Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ người Việt tại Đông Nam Bộ hiện nay” Nghiên cứu trường hợp dòng họ Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ NGỌC LÀNH
XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI QUAN HỆ DÒNG HỌ NGƯỜI VIỆT TẠI ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp dòng họ Lê Ba tại
xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ NGỌC LÀNH
XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI QUAN HỆ DÒNG HỌ NGƯỜI VIỆT TẠI ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp dòng họ Lê Ba tại
xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DÂN TỘC HỌC
MÃ NGÀNH: 60.22.70
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ NGUYỄN ĐỨC LỘC
TP HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
- Ban chủ nhiệm và quý thầy cô khoa Nhân học
- Phòng sau đại học, Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt và kịp tiến độ luận văn thạc sĩ
Xin được ghi nhận lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè luôn bên cạnh, hỗ trợ cho học viên có đủ tài lực và trí lực hoàn thành khóa học của mình
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Đức Lộc, người thầy đã hướng dẫn, dìu dắt tôi trên con đường khoa học từ luận văn tốt nghiệp Đại học đến Thạc sĩ
Cuối cùng xin gửi lời cảm đến ban chức sắc, toàn thể thành viên dòng họ Lê Ba tại Lang Minh, Xuân Lộc, Đồng Nai; dòng họ Lê Ba tại Cẩm Phổ, Quảng Trị và các cấp chính quyền địa phương đã cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho đề tài cũng như giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình công tác thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đề tài “Xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ người Việt tại Đông Nam Bộ hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp dòng họ Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu,
tư liệu và hình ảnh trình bày trong luận văn là trung thực và đáng tin cậy, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu chưa được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
TP HCM, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Dẫn luận
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 8
Nội dung
Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 21
1.1.3 Quan điểm tiếp cận lý thuyết của đề tài 24
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dòng họ Lê Ba 28
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 28
1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 31
Trang 6Chương 2 CẤU TRÚC THÂN TỘC DÒNG HỌ LÊ BA
Chương 3 QUAN HỆ DÒNG HỌ VÀ XU HƯỚNG CHUYỂN BIẾN QUAN HỆ DÒNG HỌ
3.1 Quan hệ dòng họ trong đời sống lễ nghi và đời sống xã hội 57
3.1.1 Quan hệ dòng họ trong đời sống lễ nghi 57
Trang 7DẪN LUẬN
1 Lý do- Mục đích nghiên cứu
Đối với mỗi con người Việt Nam, quan hệ huyết thống, tôn ti, họ hàng luôn được xem là mối quan tâm hàng đầu Vì thế, dòng họ gắn chặt với đời sống tinh thần của biết bao thế hệ Quan hệ dòng họ nằm trong mối quan hệ làng - xã Trong đó các mối quan hệ huyết thống, tôn ti của dòng họ là nền tảng trong các mối quan hệ xã hội của cộng đồng Từ quan hệ dòng họ đến quan hệ làng xã dường như đã trở nên quá quen thuộc đối với xã hội Việt Nam từ trước đến nay Vấn đề nghiên cứu quan hệ dòng họ được đề cập bởi không ít những học giả trong và ngoài nước từ sau năm 1990 trở lại đây với nhiều khía cạnh nội bộ trong làng xã, quan hệ thứ bậc, tôn ti, sự can thiệp của nhà nước vào nội tộc dòng họ… Tiếp nối những quan điểm ấy, luận văn là một đóng góp có ích cho công cuộc nghiên cứu lĩnh vực dòng họ và quan hệ dòng họ hiện nay Góp phần tìm hiểu và đánh giá những diễn biến, thay đổi các mối quan hệ bên trong và bên ngoài tộc họ, những xu hướng mới hòa nhập vào dòng chảy mạnh
mẽ của thời kỳ kinh tế thị trường, xu thế quốc gia hóa, quốc tế hóa
Ngày nay, trong bối cảnh xã hội đương đại, quá trình hiện đại hóa trong đời sống xã hội Việt Nam đang dần thay đổi nếp sống, cách nghĩ cũng như quan hệ giữa người và người Sự thay đổi này cũng ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ dòng họ và phong tục thờ cúng tổ tiên đối với các cộng đồng tộc họ tại Việt Nam
Trong số đó, dòng họ Lê Ba là một bộ phận lưu dân tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai từ Quảng Trị vào khoảng năm 1977 đến 1979 Họ Lê Ba đã chọn vùng đất này làm quê hương thứ hai của mình Từ 1979 đến nay, dòng họ Lê Ba không ngừng tăng lên về số hộ và nhân khẩu Hiện nay, cả họ có 51 hộ, khoảng 320 người- một con số lớn trong một xã tương đối nhỏ như Lang Minh Trải qua hơn ba mươi năm định cư và phát triển, họ đã khẳng định được vị trí của mình tại vùng đất mới Trong quá trình lập làng, lập xứ, họ đã mang theo những phong tục, tập quán, lối sống của quê hương vào việc tổ chức cuộc sống mới của cộng đồng trên vùng đất Đông Nam Bộ, đồng thời có những đổi mới để thích nghi với điều kiện địa lý, văn hóa
và xã hội nơi đây Từ những nghiên cứu khảo sát bước đầu chúng tôi nhận thấy dòng
họ Lê Ba vừa giữ gìn, bảo tồn các giá trị truyền thống dân tộc, vừa có những chiến
Trang 8lược thích ứng với bối cảnh đời sống xã hội đương đại ở Việt Nam Chính vì vậy, tôi
chọn đề tài “Xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ người Việt tại Đông Nam Bộ hiện
nay” (Nghiên cứu trường hợp dòng họ Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) vì những lý do sau:
a) Nhận diện cấu trúc và quan hệ tộc họ của dòng họ Lê Ba đặt trong bối cảnh kinh tế -xã hội của cộng đồng địa phương, đồng thời, chỉ ra những động thái quan hệ tộc họ thông qua việc thờ cúng tổ tiên của các thành viên trong dòng
họ
b) Tìm hiểu những những nhân tố tác động đến biến đổi quan hệ dòng hiện nay
Từ đó, dự báo xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ trong bối cảnh hiện đại hóa đang diễn ra ở Việt Nam
Chính vì vậy, mục tiêu chính yếu của đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu mối quan hệ dòng họ, đặt trong bối cảnh tôn giáo, kinh tế- xã hội, cộng đồng, sự thay đổi của quá trình hiện đại hóa, yếu tố kinh tế thị trường tác động đến quan hệ gia đình, dòng họ Thông qua đó, kết quả nghiên cứu của đề tài được xem xét như là những luận cứ khoa học trong việc nghiên cứu về mối quan hệ dòng họ của người Việt ở Đông Nam Bộ đương đại Bên cạnh đó, việc nghiên cứu xu thế liên kết những người thuộc họ Lê lại với nhau, gắn kết trong phạm vi cả nước và cả quốc tế cũng là một mục tiêu nghiên cứu của đề tài cần quan tâm làm rõ Đóng góp của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, những đối tượng quan tâm đến văn hoá, tôn giáo, đến nghiên cứu dòng họ
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài xác định rõ đối tượng nghiên cứu là xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ của người Việt ở Đông Nam Bộ (trường hợp dòng họ Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai), cư dân của dòng họ Lê Ba trong sự tìm hiểu những nhân tố tác động và những xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ, nhấn mạnh đến quá trình tái cấu trúc xã hội và ứng xử của các thành viên tộc họ với xu thế mới
Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian: cộng đồng cư dân tại Đông Nam
Bộ (trường hợp nghiên cứu xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai)
Trang 9Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ dòng họ từ những năm
1990 trở lại đây, vì thời điểm này cư dân dần ổn định đời sống kinh tế, chuyển sang đời sống tinh thần và các mối quan hệ thân tộc ngày càng được củng cố Đặc biệt, chúng tôi nhấn mạnh thời điểm năm 2007 đến nay, đây là thời điểm đánh dấu sự phục hưng của phong tục thờ cúng tổ tiên, việc thực hành nghi lễ được chú trọng hơn, từ đường ở khu vực phía nam được trùng tu, tôn tạo mạnh mẽ, thời điểm mà các mối quan hệ thân tộc, dòng họ có chiều hướng biến đổi và phát triển những xu hướng mới
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần đưa ra những luận cứ khoa học,
những luận đề lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu quan hệ dòng họ người Việt nói chung và người Việt tại Đông Nam Bộ nói riêng, đồng thời góp phần nghiên cứu cấu trúc cộng đồng, làm rõ đời sống văn hóa – xã hội của cư dân người Việt tại Đông Nam Bộ Hơn nữa, chúng tôi muốn phân tích, đánh giá những xu hướng biến đổi quan
hệ dòng họ trong bối cảnh hiện đại
- Ý nghĩa thực tiễn: Sau những biến động của chiến tranh, của nền kinh tế bao
cấp, quan hệ dòng họ của người Việt hiện nay đang trên đà phục hồi và phát triển chúng tôi hi vọng nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần vào nghiên cứu quan hệ dòng họ
và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, một truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Thờ cúng tổ tiên cũng gắn liền với quan niệm về dòng họ, về lối sống của người dân thông qua cách thức tổ chức và thực hành nghi lễ Nghiên cứu với trạng thái động của đề tài
sẽ góp thêm vào sự phong phú của nguồn tư liệu về vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các học giả trong nước và cả nước ngoài Ý nghĩa quan trọng nhất của đề tài là đóng góp những tư liệu có ích cho phòng văn hoá thông tin tại địa bàn cư trú và các cơ quan để có được những chính sách phù hợp nhằm khuyến khích phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, về công tác quản lý dân cư thông qua những biến động, xu hướng thay đổi các mối quan hệ giữa người và người nói riêng, dòng họ nói chung Đề tài sẽ
là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu quan hệ dòng họ tại Đông Nam
Bộ, tín ngưỡng tôn giáo của người Việt với những biến chuyển trong bối cảnh đương đại
Trang 104 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Từ mục tiêu của đề tài, chúng tôi đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau:
Quan hệ dòng họ của dòng họ Lê Ba qua quá trình di dân, định cư và phát triển như thế nào?
Hiện nay, quan hệ dòng họ có những thay đổi ra sao?
Những nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội có những ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi của quan hệ dòng họ người Việt hiện nay?
Bản thân mỗi thành viên ứng xử như thế với với quan hệ dòng họ, với những
xu hướng biến đổi đang diễn ra và những mâu thuẫn trong tộc họ?
Từ đó, chúng tôi đã đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu:
- Quan hệ dòng họ được đánh dấu và nhận diện từ cơ cấu tổ chức thân tộc Cấu trúc thân tộc Lê Ba phân chia theo gia đình và dòng họ với những chức năng, vai trò đối với từng cá nhân vừa mang đặc điểm của phong tục xưa, vừa có nhiều điểm khác biệt riêng của dòng họ tại Đông Nam Bộ Cấu trúc xã hội tại vùng đất mới của dòng
họ người Việt tại Đông Nam Bộ có nhiều biến đổi, vừa mang tính truyền thống, vừa hiện đại, đó là sự dung hòa, kết hợp cổ kim để giữ lại những giá trị cao đẹp lại vừa thích ứng với những thay đổi văn hóa, kinh tế, xã hội tại vùng đất mới này
- Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ Lê Ba đang diễn ra theo xu hướng mở rộng theo nhiều chiều mang tầm quốc gia, quốc tế Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi nào cho sự phát triển của dòng họ về kinh tế cũng như vị thế xã hội?
- Thái độ ứng xử của thành viên, quan hệ ứng xử trong nội bộ dòng họ ngày càng ít phụ thuộc vào những quy định của tộc họ mà thiên về lý tính hóa, hợp lý hóa
5 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp, qua đó hướng tới thực hiện được các mục tiêu và kiểm chứng được những giả thuyết nghiên cứu chính của đề tài
Trang 11- Về địa bàn nghiên cứu:
Chúng tôi chọn Lang Minh vì đây là một xã nông thôn mang đầy đủ tính chất đặc trưng chung của vùng đất Đông Nam Bộ về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý: xã nằm phía Tây Nam huyện Xuân Lộc- tỉnh Đồng Nai nằm trên tỉnh lộ 765, cách thị trấn Gia Ray khoảng 10km về phía Nam Xã tuy diện tích nhỏ nhưng có tỉnh lộ 765 chạy qua thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và đầu tư phát triển với địa phương lân cận như thành phố Phan Thiết, thành phố Biên Hoà và Vũng Tàu.1 Dân cư chủ yếu làm nông nghiệp, chưa xảy ra hiện tượng đô thị hóa nên vẫn còn giữ nhiều nét đại diện của văn hóa làng xã, mối quan hệ dòng họ Cư dân xã Lang Minh chủ yếu là người Việt với những phong tục truyền thống lâu đời phù hợp với chủ đề của luận văn Hơn nữa, đây là nơi tập trung sinh sống chủ yếu của cư dân họ Lê Ba tại phía Nam, được xem là hội đồng họ Lê Ba ở miền Nam Việt Nam Con dân trong họ sống rải rác tại Đông Nam Bộ đều tập trung về đây, nơi có ngôi từ đường, để kính nhớ tổ tiên
Dòng họ Lê Ba được chọn làm khách thể nghiên cứu vì đây là dòng họ lớn, cư trú khá lâu tại Đông Nam Bộ Lê Ba là họ có số nhân khẩu đông nhất trong các họ lớn tại xã Lang Minh, đồng thời duy trì được các mối quan hệ đặc trưng của dòng họ, lưu giữ những giá trị văn hóa, phong tục tốt đẹp trong quá trình phát triển Ngày nay, đến khu vực này hỏi họ Lê Ba thì dường như ai cũng biết bởi những nghi thức cúng kiếng, hội họp của họ khá đặc biệt, ngôi từ đường khang trang bề thế… rất được ủng hộ Đó
là điều mà những gia đình nhỏ, cư trú riêng lẻ không có được Dòng họ Lê Ba mang những nét văn hóa dòng họ cổ truyền từ quê hương miền Trung hòa vào hơi thở mới của làng Việt Nam Bộ, có thể xem là đại diện của dòng họ người Việt tại vùng đất Đông Nam Bộ mà đa phần là dân di cư từ miền Bắc hay miền Trung vào
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng có sự kết hợp các phương pháp định tính sau:
- Phương pháp quan sát - tham dự (Participant Observation): Phương pháp
chiếm phần lớn thời gian của chúng tôi và đưa lại những thông tin thu thập từ thực tế một cách khách quan, chân thực về quan hệ dòng họ Lê Ba nhấn mạnh đến phong tục thờ cúng tổ tiên Đây là phương pháp đặc thù của ngành Nhân học, đòi hỏi người
1
Báo cáo thuyết minh tình hình xã Lang Minh năm 2008, UBND xã Lang Minh, trang 4
Trang 12nghiên cứu phải sống, làm việc và nghiên cứu cộng đồng trong một thời gian dài và tham gia vào cuộc sống của người dân Trong suốt những đợt điền dã dài ngày tại địa bàn, chúng tôi tiến hành quan sát cách thức tổ chức, chuẩn bị lễ vật, cách bài trí lễ vật, các nghi lễ cúng bái, những hình thức vui hội…, thái độ tham gia của các thành phần: các vị chức sắc, người lớn tuổi, thanh niên, cách hành xử, lối ứng xử giữa các thành viên, giữa người nhỏ và người lớn tuổi, giữa chức sắc với thành viên… để thu thập dữ liệu một cách thực tế và khách quan nhất Chúng tôi cũng tham gia vào ngày lễ cùng với các vị khách mời để tìm hiểu suy nghĩ, quan điểm của họ về vấn đề này Đồng thời, quan sát tìm hiểu vị thế xã hội, vai trò, yếu tố quyền lực của các thành viên trong tộc họ, từ đó có nhìn nhận đúng đắn về trạng thái động của mối quan hệ dòng tộc hiện đại Thế mạnh của ngành Nhân học có lẽ là phương pháp này, chúng tôi được trang bị kiến thức khá tốt khi thâm nhập địa bàn Địa điểm thực địa tương đối gần với nơi ở của chúng tôi nên khá thuận lợi, chúng tôi có thể đi bộ vì chỉ cách vài trăm mét Được tham gia và quan sát hầu hết các ngày lễ trong năm tại từ đường họ Lê Ba, xem họ chuẩn bị lễ vật, thực hành nghi lễ, các cuộc họp bàn, tranh luận…và cả việc mặc lễ phục nữa Luận văn được phát triển từ luận văn tốt nghiệp Đại học của học viên từ năm 2009 đến nay, trải qua ba năm làm việc và tìm hiểu sâu, thực địa, tham gia hầu hết các kỳ lễ giỗ, hội họp của dòng họ, chúng tôi đã có nhiều điều kiện để quan sát – tham dự, ghi chép nhiều tư liệu hữu ích cho bài viết của mình Đặc biệt, chúng tôi đã
có chuyến thực địa một tuần của tháng 07/2012 tại Quảng Trị- quê gốc của dòng họ
Lê Ba này để tìm hiểu rõ hơn về nguồn gốc, quy mô cũng như lý do và quá trình di dân của họ Tại đây, chúng tôi cũng có dịp ghi nhận lại hình ảnh và quan sát từ đường gốc của họ trải qua hàng thập kỷ Nhận ra được những nét khác biệt giữa cộng đồng
Lê Ba tại Lang Minh và cộng đồng gốc, từ cách ứng xử đến thực hành nghi lễ, đến các mối quan hệ nội và ngoại tộc Đồng thời, chúng tôi cũng có dịp gặp gỡ và làm việc cùng một số thành viên thuộc tộc họ tại Thành phố Hồ Chí Minh, những thành viên này cũng có tiếng nói và uy tín khá lớn trong dòng họ Đây sẽ là nguồn thông tin tốt cho luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu (In-depth interviewing, còn gọi là phương
pháp phỏng vấn sâu Dân tộc học) không kém phần quan trọng trong nghiên cứu, đối tượng là trưởng tộc, thầy tế, các vị có chức vụ quan trọng, con cháu của dòng họ, cán
Trang 13bộ quản lý, và người dân địa phương Cùng với phương pháp trên, phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng khi thực hiện đề tài Đây là phương pháp mang lại nhiều thông tin cho đề tài Việc chọn mẫu cho phỏng vấn sâu được tiến hành khi chúng tôi xin được danh sách từ trưởng ấp Tân Bình 2, nơi tập trung của dòng họ Lê Ba Danh sách chỉ có tên mà không có địa chỉ, thật là khó khăn để tìm nhà thông tín viên Tuỳ theo từng đối tượng mà các câu hỏi phỏng vấn được linh hoạt, chẳng hạn khi hỏi các thành viên thì câu hỏi về uy tín trong dòng họ sẽ dễ nhận được câu trả lời khách quan hơn, hay khi phỏng vấn phụ nữ về quan niệm phân biệt giới trong thờ cúng sẽ có cái nhìn khác với nam giới, v.v…Mẫu khó nhất mà chúng tôi tiếp xúc có lẽ là mẫu nữ, họ còn e dè và ngaị tiếp xúc, phải chăng đó là bản tính cố hữu của phụ nữ? Tuy nhiên, sau một hồi giải thích, chúng tôi đã có thể thu thập thông tin dễ dàng Tôi đã thực hiện
và gỡ băng ba mươi cuộc phỏng vấn ở nhiều đối tượng xoay quanh các vấn đề về nguồn gốc, lý do di dân, định cư cũng như những mối quan hệ trong dòng tộc, các cuộc xung đột nếu có và cách giải quyết mâu thuẫn cũng như những chiều hướng phân chia chi phái hay kết nối họ tộc với kiều bào nước ngoài, với những thành viên lưu lạc đến địa phương khác, xu hướng kêu gọi liên kết mọi người Việt Nam thuộc họ Lê làm thành một họ Lê thống nhất Trong đó có ba cuộc phỏng vấn các cán bộ địa phương về công tác quản lý và đánh giá về phong tục, văn hóa trến phương diện xem xét hành vi thờ cúng tổ tiên, tổ chức lễ hội, hội họp và cố kết cộng đồng
Bên cạnh đó chúng tôi thường xuyên thu thập hình ảnh, ghi âm trong các đợt điền dã, đồng thời được cung cấp những hình ảnh, tư liệu bổ ích từ chức sắc của dòng
họ này về các buổi lễ khánh thành từ đường, lễ giỗ hàng năm đều được họ lưu giữ lại đây quả thật là những tư liệu có ích cho đề tài Phương pháp thu thập dữ liệu, xử lí thông tin bằng hình ảnh thu thập thông tin chính xác Phương pháp này chúng tôi được học cả một chuyên đề nên cảm thấy tự tin khi tác nghiệp Trang bị đầy đủ máy móc thiết bị khiến tôi tự tin hơn khi làm việc, hình ảnh chúng tôi thu được khá nhiều
Trong chuyến điền dã tại tỉnh An Giang năm 2009, chúng tôi đã có điều kiện tìm hiểu hai họ lớn tại địa bàn thực tập Những tư liệu tôi thu được dựa trên quan sát, phỏng vấn sâu, chụp ảnh, và cả những sách giảng, đĩa ghi lại những ngày lễ, giỗ sẽ giúp đỡ nhiều cho tôi khi vận dụng phương pháp so sánh – đối chiếu Từ đó so sánh
Trang 14sự khác biệt và tương đồng giữa dòng họ của Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, tìm ra những nét nổi bật của vấn đề
Muốn thực hiện được những phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải
đi thực tế điền dã tại địa bàn và điều quan trọng là phải trang bị cho mình hai quan điểm: emic và etic để có những đánh giá mang tính khoa học nhất Đồng thời, trang bị cho mình tư duy phản thân, đặt mình vào trong bối cảnh của đối tượng để thấu hiểu và
lý giải là điều vô cùng quan trọng
Sau khi thực hiện tương đối đầy đủ các kỹ thuật chụp ảnh, ghi âm, quan sát và ghi chép, tư liệu từ ghi chép điền dã, biên bản phỏng vấn sâu, đồng thời tiếp cận với nhiều công trình, tác phẩm trong nước và các tác giả nước ngoài, chúng tôi xử lý dữ liệu thông qua gỡ băng, sắp xếp tư liệu để viết bài
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần dẫn luận; đề tài được kết cấu theo ba chương sau:
Chương 1: Thao tác hoá các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực tôn giáo, các mối quan hệ trong dòng họ và thờ cúng, nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, v.v…để trang bị những nhìn nhận chính xác hơn về lĩnh vực nghiên cứu Đồng thời nêu lên phương pháp vận dụng các lý thuyết vào quá trình thực hiện đề tài, lý thuyết nào được vận dụng như thế nào, để giải thích vấn đề gì Phần tiếp theo của chương một sẽ nêu tổng quan về dòng họ Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Chương 2: Chương này phân tích về tổ chức gia đình với sự phân công lao động giữa nam và nữ, yếu tố quyền lực của người đàn ông trong gia đình Về cơ cấu
tổ chức dòng họ, đề cập đến cơ cấu chức sắc, giới tinh hoa của dòng họ nhìn trong tác động của yếu tố kinh tế, quyền lực và mối quan hệ dòng họ trong bối cảnh đương đại
Chương 3: Đây là chương nội dung chính của đề tài, đề cập đến các khía cạnh
lễ nghi và xã hội của quan hệ dòng họ, đồng thời chỉ ra các xu hướng mở rộng quan hệ dòng họ của họ Lê Ba đồng thời khái quát thành các xu hướng mở rộng quan hệ dòng
họ của người Việt tại Đông Nam Bộ hiện nay và tình hình chuyển biến của chúng Từ
Trang 15đó nhìn nhận chiến lược ứng xử của các thành viên trong dòng họ hiện nay theo tư duy lý tính, hợp lý hóa phù hợp với thời đại
Trang 16Chương 1:
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ DÒNG HỌ LÊ BA TẠI ĐÔNG NAM BỘ 1.1 Cơ sở lý luận làm tiền đề nghiên cứu
1.1.1 Thao tác hoá khái niệm
Chúng tôi tiến hành làm rõ một số khái niệm được vận dụng trong đề tài như tôn giáo, tín ngưỡng, dòng họ, gia đình, thờ cúng tổ tiên, cấu trúc xã hội, tái cấu trúc cộng đồng, thiết chế xã hội, hiện đại hóa v.v… Các khái niệm sau sẽ là cơ sở nhìn nhận các mối quan hệ được đề cập đến trong nghiên cứu này
- Dòng họ: là một phần quan trọng trong thân tộc và gia đình Dòng họ có vai
trò liên kết các cá nhân có cùng mối quan hệ huyết thống chung một tổ tiên, đồng thời
nó cũng chi phối khá mạnh mẽ đối với mối quan hệ hôn nhân và gia đình
- Quan hệ dòng họ: là các mối quan hệ giữa các chức sắc với thành viên, giữa
các thành viên trong dòng họ với nhau, giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình này với gia đình kia trong dòng họ, là quan hệ tôn ti, thứ bậc và lối ứng xử với từng mối quan hệ ấy
- Chức sắc: những người giữ chức vị cao trong họ, thường có quyền quyết định
các vấn đề trong dòng họ, thường là những người cao tuổi, có thứ bậc cao như con trai trưởng của các dòng, các phái
- Từ đường: các con cháu dòng dõi một họ thường lập chung một nhà thờ vị
Thuỷ tổ và các bậc tổ tiên các đời gọi là từ đường của họ hay nhà thờ họ Tại từ đường
có bàn thờ để thờ riêng ông tổ, trên bài vị thường ghi rõ đó là vị Thuỷ tổ của dòng họ, thường viết bằng chữ Hán.2 Hằng năm đến ngày kỵ giỗ, con cháu tập trung về từ đường để cúng bái, tưởng nhớ tổ tiên
2
Trương Thìn, 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam, NXB Hà Nội năm 2007, trang 142
Trang 17- Giỗ: được xem là quan trọng nhất trong thờ phụng tổ tiên Ngày giỗ chính là
ngày kỷ niệm người chết đã qua đời, còn thường gọi la kỵ nhật.3 Người chết sau khi được an táng, con cháu phải dẹp sầu, dẹp nhớ thương để trở lại cuộc sống thường nhật nhưng hàng năm khi đến ngày người chết qua đời thì gia đình có tổ chức cúng giỗ vào đung ngày mất của họ.4 Tuỳ theo kinh tế gia đình mà giỗ có thể lớn hay nhỏ, thường làm mâm cúng người đã khuất rồi sau đó làm tiệc mời bà con, họ hàng
Khái niệm tiếp theo chúng tôi muốn giải thích là tôn giáo
- Tôn giáo: theo định nghĩa phổ thông thì tôn giáo là một dạng sinh hoạt tâm
linh, trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu phàm, có thể tác động đến con người khi còn sống cũng như đã chết Tin vào sự bất tử của linh hồn và một thế giới sau khi chết, trong đó linh hồn của những người chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác Từ đó con người đi đến chỗ tôn vinh, thờ phụng các thế lực siêu nhiên, những linh hồn của những người đã chết với hy vọng được sống an lành nơi trần thế và được hưởng phúc vĩnh hằng ở thế giới bên kia sau khi chết Tôn giáo có đặc trưng nổi bật là đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, đặt ra những phương thức ứng xử để trước mắt có được một cuộc sống an bình nơi trần thế và sẽ được hưởng hạnh phúc nơi thế giới bên kia, nhờ vào sự hỗ trợ của những sức mạnh siêu nhiên đó Thuật ngữ tôn giáo theo nghĩa Hán- Việt là những điều giáo huấn tôn quý cung cấp cho con người một con đường để tự mình vận dụng đặng đạt tới đích mong muốn mà không cần đến sự cứu rỗi của một đấng siêu nhiên hay một tôn giáo khác.5 Còn theo TS Nguyễn Thị Hiền trong bài viết “Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đương đại” in trong cuốn “Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay” của NXB Thế giới thì tôn giáo xuất phát từ thuật ngữ
religio có nguồn gốc từ tiếng La tinh, nghĩa là quyền năng mà con người có niềm tin
và lòng mộ đạo hướng tới.6 Theo quan điểm này, tôn giáo không được hiểu theo kiểu phương Tây với hệ thống giáo điều, giáo lý, giáo hội và giáo đường
Nguyễn Thị Hiền, “Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đương đại”, Sự biến đổi của tôn giáo tín
ngưỡng ở Việt Nam hiện nay”, trang 8
Trang 18- Tín ngưỡng: là niềm tin Trong Hán- Việt tự điển, Đào Duy Anh đã giải
nghĩa: tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa Còn Đào Văn Lập trong tự điển Việt Nam phổ thông thì định nghĩa rằng: tín ngưỡng
là lòng tin và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa.7 Tín ngưỡng, nếu hiểu theo
nguyên nghĩa dịch từ chữ croyance của tiếng Pháp thì chỉ có nghĩa là sự tin về một
điều gì đó thông thường, hay được dùng để chỉ một niềm tin tôn giáo Tín ngưỡng là
sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm.8
Trong tín ngưỡng có những nghi thức thờ cúng tuỳ vào đối tượng, tuỳ loại tín ngưỡng mà sự thể hiện cũng khác nhau Ba khái niệm sự thờ cúng, thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên sẽ làm rõ hơn cho khái niệm tín ngưỡng ở trên
- Sự thờ cúng: Bất kỳ tôn giáo nào muốn tồn tại phải có những hành vi thờ
cúng và hành vi này liên quan đến niềm tin, được thực hiện bởi các chức sắc, những người làm nghi lễ tôn giáo hoặc tự thực hiện dưới sự chỉ dẫn của một nguyên lý và nội dung nhất định Hành vi thờ cúng có thể được thực hiện bằng tự cá nhân hoặc dưới hình thức cộng đồng Những hành vi tôn giáo đó thường được gọi là nghi lễ hay lễ thức Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của của cộng đồng và cá nhân, nó làm cho nội dung tôn giáo trở nên sống động, phổ quát qua thực hành hành vi tôn giáo Cần phân biệt rõ ràng giữa 2 loại nghi lễ: Nghi lễ tôn giáo và nghi lễ thế tục cho dù trong thực tế có lúc khó mà phân biệt rạch ròi giữa hai loại nghi lễ này Tuy nhiên những nghi lễ tôn giáo thường đi song song với một hành vi thế tục như sự ra đời, sự trưởng thành, sự chết chóc hay những tai
nạn, thiên tai… Nghi lễ: ritual, hiểu một cách đơn giản nhất là các hình thức cúng, vái
lên tổ tiên
- Thờ cúng tổ tiên: Đối vời người Việt, chết chưa phải là hết, và “dương sao
thì âm vậy”9, người chết cũng cần ăn uống, đi lại… như người sống Vì vậy việc thờ cúng là cần thiết Trong quan niệm dân gian người Việt, qua việc thờ cúng tổ tiên, cho
Trang 19rằng giời hữu hình và vô hình luôn có mối quan hệ Việc thờ cúng tổ tiên chính là môi trường để người sống gặp gỡ với vũ trụ thần linh Người Việt thờ phụng tổ tiên chính
là vì hiếu, và vì sự biết ơn các bậc đã sinh ra mình, nuôi nấng và tác thành cho mình Người Việt tuy có theo các tôn giáo, nhưng vẫn không bao giờ bỏ tổ tiên được Tục thờ cúng tổ tiên trải qua bao thăng trầm đến ngày nay vẫn còn được lưu giữ “Nó đã trở thành một nghi lễ truyền thống trong nhân dân, và được mọi người làm theo”10
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: là tục lệ thờ cúng những người đã chết, đặc
biệt là tổ tiên Đối vời người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo, không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người Việt, được cấu thành từ một “làng huyết tộc”, văn hoá làng của cư dân nông nghiệp lúa nước chính là cái nôi sản sinh và lưu giữ tín ngưỡng này
Nó đã trở thành tín ngưỡng bản địa, đồng thời cũng là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống con người, gắn chặt và trở thành tâm thức của con người Việt Nam Tổ tiên là một thành phần chủ đạo trong gia đình người Việt, gia đình nối kết hiểu theo nghĩa rộng là dòng họ.11 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thể hiện mối dây liên đới mật thiết giữa tổ tiên- người đã khuất và con cháu- người còn sống Một yếu tố cấu thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là chiều kích đạo đức: “uống nước nhớ nguồn” Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước, nó có tính phổ quát và tính khu biệt Tính phổ quát không chỉ trong từng nhóm nhỏ xã hội mà trong tổng thể người dân Việt Nam, không ai không tôn kính tổ tiên Tính khu biệt thể hiện trong các hình thức nơi từng nhóm nhỏ xã hội, đặc biệt là những nhóm xã hội của một tôn giáo nào đó.12
Nhóm khái niệm quan trọng cần làm rõ trong luận văn này là các khái niệm xã hội học về cơ cấu, cấu trúc xã hội :
- Xã hội: Từ tiếng Anh society xuất hiện vào thế kỉ XIV và bắt nguồn từ tiếng
Pháp société Lần lượt nó có nguồn gốc trong từ Latin societas, "sự giao thiệp thân thiện với người khác", trong socius có nghĩa là "bầu bạn, kết giao, đồng chí hoặc đối
tác" Vì thế nghĩa của từ xã hội có quan hệ gần gũi với những gì được coi là thuộc
10
Ngô Thị Quý, Sđd, trang 6
11
Phạm Thị Bích Hằng, Vấn đề thờ kính tổ tiên trong nền văn hoá đương đại Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp đại
học chuyên ngành Văn hoá Đông Nam Á năm 1998, trang 7
12
Phạm Thị Bích Hằng, Sđd, trang 23
Trang 20quan hệ giữa người và người Khái niệm này có thể hiểu một cách đơn giản là một tập
thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa13 Thông thường, chúng ta hình dung xã hội như một định nghĩa bình thường đề cập đến một nhóm người sống cùng trong một cộng đồng có lề lối, ví dụ như là xã hội Nam Bộ
hoặc xã hội Việt Nam Ngành khoa học xã hội sử dụng từ xã hội để nói đến một nhóm
người tạo dựng một hệ thống xã hội một phần khép kín (hoặc một phần mở rộng), trong đó những người trong một nhóm hầu hết tương tác với những người khác thuộc cùng nhóm đó
Một cách trừu tượng hơn, một xã hội được coi là một mạng lưới của những mối quan hệ của các thực thể Một xã hội thỉnh thoảng cũng được coi là một cộng đồng với
các cá nhân trong cộng đồng đó phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, các nhà xã hội học mong muốn tìm được ranh giới giữa xã hội và cộng đồng
- Quan hệ xã hội (Social relation) là những quan hệ giữa người với người được
hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, v.v Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với nhau Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội Những tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường phải có mục đích, có hoạch định Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô hình tương tác Nói cách khác, các chủ thể hành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức
độ tự động hóa nhất định nào đó Tức là họ thực hiện gần như không có ý thức, như thói quen Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở sân bay, nhà hàng hoặc rạp hát, v.v dù
có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện lần đó; nhưng lần gặp sau lại không nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ chưa thể coi là có mối quan hệ xã hội Trái lại, nếu như ở những lần gặp gỡ sau các cá nhân đó lại tiếp tục sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữa họ có thể coi là có mối quan hệ xã hội Quan
hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, có tính lặp lại, v.v Các tương
13
Định nghĩa của Bách khoa toàn thư Việt Nam
Trang 21tác này còn có thể mang những đặc trưng khác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ
xã hội khác nhau14
- Thiết chế xã hội hay định chế xã hội : một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ
định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng Khái niệm thiết chế xã hội là khái niệm quan trọng và được dùng rộng rãi trong xã hội học Cũng giống như nhiều khái niệm khác của xã hội học, nội hàm của thiết chế xã hội cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Sự nhầm lẫn phổ biến nhất là việc đồng nhất thiết chế xã hội với một nhóm thực, tổ chức thực nào đó Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rất trừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình
Theo tác giả Trần Hữu Quang, “định chế xã hội (hay thiết chế xã hội- social institution) là một hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội
Nó được định hình theo thời gian, khi mà, trong các mối quan hệ tương tác giữa các vai trò, một số ứng xử nào đó của con người được lặp đi lặp lại, rồi dần dần biến thành
tập quán, và cuối cùng trở thành những chuẩn mực mà mọi thành viên đều thừa nhận
và tuân thủ Định chế xã hội là một sản phẩm của đời sống xã hội Mỗi định chế đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội Người ta thường phân biệt bốn loại định chế
xã hội: các định chế chính trị (liên quan tới việc phân bố và sử dụng quyền lực trong
xã hội), các định chế kinh tế (liên quan tới các quá trình sản xuất và phân phối các của cải và dịch vụ), các định chế thân tộc (như hôn nhân, gia đình), và các định chế văn hóa (như giáo dục, tôn giáo, phong tục, văn chương, nghệ thuật, truyền thông đại
chúng )”15
Nhà xã hội học người Mỹ J Fichter cho rằng, thiết chế xã hội chính là một đoạn của văn hóa đã được khuôn mẫu hóa Những khuôn mẫu tác phong của nền văn hóa đó được xã hội đồng tình, khuyến khích sẽ có xu hướng trở thành các mô hình hành vi được mong đợi - các vai trò Do đó, thiết chế xã hội là một tập hợp các khuôn
14
Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, “QUAN HỆ XÃ HỘI”, Viện Từ điển học và Bách khoa thư
Việt Nam Truy cập 12 tháng 9 năm 2010
15
Trần Hữu Quang, 2005, "Phát triển các định chế xã hội: Một trong những tiền đề xã hội của quá trình phát
triển ở thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa học xã hội, số 11 (87), trang 20-26, dẫn theo Nguyễn Đức Lộc, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyện ngành Dân tộc học năm 2010, Cấu trúc cộng đồng của người Việt Công giáo di
cư năm 1945 tại Nam Bộ
Trang 22mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội
Mỗi thiết chế đều có mục đích nhằm thỏa mãn những nhu cầu xã hội Sự nảy sinh thiết chế xã hội là do điều kiện khách quan nhất định, biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế - xã hội Bản thân của thiết chế xã hội có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế - xã hội Tính không hiệu quả của các thiết chế xã hội, sự tác động không hài hòa của chúng, việc chúng không có khả năng tổ chức các lợi ích xã hội, không thu xếp được một cách đúng theo trật tự sự vận hành của các mối liên hệ xã hội là dấu hiệu nói lên sự khủng hoảng của xã hội Để khắc phục tình trạng này, cần phải cải tiến cơ bản bản thân các phương thức và cơ chế hoạt động của
chúng
Thiết chế xã hội được tổ chức thành cơ cấu Các yếu tố tạo thành thiết chế xã hội có khuynh hướng kết hợp lại với nhau và hỗ trợ lẫn nhau Khi thiết chế xã hội càng phức tạp, thì xã hội càng phát triển, và như vậy nó xác định vị trí, vai trò của cá nhân càng rõ ràng Mỗi một thiết chế xã hội có một đối tượng riêng để hướng tới phục
vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan tới đối tượng Để đạt được điều đó mỗi thiết chế lại có một chức năng Mỗi một thiết chế tự nó được cấu trúc ở mức cao và được tổ chức xung quanh hệ thống các giá trị, chuẩn mực, quy tắc, khuôn mẫu đã được xã hội thừa nhận16
- Cấu trúc xã hội : (Social structure) là sự sắp xếp, mối quan hệ và cơ chế vận
hành của các bộ phận, các yếu tố trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, trong
đó phương thức sản xuất là cơ sở, là nền tảng của cấu trúc Trong lịch sử đã xuất hiện hai loại cấu trúc: cấu trúc xã hội phi giai cấp và cấu trúc xã hội có giai cấp17
Khái niệm cấu trúc xã hội được nhắc đến nhiều trong trường phái xã hội học
Bungari Theo đó thì xã hội là một hệ thống cực kì phức tạp gồm có nhiều hệ thống nhỏ khác nhau Mỗi hệ thống nhỏ này lại có cấu trúc riêng, gồm những thành phần tác động lẫn nhau một cách đặc thù Được xem xét như một hệ thống hoàn chỉnh hữu cơ
và tự phát triển (nhờ các mâu thuẫn nội tại của nó), xã hội là một cấu trúc rất sâu mà
Trang 23sự hoạt động và sự phát triển của cấu trúc này chứa đựng những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của hệ thống xã hội Nói đến cấu trúc là nói đến tính hệ thống của một chỉnh thể, là mối liên kết của các bộ phận cấu thành nên một hệ thống Cấu trúc xã hội còn gọi là cơ cấu xã hội là kiểu cách, là khuôn mẫu, là hình thái của mối quan hệ giữa con người và xã hội
Xem cấu trúc xã hội là sự sắp đặt của các thành phần xã hội, đơn vị xã hội, sự tương tác của chúng trong cả trạng thái tĩnh và động, xem xã hội là tổng hòa các đoàn thể xã hội là quan điểm của nhà xã hội học người Mỹ J H Fischer
“Như vậy, cấu trúc xã hội bao gồm các đặc tính được thừa nhận trong xã hội theo thời gian liên quan đến những sự khác biệt quan trọng (giai cấp xã hội, chủng tộc/dân tộc, tôn giáo, nông thôn/thành thị) giữa các nhóm người trong việc tiếp cận với nguồn lực vật chất, xã hội và tâm lý Nói đến cấu trúc xã hội là nói đến một hệ thống các quan hệ xã hội Cấu trúc xã hội dựa trên ý tưởng cho rằng xã hội được phân chia thành các nhóm khác nhau với những chức năng, ý nghĩa, mục đích khác nhau Cấu trúc xã hội trả lời câu hỏi: các mối quan hệ xã hội được tổ chức theo những kiểu hình như thế nào Ví dụ về cấu trúc xã hội: gia đình, tôn giáo, luật pháp, giai cấp,
chủng tộc, kinh tế đều là các cấu trúc xã hội Cấu trúc xã hội là một công cụ phân tích,
nó giúp chúng ta hiểu được cách thức con người ứng xử trong đời sống xã hội”18
- Cấu trúc thân tộc: là một dạng cấu trúc xã hội, cũng là một hệ thống
gồm nhiều thành viên nhưng mối quan hệ giữa các thành viên này chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống Các giai cấp, các quan hệ xã hội hình thành, tồn tại và phát triển trong nội tại thân tộc
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu quan hệ dòng họ có sự liên quan mật thiết đến vấn đề làng, quan hệ làng xã và thờ cúng tổ tiên Nếu giai đoạn 1975 đến 1990, vấn đề làng xã hầu như ít được các nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu thực địa sâu; thì từ sau năm 1990 đến nay, khi người ta bắt đầu tiến hành nghiên cứu điền dã dân tộc học trở lại, mở đầu là
18
Nguyễn Đức Lộc, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyện ngành Dân tộc học năm 2010, Cấu trúc cộng đồng của
người Việt Công giáo di cư năm 1945 tại Nam Bộ, trang 23
Trang 24nghiên cứu của GS Lương Văn Hy, năm 1992, vấn đề quan hệ nội bộ trong làng cũng như chính trị, quyền lực được đề cập đến ngày càng nhiều
Trong các nghiên cứu về làng Việt Nam, định nghĩa làng xã tiếp nhận ở đây xem xét các xã nông thôn và xã những người nông thôn sống ở vùng ngoại ô trực thuộc quản lý của thành phố Xã là đơn vị hành chính được chia thành các thôn hay làng Làng là tên gọi Nôm, tương đương với “village” trong tiếng Anh, chỉ một đám nhà ở và cộng đồng dân cư với sự gắn kết xã hội mà ở đó chắc chắn không có xung đột (đối chiếu với Boomgaard 1991, tr.291)19 Như vậy, ở một phương diện nào đó, làng cũng chính là xã
Đặc biệt ở miền Bắc Việt Nam, các nhà nghiên cứu lại chú ý nhiều đến tính tự trị khỏi những can thiệp của nhà nước, thể hiện qua tính nội hôn của làng Nghiên cứu
về sự phản kháng của nông dân với sự can thiệp của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hiện tượng di chuyển lao động Một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến hiện tượng này như Shiraishi 1984, Nguyễn Thế Anh 1971, Laffey 1975, Nguyễn Văn Chính 1997, v.v…
Về làng tại Nam Bộ thì chúng tôi được tiếp cận bài viết “Làng và quan hệ dòng
họ của người Việt Nam Bộ”, trong Đề tài cấp nhà nước “Đặc trưng tín ngưỡng tôn
giáo và sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng cư dân Nam Bộ”, tháng 6/2011 của GS.TS Ngô Văn Lệ với quan điểm: “Làng Việt Nam Bộ ra đời không bị chi phối hoặc
bị chi phối nhưng rất yếu ớt của chế độ ruộng công nên người nông dân không bị quá
lệ thuộc vào làng, họ có thể di chuyển khá tự do có lẽ cũng vì thế mà quan niệm chính
cư, ngụ cư không chi phối các thành viên của một làng Nguồn gốc hình thành các làng Việt Nam Bộ cũng như không bị chi phối bởi chế độ ruộng công đã làm cho làng Việt có xu hướng mở, người nông dân năng động hơn”
Một công trình nghiên cứu của John Kleinen mà chúng tôi chịu ảnh hưởng
nhiều trong đề tài của mình là “Làng Việt - đối diện tương lai hồi sinh quá khứ” trong
Tạp chí xưa và nay, NXB Đà Nẵng nhìn sự biến đổi của làng Việt thời hiện đại với những trạng thái động từ cấu trúc làng xã đến các mối quan hệ, nêu bật được tác động
19
John Kleinen, Làng Việt - đối diện tương lại hồi sinh quá khứ, NXB Đà Nẵng, trang 17
Trang 25của yếu tố kinh tế Quan điểm của tác phẩm này sẽ là tài liệu tốt, soi sáng cho giả thuyết thứ hai của đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, chúng tôi còn được tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá làng Việt Nam- bối cảnh của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, để so sánh với thực tế nghiên cứu:
Quan điểm về thờ cúng tổ tiên là một tôn giáo cùng với các đặc điểm, vai trò, tính chất của nó với quan điểm xuất phát từ một làng “huyết tộc” trong luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn hoá Đông Nam Á của Phạm Thị Bích Hằng năm
1998 là cơ sở lý luận cho đề tài
Về vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thì chúng tôi đã may mắn tiếp cận được nhiều công trình, tác phẩm về các đặc trưng văn hoá, tín ngưỡng của người Việt, đặc biệt viết rất rõ về giỗ tổ, họ, về các đặc trưng văn hoá, tín ngưỡng trong phạm vi gia đình của người Việt:
Quyển “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt xưa và nay, 171 điều về tín ngưỡng thờ cúng” của Ngô Thị Quý biên soạn (NXB Thanh Hoá) nêu ra những quan
niệm về thờ cúng tổ tiên, các kiêng kỵ, giỗ tổ tiên, các ngày lễ trong năm, v.v… thể hiện rõ quan niệm có thế giới linh hồn khác với thế giới trần tục của con người, phản ánh đặc trưng của một đất nước nông nghiệp
Năm 2007, NXB Hà Nội với quyển “101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam”, của tác giả Trương Thìn cho rằng thờ cúng tổ tiên là phong tục, tập
quán đã ăn sâu vào tâm thức mỗi con người, là đặc trưng văn hoá, là trình độ văn minh của cộng đồng Ngay phần đầu cuốn sách đã có chương nhận biết về tôn giáo ít nhiều chịu ảnh hưởng của khái niệm tôn giáo phương Tây Chính vì thế cả hai cuốn sách này đều xem thờ cúng tổ tiên chỉ là tín ngưỡng mà chưa phải là tôn giáo
Vấn đề đặc trưng văn hoá, tín ngưỡng trong phạm vi gia đình người Việt được
đề cập trong tác phẩm “Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt” của
Léopold Cadière, do Đỗ Trinh Huệ dịch chỉ rõ các mối quan hệ gia đình, hôn nhân, huyết thống, gia trưởng, cha mẹ- con cái Gia đình chính là tế bào của xã hội, là nơi hình thành nên văn hoá, tín ngưỡng, mối quan hệ làng- nước thể hiện rất rõ trong tác
Trang 26phẩm này “Nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam” của Gerald C Hickey với
sự cộng tác của Bùi Quang Đa năm 1960 cũng xem gia đình là nền tảng của tôn giáo, xem thờ cúng tổ tiên là tôn giáo
Đặc biệt, luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử của Tiến sĩ Nguyễn Đức Lộc năm 2010 : “Cấu trúc cộng đồng của người Việt Công giáo di cư năm 1945 tại Nam Bộ” được chúng tôi vận dụng nhiều trong luận văn này về thao tác các khái niệm, cách lựa chọn công đồng nghiên cứu cũng như hướng phân tích các giả thuyết đặt ra
Cho đến nay chúng tôi chưa tiếp cận được đề tài nào nghiên cứu sâu về sự biến đổi cũng như các xu hướng biến đổi quan hệ dòng họ người Việt tại Đông Nam Bộ
1.1.3 Quan điểm lý thuyết và phương pháp luận
Nhằm lý giải các hiện tượng cũng như lý giải nguyên nhân, làm sáng tỏ giả thuyết nghiên cứu của vấn đề, chúng tôi vận dụng nhiều lý thuyết cho đề tài của mình, bao gồm: thuyết cấu trúc chức năng, thuyết kinh tế chính trị, và nhân học diễn giải Trong đó chú trọng ở những khía cạnh sau:
Lý thuyết đầu tiên sử dụng trong nghiên cứu là chức năng cấu trúc luận thuộc
trường phái Nhân học Anh Người viết dựa trên quan điểm của Radcliffe Brown – một người tiêu biểu cho trường phái chức năng – cấu trúc ở Anh, để thấy được chức năng
cố kết cộng đồng trong xã hội của việc thờ cúng tổ tiên Radcliffe Brown cơ bản phân tích xã hội như một sinh vật, dù là ông có công nhận hai khác biệt giữa xã hội và sinh vật Ông cho rằng công việc của nhà nhân học xã hội là mô tả hình thái cơ cấu xã hội,
và chức năng của các hiện tượng xã hội cho việc tồn tại của cơ cấu xã hội Cụ thể hơn, ông không quan tâm đến cá thể mà chỉ quan tâm đến quy luật xã hội Người viết vận dụng khung quy chiếu đạo đức xã hội đối với những hành vi ứng xử trong quan hệ dòng họ cũng như thờ cúng tổ tiên Phong tục thờ cúng tổ tiên không phải là nhân tố quyết định nhưng có tầm ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành ứng xử, đạo đức của con người Thờ cúng là sự nhớ ơn, hiểu được nguồn cội và lịch sử hào hùng của ông cha, từ đó tạo nên tâm lý học tập, phấn đấu cho xứng đáng với truyền thống Đặc biệt, vận dụng quan điểm của Radcliffe Brown để phân tích cơ cấu gia đình cũng như
tổ chức dòng họ là dụng ý của chúng tôi Ở đây, gia đình của dòng họ Lê Ba cũng theo truyền thống lấy họ cha nhưng nhìn chung không còn chế độ phụ quyền khắt khe như
Trang 27ngày xưa nữa Gia đình chủ yếu là gia đình hạt nhân, gồm cha mẹ và con cái; ít phổ biến gia đình nhiều thế hệ, con cái có xu hướng tách ra sống riêng khi lập gia đình Cấu trúc, cơ cấu gia đình, dòng họ được lý giải nhờ vào lý thuyết này, từ đó thấy rõ được các mối quan hệ, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề thờ cúng tổ tiên người Việt đương đại
Chúng tôi nhấn mạnh đến quan điểm của R.Radcliffe Brown về cấu trúc nghi
lễ, dựa trên lý thuyết của Durkheim quan niệm rằng tôn giáo của một dân tộc vừa
“phản ánh” cấu trúc hệ thống xã hội của họ vừa có chức năng duy trì hệ thống đó trong tình trạng hiện tại của nó Phương pháp nghiên cứu của Radcliffe-Brown được miêu tả là thuyết chức năng cấu trúc vì nó chú trọng đến cơ cấu của những quan hệ xã hội, và gán cho thể chế những chức năng căn cứ vào sự đóng góp của chúng vào việc duy trì cơ cấu đó20 Mục đích chính của ông không phải là giải thích sự đa dạng của xã hội loài ngừơi mà đúng hơn là khám phá những quy luật của hành vi xã hội bằng cách cho thấy rằng trong những loại xã hội nhất định, một số quan hệ xã hội đặc trưng nào
đó sẽ được tìm thấy21 Vận dụng quan điểm này của Brown, người nghiên cứu đi vào làm rõ cấu trúc bộ máy chức sắc của dòng họ Lê Ba, lý giải các mối quan hệ giữa thành phần chức sắc với thành viên khác trong họ, giữa chức sắc với nhau, giữa thành viên này và thành viên khác… chính những mối quan hệ qua lại này giúp duy trì hệ thống xã hội: quan hệ dòng họ Quan điểm này của Brown đã giúp người nghiên cứu
lý giải được tại sao hệ thống bộ máy chức sắc của dòng họ Lê Ba có xu hứơng mở, khuyến khích sự tham gia của các thành viên cũng như sự mở rộng chi phái về phía họ ngoại, sự xuất hiện của phụ nữ trong các buổi lễ lớn…
Trong thời điểm hiện nay, nền kinh tế có nhiều thay đổi, tình hình kinh tế dần dần được cải thiện, đời sống được nâng cao, người ta bắt đầu hướng nhiều đến yếu tố tâm linh, tinh thần Điều này cũng dễ hiểu, chiến tranh, loạn lạc, cơm ăn không đủ no,
áo mặc không đủ ấm, đối diện giữa cái chết và sự sống thì yếu tố sinh tồn luôn phải là mối quan tâm hàng đầu Đến khi kinh tế ổn định, no cơm ấm áo, người ta có nhiều mối quan tâm hơn trong cuộc sống, đến tinh thần, đến đồng loại, cội nguồn, quê
Trang 28hương…Cũng như các tộc họ sau biết bao chặng đường hợp tan, giờ đây khi mọi thứ
đã ổn định, họ cần phải đoàn kết lại, tìm về cội nguồn Lý thuyết chức năng cấu trúc được sử dụng để lý giải cho khả năng tái cấu kết cộng đồng của các dòng họ, làng xã trong thời đại mới Thờ cúng tổ tiên đã thể hiện rõ chức năng về mặt tâm lý, quan niệm con người có tổ có tông, có dòng họ, quan niệm về cuộc sống của những người
đã khuất tồn tại bên cạnh cuộc sống hiện tại, hiếu là đạo lớn nhất trong đời mỗi người
Đề tài cũng sử dụng thuyết kinh tế- chính trị dùng để phân tích và lý giải cho
ảnh hưởng của yếu tố kinh tế đến quan hệ dòng họ và thờ cúng tổ tiên, giải quyết giả thuyết thứ hai của đề tài Các nhà theo lý thuyết này nhấn mạnh đến bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội của một hiện tượng văn hoá, tôn giáo Đó không chỉ là bối cảnh cụ thể từng địa phương mà còn gắn liến với tình hình mỗi quốc gia Thờ cúng tổ tiên được xem xét trong tổng thể văn hoá của dân tộc bên cạnh các yếu tố kinh tế, chính trị sẽ tạo được luận điểm vững chắc cho đề tài
Rõ ràng, yếu tố kinh tế là yếu tố quan trọng trong thời đại ngày nay, với dòng
họ Lê Ba cũng thế Điều này ảnh hửơng đến cách xác định giới tinh hoa của dòng họ: giới tinh hoa của họ được xác định là những người có uy tín trong dòng tộc lẫn xã hội Quan điểm uy tín được hiểu trong bối cảnh một cá nhân có hiểu biết tinh tường về lịch
sử dòng họ, có cống hiến vì lợi ích chung, không tư lợi cho mình và cũng không loại trừ người có tiềm năng về kinh tế Vấn đề nên được hiểu ở đây là sự tôn trọng những
người có học thức, có tuổi, có công và mạnh về tài chính Nếu ngày trước, người lớn
tuổi được xem trọng và có uy quyền thì giờ đây tiếng nói thuộc về sự tổng hoà của nhiều yếu tố, mà trong đó không thể phủ nhận vai trò của kinh tế
Yếu tố kinh tế chính là nhân tố cơ bản tạo nên sự thay đổi quan hệ dòng họ Trong nền kinh tế thị trường, đất nước dần dần tạo được vị thế, đời sống người dân cũng được cải thiện, các mối quan hệ trong điều kiện mới chắc chắn không tránh khỏi những chuyển biến Nếu thời gian trước, đương đầu với chiến tranh, khủng hoảng và chế độ bao cấp, quan hệ dòng họ nhường chỗ cho quan hệ làng xã, hợp tác xã, tức là mối quan hệ giữa các cư dân xét về địa vực cư trú; thì hiện nay, người ta có xu hướng tìm về nguồn cội, dòng họ được củng cố
Trang 29Bên cạnh đó, chúng tôi còn vận dụng phương pháp luận tương tác biểu trưng trong nhân học dưới quan điểm tiếp cận của Geertz để giải thích các hiện tượng, lý giải sự biến đổi các mối quan hệ Trừơng phái này khẳng định rằng mọi hành động của con người đều có ý nghĩa, Geertz nhấn mạnh ý nghĩa của hành động, của sự kiện trong nghiên cứu nhân học, “nghiên cứu nhân học đối với tôn giáo là một thao tác hai công đoạn, trứơc hết, phân tích hệ thống ý nghĩa bao hàm trong những biểu tượng tạo lập nên tôn giáo trọn vẹn; hai là liên hệ những hệ thống này với những quá trình tâm
lý và cấu trúc xã hội Geertz nhấn mạnh đến những ý nghĩa của biểu tượng tôn giáo,
mà qua đó người ta cảm nhận những khuôn mẫu hành xử, những mô thức cho cuộc sống Ở quan điểm này, Geertz có sự tương đồng với quan điểm về biểu tượng trong nghi lễ của Victor Turner thuộc trường phái nghiên cứu về nghi lễ chuyển đổi, những biểu tượng mà ông đề cập bao gồm những sự vật, hành động, các mối quan hệ, hiện tượng, cử chỉ và những đơn vị không gian trong một tình huống nghi lễ như nhận định của ông trong “Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu.”:
“Tôi nhìn nhận những cuộc trình diễn nghi lễ như là những giai đoạn riêng biệt của quá trình xã hội mà qua đó các nhóm người điều chỉnh
để phù hợp với những thay đổi bên trong và thích ứng với môi trường bên ngoài Từ cách nhìn này, biểu tượng nghi lễ trở thành một thành tố hành động xã hội, một sức mạnh tích cực trong phạm vi xã hội Biểu tượng luôn gắn liền mật thiết với những quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người, cho dù những cái này hiện hữu rõ ràng hay phải luận ra từ những hành vi quan sát được”.22
Vận dụng kết hợp quan điểm của Geertz và Turner, chúng tôi đi vào phân tích sâu các hành vi ứng xử của các thành viên trong dòng họ Lê Ba, không chỉ là mô tả hành động mà tìm hiểu ý nghĩa của chúng Chúng tôi cho rằng mình đã thành công khi tiếp cận quan điểm học thuyết Nhân học diễn giải để giải thích tại sao phụ nữ chỉ đảm nhận vai trò bếp núc mà không tham gia tế lễ, tại sao chức sắc của dòng họ Lê Ba lại mặc những màu áo khác nhau, và cách thức ứng xử cuả ngừơi mặc áo này với ngừời mặc áo kia lại cung kính như vậy trong khi cả hai cùng tuổi tác,… Có rất nhiều câu
22
Những vấn đề Nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa và nay, NXB Đà Nẵng 2006, trang 243
Trang 30hỏi được đặt ra và cần người nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, giảng giải chúng thành văn bản khoa học, đó cũng là yêu cầu mà Geertz đưa ra cho công trình nghiên cứu nhân học
Chúng tôi cho rằng việc vận dụng lý thuyết thành công chính là khả năng áp dụng lý thuyết nào để giải quyết vấn đề đặt ra Qua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy sự tương tác, tương hỗ lẫn nhau khi vận dụng các lý thuyết Từ đó nhận thấy khả năng kết hợp nhiều quan điểm khi lý giải một câu hỏi đặt ra, quan trọng là nghệ thuật của ngừơi nghiên cứu Như vậy, với những vấn đề và lý thuyết áp dụng được nêu ra, tác giả đề tài đã có sự kết hợp qua lại giữa các quan điểm cho nghiên cứu của mình, đặt biệt là trong quá trình phân tích chức năng, cấu trúc của dòng họ Lê Ba
Từ những cách phân tích sâu của nhân học diễn giải về hành vi, ứng xử của thành viên dẫn tới khái quát thành cơ cấu tổ chức dòng họ theo lý thuyết chức năng cấu trúc luận
có sự liên kết chặt chẽ với nhau
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dòng họ Lê Ba
1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý: Lang Minh là một xã nằm phía Tây Nam huyện Xuân Lộc- tỉnh Đồng Nai nằm trên tỉnh lộ 765, cách thị trấn Gia Ray khoảng 10km về phía Nam, tách khỏi xã Xuân Hiệp năm 1994 và địa giới hành chính đã được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Suối Cát và xã Xuân Hiệp
+ Phía Tây giáp xã Xuân Phú
+ Phía Đông giáp xã Xuân Hiệp, xã Xuân Tâm
+ Phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ (tỉnh Đồng Nai)
Lang Minh có tổng diện tích tự nhiên là 1712.33ha chiếm 2.36% tổng diện tích
tự nhiên toàn huyện, chia làm bốn ấp: Tân Bình 1, Tân Bình 2, Đông Minh và Tây Minh Xã tuy diện tích nhỏ nhưng có tỉnh lộ 765 chạy qua thuận lợi cho việc lưu
Trang 31thông hàng hoá và đầu tư phát triển với địa phương lân cận như thành phố Phan Thiết, thành phố Biên Hoà và Vũng Tàu.23
- Địa hình: Theo bản đồ tỉ lệ 1/5000 và kết quả điều tra thực địa cho thấy địa hình xã mang nét đặc trưng chung của vùng Đông Nam Bộ Địa hình thấp dần từ phía Nam xuống phái Bắc, gồm có ba dạng địa hình chính như sau:
+ Địa hình bằng phẳng: Độ dốc nhỏ hơn 3o có diện tích 1040 ha chiếm 60.75% tổng diện tích tự nhiên rất thuận lợi cho bố trí sử dụng đất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ yếu là đất trồng lúa hai vụ, một vụ
và cây hàng năm khác
+ Địa hình bằng và lượn sóng: Độ dốc từ 3o-8o, diện tích 586 ha chiếm 34.23% tổng diện tích tự nhiên Chủ yếu là đất trồng cây hàng năm, điều, cà phê, cây ăn quả và cây lâu năm khác như hồ tiêu
+ Địa hình đồi núi: Độ dốc lớn hơn 25o, chiếm 3.15% diện tích toàn xã, thích hợp với trồng rừng Hiện tại được sử dụng trồng điều và trồng rừng sản xuất Do độc dốc lớn nên khả năng giữ nước kém và dễ xói mòn vào mùa mưa.24
Sự chênh lệch độ cao giữa nơi có nguồn nước với mặt bằng sản xuất khá lớn và cạn kiệt vào mùa khô đã gây không ít khó khăn trong quá trình sử dụng đất
- Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nền nhiệt cao đều quanh năm, lượng mưa lớn và phân hoá sâu sắc theo mùa với những đặc trưng
Trang 32+ Lượng bốc hơi trung bình 1100- 1300 mm/ năm, trong đó mùa khô thường cao gấp 2-3 lần mùa mưa, tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng về chế độ
ẩm, nhất là trong các tháng cuối mùa khô nên hầu hết cây trồng cần phải được tưới bổ sung mới cho năng suất và chất lượng cao
+ Gió: trong năm có hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc trong mùa khô
và gió mùa Tây Nam vào mùa mưa Tốc độ gió trung bình hàng năm từ 2.2 m/s, lớn nhất 2.5-3 m/s (9-11 km/h) và ít chịu ảnh hưởng của bão.25
2-Cường độ mưa lớn và tập trung, thường gây ra xói mòn, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định trong phát triển sản xuất nông nghiệp
- Tài nguyên thiên nhiên: Môi trường tự nhiên xã Lang Minh nhìn chung còn khá trong lành, chưa bị ô nhiễm Hai loại tài nguyên lớn nhất ở đây là đất và rừng
Toàn xã có ba nhóm đất chính, trong đó lại phân thành tám loại đất Đất đỏ thẩm có diện tích 248 ha, chiếm 14.49% diện tích toàn xã, tầng dày trên 100cm, phân
bố ở ấp Tân Bình 1 và Tân Bình 2, địa hình tương đối bằng Nhóm đất này thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và hồ tiêu Đất nâu thẩm có diện tích 1329
ha, chia làm năm loại, chiếm 77.62% toàn xã, phân bố đều khắp xã, thích hợp trồng cây ăn quả, điều, cà phê và trồng màu Nhóm cuối cùng là đất đá bọt núi lửa với hai loại hình, có diện tích 103 ha, chiếm 6.02% diện tích toàn xã, phân bố chủ yếu ở phía Nam của xã, thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm, hoa màu và trồng rừng
Theo số liệu thống kê năm 2005 trên địa bàn xã có 34.7 ha đất rừng trồng sản xuất.26
Ngoài ra, Lang Minh có lợi thế sử dụng nguồn nước từ hồ chứa, hiện trạng hệ thống thuỷ lợi tưới cho 200ha lúa hai vụ và một phần diện tích đất trồng rau màu Bên cạnh đó xã còn có hệ thống sông Ray bắt nguồn từ phía Tây- Bắc chảy xuống Đông – Nam, đoạn qua xã Lang Minh có độ dìa khoảng 12 km, diện tích lưu vực trong phạm
vi huyện Xuân Lộc khoảng 458.92 km2, lưu lượng trung bình 10.6 m3/s Lòng sông dốc và thấp so với mặt đất nên không thể tưới tự chảy mà phải dùng máy bơm Do lưu vực hẹp, thảm phủ kém, mùa khô kéo dài nên sông Rây thường bị kiệt
Trang 33Tài nguyên nguồn nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu 80- 120m, chất lượng tốt nhưng Lang Minh được xem là khu vực nghèo nước ngầm Tuy nhiên, hiện nay nước ngầm đang được khai thác cho sinh hoạt và tưới cây trồng tương đối hiệu quả27
Với nguồn tài nguyên tương đối phong phú như thế, nền kinh tế xã Lang Minh vốn là một xã nông nghiệp đang dần chuyển mình sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ, ngày càng nâng cao mức sống người dân địa phương
1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
- Về tình hình dân số, dân cư: Dân số toàn xã Lang Minh là 1584 hộ, 8597 khẩu28 (trong đó 5089 nữ), phân bố dân cư rộng khắp bốn ấp, đông nhất ở ấp Tây Minh vì diện tích ấp này rộng nhất so với các ấp trong xã
Thành phần dân tộc chủ yếu là người Việt với số khẩu là 6202, chiếm 72% dân
số toàn xã, cư trú đều ở các ấp, nhiều nhất ở hai ấp Tân Bình 1 và Tân Bình 2
Ngoài người Việt, xã Lang Minh còn là nơi cộng cư xen kẽ của năm dân tộc thiểu số anh em Trong đó, người Hoa có 270 hộ, 2152 khẩu, tập trung đông ở hai xã Đông Minh và Tây Minh; dân tộc Tày có 19 hộ, 107 khẩu; người Nùng 16 hộ, 71 khẩu, Chơro có 07 hộ, 29 khẩu; và cuối cùng là dân tộc Thái chỉ có một hộ với ba nhân khẩu29
- Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội:
+ Đặc điểm kinh tế:
Với số dân 8597 người, tỉ lệ tăng dân số là 1.26%, trong đó gia tăng tự nhiên là 0.95% Số người trong độ tuổi lao động chiếm 55%, lao động có việc làm chỉ ở lĩnh vực nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 27%, do đó thường xuyên xảy ra tình trạng thất nghiệp thời vụ Thu nhập bình quân đầu người năm 2005
Trang 34của xã ước tính đạt 6 triệu đồng/ người/ năm, thấp hơn so với bình quân toàn huyện30, đến năm 2011 là 14 triệu đồng/ người/ năm31
Cơ cấu chính vẫn là tỉ trọng chiếm ưu thế của nông nghiệp Tuy nhiên xã Lang Minh đang có xu hướng tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Tổng giá trị sản phẩm toàn xã năm 2005 đạt 107.8 tỉ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001-2005 đạt 17.12% Trong đó ngành nông- lâm nghiệp tăng bình quân 18.75%, công nghiệp- xây dựng 19.06%, thương mại- dịch vụ 9.53%
Nông nghiệp xã Lang Minh có sự đóng góp lớn của 2429 ha diện tích đất canh tác cây ngắn ngày, bao gồm lúa, bắp và cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, điều và
cả cây ăn trái Ngoài các loại cây chủ lực trên, xã còn nhiều các loại cây nhiệt đới khác có triển vọng về thị trường tiêu thụ và cho hiệu quả kinh tế cao như: rau, đậu các loại, bông vải, mỳ, v.v…
Chăn nuôi của xã có mức tăng trưởng cao, nhưng tỉ trọng chỉ chiếm 25% trong sản xuất nông nghiệp Hiện nay các hình thức chăn nuôi của xã chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ gia đình, chăn nuôi trang trại chưa phát triển
Lâm nghiệp với diện tích rừng 34.7 ha là đất rừng sản xuất của xã Công tác trồng bảo vệ chăm sóc rừng thường xuyên trên hai núi Trà Võ, Bể Bạc đã phủ xanh đất trống, đôì núi trọc góp phần tạo môi trường sinh thái trong lành, bảo vệ nguồn nước
Ngành công nghiệp của xã chủ yếu hướng vào phục vụ sản xuất nông nghiệp như: sấy nông sản, xay xát, hàn tiện, cửa sắt… các ngành công nghệ, chế biến thực phẩm chưa có, quy mô sản xuất nhỏ Năm 2004, toàn xã có 42 cơ sở sản xuất, thu hút lao động, tạo ra giá trị sản xuất 45.9 tỷ đồng
Hoạt động dịch vụ- thương mại của xã phát triển tương đối ổn định, phục vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân Chỉ tính đến năm 2004,
số phương tiện trên địa bàn xã đã có: 9 se tải, 19 xe cải tiến, 52 máy cày, máy xới,…,
Trang 35tổng số cơ sở dịch vụ là 270 bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân, trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã dịch vụ và cá thể
Nhìn chung, lực lượng lao động tại xã tuy dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, am hiểu về khoa học kỹ thuật và thị trường chưa cao Thêm vào đó, điểm xuất phát nền kinh tế Lang Minh thấp, khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế, thu nhập thực tế của các hộ nông dân không cao, đặc biệt là các hộ nghèo
và hộ trung bình nên thường thiếu vốn đầu tư thâm canh cải tạo đất đai
+ Về văn hoá, xã hội:
Toàn xã có bốn trường gồm: một trường mẫu giáo và ba phân hiệu, hai trường tiểu học và một trường trung học cơ sở.32 Hệ thống trường lớp tuy nhỏ và cũ nhưng nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu Năm học 2004-2005, tỉ lệ huy động trẻ em vào lớp một đạt 100%, công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên được quan tâm, hiện xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và đang tiến tới phổ cập trung học phổ thông
Trung tâm y tế xã đã thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho người dân, thực hiện tốt các chương trình, các đợt tiêm ngừa được mở rộng Trạm y tế xã tương đối đầy đủ về nhân sự lẫn trang thiết bị đảm bảo giải quyết kịp thời công tác khám chữa bệnh tại xã nhà Về nhân sự: tổng số cán bộ công nhân viên của trạm y tế gồm năm người, trong đó có một bác sỹ, bình quân cán bộ y tế/ vạn dân đạt 6.2 người Về
cơ sở vật chất: trạm y tế đã được xây dựng gồm năm giường bệnh, diện tích 1000m2,
và được trung tâm y tế huyện cung cấp khá đầy đủ các trang thiết bị
Xã Lang Minh là nơi cộng cư của nhiều dân tộc với nhiều tôn giáo Trong đó
có ba tôn giáo chính: Công giáo, Tin lành và Phật giáo với một nhà thờ giáo họ Lang Minh và một nhà thờ Tin Lành, một Quan Âm miếu của người Hoa Các cơ sở sinh hoạt tôn giáo phần nào đã đáp ứng được nhu cầu người dân Các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao cũng thường được tổ chức và ngày càng thu hút đông đảo người dân tham gia Hiện xã có một trung tâm văn hoá- thể dục thể thao và một bưu điện phục vụ tương đối tốt nhu cầu tinh thần của cư dân trong xã
32
Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng mạng lưới điểm dân cư nông thôn xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Công ty cổ phần tư vấn xây dựng tổng hợp, TP Hồ Chí Minh, 2007, trang 4
Trang 36Về các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hiện nay xã Lang Minh đã có mạng lưới điện kéo tới các ấp, số người dùng điện chiếm 95%; nước dùng là giếng khoan và nước mưa, có tình trạng nước nhiễm phèn nên mùa khô thiếu nước uống trầm trọng, phải mua nước của xã Suối Cát Nguồn cung cấp nước cho thuỷ lợi được lấy từ hồ suối Vọng tưới cho khoảng 197 ha hoa màu vụ Đông Xuân, trong đó tưới tự chảy 143 ha, tưới tạo nguồn 54 ha Tổng chiều dài kênh mương 27.1 km, đã bê tông được 6.6 km Tuy nhiên hiện nay Lang Minh còn khoảng 75 ha cây lâu năm, 195 ha cây ngắn ngày
và 750 hộ thiếu nước sản xuất và sinh hoạt33
Về giao thông, ngoài trục giao thông chính 765, còn lại các đường trong xã đều là đường đất34, mật độ giao thông bộ của xã khá phát triển, với tổng chiều dài các tuyến đường là 32.4 km, trong đó 3.1 km là đường tỉnh lộ 765, 14.5 km đường giao thông
xã, còn lại là đường giao thông nông thôn, mật độ đường giao thông đạt 1.9 km/km2
Về kết cấu mặt, hiện chỉ có đường tỉnh lộ 765 được trải nhựa, đi lại tốt35, còn lại nhìn chung giao thông khá thuận tiện, chỉ gây khó khăn cho người dân vào mùa mưa
Mạng lưới bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc trong xã phát triển khá nhanh,
số máy điện thoại đạt bình quân năm máy/ 100 dân.36
Vùng đất Lang Minh nhiều tiềm năng đã trở thành nơi dừng chân của dòng họ
Lê Ba cũng như nhiều dòng họ khác Tại đây, nhiều truyền thống tốt đẹp đã được phục hồi và phát triển sau bao nhiêu năm bôn ba tha thương
1.2.2 Tổng quan về dòng họ Lê Ba
1.2.2.1 Nguồn gốc và quá trình di dân
Họ Lê Ba là tên thường gọi của dòng họ Lê Bá gốc ở thôn Cẩm Phổ, xã Gio
Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị Sống trong làng có nhiều họ, “để phân biệt,
“ông sếp” tức là trưởng làng, chia làm Nguyễn I, Nguyễn IV, Lê II, Lê III Dòng họ này là Lê Ba”37 Cho đến nay, dường như tất cả con dân trong họ đều biết cái tên Lê
Ba phổ biến hơn Lê Bá, đồng thời, sử sách của tộc họ cũng lưu lại tên gọi Lê Ba từ
Trang 37xưa đến tận ngày nay Dòng họ này cho rằng mình có nguồn gốc từ Thanh Hóa, vì
“đầu tiên ở gần thành nhà Hồ là có ngôi làng tên Bào Phổ, rồi làng miềng [mình] đầu tiên cũng Bào Phổ, sau mới Cẩm Phổ Cái Bào Phổ ở Thanh Hóa Miềng suy ra nha, ông bà miềng hay, nếu trước là Bào Phổ, sau Cẩm Phổ, thì nếu Cẩm Phổ đây miềng đi lên Cẩm Sơn, rồi vô Cẩm Đường, cũng có chữ Cẩm trong đó Cho nên miềng nghĩ là ngoài nớ [đó] miềng tìm ra nguồn gốc đó, mà không ai đi tìm cho thôi”38 Tuy nhiên,
họ chấp nhận Cẩm Phổ chính là nơi khởi sinh một dòng họ Lê Ba lớn mạnh về nhân khẩu cũng như lịch sử oai hùng, nam thì giỏi giang, nữ thì xinh đẹp, chịu khó
Họ Lê Ba tại Đông Nam Bộ nói chung, khu vực Lang Minh nói riêng là một bộ phận lưu dân từ cuộc mở rộng biên cương vào hướng nam thời Hậu Lê Họ Lê Ba sau nhiều đời sinh trưởng tại Cẩm Phổ, Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vào khoảng năm 1958-
1959 giai đoạn chế độ Việt Nam Cộng Hoà của Ngô Đình Diệm, một số con cháu đã vào định cư tại các vùng Dinh điền Long Khánh, Đồng Nai Đây cũng là đầu mối cho các lần di chuyển vào Nam các năm 1972, 1975 của một số cư dân Cẩm Phổ Dòng họ
Lê Ba tại xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai và một số ít ở các vùng lân cận là một bộ phận của họ Lê Ba di cư từ Quảng Trị vào khoảng năm 1977 đến 1979
Vùng đất Quảng Trị thời gian năm 1966 chiến tranh triền miên, cộng thêm thiên nhiên không ưu đãi, khí hậu khắc nghiệt… khiến không chỉ một phần của dòng
họ Lê Ba mà hầu hết cư dân Quảng Trị đều di cư khắp nơi Quá trình di dân của dòng
họ này là một chặng đường dài đầy gian khổ Phần lớn những nhân chứng sống của cuộc “chạy giặc” ấy là những vị trưởng tộc, những người giữ chức vụ quan trọng trong dòng họ hiện nay Họ là những cô bé, cậu bé rời quê hương khi mới mười hai, mười ba tuổi
Đoàn di dân chạy từ vùng này qua vùng khác của tỉnh Quảng Trị, rồi đến Cố đô Huế, Đà Nẵng… Nơi dừng chân khá lâu của họ là Bình Thuận- một vùng đất nghèo nàn Cho đến chiến tranh năm 1975, họ chạy vào Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) rồi lại chạy trở ra Bình Thuận Có nghe những nhân chứng lịch sử kể lại thì mới thấm hết nỗi khó khăn, gian nan của số phận tha hương Vậy mà họ vẫn sống, vẫn phấn đấu!
38
MS: Q02, Phỏng vấn sâu, ngày 07/07/2012
Trang 38Vùng đất Bình Thuận khô cằn, “làm ăn không lên nổi”39, họ lại vào Hố Nai, thuộc Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai làm nghề buôn bán nhưng thất bại Đến năm 1978, cả dòng họ đến xã Lang Minh, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Trong một năm mà có biết bao sự thay đổi, năm 1979, những ngôi nhà kiên cố được xây nên Họ Lê Ba đã chọn vùng đất này làm quê hương thứ hai của mình
1.2.2.2 Định cư và phát triển
Từ 1979 đến nay, dòng họ Lê Ba không ngừng tăng lên về số hộ và nhân khẩu Hiện nay, cả họ có hơn 50 hộ, khoảng 320 người- chiếm gần 30% dân số trong ấp Tân Bình 2- nơi tập trung họ Lê Ba, ngoài ra còn một số hộ rải rác tại ấp Tân Bình 1 và Đông Minh nhưng không đáng kể Bảng phân tích bên dưới thể hiện rõ điều này:
Bảng thống kê số liệu dân số họ Lê Ba trong ấp Tân Bình 2
dựa trên số liệu thống kê xã Lang Minh năm 2011
Trang 39Tuy con số 28% không lớn, nhưng với một xã như Lang Minh- vùng đất nhiều thành phần dân nhập cư, không phải cư dân gốc, với hơn tám dòng họ người Việt sinh sống và rải rác những gia đình nhỏ lẻ thì dòng họ Lê Ba là dòng họ chiếm số dân đông nhất so với các họ khác:
Bảng thống kê dân số các họ lớn trong xã Lang Minh
Lê Ba Lê Nhì Nguyễn I Nguyễn IV Phạm Nguyễn Lê Công Trần Tổng
(Nguồn: Tổng hợp dựa trên số liệu thống kê xã Lang Minh năm 2011.)
Người ta nói: “an cư” thì “lạc nghiệp”, đối với họ Lê Ba quả thật không sai Trải qua gần ba mươi năm, họ đã khẳng định được sự tồn tại của mình ở “vùng đất mới” này Hiện nay, trong họ đã có những hộ được xếp vào hàng khá giả có tiếng của
xã Có lẽ đây là tín hiệu đáng mừng cho những người con tha hương!
Định cư cũng đồng nghĩa với việc phát huy những truyền thống, phong tục tốt đẹp của dòng họ Những ngày kỵ giỗ, những ngày Tết Nguyên Đán, những ngày “đắp mộ” được cả dòng họ tập trung lại tổ chức Từ lâu lắm, ngày tôi còn rất nhỏ đã nghe những tiếng trống, chiêng ngày giỗ của họ Lê Ba mà cứ ngỡ nhà nào có đám tang Đến bây giờ, khi tìm hiểu tôi mới thấy được ý nghĩa của những tiếng trống, tiếng chiêng ấy và nét đẹp của một dòng họ còn được lưu truyền trên bước đường lưu dân
Đó là một truyền thống đáng trân trọng và giữ gìn
Từ năm 2006 theo ý nguyện của hơn 300 dân đinh Họ Lê vùng Đồng Nai cụ thể là ở Lang Minh - Xuân Lộc, xây dựng một ngôi nhà thờ họ tại phía Nam Cho đến
2007, ngôi từ đường đã được xây dựng khang trang bề thế Từ đây cả dòng họ Lê Ba
đã có nơi thờ phụng, tôn trí, tưởng nhớ công ơn tổ tiên, bà con các phái các chi, nội, ngoại- hình thành một hội đồng họ Lê phía Nam
Tóm lại, vùng Lang Minh thuộc Đồng Nai là vùng đất mới, được dòng họ Lê
Ba chọn làm điểm dừng chân và phát triển cho đến ngày nay, mang đặc điểm điều kiện tự nhiên và xã hội đặc trưng chung của vùng Đông Nam Bộ Người dân Lê Ba
Trang 40trên con đường di cư từ Quảng Trị, tiêu biểu cho hàng ngàn người, cho nhiều dòng họ lớn từ miền Bắc, miền Trung vào Nam đã mang theo tất cả những phong tục, tuyền thống tốt đẹp nơi họ sinh ra, làm nên màu sắc độc đáo cho nền văn hóa Đông Nam Bộ Nhưng cũng chính môi trường tự nhiên lẫn xã hội ở đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ xã hội, quan hệ dòng họ, hình thành những biến đổi trong quan hệ thân tộc, hình thành những nét mới trong văn hóa dòng họ Đây chính là điều mà chúng tôi quan tâm làm rõ ở những chương sau của luận văn