1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng lê quý đôn trong tác phẩm vân đài loại ngữ đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2010

69 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng lê quý đôn trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ
Tác giả Sinh viên: Thieu Thi Ha, Hồ Thi My Loan, Ngô Sỹ Tuấn
Người hướng dẫn ThS. Cao Xuân Long
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học sinh viên
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 574,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN TRONG TÁC PHẨM VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ (9)
    • 1.1 Những tiền đề cơ bản cho việc hình thành tư tưởng của Lê Quý Đôn (9)
    • 1.2 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn (18)
  • CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN TRONG TÁC PHẨM VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ (28)
    • 2.1 Những nội dung cơ bản của tư tưởng Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ (28)
    • 2.2 Một số đặc điểm cơ bản, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ (57)
  • KẾT LUẬN (67)

Nội dung

NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN TRONG TÁC PHẨM VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ

Những tiền đề cơ bản cho việc hình thành tư tưởng của Lê Quý Đôn

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Đầu thế kỷ XVII, chiến tranh loạn lạc diễn ra liên miên, đẩy nhân vào cuộc sống ngột ngạt, bế tắc không lối thoát, dẫn đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra Khi nhà Mạc vừa lên nắm quyền vào năm 1527 thì các phe phái phong kiến đối lập nấp dưới chiêu bài khôi phục nhà Lê nổi lên ở nhiều nơi, trong đó có Nguyễn Kim ở Thanh Nghệ Năm 1545, Nguyễn Kim mất thì quyền hành lại rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm Bắt đầu của những năm đất nước Đại Việt rơi vào cuộc chiến Nam - Bắc triều, giữa nhà Trịnh với chiêu bài phù Lê (Lê Trung Hưng) và nhà Mạc Đến năm 1592, Nam triều thắng thế, nhà Mạc bị tiêu diệt Trong lúc đó, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) thấy được âm mưu của Trịnh Kiểm muốn đoạt quyền họ Nguyễn bèn xin vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), Quảng Nam (1570) và biến vùng đất phía Nam thành một cát cứ mới Quan hệ Trịnh - Nguyễn ngày càng trở nên căng thẳng và dẫn đến cuộc xung đột vũ trang kéo dài từ năm 1627 – 1672 nhưng cả hai bên bất phân thắng bại, tạm thời lấy sông Gianh làm giới tuyến Sang thế kỷ XVIII cho đến năm 1786, đất nước Đại Việt vẫn bị chia làm hai miền Đàng Ngoài thuộc quyền quản lý của chính quyền Lê - Trịnh còn Đàng Trong là của chính quyền Nguyễn

Thế kỷ XVIII ở Việt Nam chứng kiến sự khủng hoảng nghiêm trọng của giai cấp phong kiến và sự suy vong của chế độ phong kiến Thời kỳ này đánh dấu sự bất ổn về chính trị và xã hội, với sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ giai cấp phong kiến Cuộc chiến tranh Lê - Mạc và Trịnh - Nguyễn đã chia cắt đất nước thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, gây ra khủng hoảng trong đời sống xã hội và tinh thần Hai tập đoàn này đã tạo ra tâm lý chia rẽ trong lòng dân, làm suy yếu ý chí thống nhất của dân tộc Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực ngoại bang dòm ngó và xâm lược Việt Nam.

Mặc dù Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai thế lực chính trị đối lập, nhưng về kinh tế và các chính sách lớn, cả hai đều có nhiều điểm tương đồng Cả hai miền đều chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực thủ công nghiệp và giao thông buôn bán, với sự xuất hiện của nhiều trung tâm thủ công lớn như Bát Tràng, Thổ Hà, và Hương Cam ở Đàng Ngoài, cùng với dệt Thuận Hóa và nghề gốm ở Đàng Trong Ngành khai thác mỏ cũng phát triển, với các khu mỏ lớn tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, và Quảng Nam, trong đó chính quyền cho phép tư nhân thuê nhân công khai thác và thu thuế từ hoạt động này.

Thời kỳ này chứng kiến sự mở rộng của quan hệ lưu thông buôn bán, với sự ra đời của nhiều trung tâm kinh tế hàng hóa lớn như Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An và Cù Lao Phố Đồng thời, thương nhân phương Tây cũng đổ xô vào nước ta không chỉ để buôn bán mà còn để thực hiện những bước đầu tiên trong quá trình xâm lược.

Sự phát triển kinh tế hàng hóa và những tiền đề của Chủ nghĩa Tư bản ở thế kỉ XVII – XVIII đã cho thấy xu thế phát triển tất yếu và khả năng chuyển biến độc lập của xã hội Mặc dù chưa đủ sức tạo ra quan hệ sản xuất mới để tan rã phương thức sản xuất cũ, nhưng sự phát triển công thương nghiệp đã làm lay chuyển nền tảng kinh tế tự nhiên của chế độ quân chủ phương Đông Đầu thế kỷ XVIII, mâu thuẫn xã hội ở Đàng Ngoài trở nên gay gắt, với sự chuyên quyền của chúa Trịnh đạt đến đỉnh điểm Trong khi chúa Trịnh chèn ép vua Lê, nội bộ phủ chúa lại rối ren với nạn chia bè kết cánh Sự lộng hành của hoạn quan và kiêu binh khiến chúa Trịnh cũng phải bất lực Giai cấp thống trị lúc này ra sức vơ vét bóc lột nhân dân để thỏa mãn nhu cầu ăn chơi sa đọa, dẫn đến sự đổ nát về chính trị tác động mạnh mẽ đến xã hội.

Kinh tế hàng hóa và nông nghiệp Đàng Ngoài vào thế kỷ XVIII gặp nhiều khó khăn do ruộng đất công bị thu hẹp, chính sách phong thưởng và ban cấp ruộng đất cho quan lại, cùng với tình trạng tham nhũng Ngoại thương đình trệ, thiên tai và nạn đói, đặc biệt là nạn đói năm 1741, đã làm cho đời sống nhân dân trở nên khốn khó Áp lực thuế khóa gia tăng và chiến tranh liên miên đã dẫn đến sự thay đổi trong chế độ thuế, khiến người dân phải gánh chịu nặng nề Những điều này đã thúc đẩy nhiều người đứng lên chống lại chế độ thông qua các cuộc khởi nghĩa nông dân, bắt đầu từ thế kỷ XVII và trở nên dữ dội vào giữa thế kỷ XVIII Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, và Lê Duy Mật, mặc dù bị đàn áp, nhưng đã gây tổn thất nặng nề cho tập đoàn thống trị và thu hút sự tham gia của một bộ phận giai cấp phong kiến.

Tình hình chính trị Đàng Trong ổn định hơn Đàng Ngoài, dẫn đến mâu thuẫn xã hội không gay gắt Chính quyền Chúa Nguyễn thực hiện chính sách khẩn hoang đất đai, góp phần mở rộng lãnh thổ Việt Nam và nâng cao mức sống nhân dân Ruộng đất tư ở Đàng Trong chiếm ưu thế, chủ yếu từ quá trình khẩn hoang Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XVIII, tình hình phức tạp với tệ nạn ăn chơi và tăng thuế, đẩy nhân dân vào khốn cùng, nông dân mất ruộng đất trở thành tá điền Từ năm 1769, nạn đói diễn ra liên tiếp, đặc biệt là vào mùa đông năm 1774 tại Thuận Hóa Mâu thuẫn xã hội gia tăng, dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do thủ lĩnh Lia ở Quy Nhơn và cuộc khởi nghĩa của Lý Văn Quang ở Đồng Nai.

(1747) Đỉnh cao của khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII là phong trào Tây Sơn

Giữa năm 1771 và 1789, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa thành công, đánh bại hai tập đoàn thống trị Trịnh và Nguyễn Sự kiện này đã dẫn đến việc thống nhất đất nước sau 259 năm chia cắt và cát cứ.

Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản đã được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự sụp đổ của nền kinh tế tiểu nông.

Phong trào nông dân phát triển mạnh mẽ đã dẫn đến việc hàng loạt nông dân rời bỏ sản xuất nông nghiệp, tác động sâu sắc đến toàn bộ cơ cấu của chế độ quân chủ tập quyền chuyên chế Sự phát triển này mở đầu cho quá trình suy vong của chế độ đó.

Vào thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam trải qua nhiều biến động với sự xuất hiện của những mầm mống mới trong thời kỳ kinh tế hàng hóa Thị trường trong nước mở rộng, tạo điều kiện cho thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển Tình hình này đã ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, tư tưởng và khoa học, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều nhân vật nổi bật như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác, và đặc biệt là Lê Quý Đôn.

1.1.2 Những tiền đề lý luận

Tư tưởng của Lê Quý Đôn là sự kết hợp giữa kiến thức Đông - Tây và kinh nghiệm thực tiễn Sinh ra trong gia đình Nho giáo, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hệ tư tưởng này Từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã nắm vững các kinh điển Nho gia, thông hiểu Ngũ Kinh, Tứ Thư và nhiều sử sách khác Năm 27 tuổi, ông đỗ bảng nhãn và bắt đầu sự nghiệp quan trường.

Lê - Trịnh Vì vậy những tư tưởng của Lê Quý Đôn chủ yếu phục vụ cho chế độ phong kiến Lê - Trịnh

Sự băng hoại về nhân cách và phẩm giá của giai cấp thống trị, cùng với sự mục nát của chế độ chính trị, đã dẫn đến sự đảo lộn trong giáo lý Nho giáo, mặc dù nhà nước vẫn cố gắng bảo vệ và đề cao nó Giáo dục Nho giáo tiếp tục được mở rộng và chế độ thi cử vẫn duy trì, nhưng nội dung và quy chế giáo dục bộc lộ nhiều hạn chế lớn, như tình trạng mua bán chức tước và gian lận trong thi cử Do đó, Nho giáo đã mất vị trí hàng đầu trong xã hội phong kiến và không còn được tôn sùng như trước Trong bối cảnh này, xuất hiện nhiều xu hướng ứng xử khác nhau, từ việc trốn tránh, củng cố Nho giáo, đến bi quan tiêu cực hoặc chờ đợi sự xoay vần của tạo hóa Lê Quý Đôn đã tìm cho mình một hướng đi mới trong thời kỳ này.

Ông Lê Quý Đôn đã không đi theo những xu thế phổ biến mà chọn con đường riêng, tiếp thu tư tưởng tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo) dựa trên nền tảng của Nho giáo Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo mà ông tiếp nhận là Tống Nho, không phải là Nho giáo chính thống Điều này thể hiện sự kế thừa và phát triển tư tưởng của các nhà Tân Nho thời Tống Minh, đặc biệt là Chu Đôn.

Di (hiệu Liêm Khê), Trương Tải (hiệu Hoành Cừ), Trình Hiệu (Minh Đạo), Trình Di (Y Xuyên) và Chu Hy (hiệu Hối Am)

Phật giáo ở thế kỷ này không còn giữ vị trí chính thống như thời nhà Trần, nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt ở Đàng Ngoài với nhiều chùa được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của Chúa Trịnh và quan lại Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn cũng tích cực xây dựng chùa chiền lớn như chùa Thiên Mụ Sự quan tâm của chính quyền đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển, với nhiều chùa có kinh tế riêng Đồng thời, Đạo giáo cũng được truyền bá rộng rãi, cùng với nhiều đạo quán được xây dựng để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân Tuy nhiên, cả Phật giáo và Đạo giáo đã tụt xuống bình diện tâm lý và tín ngưỡng, không còn là học thuyết chủ đạo Thiên Chúa Giáo, du nhập từ thế kỷ XVI, cũng có điều kiện mở rộng nhưng gặp khó khăn do sự đoạn tuyệt với giáo lý truyền thống, dẫn đến việc ít người dân Việt tin theo và một số giáo sĩ gây bất bình trong xã hội, khiến chính quyền phải cấm đạo và trục xuất họ.

Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn

1.2.1 Quê hương, gia đình và sự nghiệp của Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn, tên thật là Nguyễn Danh Phương, sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (1726) theo tài liệu của Trần Duy Phương, nhưng cũng có ý kiến cho rằng ông sinh năm Đinh Hợi (1724) theo “Vân Đài Loại Ngữ” Ông là người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Lê Quý Đôn sống dưới triều đại Lê Dụ Tông và có nhiều đóng góp quan trọng cho văn hóa và tư tưởng Việt Nam.

Lê Hiến Tôn (1784) hưởng thọ 59 tuổi

Lê Quý Đôn, một nhân vật nổi bật trong lịch sử Việt Nam, là con trai của Lê Phú Thứ, người đã đỗ tiến sĩ vào năm Giáp Thìn, thuộc niên hiệu Bảo Thái thứ 5, năm 1724 dưới triều đại vua Lê.

Dụ Tông, làm quan đến Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước hầu

Thân mẫu là người họ Trương quê làng Nguyên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh

Lê Quý Đôn, từ khi còn nhỏ, đã được biết đến như một thần đồng với trí tuệ mẫn tiệp và óc thông minh xuất chúng Nhiều truyền thuyết và giai thoại trong sử sách đã ghi lại những thành tựu nổi bật của ông.

Khi mới 2 tuổi, ông đã biết đọc chữ “vô” và “hữu” Đến 5 tuổi, ông thuộc lòng các bài trong Kinh Thư; 10 tuổi, ông học sử và thuộc từ 80 đến 90 trang trong “Công Hình” và “Đồ Thuyết” mỗi ngày Năm 11 tuổi, ông đã đọc và hiểu “Kinh dịch”, và đến 14 tuổi, ông hoàn thành việc học sử truyện, Bách gia, Chư Tử, Tứ Thư, Ngũ kinh Có truyền thuyết cho rằng ông có thể sáng tác hàng chục bài phú trong một ngày mà không cần nghỉ ngơi hay nháp Vào thời điểm đó, cha ông đã đưa ông lên kinh đô Thăng Long để tạo điều kiện cho việc học tập của ông.

Năm 1743, trong niên hiệu Cảnh Hưng thứ tư, Lê Quý Đôn, khi vừa tròn 18 tuổi, đã thi đỗ vào trường Sơn Nam với bài thi đạt hạng ưu Để tránh sự trùng tên với Nguyễn Danh Phương, một thủ lĩnh trong cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình Lê - Trịnh, ông đã đổi tên thành Lê Quý Đôn, một cái tên quen thuộc ngày nay Trong thời gian này, ông cũng đã dạy học và viết sách tại nhà.

Năm Nhâm Thân (1752), trong niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13 dưới triều vua Lê Hiển Tông, Lê Quý Đôn đã xuất sắc đỗ đầu thi hội và tiếp tục giành vị trí đầu trong kỳ thi Đình, trở thành tam nguyên - người ba lần thi đều đỗ đầu.

Năm 1754, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm vào Hàn Lâm Viện thừa chỉ và tham gia soạn thảo Quốc Sử Quán Đến năm 1756, trong một chuyến kiểm tra ở Sơn Nam, ông phát hiện tám viên quan nhận hối lộ Sau đó, ông được chúa Trịnh giao nhiệm vụ quản lý quân sự và viết bảng điều Trần với 19 khoản, được khen ngợi vì am hiểu luật lệ nhà nước và thưởng 50 lạng bạc Vào tháng 8 cùng năm, ông chỉ đạo các đạo quân ở Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa dẹp cuộc khởi nghĩa nông dân của nghĩa quân Hoàng Công Chất Năm 1757, ông được thăng chức Hàn Lâm Viện Thị Giảng.

Tháng 6 nhuận năm Kỷ Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759), thượng hoàng Lê Ý Tông mất, năm Canh Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 21 (1761), Lê Quý Đôn được cử làm phó sứ, cùng với Trần Huy Mật sang Trung Quốc báo tang và dâng lễ cống, năm Tân Tỵ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22 (1761), phái đoàn sứ bộ của Đại Việt đến Bắc Kinh Nghe tin trong đó có Lê Quý Đôn, binh

Lê Quý Đôn là một nhân vật nổi bật trong lịch sử văn hóa Việt Nam, được biết đến qua nhiều giai thoại thú vị Ông đã thu hút sự chú ý của các quan chức triều đình nhà Thanh, như bộ thượng thư Lương Thì Chính và Quy Hữu Quang, khi họ đến quán để xin được gặp mặt Những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn được ghi nhớ và tôn vinh trong văn hóa dân tộc.

Lê Quý Đôn đã gặp đoàn sứ thần Triều Tiên tại Hồng Lê Tự, nơi ông có dịp làm thơ cùng Hồng Khả Thi, Triệu Vinh Kiến và Lý Hưng Trung Sau khi trở về từ sứ mệnh, ông được phong làm Hàn Lâm Viện thừa chỉ tước Dĩnh Thành Lá và giữ chức học sĩ trong Bí Thư Các Năm Giáp Thân (1764), ông dâng sớ xin thiết lập lại pháp chế và tiếp tục được phong làm Hàn Lâm Viện thừa chỉ tước Dĩnh Thành Lá, kiêm chức học lá Đốc đông sứ Kinh Bắc Năm Ất Dậu (1756), ông được bổ nhiệm làm Tham Chính Hải Dương nhưng đã từ chối để về quê viết sách.

Năm 1767, chúa Trịnh nhận ra tài năng của Lê Quý Đôn và bổ nhiệm ông làm Thị Thư, tham gia biên tập Quốc sử và kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám Đến năm 1768, Lê Quý Đôn hoàn thành bộ “Toàn Việt thư lục” Cùng tháng 9 năm đó, ông được cử làm Tán lý quân vụ, tham gia dẹp cuộc khởi nghĩa nông dân của Lê Huy Mật ở Thanh Hóa Sau khi chiến thắng, ông được thăng chức Thị Phó Đô Ngự Sử và sau đó là Công Hữu Thị Lang.

Năm Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772), Lê Quý Đôn được cử đi điều tra tình hình dân chúng ở Lạng Sơn

Năm Giáp Ngọ (1774), Trịnh Sâm đã tiến quân đánh Thanh Hóa, trong khi Lê Quý Đôn được giao nhiệm vụ giữ thành Thăng Long Đến năm Ất Mùi (1775), ông được thăng chức Lại Bộ Tạ Thị Lang và kiêm nhiệm Tổng Tài Quốc Sử Quán.

Lê Quý Kiệt, con của vua Lê Quý Đôn, và Đinh Thì Trung, học trò của Lê Quý Đôn, đã trao đổi quyển trong phòng thi kỳ đệ tứ khoa thi hộ Khi việc này bị phát giác, Lê Quý Kiệt bị giam giữ, còn Đinh Thì Trung, với tư cách là đại thần có công lao, phải đi Châu Xa, trong khi Lê Quý Đôn được miễn nghị.

Năm Bính Thân (1776), Lê Quý Đôn được bổ nhiệm làm hiệp trấn tham tán quân cơ trong sáu tháng, trong thời gian này ông đã củng cố và tổ chức lại bộ máy chính quyền, đồng thời an ủi nhân dân vùng Thuận Hóa, nơi vừa được chúa Trịnh giành lại từ chúa Nguyễn Ông cũng đã cho ra đời bộ sách “Phủ biên tạp lục” và vào cuối năm, ông được giao giữ chức Hành Bộ Phiên.

Cơ Mật Sự Vụ, kiêm Chưởng Tài Phủ

Năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1778), Lê Quý Đôn được giữ chức Hành Tham Tụng nhưng ông từ chối và đổi sang võ ban Tháng 4 năm đó,

Lê Quý Đôn bị Lê Chế Toại công kích trong một bài dâng lên chúa Trịnh Năm Kỷ Hợi (1779), ông bị giáng chức do bị Hoàng Văn Đồng vu khống Đến năm Tân Sửu (1781), ông được bổ nhiệm vào chức Quốc Sử Quán tổng đài Năm Quý Mão (1783), chúa Trịnh cải tổ và ông được giao làm hiệp trấn sứ Nghệ An.

Ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784) Lê Quý Đôn qua đời, hưởng thọ 59 tuổi

Sau khi mất ông được tặng Công Bộ Thượng Thư, tước Dĩnh Quận Công

NHỮNG NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN TRONG TÁC PHẨM VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ

Những nội dung cơ bản của tư tưởng Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ

2.1.1 Những vấn đề về bản thể luận

Trong tác phẩm Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn trình bày luận giải về tiền đề Lý - Khí, nhằm làm rõ quan niệm thế giới quan và bản thể luận của ông Ông nhấn mạnh rằng "Lưỡng nghi định vị, nhị khí ma đãn, vi nhân vi vật, hữu tính hữu mạn," thể hiện sự kết hợp giữa con người và vật chất Ông cũng đề cập đến việc "y bốc phong thủy, chí lý sở tồn," cho thấy tầm quan trọng của phong thủy trong triết lý của mình Cuối cùng, ông khẳng định rằng "trung đạo nhi lập, duy thường dị tồn," nhấn mạnh sự cần thiết của sự cân bằng trong cuộc sống.

Lê Quý Đôn cho rằng mọi hiện tượng trong trời đất đều được hình thành từ âm dương, với lý khí tồn tại trong sự biến hóa Ông nhấn mạnh rằng trong sự biến đổi luôn có một lý bất biến làm chủ Với tinh thần thâu tóm toàn bộ, Lê Quý Đôn không chỉ áp dụng tư duy lý khí vào y bốc phong thủy và các thuyết Đạo giáo, Phật giáo, mà còn mở rộng đến luận quỷ thần Ông đã sử dụng mô thức tư duy lý khí để giải thích nhiều khía cạnh khác nhau, dẫn đến việc quyển lý khí của ông có 54 đoạn bàn luận về lý khí, bao quát nhiều lĩnh vực.

Trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn, luận Lý - Khí không tập trung vào hình tượng mà chủ yếu khám phá vũ trụ Lê Quý Đôn thể hiện sự hứng khởi với lý thuyết Lý - Khí của Chu Tử, nhấn mạnh rằng khí tồn tại giữa thiên địa Ông viết: “doanh thiên địa chi gian khí giã”, cho thấy sự liên kết giữa Lý và Khí, với ý nghĩa rằng Lý có thực nhưng không phải là không Lý khí hình tích, nhân khí nhi kiến, và ý thức nằm trong khí hư trung, cho thấy sự tương tác giữa âm dương trong hành thể và dụng.

Lê Quý Đôn đã luận chứng rất nhiều về quan điểm sự tồn tại của Khí:

Trời đất là nguồn gốc của mọi vật, với khí từ trời và hình từ đất Tất cả sự sống đều bắt nguồn từ khí của trời và hình thể của đất, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa hai yếu tố này trong sự sinh sôi và phát triển của muôn vật.

11 Nguyễn Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, Tập VI-VII, tr.53

12 Lê Quý Đôn (1973), Vân đài loại ngữ, Phạm Vũ – Lê Hiền (dịch và chú giải), quyển thứ nhất: Lý-Khí Loại, Nxb Miền Nam, tr.35

Lê Quý Đôn trong quan niệm về Lý - Khí không xem Lý và Khí là đối lập, mà còn khẳng định sự hòa hợp giữa chúng Ông không đề cao Lý so với Khí như quan điểm của Trình Hạo và Chu Hy, mà xác lập một mối quan hệ cân bằng giữa hai yếu tố này.

Lý được xem như một thuộc tính của Khí, có thể hiểu là quy luật tính của Khí và vật chất Mặc dù không sử dụng các thuật ngữ như quy luật hay định luật, tư tưởng của Lê Quý Đôn đã phản ánh những khái niệm này Ông nhấn mạnh rằng khí bao trùm khắp không gian, và chữ “Lý” ám chỉ những thực thể hiện hữu, không phải là điều trống rỗng.

Lý không hình tích, được phát hiện qua Khí, cho thấy mối quan hệ giữa Lý và Khí là cơ sở cho mọi biến động trong không gian Nếu không có Khí, bầu trời sẽ trống rỗng, không thể có vật nào tồn tại Mối liên hệ này cũng được thể hiện qua hình ảnh chim bay và người vẫy tay, cho thấy sự hiện hữu của Khí là cần thiết để tạo ra âm thanh Điều này khẳng định rằng Lý không phải là hư vô mà là thực hữu Định luật, hay còn gọi là thường độ, là phép tắc bất biến của vật chất, thể hiện qua những công thức số học trong những trường hợp ưu việt Lý ở trong Khí, và có thể hiểu rằng trong Khí đã có Lý.

Chữ “Cụ” biểu thị sự đầy đủ của bốn phương: đông, tây, nam, bắc Thời gian bão kéo dài phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu: nếu vào buổi sáng thì kéo dài ba ngày, buổi chiều là bảy ngày, và buổi trưa chỉ một ngày Khi bão mới xuất hiện, nếu gió thổi từ đông bắc, thì hướng gió sẽ chuyển từ bắc sang tây; còn nếu gió từ tây bắc, thì hướng gió sẽ chuyển từ bắc sang đông và sau đó quay về hướng nam.

13 Sđd, quyển thứ nhất: Lý-Khí loại, tr.35

Bão thường xuất hiện theo chu kỳ nhất định, nếu không có lạc tây thì sau hơn một tháng sẽ có bão Bão có thời gian tắt rất chính xác: nếu bão nổi ban ngày thì sẽ tắt vào ngày hôm sau, còn nếu bão nổi ban đêm thì sẽ tắt vào đêm hôm sau Gió cụ phong được coi là gió bất chính, là khí không thuận, nhưng vẫn có tần suất xảy ra nhất định.

Trời và đất cách xa muôn dặm, nhưng việc học thiên văn và đo lường không chỉ đơn thuần là lý thuyết Chỉ cần một nắm cơm, ta có thể đoán biết đường đi và vị trí của thất chính và nhị thập nát tứ Điều này cho thấy sự kỳ diệu và quy luật của vũ trụ, khiến ta phải suy ngẫm về sự ổn định và bền vững trong cuộc sống.

Gió là âm thanh phát ra từ sự tụ lại và tan ra của khí trời đất Ngày xưa, có những phép truyền lại để xem khí hậu, chủ yếu áp dụng cho đất liền Tuy nhiên, trên biển cả mênh mông, các lái thuyền và chân sào vẫn có thể xác định thời điểm an toàn để ra khơi, tránh bão, điều này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.

Lê Quý Đôn đã sử dụng hiện tượng tự nhiên “phong” để mở rộng hiểu biết về các hiện tượng trong vũ trụ, thể hiện sự hứng khởi của ông đối với thiên nhiên Mặc dù các luận giải của ông còn sơ lược, nhưng chúng phản ánh vũ trụ quan của ông về tự nhiên Ông đặc biệt coi trọng “phong khí”, điều này thể hiện qua việc quan sát và giải thích về gió bão Sự quan tâm của Lê Quý Đôn đối với gió bão cho thấy ông đánh giá cao sự biến đổi của phong khí Mặc dù cách giải thích của ông không hoàn toàn phù hợp với quan điểm khoa học hiện đại, nhưng nó đại diện cho cách nhìn nhận về tự nhiên theo luận khí vũ trụ trước thời kỳ Cận đại, đồng thời thể hiện sự đam mê của ông đối với nghiên cứu thiên nhiên.

15 Sđd, quyển thứ nhất: Lý-Khí loại, tr.39

16 Sđd, quyển thứ nhất: Lý-Khí loại, tr.39 - 40

Lê Quý Đôn không chỉ sử dụng “phong khí” để giải thích hiện tượng tự nhiên mà còn quan tâm đến thuyết “phong thủy” Ông cho rằng nhiều biện sĩ không tin vào thuyết “Lý-Khí” vì cho rằng những vật đã hủ nát không còn giá trị Theo ông, con người và trời đất có cùng nguồn gốc, và sinh khí của trời đất có thể mang lại phúc lành cho con cháu Thanh Ô Tử cũng nhấn mạnh rằng tinh thần tổ tiên trở về nhà và hài cốt trở về đất Khi có sự cảm ứng tốt, quỷ thần sẽ giáng phúc cho con người Ông khẳng định rằng khí trong vạn vật là yếu tố cần thiết để hình thành phong thủy, và sự giao hợp giữa khí trong và ngoài tạo nên sự hài hòa trong địa lý.

Từ sau Lưỡng Hán, vận vũ trụ Lý hóa dù là truyền thống của dân tộc Hoa

Các nhà nho học thời Tống Minh đã phát triển một cách tiếp cận riêng, sử dụng tư duy đạo đức để hiểu thế giới Trương Hoành Cừ, một nhà lý luận nổi tiếng về lý khí, không tin vào thuyết phong thủy Tuy nhiên, Lê Quý Đôn đã trích dẫn những quan sát của Trương Hoành Cừ về hiện tượng tự nhiên, cho rằng thuyết phong thủy phản ánh cách nhìn nhận vũ trụ Lê Quý Đôn nhấn mạnh rằng thuyết y bốc và sự biến đổi phong thủy đều có lý do hợp lý và không nên bị xem nhẹ.

Quan điểm “thiên nhân hợp nhất” đã tồn tại lâu đời ở Trung Hoa, nhưng được Đổng Trọng Thư hệ thống hóa trong thời kỳ Hán Ông đã “tự nhiên hóa” đạo đức Nho gia, cho rằng đạo lý này “bắt nguồn từ trời, trời không thay đổi nên đạo cũng không nên thay đổi.” Từ quan điểm này, Đổng Trọng Thư đã củng cố xã hội phong kiến Lê Quý Đôn sau đó tiếp thu tư tưởng của ông và phái Tân Nho học, mở rộng luận điểm về mối liên hệ giữa trời và người.

17 Sđd, quyển thứ nhất: Lý-Khí loại, tr.49 sắp mưa thì người nào bị đánh bị thương tất thấy đau buồn, đó là khí trời động đến người…” 18

Một số đặc điểm cơ bản, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ

2.2.1 Một số đặc điểm cơ bản và hạn chế của tư tưởng Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân đài loại ngữ

Từ sự nghiên cứu tư tưởng của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau:

Lê Quý Đôn, một người dược sinh trong gia đình khoa bảng và là quan của triều đình phong kiến Lê - Trịnh, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thế giới quan phong kiến Ông không thể lên án hệ tư tưởng Nho gia; ngược lại, tư tưởng chủ đạo của ông vẫn là Nho giáo, mặc dù có sự dung hợp và tiếp thu các luồng tư tưởng bên ngoài.

67 Sđd, quyển thứ tám: Sĩ - Quý loại, (17), tr.372 - 373

68 Sđd, quyển thứ tám: Sĩ - Quý loại, (18), tr.373

Lê Quý Đôn đã có những quan điểm khác biệt với Nho giáo chính thống, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị - xã hội Ông không chỉ xem sự nghiệp của vua chúa là vương đạo mà còn kết hợp với sự nghiệp bá, nhấn mạnh tầm quan trọng của cả hai Trong khi Nho giáo chủ trương dùng đức trị để cai quản đất nước, Lê Quý Đôn lại ủng hộ việc kết hợp giữa Nho gia và Pháp gia, thậm chí còn thể hiện sự hâm mộ đối với Pháp gia hơn.

Trong tư tưởng Nho giáo chính thống, mặc dù có lúc tiếp nhận ảnh hưởng từ Phật giáo và Đạo giáo, nhưng chủ trương chính vẫn chỉ nhấn mạnh vào học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử, Trình và Chu Tuy nhiên, Lê Quý Đôn đã công khai thừa nhận sự kết hợp giữa Nho, Đạo, Phật, và thậm chí cả Âm dương, Ngũ hành Ông còn bênh vực Phật và Đạo, cho rằng việc tách rời chúng khỏi tư tưởng con người là điều vô nghĩa Như vậy, Lê Quý Đôn đã đặt Nho giáo ngang hàng với nhiều học thuyết khác, thể hiện sự cởi mở và đa dạng trong tư tưởng của mình.

Lê Quý Đôn và Nguyễn Bỉnh Khiêm có những điểm tương đồng trong tư tưởng, đặc biệt khi bàn về phạm trù “trời”, với Lê Quý Đôn sử dụng các phạm trù trong Kinh dịch, trong khi Nguyễn Bỉnh Khiêm coi “trời” là tự nhiên Cả hai đều kết hợp Tam giáo, nhưng Nho giáo vẫn là trụ cột tư tưởng chủ đạo Ngược lại, Ngô Thị Nhậm lại chọn thiền học làm hạt nhân tư tưởng, phản ánh sự khác biệt do điều kiện lịch sử cụ thể của từng giai đoạn.

Nội dung tưởng của Lê Quý Đôn đã đưa ra một giải pháp cho bối cảnh xã hội trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, khi ông đảm nhận vai trò quan chức trong giai đoạn đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam.

Hệ tư tưởng hiện tại, vốn đã ăn sâu vào đời sống văn hóa và ứng xử của người dân, đang phải đối mặt với sự thay đổi và chấp nhận một hệ tư tưởng mới Điều này không phải là điều dễ dàng cho bất kỳ hệ tư tưởng nào Sự chuyển mình này mang giá trị lịch sử và đáp ứng những yêu cầu cấp bách của thời đại.

Giá trị tư tưởng của Lê Quý Đôn không chỉ ảnh hưởng sâu rộng trong thời kỳ ông sống mà còn có giá trị lâu dài trong lịch sử tư tưởng dân tộc Ông kết hợp tư tưởng nhân loại và dân tộc, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của phương Tây, làm phong phú thêm tri thức cá nhân và văn hóa dân tộc Sự đóng góp của ông cũng tạo ảnh hưởng đến các nước lân bang.

Mặc dù Lê Quý Đôn không có những chuyên luận triết học, ông vẫn thể hiện tư duy sâu sắc về các vấn đề cơ bản của thế giới quan Quan niệm của ông về nguồn gốc và bản chất của sự vật, cũng như phương pháp nhận thức và đánh giá con người, cho thấy sự tinh tế trong cách nhìn nhận và sử dụng tri thức.

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản thì tư tưởng Lê Quý Đôn cũng còn một số hạn chế nhất định:

Thế kỷ XVIII là thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu sự vươn lên của nông dân và dân tộc Từ thế kỷ XVII, nền kinh tế hàng hóa phát triển, dẫn đến sự mở rộng của tầng lớp thị dân, tạo ra nhu cầu cấp bách về sự chuyển biến trong ý thức Tuy nhiên, hệ tư tưởng Nho giáo không đáp ứng được yêu cầu này, trong khi chính quyền phong kiến lại chống lại những biến chuyển Lê Quý Đôn, mặc dù là một nhà Nho có tư tưởng mới và tinh thần học hỏi, vẫn không thoát khỏi những hạn chế của hệ tư tưởng cũ Ông tiếp thu tư tưởng mới nhưng vẫn dựa vào Nho giáo làm nền tảng, dẫn đến việc dung hòa giữa Nho - Đạo - Phật mà chưa thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng Nho gia, phản ánh hạn chế chung của giới trí thức phong kiến thời bấy giờ.

Mặc dù Lê Quý Đôn đã tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, ông vẫn tỏ ra ngập ngừng và hoài nghi về các thuyết khác nhau về trời đất, khi cho rằng “mỗi thuyết mỗi khác, không rõ thuyết nào đúng.” Ông thường lấy Trung Quốc làm tiêu chuẩn để đánh giá, và mặc dù có những nhận xét tích cực về học thuyết Châu Âu, nhưng chúng lại mang tính phiến diện Ông cho rằng Khổng Tử đã ngầm chỉ ra hình dạng của trái đất qua câu nói “Tứ giác chí bất yểm,” từ đó cho rằng quan điểm về đất tròn của phương Tây không phải là điều mới mẻ.

Trong sự nghiệp chính trị của ông, có một lần ông đã lãnh đạo quân đội để chống lại phong trào khởi nghĩa của nông dân Mặc dù có thể có những lý do khách quan khác nhau cho hành động này, nhưng nó cũng phản ánh phần nào sự hạn chế trong nhận thức tư tưởng của ông.

Lê Quý Đôn là một triết gia nổi bật với những quan điểm nhận thức mới mẻ và sâu sắc, nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế trong lập trường triết học của mình Mặc dù có xu hướng duy vật, ông không hoàn toàn kiên định và đôi khi thể hiện những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm và thần bí Ông còn tin vào bói toán và sự báo ứng, đồng thời cho rằng những nhân vật tài năng có thể quyết định sự phát triển của lịch sử Ông từng viết: “Ngẫm chuyện qua rồi, xét lại sắp tới, trong đó có thần thông giải: chớ có tưởng một thứ cỏ nhỏ nhặt là không quan hệ gì!”

Kính Phòng sử dụng tiền để gieo quẻ bói, phân chia âm dương nhằm lấy “thế ứng” Trong khi đó, ở những vùng xa xôi, có những tục lệ độc đáo như “Bói ngói”, bói gà, bói quạ, và bói qua tiếng người nói Những phương pháp này giúp con người dự đoán được điều lành dữ, vì mọi sự đều có lý do của nó.

69 Sđd, quyển thứ hai: Hình - tượng loại, (17), tr 87

70 Sđd, quyển thứ hai: Hình - tượng loại, (13), tr 78

71 Sđd, quyển thứ nhất: Lý - Khí loại, (54), tr 65-66

Hạn chế trong tư tưởng của Lê Quý Đôn chủ yếu xuất phát từ ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phong kiến Trung Quốc trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ Trong cả quá trình học tập và sinh hoạt văn hóa, Nho giáo vẫn được coi là chuẩn mực đạo đức chủ yếu của xã hội.

Hạn chế trong kiến thức của Lê Quý Đôn xuất phát từ việc ông chỉ tiếp thu thông tin qua sách vở mà chưa được kiểm chứng thực tế Thêm vào đó, những tri thức phương Tây mà ông có được không phải từ nguồn gốc trực tiếp, mà là qua sự dịch thuật của các học giả Trung Quốc Điều này đã khiến ông không thể phát triển kiến thức của mình một cách sâu rộng hơn.

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm