1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2007

61 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh
Tác giả Phan Hoàng Ngọc Anh, Nguyễn Tuấn Anh, Lê Quý Long, Trần Thụy Nguyên
Người hướng dẫn TS. Vũ Quang Hà
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 463,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng nhìn chung, do những khác biệt về điều kiện sống cộng với sự tác động của những chính sách xã hội so với những người dân thành phố nên khả năng tiếp cận việc làm của người nhập cư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG - 2007

VẤN ĐỀ TIẾP CẬN VIỆC LÀM CỦA NHÓM DÂN CƯ

KHÔNG CÓ HỘ KHẨU Ở QUẬN TÂN PHÚ,

TP HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài:

PHAN HOÀNG NGỌC ANH

SV Khoa Xã Hội Học Khóa 2004 – 2008 Các thành viên:

NGUYỄN TUẤN ANH

SV Khoa Xã Hội Học Khóa 2005 – 2008

LÊ QUÝ LONG

SV Khoa Xã Hội Học Khóa 2005 – 2008

TRẦN THỤY NGUYÊN

SV Khoa Xã Hội Học Khóa 2004 – 2008 Người hướng dẫn khoa học:

TS VŨ QUANG HÀ

TP HỒ CHÍ MINH - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Cách tiếp cận của đề tài 11

1.2 Lý thuyết áp dụng 12

1.3 Thao tác hóa các khái niệm 14

1.4 Khung lý thuyết 14

1.5 Giả thuyết 16

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 17

2.1 Tổng quan về nguời nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh 17

2.2 Vài nét về quận Tân Phú 23

2.3 Hệ thống đăng kí hộ khẩu 23

CHƯƠNG 3: XỬ LÝ KẾT QUẢ 25

3.1 Đặc điểm mẫu điều tra 25

3.2 Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu tại chung cư Gò Dầu, phường Tân Quý, quận Tân Phú 26

3.3 Gải pháp và kiến nghị 44

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 54

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay thế giới đang trong quá trình đô thị hóa cao độ Quá trình đô thị hóa đã kéo theo sự biến đổi sâu sắc nền kinh tế lẫn văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia Đô thị hóa là một quá trình tích tụ năng lượng (nguồn nhân lực, của cải vật chất, tài sản, khoa học công nghệ, văn hóa…) từ đó năng suất sản xuất tăng nhanh, khả năng đáp ứng nhu cầu cho người dân ngày càng cao, tăng truởng kinh tế nhanh mang đến lối sống đô thị cho người dân… Bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận, quá trình đô thị hóa cũng bộc lộ một số hệ quả khó tránh khỏi

ở các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn như sự tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp Tại Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới, các đô thị lớn, trong đó

có TP Hồ Chí Minh đang bước vào một giai đoạn đô thị hóa mới với tốc độ cao hơn

TP Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội với quy mô dân số lớn lẫn tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa được đẩy mạnh cả về qui mô và tốc độ đã có những tác động không nhỏ đến đời sống ở những vùng nông thôn và vùng ven thành phố Bên cạnh đó, sự thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn đã kéo theo những làn sóng dân nhập cư từ các địa phương khác đến tìm kiếm công ăn việc làm tại thành phố

Quận Tân Phú là một quận nằm gần trung tâm TP Hồ Chí Minh, là một trong những quận hiện có số người lao động nhập cư đông nhất Thành phần dân nhập cư đô thị rất đa dạng, có người nghèo, người giàu; có người trình độ học vấn thấp nhưng cũng có người có trình độ học vấn cao… Vì vậy, không phải tất cả người nhập cư đều có khả năng tiếp cận việc làm như nhau Nhưng nhìn chung, do những khác biệt về điều kiện sống cộng với sự tác động của những chính sách xã hội so với những người dân thành phố nên khả năng tiếp cận việc làm của người nhập cư không có hộ khẩu vẫn còn thấp và ít được quan tâm Do đó, việc tìm hiểu vấn đề tiếp cận việc làm của người nhập cư không có hộ khẩu ở quận Tân Phú

Trang 4

nhằm hiểu rõ hơn thực trạng việc làm của người nhập cư, từ đó đưa ra những kiến nghị vừa để tạo thêm cơ hội việc làm, vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội

và văn hoá của quận Tân Phú nói riêng, của TP Hồ Chí Minh nói chung là việc làm có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách cả về lí luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, vấn đề việc làm và lao động nói chung đã được nghiên cứu từ lâu và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Riêng vấn đề việc làm của người nhập cư có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

- Công trình nghiên cứu “Lao động nữ di cư tự do, nông thôn – thành thị”

của nhóm tác giả Hà Thị Phương Tiến – Hà Quang Ngọc cũng đã đi sâu nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc di cư của người lao động nông thôn ra thành phố Ở Chương II của công trình nghiên cứu, hai tác giả đã nghiên cứu rất kĩ việc làm và đời sống của lao động nữ di cư tự do

+ Trước hết là vấn đề việc làm và thu nhập: Đã được nhìn nhận và đánh giá

từ nhiều từ nhiều góc cạnh, như: khả năng tìm việc làm, các loại hình việc làm chủ yếu, thu nhập, các áp lực từ phía gia đình, xã hội của lao động nữ di cư tự do đều được đo lường thật cụ thể, phân tích chi tiết, đồng thời đã rút ra những nhận xét quan trọng:

* Các lao động nữ di cư vào thành phố đều nhanh chóng tìm được việc làm nhưng đó chỉ là những công việc tạm bợ, mang tính thời vụ

* Nhóm tác giả đã đưa ra kết quả thật bất ngờ khi điều tra thu nhập đó là tổng thu nhập của một số nhóm lao động nữ di cư cao hơn mức thu nhập trung bình của người dân gốc thành phố Tuy nhiên thời gian và sức lực mà lao động phải bỏ ra thực hiện còn quá lớn, ảnh hưởng tới việc phục hồi và bảo vệ sức khoẻ + Điều đáng chú ý là nhóm tác giả đã khảo sát mối quan hệ giữa lao đông nữ di

cư với chính quyền và cơ quan nhà nước, qua khảo sát đã đưa ra những nhận định quan trọng: Đó là người dân chịu sự quản lí nhiều hơn là sự quan tâm

+ Bên cạnh những ý nghĩa mà cuộc nghiên cứu này đã đạt được thì chúng tôi thấy nghiên cứu này vẫn chưa chỉ ra được nguyên nhân cơ bản nào dẫn đến người lao động nhập cư nói chung và lao động phụ nữ nhập cư nói riêng chịu nhiều thiệt thòi

Trang 5

hơn so với người dân ngụ cư tại thành phố Chính vì chưa xác định được nguyên nhân chủ yếu nên trong phần giải pháp của đề tài một số giải pháp còn mang tính giáo điều, chưa cụ thể, rất khó để áp dụng một cách khả thi trong thực tế

- Sau khi nghiên cứu về di dân, về hiện trạng, những tác nhân thúc đẩy và các vấn đề phát sinh từ hiện tượng di dân đối với môi trường và tiến trình phát triển kinh tế xã hội TS Nguyễn Văn Tài và cộng tác viên đã cho xuất bản cuốn

“Di dân tự do Nông thôn - Thành thị ở TP Hồ Chí Minh” Nội dung đề cập đến

những vấn đề sau:

+ Trong Chương I, tác giả đã đưa ra các lý thuyết tổng quát về di dân: các khái niệm cơ bản, các trường phái khác nhau về di dân, lịch sử di dân quốc tế Nhờ lĩnh hội được những kiến thức này mà chúng tôi có cách nhìn khách quan và đúng đắn về hiện lao động nhập cư, từ đó có căn cứ để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu

+ Trong Chương II, cuốn sách sẽ đưa chúng ta đi ngược dòng lịch sử trở về với thời điểm từ năm 1975 đến năm 1996 để hình dung ra các giai đoạn di dân diễn ra trên địa bàn TP Hồ Chí Minh với gam màu tối sáng, đậm nhạt khác nhau Chúng ta có thể thấy rõ nét những đặc điểm về học vấn, tay nghề, nguồn gốc nhập

cư, độ tuổi, giới tính, thành phần xã hội của những người nhập cư Những tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn trên bước đường mưu sinh lập nghiệp cũng đuợc nhóm nghiên cứu nhận định một cách đầy đủ với những số liệu thuyết phục

+ Chương III, chính là chương có những bước đột phá và mới mẻ Tác giả

đã chỉ ra một cách khách quan và sống động những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của di dân tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của TP Hồ Chí Minh Điều đặc biệt là lần đầu tiên ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đã chỉ ra một cách thuyết phục không chỉ những đóng góp cho quê hương những người xa xứ mà còn chỉ ra những hệ quả xấu mà người nhập cư mang lại cho chính nơi họ ra đi Đây là điều

mà dường như không có công trình nào trước đó đề cập tới, có lẽ đây là một trong những điều đáng ghi nhận về thành công của đề tài nghiên cứu Có những nhận định trong chương này mà chúng tôi đã có những ý tưởng về mối quan hệ giữa lao động nhập cư với các biện pháp quản lí của Nhà nước và chính quyền

Trang 6

+ Chương IV, tác giả đã đề cập một số giải pháp đối với nhập cư Trong số các giải pháp, tác giả đã phân ra thành hai giải pháp, giải pháp ngắn hạn và giải pháp dài hạn Những giải pháp ngắn hạn mà tác giả đưa ra được coi là những giải pháp hoàn toàn có tính khả thi, còn những giải pháp dài hạn là những ý tưởng xuất phát từ cơ sở khoa học phục vụ cho những ý đồ chiến lược dài hơn ở tầm vĩ mô Tuy nhiên chúng tôi thấy các giải pháp vẫn chưa đồng bộ, việc áp dụng dự đoán là khả thi nhưng lúc áp dụng vào thực tế co hiệu quả hay không vẫn là còn là một câu hỏi

Chúng ta cần phải công nhận rằng đây là một công trình nghiên cứu công phu và quy mô, nhưng không có nghĩa là nó đã hoàn hảo, bởi vấn đề di dân và nhập cư luôn là một vấn đề “mở” và “động” Cuốn sách này nói được hiện trạng của người nhập cư nhưng vẫn chưa chi tiết hoá được các yếu tố bởi tác giả đi sâu vào những tác động và đề ra giải pháp

Công trình nghiên cứu “Đời sống văn hoá đô thị và khu công nghiệp” của

GS -TS Đình Quang đã cho chúng ta thấy một cái nhìn toàn diện về đời sống của người dân đô thị trong đó có cả nguời nhập cư Tác giả đã chỉ ra rằng đô thị Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá cao độ, kéo theo đó là sự di cư ồ ạt không có tổ chức từ nông thôn lên thành thị và nhu cầu việc làm đang trở thành vấn đề bức thiết Thêm vào đó là tác giả đã làm một phép so sánh sự khác biệt giữa đời sống văn hoá ở khu vực nông thôn và thành thị để làm sáng tỏ nhận định của mình: đó là khu vực đô thị có nhiều ưu việt hơn ở nông thôn, về cơ cấu và nguồn nhân lực Cư dân đô thị có cơ hội lựa chọn việc làm hơn ở nông thôn Đó là một trong những nguyên nhân làm tăng nhanh dân số về mặt cơ học ở khu vực thành thị Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã phản ánh một cách chân thực hiện thực đời sống văn hoá của người dân sống ở đô thị và đó cũng chính là trọng tâm của đề tài nghiên cứu Tác giả cũng đề ra được một số giải pháp nhưng còn mang tính lí luận cao

- Trong báo cáo “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” về vấn đề “Chất

lượng cuộc sống của người di cư ở Việt Nam” của Tổng cục thống kê hợp tác với

Trang 7

Quỹ dân số Liên Hợp Quốc đã xem xét mối quan hệ việc làm và sự tham gia thị trường lao động, nhà ở và các điều kiện sống khác của ngươid di cư kể từ đó đánh giá sự khác nhau giữa các loại hình di cư về chất lượng cuộc sống, tình trạng đăng

kí hộ khẩu và độ dài thời gian cư trú

+ Trong phần 2 báo cáo đã đề cập đến tình trạng người di cư và đăng kí hộ khẩu và báo cáo đã chỉ ra được rằng tình trạng đăng kí hộ khẩu ảnh hưởng nhiều tới việc cư trú lâu dài tại nơi chuyển đến Dù với bất cứ lí do nào, việc cư trú ổn định lâu dài ảnh hưởng rất mạnh đến việc cải thiện được đời sống sau khi chuyển

đi Báo cáo cũng đã nêu ra đươc một số nguyên nhân khiến cho người nhập cư không đăng kí được hộ khẩu

+ Vấn đề được nghiên cứu thật kĩ trong báo cáo chính là những khó khăn

mà người nhập cư gặp phải khi họ không đăng kí được hộ khẩu đồng thời bằng những chỉ số qua khảo sát, báo cáo đã đi thật chi tiết về vấn đề việc làm và thu nhập, vấn đề bảo hiểm lao động… Có thể nói rằng đây là một bài báo cáo thật chi tiết và phản ánh đầy đủ chất lượng cuộc sống của người nhập cư Qua báo cáo, cuộc sống của người dân di cư hiện ra thật rõ nét, thật sống động Tuy nhiên vì đây

là một báo cáo mang tính chất thống kê nên hoàn toàn sử dụng phương pháp định lượng Do đó chưa thể hiện rõ được những tâm tư, nguyện vọng của người nhập

cư về tương lai của họ

- Trong cuốn “Đô thị Việt Nam trong thời kì quá độ” của nhóm tác giả

Nguyễn Thị Thiềng, Phạm Thuý Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni, Jean - Michel Cusset đã cho chúng ta hiểu thêm những thách thức của quá trình đô thị Việt Nam dưới hai áp lực kinh tế và dân số Áp lực dân số một mặt là do quá trình

di dân tạo ra, mặt khác do sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá

Trong phần “Những thách thức của việc tái định cư các khu nhà tạm ở TP

Hồ Chí Minh: so sánh giữa các chương trình lớn và một dự án nhỏ”, nhóm tác giả

đã cho chúng ta thấy những khó khăn của người nhập cư trong quá trình định cư tái đô thị Nhóm tác giả đã đưa ra kết luận “Hội nhập quốc tế và đô thị hoá nhanh,

