1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục thờ cúng arak của người khmer ở trà vinh công trình nghiên cứu khoa học sinh viên giải khuyến khích cấp trường

83 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tục Thờ Cúng Arak Của Người Khmer Ở Trà Vinh
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Thị Ngọc Như, Huỳnh Lê Triều Phú
Người hướng dẫn TS. Lý Tùng Hiếu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên Cấp Trường
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn có ý kiến cho rằng Arak là bà tổ dòng họ mẫu hệ, là linh hồn một người trong dòng họ đã mất và hiển linh, là vị thần bảo hộ không rõ lai lịch, thậm chí là một biến thể của Ne-a

Trang 1

[Type here]

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP

TRƯỜNG NĂM 2018

CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH

Giảng viên hướng dẫn: TS Lý Tùng Hiếu

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2018

TỤC THỜ CÚNG ARAK CỦA NGƯỜI KHMER TỈNH TRÀ VINH

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Ngọc Nhung (MSSV: 1556140046 - Lớp VHH K9) Thành viên: Nguyễn Thị Ngọc Như (MSSV: 1556140043 - Lớp VHH K9)

Huỳnh Lê Triều Phú (MSSV: 1456140069 - Lớp VHH K9)

Người hướng dẫn: TS Lý Tùng Hiếu

(Khoa Văn hóa học, Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG-HCM)

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

MỞ ĐẦU

1 L d chọn t i

2 Tổng quan v tình hình nghiên cứu

3 M c tiêu v nhiệ v nghiên cứu

4 Đ i tư ng v h vi nghiên cứu

5 Phư ng h nghiên cứu v ngu n tư iệu

6 Đóng gó ới của t i

7 Kết cấu của t i

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 C sở uận

1.1.1 Khung lý thuyết

1.1.2 Khung khái niệm

1.2 C sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát về tỉnh Trà Vinh

1.2.2 Người Khmer ở tỉnh Trà Vinh

1.3 Tiểu kết

CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM TỤC THỜ CÚNG ARAK

2.1 Qu trình hình th nh v h t triển của t c thờ cúng Arak

2.2 Đặc iể thờ tự v tổ chức nghi ễ cúng Arak

2.2.1 Không gian thờ cúng

2.2.2 Đối tượng thực hành nghi lễ

2.2.3 Lễ vật cúng

2.2.4 Diễn biến nghi thức

2.3 Chức năng của t c thờ cúng Arak

2.3.1 Chức năng tâm linh

2.3.2 Chức năng giáo dục

2.3.3 Chức năng cố kết cộng đồng

2.4 Những yếu t văn hóa tộc người iên quan ến t c thờ cúng Arak

1

3

3

3

5

6

6

7

7

8

9

9

9

11

13

13

15

21

22

22

25

25

27

30

31

33

35

40

41

Trang 4

2.5 Tiểu kết

CHƯƠNG 3 SỰ SUY YẾU VÀ BIỂU HIỆN CỦA TỤC THỜ CÚNG ARAK Ở TRÀ VINH HIỆN NAY

3.1 Sự suy yếu của t c thờ cúng Arak

3.2 Nguyên nhân suy yếu của t c thờ cúng Arak

3.2.1 Sự phát triển của cuộc sống hiện đại

3.2.2 Ảnh hưởng của tục thờ cúng Ne-ak Ta

3.2.3 Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với người Việt và Hoa

3.3 Biểu hiện của t c thờ cúng Arak ở Tr Vinh hiện nay

3.4 Tiểu kết

KẾT LUẬN PHỤ LỤC 1 BẢN GỠ BĂNG GHI ÂM

PHỤ LỤC 2 HÌNH ẢNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

41

41

41

42

43

43

45

46

47

49

51

Trang 5

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Trong quá trình tồn tại, nền văn hóa của các tộc người sẽ vận động, phát triển và biến đổi trong môi trường văn hóa của tộc người ấy Nếu một thành tố trong hệ thống văn hóa biến đổi sẽ dẫn đến sự biến đổi của các thành tố khác và có thể làm biến đổi cả

hệ thống Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, có những thực hành văn hóa mới xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống mới của con người Đồng thời với quá trình ấy là sự mai một của một số thực hành văn hóa khác, thậm chí là biến mất hoàn toàn bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của các tộc người đã sáng tạo và tích lũy

Trà Vinh là một tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có 25 tộc người sinh sống, trong đó người Khmer chiếm số lượng khá đông với 324.877 người (2015) Họ đã có mặt trên vùng đất Trà Vinh từ rất sớm và trải qua quá trình chinh phục thiên nhiên đầy gian khó để tạo lập cuộc sống như ngày nay Vùng đất Trà Vinh trở thành nơi hội tụ các giá trị văn hóa tộc người Khmer Nam Bộ Trong quá trình định cư và lập nghiệp, để phù trợ cho cuộc sống thường ngày, người Khmer đã có khá nhiều hình thái tín ngưỡng đặc sắc, đặc biệt

là tục thờ cúng Arak

Tục thờ cúng Arak đã tồn tại lâu đời trong dân gian Khmer ở Campuchia và được mang theo trong hành trang của họ trên đường di cư đến Nam Bộ Tập tục này có tác động sâu sắc đến đời sống tâm linh của cộng đồng Khmer trong quá khứ và cả hiện tại Song, nhận thức của họ về Arak vô cùng đa dạng, hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất được, tùy từng địa bàn sinh sống mà cộng đồng Khmer sẽ có những quan niệm khác về Arak Chẳng hạn có ý kiến cho rằng Arak là bà tổ dòng họ mẫu hệ, là linh hồn một người trong dòng họ đã mất và hiển linh, là vị thần bảo hộ không rõ lai lịch, thậm chí

là một biến thể của Ne-ak Ta… Dù nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chung quy lại tất cả

họ đều tin Arak là vị thần có thể bảo trợ sức khỏe con người và sự yên ổn của gia đình, dòng họ, làng xóm…

Cũng như thực trạng chung ở những địa phương có người Khmer sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tục thờ cúng Arak ở Trà Vinh hiện nay đã dần suy yếu đi

Trang 6

do nhiều nguyên nhân Trong đó, nguyên nhân chủ đạo là sự phát triển của cuộc sống hiện đại đã cung cấp cho họ đầy đủ hơn những điều kiện vật chất và tinh thần, niềm tin của người Khmer về vai trò của Arak trong việc bảo vệ sức khỏe và sự bình yên vì thế

đã suy giảm, nên việc thờ cúng cũng dần bị lãng quên Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu tại Trà Vinh, chúng tôi đã tìm được những biểu hiện của tục thờ cúng Arak trong nhận thức và thực hành văn hóa của người Khmer Đối với họ hiện nay, dù không còn thờ cúng Arak một cách chính thức như lúc trước nhưng trong tâm thức họ vẫn còn ghi nhớ về Arak, đồng thời trong sinh hoạt hằng ngày họ đã lồng ghép cúng Arak vào những dịp lễ hội hoặc đám tiệc trong gia đình

Khảo sát tục thờ cúng Arak trong mối liên hệ với các thành tố của hệ thống văn hóa tộc người Khmer tại tỉnh Trà Vinh, chúng tôi còn góp phần phân tích những giá trị đặc sắc trong nền văn hóa này Việc thờ cúng Arak góp phần tạo nên sự liên kết của mỗi cá nhân với dòng họ và thần linh, đồng thời thể hiện ước nguyện về cuộc sống tốt đẹp và bình an Qua tập tục này, người Khmer đã chuyển tải những thông điệp chân - thiện - mỹ, giữ gìn và kế tục các giá trị truyền thống của cộng đồng Ngoài ra, tục thờ cúng Arak có liên quan đến nhiều yếu tố khác trong văn hóa tộc người Khmer như mưu sinh, ẩm thực, tín ngưỡng, lễ hội…

Trong nội dung công trình nghiên cứu này, về mặt lịch đại, chúng tôi giới thiệu quá trình hình thành, phát triển và suy yếu của tục thờ cúng Arak trong cộng đồng người Khmer cư trú tại Trà Vinh Về mặt đồng đại, chúng tôi tiến hành phân tích những đặc điểm của nghi lễ cúng Arak và mối liên hệ của nó với các yếu tố văn hóa khác Với góc nhìn khách quan, tổng thể và sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu, công trình này sẽ góp phần cung cấp thêm những tri thức mới về văn hoá tộc người Khmer

ở Trà Vinh, đồng thời góp phần lý giải về quy luật vận hành chung của văn hóa Kết quả nghiên cứu của công trình có thể chưa thật sự đầy đủ, song chúng tôi hy vọng nó

sẽ là nguồn tư liệu bổ ích góp phần phục vụ việc nghiên cứu văn hóa tộc người Khmer

ở Nam Bộ nói chung

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 L d chọn t i

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có diện mạo văn hóa đa tộc người, trong đó người Khmer là một trong bốn cộng đồng lớn (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) với nhiều giá trị văn hóa đặc thù Trà Vinh là một trong những tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống Với vị trí nằm ở khu vực hạ châu thổ Cửu Long, giữa hai dòng sông Tiền - sông Hậu và giáp với biển Đông, Trà Vinh đã sớm được người Khmer chọn làm nơi định

cư, lập nghiệp và kiến tạo nền văn hóa của mình, từ phương diện vật thể đến phi vật thể

Trong quá trình đó đã xảy ra quá trình biến đổi văn hóa tộc người, xuất hiện do

sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội Nhằm thích ứng và hội nhập, song song với những giá trị truyền thống được bảo tồn và phát triển, đã có nhiều thực hành văn hóa đã bị biến đổi thậm chí suy yếu và nhiều thực hành văn hóa mới đã được hình thành Tục thờ cúng Arak của người Khmer Nam Bộ nói chung và Trà Vinh nói riêng

là một trong những trường hợp như thế

Đây là một trong những hình thức tôn giáo cổ xưa của người Khmer, từng thịnh hành và được cộng đồng tin tưởng sâu đậm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan trong quá trình phát triển văn hóa tộc người, tập tục thờ cúng này dần bị suy yếu và ngày nay gần như không còn Có lẽ vì thế, nên đến nay mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer ở Nam Bộ nói chung và Trà Vinh nói riêng trên nhiều bình diện, tuy nhiên tục thờ cúng Arak vẫn chưa được khảo sát đầy

2 Tổng quan v tình hình nghiên cứu

Tục thờ cúng Arak của người Khmer chưa được nghiên cứu nhiều, cả phạm vi trong và ngoài nước Vì thế hiện nay cũng chưa có nhiều tư liệu nghiên cứu về tục thờ cúng Arak của người Khmer ở Nam Bộ nói chung và địa bàn tỉnh Trà Vinh nói riêng

Trang 8

Nhìn chung, đây là một đề tài mới, được ít người quan tâm và biết đến, tình hình nghiên cứu còn sơ sài Đối với những tư liệu có đề cập đến Arak thì đa phần chỉ cũng cung cấp những thông tin sơ lược về đối tượng, Arak chỉ là một khía cạnh rất nhỏ được nhắc đến ít ỏi, với những nhận định khác nhau

* Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam, nghiên cứu riêng về tục thờ cúng Arak hầu như không có, những công trình nghiên cứu về văn hóa Khmer đó giới thiệu sơ lược về Arak, chưa đi sâu vào phân tích, cụ thể là các tác phẩm:

Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Nxb Văn Đàn Quyển sách trình bày về

những vấn đề tiêu biểu của người Khmer ở Việt Nam như nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội, phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, kinh tế, địa danh, lịch

sử, thắng cảnh… Trong đó, tác giả có đề cập đến tục thờ Arak trong gia đình người Khmer, nhưng chưa phân tích chi tiết

Viện Văn hóa (1993), Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long,

Nxb Văn hóa dân tộc Sau công trình của Lê Hương, đây là tác phẩm nghiên cứu sâu

về văn hóa tộc người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long qua nhiều sự biến đổi Trong nội dung tín ngưỡng - tôn giáo của người Khmer, tác phẩm có đề cập đến tục cúng Arak, giúp chúng ta tiếp nhận một số thông tin khái quát về Arak, nhưng vẫn chưa đi sâu mô tả về nghi lễ cúng Arak

Trần Ngu Lạc (2012), “Tín ngưỡng Arak của người Khmer Nam Bộ”,

www.baocantho.com.vn, 09/06/2012 Bài báo giới thiệu khái quát về tục thờ cúng

Arak của người Khmer ở Nam Bộ, tuy nhiên do là tác phẩm báo chí nên chưa đi sâu vào nghiên cứu, chưa mang tính khoa học cao và bị giới hạn dung lượng bởi khuôn khổ tờ báo Nội dung bài báo chủ yếu chỉ giới thiệu về Arak qua lời kể dân gian

