện, bao gồm cả văn hóa, chính trị, khoa học-kỹ thuật, chuyên môn nghề nghiệp, lao
động Các nội dung này có quan hệ rất chặt chẽ với nhau
Phương châm giáo dục: học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ thực tế, học
tập phải kết hợp với lao động sản xuất; phải kết hợp thật chặt chẽ ba khâu: “trường học phải liên hệ chặt chẽ với gia đình, với xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.747); thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục Học ở mọi nơi, mọi lúc; học mọi người Học suốt đời, coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại
Phương pháp giáo dục: phải phù hợp với mục tiêu giáo dục Cách dạy phải
phù hợp với trình độ người học, phù hợp với lứa tuổi, dạy từ dễ đến khó; phải kết hợp học tập với vui chơi, giải trí lành mạnh phải dùng biện pháp nêu gương gắn liền với các phong trào thi đua…
Về đội ngũ giáo viên: Phải quam tâm xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
có đạo đức cách mạng, yêu nghề, đoàn kết và hợp tác với đồng nghiệp, giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp Mỗi giáo viên phải là một tấm gương sáng
về đạo đức, về học tập
Văn hóa nghệ thuật
-Văn hóa văn nghệ là một mặt trận, nghệ sỹ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là
vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng
Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa nghệ thuật là một mặt trận tức là khẳng định vai trò, vị trí của văn hóa-văn nghệ trong sự nghiệp cách mạng, coi mặt trận văn hóa cũng có tầm quan trọng như mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.246) Người nhấn mạnh: “văn hóa nghệ thuật cũng
là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.246)
-Văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống của nhân dân
Trang 26Thực tiễn đời sống của nhân dân rất phong phú, bao gồm thực tiễn lao động sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt và xây dựng đời sống mới Đây là chất liệu vô tận cho văn nghệ sáng tác Hồ Chí Minh yêu cầu các văn nghệ sĩ phải thật “đi sâu vào quần chúng” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.513), các sáng tác phải: “cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.246) Bởi vì, nhân dân chính
là người hưởng thụ và đánh giá các tác phẩm một cách trung thực, khách quan và chính xác nhất
-Phải có những tác phẩm xứng đáng thời đại mới của đất nước và dân tộc
Mục tiêu của văn nghệ là phục vụ quần chúng Để thực hiện mục tiêu này, các tác phẩm văn nghệ phải đạt tới sự thống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức Người nói: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.504, 505)
Đời sống văn hóa
Văn hóa là bộ mặt tinh thần của xã hội, được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người Gắn việc xây dựng nền văn hóa mới với xây dựng đời sống mới thực sự là một cách nhìn, một giải pháp rất độc đáo của Hồ Chí Minh
Đời sống văn hóa thực chất là đời sống mới, được Hồ Chí Minh đề cập vào năm
1947 dưới bút danh Tân Sinh và thay mặt cho Ủy ban Trung ương vận động đời sống mới, nêu ra ba nội dung: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới Ba nội dung này
có quan hệ mật thiết, trong đó đạo đức giữ vai trò chủ yếu Bởi vì, chỉ có thể dựa trên một nền đạo đức mới, thì mới xây dựng được lối sống mới và nếp sống mới Đến lượt mình, đạo đức mới cũng chỉ có thể hiện trong lối sống mới và nếp sống mới
-Đạo đức mới: Để xây dựng đời sống mới trước hết phải xây dựng đạo đức mới
Hồ Chí Minh kêu gọi thực hành đời sống mới là: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.112)
-Lối sống mới: Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức Đó còn là lối
sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hoà truyền thống tốt đẹp của dân tộc với tinh
Trang 27hoa văn hoá nhân loại Con người muốn tồn tại phải làm sao cho có ăn, mặc, ở, đi lại
và làm việc; phải làm sao cho mỗi một hoạt động đó đều mang tính văn hóa Chính vì vậy, để xây dựng lối sống mới, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sửa đổi bốn điều: “ăn,
mặc, ở, đi lại” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.113)-gọi chung là lối sống mới
-Nếp sống mới: Xây dựng nếp sống mới là quá trình làm cho nếp sống mới dần
dần thành thói quen, thành phong tục, tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.112) Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thỉ sửa đổi, Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm Cái gì mới mà tốt thì phải làm, phải bổ sung
Cũng trong năm 1947, dưới bút danh X.Y.Z, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc Người chỉ dẫn về cách làm việc, về công tác cán bộ và về các căn
bệnh phải chống Qua đó, càng thể hiện quyết tâm của Người về xây dựng và thực
hành đời sống mới
Xây dựng văn hóa đời sống mới là một công việc lâu dài, công việc đó đòi hỏi
sự quyết tâm của cả cộng đồng dân tộc, song trước hết, phải được bắt đầu từ mỗi con người, mỗi gia đình
* Quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa:
Năm 1943, Đề cương về văn hóa Việt Nam ra đời, đánh dấu mốc chuyển biến
đặc biệt quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trên mặt trận văn hóa Đề cương chính là một cương lĩnh về văn hóa, không những vạch ra nhiệm
vụ văn hóa trước mắt mà còn vạch ra phương hướng lâu dài cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam Đề cương xác định trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải xây dựng nền văn hóa mới dựa trên ba nguyên tắc “dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa”
Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam diễn ra Đảng đã có sự điều chỉnh lại những nhận thức về nền văn hóa mới, mệnh
đề “xã hội chủ nghĩa về nội dung và hình thức là dân tộc” được thay thế bằng “nội
Trang 28dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc” Những tính chất về nền văn hóa mới này được nêu ra khi nói về văn nghệ mới, quan điểm: “Nền văn nghệ mới ở miền Bắc chúng ta trong giai đoạn này phải là một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức” (Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, 2000, tr.99), “xây dựng cho nhân dân miền Bắc một đời sống văn hoá lao động, tiến bộ, lành mạnh, vui tươi, đồng thời làm cho nhân dân ta tiếp thu được những di sản và thành tựu văn nghệ tốt đẹp của dân tộc và thế giới, để xây dựng một nền văn nghệ mới, nội dung là xã hội chủ nghĩa và hình thức là dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002e, tr.559) được thay thế bằng quan điểm: “Chúng ta phải xây dựng văn nghệ mới có tính chất dân tộc và nội dung xã hội chủ nghĩa phong phú Văn nghệ phải có tính đảng và tính nhân dân rõ rệt…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002g, tr.555), “Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002g, tr.930) Mặc khác, hai tính chất “tính Đảng” và
“tính nhân dân” được bổ sung tại Nghị quyết Đại hội III và được khẳng định lại tại Nghị quyết Đại hội IV của Đảng năm 1976 sau này
Năm 1956, Báo cáo công tác tư tưởng tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 do
đồng chí Tố Hữu trình bày đã nêu lên những công tác cụ thể về nâng cao chất lượng của công tác báo chí, phát thanh, xuất bản cũng như cần chú trọng phát triển công tác văn hóa giáo dục, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng Báo cáo đặt ra: “Vấn đề hiện nay là Trung ương Đảng ta đặt lại một cách đúng đắn vị trí của công tác văn hóa giáo dục trong toàn bộ công tác cách mạng, đề ra đường lối chính sách văn hóa giáo dục thích hợp với yêu cầu của khả năng hiện tại nước nhà, chẳng những để đáp ứng với những đòi hỏi trước mắt mà còn phải chuẩn bị cho những thời
kỳ sau, vì sự nghiệp văn hóa giáo dục đòi hỏi thời gian xây dựng tương đối lâu dài” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002b, tr.505)
Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai ngày 20/2/1957, đã khẳng định những cống hiến của văn
nghệ sĩ khi làm nhiệm vụ “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”, từ đó đặt ra vấn đề cho văn hóa, văn nghệ nước nhà sau Hiệp định Giènève năm 1954:
Trang 29“Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đó là nhiệm vụ chung của toàn dân ta từ Bắc tới Nam Muốn thực hiện nhiệm
vụ đó, chúng ta phải phấn đấu củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh thống nhất nước… Nhiệm vụ chung của những người công tác tư tưởng, công tác văn nghệ ở miền Bắc là
góp phần thực hiện cuộc cách mạng văn hóa trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng
con người mới của xã hội mới về mặt tư tưởng, trí tuệ và tình cảm Để làm tròn nhiệm
vụ ấy, các nhà văn nghệ chúng ta ở miền Bắc và miền Nam hãy cùng nhau ra sức xây dựng một nền văn nghệ dân tộc phong phú, tích cực góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, 2000, tr.98, 99)
Theo đề nghị của Ban tuyên huấn Trương ương và Đảng đoàn Hội Văn nghệ
Việt Nam, Ban bí thư ra Nghị quyết Số 13-NQ/TW, ngày 22 tháng 5 năm 1957 Về việc thành lập Tiểu ban Văn nghệ Trung ương và Đảng đoàn các ngành văn học, nghệ thuật Việc thành lập Tiểu ban Văn nghệ Trung ương và Đảng đoàn văn học, nghệ
thuật có vai trò quan trọng trong việc: “Đề bạt ý kiến với Trung ương, giúp Trung ương vạch ra những đường lối, chính sách để lãnh đạo toàn bộ công tác văn học, nghệ thuật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002c, tr.417)
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10/9/1960, nhấn
mạnh mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về văn hóa và kỹ thuật là: “Làm cho nhân dân lao động có trình độ văn hóa ngày càng cao, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật, và áp dụng được những hiểu biết đó vào việc xây dựng một nền văn hóa, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, thiết thực phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002g, tr.929) Để đạt được mục tiêu này thì trước tiên, phát triển văn nghệ mới nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc Báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thanh, điện ảnh… phải thực sự trở thành vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân trên mặt trận tư tưởng và chính trị
Trang 30Yêu cầu mới đặt ra cho giới văn nghệ sĩ khi bước vào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đó là các tác phẩm nghệ thuật cần bám sát hiện thực của cuộc sống, lấy tư liệu của cuộc sống làm chất liệu cho các tác phẩm nghệ thuật, phản ánh chân thật hiện thực cuộc sống Muốn làm được điều này thì giới văn nghệ sĩ cùng lao động với nhân dân, hoà mình vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cùng sát cánh trên chiến trường miền Nam bom đạn Từ đó, phát động một phong trào sáng tác nghệ thuật trong quần chúng, khơi dậy những giá trị tư tưởng, tình cảm và tâm hồn cao đẹp trong mỗi người dân thì lúc này các tác phẩm nghệ thuật mới thực sự “xứng đáng thời đại”, trở thành một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước
Báo cáo tại Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày
27/3/1963 về Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) đánh giá tầm quan trọng của sự kết hợp phát triển kinh tế và
văn hóa với củng cố quốc phòng; đề ra nhiệm vụ của văn hóa: “Trong 5 năm, phát triển hơn nữa các công tác văn hóa nhằm phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị và kinh tế, thiết thực phục vụ cho nhiệm vụ công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, cho phát triển nông nghiệp, góp phần vào việc củng cố quan hệ sản xuất mới và cuộc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà Phải hướng mọi công tác chủ yếu đi sâu vào cuộc cách mạng văn hóa và kỹ thuật, nhằm xây dựng con người mới, cuộc sống mới, tham gia
tích cực vào việc xây dựng một nền văn hóa mới, tiên tiến, dân tộc và xã hội chủ
nghĩa, giáo dục truyền thống, giáo dục tư tưởng Mác-Lênin chiếm ưu thế tuyệt đối trong nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2003a, tr.401)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương số 78-NQ/TW, tháng 4 năm 1963 Về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965) đề ra phương hướng và chỉ tiêu cụ thể của công tác văn hóa, giáo dục: Công tác
bổ túc văn hóa là công tác hàng đầu của ngành giáo dục; giáo dục phổ thông phải tiến tới phổ cập cấp I cho thiếu niên ở miền xuôi và miền núi, mở thêm trường cấp II, cấp III, xúc tiến cải cách giáo dục và đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt”, giáo dục toàn diện (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục); đẩy mạnh phong trào văn hóa và văn nghệ quần chúng
Trang 31Bước sang năm 1965, trong tình trạng cả nước có chiến tranh, nhiệm vụ cấp
bách của toàn dân là chống Mỹ, cứu nước do đó ngày 28/7/1965, Ban bí thư ra Chỉ thị
Số 104-CT/TW Về công tác văn hoá, văn nghệ trong tình hình mới, công tác văn hoá,
văn nghệ có một vai trò trọng yếu trong việc: “Giáo dục lòng căm thù đối với bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai, cổ vũ tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bồi dưỡng khả năng sản xuất và chiến đấu của nhân dân, nâng cao sinh hoạt tinh thần của quần chúng, xây dựng một nền văn hóa xứng đáng với nhân dân ta, phục vụ sự nghiệp vĩ đại chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta hiện nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2003b, tr.326)
Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 20 về phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước năm 1972 đề ra nhiệm vụ,
mục tiêu cụ thể của từng ngành Ngành giáo dục cần tích cực khôi phục phong trào bổ túc văn hóa tại chức Văn hóa và thông tin cần làm tốt công tác văn hóa quần chúng, nâng cao chất lượng các kịch bản của sân khấu và điện ảnh, dựa vào dân để khôi phục phát triển hệ thống phát thanh đường dây, tiếp tục xây dựng ngành vô tuyến truyền hình
Về công tác phát thanh, thông tin và cổ động, Ban bí thư ra Nghị quyết Số NQ/TW, Ngày 14 tháng 7 năm 1959 Về công tác truyền thanh cần phát huy tác dụng:
80-“Tuyên truyền, cổ động cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Chính Phủ, hướng dẫn nhân dân miền Bắc phấn khởi thi đua thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc; động viên nhân dân toàn quốc tích cực đấu tranh thống nhất nước nhà”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002e, tr.599) Ngày 23/12/1965, Ban bí thư ra Chỉ thị Số 118-CT/TW Về việc tăng cường công tác thông tin và cổ động, Trung ương Đảng và
Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục thông tin và hệ thống tổ chức thông tin ở các cấp nhằm đẩy mạnh công tác thông tin và cổ động
Về công tác báo chí, Bộ Chính trị kiểm điểm công tác báo Nhân dân, tạp chí Học tập… Đây là những tờ báo, tạp chí cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam và ra quyết nghị một số vấn đề về việc cải tiến, phát hành và phổ biến tờ báo, tạp chí, nhằm phát huy tác dụng tuyên truyền, cổ động, giáo dục, đấu tranh tư tưởng Ngày
22/12/1970, Thông báo Số 04-TB/TW Chủ trương của Ban Bí thư (họp ngày 14 tháng
Trang 3212), về công tác xuất bản và phát hành báo chí năm 1971, trên cơ sở bảo đảm nâng
cao chất lượng, sắp xếp lại lực lượng báo chí nhằm: “Phổ biến đường lối, chính sách đến tận cơ sở, đến đông đảo đảng viên và quần chúng, phục vụ tốt việc nâng cao trình
độ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật của mọi người và góp phần đẩy mạnh mọi mặt công tác của Đảng và Nhà nước ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004c, tr.362)
Về công tác giáo dục, Ban bí thư đề ra Nghị quyết Số 14-NQ/TW, ngày 25 tháng
5 năm 1957 Về việc thành lập Tiểu ban Giáo dục khoa học Trung ương và chấn chỉnh
sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác giáo dục Ngày 23/8/1958, Ban bí thư ra Nghị quyết Số 50-NQ/TW Về việc thành lập Ban Văn hoá giáo dục Trung ương
nhằm thay thế cho TBGD khoa học, Tiểu ban Văn nghệ, Tiểu ban Y học trực thuộc Trung ương với nhiệm vụ: “Là một cơ quan có trách nhiệm giúp Trung ương Đảng đề
ra và chỉ đạo thực hiện đường lối, phương châm, chính sách về các mặt công tác văn học, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, y tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002d, tr.307)
Ngày 14/2/1969, Ban bí thư ra Chỉ thị Số 169-CT/TW Về công tác giáo dục trong ba năm 1968-1970, quan điểm cơ bản của ĐLĐVN về giáo dục là: “Nhà trường
là một công cụ đắc lực của nền chuyên chính vô sản, công tác giáo dục là một bộ phận rất quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hoá Thế hệ sau này như thế nào,
có trở thành những người kế tục đáng tin cậy sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta hay không, có đủ sức xây dựng xã hội mới nhanh và tốt hay không, phần lớn là tuỳ thuộc ở công tác giáo dục thế hệ trẻ, ở chất lượng của nhà trường xã hội chủ nghĩa,
ở phẩm chất cách mạng và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004b, tr.22, 23) Kế hoạch ba năm của ngành giáo dục phải lấy vấn đề đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý làm khâu trung tâm, từng bước sửa đổi và biên soạn lại sách giáo khoa một cách vững chắc, đây là khâu quan trọng để tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị cho cải cách giáo dục sau này
Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết Số 215-NQ/TW, ngày 24 tháng 4 năm 1971 Về việc thành lập Ban Nghiên cứu cải cách giáo dục phổ thông của Trung ương Đảng; Nghị quyết Số 217-NQ/TW, ngày 27 tháng 4 năm 1971 Về việc thành lập Ban nghiên cứu cải cách giáo dục chuyên nghiệp và đại học của Trung ương Đảng Ban Nghiên
Trang 33cứu này có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo việc xây dựng đề án về nội dung cải cách giáo dục để trình Bộ Chính trị quyết định
Ngày 22/1/1974, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Số 229-NQ/TW Về nhiệm vụ, phương hướng khôi phục và phát triển kinh
tế miền Bắc trong hai năm 1974-1975 đề cập việc khôi phục và phát triển hoạt động
của ngành giáo dục: “Các ngành giáo dục, phổ thông, đại học và chuyên nghiệp phải cải tiến công tác quản lý, khôi phục và xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của các trường, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Cải tiến công tác bồi dưỡng cán bộ khoa học, kỹ thuật và cán bộ quản lý đang công tác ở các ngành, các cấp Hoàn thành việc chuẩn bị thực hiện cải cách giáo dục” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004d, tr.410, 411)
Như vậy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa là cơ sở lý luận để
từ đó Đảng đề ra những chủ trương, đường lối xây dựng, phát triển văn hóa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nét chủ đạo về văn hóa trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đó là xây dựng và phát huy nền văn nghệ dân tộc; đẩy mạnh bình dân, học vụ xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, chú trọng “học đi đôi với hành”, chú trọng giáo dục toàn diện đào tạo những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, có “tài” có “đức”, xây dựng đời sống mới trong cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân… Đường lối, chủ trương của Đảng đã dấy lên tinh thần phấn khởi, hăng say thi đua trong nhân dân
Từ đó, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước trên các mặt trận khác, góp phần vào thắng lợi chung trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Quan điểm, chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng về văn hóa đã được Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam quán triệt, từ đó đề ra đường lối, chủ trương về văn hóa kháng chiến phù hợp, kịp thời với thực tiễn cách mạng miền Nam Việt Nam khi bước vào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 34làm giới tuyến quân sự tạm thời Miền Bắc Việt Nam thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam Việt Nam do thực dân Pháp và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, tuy nhiên trên thực tế Pháp lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ, phải nhượng bộ các yêu sách của Mỹ
Ngay khi Hiệp định Gièneve có hiệu lực, phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nghiêm chỉnh chấp hành, thực hiện tập kết chuyển quân từ Nam ra Bắc nhưng phía Mỹ chủ trương chia cắt lâu dài Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ Để thực hiện âm mưu này, Mỹ từng bước loại thực dân Pháp và các thế lực thân Pháp, xúc tiến thực hiện chủ nghĩa thực dân mới
ở miền Nam Việt Nam, ủng hộ Ngô Đình Diệm nắm giữ chức vụ thủ tướng rồi tổng thống
Tháng 5/1955, Ngô Đình Diệm phát động “chiến dịch tố cộng” trên toàn miền Nam Chính sách “tố cộng, chống cộng” của Mỹ-Diệm đã gây tổn thất nặng nề làm cho cách mạng khiến cách mạng miền Nam rời vào tình thế vô cùng nguy cấp: “Chỉ hai năm sau Hiệp định Gièneve, Đảng bộ Nam Bộ bị tổn thất nặng: 01 phó bí thư Xứ
ủy, 18 tỉnh ủy viên, 100 huyện ủy viên bị bắt hoặc bị giết Trong vòng 4 năm 1958), trên 9/10 cán bộ, đảng viên ở miền Nam bị sát hại Riêng Nam Bộ chỉ còn 5 ngàn đảng viên trên tổng số 60 ngàn (chỉ còn trên 8%)” (Bộ Quốc phòng-Quân khu 7,
(1955-2004, tr.61) Trong kháng chiến chống Pháp, một loạt các căn cứ địa mà đồng bào, cán
bộ, chiến sĩ thường gọi là chiến khu ra đời và phát triển, cùng đó quân dân Nam Bộ đã làm chủ được vùng giải phóng rộng lớn khắp các địa bàn ở Nam Bộ Tuy nhiên, ngay sau Hiệp định Gièneve, lúc này vùng giải phóng đã bị đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn chiếm lại, Mỹ-Diệm mở những cuộc hành quân, càn quét, đánh phá các căn cứ địa của lực lượng cách mạng xây dựng trong thời kỳ chống Pháp Đến giữa năm 1959,
đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đã đánh bật, làm tan rã 60% đến 90% các cơ sở cách mạng ở vùng căn cứ, riêng ở đồng bằng Nam Bộ: “Địch đã thực sự làm chủ xóm ấp, một hai tên phản động cũng làm cho hàng trăm, hàng nghìn quần chúng phải sợ sệt” (Xứ ủy Nam Bộ, 1961, tr.12), “vài tên do thám khống chế được cả xã” (Xứ ủy Nam
Bộ, 1961, tr.18)
Trang 35Tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng), Đảng xác định: “con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân… con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002e, tr.82)
Nghị quyết Trung ương 15 châm ngòi các cuộc tiến công và nổi dậy năm 1960 trên toàn Nam Bộ Mở đầu là phong trào Đồng Khởi bùng nổ đầu tháng 1/1960 ở huyện Mỏ Cày (Bến Tre) rồi lan rộng ra toàn tỉnh Bến Tre, tạo thành vũ bão trên khắp miền Nam Phong trào Đồng Khởi đã đánh dấu sự chuyển hướng của cách mạng miền Nam từ thế “giữ gìn lực lượng sang thế tiến công”, làm tan rã phần lớn cơ cấu cơ sở ở nông thôn của chính quyền Sài Gòn và thúc đẩy sâu sắc mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn
Dựa trên những lợi thế về vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội, truyền thống cách mạng, đặc biệt là lợi thế của phong trào Đồng Khởi năm 1960 mang lại, hàng loạt các căn cứ địa được hồi sinh:
Từ cuối năm 1956, vùng Bắc Tây Ninh (chiến khu Dương Minh Châu mở rộng), Xứ ủy Nam Bộ xác định thành căn cứ chiến lược của Miền Đầu năm 1957, Xứ
ủy Nam Bộ chủ trương củng cố, xây dựng căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ gồm căn
cứ địa ở Đông Bắc và Tây Bắc Sài Gòn (nguyên là chiến khu Đ và chiến khu Dương Minh Châu), nơi có điều kiện để trở thành các căn cứ địa của cả vùng Nam Bộ, mở rộng lên sát biên giới Campuchia giáp với Tây Ninh Đến năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ tiến hành mở rộng căn cứ ở Mã Đà để mở các lớp tập huấn cán bộ, đồng thời tăng cường chỉ đạo các tỉnh Đồng Tháp Mười, Rạch Giá và Long An chú trọng xây dựng, củng cố, mở rộng căn cứ Đồng Tháp Mười, căn cứ U Minh Riêng ở Cà Mau từ giữa năm 1958, những gia đình có người đi tập kết và quần chúng ở một số huyện như Thới Bình, Ngọc Hiển, Cái Nước, Trần Văn Thời dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, của Đảng bộ địa phương đã xây dựng được: “15 “làng rừng” so với số dân tới gần 20.000 người… Làng rừng thực chất là những thôn xã do nhân dân tự quản, tự xây dựng để chống giặc; là những căn cứ an toàn để tích luỹ vật chất, duy trì và phát triển lực lượng
Trang 36cách mạng, tạo điều kiện cho ta tổ chức những trận tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch” (PGS, TS Trịnh Nhu, 2008, tr.189) Sự xuất hiện các “làng rừng” đã chứng
tỏ một điều: nhân dân miền Nam không thể sống dưới sự thống trị hà khắc, tàn bạo của Mỹ-Diệm, muốn sống thì nhân dân miền Nam cần phải vùng lên đánh đổ sự thống trị
Dân số trong các căn cứ địa ở Nam Bộ tăng lên nhanh chóng sau phong trào Đồng Khởi năm 1960, chủ yếu tập trung tại các căn cứ, chiến khu lớn như: Dương Minh Châu-Bắc Tây Ninh, U Minh, Đồng Tháp Mười, chiến khu Đ Riêng ở căn cứ đầu não Dương Minh Châu-Bắc Tây Ninh (mật danh C.105) cuối năm 1958, dân số trong căn cứ là 8.000 dân, sau năm 1962 diện tích căn cứ chiếm 2/3 diện tích của tỉnh Tây Ninh, gồm 21 xã với 85.000 dân (Bộ Tư lệnh Quân khu 7-Tỉnh ủy Tây Ninh,
2002, tr.381, 382, 429) Riêng quân số trong chiến khu Dương Minh Châu vào ngày 4/2/1963 theo ước tính Bộ Tư lệnh Quân đoàn III đệ trình Tổng thống Việt Nam Cộng hoà: “Bộ Tư lệnh Quân đoàn chúng tôi nhận thấy quân số của Việt cộng tại chiến khu Dương Minh Châu có chừng 1.628 tên” (Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, 1963, tr.41) Tuy nhiên, diện tích và dân số trong căn cứ địa luôn có sự biến động, đến năm
1967, căn cứ địa Dương Minh Châu-Bắc Tây Ninh chỉ còn 800 dân sinh sống dọc sông Vàm Cỏ Đông và một số xóm ấp cũ do chính sách gom dân vào các ấp chiến lược đế
quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn (Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 7, 2011, tr.560)
Trang 37Việc xây dựng, củng cố và mở rộng các căn cứ, chiến khu ở Nam Bộ có ý nghĩa chiến lược, tạo nên sức mạnh về vật chất và lực lượng cho cách mạng Sự ra đời của các căn cứ Miền, các căn cứ tỉnh là tiền đề cho sự ra đời của các lực lượng vũ trang như: “đại đội 40 (Biên Hoà), đại đội 45 (Bà Rịa), tiểu đoàn 20 (Tây Ninh), đại đội Rừng Xanh (Thủ Dầu Một), tiểu đoàn 506, 508 (Long An), tiểu đoàn 504 (Kiến Tường), đại đội 13 (Sài Gòn-Gia Định)” (Trần Thị Nhung, 2001, tr.49), “tiểu đoàn Lý Thường Kiệt (Vĩnh Long)” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, 2015, tr.134) Sau khi giải thể tỉnh Bạc Liêu (các huyện, thị xã của tỉnh Bạc Liêu được sát nhập vào tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Cà Mau) Cuối năm 1957, theo chỉ thị của Liên tỉnh uỷ miền Tây đưa về Sóc Trăng: “1 một trung đội vũ trang thành lập lực lượng vũ trang tỉnh mệnh danh là tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng” (Tỉnh ủy-Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu,
2006, tr.149), “Tiểu đoàn Cửu Long” (Trà Vinh)” (Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh, 2005, tr.35), Các lực lượng vũ trang khai phá những con đường xuyên qua các cánh rừng, xây dựng được đường dây giao liên về các căn cứ lớn của Miền, nhờ đó hệ thống căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Pháp bước đầu được lập lại, củng cố
và mở rộng trong kháng chiến chống Mỹ
Tổ chức Đảng, các đoàn thể cách mạng cũng được khôi phục và phát triển tại các chiến khu, vùng giải phóng Nam Bộ sau phong trào Đồng Khởi năm 1960 Riêng ở khu Trung Nam Bộ: “cuối năm 1959, toàn khu có 1.800 đảng viên, 60 chi bộ Đến hết tháng 3 năm 1961, đã có hơn 6.000 đảng viên và 400 chi bộ… Các tổ chức quần chúng: các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thành hệ thống từ tiểu tổ, ban cán sự ấp, ban chấp hành xã” (Nguyễn Minh Đường, 2001, tr.186, 187)
Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập Mặt trận làm chức năng chính quyền cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam ngay sau đó Trong những năm 1959-1960, hàng vạn thanh niên, cán bộ từ khắp các ngành, các miền của đất nước, từ Campuchia tới đã quy tụ về căn cứ địa Bắc Tây Ninh phục vụ cho sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Trong năm 1961, hàng loạt các hội đoàn là thành viên của
Trang 38Mặt trận, tiếp đó là Mặt trận dân tộc giải phóng của các miền, các tỉnh, huyện, xã ở Nam Bộ cũng lần lượt được thành lập
Toàn bộ các cơ quan của Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Bộ Chỉ huy Miền được tổ chức thành: “13 huyện căn cứ, có 13 đại đội cơ động làm nhiệm vụ bộ đội địa phương huyện, với khoảng trên 3.000 du kích (từ các cơ quan cử ra) được trang bị mạnh ở từng cơ quan làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ” (Bộ Tư lệnh Quân khu 7-Tỉnh ủy Tây Ninh, 2002, tr.397)
Song song với quá trình tái lập các căn cứ địa cùng với việc đẩy mạnh xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và các tổ chức đoàn thể, vùng giải phóng ngày càng mở rộng sau phong trào Đồng Khởi năm 1960 (Xem phụ lục 1.1)
Phong trào Đồng Khởi năm 1960 nổi lên mạnh mẽ, phá tan: “2/3 bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở” (Trần Đức Cường, 2014, tr.263) Cục tình báo của Mỹ nhận định: “Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn cũng như một số vùng ở phía Bắc đã nằm dưới sự kiểm soát rất lớn của cộng sản” (Đỗ Văn Biên, 2018, tr.14) Vùng giải phóng được hình thành, mở rộng ở khắp các xã vùng
nông thôn miền Nam, các căn cứ địa liên hoàn nối liền các miền, các tỉnh, các huyện
Tuy nhiên, dân số, diện tích của vùng giải phóng lại có sự biến động qua các năm theo hình thái chiến trường Nam Bộ Dân số, diện tích vùng giải phóng của lực lượng cách mạng bị suy giảm mạnh vào giữa năm 1961, khi đế quốc Mỹ triển khai chương trình
“ấp chiến lược”-xương sống của chiến lược Chiến tranh đặc biệt (1961-1965), tiến hành gom dân ở những vùng đã nổi dậy vào ấp chiến lược nhằm tách dân khỏi ảnh hưởng của cách mạng; tung biệt kích luồn sâu, bất ngờ đánh vào vùng giải phóng, đánh ác liệt các căn cứ địa, gây chiến tranh tâm lý uy hiếp tinh thần nhân dân khiến nhân dân ở các căn cứ địa, vùng giải phóng phải chạy sang vùng do Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát Trong những năm 1969-1970, đế quốc Mỹ triển khai mạnh
mẽ chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, tập trung đánh vào vùng nông thôn, liên tiếp tiến hành các kế hoạch bình định như: “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “kế hoạch phượng hoàng”… mở liên tiếp các cuộc hành quân càn quét, chiếm lại hầu hết vùng nông thôn đã giải phóng của cách mạng sau Mậu Thân năm 1968 Một số vùng mới giải phóng cũng bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn dồn dân lập ấp, xây dựng đồn bốt,
Trang 39thiết lập hệ thống kìm kẹp Các chiến lược giành dân, lấn chiếm vùng giải phóng, đánh vào các căn cứ địa đã gây tổn thất nặng nề đối với cách mạng Từ ngày 1/1/1968 đến ngày 31/1/1969, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành “chiến dịch bình định đặc biệt Lê Lợi” trên phạm vi toàn miền Nam diễn ra ở nông thôn: “Tranh chấp được
1367 ấp, (vượt chỉ tiêu 367 ấp) trên toàn Miền, trong đó Nam Bộ chiếm 844 ấp (60%)” (Bộ Quốc phòng-Quân khu 7, 2004, tr.355) Hầu hết số ấp mà quân dân Nam Bộ đã giải phóng trong Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 đã bị đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn chiếm lại
Sau một thời gian bị tổn thất, các căn cứ địa phải rút về giáp biên giới Việt-Lào
Từ năm 1972, Trung ương Cục miền Nam từng bước thu hẹp địa bàn lấn chiếm của đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn, diện tích và dân số ở căn cứ địa, vùng giải phóng của lực lượng cách mạng Nam Bộ tăng nhanh chóng, mạng lưới rộng khắp và ở thế liên hoàn nối tiếp nhau Cụ thể là các căn cứ sau:
Căn cứ địa của toàn B2: dựa vào địa bàn Miền Đông mà trọng điểm là Bình Phước Long và Bắc Tây Ninh có thể liên hoàn vững chắc với B3, Khu V và qua đó với Trị Thiên, miền Bắc, với căn cứ địa đông bắc Campuchia nối với căn cứ địa Lào, có hành lang thông suốt các căn cứ của T1, T6, T4 Dân số kể cả nhân dân và các lực lượng cách mạng khoảng 150.000 người Căn cứ địa của T1: nằm trong phạm vi chiến khu Đ cũ có khả năng mở rộng thêm, hình thành một tỉnh căn cứ mới tên dự định đặt
là Tân Phú, đây là khu vực căn bản là giải phóng, nhưng còn ít hộ dân (độ 500) nhưng sắp tới có khả năng đưa về thêm 3.000 người Căn cứ địa của T2: nằm ở trung tâm Đồng Tháp Mười, dân ta nắm chắc được khoảng 90.000 người Căn cứ địa của T3: có thế liên hoàn vững chắc của các khu rừng U Minh thượng-hạ và rừng duyên hải thuộc Rạch Giá, Cà Mau, vùng căn cứ địa của Khu đông dân (tổng số 575.000 người, trong
đó giải phóng 348.000 người) (Thường vụ Ba Đình, 1973, tr.15, 16)
Số dân các vùng giải phóng ở miền Đông và T6 tất cả khoảng gần 70.000 người, có nguồn bổ sung khá lớn với gần ½ triệu dân các vùng làm chủ và tranh chấp mạnh Ngoài ra còn có hàng trăm ngàn người trong các lực lượng cách mạng tập trung nhiều nhất ở T1 Tính đến cuối tháng 6/1973, ở T3 đã có 700 ấp giải phóng và 1.200
ấp làm chủ mạnh, với 1,2 triệu dân trong tổng số khoảng 2,5-2,7 triệu dân nông thôn
Trang 40toàn khu; ở T2, tính riêng khu vực căn cứ Đồng Tháp Mười, nằm trong phạm vi 3 tỉnh
Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến Tường, trong tổng số 324 ấp, đã có 82 ấp giải phóng và
156 ấp tranh chấp Tổng số dân là 336.000, đã có 33.000 dân giải phóng và 184.000 dân các ấp tranh chấp, ta có khả năng nắm được vùng giải phóng và tranh chấp mạnh khoảng 90.000 dân (Thường vụ Ba Đình, 1973, tr.3, 4, 5)
Như vậy, ngay sau Hiệp định Gièneve, các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong thời chống Pháp được tái lập, mở rộng và lớn mạnh sau phong trào Đồng Khởi năm 1960 Tuy nhiên, các chiến khu, vùng giải phóng trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ liên tục có sự biến động, tồn tại một cách cơ động và linh hoạt Sự biến động này chịu sự tác động của hình thái trên chiến trường Nam Bộ giữa đế quốc Mỹ, chính quyền Sài Gòn và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân dân Nam Bộ qua các chiến lược chiến tranh Các chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ có chỗ ở thế liên hoàn, chuyển tiếp liền mạch từ các căn cứ, chiến khu cho tới vùng giải phóng, nhưng có chỗ lại nằm đan xen, đứt đoạn, trong thế “cài răng lược” với những vùng tranh chấp, vùng kiểm soát của đối phương Điều này, đòi hỏi Xứ ủy-Trung ương Cục miền Nam phải đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp về văn hoá phù hợp với sự tồn tại cơ động, linh hoạt của các chiến khu, vùng giải phóng trên chiến trường Nam Bộ trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn
1.2.2 Thực trạng đời sống văn hóa ở Nam Bộ trước năm 1954
Nam Bộ là một vùng đất được khai mở trong khoảng 300 năm, có “tính chất mở của nền kinh tế và tính đa dạng, hỗn dung tôn giáo, tín ngưỡng” (Trần Thuận, 2016, tr.6, 19) Do đó, vùng đất Nam Bộ là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau,
xã hội cũng vì thế chịu ảnh hưởng của nhiều nguồn văn hóa
Ngay khi thiết lập bộ máy cai trị ở Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành chính sách cai trị trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa, giáo dục nhằm củng cố địa
vị thống trị ở Đông Dương Trước tác động của nền văn hóa Pháp, văn hóa Nam Bộ có
sự tiếp nhận nền văn hóa Pháp-văn hóa phương Tây bên cạnh nền văn hóa truyền thống của Nam Bộ Năm 1930, sự du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin, sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện nền văn hóa kháng chiến ở Nam
Bộ Giai đoạn 1945-1954, nền văn hóa kháng chiến được hình thành ở Nam Bộ Sự