Trang 8

phát triển kinh tế như vũ bão, phân quyền, phân cấp quản lý đô thị, hiện đại hoá hình thức xây dựng nhưng chưa kiểm soát tốt việc đô thị hoá vùng ven đô, biến đổi trong quá trình dịch vụ hoá đô thị… là những quá trình đòi hỏi chính quyền địa phương phải tăng cường kĩ năng quản lý đô thị”

Bài viết “Người nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh: những đặc điểm và

khuynh hướng cơ bản” của tác giả Trần Trọng Đức đăng trên Tạp chí Xã hội học

số 3 (71), 2000 Bài viết tập trung phác họa lịch sử các cuộc nhập cư đã hình thành nên tại TP Hồ Chí Minh từ những năm sau giải phóng Ngoài ra, bài viết còn đưa

ra một số đặc điểm, khuynh hướng của người nhập cư ở TP Hồ Chí Minh

Như vậy cả vấn đề di dân và việc làm đều đã được nghiên cứu khá phong phú Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng các nghiên cứu này mới chỉ tập trung tìm hiểu những vấn đề mang tính chất vĩ mô của người nhập cư như nguyên nhân di

cư, những tác động của quá trình di cư đối với xã hội, các lĩnh vực khác nhau của đời sống người dân nhập cư mới chỉ nghiên cứu ở những bề nổi của vấn đề và mới dừng lại ở một số khía cạnh như đời sống văn hóa tinh thần, định hướng tương lai Trong khi đó, các nghiên cứu về tiếp cận việc làm của người nhập cư không

có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh và quận Tân Phú nói riêng chưa phải là nhiều, có chăng đi nữa thì mới chỉ dừng lại ở thực trạng của nhu cầu tìm việc làm, chưa làm

rõ nguyên nhân vì sao người nhập cư chịu nhiều thiệt thòi hơn trong việc tiếp cận việc làm so với người ngụ cư Do đó, việc tiến hành nghiên cứu “Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh” nhằm làm rõ hơn về vấn đề trên Trong đó chúng tôi tập trung chủ yếu vào hai nội dung chính:

Trước hết là tập trung phân tích thực trạng về tiếp cận việc làm của người nhập cư không có hộ khẩu thể hiện thông qua thu nhập, tình trạng nghề nghiệp, khu vực kinh tế…

Sau đó là tập trung phân tích, tìm hiểu sự tác động của nhân tố hộ khẩu đến khả năng tiếp cận việc làm của người nhập cư ở quận Tân Phú thể hiện ở sự tiếp

Trang 9

cận các dịch vụ xã hội, các dịch vụ ngân hàng…, đây là những yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tiếp cận việc làm

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trước hết, chúng tôi tập trung phân tích thực trạng việc làm của người nhập cư không có hộ khẩu thể hiện qua nghề nghiệp, thu nhập, tính chất công việc, khu vực kinh tế…, đồng thời khảo sát số lượng người thất nghiệp, số người thiếu việc làm trong địa bàn nghiên cứu Qua thực trạng việc làm chúng tôi sẽ khái quát hoá để xem với thực trạng việc làm như vậy liệu đã đáp ứng được nhu cầu của người lao động nhập cư hay chưa, hay đã đáp ứng ở mức độ nào?

- Sau đó chúng tôi sẽ tìm hiểu sự tác động của vấn đề hộ khẩu đến khả năng tiếp cận việc làm của người nhập cư Để trả lời cho câu hỏi sự tiếp cận việc làm của người nhập cư có bị ảnh hưởng lớn bởi vấn đề hộ khẩu

Như vậy nhiệm vụ cơ bản nhất của đề tài chúng tôi là phải chỉ ra được thực trạng việc làm hiện nay của người nhập cư và thực trạng đó chịu sự tác động của nhân tố nào?

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Chúng tôi dự trên mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận cấu trúc trong

hệ thống xã hội Chúng có sự tác động tương quan lẫn nhau, cái này là hệ quả của cái kia

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Chúng tôi dựa hoàn toàn trên phương pháp duy vật lịch sử

Trang 10

- Nhằm có cái nhìn chung, khách quan và bao quát hơn về toàn bộ đối tượng cần nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học: phương pháp định lượng và các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

4.2.1 Phương pháp thu thập dữ kiện

Phương pháp điều tra chính được sử dụng là phương pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi gom 31 câu hỏi với những nội dung về: Nghề nghiệp, tính chất nghề nghiệp, thu nhập, khả năng tiếp cận với các dịch vụ việc làm, sự tác động của vấn đề hộ khẩu… Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu này trên sách vở, báo chí, đặc biệt là một số cuộc điều tra mà tôi nghĩ rằng kết quả có thể giúp ích cho chúng tôi trong phạm vi đề tài này

4.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản tại phường Tân Quý quận Tân Phú Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành chọn ngẫu nhiên 20 hộ làm mẫu dự trữ để thay thế cho các trường hợp không đạt yêu cầu nhằm đảm bảo dung lượng mẫu cho công trình nghiên cứu của tôi là 80 mẫu

Cách chọn hộ gia đình

Lập danh sách các hộ nhập cư trong phường có người lao động (kể cả nam lẫn nữ) Từ đó, chọn ra 80 hộ nhập cư trên nguyên tắc mỗi hộ chỉ chọn một đối tượng để phỏng vấn (thường là chủ hộ)

Cách chọn đối tượng

Trực tiếp phỏng vấn các đối tượng được chọn Đối tượng được chọn là chủ

hộ, đang ở độ tuổi lao động Nếu không gặp được đối tượng, sẽ chọn đối tượng khác trong hộ để phỏng vấn Tuy nhiên, đối tượng này cũng phải thỏa mãn yêu cầu

là đang ở độ tuổi lao động

4.2.3 Phương pháp xử lý dữ kiện

Trong việc xử lý dữ kiện điều tra bằng bảng câu hỏi, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp phân tổ thống kê Với phương pháp phân tổ thống kê, các chỉ tiêu nêu trong bản câu hỏi được xử lý phân tổ theo những nhân tố nghề nghiệp, thu

Trang 11

nhập, sự tiếp cận các loại hình dịch vụ xã hội, sự ảnh hưởng của các thủ tục hành chính trong đó chủ yếu là vấn đề hộ khẩu đến việc làm của người lao động, nhằm khảo sát mức độ tác động của những nhân tố này đối với vấn đề tiếp cận việc làm của những người lao động nhập cư không có hộ khẩu, đồng thời đưa ra được bức tranh khái quát về thực trạng việc làm của người nhập cư

4.2.4 Phương pháp quan sát

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp quan sát tham dự trong thời gian ngắn Bởi vì đề tài chúng tôi tập trung phân tích sự tác động của vấn đề hộ khẩu đến khả năng tim kiếm việc làm nên rất khó để có thể sử dụng phương pháp quan sát kín Chúng tôi chỉ tiến hành quan sát được một vài công việc mà người lao động nhập

cư thường làm như: tài xế, đạp xích lô, tạp vụ, bán hàng… nhằm làm rõ thực trạng việc làm của họ

5 Giới hạn của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là vấn đề tiếp cận việc làm của người nhập cư không có hộ khẩu thể hiện qua thực trạng việc làm và sự tác động của vấn đề hộ khẩu đối với sự tiếp cận đó

Do có một số khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng, hạn chế về kinh phí cũng như kinh nghiệm nghiên cứu, chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề ở phạm vi chung cư Gò Dầu, phường Tân Quý, quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh

6 Đóng góp mới của đề tài

Vấn đề việc làm của người nhập cư đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng việc làm mà chưa đi sâu vào phân tích nguyên nhân tác động đến khả năng tiếp cận việc làm Mặt khác vấn đề hộ khẩu từ trước tới nay đều được người dân quan niệm là một công cụ quản lý của nhà nước, mang tính cứng nhắc, thủ tục đăng kí rườm rà, chi phí tốn kém Đó mới chỉ là những tác động mang tính bề nổi - gây mệt mỏi và khó chịu cho người nhập

cư và những điều này đã được các nhà nghiên cứu nói tới nhiều Trong khi đó sự tác động của hộ khẩu đến vấn đề tiếp cận việc làm lại chưa có ai nghiên cứu một cách có hệ thống Do đó qua đề tài này chúng tôi muốn làm rõ mối quan hệ giữa

Trang 12

hộ khẩu với vấn đề tiếp cận việc làm Liệu có phải người nhập cư không tìm được việc làm phù hợp là do họ không có hộ khẩu hay còn có nhưng nhân tố khác chi phối

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Việc nghiên cứu này giúp chúng tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, đặc biệt là sự vận dụng lý thuyết xã hội học vào thực tiễn nghiên cứu xã hội Việc tiếp xúc thực tế giúp nâng cao năng lực, kinh nghiệm trong quá trình học tập tại trường, tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết và thực tiễn

Bên cạnh đó, đề tài này cũng góp phần nào đó giúp các cơ quan, các tổ chức nhà nước quan tâm đến vấn đề việc làm của người dân nhập cư không có hộ khẩu quận Tân Phú nói riêng và TP, Hồ Chí Minh nói chung Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của người lao động nhập cư ở quận Tân Phú nói riêng và TP Hồ Chí Minh nói chung

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần làm rõ thực trạng việc làm và các yếu tố tác động đến việc làm của người lao động nhập cư không có hộ khẩu ở quận Tân Phú Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm tạo thêm cơ hội tìm kiếm việc làm cho người lao động nhập cư ở quận Tân Phú nói riêng và Thành phố nói chung để họ tích cực đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở TP Hồ Chí Minh

8 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm có 5 phần chính:

- Phần thứ nhất: Mở đầu

- Phần thứ hai: Cơ sở lý luận

- Phần thứ ba: Tổng quan về người nhập cư tại TP Hồ Chí Minh

- Phần thứ tư: Xử lý kết quả

- Phần thứ năm: Giải pháp, kiến nghị và kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cách tiếp cận của đề tài

1.1.1 Cách tiếp cận lối sống

Các nhà xã hội học về lối sống cho rằng: lối sống của mỗi cá nhân, nhóm

xã hội là kết quả tác động do các điền kiện khách quan và các nhân tố chủ quan,

nó chi phối mọi hoạt động sống của con người

Bestushev – Lada định nghĩa lối sống như sau: “Lối sống là tổng hòa

những dạng hoạt động sống mang tính điển hình đối với một xã hội nhất định, các dạng hoạt động này được xét thống nhất với điều kiện hoạt động sống”

Định nghĩa trên cho thấy lối sống là một hiện tượng xã hội – lịch sử, hình thành một cách khách quan bên trong một xã hội, bao giờ nó cũng chịu sự tác động của phương thức sản xuất và toàn bộ những điều kiện sống của con người Mỗi một xã hội nhất định đều có một lối sống tương ứng với nó Có lối sống chung của một xã hội, một quốc gia, đồng thời có lối sống của một giai cấp, một tập đoàn xã hội và mỗi cá nhân Lối sống không những chỉ là sản phẩm thụ động

và bị chi phối bởi phương thức sản xuất nhưng nó còn gắn liền với toàn bộ hệ thống giá trị văn hóa tinh thần của con người, cá nhân – xã hội

Người nhập cư là nhóm xã hội đặc thù, đặc biệt là nhóm không có hộ khẩu, chịu chi phối bởi các quy luật kinh tế – xã hội, và các yếu tố khác, do vậy bên cạnh một lối sống chung, họ còn có một lối sống đặc thù Qua cách tiếp cận lối sống, ta

có thể thấy được khả năng tiếp cận việc làm của những người nhập cư không có hộ khẩu diễn ra như thế nào

1.1.2 Cách tiếp cận cấu trúc

Việc tìm hiểu khả năng tiếp cận việc làm của những người lao động nhập

cư không có hộ khẩu đòi hỏi phải được tiến hành trong mối tương quan với các cơ cấu xã hội khác nhau, như cơ cấu nhân khẩu và dân cư, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu các tầng lớp và giai cấp xã hội, cơ cấu các thiết chế xã hội, các mạng lưới liên kết

xã hội, các loại dịch vụ xã hội… Những đặc điểm về nhân khẩu và dân cư như

Trang 14

giới tính, nghề nghiệp và trình độ học vấn sẽ được chú ý phân tích khi khảo sát thực trạng tiếp cận việc làm của người lao động nhập cư vì nó có ảnh hưởng trực tiếp ở những mức độ khác nhau đến đời sống của họ

Bên cạnh đó, tiêu chí thu nhập cũng sẽ được phân tích cụ thể nhằm đưa ra được

những tác động của việc làm đến thu nhập của người nhập cư không có hộ khẩu

Lý thuyết chức năng được hình thành và phát triển ở Mỹ vào nửa đầu thế

kỷ XX Lý thuyết này sau đó nhanh chóng lan rộng ra các nước châu Âu Công lao đặt nền móng của lý thuyết này thuộc về E.Durkheim, Manilowski khi các ông nghiên cứu các xã hội ở châu Âu và các nước khác để xem xét châu Âu vận hành như thế nào và biến đổi ra sao Tuy nhiên để lý thuyết cấu trúc chức năng mở rộng

và phát triển thì nó gắn liền với các nhà xã hội học nổi tiếng như H.Spencer, T.Parsons, Kingsley David

Lối tiếp cận này cho rằng xã hội là một hệ thống có nhiều bộ phận khác nhau Mỗi bộ phận giữ một vai trò nhất định trong xã hội và vận hành một cách bình thường để đáp ứng sự kỳ vọng từ phía xã hội và thỏa mãn nhu cầu bình thường nào đó của xã hội Chẳng hạn nạn thất nghiệp trong thực tế là mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là hệ quả tất yếu của xã hội một chiều nhưng sự tồn tại của nó cũng là nhằm thực hiện chức năng kích thích năng lực sản xuất của những người đang trong hệ thống sản xuất, kích thích sự đoàn kết xã hội của họ

Từ quan điểm đó, lý thuyết cơ cấu chức năng được định nghĩa như sau:

“các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội đã tồn tại bởi vì chúng có một chức năng tích cực nào đó để thực hiện trong xã hội”

Định nghĩa trên đã giải thích rằng: toàn bộ hệ thống xã hội hoạt động như vậy là để đảm bảo những nhu cầu chức năng của nó được thực hiện và như thế sự

Trang 15

thống nhất hệ thống và xã hội được giữ vững Khuynh hướng này nhấn mạnh vào trật tự xã hội, sự hài hòa và tính lành mạnh xã hội, xem xã hội như một thể thống nhất

Nhà lý thuyết cấu trúc chức năng Robert Merton đã chỉ ra rằng có hai loại chức năng chính:

- Chức năng biểu hiện (công khai): Là chức năng đã được dự tính trước - đây là những chức năng có mục đích và được thừa nhận

- Chức năng tiềm ẩn: Là chức năng không được dự tính trước - thường không được ghi nhận

Ngoài ra còn có phản chức năng - là một dạng của các “hệ quả ngoài dự kiến”, nó phản chức năng với hệ thống được chỉ định

Thất nghiệp, không có việc làm, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội…

là những chức năng tiềm ẩn bởi chúng là những hệ quả ngoài dự kiến bất tương thích với hệ thống mà chúng có ảnh hưởng về mặt chức năng Ngược lại việc làm, trình độ học vấn, thu nhập là những chức năng công khai, nó đáp ứng những nhu cầu quan trọng của con người đó là quyền được làm việc, được tạo điều kiện để thể hiện năng lực chuyên môn đồng thời đảm bảo đầy đủ điều kiện vật chất lẫn tinh thần cho con người tồn tại và phát triển Đồng thời việc làm là một chức năng nên nó sẽ chịu sự chi phối của các cấu trúc, các hệ thống khác trong xã hội Cụ thể, việc làm chịu sự tác động của tình trạng đăng ký hộ khẩu.Vì thế áp dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng chúng tôi sẽ làm rõ được sự tác động của các chính sách xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến việc làm và từ đó nêu được ý nghĩa của việc làm đối với nhóm dân cư không có

hộ khẩu về mặt chức năng và cũng trả lời cho câu hỏi vấn đề hộ khẩu có tác động nhiều đến khả năng tiếp cận việc làm

Trang 16

1.3 Thao tác hóa các khái niệm

1.3.1 Người có việc làm: là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội (1)

1.3.2 Thất nghiệp: là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm viêc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành (2)

1.3.3 Đô thị hóa: là một quá trình di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong một vùng lãnh thổ, địa lí hạn chế, được gọi là các đô thị Đô thị hóa được xem là một quá trình tổ chức lại môi trường cư trú nhân loại (3)

1.3.4 Hộ khẩu: Người ở trong một hộ (4)

Trang 17

Quyền công dân

Sở hữu nhà đất

Mức độ hài lòng

Ghi chú:

Hướng nghiên cứu chính mà đề tài quan tâm

Có quan hệ biện chứng nhưng đề tài không đi sâu

Trang 19

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI NHẬP CƯ TẠI THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH

2.1 Tổng quan về nguời nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh

Quá trình đô thị hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều dẫn đến kết quả là người nhập cư đô thị ngày một gia tăng Hiện tượng này diễn ra hết sức khác nhau ở từng quốc gia do tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội lên quá trình này hoàn toàn không giống nhau ở các quốc gia Nguyên nhân

chính dẫn đến sự di cư nông thôn – đô thị là: Thứ nhất, đô thị là nơi có đời sống

vật chất và tinh thần phong phú, mạng luới cơ sở hạ tầng cao hơn nhiều so với

vùng nông thôn Thứ hai, nhu cầu về lao động các dạng ở khu vực đô thị (với tư

cách là trung tâm kinh tế – thương mại) thường là rất lớn và ngày càng tăng nhanh theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đất nước Do đó người dân có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm ở các thành phần kinh tế đa dạng hơn ở nông

thôn Thứ ba, ở các vùng nông thôn do thiếu đất canh tác và do dân cư tăng

nhanh, tình trạng thiếu công ăn việc làm đã thúc đẩy một bộ phận dân cư khá đông phải tìm đường chạy ra các khu vực thành thị với hy vọng tìm được việc làm dễ dàng hơn Số lượng người nhập cư vào TP Hồ Chí Minh nói chung và quận Tân Phú nói riêng ngày càng tăng là kết quả của những cuộc di cư có tổ chức và di cư tự do Trên thực tế di cư tự do nhiều hơn di cư có tổ chức, điều

đó đã làm gia tăng sức ép đối với xã hội đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách Nơi xuất cư khá đa dạng, hầu như từ khắp miền đất nước – xa nhất về phía Bắc là những người có quê quán ở Lai Châu, phía Nam là những người có quê quán ở Kiên Giang đã hội tụ thành phạm trù người nhập cư tự do Trong đó chủ yếu là từ các tỉnh phía Nam chiếm 62,36% tổng số dân nhập cư, phía Bắc là 19,36%, khu vực Trung bộ là 19,28 % Có thể nói rằng, hiện tượng nhập cư vào

TP Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là sư di chuyển dân cư từ vùng nông thôn vào đô thị, mà thực chất đó còn là hiện tượng xã hội của sự thu hút cả nông dân lẫn thị dân ở các vùng kém phát triển vào thành phố này với tính cách

là cực phát triển mạnh nhất của cả nước hiện nay

Trang 20

Ước mơ cháy bỏng nhất của người nhập cư là làm giàu, là khát vọng được đổi đời bởi thế việc làm nơi ở mới trở nên rất quan trọng đối với họ Có rất nhiều nguyên nhân cụ thể khiến họ phải rời bỏ quê hương, xứ sở như vì chuyện hôn nhân; vì mâu thuẫn tôn giáo, làng xóm; chuyển công tác; học tập, đào tạo… nhưng nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là thiếu việc làm, thu nhập thấp ở nơi xuất cư, di cư

để mong muốn tìm ra một cơ hội mới trong vấn đề việc làm, việc làm đó phải tạo

ra thu nhập cao hơn, phù hợp với năng lực của hơn trước

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có số dân đông nhất trong cả nước hiện nay Số liệu thống kê chính thức cho thấy năm 1998, toàn thành phố có 5.096.487 người, trong đó có hơn 70% tập trung ở các quận nội thành và 30% ở các quận ngoại thành Tuy nhiên theo tính toán của nhiều cơ quan, số dân thực tế

cư trú tại địa bàn TP Hồ Chí Minh còn cao hơn nữa do sự nhập cư của một số đáng kể những người từ các tỉnh khác đến mà thành phố không kiểm soát được hoặc chỉ kiểm soát được một phần rất nhỏ Theo số lượng công bố chính thức của Cục thống kê, trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, trung bình mỗi năm có trên 70.000 người chuyển vào TP Hồ Chí Minh làm ăn sinh sống Nếu tính cả những người nhập cư ngắn hạn để tìm việc làm tạm thời hoặc nói chung là những người không khai báo với công an thì con số này có thể lên tới hàng trăm ngàn

Theo báo cáo của cuộc khảo sát về người nhập cư tại TP Hồ Chí Minh do Viện kinh tế (thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố) tiến hành trong khuôn khổ Dự

án VIE/95/004 vào tháng 4/1997 và theo số liệu điều tra của đề tài “Vấn đề giảm

nghèo trong quá trình đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh 1998” của Viện Khoa học

xã hội về những đặc điểm của người nhập cư, người nhập cư tại TP Hồ Chí Minh

có các đặc điểm sau:

2.1.1 Về độ tuổi

Tính chọn lọc cao về độ tuổi là một đặc trưng của mô hình di cư nông thôn – thành thị ở khắp nơi trên thế giới Người nhập cư ở TP Hồ Chí Minh cũng mang đặc trưng này Theo báo cáo của cuộc khảo sát do Viện kinh tế tiến hành, trên 55%

số người nhập cư vào TP Hồ Chí Minh ở độ tuổi 25 – 34 Bên cạnh đó, cuộc khảo

Trang 21

sát còn cho thấy những người nhập cư vào thành phố có xu hướng ngày càng trẻ hơn So với giai đoạn 1986 – 1990 chỉ có 45% số người nhập cư ở độ tuổi 15 – 24 thì trong những năm gần đây, tỷ lệ này đã tăng trên 60% Giữa những người nhập

cư có tổ chức và người nhập cư tự do cũng có sự khác biệt về độ tuổi di chuyển Ở giai đoạn 1986 – 1990, độ tuổi bình quân của những người nhập cư tự do khi họ đến TP Hồ Chí Minh là 23.6 và của người di dân hợp pháp là 27.9 Độ tuổi bình quân khi nhập cư của hai nhóm dân số này ở thời kỳ 1991 – 1996 tương ứng là 24.3 và 28.7

Kết quả điều tra của đề tài “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa

tại TP Hồ Chí Minh 1998” cho biết cơ cấu tuổi và giới tính của người nhập cư

vào TP Hồ Chí Minh năm 1998 như sau:

Bảng 1: Xét theo giới tính và tuổi (6)

Giới

Chung (%)

2.1.2 Về trình độ học vấn

Để có thể tìm được việc làm tốt tại TP Hồ Chí Minh, những người nhập cư buộc phải có trình độ không thua kém so với cư dân đô thị Về học vấn, những

6 Nguồn: Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh 1998

Trang 22

người nhập cư có tổ chức có trình độ học vấn cao hơn hẳn so với những người nhập cư tự do, nhưng do số người nhập cư ngày càng lên tăng khiến cho trình độ học vấn của người nhập cư nói chung có xu hướng giảm xuống Tìm hiểu về trình

độ học vấn trong mối tương quan với giới tính và khu vực xuất cư cho thấy người nhấp cư là nam giới có trình độ học vấn cao hơn nữ giới và những người xuất cư ở khu vực thành thị có trình độ học vấn cao hơn những người xuất cư ở khu vực nông thôn

Kết quả điều tra ở đề tài “Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa tại

TP Hồ Chí Minh 1998” cho biết trình độ học vấn xét theo giới tính của các thành

viên trong hộ nhập cư từ 6 tuổi trở lên như sau:

Bảng 2 : Xét theo giới tính và trình độ học vấn của các thành viên trong hộ

nhập cư từ 6 tuổi trở lên (7)

7 Nguồn: Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh 1998

Trang 23

ít khó khăn Nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội đã đưa ra những kết quả cụ thể

về đặc điểm về nghề nghiệp của người nhập cư tại tại TP Hồ Chí Minh trong mối tương quan với giới tính như sau:

Bảng 3 : Xét theo nghề nghiệp và giới tính (8)

Giới

Chung (%)

Thợ may, may gia công 4.5 17.6 17.6

Cán bộ chuyên môn nghiệp vụ 3.4 2.4 2.8

Nghề tiểu thủ công nghiệp 5.1 2.1 3.2

Nhân viên văn phòng, hành

2.1.4 Về khả năng hội nhập và thích nghi của người nhập cư

Vấn đề hội nhập và khả năng thích nghi của người nhập cư là vấn đề cần phải được giải quyết tốt vì khi mức độ thích nghi của người nhập cư kém thì họ dễ trở thàh gánh nặng, vật cản và kìm hãm sự phát triển của đô thị, của xã hội Vì vậy, tăng cường sự hội nhập, thích nghi cho người nhập cư để họ làm việc có hiệu

8 Nguồn: Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa tại TP Hồ Chí Minh 1998

Trang 24

quả hơn sẽ góp phần nâng cao đời sống cho chính họ, gia đình họ, đồng thời góp phần làm hạn chế các yếu tố gây cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển của đô thị

Đề tài nghiên cứu “Tác động xã hội của dân nhập cư vào TP Hồ Chí Minh

1997” đã đưa ra những kết quả cụ thể từ những đánh gía của chính những người

nhập cư về các mối quan hệ của họ sau một thời gian sống tại TP Hồ Chí Minh như sau (9):

* Quan hệ ở nơi làm việc

độ thích nghi của những người nhập cư còn chậm, mức độ thích nghi của họ còn hạn chế, từ đó làm giảm vai trò của người nhập cư trong việc đóng góp xây dựng địa phương cũng như đối với sự phát triển của xã hội

Qua những số liệu về các đặc tính trên của người nhập cư có thể đi đến kết luận: đa số người nhập cư vào TP Hồ Chí Minh còn trong độ tuổi lao động với trình độ học vấn tương đối, có nghề nghiệp và chưa hoàn toàn thích nghi với cuộc sống đô thị

9

Nguồn: Tác động xã hội của dân nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh 1997

Trang 25

2.2 Vài nét về quận Tân Phú

Quận Tân Phú: phía Đông giáp quận Tân Bình; phía Tây giáp quận Bình Tân; phía Nam giáp các quận 6,11; phía Bắc giáp quận 12

Quận Tân Phú chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Tân Sơn Nhì, Tây Thạnh, Sơn Kì, Tân Quý, Tân Thành, Phú Thọ Hoà, Phú Thạnh, Phú Trung, Hoà Thạnh, Hiệp Tân, Tân Thới Hoà

Quận Tân Phú là một trong những quận có số dân nhập cư cao nhất ở TP

Hồ Chí Minh Theo niên giám thống kê năm 1996 của Cục thống kê TP Hồ Chí Minh, toàn thành phố có 576.186 người nhập cư Trong đó, số người nhập cư tại quận Tân Phú là 94.000 người, chiếm tỷ lệ 16.32% và đứng thứ 3 về số người nhập cư trong toàn thành phố Tuy nhiên số người nhập cư ở quận Tân Phú vẫn không ngừng gia tăng theo thời gian

Do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa ở các thành phố lớn, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh, làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị có xu hướng ngày càng tăng đã có những tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế, làm nảy sinh những vấn đề xã hội cần được nghiên cứu và tìm ra giải pháp

2.3 Hệ thống đăng kí hộ khẩu

Việt Nam có hệ thống đăng kí hộ khẩu phức tạp Hệ thống này xác lập các quyền cư trú của người dân và được áp dụng ở cả nông thôn lẫn thành thị Có 4 loại cư trú là KT1, KT2, KT3, KT4 Đề tài chúng tôi xin xác định 4 loại trên như

sau:

- KT1- Người đăng ký hộ khẩu tại quận/huyện nơi đang sinh sống;

- KT2- Người không đăng ký hộ khẩu tại quận/huyện nơi đang sinh sống

nhưng đã được đăng kí tại quận/huyện khác trong cùng một tỉnh/thành phố;

- KT3- Người có đăng kí tạm trú trong khoảng thời gian 6 tháng hoặc dài hơn;

- KT4- Người có đăng kí tạm trú trong thời gian dưới 6 tháng;

Ngoài ra còn có một dạng người di cư không có đăng ký hộ khẩu tại nơi chuyển đến

Trang 26

Nhìn chung nhóm KT3 và KT4 là di cư tự phát (không có được nhà nước tổ chức hoặc bảo trợ) Cần lưu ý rằng kiểm soát số nguời di cư dạng KT4 là vô cùng khó khăn và hầu hết các số liệu về di cư dạng KT4 chưa được tính toán đầy đủ vì chúng phụ thuộc vào việc đăng ký của các nhà trọ/khách sạn với cơ quan Công an

Vì cứ 6 tháng một lần phải gia hạn giấy chứng nhận tạm vắng, nhiều người

di cư có thể chọn không gia hạn giấy tờ của mình phụ thuộc vào hoàn cảnh lúc đó

và phụ thuộc vào thái độ của chính quyền địa phương Vì vậy họ có thể trở thành những người di cư không được đăng ký Trong nhiều trường hợp, quá trình di cư

có thể có nhiều dạng di cư Ví dụ tạm trú có thể trở thành thường trú, người di cư không đăng ký có thể quyết định đăng ký nơi ở mới sau vài tháng, người di cư có đăng ký có thể chuyển tiếp đến một nơi ở mới để tìm việc làm hoặc đất đai tốt hơn

và cũng có thể quyết định không đăng kí ở nơi ở mới

Trang 27

đỡ gia đình Tuy nhiên do địa bàn chúng tôi nghiên cứu là ở chung cư nên đa số đều đã định cư trên một năm ở thành phố do đó tính đại diện chưa cao Trên thực

tế hiện nay số lượng nữ giới di cư không chỉ là gần bằng nam mà đã vượt quá hơn nam

3.1.2 Về độ tuổi

Trong tổng số mẫu điều tra bao gồm 80 người, có 30% từ 16 đến 25 tuổi, 63% từ 26 đến 45 tuổi và 7% từ 46 tuổi trở lên Kết quả này cho thấy sự tương đồng giữa độ tuổi của mẫu điều tra với độ tuổi của người nhập cư trong các công trình nghiên cứu khác Đó là tỉ lệ người nhập cư từ 16 đến 45 luôn là tỉ lệ cao nhất, chiếm khoảng ba phần tư so với các độ tuổi khác

3.1.3 Về lí do di cư

Có rất nhiều nguyên nhân khiến người lao động phải di cư, trong số đó di

cư với mục đích tìm kiếm việc làm là phổ biến nhất, đa số người lao động muốn tìm cho mình một công việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và phù hợp với điều kiện sức khỏe Một số khác thì di cư vì lí do tạo điều kiện cho con cái học tập, một số khác vì điều kiện kinh tế địa phương quá khó khăn, và cuối cùng chiếm ít nhất nói rằng do điều kiện ở nơi ở mới tốt hơn

Trang 28

3.2 Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu tại chung cư Gò Dầu, phường Tân Quý, quận Tân Phú

Người có việc làm: là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội Tiếp cận việc làm ở đây được hiểu là người dân nhập cư có đủ trình độ chuyên môn để sử dụng các cơ hội việc làm nhưng họ lại không sở hữu được nó Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho người nhập cư không tìm được việc làm phù hợp, việc làm đúng với khả năng

và mơ ước của họ Từ trình độ học vấn đến mức độ tham gia mạng lưới liên kết xã hội, tình trạng cư trú Chúng tôi sẽ đi tập trung phân tích những ảnh huởng của tình trạng cư trú đến khả năng tiếp cận việc làm, cụ thể là việc đăng kí hộ khẩu thường trú Bởi vấn đề hộ khẩu luôn gắn chặt với người nhập cư, với những khó khăn mà họ gặp phải

3.2.1 Tình trạng đăng ký hộ khẩu và dự định ở lại nơi đến

3.2.1.1 Tình trạng đăng kí hộ khẩu

Tình trạng đăng kí hộ khẩu phản ánh tình trạng cư cú của người nhập cư Trong số 80 người mà chúng tôi phỏng vấn thì tất cả họ đều chưa có hộ khẩu KT1

- là hình thức cư trú mang lại rất nhiều quyền lợi cho họ

Bảng 4: Tình trạng đăng ký cư trú của người nhập cư

Trang 29

KT3 này thì phần lớn họ đều có ý định định cư lâu dài ở TP Hồ Chí Minh Tỉ lệ đăng ký KT4 là 6.38%; KT2 là 4.26% Như vậy hiện nay người nhập cư chủ yếu đang ở tình trạng đăng ký hộ khẩu KT3, một số rất ít có KT2 Sự tiếp cận các cơ hội việc làm cũng như các dịch vụ xã hội khác sẽ giảm dần từ KT1 xuống KT4

Có đến 17.02% là chưa đăng ký loại hình cư trú nào cả - đây đều là những người mới định cư dưới 1 năm 17.02% này chịu rất nhiều thiệt thòi bởi về mặt pháp lý

họ là những người cư trú bất hợp pháp Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến việc làm, thu nhập cũng như đời sống

3.2.1.2 Dự định ở lại nơi ở mới

Đa số những người di cư tại địa bàn chúng tôi nghiên cứu đều mong muốn

ở lại nơi mới để lập nghiệp Đây là tâm lý mà họ đã chuẩn bị khi bắt đầu có ý định

di cư

Bảng 5 Dự định ở lại của người nhập cư

Công việc ổn định hơn 7 8.51

Tạo điều kiện cho con cái học

Trang 30

Có đến 76.62% trả lời rằng họ muốn ở lại, lí do ở nơi mới có cơ hội tiến thân hơn được lựa chọn nhiều nhất 31.91%/ 76.62%, lí do này tập trung chủ yếu ở nhóm có trình độ học vấn cao - Trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học, bởi mục đích di cư của nhóm này là muốn tìm kiếm việc làm tốt hơn nơi cũ, mong có

cơ hội thăng tiến cho bản thân 17.02% chọn ở lại là vì có cuộc sống tốt hơn: Đến nơi ở mới người nhập cư có thu nhập cao hơn, đời sống tinh thần phong phú hơn, các nhu cầu của bản thân được thỏa mãn ở mức độ cao hơn nên chắc chắn họ sẽ quyết định ở lại nơi ở mới Ngoài ra còn có những lý do khiến họ ở lại đó là: công việc ổn định hơn (8.51%); tạo điều kiện cho con cái học tập (12.77%), một số gia đình dù gặp nhiều khó khăn tại nơi ở mới nhưng vì tương lai của con cái họ cũng vẫn ở lại Bên cạnh số người có ý định ở lại thì cũng có không ít người đã tìm đến giải pháp trở về quê cũ Nguyên nhân cơ bản khiến họ quyết định trở về quê nhà là

họ tự cảm thấy không đủ trình độ và sức khoẻ (6.38%) Như vậy những người lao động di cư cũng tự nhận thức và đánh giá được khả năng và năng lực hạn chế của mình, nhất là trình độ tay nghề khi đi tìm việc ở thành phố

3.2.1.3 Lí do khiến người di cư không đăng ký và không thể đăng ký

Tại sao các quy định về đăng ký hộ khẩu đã được nới lỏng so với trước nhưng số dân được đăng kí hộ khẩu KT1 vẫn còn chiếm tỉ lệ thấp Có lẽ đó là băn khoăn lớn nhất của người nhập cư, có nhiều lí do được đưa ra, chúng tôi xin gom lại thành những nguyên nhân chính như sau:

Khi được hỏi là “Lí do nào khiến ông (bà) chưa đăng kí hộ khẩu tại TP

Hồ Chí Minh?” Thì chúng tôi nhận được đa số câu trả lời là do mất nhiều thời

gian Trong 80 người được hỏi thì có 30 người nêu lý do là mất nhiều thời gian chiếm tới 40% số phiếu

Bởi để đăng ký được hộ khẩu người dân phải tốn công sức đi lại nhiều lần ở các cơ quan hành chính Có nhiều hộ theo đuổi việc làm hộ khẩu mất nhiều năm trời mà vẫn chưa được Những quy định đã được nới rộng nhưng thực chất chỉ là trên giấy tờ, còn trên thực tế, để hoàn tất được thủ tục đăng kí hộ khẩu, người dân phải có tính kiên nhẫn của “người cõi trên” bởi họ phải trải qua nhiều thủ tục

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tổng cục thống kê và Qũy dân số Liên hợp quốc (2006), Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Chất lượng cuộc sống của người di cư Việt Nam
Tác giả: Tổng cục thống kê, Qũy dân số Liên hợp quốc
Năm: 2006
2. PTS. Nguyễn Văn Tài và cộng tác viên (1998), Di dân tự do Nông thôn- Thành thị ở Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân tự do Nông thôn- Thành thị ở Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: PTS. Nguyễn Văn Tài, cộng tác viên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
3. Nguyễn Thị Thiềng, Phạm Thúy Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni, Jean- Michel Cusset (2005), Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ, Nxb Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ
Tác giả: Nguyễn Thị Thiềng, Phạm Thúy Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni, Jean-Michel Cusset
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2005
4. Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên hợp quốc(2006), Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện cuộc sống, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện cuộc sống
Tác giả: Tổng cục thống kê, Quỹ dân số Liên hợp quốc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
5. Hà Quang Ngọc - Hà Thị Phương Tiến (2000), Việc làm và đời sống của lao động nữ di cư tự do vào các thành phố, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm và đời sống của lao động nữ di cư tự do vào các thành phố
Tác giả: Hà Quang Ngọc, Hà Thị Phương Tiến
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
6. Trịnh Duy Lâm, Xã hội học đô thị, Nxb Viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Lâm
Nhà XB: Nxb Viện khoa học xã hội
7. GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên), Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp
Tác giả: GS. Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Lê Văn Thành, Dân nhập cư với những vấn đề phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh (2007), Tạp chí khoa học xã hội- Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân nhập cư với những vấn đề phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Văn Thành
Nhà XB: Tạp chí khoa học xã hội- Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Năm: 2007
9. Tổng cục thống kê và Qũy dân số Liên hợp quốc (2005), Di cư Việt Nam những kết quả chủ yếu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư Việt Nam những kết quả chủ yếu
Tác giả: Tổng cục thống kê, Qũy dân số Liên hợp quốc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
10. GS. TS Đình Quang (2005), Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp
Tác giả: GS. TS Đình Quang
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
11. Trần Trọng Đức, Người nhập cư ở TP. HCM: Những đặc điểm và khuynh hướng cơ bản (2000), Tạp chí Xã hội học số 3 (71) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nhập cư ở TP. HCM: Những đặc điểm và khuynh hướng cơ bản
Tác giả: Trần Trọng Đức
Nhà XB: Tạp chí Xã hội học
Năm: 2000
12. TS. Vũ Quang Hà, Các lý thuyết Xã hội học (2001), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết Xã hội học
Tác giả: TS. Vũ Quang Hà
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Xét theo giới tính và tuổi  (6) - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 1 Xét theo giới tính và tuổi (6) (Trang 21)
Bảng 2 : Xét theo giới tính và trình độ học vấn của các thành viên trong hộ - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 2 Xét theo giới tính và trình độ học vấn của các thành viên trong hộ (Trang 22)
Bảng 3 : Xét theo nghề nghiệp và giới tính  (8) - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 3 Xét theo nghề nghiệp và giới tính (8) (Trang 23)
Bảng 4: Tình trạng đăng ký cư trú của người nhập cư - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 4 Tình trạng đăng ký cư trú của người nhập cư (Trang 28)
Bảng 6: Lí do người nhập cư chưa đăng kí được hộ khẩu - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 6 Lí do người nhập cư chưa đăng kí được hộ khẩu (Trang 31)
Bảng 8: Số phần trăm khó khăn gặp phải sau khi chuyển đến - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 8 Số phần trăm khó khăn gặp phải sau khi chuyển đến (Trang 34)
Bảng 9: Phần trăm trình độ học vấn của người nhập cư - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 9 Phần trăm trình độ học vấn của người nhập cư (Trang 36)
Bảng 10: Phần trăm nghề nghiệp hiện tại của người nhập cư - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 10 Phần trăm nghề nghiệp hiện tại của người nhập cư (Trang 37)
Bảng 12: Phần trăm các nghề đã từng làm khi chuyển đến nơi ở mới - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 12 Phần trăm các nghề đã từng làm khi chuyển đến nơi ở mới (Trang 38)
Bảng 13: Phần trăm nơi làm việc của người nhập cư - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 13 Phần trăm nơi làm việc của người nhập cư (Trang 39)
Bảng 16: Phần trăm mức độ tìm kiếm thông tin về việc làm - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 16 Phần trăm mức độ tìm kiếm thông tin về việc làm (Trang 42)
Bảng 19: Phần trăm thu nhập trung bình tháng phân theo đặc trưng trình độ - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 19 Phần trăm thu nhập trung bình tháng phân theo đặc trưng trình độ (Trang 44)
Bảng 18: Phần trăm thu nhập trung bình hàng tháng - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 18 Phần trăm thu nhập trung bình hàng tháng (Trang 44)
Bảng 20: Phần trăm khi so sánh với thu nhập trước đây - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 20 Phần trăm khi so sánh với thu nhập trước đây (Trang 45)
Bảng 21: Phần trăm so sánh thu nhập với mức chi tiêu - Vấn đề tiếp cận việc làm của nhóm dân cư không có hộ khẩu ở quận tân phú, tp  hồ chí minh đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường   2007
Bảng 21 Phần trăm so sánh thu nhập với mức chi tiêu (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w