Nguyễn Công Long (2014), Tục thờ cúng Arak của tộc người Khmer (trường hợp

nghiên cứu Srok Kom Pong Rolin, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long), Luận văn Thạc

sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Trà Vinh Luận văn cung cấp thông tin khá chi tiết về tục thờ cúng Arak và vai trò của Arak trong đời sống tinh thần người Khmer xưa Tuy nhiên, tác giả thiên về khảo tả dân tộc học nhiều hơn là lý luận văn hóa học

Tiền Văn Triệu và Lâm Quang Vinh (2015), Lễ hội truyền thống của người

Khmer Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội Quyển sách phác họa một cách hệ thống

Trang 9

những lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ Trong đó, phần nghi lễ truyền thống xuất phát từ tôn giáo có đề cập đến nghi lễ cúng Arak Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ mô tả nghi lễ cúng Arak, không phân tích thêm về những vấn đề khác có liên quan đến tục thờ cúng Arak

Tóm tại, tình hình nghiên cứu vấn đề này trong nước ta còn rất ít ỏi và chưa sâu sắc Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên đây đã góp phần cung cấp một lượng kiến thức tổng quan cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

* Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Do tục thờ Arak là một thực hành văn hóa mang tính địa phương và đã suy yếu khá lâu nên đến nay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tư liệu nào của các nhà nghiên cứu nước ngoài viết về loại hình tín ngưỡng này của người Khmer ở Trà Vinh nói riêng hay Nam Bộ nói chung

3 M c tiêu v nhiệ v nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này nhằm tìm hiểu một cách hệ thống về tục thờ cúng Arak, đặc điểm thực hành nghi lễ, ý nghĩa của nó đối với người Khmer, mối liên hệ của nó với các thành tố văn hóa khác… qua đó góp phần nhận diện đặc điểm tín ngưỡng thờ Arak của người Khmer Trà Vinh nói riêng và văn hóa của người Khmer Nam Bộ nói chung Đồng thời, đề tài này sẽ phân tích những nguyên nhân suy yếu của tập tục vốn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer cũng như những yếu tố tác động đến hình thức tôn giáo này Cuối cùng, qua kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đóng góp những thông tin có giá trị và có tính cập nhật liên quan đến tục thờ cúng Arak ở địa phương Trà Vinh nói riêng và văn hóa tộc người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu

Long nói chung

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Tục thờ cúng Arak của tộc người Khmer trước đây rất phổ biến ở các phum srok

và gia đình nhưng hiện nay đã và đang suy yếu đi Với đề tài này, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ làm rõ những đặc điểm nhận diện tục thờ cúng Arak của người Khmer, lý giải nguyên nhân vì sao tục thờ cúng này từng thịnh hành và đã suy yếu Đồng thời, đề tài mở rộng phân tích những thành tố khác trong hệ thống văn hóa tộc người Khmer liên quan đến tục thờ cúng này cả trong lúc còn thịnh hành lẫn khi suy yếu Bên cạnh

Trang 10

đó, chúng tôi chú ý đến việc phân tích mối quan hệ giữa chính trị và tín ngưỡng - tôn giáo trong từng giai đoạn cụ thể để thấy được tác động của chính quyền đối với văn hóa

4 Đ i tư ng v h vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu trực tiếp của đề tài là tục thờ cúng Arak - một hình thức tôn giáo trong văn hóa của tộc người Khmer

* Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: Chúng tôi giới hạn trong địa bàn tỉnh Trà Vinh Trong đó, trọng tâm là một số đơn vị tập trung đông người Khmer sinh sống như: thành phố Trà Vinh, huyện Châu Thành, huyện Cầu Kè, huyện Cầu Ngang, huyện Trà Cú

Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tục thờ cúng Arak xuyên suốt từ truyền thống đến hiện đại, bao gồm các giai đoạn hình thành, phát triển và suy yếu

Về khách thể nghiên cứu: Cộng đồng người Khmer đang sinh sống ở tỉnh Trà Vinh Trong đó, đối tượng khảo sát phần lớn là những người có độ tuổi từ 50 trở lên Bởi vì tục thờ cúng Arak đã suy yếu gần nửa thế kỷ, lớp người Khmer ở độ tuổi thanh niên hầu như không còn biết đến

5 Phư ng h nghiên cứu v ngu n tư iệu

* Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát điền dã: khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu là Trà Vinh để có được nguồn tư liệu sơ cấp về đối tượng nghiên cứu, từ đó có thêm những thông tin mang tính cập nhật

- Phương pháp phỏng vấn hồi cố: phỏng vấn sâu các cộng tác viên về thực hành văn hóa đã suy yếu, để họ tường thuật lại chi tiết về đối tượng đó, từ đó giúp người nghiên cứu phục dựng lại bức tranh tương đối chính xác về đối tượng

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: phân loại và sàng lọc các tư liệu sơ cấp và thứ cấp về đối tượng nghiên cứu, từ đó hệ thống hóa nguồn tư liệu để có thể phân tích vấn đề một cách toàn diện

Trang 11

- Phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc: để xem xét và luận giải chức năng, giá trị của đối tượng nghiên cứu trong tương quan với các yếu tố trong và ngoài hệ thống, từ đó luận giải sự hình thành, phát triển, biến đổi, suy yếu của nó

- Phương pháp so sánh văn hóa: được sử dụng làm rõ những nét đặc thù của đối tượng nghiên cứu qua đối chiếu, từ đó có thể chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt

ở các thực hành văn hóa

* Nguồn tư liệu

Do đây là một đề tài mới, nên chúng tôi chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu sơ cấp mà mình trực tiếp điền dã có được Chúng mang tính cập nhật cao vì do chính chủ thể văn hóa trình bày về những biến đổi văn hóa ở địa phương mình Đồng thời, việc sử dụng nguồn tư liệu này còn góp phần thể hiện sự tôn trọng của người nghiên cứu đối tri thức bản địa Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu thứ cấp là các tư liệu có đề cập đến Arak để có thêm thông tin từ nhiều góc nhìn khác nhau

6 Đóng gó ới của t i

Như đã đề cập ở trên, hiện nay rất hiếm công trình nghiên cứu về tục thờ cúng Arak của tộc người Khmer Vì thế, đề tài này sẽ cung cấp những thông tin mới về tục thờ cúng này, góp phần đào sâu thêm những giá trị trong văn hóa tộc người Khmer ở Nam Bộ nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng Đồng thời, qua phân tích diễn giải dưới

góc nhìn văn hóa học, đề tài góp phần giải thích hiện tượng giáng cấp văn hóa ảnh

hưởng đến nhiều nền văn hóa trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống,

cụ thể ở đây là tục thờ cúng Arak của người Khmer

Trên phương diện lý luận, đề tài góp phần cung cấp một có hệ thống những thông tin tổng quan và chi tiết về quá trình hình thành, đặc điểm và vai trò tục thờ Arak của người Khmer tỉnh Trà Vinh Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ những nguyên nhân suy yếu của hình thức tín ngưỡng này Từ đó, đề tài góp phần lý giải về quy luật vận hành chung của văn hóa Về mặt phương pháp luận, đề tài góp phần nêu

bật vai trò của phương pháp phỏng vấn hồi cố trong nghiên cứu văn hóa, lý thuyết hệ

thống khi diễn giải một thực hành văn hóa trong mối liên hệ với phần còn lại của hệ

thống văn hóa

Trên phương diện thực tiễn, đề tài nghiên cứu về một loại hình tín ngưỡng cụ thể của một tộc người là tục thờ cúng Arak của người Khmer, đồng thời gắn với địa bàn

Trang 12

cụ thể là tỉnh Trà Vinh, sẽ cung cấp cái nhìn khách quan và sâu sắc hơn để góp phần nâng cao hiểu biết về văn hoá Khmer Nội dung nghiên cứu có thể đóng góp vào việc tham vấn chính sách phát triển văn hóa Khmer cho địa phương Công trình nghiên cứu cũng sẽ cung cấp nguồn tư liệu cho đề tài nghiên cứu sau này, góp phần phục vụ nghiên cứu văn hóa tộc người Khmer ở Nam Bộ

7 Kết cấu của t i

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài được chia làm ba chương với những nội dung chính sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Ở chương này, chúng tôi khái quát các cơ sở lý luận và thực tiễn như khung lý thuyết, khung khái niệm, các yếu tố văn hóa tộc người, cộng đồng người Khmer trên địa bàn Trà Vinh Nhìn chung, đây là chương định hướng cách tiếp cận vấn đề và xây dựng cơ sở để giải quyết các vấn đề ở các chương sau

Chương 2 Nguồn gốc và đặc điểm tục thờ cúng Arak của người Khmer

Ở chương này, chúng tôi nghiên cứu tục thờ Arak trong quá trình hình thành và phát triển với những đặc điểm thờ tự và nghi lễ, từ đó thấy được mục đích và ý nghĩa của tín ngưỡng dân gian này Đồng thời, chúng mở rộng phân tích và so sách mối liên

hệ giữa nó với các yếu tố văn hóa khác, nhằm nhận diện đặc trưng của tục thờ cúng Arak

Chương 3 Sự suy yếu và biểu hiện của tục thờ Arak ở tỉnh Trà Vinh

Ở chương này, chúng tôi hướng đến việc nghiên cứu quá trình suy yếu và lý giải nguyên nhân suy yếu của tục thờ cúng Arak Qua những phân tích đó, nội dung chương còn đi sâu tìm hiểu những biểu hiện còn lại của tục thờ cúng này trong nhận thức và ứng xử của người Khmer hiện nay tại địa bàn khảo sát

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 C sở uận

1.1.1 Khung thuyết

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu vận dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết

tôn giáo học, tương đối luận văn hóa, chủ nghĩa vật chất văn hóa

* Lý thuyết hệ thống

Nhờ các công trình nghiên cứu của Ferdinand de Saussure, Claude Lévi-Strauss, Bronisław Kasper Malinowski, Arthur Reginald Radcliffe-Brown, Leslie Alvin White, Karl Ludwig von Bertalanffy, Edgar Morin… lý thuyết hệ thống và cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu văn hoá đã hình thành trong thế kỷ XX, với hai khuynh hướng chính là cấu trúc luận và chức năng luận [Lý Tùng Hiếu, 2017b]

Claude Lévi-Strauss (1908-2009) là nhà nhân học xuất sắc người Pháp, người

đã sưu tầm, phân tích và khái quát các tư liệu nhân học theo một phương pháp luận mới gắn liền với tên tuổi của mình: cấu trúc luận (structuralism) Sau Claude Lévi-Strauss, cấu trúc luận đã tiếp tục phát triển, trở thành một mô hình lý thuyết được các ngành xã hội học, nhân học, ngôn ngữ học, ngữ nghĩa học, văn hóa học vận dụng để nghiên cứu các yếu tố nền tảng cho tất cả những điều mà con người suy nghĩ, cảm thụ, nhận định Theo Alison Assiter [2014], cấu trúc luận hiện có bốn ý tưởng rất phổ biến với các hình thức khác nhau: (1) một cấu trúc xác định vị trí của từng thành phần trong một tổng thể; (2) mọi hệ thống đều có cấu trúc; (3) quy luật cấu trúc đối phó với sự đồng tồn tại chứ không phải là thay đổi; (4) cấu trúc là “những điều thực sự” nằm bên dưới bề mặt hay vẻ bên ngoài của ý nghĩa

Bên cạnh cấu trúc luận, lý thuyết hệ thống còn được phát triển với những thành tựu của chức năng luận (functionalism), một lý thuyết phổ biến trong nghiên cứu văn hóa, gắn với tên tuổi của Bronislaw Kasper Malinowski (1884-1942) và Arthur Reginald Radcliffe-Brown (1881-1955) Theo Bùi Thế Cường [2006: 74-85], tư tưởng

cơ bản của chức năng luận có thể tóm lược như sau: “Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Có thể xem là hiểu được một

Trang 14

bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống” Nói cách khác, khái niệm “chức năng” vừa biểu thị vai trò mà yếu tố văn hóa cụ thể nào đó thực hiện trong mối quan hệ với chỉnh thể, vừa diễn đạt tính phụ thuộc giữa các thành tố của văn hóa Nghiên cứu chức năng của một thiết chế, một thành tố văn hóa có nghĩa

là tìm kiếm vai trò của nó trong tương quan với những thiết chế, những thành tố văn hóa khác Chức năng của một thiết chế, một thành tố văn hoá là ở sự đóng góp của nó đối với sự liên tục và sống còn của toàn hệ thống [Lý Tùng Hiếu, 2017]

Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng lý thuyết hệ thống để đặt đối tượng trong hệ thống văn hóa Khmer nhằm làm rõ mối quan hệ của đối tượng với các thành tố trong

hệ thống Đặc biệt, chúng tôi sẽ vận dụng chức năng luận nhằm làm rõ các giá trị chức năng trong việc thờ tự và thực hành nghi lễ cúng Arak đối với người Khmer

* Lý thuyết tôn giáo học

Tôn giáo học đi sâu nghiên cứu tất cả các khía cạnh nguồn gốc, niềm tin, thực hành, chức năng và ảnh hưởng của các tôn giáo Một đóng góp quan trọng của tôn giáo

học là quan điểm bình đẳng về giá trị của các tôn giáo đối với con người và văn hoá,

vượt qua quan điểm phân biệt “tôn giáo” hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn châu Âu với “tín ngưỡng” và “tà giáo” là những tôn giáo nguyên thuỷ, sơ khai của các bộ lạc và các tộc người ngoài châu Âu Sự thay đổi quan điểm ấy có liên quan với sự thay đổi quan điểm của chính các tôn giáo lớn, từ quan niệm độc tôn bản thân mình chuyển sang thái

độ tôn trọng và đối thoại với các tôn giáo khác [Lý Tùng Hiếu, 2017c]

* Đặc thù luận lịch sử - Tương đối luận văn hóa

Lý thuyết nghiên cứu này do Fran Boas và Aflred Kroeber khởi xướng vào đầu thế kỷ XX, nhằm khắc phục những hạn chế của tiến hóa luận cổ điển Trường phái đặc thù lịch sử nhấn mạnh văn hóa của mỗi cộng đồng gắn liền với những hoàn cảnh lịch

sử nhất định, đề cao quá trình nghiên cứu thực địa, dựa trên những cứ liệu thực tế về lịch sử để tìm ra đặc thù văn hóa Đặc thù luận lịch sử cũng là nền tảng ra đời tương đối luận văn hóa, cho rằng mỗi nền văn hóa có những giá trị tự thân nên phải được đánh giá trong bối cảnh cụ thể của nó [Khoa Nhân học, 2013] Đề tài này vận dụng đặc

Trang 15

thù luận lịch sử nhằm làm rõ những điều kiện lịch sử của người Khmer ảnh hưởng đến văn hóa nhận thức và văn hóa tín ngưỡng của họ qua tục thờ cúng Arak

Theo lý thuyết tương đối luận văn hóa, người nghiên cứu cần có cái nhìn khách quan, không được sử dụng góc nhìn của chủ thể đa số và dùng văn hóa của mình làm mẫu hình chuẩn để đánh giá văn hóa của cộng đồng khác “Cách tiếp cận khách quan hoàn toàn tương hợp với quan niệm bình đẳng về các giá trị văn hóa giữa các tộc người do tổ chức UNESCO xác lập từ cuối thế kỷ XX” [Lý Tùng Hiếu, 2017a] Chúng tôi sử dụng cách tiếp cận này để nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan về những thực hành tín ngưỡng - tôn giáo của người Khmer, thể hiện sự tôn trọng của người nghiên cứu đối với những tri thức bản địa trong các hoạt động văn hóa ấy

* Chủ nghĩa vật chất văn hóa

Chủ nghĩa vật chất văn hóa hay Duy vật luận văn hóa được khởi xướng bởi Marvin Harris Lý thuyết này cho rằng điều kiện vật chất quyết định nhận thức và ứng

xử của con người, chủ trương tìm kiếm những nguồn gốc liên quan đến điều kiện kinh

tế - kỹ thuật được ẩn chứa bên dưới những thực hành văn hóa [Nguyễn Ngọc Thơ, 2016] Chúng tôi vận dụng chủ nghĩa vật chất văn hóa trong đề tài nghiên cứu nhằm lý giải những nguyên nhân kinh tế của người Khmer ẩn thị bên dưới thực hành tín ngưỡng Arak

1.1.2 Khung kh i niệ :

* Tín ngưỡng - tôn giáo:

Khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo cho đến nay vẫn còn đang được hiểu một cách khá nhập nhằng, bởi còn rất nhiều ý kiến khác nhau trong việc sử dụng hai khái niệm trên Theo Đào Duy Anh thì tín ngưỡng đó là “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”, còn tôn giáo là “một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm

mà lập nên giới ước để khiến người ta tín ngưỡng” [dẫn theo Nguyễn Công Long, 2014: 6]

Với quan niệm truyền thống, tôn giáo và tín ngưỡng có sự khác nhau ở nhiều điểm Tôn giáo có giáo lý và kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập, có

cơ sở thờ tự và hành lễ, có tổ chức giáo hội chặt chẽ, có hệ thống nghi lễ thờ cúng… Trong khi đó, tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý rõ ràng mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết… nội dung mang tính chất dân gian và hình thức thực

Trang 16

hành gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ

Ngô Đức Thịnh [2001: 17] nhận định rằng: “Theo quan điểm truyền thống, người

ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới”

Ngày nay, với quan điểm đương đại xem văn hoá là những hoạt động, sản phẩm

và giá trị vật thể, phi vật thể riêng biệt và bình đẳng của các cộng đồng người, các dân tộc, quan điểm kỳ thị tôn giáo mang màu sắc thực dân ấy đã trở nên lỗi thời, không thích hợp cho việc nhận diện các tôn giáo nữa Tôn giáo bao hàm tín ngưỡng và thuộc

về văn hoá, nên nếu như các nền văn hoá bình đẳng với nhau thì các tôn giáo cũng bình đẳng với nhau [Lý Tùng Hiếu, 2017c] Theo đó, “ „Religion‟ / „tôn giáo‟ được hiểu là những quan niệm, lòng tin vào sự tồn tại và quyền năng siêu việt của các thần linh và những hành vi, nghi lễ thực hiện và thể hiện các quan niệm và lòng tin ấy Theo quan niệm này, các tôn giáo có thể có hay không có „tổ chức xã hội‟ hay „một hệ thống chức sắc tôn giáo (giáo phẩm, giáo đoàn)‟, và đó không phải là tiêu chí nhận diện tôn giáo, xếp hạng tôn giáo” [Lý Tùng Hiếu, 2017c]

Đặng Nghiêm Vạn [2008] cho biết: “Tôi đã khẳng định ngay như ở Châu Âu cũng có phân biệt tín ngưỡng với hai nghĩa: Khi ta nói tín ngưỡng, người Châu Âu hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, believes (Anh), verôvanhie (Nga) hay croyance religieuse (Pháp)…) Có thể hiểu belief… là tín ngưỡng và cũng là tôn giáo, nên khi

nói tự do tín ngưỡng thường được dịch ra tiếng Pháp là liberté de la religion, tự do tôn

giáo Như vậy, tín ngưỡng bao gồm cả tín ngưỡng như một số tác giả Việt Nam bây giờ hiểu là mức thấp hơn tôn giáo và các tôn giáo Có thể hiểu theo nghĩa hẹp là niềm tin tôn giáo (foi hay croyance religieuse), một yếu tố cơ bản, yếu tố quan trọng nhất của một tôn giáo.”

Nhìn chung, Trần Quốc Vượng nhận định: “Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ này chủ yếu ở mức độ niềm tin và cơ sở tổ chức của hai hiện tượng xã hội Nói đến tín ngưỡng

là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gởi gắm niềm tin tưởng của con

Trang 17

người Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật được thờ phụng” [Trần Quốc Vượng, 2002: 92]

là sông Hậu dài gần 60km, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với đường bờ biển dài 65km

Tỉnh Trà Vinh gồm có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố gồm: thành phố Trà Vinh, thị xã Duyên Hải, huyện Cầu Ngang, huyện Trà Cú, huyện Tiểu Cần, huyện Duyên Hải, huyện Châu Thành, huyện Cầu Kè, huyện Càng Long Do sự chia cắt của các giồng cát và hệ thống các trục lộ giao thông, các kênh rạch chằng chịt

mà địa hình ở Trà Vinh khá phức tạp Trong đó, địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt nước biển, vì vị trí nằm ở hạ lưu sông Tiền và sông Hậu Phần phía Nam là những vùng đất thấp, bị chia cắt bởi các giồng cát hình cánh cung, độ cao thấp nhất là 0,5m đến 0,8m so với mặt nước biển

* Khí hậu

Tỉnh Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có khí hậu tương đối ôn hòa, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Nhiệt độ trung bình hằng năm từ 25 đến 27 độ C Lượng mưa ở mức trung bình thấp, phân bố không ổn định và giảm dần từ Bắc xuống Nam Do đặc thù của vùng ven biển, khí hậu ở đây thường có những hiện tượng như độ bốc hơi cao, mưa ít, gió chướng mạnh

Ở Trà Vinh chia hai mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa Mùa nắng xuất hiện những ngày nắng gắt liên tiếp, người địa phương thường gọi đó là “hạn Bà Chằn”, có

lẽ bởi vì nó dữ dội quá, khắc nghiệt quá, gây hạn hán trên đồng đất Trà Vinh Mùa mưa có lượng mưa chiếm trên 96% lượng mưa cả năm Độ ẩm của tỉnh vào mùa khô khoảng 76 - 86%, vào mùa mưa khoảng 86 - 88%

Trang 18

Nhìn tổng quan, khí hậu ở Trà Vinh tương đối ổn định, thích hợp cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi Hiếm khi có những biến đổi thất thường, dù nằm gần biển những nơi đây ít khi có bão, song đôi lúc vẫn chịu ảnh hưởng mưa dông từ các vùng lân cận

* Đất đai

Đất đai là một nguồn tài nguyên quý giá của tỉnh, được hình thành từ lâu đời, góp phần tạo nên những hệ sinh thái, động, thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Tỉnh Trà Vinh là một dải đồng bằng ven biển, không núi đồi, được phù sa của sông Tiền và sông Hậu bồi đắp Bên cạnh đó, lượng khoáng sản không nhiều do có trầm tích trẻ với nguồn gốc phù sa sông biển, có cát san lấp và đất sét Trà Vinh có nhiều đất giồng cát

và những gò đất cao, tạo thành từ hợp chất cát pha đất sét, một số nới còn có phù sa mùn Đặc biệt là đất phù sa, loại đất nằm ven sông Cổ Chiên và sông Hậu Đây chính

là nguồn phù sa bồi đắp nên lớp đất màu mỡ ven bờ, các cồn, cù lao, phù hợp trong việc trồng cây ăn trái Một số cù lao, cồn như cù lao Tân Quy, cồn Bần Chát, cù lao Long Trị, cồn Nghêu, cù lao Long Hòa… được hình thành bởi phù sa phía sông Hậu [Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh, 2015: 14]

* Sông, rạch, biển

Nằm trong vùng đất ven biển thuộc hạ lưu sông Mekong, Trà Vinh như một dải

cù lao giữa hai luồng nước lớn là sông Hậu và sông Cổ Chiên Giữa hai con sông ấy là

hệ thống sông rạch chằng chịt chia theo ba hệ thống đổ ra sông Cổ Chiên, đổ ra sông Hậu, đổ ra biển Đông Càng tiến ra biển Đông thì hai con sông này càng rộng, lượng nước dồi dào Trà Vinh có đường bờ biển dài 65km với hai cửa sông là Định An và Cung Hầu, với đặc điểm biển ít cát nhiều phù sa, phần lớn là bãi bùn, nên nước biển phần lớn có màu nâu đục Với những tiềm năng đó, Trà Vinh có mạng lưới giao thông đường thủy phát triển, nối liền với các tỉnh và các nơi lân cận, đó cũng là những nguồn nước phục vụ tưới tiêu, nông nghiệp, đặc biệt là cung cấp số lượng lớn thủy hải sản, cân bằng hệ sinh thái

* Động, thực vật

Ngày trước, Trà Vinh cũng như những vùng đất khác trên đất Nam Bộ, còn hoang vu đầy hiểm trở với những rừng rậm nguyên sinh, các loài động vật ẩn náu Ngày nay, khi đặt chân đến vùng đất này, chúng ta có thể nhận thấy được hệ thống

Trang 19

động, thực vật đa dạng, là địa bàn sinh trưởng của nhiều giống, loài khác nhau Biến đổi rừng, đầm lầy thành những thửa ruộng màu mỡ, người dân địa phương đã trồng lên

đó những loại cây ăn trái, cây lương thực, rau xanh Trà Vinh còn là vùng có hệ thống rừng ngập mặn với nhiều loài cây đặc trưng như cây bần, cây mắm, cây sú… Về phía đồng bằng, trên những con giồng cát khi xưa chủ yếu là rừng mà ngày nay vẫn còn tồn tại các loài cây cổ thụ với dáng vẻ độc đáo như ở ao Bà Om, nơi đó còn là chỗ cư ngụ của rất nhiều loài động vật như chim cò, rắn, sóc, khỉ… Trà Vinh có nhiều vườn chim thiên nhiên như chùa Hang, chùa Giồng Lớn… Cửa biển Trà Vinh cung cấp hàng trăm loại tôm, cá… các loài thủy hải sản phong phú cung cấp cho con người tài nguyên để phục vụ hoạt động kinh tế

1.2.2 Người Kh er ở tỉnh Tr Vinh

1.2.2.1 Lịch sử hình th nh v h t triển

Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có 25 tộc người sinh sống bao gồm chủ yếu là 3 tộc người Việt, Khmer, Hoa với tổng dân số 1.027.012 người Trong đó, người Việt có tỷ

lệ dân số cao nhất trong tỉnh chiếm 67,57% với 694,261 người, người Khmer chiếm tỷ

lệ 31,62% dân số toàn tỉnh với 324.877 người, bên cạnh đó còn có người Hoa chiếm 0.8% dân số của tỉnh và một số tộc người thiểu số khác như Chăm, Dao, Churu… [Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh, 2015: 19-20] Đồng bào Khmer sống ở Trà Vinh khá đông, số dân đứng thứ hai ở đồng bằng sông Cửu Long sau tỉnh Sóc Trăng Người Khmer cư trú rải rác trên khắp các huyện, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất ở các huyện Trà Cú, Châu Thành, Cầu Kè, Cầu Ngang…

Trước đây, vùng đất Trà Vinh còn được gọi là “xứ Trà Vang”, vốn có nguồn gốc

từ ngôn ngữ Khmer là “Trah-păng” Theo những làn sóng di cư trong quá khứ, người Khmer đã có mặt trên đất Trà Vinh từ khá sớm, tuy nhiên số lượng dân cư đó không nhiều Những cư dân Khmer đầu tiên đến đây vào khoảng thế kỷ X Do biển rút dần, đồng bằng sông Cửu Long trong đó có vùng đất Trà Vinh, xuất hiện nhiều giồng đất cao nổi lên trở thành những vùng đất mới màu mỡ, thu hút những nông dân nghèo, những người chống nạn lao dịch nặng nề và sự bốc lột hà khắc của triều đại Angkor đã rời bỏ quê cha đất tổ xuôi dòng sông Mẹ (Mekong) về miền hạ lưu sinh sống Tại đây,

họ tập trung sinh sống ở những giồng cát lớn, cư trú theo từng khu vực, dựa trên mối quan hệ dòng họ và gia đình [Võ Văn Sen, 2010: 22] Làn sóng di cư này chậm rãi qua

Trang 20

nhiều thế kỷ và đã hình thành những vùng môi sinh xã hội mới của người Khmer trên đất Trà Vinh

Sau khi vương quốc Chân Lạp bị Xiêm tấn công trong gần một thế kỷ, Chân Lạp phải liên tục đối phó với những cuộc tiến công từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng Trong hoàn cảnh đó, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiến Thái Lan, người Khmer đã dời đô đến Phnôm Pênh vào năm 1434, đến Lovek năm 1539, sau đó tiếp tục tìm đến định cư ở Nam Bộ Ở đây, họ cùng hòa nhập với những lớp người Khmer đến trước, đã khai phá

và biến những vùng đất hoang sơ thành những đồng bằng phù sa màu mỡ, đông đúc Khoảng đầu thế kỷ XVI, chúng ta có thể nhận thấy cơ bản đã hình thành nên những khu vực sinh sống của người Khmer ở Nam Bộ, trong đó có Trà Vinh

1.2.2.2 Đặc trưng văn hóa

Đồng bào Khmer ở Trà Vinh là một tộc nguời có nền văn hóa phong phú, trình

độ kinh tế xã hội phát triển Đó là toàn bộ những hoạt động sáng tạo về vật chất, tinh thần của cộng đồng Khmer trên đất Trà Vinh trong hàng ngàn năm lịch sử, là quá trình chinh phục và thích ứng với thiên nhiên

* Văn hóa mưu sinh

Từ xưa, lớp lớp thế hệ người Khmer đã có kinh nghiệm trong việc canh tác lúa nước, họ giữ gìn và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Ngành nghề chủ yếu của người Khmer ở Trà Vinh vẫn là sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn giống lúa canh tác phù hợp với từng loại đất, có nhiều sáng kiến tạo ra các biện pháp thủy lợi phù hợp, dẫn thủy nhập điền, lợi dụng nguồn nước mưa để làm ruộng hoặc lợi dụng thủy triều đưa nước vào ruộng xổ phèn, giữ lại phù sa Đặc biệt, người Khmer ở đây còn đào ao lớn để lấy nước trên các vùng đất giồng, hiện nay ở Trà Vinh vẫn còn một số ao như ao Bà Om, Bàu Dài…

Bên cạnh đó, người Khmer do ở gần biển nên cũng giàu kinh nghiệm trong việc đánh bắt thủy hải sản, đặc biệt điều kiện tự nhiên với vùng biển dài 65km, cung cấp nguồn thủy hải sản phong phú Tuy nhiên chủ yếu là một bộ phần đồng bào Khmer sống gần biển chuyên nghề này Chăn nuôi bò, heo, gà… nuôi trồng thủy sản như tôm

sú, cua, cá lóc… cũng được số ít hộ Khmer lấy đó làm nghề sinh sống Mặt khác, họ

Trang 21

còn có tiểu thủ công nghiệp và một số ít làm dịch vụ, họ có những nghề thủ công truyền thống đan lát, dệt chiếu, chầm lá, làm bánh phồng, làm cốm dẹp

* Văn hóa ẩm thực

Cũng như cộng đồng Khmer ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, người Khmer Trà Vinh cũng có nền ẩm thực phong phú và đa dạng với những món đặc trưng như canh chua cá linh, cốm dẹp, tôm khô Vinh Kim, dừa sáp Cầu Kè, quýt đường Long Trị, nước mắm rươi Ba Động, rượu Xuân Thạnh… Bữa ăn thường ngày của họ cũng có cơ cấu cơm, canh, rau, tôm cá Những dịp nhà có đám tiệc, lễ thì họ làm thêm các món từ

gà, vịt… một số loại trái cây từ trong vườn như chuối, dừa… các loại bánh như bánh tai yến, bánh ú, bánh tét… Đặc biệt, mắm là một thứ gia vị không thể thiếu trong việc chế biến các món ăn của đồng bào Khmer Ví dụ điển hình là loại mắm Prohoc - gia vị chính để làm nên món ăn nổi tiếng của họ là bún nước lèo Đối với người Khmer Trà Vinh, bún nước lèo không đơn thuần là một món ăn nữa mà nó đã trở thành nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của họ được sử dụng cả trong các ngày lễ tết Khi ăn họ còn dùng kèm với rau ghém, muối ớt, chả giò, bánh cống, huyết, thịt heo quay…

* Văn hóa trang phục

Người Khmer ở Nam Bộ nói chung quan niệm rằng “trang phục không chỉ đơn giản là để mặc mà còn phải toát lên các yếu tố về tâm linh, tín ngưỡng, mỹ thuật và lòng tự hào dân tộc Tùy theo từng hoàn cảnh sinh hoạt, nghi lễ khác nhau mà người Khmer lựa chọn cho mình những trang phục khác nhau” [Vũ Quốc Khánh, 2002: 60] Người Khmer ở Trà Vinh cũng quan niệm như thế Bộ đồ ba bà kết hợp với chiếc khăn rằn đội trên đầu là trang phục lao động và sinh hoạt hằng ngày của người Khmer ở Trà Vinh, thể hiện sự đằm thắm, nền nã và tiện dụng Đối với nam giới, thường ngày còn

có thể quấn sà rông dệt bằng tơ với áo mỏng sát người có màu sắc sắc sỡ Trang phục

lễ hội của họ đặc sắc hơn, thường là sà rông với các họa tiết, hoa văn như sọc, ca rô, muôn thú… với màu trắng hoặc màu vàng chủ đạo và đi kèm với trang sức bằng vàng, bạc, đá quý… thể hiện sự thẩm mỹ và hài hòa với trang phục

* Văn hóa cư trú và kiến trúc

Ngày trước, do địa hình cư trú nhiều đầm lầy, sống dọc theo hai bên bờ sông nên

từ rất sớm, người Khmer đã sáng tạo ra loại hình cư trú độc đáo đó là nhà sàn Để thích nghi tốt với môi trường tự nhiên, họ thường ở nhà sàn và ở những nơi đất thấp,

Trang 22

nhà nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới thì dùng lá dừa để chằm lớp Ngày nay, do giao lưu văn hóa với người Việt - người Hoa và quá trình hiện đại hóa, nhà ở của người Khmer Trà Vinh phần nhiều đã chuyển sang ở nhà đất, xét về hình dáng và vật liệu đã gần giống như nhà của người Việt và người Hoa

Trà Vinh là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng Đặc biệt là hệ thống chùa chiền với đặc điểm kiến trúc độc đáo, thể hiện những thành tựu về điêu khắc, kiến trúc, hội họa, trang trí của cộng đồng người Khmer So sánh với các tỉnh có đồng bào Khmer sinh sống thì trên địa bàn tỉnh Trà Vinh hiện nay có số lượng chùa chiền cổ nhất và nhiều nhất, với tổng cộng 142 ngôi chùa Khmer, trong đó có những ngôi chùa

cổ được xếp hạng di tích văn hóa cấp quốc gia Tiêu biểu là chùa Âng được xây dựng năm 990, chùa Hang, chùa Cò, chùa Kompong… Đối với người Khmer, chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo đặc biệt quan trọng, chốn thiêng liêng nâng đỡ đời sống tinh thần cho con người

Do ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Nguyên thủy Theravada, người Khmer còn

có hệ thống tổ chức nhà chùa Đứng đầu mỗi chùa có một vị sư cả là người trụ trì ngôi chùa Trong tâm thức người Khmer, sư cả được coi là đại diện cho đức Phật, vì thế

quản lý của chùa gồm một vị sư cả, các vị sư phó, giúp việc cho họ là một ban quản trị

chùa và các wên là tổ chức quần chúng tín đồ quần cư quanh chùa [Lý Tùng Hiếu,

2016]

Trang 23

* Tín ngưỡng - tôn giáo

Người Khmer đã từng theo Ấn giáo trước khi theo Phật giáo và để lại nhiều ảnh hưởng sâu sắc trong văn hóa Đó là tôn giáo được du nhập từ Ấn Độ vào những năm đầu công nguyên rồi thịnh hành và ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài Phật giáo Bắc truyền cũng được du nhập, đến thế kỷ thứ IX thì thịnh hành và song song tồn tại với Ấn giáo Đến thế kỷ XII, Phật giáo Nguyên thủy (hay Phật giáo Nam tông, Nam truyền, Theravada) được du nhập và dần chiếm địa vị độc tôn Người Khmer ở Trà Vinh hiện nay hầu như đều theo Phật giáo và gắn liền mọi sinh hoạt thường ngày với tôn giáo này Đức Phật, ngôi chùa cùng với chư tăng - những người được xem là đại diện cho Phật tại thế gian, luôn được người Khmer kính trọng hàng đầu trong đời sống văn hóa tinh thần

Bên cạnh đó họ còn tin vào các thế lực siêu nhiên khác mà trong cuộc sống lao động hàng ngày họ có thể phải va chạm nhưng chưa có khả năng nhận thức và chế

, Arak, Rea Hu, thần Mặt Trăng… Bên cạnh đó, nhiều gia đình Khmer đã chịu ảnh hưởng tục thờ cúng tổ tiên của người Việt và người Hoa nên có lập bàn thờ tổ tiên trong nhà

* Phong tục - lễ hội

Trong vòng đời mỗi người Khmer trải qua nhiều tập tục “Khi đứa bé sinh được 7 ngày thì làm lễ cắt tóc, đặt tên, cột tay cho đứa bé nhằm cầu mong nó được mau lớn, mạnh khỏe Khi đứa con trai được 12 tuổi gia đình tổ chức lễ giáp tuổi để tạ ơn tổ tiên, thần thánh đã phù hộ cho đứa bé” [Ngô Văn Tưởng & Nguyễn Hoàng Tuấn, 2013: 27] Khi nam giới khoảng 12 tuổi sẽ vào chùa tu một thời gian nhất định, mang ý nghĩa báo hiếu cha mẹ và bồi dưỡng đạo đức, sau đó có thể hoàn tục Về tang ma, họ cho rằng người sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại ở thế giới khác Sau khi kết thúc tang lễ, thi hài người quá cố sẽ được hỏa táng

Đồng bào Khmer ở Nam Bộ nói chung và Trà Vinh nói riêng có nhiều lễ hội đặc sắc, hầu hết những gắn với nghề nghiệp, gia đình, cộng đồng, tôn giáo… Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Chol Chnam Thmay (vào năm mới), Sene Đolta (cúng ông

1 Các công trình nghiên cứu thường viết là “Neak Ta” theo cách người Khmer địa phương “phiên âm” tiếng Khmer theo giọng Việt mà họ chịu ảnh hưởng

Trang 24

bà), Sâm Peak Preach Khe (Âk Âmbok2 - cúng trăng, đút cốm dẹp), Visat Bouchea (Phật đản sanh), Kathina (dâng y), lễ cúng Ne-ak Ta … Ở Trà Vinh, Âk Âmbok là lễ hội có quy mô lớn nhất Trà Vinh, không chỉ diễn ra tại các gia đình, chùa, phum sóc

mà còn được tổ chức tại ao Bà Om với nhiều sinh hoạt cộng đồng vui tươi, bổ ích

* Giao tiếp và ngôn ngữ

Người Khmer có những cách giao tiếp đặc thù, tùy thuộc vào đối tượng giao tiếp, đặc biệt với nhà sư sẽ có những hình thức giao tiếp riêng Chẳng hạn khi giao tiếp với bạn bè thì họ chắp tay trước ngực, với người lớn thì chắp tay lên cao tới mũi, với các

sư thì chắp tay lên trán Trong tiếng Khmer từ “chumreap” có ý nghĩa là “tôn kính” thường là dùng cho người nhỏ chào người lớn tuổi hay lớn chức quyền hơn Tiếng Khmer là ngôn ngữ đa tiết nhưng không có thanh điệu, thuộc ngữ hệ Nam Á, chịu ảnh hưởng của tiếng Phạn và tiếng Pali Người Khmer ở Trà Vinh đến nay vẫn bảo lưu được tiếng nói và chữ viết Trải qua 12 lần cải biên, chữ viết của người Khmer mới định hình ổn định như ngày nay “Nhiều chùa còn lưu giữ được các bộ sách sa tra Tuy nhiên, việc dùng lá buông để viết chữ và làm các bộ sa tra hiện nay không còn” [Ngô Văn Tưởng & Nguyễn Hoàng Tuấn, 2013: 24]

* Văn học nghệ thuật

Người Khmer ở Trà Vinh có một kho tàng văn học dân gian phong phú bao gồm nhiều thể loại, bên cạnh đó là các loại hình nghệ thuật độc đáo như múa, âm nhạc, sân khấu… Nghệ thuật múa được chú ý nhiều nhất, bao gồm múa dân gian và múa chuyên nghiệp Âm nhạc cũng có nhạc sân khấu và nhạc dân gian Họ có hệ thống nhạc cụ rất phong phú và đa dạng, được chia làm hai loại là dàn nhạc lễ (nhạc ngũ âm) và dàn nhạc dân gian (nhạc dây) Dàn nhạc ngũ âm được chế tác bằng năm chất liệu khác nhau gồm đồng, sắt, gỗ, da và hơi Dàn nhạc dây gồm các loại đàn dây dùng để hợp tấu như đàn cò, đàn cò u, đàn bán nguyệt…

Ngoài ra, ngày nay nhiều loại hình nghệ thuật cổ truyền cũng được khôi phục Nghệ thuật Chầm Riêng Chà Pây có từ rất lâu đời, được biểu diễn phổ biến tại các phum srok và chùa Khmer trong tỉnh Trà Vinh vào những năm đầu thế kỷ XX Xã Tân Hiệp (huyện Trà Cú) được xem là “cái nôi” hình thành và phát triển loại hình này Nghệ thuật điêu khắc mỹ nghệ truyền thống của người Khmer được các sư sãi và

2 Các công trình nghiên cứu thường viết là “Ok Om Bok” theo cách người Khmer địa phương “phiên âm” tiếng Khmer theo giọng Việt mà họ chịu ảnh hưởng

Trang 25

người dân ở chùa Hang kế thừa và phát huy trong cuộc sống ngày nay, bàn tay khéo léo của họ đã tạo ra những sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao

1.3 Tiểu kết

Trà Vinh là một trong những mảnh đất cuối cùng bên dòng Mekong, nơi hai dòng sông Tiền và sông Hậu đổ ra biển bằng ba cửa Đây là địa bàn cư trú của ba tộc người Việt, Khmer và Hoa với diện mạo văn hoá vô cùng đa dạng và đặc sắc Cộng đồng Khmer là một tộc người có mặt ở Trà Vinh từ sớm và số dân đông đảo, sinh sống rải rác trên khắp các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh Họ có nền văn hóa phong phú, trình độ kinh tế - xã hội phát triển Qua nhiều thế kỷ cùng cận cư với các tộc người, đồng bào Khmer luôn không ngừng gìn giữ và lưu truyền văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp tục sáng tạo những giá trị mới, cả trên bình diện vật chất lẫn tinh thần.Ngoài đạo Phật là tôn giáo chính, trong quá trình chinh phục và thích ứng với tự nhiên người Khmer đã gửi gắm niềm vào các thế lực siêu hình mà trong cuộc sống lao động họ chưa có khả năng nhận thức và chế ngự Tiêu biểu trong số đó là các hình thức tôn giáo sơ khai như: Arak, Ne-ak Ta, Rea Hu, thần Mặt Trăng… kể cả những tàn tích của đạo Bà la môn từng có thời gian tồn tại trong văn hóa Khmer Hiện nay, nếu người Khmer ở Trà Vinh hầu hết còn thờ cúng Ne-ak Ta, thì tín ngưỡng Arak đã dần suy yếu Từ những tiền đề đó, chúng tôi sẽ tiếp tục tiến hành phân tích về tục thờ cúng này và lý giải về nguyên nhân suy yếu cũng như biểu hiện của nó trong văn hóa tộc người Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay

Trang 26

CHƯƠNG 2 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM TỤC THỜ ARAK CỦA NGƯỜI KHMER

2.1 Qu trình hình th nh v h t triển của t c thờ cúng Arak

Người Khmer có các hình thức tín ngưỡng dân gian tôn thờ thần linh bảo hộ, trong đó có Arak Đây là một dạng thần linh không có nguồn gốc và hình tướng rõ rệt, trong điều kiện y tế thiếu thốn thời xa xưa, vị thần ấy mang chức năng bảo hộ đời sống

và sức khỏe dân chúng Thờ cúng Arak liên quan đến vật linh giáo (animisim) và ma thuật giáo (shamanism) có mặt trong hầu hết các tộc người sơ khai Vật linh giáo là niềm tin vào linh hồn trú bên trong cơ thể con người và vạn vật, khi cơ thể mất đi thì linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại, niềm tin này hình thành quan niệm về thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại [Lý Tùng Hiếu, 2017a: 273] Shaman là thuật ngữ được dùng

để chỉ người đại diện cho cộng đồng để giao tiếp với thần linh hoặc vong hồn người chết, thông qua thân xác của chính người ấy Người shaman dùng các biện pháp ma thuật để xử lý những vấn đề liên quan đến thế giới tự nhiên, tạo dựng và củng cố niềm tin cho tín đồ

Cộng đồng Khmer ở Trà Vinh cho rằng Arak là một hình thái tín ngưỡng cổ xưa,

có nguồn gốc từ khi người Khmer ở Campuchia còn theo Bà la môn giáo và Phật giáo chưa du nhập vào vương quốc này Theo các nhà nghiên cứu, Bà la môn giáo đã ảnh hưởng đến tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer và “được Khmer hóa thông qua sự sàng lọc những yếu tố thích nghi với dân cư nông nghiệp và đặc trưng của tộc người mình” [Tiền Văn Triệu & Lâm Quang Vinh, 2015: 86-87] Sự tiếp biến đó thể hiện ở việc “gốc đạo Bà la môn ở Ấn Độ thờ đa thần, nhưng khi truyền đến đây thì chỉ còn là tín ngưỡng thế lực vô hình” [Tiền Văn Triệu & Lâm Quang Vinh, 2015: 87-88] Tuy nhiên hiện nay, nhận định về Arak vẫn chưa thống nhất Hiện nay có thể chia thành ba nhóm định nghĩa về Arak

(1) Nhóm thứ nhất cho rằng Arak là nhân thần

Các ý kiến trong nhóm này cùng chia sẻ nhận định Arak một người nữ trong dòng họ đã qua đời và hiển linh, người ấy có thể là bà tổ (hoặc bà tổ bảy đời) trong dòng họ mẫu hệ, cũng có thể chỉ là một người nữ bất kỳ trong dòng họ Nguyễn Công Bình [1990: 229] định nghĩa: “Đối với người Khmer, Arak có nghĩa là ma quỷ, là thần

Trang 27

tổ của dòng họ bảy đời… có chức năng bảo hộ gia đình trừ tà ma hại người trong dòng

họ Arak là một nhân thần thuộc phái nữ đã chết” Tương tự, Kiêm Đạt [2007] cũng nhận định: “Arak là thần tổ của dòng họ bảy đời, đã biến thành ma quỷ thiêng liêng, nhưng lại có khả năng bảo vệ cho cuộc sống cá nhân và gia đình họ […] Arak là một nhân thần phái nữ đã chết, có những tên họ cụ thể, có huyền thoại”

Gần đây, các tác giả đi sau tiếp tục kế thừa quan điểm này Theo Hùng Khu [2014] phân tích: “Người Khmer quan niệm rằng, Arak đều có nguồn gốc giống như người trong gia đình là từ một bà tổ sinh ra Người phụ nữ chết bất đắc kì tử và trở thành Arak” Lý Tùng Hiếu [2016: 183] cho biết: “tục thờ cúng Arak là bà tổ dòng họ

mẹ, bảo hộ gia đình, nhà, khu đất, rừng” Trần Ngu Lạc [2012] cung cấp những thông tin chi tiết hơn: “Arak được người Khmer Nam Bộ hiểu là vị thần giữ gìn, bảo vệ, cho nên tín ngưỡng Arak là tín ngưỡng về vị thần bảo vệ của mình Đây là vị thần không

có hình dáng xác định, được bà con người Khmer cho là có nguồn gốc là linh hồn người chết nhưng hiển linh được tôn làm thần để bảo vệ dòng họ, gia đình, nhà cửa”

(2) Nhóm thứ hai cho rằng Arak là nhiên thần

Những định nghĩa trong nhóm này hết sức đa dạng, song có cùng nhận định Arak

là một dạng thần bảo hộ chung chung không rõ lai lịch Sớm nhất, Lê Hương cho rằng Arak là Ne-ak Ta trong gia đình, tức đóng vai trò thần bảo hộ gia đình: “Trong gia đình có thờ ông Tà gọi là Arak (người Việt quen gọi là ông Tà Á Rặt) thì có một người đàn bà hay cô gái làm đại diện để thần nhập xác, gọi là Rụp Arak” [Lê Hương, 1969:76] Nguyễn Xuân Nghĩa [1979: 47] phân tích quan niệm về Arak rộng hơn, cho biết phần đông người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long cho Arak là “thần” hoặc

“ma quỷ” không có hình dáng rõ rệt, có người cho rằng Arak là “thần bảo vệ” hoặc

“thần giữ gìn”

(3) Nhóm thứ ba cho rằng Arak vừa là nhân thần lẫn nhiên thần

Đó là những định nghĩa mang tính tổng hợp, ít nhiều liên quan đến cách nhận định về Arak của hai nhóm trên, chẳng hạn: “Tín ngưỡng Arak có nội dung khá phức tạp, Arak có thể là thần bảo hộ nhà cửa, phum srock, hoặc Arak còn thuộc dạng “tổ tiên” của thời kỳ mẫu hệ xa xưa” [Khoa Nhân học, 2013: 226] Một định nghĩa khác

có thể xem là tiêu biểu cho nhóm này và tương đối đầy đủ: “Arak tượng trưng cho vị thần bảo hộ của, một loại thần không có hình dáng, biểu hiện rõ rệt và tính chất thiện,

Trang 28

ác cũng khó phân biệt Có thể là một người nào đó trong dòng họ chết từ lâu nhưng linh thiêng nên được tôn là thần và được các gia đình trong dòng họ thờ cúng nhờ bảo hộ” [Viện Văn hóa, 1993: 51] Những nghiên cứu sau đó tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm này, theo Trần Văn Bính [2004: 178-179]: “Arak có nghĩa là thần, không

có hình dáng rõ rệt, Arak có bổn phận bảo vệ và giữ gìn bình yên cho dòng họ hoặc thân chủ nào đó, có thể xem đây là một loại thần thiện… Arak thường là bà tổ của dòng họ, hoặc là một người chết quan hay người sau khi chết có những hiện tượng kì

lạ hoặc là một người nào đó trong dòng họ rất nổi tiếng”

Từ việc phân tích các nguồn tư liệu trên, chúng tôi đưa ra nhận định: Có hai dạng

Arak là Arak trong phạm vi gia đình và Arak trong phạm vi cộng đồng Đối với gia đình, Arak là linh hồn một người nữ trong dòng họ mẫu hệ (nhân thần) Đối với cộng đồng, Arak là thần bảo hộ một khu đất nhất định (nhiên thần)

Riêng với cộng đồng người Khmer cư trú trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, qua điền dã thực tế chúng tôi được biết, đa phần họ nhận thức Arak là một dạng thần linh siêu nhiên không rõ ràng và phủ nhận Arak là bà tổ dòng họ mẫu hệ Họ cho rằng Arak là thần không có hình dáng cụ thể, tính cách hiền hay dữ tùy vào thái độ của người dân Arak được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như Arak dòng họ, Arak gia đình, Arak khu đất cư ngụ, Arak ruộng rẫy, Arak trấn giữ rừng… Trong đó, Arak bảo

hộ dòng họ (Arak Chua bua) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Khi có bệnh, họ cầu cúng vị thần này sẽ được hướng dẫn chữa trị Vài ba năm một lần, các dòng họ tổ chức cúng Arak vào khoảng tháng ba hay tháng tư âm lịch, để tạ ơn các Arak đã phụ trợ cho gia đình mạnh khỏe, người đau ốm được khỏi bệnh

Như vậy nhìn chung có thể nhận định tục thờ cúng Arak là một hình thái tín ngưỡng bản địa của người Khmer ở Campuchia, có chịu sự ảnh hưởng của Bà la môn giáo Tục thờ cúng Arak là sự sáng tạo của người Khmer nhằm thích ứng với môi trường tự nhiên, đồng thời đáp ứng nhu cầu tâm lý - xã hội đương thời, phần nào phản ánh nhận thức và lý giải về thế giới trong văn hóa Khmer Nguyễn Công Long [2014: 37] nhận định: “Người Khmer xưa rất khéo léo trong sự tưởng tượng và ứng xử tài tình trong việc vận dụng thực tiễn và giải thích theo hệ thống lý luận trong tín ngưỡng Arak của họ Chính những hệ thống lý luận đó thường xuyên được bổ khuyết để nó

Trang 29

càng ngày khiến người Khmer xưa cảm thấy tin tưởng và làm theo trong một thời gian dài, trở thành tâm thức của cả cộng đồng”

Khoảng thế kỷ XII, khi Phật giáo được truyền bá vào Campuchia thì tục thờ cúng Arak vẫn tồn tại song hành và đến tận ngày nay vẫn còn được thực hành ở Campuchia Thế kỷ XV - XVI người Khmer di cư về đồng bằng sông Cửu Long đông đảo hơn, nguyên nhân chính là triều đình Angkor bị Xiêm đánh bại, phải dời đô về Phnom Pênh

và chuyển trọng tâm đất nước từ tây bắc xuống đông nam Biển Hồ Tonle Sap Họ đã mang cả Phật giáo Nguyên thủy Theravada lẫn tín ngưỡng dân gian theo hành trình di

cư, trong đó có tục thờ cúng Arak Ở vùng đất mới, đứng trước cảnh rừng rậm hoang

vu, thời tiết khắc nghiệt, nhiều thú dữ… tín ngưỡng Arak càng thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống người Khmer

Sự hiện diện của Arak ở Nam Bộ trong đó có Trà Vinh bắt đầu từ khi ấy và kéo

dài đến nửa cuối thế kỷ XX Trong công trình Địa chí An Giang, các tác giả cho biết

trước năm 1975 người Khmer ở Tịnh Biên thường xuyên tổ chức lễ cúng Arak và được sự tham dự của cả cộng đồng [Nhiều tác giả, 2013]

2.2 Đặc iể thờ tự v tổ chức nghi ễ cúng Arak

2.2.1 Không gian thờ cúng

Trước đây, hầu hết người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đều thờ Arak, có thể thờ ở nhà hoặc trong miếu của phum srok Trong phạm vi gia đình, họ thờ Arak với hình thức chòi nhỏ ngoài sân hoặc trang thờ treo trên vách nhà Các chòi nhỏ thường mô phỏng theo kiểu dáng nhà sàn, vách và mái được làm từ lá dừa nước, bên trong có bệ thờ bày trí một khúc thân chuối hoặc một trái dừa để cắm nhang, một cái dĩa bằng bẹ chuối và một cái tháp bằng cây [Trần Văn Bính, 2004: 178] Khảo sát thực

tế trên địa bàn Trà Vinh, chúng tôi cũng nhận được những thông tin tương tự: “Nếu nhà nào có khả năng thì người ta cất một cái nhà nhỏ ở một gốc của lô đất người ta Nhưng người ta coi thầy để cất hướng nào, cất để người ta thờ đốt nhang mỗi ngày” [Biên bản phỏng vấn số 2]

Đối với hình thức trang thờ cũng được bày trí tương tự như thế, chỉ khác là trang thờ sẽ được treo ở gian bìa hoặc vách nhà, giống cách thờ của người Việt Theo kết quả nghiên cứu của Viện Văn hóa cách nay ba mươi năm thì trang thờ Arak trong gia đình đã không còn nhiều Các tác giả cho biết, trên mỗi trang thờ có đặt đoạn thân cây

Trang 30

chuối, trái dừa khô (slachôm) trên có cắm nhang, đèn cầy, đặt năm lá trầu cuốn lại (muluchip), một số vật trang trí bằng giấy màu kiểu hình tháp (baysei) và đĩa kết bằng

bẹ chuối (pê) [Viện Văn hóa, 1993: 51-52]

Trong phạm vi cộng đồng, nếu chúng ta đi vào trong các phum srok người Khmer thì ta thường thấy các thala (sala) Thala ban đầu mang ý nghĩa là nơi dừng chân trú nắng dành cho khách ven đường, sau này một số nơi kết hợp thờ tự Arak hoặc

hay ngã ba đường, cũng có thể gần bến sông, ở góc vườn dưới tàn cây cổ thụ hoặc trong khuôn viên chùa Miếu được làm bằng tre, lợp lá tùy theo điều kiện thờ cúng của từng cộng đồng

Tuy nhiên ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội và những biến đổi trong nhận thức của cư dân, người Khmer ở Trà Vinh không còn quá chú trọng vào nơi thờ Arak nữa mà thỉnh thoảng chỉ còn thực hiện lễ cúng Thala Bà Rây [H.2] ở xã Lương Hòa (huyện Châu Thành) trước đây là thala Arak, hiện nay trở thành thala Ne-ak Ta,

vị Ne-ak Ta này là phụ nữ và được gọi là Bà Rây [H.3] Tại thala này hiện nay, mỗi

kết thúc thì người dân hủy bỏ [H.4]

2.2.2 Đ i tư ng thực h nh nghi ễ

* Nhập đồng (Liêng Arak):

Nhập đồng không chỉ là hình thức giao tiếp giữa thế giới hữu hình và vô hình Việc nhập đồng tạo cho người khuất mặt có thể vừa trò chuyện mà cũng vừa khuyên răn nhắc nhở con cháu, người thân về cách ứng xử với bề trên, kẻo tránh vô phép trong việc mồ mã và cúng xin một cách hợp lí Nhập đồng được hiểu là “niềm tin cho rằng một người bị thay đổi theo cách nào đấy thông qua sự hiện diện của một linh hồn hay thế lực nhập vào người đó chứ không phải bản thân cá nhân hay linh hồn của anh ta” [Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 2006: 475] Về việc nhập đồng trong tín ngưỡng

Arak được gọi là Liêng Arak hoặc Chôl Arak, được xem là một dạng ma thuật “Con

cháu mỗi lần cúng tổ phải “chôl Arak” để được tiếp xúc” [Khoa Nhân học, 2013: 226] Nguyễn Công Long [2014 : 11] nhận định: “Hình thức lên đồng trong lễ cầu Arak của người Khmer có mô típ gần giống như hình thức lên đồng của người Việt Lễ cầu cúng Arak còn gọi là Liêng Arak (có nơi gọi là Lờn Arak, Chôl Arak) Lễ này tổ

Trang 31

chức mỗi năm một lần ở những gia đình có thờ Arak của dòng họ […] Khi nhập đồng, linh hồn người chết có thể nhập vào Rụp (người nhập đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống về những gì linh hồn (Arak) cần và biểu lộ thái độ của Arak Khi hài lòng thì che chở, phù hộ, khi không hài lòng Arak gây hại bằng cách tác động lên hồn vía của người đang sống, làm cho người đó bị bệnh hoặc khiến mơ mơ màng màng, sống dở chết dở.”

* Người hầu đồng (Rụp Arak):

Nghi lễ lên đồng là một dạng thực hành nghi lễ mang đậm tính ma thuật, trong đó các đồng là người trực tiếp ngồi đồng, thôi miên hoặc tự ám thị, đưa cơ thể vào trạng thái biến đổi ý thức Với trạng thái ý thức đặc biệt đó, nhiều đồng có thể cảm nhận được linh hồn hay nhận được năng lượng vũ trụ mà huy động khả năng siêu thường Dân gian cho rằng họ bị thần nhập, vì thế những việc họ làm chính là sự thị uy, tỏ oai linh của các vị thần Hiện tượng này chỉ xảy ra với những cá nhân có đặc điểm nhân cách và những tâm sinh lý khác thường, dân gian quen gọi là “có căn đồng” Sự xuất hiện trạng thái bất bình thường này ở các đồng có thể coi là hiện tượng tâm linh năng lượng, chỉ xảy ra ở những môi trường đặc biệt [Nguyễn Ngọc Mai, 2012]

Trong hình thức cúng Arak cũng vậy, cũng có người lên đồng và người Khmer

gọi đó là Rụp Arak có chức năng để cầu xin bình an cho gia đình, chữa khỏi các bệnh

hiểm nghèo cho người bệnh Rup Arak có thể nói là vị trung gian giữa thế giới con người và thế giới tâm linh, giúp cho hai thế giới này có thể giao tiếp với nhau Lê Hương [1969: 72] cho biết: “Mỗi ngôi miễu có một người giữ gìn việc thờ phượng, đồng thời là vị đại diện ông Tà, gọi là Rụp Thường thường Rụp là đàn ông Người này

là xác đồng để ông Tà nhập vào khi người ta cầu khẩn, hoặc khi Thần có việc muốn thông báo cho dân chúng biết Người xác đồng phải học thuộc lòng những lời cầu nguyện mời ông Tà nhập vào mình và biết cách trở về khi ông Tà xuất ra, nếu không,

sẽ chết ngay”

Để có khả năng trở thành Rụp Arak (được Arak nhập xác) và dùng bùa phép trừ bệnh tật là nghề rất khó học, thường chỉ do cha truyền con nối hoặc mẹ truyền con nối trong phạm vi một gia đình và cần phải khổ luyện Đa số những người Rụp thường có gia cảnh khó khăn, kinh tế bấp bên, hầu như ít ai khá giả từ cái nghề này Có người bị tật nguyền, có người tâm thần không được ổn định vì thế, việc kiếm miếng cơm manh

Trang 32

áo thông qua cái nghề lên đồng này cũng chẳng là bao, trong khi việc kiếm tiền từ sản xuất, nghề nông cũng chỉ có thể đủ ăn chứ chẳng dư dả

Sự phân biệt giới tính của người nhập đồng tùy thuộc vào tính chất của nghi thức

“Người “chôl Arak” (nhập xác) để chữa bệnh, để “tiếp xúc” với cộng đồng cư dân trong phum srock thường là nam, nhưng người “chôl Arak” để cúng kiếng, “gặp gỡ” tổ tiên đều là nữ, có lẽ đó là tàn dư của dòng họ chế độ mẫu hệ” [Khoa Nhân học, 2013: 226] Song, Trần Văn Bính [2004: 179] lại nhấn mạnh người nhập đồng là phụ nữ:

“Khi cúng Arak thường phải có một người nữ để nhập đồng (Rụp Arak) - người Kinh

ở Nam Bộ thường gọi là xác cô, xác cậu, người được chọn thường là một người không được bình thường, nói năng khó hiểu hoặc có các thói quen lạ đời” Theo Hùng Khu [2014] lý giải: “Mỗi dòng họ Khmer khi cúng bái phải chọn một bà làm người đại diện cho dòng họ để Arak nhập vào "con đồng", về sau người này được thay bằng đàn ông”

Khác với Lê Hương [1969: 72] cho rằng Rụp thường thường là đàn ông, thì Nguyễn Công Long cho rằng “Rụp thường là đàn bà, cũng có khi là đàn ông” [2014: 46] Mặc dù vậy, cả hai đều cho rằng, người làm Rụp là người có khả năng đặc biệt, là người mà có bóng vía hạp với Arak Đó có thể là người được truyền thụ qua gia đình hoặc là người có đức độ được người dân tôn kính, họ phải “đàng hoàng tử tế, tánh nết tốt lành” mới có khả năng được Arak nhập Song đôi khi cũng có thể do Arak tự chọn người phù hợp với mình để làm Rụp, ngoài ra trong cộng đồng không ai có quyền chọn Rụp, vì nếu Arak không thích sẽ không nhập [Biên bản phỏng vấn số 3]

* Các thành phần khác

Cúng Arak không chỉ bao gồm dâng lên các lễ vật mà còn có sự kết hợp giữa âm nhạc và múa cùng những lời đối đáp qua lại giữa gia chủ với Rup Arak đối với sự việc cầu xin và những đòi hỏi, giải đáp, chỉ bảo chủ yếu về thuật trị bệnh theo quan niệm của họ Tham gia trong cuộc lễ Liêng Arak, ngoài các thầy bói, thầy cúng (Lục Krou hay Krou Tậy), Rụp Arak và các thân nhân trong gia đình là những nhân vật chủ yếu của cuộc lễ, ngoài ra còn có nhiều đối tượng khác góp phần quan trọng như những người trong thân tộc hay phum srok và ban nhạc

Ban chơi nhạc gồm bốn đến năm người, chơi các loại nhạc cụ dân dã như đàn cò, đàn hai dây, chà bây, salây làm bằng trúc Có thể thấy rằng người Khmer rất coi trọng

Trang 33

yếu tố nghệ thuật, việc chơi nhạc không chỉ làm cho không khí vui tươi, náo nhiệt mà còn làm cho buổi lễ cúng trở nên linh thiêng Ban chơi nhạc cỡ mười phút hoặc đến nửa tiếng sẽ giúp cho Arak nhập vào, tuy nhiên ban nhạc cần phải tập trung phối hợp, nhịp điệu phải đồng đều, tránh gây kích động đến Arak nếu không sẽ bị trách mắng, nặng thì bị tạt nước, tạt rượu vào mặt

Trong buổi lễ thường những thân nhân sẽ ngồi vòng quanh vỗ tay còn ông thầy ngồi giữa Suốt buổi lễ chỉ có một bài hát duy nhất Tìm hiểu trên địa bàn Trà Vinh, người dân cho biết: “Chỉ có một bài hát, nhưng mà cái bài ấy tục tỉu lắm Ông Arak thích vậy lắm, thích cái gì vui và tục tỉu lắm mới chịu nhập” [Biên bản phỏng vấn số 2] Tương tự, trước đó Nguyễn Công Long [2014: 46] cũng nhận định: “Nếu muốn cho một Arak khác nhập vào thì đòi hỏi người hát phải am tường nhiều bài hát khi cúng vì mỗi Arak chỉ quen một bài, đúng bài hát của Arak thì Arak mới nhập Phải biết đổi bài khác để Arak khác nhập vào khi Arak này xuất ra”

Một thành phần khác mà dường như không thể thiếu trong buổi lễ đó là thành phần cổ vũ Sẽ có một người vỗ tay và phối hợp hô “hê” để cho Arak mau nhập Sau một lúc hát hò và ban nhạc hòa tấu thì Rụp Arak sẽ bắt đầu lắc lư thân mình theo nhịp trống Lần lần tốc độ tăng lên, xác ông đảo lia lịa và hét lên từng chập

2.2.3 Lễ vật cúng

Arak và Ne-ak Ta không chỉ khác nhau về biểu tượng thờ cúng mà lễ vật cúng cũng khác nhau Đối với bàn thờ Arak trong phạm vi mỗi gia đình, đồ cúng thường là một con gà, một nải chuối, một trái dừa với rượu và không có bông Còn trong lễ Liêng Arak, các thức cúng đơn giản chỉ là những món ăn bình thường dân giã như trái cây, con gà luột, một bẹ chuối có khi cúng đốt nhang hoặc thắp nến Một ý kiến của người Khmer ở Trà Vinh chia sẻ: “Arak mình đi cúng đầu heo hoặc con gà luộc này kia nọ tùy theo người ta nhu cầu, còn Lục Tà nhiều khi chuối một nải hoặc bánh bò, bánh hỏi, bánh tiêu gì cũng được tùy theo mình… Arak là phải ăn đồ mặn, Lục Tà đồ ngọt nhiều hơn” [Biên bản phỏng vấn số 3]

Do người ta cúng Arak mỗi khi gia đình có chuyện chẳng lành, nên có nhiều kiểu cúng Arak và tương ứng với đó là có nhiều dạng lễ vật tùy thuộc vào nội dung và tính chất cuộc lễ Nếu chuyện chẳng lành ấy cần phải cúng kiếng một cách quy mô, dĩ nhiên lễ vật cúng sẽ cầu kì và giá trị cao hơn như cúng đầu heo, gà luộc, vịt luộc…

Trang 34

Không chỉ thế, sự khác biệt trong lễ vật còn phụ thuộc vào từng Arak Theo Nguyễn Xuân Nghĩa [1987: 118] phân tích: Arak Cần Tôn Khiu là nữ, khi cúng phải có thịt ếch, thịt bò; Arak Chùm Teo Tây cũng là nữ, cúng bằng đầu heo luộc chín Đặc biệt Arak chờ Chut khi cúng khấn bằng những lời ca tục, đổ rượu vào gáo dừa, dâng lễ vật bằng chân và khi dâng phải chửi rủa

Ngoài phần quan trọng là lễ vật cúng thì không thể thiếu các vật dụng nhằm hỗ trợ cho buổi cúng bao gồm: khay, các loại trang phục, khăn đội đầu, bàn cúng, công cụ

- Bàn cúng: thường được làm bằng tre, trúc, gồm nhiều tầng trong đó người ta thường chỉ xây đến tầng thứ bảy

- Nhạc cụ: lễ cúng Arak đậm tính nghệ thuật, phối hợp nhịp nhàng giữa múa và nhạc, nhiều nhạc cụ được sử dụng như salây, đờn cò, trống, kèn…

Ngày nay, qua thu thập thông tin trên địa bàn Trà Vinh, chúng tôi được biết lễ vật cúng Arak không còn được cố định nữa, tùy vào nhận thức mỗi nhà “Bây giờ người ta không còn chỗ thờ nhưng vẫn còn nhớ đến Arak – Ne-ak Ta Người dân tộc Khmer bây giờ còn một số địa phương người ta còn tin, lúc làm đám gì nhỏ hay lớn thì cũng

có một mâm cúng, người ta đem lại một gốc nào đó để người ta cúng cảm ơn Arak – Ne-ak Ta trong vuông bảo vệ chỗ họ ở” [Biên bản phỏng vấn số 3]

2.2.4 Diễn biến nghi thức

Người Khmer xưa tin rằng, việc mắc bệnh lâu ngày không khỏi, tâm trí mơ màng, mùa màng thất thoát sở dĩ đó là do người trong nhà đã làm việc sai quấy nên bị Arak quở phạt Để chuộc lại những hành động sai quấy đó, thì gia đình phải mời thầy cúng về, tổ chức cúng vái và chọn ngày lành để dâng cúng lễ vật Liêng Arak là dạng hoạt động cầu cúng đặc biệt trong dạng thức tín ngưỡng Arak Sau khi định ngày tổ chức thì thấy bói (Krou Tậy) hướng dẫn sắm sửa những lễ vật cần thiết và bắt đầu dựng một cái chòi nhỏ trước nhà, lập một bàn cúng dài hình chữ nhật làm bằng tre

Trang 35

hoặc trúc rồi bện thành tấm dùng làm mặt bàn, phía trên có trải tấm vải trắng và để vật cúng lên Chỗ ngồi của Rụp cũng được lót vải trắng, mọi người xung quanh đó ngồi

vòng quanh để xem

“Trên bàn để một cặp Sla chôm, 1 cặp Sla tho và 1 cặp Bai - say, trong Sla chôm

có 5 miếng trầu, 5 miếng cau, 1 lọn tóc đanh, 5 hộp đựng cốm, 5 cái bông màu trắng (có thể là bông sứ trắng), còn trên Bai - say cắm cây đèn cầy trắng, những lễ vật này phải có, những vật đó xếp ở phía trước, phía sau (về hướng Đông) người ta bày các món như 2 dĩa để 2 con gà luộc hoặc vịt luộc, 1 dĩa đầu heo luộc hoặc cả con heo đựng trong cái xịa, 2 tô thịt rùa, hoặc thịt ếch nấu cari và có 4 dĩa đựng muối ớt, 4 dĩa muối tiêu là các món mặn ngọt gồm Num Triêng là loại bánh bột chiên, tròn dẹp nhưng nhỏ hơn bánh tai yến, chiên bằng dầu dừa, thường chỉ làm để cúng khi cúng xong mới ăn

và bình thường không làm bánh này để ăn; và món Num Kuôl Trây bằng bột gạo vo tròn chừng bằng ngón cái nấu với nước đường giống chè lủm chủm của người Việt” [Nguyễn Công Long 2014 : 42]

Sau khi cúng và dâng lễ vật, Rụp Arak sẽ đốt nhang và vái lạy “Coi như người

được Arak một lát nhập á thì ngồi giữa, mấy ông chơi nhạc thì bao vòng vòng Rồi có một người cha để hỏi, để tụng một hai câu nhưng mà ông Arak ngồi giữa thì nhắm mắt Ông cha tung một hai câu rồi mới nhập, có bốn năm ông chơi nhạc, có một ông ca

để cho Arak nhập…” [Biên bản phỏng vấn số 1] Khi người hát cầu Arak nhập bắt đầu thì ban nhạc cùng nổi lên, ban đầu thì chậm rãi sau nhanh dần Ban chơi nhạc phải phối hợp nhịp nhàng cùng ban chơi nhạc, mọi người xung quanh cổ vũ trong đó có một người hô “hê dzô, hê dzô” nhằm tạo hưng phấn cho Rụp Tuy nhiên để cho Arak nhập vào, người hát cần phải hát đúng bài mà Arak thích, bài hát đó có khi tục tỉu Trong lúc những người chơi nhạc đang hát thì Rụp Arak ngồi nhắm mắt, chắp tay trước bàn cúng Sau mười đến ba mươi phút khi Arak nhập vào đó cũng là khi Rụp lắc người liên tục đến rất nhanh Sự kết hợp giữa lắc người, run người và thân mình nhúng nhảy làm cho không khí trở nên tâm linh một cách lạ thường Sau đó, Rụp đứng dậy và tiếp tục múa, bước đi có phần loạng choạng và bắt đầu thay y phục đã chuẩn bị sẵn Để biết người đó là vị thần Arak nam hay nữ thì sẽ phụ thuộc vào việc Rụp Arak đặt vị trí khăn, nếu là nữ khăn sẽ được đội lên đầu, còn mở khăn buộc ngang thắt lưng thì là

Trang 36

Arak nam Nếu không có quá trình đặt khăn để biết vị thần đó thuộc giới tính gì thì chúng ta nhìn vào những hành động cử chỉ đặc trưng cho phái nữ thì là Arak nữ

Trong lễ cầu cúng Arak, ngoài âm thanh của ban nhạc, ngoài ánh sáng đèn cầy, của khói nhang mà làm cho không khí trở nên huyền bí Bên cạnh là những cử chỉ và ngôn ngữ của Arak tạo sự kích động khiến nhiều người chứng kiến phải sợ hãi và tin là Arak hiển linh Ngôn ngữ mà Arak sử dụng không giống người thường, khác về giọng

và âm phát ra cũng không rõ rệt khiến cho những người tham dự không thể hiểu được Phần lớn Arak chỉ gật đầu hoặc lắc đầu để biểu hiện sự đồng ý hay không đồng ý

“Trong lúc ổng nhập ổng nói gì mình cũng nghe không rõ mấy nhưng mà tóm lại mình xin Arak – Ne-ak Ta phù hộ cho con cháu trong xóm mạnh giỏi, không bệnh, đau ốm

gì hết…” [Biên bản phỏng vấn số 3]

Đối với việc trị bệnh thì người bệnh đeo trên mình một tấm vải trắng ngồi kế Rụp, khi Arak nhập vào sẽ cầm thanh kiếm đi vòng quanh và chạm nhẹ thanh kiếm vào người bệnh, sau đó phun nước lên trên đầu người bệnh rồi tiếp tục đốt nhang vái Khi Arak xuất ra thì Rụp trở lại bình thường, tuy nhiên không còn nhớ mình đã nói và

làm những gì “Xong chuyện là xuất ra à, chừng nào hết thì ra à Khi ra rồi cái xác này

nói gì cũng không biết đâu Nhập vô cũng như nằm mơ vậy đó, như mình đang đi chơi tùm lum tùm la rồi giật mình lại không biết mình đi đâu nữa” [Biên bản phỏng vấn số 4]

2.3 Chức năng của t c thờ cúng Arak

2.3.1 Chức năng tâ inh

Con người bắt đầu tin vào tín ngưỡng - tôn giáo khi sức mạnh bản thân không thể chế ngự lại sức mạnh của thiên nhiên Do vậy để bảo vệ cho chính mình, họ không những sợ hãi và còn thực hiện những phương thức sùng bái tự nhiên Người Khmer trong hoàn cảnh đó đã đặt niềm tin của mình vào Arak, để vị thần này trở thành điểm tựa trong đời sống tâm linh của họ “Sống ở đây đều phải tin tưởng Arak, vì hồi đó chưa có ai tuyên truyền, cũng chưa có đạo gì, chưa ai hướng dẫn gì chỉ có nghe ông Arak này thôi Hồi đó ổng linh thiêng ổng nói sao là vậy, bởi gì mình đâu có ai để tin, đâu có tôn giáo hay có đạo gì đâu để mình tin tưởng ai đó, chỉ có Arak này thôi…” [Biên bản phỏng vấn số 3]

Trang 37

Bên cạnh đó, vào buổi đầu sinh cư trên vùng đất mới gặp nhiều khó khăn, nhiều căn bệnh không được phát hiện kịp thời, không có thuốc men để chữa trị Từ bối cảnh đời sống thiếu thốn như thế, người Khmer tin vào vị thần Arak với chức năng lên đồng hướng dẫn cách chữa bệnh, nếu không làm như vậy thì họ cũng không còn cách nào khác “Arak là người đã mất về phù hộ, mình xem Arak như là thần bảo hộ, đem lại hạnh phúc cho mình, có thể chữa bệnh, phù hộ cho cuộc sống con người bình an, cho con người làm ăn khấm khá” [Biên bản phỏng vấn số 7]

Với tín ngưỡng Arak, người Khmer ở Trà Vinh không chỉ xem đây là vị thần thiện mà còn có thể là ác thần hoặc ma quỷ, Arak hiền hay ác tùy thuộc vào thái độ ứng xử của con người với Arak Vì thế họ cho rằng trong một số trường hợp, một cá nhân nào đó xúc phạm hoặc không làm theo lời Arak sẽ bị quở phạt, dẫn đến gặp phải những xui xẻo, bệnh tật, tai nạn… Khi đó, người phạm lỗi phải cúng Arak để chuộc lại lỗi lầm và nhận được sự tha thứ mới có thể tiếp tục có cuộc sống bình an Do đó để tránh bị quở phạt, người Khmer thờ cúng Arak để được cảm giác yên tâm hơn trong cuộc sống đời thường

2.3.2 Chức năng gi d c

Thờ cúng Arak ngoài thể hiện niềm tin tâm linh, còn mang chức năng giáo dục sâu sắc Bởi trước hết, Arak liên quan đến tổ tiên và dòng họ Thờ cúng Arak vừa là cách để nhắc nhở nhau về cội nguồn, vừa là hình thức bày tỏ lòng tôn kính Khi mỗi thành viên trong dòng họ tham gia vào lễ cúng Arak, họ nhận thức sâu sắc về sự tồn tại

và vị trí của mình trong dòng họ Tiếp theo, tập tục thờ cúng Arak còn nhắc nhở về thời xa xưa khốn khó của tiền nhân khi đặt chân lên vùng đất mới, đứng trước biết bao nguy nan Thờ cúng Arak còn phần nào giúp cho người đời sau hiểu hơn về cách ứng

xử với môi trường tự nhiên của các thế hệ ông cha ngày trước

Khi một hình thái tín ngưỡng thể hiện tính giáo dục, nó sẽ góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng, từ đó tạo sự ổn định cho cộng đồng Khi tham gia vào lễ cúng Arak, đứng trước thần thánh linh thiêng, mỗi người có thể gạt bỏ những toan tính lọc lừa của bản thân để cùng nhau gửi gắm niềm tin của mình vào thế giới tâm linh huyền bí và hướng về những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống hôm nay và mai sau Có ý thức về sự tồn tại của thần linh, dù thể hiện qua sự tôn kính hay sợ hãi,

Trang 38

nhưng cũng khiến người ta phần nào kìm hãm được những dục vọng của bản thân, điều chỉnh những hành vi của mình, từ đó hạn chế những điều lầm lỗi

Chức năng giáo dục không chỉ thể hiện qua những thông điệp nhắc nhở về lịch

sử, truyền thống, lối sống… mà còn thể hiện ở khía cạnh giáo dục thẩm mỹ Quan sát

lễ cúng Arak, cúng ta có thể thấy các yếu tố liên quan đến thẩm mỹ như trang phục,

âm nhạc, vũ đạo, thơ dân gian… được kết hợp hài hòa Như thế có thể nói, cúng Arak

là một dịp sinh hoạt cộng đồng để trao truyền cho thế hệ hôm nay những giá trị thẩm

mỹ mà các thế hệ đi trước đã sáng tạo và tích lũy

tự Arak, nghĩa là cùng hướng về một giá trị thiêng chung, sẽ có thể hạn chế được những mâu thuẫn trong đời sống tinh thần, hoặc xoa dịu những gút mắc mà họ từng có với nhau Sau nữa, khi mọi người cùng nhau chăm lo tổ chức lễ cúng Arak, hàng xóm

có thời gian gặp gỡ, thăm hỏi, trò chuyện… cùng nhau Trong quá trình chuẩn bị ấy, người thì lo thức ăn, người phụ trách trang trí miếu, người chuẩn bị các vật dụng… để phối hợp tạo nên sự thành công cho một nghi lễ thiêng liêng của cả cộng đồng

Sự hướng đến cộng đồng không chỉ thể hiện qua việc cùng nhau chia sẻ niềm tin

và thực hành tín ngưỡng, mà còn thể hiện qua ý nghĩa của thờ cúng Người Khmer cầu cúng Arak ngoài mong muốn được phù hộ bình an cho bản thân và gia đình, còn cầu mong cho phum srok được ấm no, mùa màng tươi tốt, chòm xóm làm ăn thuận lợi, không thiên tai hay dịch bệnh xảy ra… Nếu trong nhận thức họ nghĩ đến những điều tốt đẹp của cộng đồng, thì từ đó sẽ dẫn đến trong ứng xử họ cũng hướng về lợi ích của cộng đồng Từ đó giúp cho cộng đồng thêm đoàn kết và bền vững

Trang 39

2.4 Những yếu t văn hóa tộc người iên quan ến t c thờ cúng Arak

* Văn hóa mưu sinh

Cư trú ở vùng đồng bằng châu thổ đã lâu, người Khmer đã biết cách thích ứng và khai thác điều kiện tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống mưu sinh Họ là những cư dân rất thành thạo và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong nông nghiệp lúa nước Tuy nhiên bên cạnh tri thức sẵn có, họ còn phải xây dựng cho mình những niềm tin vào thế lực siêu nhiên có thể phù trợ cho công việc đồng áng, giúp mùa màng bội thu Từ nhận thức đó, tâm thức của người Khmer luôn có sự hiện diện của các thần linh cai quản đồng ruộng, trong đó có sự tin tưởng và thờ cúng Arak Mỗi dịp chuẩn bị đến mùa vụ

họ đều cúng vái Arak ruộng (Arak Sre) phù trợ cho được mùa, trúng lúa, rồi sau mùa

vụ sẽ đền đáp công ơn

Chị Thạch Thị Út cho biết: “Thường thường người ta làm lúa trúng là người ta làm con gà hoặc đầu heo gì đó rồi người ta đi ra chỗ đồng đó để cúng, cũng như là đem ra rồi kêu thần đồng lại ăn Thí dụ nữa là trong vuông mình nè, mà rộng rộng á rồi chỗ đó có cây cổ thụ nào đó mình để ý chỗ đó là có ma nhát hoặc có cái gì đó mà sợ á

là thường thường gia đình mình làm ăn không được hay bệnh quạng này nọ là mình đi cúng chỗ đó đó, là cúng gà cúng vịt đó như vậy đi Còn thần nhà thì người ta cầu bình

an với mạnh khỏe thôi hà” [Biên bản phỏng vấn số 5]

Người Khmer theo Phật giáo Nam tông, nhưng có những việc Phật giáo không thể đáp ứng nhu cầu của họ, vì thế họ còn tin vào các lực lượng siêu nhiên, đó là những thần linh có khả năng can thiệp vào cuộc sống thường nhật Các hoạt động mưu sinh thường phụ thuộc vào thiên nhiên nên gắn với những yếu tố may rủi, họ cho rằng việc được mùa hay mất mùa là do bàn tay của thần linh tác động Mặt khác, không chỉ cúng chế ngự thần linh đừng tác oai tác quái, họ còn cúng để cầu xin ban bình an, phước lành

Những điều đó có thể lý giải tại sao người Khmer vẫn tin vào sùng bái thần linh dân gian, vì nhu cầu hết sức thiết thực trong đời sống thực tế hằng ngày Qua đó có thể thấy, văn hóa mưu sinh của người Khmer có mối liên hệ mật thiết với tục thờ cúng Arak Đối với địa bàn Trà Vinh hiện nay, niềm tin ấy vẫn còn tồn tại Tuy nhiên, do tác động của nhiều nguyên nhân mà niềm tin đó dần phai nhạt, chứ chưa mất hoàn toàn

Trang 40

* Văn hóa ẩm thực

Những lễ vật được dùng để cúng Arak đều là những món ăn gần gũi trong đời

thường của đồng bào Khmer Với quan niệm về những thần linh dân gian vốn thân thiện với con người, nên việc cúng tế không cầu kỳ mà có thể chỉ cần những vật phẩm đơn giản, đôi khi có sẵn trong vườn nhà Các cộng tác viên mà cũng tôi thu thập tư liệu

ở Trà Vinh đều chia sẻ những thông tin tương đối giống nhau về lễ vật cúng Arak Theo ông Lâm Phenl: “lễ vật cúng Arak thường là một con gà, một nải chuối,

một trái dừa với rượu, đó có bấy nhiêu, bông cũng không có luôn” [Biên bản phỏng

vấn số 1] Theo ông Sơn Nhơn: “Arak chỉ cúng một trái dừa, một nảy chuối và một con gà” [Biên bản phỏng vấn số 2] Theo ông Thạch Hoạt: “thường thì đồ mặn hoặc cúng heo quay, không thì mình có gì dùng nấy, cúng đồ ăn như gia đình mình ăn hằng

ngày” [Biên bản phỏng vấn số 3] Theo bà Thạch Thi Toan: “cúng cho bà là cúng gà luộc, chuối, cốm dẹp, bánh tai yến, một chai rượu” [Biên bản phỏng vấn số 4]

Mặc dù những đặc sản trong văn hóa ẩm thực của người Khmer rất phong phú, nhưng khi cúng Arak thường tùy thuộc vào khả năng của từng gia đình, có gì cúng nấy Hiếm khi thấy người Khmer cúng cho Arak những lễ vật cầu kỳ, bởi đối với họ chủ yếu là tấm lòng, niềm tin dành cho Arak quan trọng hơn những lễ vật sang trọng Ngoài ra, còn tùy thuộc vào sở thích của từng loại Arak hoặc Arak từng vùng khác nhau mà có những thức cúng khác nhau Theo ông Thạch Hiền: “Đồ cúng cho Arak cũng tùy theo Arak vùng đó thích cúng món gì, chứ không phải Arak vùng nào cũng giống nhau Ví dụ như Arak vùng này thích con gà, chuối, rượu, cốm… Arak vùng khác thích món khác” [Biên bản phỏng vấn số 6]

* Văn hóa trang phục

Trong nghi thức Liêng Arak, trang phục cũng là một yếu tố quan trọng để chúng

ta nhận diện Arak đó là ai Ông Thạch Hiền cho biết, khi Arak nào nhập vào, người Rụp Arak cũng phải mặc bộ đồ giống với ngày xưa vị Arak đó từng mặc [Biên bản phỏng vấn số 6] Như vậy, trang phục mà Arak mặc lúc làm lễ tùy thuộc vào từng Arak thích trang phục gì lúc còn sống thì bây giờ các Rụp Arak sẽ mặc giống như vậy Thường thì các Arak hay mặc những trang phục thường ngày, như những bộ độ bà ba, quấn khăn rằn hoặc những trang phục, trang sức theo sở thích cá nhân của Arak được nhập Trang phục điển hình nhất vẫn là bộ bà ba và chiếc khăn rằn, bởi đó là hình ảnh

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 2. HÌNH ẢNH - Tục thờ cúng arak của người khmer ở trà vinh công trình nghiên cứu khoa học sinh viên giải khuyến khích cấp trường
2. HÌNH ẢNH (Trang 4)
HÌNH ẢNH - Tục thờ cúng arak của người khmer ở trà vinh công trình nghiên cứu khoa học sinh viên giải khuyến khích cấp trường
HÌNH ẢNH (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm