HỒ CHÍ MINH CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA LẦN THỨ 10 NĂM 2008 Tên công trình: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG C
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH ĐOÀN TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 10 NĂM 2008
Tên công trình:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội và Nhân văn
Thuộc nhóm ngành : Khoa học Xã hội
Mã số công trình:
Trang 2ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH ĐOÀN TP HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 10 NĂM 2008
Tên công trình:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Trang 3MỤC LỤC
Tóm tắt đề tài 1
Phần Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5
4 Ý nghĩa của đề tài 5
5 Giới hạn của đề tài 5
6 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1 : Điều kiện lịch sử - xã hội và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ 7
1.1 Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ 7
1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn đào tạo, sử dụng cán bộ 10
Chương 2: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ ở nước ta hiện nay 25
2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ 25
2.2 Ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ đối với công tác cán bộ ở nước ta hiện nay 39
Kết luận 47
Danh mục tài liệu tham khảo 49
Trang 4Tóm tắt đề tài:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Tư tưởng Hồ Chí minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong chặng đường cách mạng đã qua
Đối với việc tuyển chọn cán bộ, Người xây dựng quy chế thi, làm cơ sở
đánh giá chất lượng đội ngũ công chức, từ đó bổ nhiệm, xếp đúng ngạch, bậc trong nền hành chính, xứng đáng với tài năng, đức độ và trình độ nghề nghiệp của từng người
Trong công tác đào tạo - bồi dưỡng cán bộ, theo Hồ Chí Minh phải luôn
luôn coi trọng cả đức và tài, phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn Để thực hiện được tốt nhiệm vụ được giao, đội ngũ cán bộ ngoài cái tài, tức là trình
độ, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo giỏi phải có đức Đồng thời, đào tạo cán bộ cách mạng là đào tạo ra những người không những tiên phong về mặt lý luận mà còn phải tiên phong trong mọi hành động
Trong việc đánh giá - sử dụng cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, phải đánh
giá đúng cán bộ, đồng thời, và khi bố trí, sử dụng cán bộ phải xác định đúng yêu cầu của công việc, “công việc yêu cầu cán bộ” và tránh sự thiên vị cá nhân Dùng người là cả một khoa học và nghệ thuật, do đó, nếu bố trí đúng sẽ phát huy mặt mạnh của cán bộ, thúc đẩy được phong trào và còn hạn chế được mặt yếu, mặt dở của họ: “Chúng ta phải nhớ rằng: người đời ai cũng có chỗ hay chỗ
dở Dùng người như dùng gỗ Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được…”
Trang 5Hiện nay, ở nước ta, “đội ngũ cán bộ tuy đông nhưng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng “vừa thừa vừa thiếu Trình độ kiến thức, năng lực lãnh đạo
và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới”, “công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ lúng túng, bất cập” Bên cạnh đó, sự thoái hoá, biến chất về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên trong thời gian qua đã dẫn đến hiện tượng tham nhũng, lãng phí, buôn lậu… gây hiệu quả nghiêm trọng về kinh tế -
xã hội của đất nước Trong tình hình đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ với tinh thần “ôn cố tri tân” là việc làm mang tính cấp thiết, thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Để đất nước có thể vững bước trên chặng đường phía trước, tiến đến mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phải tập trung bồi dưỡng, rèn luyện, đào tạo cán bộ một cách toàn diện, đồng bộ, xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự kiên định, vững vàng, sáng tạo Chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa cha ông ta đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về việc tuyển chọn, đào tạo, dùng người, dùng nhân tài Trên tấm bia khoa thi năm
1710 có ghi: “Nhân tài là nguyên khí của nước, nguyên khí bền vững thì nước mới thịnh vượng” Trên văn bia khoa thi 1715 cũng có ghi: “Cây ở đỉnh núi kia tươi tốt vì ở đó có ngọc, dưới dòng suối kia êm đềm vì ở đó có châu, vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vững vàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng Nhân tài là vật báu của quốc gia…” Truyền thống trọng dụng người hiền tài này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành tư tưởng chiến lược và chính Người đã thể hiện và thực hiện một cách xuyên suốt rất thành công trong tiến trình của cách mạng dân tộc
Ngay từ những ngày đầu sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta đang đứng trước nhiều nhiệm vụ cấp bách: kiến thiết và bảo vệ đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Nhân tài và kiến quốc”, trong
đó Người viết: “Nhân tài nước ta dù chưa nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng nhiều thêm” Sau đó, Người lại ra chỉ thị “Tìm người tài đức” nhấn mạnh: “Nhà nước cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức”
Với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, tin ở con người, tin ở nhân dân, tin ở lòng yêu nước và khả năng tiềm ẩn ở mỗi con người, và với tình cảm chân thành, trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cuốn hút và trọng dụng rất nhiều người tài năng, nhất là các vị nhân sĩ, trí thức vào công cuộc kiến thiết và bảo vệ nền độc lập của dân tộc
Tư tưởng về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong chặng đường cách mạng đã qua
Trang 7Hiện nay, đất nước ta đang hội nhập sâu rộng với thế giới, tranh thủ những vận hội to lớn để phát triển với mục tiêu sớm đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong bối cảnh ấy, để đất nước có thể vững bước trên chặng đường phía trước, tiến đến mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vẫn không ai khác ngoài “cán bộ
là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”1 Trong khi đó, hiện nay “đội ngũ cán bộ tuy đông nhưng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng “vừa thừa vừa thiếu” Trình
độ kiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ mới”, “công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ lúng túng, bất cập”2 Chính vì thế, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ với tinh thần “ôn cố tri tân” trong tình hình hiện nay là việc làm mang tính cấp thiết, thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là đề tài lớn, mang tính chính trị sâu sắc, mang tính dân tộc cao cả Chính vì thế, đề tài đã nhận được sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học
Liên quan đến chủ đề này có tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán
bộ và công tác cán bộ” của PGS.TS Bùi Đình Phong, nhà xuất bản Lao động,
2006 Ở tác phẩm này, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Tuy nhiên, vấn đề tuyển chọn, đào tạo
và sử dụng cán bộ chưa được tác giả tiếp cận một cách chi tiết cụ thể và sâu sắc
1,2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành Trung ương khoá VIII về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước http: // www, cpv Org vn/van kien/tudhdendh/
nghiquyet3.htm
Trang 8Ngoài ra, vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và
sử dụng cán bộ còn được tác giả nghiên cứu ở dạng các bài viết đăng trên báo, tạp chí nhưng còn tản mạn
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu của người đi trước, đề tài nghiên cứu này đưa ra cách tiếp cận cụ thể hơn, chi tiết hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ, từ đó, thấy được ý nghĩa to lớn tư tưởng của Người trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
a Mục đích:
Trình bày nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ và ý nghĩa của tư tưởng này đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ
ở nước ta hiện nay
b Nhiệm vụ: để đạt được mục tiêu nói trên, đề tài đã xác định 3 nhiệm
vụ cần phải giải quyết là:
Thứ nhất: trình bày điều kiện kinh tế - xã hội và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ
Thứ hai: nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và
sử dụng cán bộ
Thứ ba: nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn, đào
tạo và sử dụng cán bộ với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay
4 Ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Về mặt lý luận, đề tài sẽ góp phần làm rõ và sâu sắc thêm hệ thống giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ Đề tài có thể được sử dụng để nghiên cứu, vận dụng trong thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị… ở nước ta hiện nay
5 Giới hạn của đề tài
Trang 9Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác cán bộ nói chung bao gồm nhiều khía cạnh như: phát hiện - lựa chọn cán bộ, đào tạo - bồi dưỡng cán bộ, đánh giá - sử dụng cán bộ, tổ chức - quản lý cán bộ, kiểm tra công tác cán bộ, luân chuyển cán bộ, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, quy hoạch cán bộ…
Ở đây, đề tài chỉ nghiên cứu đến phần nói về việc tuyển chọn, đào tạo và
sử dụng cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
6 Kết cấu của đề tài
Toàn bộ đề tài được kết cấu 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung gồm
2 chương
Trang 10Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ – XÃ HỘI VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VIỆC TUYỂN CHỌN, ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.1 Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước với sự hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
1.1.1 Tình hình the giới với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Vào thế kỷ XIX các nước đế quốc trên thế giới đang áp đặt sự thống trị trên khắp các châu lục như: châu Á, châu Phi, châu Mỹ - La Tinh… Giai cấp công nhân ở các nước đế quốc, đặc biệt là ở Anh và Pháp đang sôi động trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản Để luận chứng cho vai trò, sứ mệnh của
giai cấp vô sản trên toàn thế giới, “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” do C.Mác và
Ph.Ăngghen soạn thảo đã ra đời Bản Tuyên ngôn không chỉ là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trên toàn thế giới mà còn là ngọn cờ tập hợp giai cấp công nhân, giai cấp vô sản trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản với khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”1 Đây là giai đoạn “đã đến lúc người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình”2 Được sự dẫn dắt soi đường bởi
vũ khí lý luận của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân ngày càng phát triển về
số lượng và chất lượng Con đường đấu tranh của giai cấp công nhân đi từ tự phát đến tự giác, lần đầu tiên giai cấp công nhân được tổ chức và đứng lên vũ đài lịch sử với tư cách là lực lượng độc lập về chính trị Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước sang một giai đoạn mới, đó là bước chuyển
từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản đế quốc Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước ở phương Đông chưa thoát khỏi chế độ
Trang 11phong kiến Châu Phi và Châu Mỹ - Latinh đa số cịn lạc hậu v bị chiếm lm thuộc địa Phần đông các dân tộc cịn lạc hậu bị một số nước tư bản như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh , Pháp và Mỹ bóc lột Thời đại đó đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản ở chính quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc bị bóc lột với bọn thực dân đế quốc, mâu thuẫn giữa đa
số người lao động với địa chủ phong kiến, đặc biệt là ở phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở thuộc địa với tư bản ở chính quốc và tư sản bản xứ, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau Những mâu thuẫn đó ngày một phát triển, tích tụ tạo tiền đề dẫn đến các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX Tính tất yếu đó được mở đầu bởi cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) và tiến đến là cách mạng tháng mười Nga (1917) Cách mạng tháng mười Nga thành công do Đảng tiên phong của giai cấp vô sản lãnh đạo đã minh chứng một thời đại mới đã xuất hiện - thời đại ưu thế thuộc về giai cấp công nhân
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh chung ấy, nền kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam chịu sự tác động trực tiếp của chính sách xâm lược và thống trị của thực dân Pháp Pháp vào xâm lược nước ta, từng bước xác lập quyền lực thống trị của thực dân
cũ ở Đông Dương: củng cố bộ máy cai trị về mọi mặt, tăng cường mở rộng khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ “mẫu quốc” Xã hội Việt Nam trước kia vốn tĩnh tại, giờ bị xáo trộn lên bởi sự hoạt động rầm rộ để khai thác đồn điền, hầm mỏ của thực dân Pháp Sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam cũng diễn ra ngày càng sâu sắc
Được sự dung dưỡng của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ Việt Nam nhanh chóng củng cố địa vị kinh tế, xác lập địa vị chính trị trong hệ thống chính quyền cơ sở tổng và xã Chính vì thế, tầng lớp địa chủ mới này rất trung thành với chủ nghĩa thực dân Nếu giai cấp địa chủ ngày càng giàu lên thì
Trang 12ngược lại, giai cấp nông dân ngày càng bị bần cùng hoá, mất dần ruộng đất, bị Pháp cưỡng bức lao động trong các hầm mỏ, đồn điền cây công nghiệp Với sự thống trị của thực dân đế quốc làm cho vị trí, vai trò và uy tín của nhà Nguyễn đối với nhân dân ngày một giảm
Tinh thần trung quân, ái quốc trong ý thức hệ của nhân dân từng bước được tách ra Tinh thần ái quốc được đặt lên hàng đầu làm cho nhiều phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện không còn vì phò vua
Nó đã được chuẩn bị về mặt thực tiễn xã hội chỉ còn việc là gieo hạt giống tinh thần đến với quần chúng lao động Việc gieo hạt giống lý luận đòi hỏi phải có phương pháp Phương pháp của Phan Chu Trinh là “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”; phương pháp của Phan Văn Trường là “dụng lý thuyết thâu nhân tâm”, phương pháp của Phan Bội Châu là “cầu cứu nghĩa đồng văn, đồng chủng; chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội”1 Có thể nói, phương pháp và cách thức tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của các phong trào rất sôi nổi về nội dung, đa dạng và phong phú về hình thức, song tất cả con đường cứu nước
đó chưa vượt ra khỏi phạm vi của các “cuộc cách mạng không đến nơi” Phong
1
Đặng Xuân Kỳ (1977): Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.40
Trang 13trào Cần Vương chấm dứt khẩu hiệu “phò vua giúp nước” Phong trào Đông
Du, phong trào Duy Tân theo con đường tư sản vừa bùng lên đã bị dập tắt Phương pháp cách mạng của họ có nhược điểm chủ yếu là không nhận thức đúng đắn, đầy đủ về yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách của xã hội Việt Nam Họ chưa được trang bị phương pháp luận khoa học để nhận thức về sự vận động và phát triển xã hội Việt Nam một cách toàn diện Sau giai đoạn phát triển của các phong trào dân tộc dân chủ, các phong trào yêu nước đó cũng nối tiếp tan rã trước sự đàn áp của thực dân Pháp
Khi Nguyễn Tất Thành lớn lên, phong trào cứu nước đầu thế kỷ XX đang thời kỳ khó khăn nhất Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, phải đi theo con đường mới Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, cho mỗi người dân Việt Nam lúc bấy giờ là tìm ra con đường để cứu nước, cứu dân ra khỏi ách thống trị của bọn thực dân Pháp và bọn tay sai Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện
1.2 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn,
đào tạo, sử dụng cán bộ
1.2.1 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Nghệ An, mảnh đất nơi sinh ra và lớn lên của Hồ Chí Minh, từ xa xưa được mệnh danh là vùng “rừng chết”, thiên nhiên rất khắc nghiệt, nhưng cũng
là vùng đất “địa linh nhân kiệt” Chính mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử kiệt xuất trong bốn ngàn năm lịch sử, đặc biệt là huyện Nam Đàn, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Quê hương là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử cứu nước, vì thế mà những con người sinh ra trên mảnh đất Nam Đàn này đã sớm nung nấu lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc
Dân tộc Việt Nam qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã hun đúc nên những truyền thống văn hiến lâu đời với triết lý nhân sinh hết sức sâu sắc Hồ Chí Minh là người được thừa hưởng
Trang 14những giá trị quý báu đó để trở thành người đại diện cho sự kết tinh những giá trị triết lý, văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới Đặc biệt là những tư tưởng “trời đất với con người hoà hợp”, những con người có thể “đội đá vá trời, dời núi lấp sông lấn biển”, “nhân định thắng thiên” Đặc trưng truyền thống văn hoá dân tộc là tư tưởng nhân văn và lòng khoan dung sâu sắc, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” Truyền thống dân tộc Việt Nam trở thành nền tảng, cơ sở, là hạt nhân và là cội nguồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh Một trong những đặc điểm nổi bật của truyền thống văn hoá dân tộc là tinh thần yêu nước Tinh thần yêu nước trở thành đạo
lý sống và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Hơn nữa, nó còn được coi là nhân tố trung tâm, đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Hơn ai hết, Hồ Chí Minh biết rõ giá trị và sức mạnh của tinh thần yêu nước Việt Nam, Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và bọn cướp nước”1 Người cũng viết: “…lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đưa tôi đi theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”2 Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước là động lực trực tiếp thôi thúc Hồ Chí Minh làm cách mạng cứu nước, cứu dân
Tinh thần yêu nước của người Việt Nam không tách rời tinh thần độc lập dân tộc Các thế lực phong kiến phương Bắc từ rất sớm đã áp đặt âm mưu Hán hoá lên đất nước ta để rồi sớm nhận ra rằng: “Việt tộc chỉ chịu sự thuyết phục
vì chính nghĩa, chứ không nhường vì bạo hành Lấy nhân nghĩa đạo đức mà chinh phục nhân tâm thì người phương Nam rất dễ cảm phục, chứ Việt tộc vốn
có tinh thần dân tộc độc lập rất cao”3 Nguyễn Trãi đã lấy văn hiến, bờ cõi,
Trang 15phong tục tập quán, truyền thống trọng nhân tài, chiêu hiền đãi sỹ để chứng minh điều đó:
“Nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có…”
Hồ Chí Minh kế thừa, tiếp thu tinh hoa văn hoá dân tộc không chỉ là ở cấp độ lý luận, nhận thức mà bằng hoạt động thực tiễn tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người
1.2.2 Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh được kế thừa, tiếp thu có phê phán tư tưởng văn hoá phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho, Lão, Phật
Về tư tưởng Nho giáo, học thuyết Chính danh của Nho giáo nếu bỏ qua
những hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp trong quy định danh phận ở chế độ phong kiến thì đó là một trong những tư tưởng có ý nghĩa lịch sử
nhất định Không chỉ kế thừa học thuyết Chính danh mà tư tưởng về trung, hiếu
của Nho giáo được Hồ Chí Minh nâng lên với một nội hàm và ý nghiã mới, bởi
“đạo đức ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ… ngày nay phải trung với nước, hiếu với dân”1 Ngoài những phạm trù nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, … của Nho giáo được Người đón nhận, nâng nó lên thành triết lý sống và là tiêu chuẩn đạo đức của người cách mạng
Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều phạm trù đạo đức của Nho giáo để nói về đạo đức cách mạng của người cán bộ Hãy xem Hồ Chí Minh giảng giải các
1
Hồ Chí Minh (2000): Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.4, tr.149
Trang 16phạm trù nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm với tư cách là đạo đức cách mạng của người cán bộ:
“a/ Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào
Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không thích giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền
Những người đã không ham, không e, không sợ gì, thì việc gì họ cũng làm được
b/ Nghĩa là ngay thẳng, không có tâm tư, không làm việc gì bậy, không
có việc gì phải giấu Đảng Ngoài lợi ích của Đảng không có lợi ích riêng phải
lo toan Lúc Đảng giao việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn
c/ Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong
sạch, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phương hướng Biết xem người, biết xem việc Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian
d/ Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm Thấy việc sai
phải có gan sữa chữa Cực khổ, khó khăn, có gan chịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa phú quý, không chính đáng Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát
đ/ Liêm là không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung
sướng Không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ
Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo
Trang 17đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”1
Quan điểm về “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Nho giáo được Hồ Chí Minh đón nhận và vận dụng một cách sinh động tinh tế
Sự kế thừa tư tưởng Lão giáo được thể hiện trong triết lý sống, phong cách sống bình dị, trong sáng thanh cao, ung dung tự tại của Hồ Chí Minh Đó
là triết lý sống mà Người đã chắt lọc được trên cơ sở kế thừa tư tưởng Lão giáo Với triết lý sống đó, Hồ Chí Minh có đầy đủ ý chí, lòng quyết tâm và nghị lực cần thiết trong những hoàn cảnh nhất định Nhất là những lúc Người thư thái ung dung hoà mình vào thiên nhiên, không màng danh lợi, vinh hoa phú quý, Người chỉ cần “một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu
gì với vòng danh lợi”2
Tư tưởng của Hồ Chí Minh còn chứa đựng tinh thần triết học Phật giáo
Tư tưởng cơ bản của Phật giáo là giáo dục con người về lòng từ bi, vị tha, cứu khổ, cứu nạn Đây là một trong những tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật giáo
Tư tưởng đó được Bác tiếp thu có chọn lọc trong việc giáo dục đạo đức người cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng người đời không phải là thánh thần, ai cũng
có mặt tốt, mặt xấu: “năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài… trong mấy triệu người cũng có người thế này người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ… phải lấy tình thân
ái mà cảm hoá họ”3 Nếu tư tưởng Phât giáo hướng đến giải thoát con người khỏi nỗi khổ bằng sự tu luyện tinh thần đạo đức, thì Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động bằng con đường hoạt động thực tiễn
Trang 18Bên cạnh tiếp thu văn hoá phương Đông, Hồ Chí Minh còn kế thừa có sáng tạo văn hoá phương Tây Giáo sư Trần Văn Giàu đã rất có lý khi cho rằng:
“Nguyễn ra đi không phải chỉ một tấm lòng vì dân, vì nước, vì giống nòi mà ra
đi với cả một hành trang văn hoá Hán học và Quốc học đáng kính được gia tăng rất lớn bằng văn hoá Tây phương, nếu thiếu những món đó thì Nguyễn không thể nào tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sâu sắc, và sẽ khó bề ứng dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo”1
Như vậy, xuất phát từ thực tế cháy bỏng khát vọng giải phóng dân tộc,
Hồ Chí Minh đã hướng tầm nhìn ra thế giới, nghiên cứu tư tưởng, học thuyết, chắt lọc cái hay, cái tốt trong Nho giáo, Phât giáo, Lão giáo, nghiên cứu chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn, tư tưởng cách mạng tư sản, thuyết bất hợp tác, bất bạo động của Găngđi… Trong đó đáng chú ý là tư tưởng của Tôn Trung Sơn Ở thời kỳ này Tôn Trung Sơn đang cải tổ Quốc dân Đảng Trung Quốc, thực hiện chính sách: “Thân Nga, liên cộng, phù hợp với công nông”
Người đã đánh giá đúng đắn về Tôn Trung Sơn và Chủ nghĩa Tam dân Người
đã viết trong bài Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc: “Tôn Dật Tiên,
người cha của cách mạng Trung Quốc” Tuy nhiên Hồ Chí Minh đã nhận thấy
rõ Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư
sản, nằm trong hệ tư sản nên vẫn còn nhiều những hạn chế, trên cơ sở đó Người
đã khắc phục và bổ sung vào hệ tư tưởng của mình Đồng thời, Người đã ảnh hưởng tư tưởng của các nhà Khai sáng Pháp đo
l
tư tưởng cách mạng dân chủtư sản Tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng này là Vônte (Voltaire), Môngtexkiơ (Montesquieu), Rtxơ (Rousseau)… Trong tư tưởng dân chủ tư sản, nổi bật là tư tưởng chống lại quân quyền, thần quyền, đòi quyền bình đẳng cho con người, quản lý xã hội được thực hiện bằng pháp luật, mọi người thực hiện quyền bình
1
GS Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, Nxb
Thành pho Hồ Chí Minh, 1993, t.3, tr.23
Trang 19đẳng dựa trên cơ sở pháp luật Thể chế chính trị là nền dân chủ cộng hòa, dựa vào cơ sở lý luận của thuyết Tam quyền phân lập Trong bộ máy cai trị phải tách thành ba mặt của quyền lực chính trị: lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm đối trọng và kiểm soát lẫn nhau, tránh tư tưởng độc quyền chính trị Chủ quyền của xã hội là thuộc về nhân dân, quyền lực của toàn thể nhân dân tối cao, không thể nhân nhượng, không thể chia cắt
Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và đánh giá các học thuyết khác nhau một cách thật tích cực và nhân văn: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó
là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân
ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phép biện chứng, phương pháp làm việc Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta
Khổng Tử, Giêsu, Tôn Dật Tiên, Mác chẳng phải có những ưu điểm chung đó sao?
Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng, nhất định họ sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”1
1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán
bộ là sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ
Từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin như một tất yếu lịch sử
Sự kiện Hồ Chí Minh đọc bản “Sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” đánh dấu bước ngoặt cơ bản trong quá trình tìm đường cứu nước của Người Người viết: “Thế giới bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng
1
Đỗ Quang Hưng (2001): Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.242- 243
Trang 20
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin…”1 Từ đó, Hồ Chí Minh tin theo V.I Lênin và Quốc tế thứ III
Người đã dồn hết tâm huyết để nghiên cứu tác phẩm C.Mác và V.I Lênin Với tinh thần say mê, lòng nhiệt huyết của một chiến sỹ cách mạng, cộng với đức tính cần cù, thông minh, Người đã nghiên cứu một cách sâu sắc quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán bộ và vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm này vào công tác cán bộ của Đảng
Sau Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế có bước phát triển mới Những gì mà C.Mác và Ph.Ăngghen
đề cập trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” từ giữa thế kỷ XIX đang dần hiện
hữu trong thực tiễn cách mạng thế giới: giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị; cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra ở nước Nga và giành thắng lợi Các đảng cách mạng chân chính, đảng Mác - Lênin, đảng kiểu mới của giai cấp công nhân lần lượt ra đời và đã nắm được ngọn cờ cách mạng Trước đây, với
tư cách là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, đem lý luận khoa học kết hợp với phong trào công nhân lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới, C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán bộ của giai cấp vô sản Hai ông không chỉ đề cập sự xuất hiện của những con người vĩ đại trong mỗi thời đại xã hội, mà còn cho rằng: “muốn thực hiện
tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”2 Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có thực tế để bàn nhiều vấn đề cán bộ và công tác cán bộ Nhưng hai ông rất quan tâm tới việc xây dựng một đội ngũ những người làm công tác tuyên truyền, cổ động tư tưởng cộng sản, gây dựng phong trào công nhân để lập ra những đảng cách mạng chân chính Thực chất, những nhà tuyên truyền, cổ động đó chính là những cán bộ cách mạng chuyên nghiệp của đảng trong thời kỳ hoạt động bí
Trang 21mật Họ là vốn quý của đảng để tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ hiện nay
Mác - Lênin, trong quá trình chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay công nhân - nông dân, rất quan tâm đến vấn đề thành lập đảng cộng sản và xây dựng đội ngũ cách mạng chuyên nghiệp cho phong trào cách mạng vô sản Người tin chắc rằng, nếu xây dựng được tổ chức cộng sản thì sẽ “đảo lộn cả nước Nga” Tổ chức đó phải bao gồm “những nhà chính trị của giai cấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém những nhà chính trị của giai cấp tư sản”1
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, giai cấp vô sản và chính đảng của mình giành được quyền lãnh đạo, giữ vững được chính quyền thì phải đào tạo được một đội ngũ cán bộ trung thành, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng Họ đích thực phải là người cán bộ chuyên nghiệp, là rường cột của đất nước Đội ngũ cán bộ và vai trò lãnh đạo của Đảng có mối quan hệ biện chứng Đảng lãnh đạo công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ vững mạnh, tạo được uy tín trong quá trình lãnh đạo của Đảng V.I.Lênin còn chỉ ra mối quan hệ giữa các chính Đảng với những con người cụ thể giữ những trọng trách nhất định, tức là các lãnh tụ Ông viết: “Thông thường thì các chính đảng nằm dưới sự lãnh đạo của những nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu giữ những trọng trách trọng yếu nhất và người ta gọi đó
là lãnh tụ”2
Sự lãnh đạo của đảng theo V.I.Lênin phải bằng đường lối chính trị, bộ máy tổ chức, bố trí cán bộ Sự lãnh đạo đó phải thông qua những con người cụ thể Người viết: “Sự lãnh đạo chính trị sẽ là gì chứ? Ai lãnh đạo nếu không phải
là những con người, lãnh đạo cách nào nếu không phải là những con người, lãnh đạo cách nào nếu không phải phối hợp lực lượng”3
Trang 22Không có một đội ngũ cán bộ đông đảo về số lượng, đặc biệt đảm bảo chất lượng thì không thể nói tới quyền lãnh đạo: “Người cộng sản lãnh đạo chỉ
có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình đó là tìm cho mình được nhiều, càng ngày càng nhiều những người phụ tá…, biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ”1
Đảng cầm quyền có hai vấn đề hệ trọng: Một là đường lối chính trị, hai
là vấn đề cán bộ, trong đó, theo V.I.Lênin: “mấu chốt là vấn đề người, vấn đề lựa chọn người” Bởi vì mọi nghị quyết, đường lối, chủ trương đều do con người làm ra
Cán bộ giữ vai trò rường cột, nhưng phải là cán bộ đã được lựa chọn, đảm bảo phẩm chất, trình độ về nhiều mặt Nếu không tìm thấy sự nâng cao, vượt trội về phẩm chất, năng lực ở những người cán bộ thì họ không xứng đáng
là cán bộ, chưa nói đến những người cộng sản, người lãnh đạo Bởi vì nếu như vậy, họ cũng chỉ như bộ phận còn lại của giai cấp vô sản mà thôi
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Về
mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong tất cả các đảng công nhân ở các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên
Về mặt lý luận, họ hơn một bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu
rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”2
Yêu cầu chung nhất đối với mỗi cán bộ tự rèn luyện là phải đầy đủ cả hai mặt năng lực thực tiễn và tư duy lý luận Xét cho cùng đấy là mặt tri thức, năng lực Chỉ có như vậy thì chưa đủ mà còn phải có đạo đức cách mạng Có lúc V.I.Lênin khái quát thành điểm chung nhất là “phẩm chất cao quý” của con người cán bộ, trong đó bao hàm cả năng lực và lòng trung thành với sự nghiệp,
mà “lòng trung thành đối với cách mạng” là điều kiện, là tiêu chuẩn quan trọng đầu tiên đối với mỗi cán bộ, đảng viên
1
V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1977, t.42, tr.407
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, t.4, tr.641- 615
Trang 23Phẩm chất, năng lực cần được hiểu một nội dung rộng bao gồm cả lòng trung thực và tính cương quyết, có bản lĩnh và nhiệt tình cách mạng, lòng kiên nghị và tính tự giác… đặc biệt đã là cán bộ thì nhất định không có đặc quyền, đặc lợi, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Như C Mác, họ là những người “đầy tớ họ luôn luôn có thể bị bãi miễn…, luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân…, không nấp sau chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa đổi những sai lầm ấy”1
Điều mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nhấn mạnh nhiều và sau này
Hồ Chí Minh thường xuyên đề cập là “nói là phải đi đôi với làm” Người cán
bộ, đảng viên không chỉ tuyên bố hay hứa hẹn, không chỉ tuyên truyền theo tinh thần nghị quyết, mà điều quan trọng là phải làm, phải thông qua thực tiễn
để chứng minh tính đúng đắn của nghị quyết V.I Lênin nhấn mạnh: “Muốn thực sự trở thành người trung thành với đảng, mà chỉ tự xưng như vậy thì chưa
đủ, nếu chỉ tuyên truyền “theo tinh thần” cương lĩnh của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga thì chưa đủ, mà còn phải tiến hành toàn bộ công tác thực tiễn theo đúng nghị quyết, sách lược của Đảng”2
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ dừng lại ở việc đề ra một cách toàn diện tiêu chuẩn cán bộ mà trên cơ sở đánh giá vai trò của cán bộ, các ông còn chỉ ra những yêu cầu, nội dung cụ thể của công tác cán bộ với ý nghĩa đảng, người làm công tác cán bộ là chủ thể, còn cán bộ là khách thể
Trước hết là vấn đề lựa chọn cán bộ Có nhiều cách lựa chọn cán bộ Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, việc lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào yêu cầu chung của nhiệm vụ cách mạng, tiêu chuẩn cán bộ (tiêu chuẩn chung và theo nhiệm vụ cụ thể được giao)
Chúng ta đều biết mỗi thời kỳ, nhiệm vụ cách mạng được đặt ra khác nhau Tiêu chuẩn cán bộ, có tiêu chuẩn chung, nhưng có những tiêu chuẩn
Trang 24riêng cho từng thời kỳ Nếu nói một cách chung nhất là phẩm chất và năng lực thì mỗi thời kỳ - khi chưa có chính quyền, khi đã có chính quyền, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng có những đòi hỏi cụ thể khác nhau Căn cứ vào công việc cụ thể để chọn người là một căn cứ rất quan trọng để làm lợi cho cách mạng và để khẳng định người được lựa chọn có xứng đáng với nhiệm vụ được giao hay không V.I.Lênin viết: “Chúng ta cần phải lựa chọn cán bộ phụ trách, và ở đây không thể có vấn đề không tín nhiệm đối với một người nào đó
là không được bầu, mà chỉ có vấn đề xem xét xem việc đó có lợi cho sự nghiệp không và người được lựa chọn có xứng đáng với chức vụ ấy sẽ đảm nhiệm không”1
C.Mác và V.I.Lênin đều rất nhấn mạnh đến tính khoa học trong việc lựa chọn và sử dụng cán bộ Các ông cho rằng, sử dụng, bố trí cán bộ một cách khoa học, nghĩa là phải đặt người ở đúng vị trí, có tri thức, kinh nghiệm ở lĩnh vực đó
V.I.Lênin là người trực tiếp lãnh đạo công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Ông đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn những người có tài tổ chức, quản lý Ông cho rằng, những người như thế có nhiều trong quần chúng nhân dân, trong thực tiễn công tác, trong phong trào thi đua lao động sản xuất Vấn đề còn lại là khéo phát hiện nhân tài, từ đó bồi dưỡng, giúp họ bằng cách giao công việc Bằng công tác thực tiễn, bằng cách đánh giá công việc cụ thể được giao mà thử thách lòng trung thành và năng lực tổ chức của cán bộ, từ đó
đề bạt lên những chức vụ cao trong quản lý nhà nước
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sau khi giành được chính quyền, giai cấp nào cũng phải cùng với việc thay đổi quan hệ sở hữu, ban hành hiến pháp mới
để củng cố giữ vững chính quyền - là việc lo toan đội ngũ cán bộ, đặc biệt là việc lựa chọn, sử dụng cán bộ từ giai cấp mình V.I.Lênin là người đi tiên phong trong công việc sử dụng các khuynh hướng tư sản, nhưng điều đó không
1
V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1979, t.8, tr.359
Trang 25thể thay thế được việc lựa chọn cán bộ xuất thân từ công nông Ông viết:
“Chúng ta phải quản lý với sự giúp sức của những người xuất thân trong giai cấp đã bị chúng ta đánh đổ, những người đã tiêm nhiễm những thiên kiến của giai cấp họ và là những con người mà chúng ta có nhiệm vụ cải tạo Đồng thời, chúng ta phải tuyển những cán bộ quản lý của chúng ta ngay từ trong hàng ngũ của chính giai cấp chúng ta”1
Tuyển lựa cán bộ xuất thân từ nhân dân lao động là nhiệm vụ cấp bách, vừa lâu dài của một đảng cách mạng biết vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin Nó vừa thể hiện chiều sâu, vừa phản ánh bề rộng của công tác cán bộ V.I Lênin rất chú ý đến việc lựa chọn cán bộ từ một người chưa phải cán bộ đảng viên Đảng Cộng sản và cán bộ trẻ
Bàn đến chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin rất chú trọng đến hai vấn đề sau đây: một là năng suất lao động cao hơn năng suất lao động chủ nghĩa tư bản; hai là, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên Để giải quyết hai vấn đề đó, Người rất coi trọng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật Vì vậy, tuy lựa chọn cán bộ xuất thân từ công nông nhưng phải trí thức hoá công nông và coi đó là một trong những điều kiện đi lên chủ nghĩa
xã hội Không ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng tha hoá, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng giáo dục và pháp luật
Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn công tác cán bộ nước ta Khi bàn về vai trò người cán bộ trong công cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt cán bộ trong tổng hòa các mối quan hệ đa chiều Trước hết, Người coi “cán bộ là gốc của mọi công việc” Theo Người, cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây khô héo; sông thì phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn Vì vậy, trong mọi công việc nếu không có cán bộ thì không thể hoàn thành được
1
V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M 1979, t.40, tr.294
Trang 26Vấn đề cũng không phải chỉ dừng lại ở chỗ có hay không có cán bộ Đó mới chỉ là cấp độ thứ nhất, cũng như cây thì phải có gốc Nhưng “gốc” là từ đó sinh ra, là nguyên nhân làm cho cây mạnh khoẻ tốt tươi hay ngược lại Hồ Chí Minh viết: “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”
Cán bộ còn được hiểu là dây chuyền của bộ máy Nếu trong cỗ máy công nghiệp, dây chuyền liên quan đến nhiều bộ phận Nếu dây chuyền không tốt, dù chạy toàn máy cũng tê liệt Trong đời sống kinh tế - xã hội, sự chuyển động xã hội coi như một cái máy khổng lồ Trong cỗ máy đó cán bộ là dây chuyền là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, đây là một dây chuyền đặc biệt Bởi vì, cán bộ phải đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đưa ra chính sách cho đúng Như vậy, nếu cán bộ dở thì chính sách sẽ không thực hiện được, mặt khác việc hoạch định chính sách cũng dẫn đến sai lầm hay không phù hợp với thực tiễn
1.2.4 Nhân cách và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
Vốn có tư chất thông minh và được giáo dục trong một gia đình có truyền thống Nho học, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã có đủ tư duy sáng tạo độc lập
Bằng một nhân cách hoàn hảo, với lòng nhân ái bao la, tình yêu dân tộc
và nhân loại, hồn nhiên giản dị, liêm khiết và vô cùng khiêm tốn, kiên quyết lên
án mọi biểu hiện sùng bái cá nhân, đấu tranh kịch liệt sự tha hoá quyền lực…
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần, trung với nước, hiếu với dân Người nói: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân
cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập đó cũng chẳng có nghĩa gì Dân chủ biết giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân tộc ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở