TÓM TẮT Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, Địa lí là một môn có tính không gian, bên cạnh những kiến thức về tự nhiên và kinh tế - xã hội, học sinh còn cần phải có những kĩ n
Trang 1GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
Trang 2GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
( Phạm vi khảo sát: các trường THPT tại TP.HCM)
Người hướng dẫn : TS Lê Minh Vĩnh Thực hiện:
Lê Thuỳ Ngân chủ nhiệm Nguyễn Thị Xuân An tham gia Bùi Thanh Tuấn tham gia Trần Thị Ngọc Vân tham gia
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Trang 3TÓM TẮT 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 5
3 Phương pháp nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Môn Địa lí ở trường phổ thông 9
1.1.1 Khoa học Địa lí và môn Địa lí ở trường phổ thông 9
1.1.2 Đặc điểm của môn Địa lí ở trường phổ thông 9
1.1.2.1 Nhiệm vụ - Phạm vi và khối lượng tri thức 9
1.1.2.2 Hệ thống tri thức Địa lí 9
1.1.3 Các phương pháp dạy học Địa lí ở trường phổ thông 10
1.2 Phương tiện dạy học trực quan và công cụ máy tính điện tử trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông 11
1.2.1 Phương tiện dạy học trực quan trong môn Địa lí 11
1.2.3 Công cụ máy tính điện tử trong dạy và học Địa lí ở trường phổ thông 12
1.3 Bản đồ truyền thống - Bản đồ số 13
1.3.1 Bản đồ truyền thống 13
1.3.1.1 Định nghĩa 13
1.3.1.2 Đặc điểm cơ bản 13
1.3.1.2 Phân loại 14
1.3.2 Bản đồ số 15
1.3.2.1 Định nghĩa 15
1.3.2.2 Đặc điểm 15
1.3.2.3 Các bước thành lập bản đồ số 17
1.4 Hệ thống thông tin Địa lí (GIS) 19
1.4.1 Khái niệm chung về GIS 19
1.4.2 Phần mềm công nghệ GIS và những ứng dụng 19
Trang 4hoặc GIS 22
1.5.1 Các CD – ROM và phần mềm 22
1.5.2 Các website 27
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC TẾ 2.1 Chương trình Địa lí 12 30
2.1.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 12 30
2.1.2 Sách giáo khoa Địa lí 12 30
2.1.3 Bản đồ dùng trong dạy và học Địa lí 12 32
2.2 Tình hình sử dụng bản đồ trong dạy và học Địa lí 12 tại Tp HCM 32 2.2.1 Tình hình sử dụng bản đồ trong việc dạy Địa lí 12 tại TpHCM 34
2.2.2 Tình hình sử dụng bản đồ trong việc học Địa lí 12 tại Tp HCM 37
CHƯƠNG 3: SẢN PHẨM ỨNG DỤNG 3.1 Công cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí lớp 12 40
3.1.1 Giới thiệu 40
3.1.2 Yêu cầu đối với công cụ hỗ trợ có ứng dụng GIS 40
3.1.2.1 Dữ liệu 40
3.1.2.2 Trình bày các nội dung 41
3.2.2.3 Giao diện 42
3.1.3 Ý nghĩa của việc sử dụng công cụ hỗ trợ có ứng dụng GIS trong dạy và học Địa lí lớp 12 42
3.2 Lựa chọn bài học minh hoạ cho công cụ hỗ trợ 43
3.2.1 Lý do chọn minh hoạ 43
3.2.2 Nội dung minh hoạ 44
3.3 Xây dựng công cụ hỗ trợ 44
3.3.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu 44
3.3.1.1 Tổ chức cơ sở dữ liệu 44
3.3.1.2 Thiết kế cơ sở dữ liệu 45
3.3.1.3 Thu thập dữ liệu 45
Trang 53.3.2 Xây dựng giao diện bằng ngôn ngữ lập trình Avenue trên phần
mềm ArcView 50
3.3.2.1 Việt hoá và đơn giản hoá giao diện ArcView 50
3.3.2.2 Lập trình giao diện Arcview 52
3.4 Đề xuất phương hướng sử dụng công cụ thông qua bài 38 của sách giáo khoa Địa lí 12 52
KẾT LUẬN 1 Kết quả đạt được 60
2 Đóng góp của đề tài 61
3 Hạn chế của đề tài 62
4 Hướng mở rộng của đề tài 62
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Bảng 1.1: So sánh tóm tắt ưu - nhược điểm của bản đồ truyền thống và bản đồ số 17
Bảng 2.1: Cấu trúc SGK Địa lí 12 32
Bảng 2.2: Mô tả mẫu khảo sát 33
Bảng 3.1: Vai trò của các giác quan trong việc học 43
Bảng 3.2: Dữ liệu biểu đồ và bảng số liệu thu thập được 46
Bảng 3.3: Dữ liệu bài viết, hình ảnh và phim minh hoạ thu thập được 48
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 1: Tỉ lệ các mức độ sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí lớp 12 34
Biểu đồ 2: Tỉ lệ giữa các loại bản đồ sử dụng trong dạy học Địa lí lớp 12 35
Biểu đồ 3: Tỉ lệ các mức độ hướng dẫn phân tích bản đồ của giáo viên trong dạy học Địa lí lớp 12 36
Biểu đồ 4: Tỉ lệ các mức độ hấp dẫn của giờ học Địa lí đối với học sinh lớp 12 36 Biểu đồ 5: Tỉ lệ các mức độ sử dụng bản đồ khi học bài ở nhà của học sinh lớp 12 37
Biểu đồ 6: Tỉ lệ các ý kiến nhận xét của học sinh về hiệu quả của việc sử dụng bản đồ hỗ trợ học Địa lí 38
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 1: Các bước thực hiện mục tiêu đề tài 7
Sơ đồ 2: Giáo viên trình bày bài giảng có sự hỗ trợ của máy tính điện tử 12
Sơ đồ 3: Học sinh làm việc trực tiếp với máy tính điện tử dưới sự hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ của giáo viên 12
Sơ đồ 4: Học sinh học tập độc lập trên máy tính điện tử theo chương trình 13
Sơ đồ 5: Các bước cơ bản trong quá trình xây dựng bản đồ số 18
Sơ đồ 6: Tổ chức nội dung SGK Địa lí 12 31
Sơ đồ 7: Tổ chức cơ sở dữ liệu 44
Trang 7DANH SÁCH CÁC HÌNH Trang
Hình 1.1: Giao diện làm việc của Atlat Địa lí Việt Nam 22
Hình 1.2: Giao diện làm việc của Atlat môi trường các vùng kinh tế Việt Nam 23 Hình 3.1: Giao diện theo bài học 50
Hình 3.2: Giao diện bản đồ 51
Hình 3.3: Giao diện bảng thuộc tính 51
Hình 3.4: Mở menu Bang so lieu- Bieu do 53
Hình 3.5: Mở bảng số liệu “ Cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệplâu năm của cả nước, Trung du- miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên năm 2005 (%) 54
Hình 3.6: Mở các lớp bản đồ Phan bo cay cong nghiep, Ti le dien tich trong cay cong nghiep và Vn_tinh 55
Hình 3.7: Phóng to một khu vực của Trung du- miền núi Bắc Bộ 55
Hình 3.8 : Mở hình ảnh từ menu Hinh anh 56
Hình 3.9: Biểu đồ phân vùng khí hậu và biểu đồ minh hoạ 57
Trang 8TÓM TẮT
Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, Địa lí là một môn có tính không gian, bên cạnh những kiến thức về tự nhiên và kinh tế - xã hội, học sinh còn cần phải có những kĩ năng thực hành như: đọc và nhận xét bản đồ, biểu đồ hoặc bảng số liệu,… Tuy nhiên, việc dạy và học Địa lí hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào sách giáo khoa và các bản đồ truyền thống Những phương tiện dạy học này thường cũ kĩ, ít sinh động và khả năng tương tác với người sử dụng còn rất hạn chế nên chưa khiến học sinh cảm thấy hứng thú đối với môn học và phần lớn kiến thức Địa lí học sinh tiếp thu được đều nặng về lý thuyết, không còn phù hợp với thực tế
Trong khi đó, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin,
công nghệ GIS (Georaphic Information System) với khả năng hỗ trợ việc tạo ra
các bản đồ số cũng đang ngày càng phát triển Bản đồ số được hỗ trợ các công
cụ thống kê, so sánh, có khả năng truy xuất nhanh các thông tin, dễ cập nhật và
có thể thay đổi kích thước tuỳ theo nhu cầu của người sử dụng sẽ phát huy tác dụng rất tốt nếu được ứng dụng trong xây dựng công cụ hỗ trợ dạy học môn Địa lí
Thực tế trên đã thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài này với hy vọng có thể nghiên cứu khả năng ứng dụng của phần mềm GIS trong việc tạo ra một công
cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí vừa hiệu quả vừa phù hợp với chương trình, cụ thể
là chương trình Địa lí 12 Trước mắt, đề tài giới hạn trong việc thể hiện những kết quả nghiên cứu thông qua một sản phẩm thử nghiệm với đầy đủ các chức năng và được minh họa cụ thể qua một bài học
Để thực hiện mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu đã sử dụng những phương pháp:
Tổng hợp tư liệu về chương trình Địa lí lớp 12, về các phương tiện hỗ trợ dạy học và các ứng dụng của GIS
Phân tích, so sánh ưu - nhược điểm của các sản phẩm hỗ trợ dạy học Địa lí đã có trước
Điều tra bảng hỏi đối với học sinh về thực tế học tập và hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ giảng dạy môn Địa lí lớp
o Chương trình Địa lí 12 và nội dung sách giáo khoa Địa lí
12 của Bộ giáo dục vào đào tạo
Trang 9o Tình hình sử dụng các phương tiện trực quan trong giảng dạy, học tập Địa lí 12 ở TP.HCM và hiệu quả của chúng
Đề xuất và phân tích những lợi ích của việc sử dụng công cụ hỗ trợ đa phương tiện được thiết kế trên phần mềm GIS vào dạy và học Địa lí
Đề cương thiết kế nội dung thể hiện cho 45 bài học trong sách
giáo khoa Địa lí 12 (Đề cương được trình bày ở phần phụ lục)
2 Sản phẩm cụ thể: Công cụ hỗ trợ được xây dựng dựa trên phần mềm ArcView để minh chứng cho các nghiên cứu và đề xuất trên Nội dung của sản phẩm này được minh hoạ thông qua một bài học trong chương trình Địa lí 12, cụ thể là bài số 38: “ Thực hành: So sánh hai vùng trung
du miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên về cây công nghiệp lâu năm và chăn nuôi gia súc lớn.”
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 111 Lý do chọn đề tài:
Những năm gần đây, tuy đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở nước ta nhưng kết quả của các kì tốt nghiệp trung học phổ thông có thi môn Địa lí hoặc các kì tuyển sinh đại học ở khối C đã cho thấy khả năng hiểu các vấn đề và thực hành các kĩ năng Địa lí của học sinh lớp 12 hiện nay còn rất yếu Trong khi đó, Địa lí là một môn học có tính không gian, bên cạnh những kiến thức về tự nhiên và kinh tế - xã hội, học sinh còn cần phải
có những kĩ năng thực hành như: đọc và nhận xét bản đồ, biểu đồ hoặc bảng số liệu,… Tuy nhiên, việc dạy và học Địa lí ở cấp trung học phổ thông hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào sách giáo khoa và các bản đồ truyền thống Những phương tiện dạy học này thường cũ kĩ, ít sinh động và khả năng tương tác với người sử dụng còn rất hạn chế nên chưa khiến học sinh cảm thấy hứng thú đối với môn học và phần lớn kiến thức Địa lí Địa lí học sinh tiếp thu được đều nặng về lý thuyết, không còn phù hợp với thực tế
Hiện nay, tại những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, điều kiện cơ sở vật chất của các trường phổ thông tương đối tốt, học sinh có điều kiện được học tập với các thiết bị hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, Nhưng đó chỉ là “phần cứng” còn phần nội dung bài giảng, tư liệu giảng dạy, bản đồ, hình ảnh,… giáo viên vẫn phải tự tìm kiếm hoặc quét từ sách giáo khoa
và atlas truyền thống rồi biên soạn lại Công việc này đòi hỏi phải mất rất nhiều thời gian và phụ thuộc vào khả năng và sự chủ động của từng giáo viên Kết quả là học sinh ít có cơ hội được tham gia những giờ học có sử dụng công cụ
hỗ trợ giảng dạy hiện đại để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của các em
Trong khi đó, ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, công nghệ GIS cũng ngày càng phát triển với nhiều phần mềm chuyên dụng như: Arc/Info, Mapinfo, Intergraph, Wingis… Một trong những chức năng của các phần mềm này là hỗ trợ việc tạo ra các bản đồ số với những
ưu điểm vượt trội hơn so với bản đồ truyền thống Bản đồ số được hỗ trợ các công cụ thống kê, so sánh, có khả năng truy xuất nhanh các thông tin, dễ cập nhật và có thể thay đổi kích thước tuỳ theo nhu cầu của người sử dụng Những
ưu điểm trên sẽ phát huy tác dụng rất tốt nếu được ứng dụng trong xây dựng công cụ hỗ trợ dạy học môn Địa lí Công cụ hỗ trợ này không những sẽ giúp giáo viên chủ động hơn trong giảng dạy mà còn mang đến cho học sinh nhiều
cơ hội được thực hành các kiến thức đã học
Trước thực tế đó, nhóm nghiên cứu chọn đề tài này với hy vọng có thể
sử dụng phần mềm GIS tạo ra một công cụ hỗ trợ giảng dạy và học tập Địa lí hiệu quả hơn, giúp giáo viên chủ động hơn trong giảng dạy và học sinh có cơ hội thực hành tốt hơn
Trang 122 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài:
a Mục tiêu:
Mục tiêu cơ bản của đề tài là:
Nghiên cứu và phân tích những lợi ích của việc sử dụng bản đồ số, hình ảnh trực quan trong dạy và học Địa lí Trên cơ sở đó, đề xuất việc sử dụng công cụ hỗ trợ trong giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông
Sử dụng phần mềm GIS để tạo ra một công cụ hỗ trợ dùng trong việc dạy và học Địa lí ở lớp 12, được minh hoạ qua một bài học cụ thể để minh chứng cho đề xuất trên
b Nhiệm vụ:
Để thực hiện các mục tiêu trên, nhóm nghiên cứu cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Tìm hiểu về chương trình Địa lí 12 của Bộ giáo dục và đào tạo, tình hình
sử dụng bản đồ và các công cụ hỗ trợ khác trong dạy và học Địa lí ở một
số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh
Tham khảo một số công cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí có ứng dụng công nghệ thông tin hoặc GIS ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Nắm được các khái niệm về bản đồ truyền thống, bản đồ giáo khoa, bản
đồ số, GIS và các ứng dụng của GIS
Phân tích các yêu cầu đối với công cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí 12
Nắm được các kĩ năng sử dụng cơ bản của phầm mềm Arcview và ngôn ngữ lập trình Avenue để thiết kế một công cụ mẫu với phần nội dung minh hoạ cho một bài học trong sách giáo khoa Địa lí 12 của Bộ giáo dục và đào tạo
c Giới hạn:
Đề tài không tập trung vào việc xây dựng một sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho cả chương trình Địa lí lớp 12 mà chỉ phân tích các nội dung và yêu cầu để thiết kế một công cụ hỗ trợ với các chức năng hữu ích cho việc dạy và học Địa lí Sau đó, do thời gian có hạn, nhóm nghiên cứu sẽ chọn một bài tiêu biểu để cung cấp các bản đồ, biểu đồ, hình ảnh, bảng biểu, minh hoạ cho các chức năng đó
Trước mắt, nhóm nghiên cứu chưa đặt ra mục tiêu phổ biến rộng rãi công cụ hỗ trợ này vào thực tế mà mới chỉ dừng lại ở một sản phẩm thử nghiệm thể hiện ứng dụng của GIS trong dạy và học Địa lí
Sản phẩm của đề tài sẽ gồm những nội dung sau:
Báo cáo phân tích tình hình sử dụng bản đồ trong dạy và học Địa lí lớp 12 tại một số trường THPT tại Tp.HCM
Đề xuất và phân tích yêu cầu khi ứng dụng phần mềm GIS để xây dựng một công cụ hỗ trợ dạy và học địa lí ở trường phổ thông
Trang 13 Minh hoạ ứng dụng trên qua một sản phẩm cụ thể
3 Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng
những phương pháp sau:
Phương pháp điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu
Phương pháp tổng hợp tư liệu
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Việc nghiên cứu của đề tài được thực hiện theo các bước sau:
Xác định nội dung chung
Tìm hiểu nhu cầu thực tế
Tìm hiểu về nội dung chương trình Địa lý 12
Tìm hiểu về GIS
và ứng dụng của GIS trong xây dựng bản đồ số
Tổng quan tư liệu
Đề xuất các hướng sử dụng
Khảo sát ý kiến học sinh thông qua bảng hỏi
Đánh giá khả năng đưa ứng dụng vào thực tế
Tìm hiểu về phương pháp và phương tiện dạy học ở trường phổ thông
Xác định đối tượng cụ thể (nội dung của sản phẩm)
Công cụ hỗ trợ
Trang 14Sơ đồ 1: Các bước thực hiện mục tiêu đề tài
Đánh giá sản phẩm
Hoàn chỉnh sản phẩm
Trang 15CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Môn Địa lí ở trường phổ thông
1.2 Phương tiện dạy học trực quan
và công cụ máy tính điện tử trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông
1.3 Bản đồ truyền thống - Bản đồ
số
1.4 Hệ thống thông tin Địa lí (GIS)
1.5 Các công cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí có ứng dụng công nghệ thông tin hoặc GIS
Trang 161.1 Môn Địa lí ở trường phổ thông:
1.1.1 Khoa học Địa lí và môn Địa lí ở trường phổ thông:
Trong hệ thống các ngành khoa học, Địa lí là một trong những ngành có lịch sử phát triển lâu đời, ngay từ thời cổ đại Khoa học Địa lí ngày nay là một
hệ thống gồm nhiều ngành khoa học có đối tượng và nhiệm vụ khác nhau, trong đó có hai hướng chủ yếu liên quan hết sức chặt chẽ với nhau là: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội Tương ứng với khoa học Địa lí, môn Địa lí ở trường phổ thông hiện nay cũng gồm cả hai phần: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh
Toàn bộ những tri thức được chọn lọc dạy trong nhà trường phổ thông đều được sắp xếp theo tính chất khoa học của Địa lí: Địa lí tự nhiên học trước Địa lí kinh tế - xã hội, các yếu tố đại cương được cung cấp làm cơ sở cho Địa lí khu vực
Một số phương pháp nghiên cứu của khoa học Địa lí cũng luôn được sử dụng trong quá trình dạy học như: phương pháp bản đồ, phương pháp phân tích các số liệu thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp thực địa,
1.1.2 Đặc điểm của môn Địa lí ở trường phổ thông:
1.1.2.1 Nhiệm vụ - Phạm vi và khối lượng tri thức:
Theo PSG.TS Đặng Văn Đức (Lý luận dạy học Địa lí): “môn Địa lí
trong ở trường phổ thông có nhiệm vụ chọn lọc và giảng dạy những tri thức, chân lý đã được tìm ra và được thừa nhận Ngoài ra, môn học này còn có nhiệm
vụ rèn luyện cho học sinh một loạt những kĩ năng, kĩ xảo giúp các em có khả năng vận dụng tri thức Địa lí một cách có hiệu quả cao vào thực tiễn cuộc sống.”
Phạm vi và khối lượng tri thức của môn Địa lí là những kiến thức cơ bản nhất, phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường nói chung, của từng cấp học nói riêng và phù hợp với trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh Trong khi xác định phạm vi, khối lượng, chiều sâu và mức độ chính xác của tri thức phải chú ý đến tính chất phổ thông của nhà trường và thời gian dành cho môn học trong kế hoạch dạy học
Trình tự sắp xếp các kiến thức trong môn Địa lí ở trường phổ thông chủ yếu do logic nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý học sinh quyết định
1.1.2.2 Hệ thống tri thức Địa lí :
Trang 17Các tri thức Địa lí được dạy trong nhà trường gồm một hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Địa lí được lựa chọn trong hệ thống tri thức của khoa học Địa lí và được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm cung cấp nội dung học vấn và giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông
Các kiến thức Địa lí: là thành phần chủ yếu của nội dung học vấn Địa lí
Các kiến thức Địa lí có thể phân ra thành hai nhóm:
Các kiến thức thực tiễn hay kinh nghiệm gồm các số liệu, sự kiện, biểu tượng và các mô hình sáng tạo về Địa lí
Các kiến thức lý thuyết gồm các khái niệm Địa lí, các mối quan hệ nhân – quả, các quy luật, các thuyết, các tư tưởng, các vấn đề, phương pháp luận của Địa lí học, các kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu Địa lí
Các kĩ năng, kĩ xảo Địa lí: Kĩ năng, kĩ xảo nói chung là phương thức thực
hiện một hành động nào đó, thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành kĩ xảo Muốn có kĩ năng,
kĩ xảo trước hết học sinh phải có kiến thức và biết cách vận dụng chúng vào thực tiễn Hiện nay, trong môn Địa lí, việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh đều nhằm vào năm hướng:
Kĩ năng làm việc với bản đồ, khai thác kiến thức Địa lí tàng trữ trong bản đồ gồm các kĩ năng định hướng trên bản đồ, đo tính, tìm tọa độ Địa
lí trên bản đồ, xác định vị trí các đối tượng Địa lí trên bản đồ, đọc các bản đồ và sử dụng bản đồ
Kĩ năng khảo sát các hiện tượng Địa lí ngoài thực địa
Kĩ năng học tập và làm việc với các tài liệu Địa lí như kĩ năng đọc, lập các biểu đồ, phân tích các số liệu thống kê, các mô hình, lát cắt,
Kĩ năng nghiên cứu Địa lí bao gồm các kĩ năng làm với các tài liệu tham khảo Địa lí, kĩ năng mô tả, viết và trình bày những vấn đề về Địa lí
Kĩ năng làm việc với máy tính và các phần mềm Địa lí như: kĩ năng sử dụng máy vi tính để viết văn bản, vẽ biểu đồ, khai thác và học tập, tương tác với các phần mềm Địa lí có sẵn
1.1.3 Các phương pháp dạy học Địa lí ở trường phổ thông:
Các phương pháp dạy học hiện nay rất phong phú và đa dạng Trải qua một thời gian dài trong quá trình phát triển giáo dục, con người đã tích lũy được nhiều phương pháp dạy học nên việc phân loại chúng là một vấn đề phức tạp và cực kì khó khăn Đối với môn Địa lí, do các đối tượng (sự vật, hiện tượng, quá trình Địa lí) đều được phân bố cố định trong một không gian rộng lớn, học sinh không phải lúc nào cũng có thể tiếp xúc trực tiếp với chúng một cách dễ dàng nên trong phương pháp dạy học Địa lí, việc làm cho học sinh có được tri thức đầy đủ về các đối tượng được học là một vấn đề hết sức quan trọng
Trang 18Chính vì lý do đó mà trong việc dạy học Địa lí từ trước đến nay người ta chủ yếu sử dụng ba nhóm phương pháp, được phân theo ba nguồn tri thức:
Nhóm phương pháp dùng lời (nói và viết) : với mục đích mô tả, kể hoặc
ghi chép lại những sự vật, hiện tượng, quá trình Địa lí xảy ra trên các lãnh thổ khác nhau ở khắp mọi nơi trên Trái Đất
Nhóm phương pháp trực quan: với mục đích sử dụng các tranh ảnh, bản
đồ, mô hình, tái tạo lại hình ảnh của các sự vật, hiện tượng Địa lí mà học sinh không có điều kiện quan sát trực tiếp
Nhóm phương pháp thực tiễn: dựa vào việc quan sát trực tiếp các đối
tượng Địa lí ngoài thực địa
Ba nhóm phương pháp này được sử dụng từ lâu trong quá trình dạy học
bộ môn Địa lí trong nhà trường phổ thông và đã trở thành những phương pháp truyền thống Cho đến nay, các phương pháp này vẫn được dùng phổ biến trong nhà trường ở Việt Nam.Tuỳ theo khả năng, thời gian, điều kiện cơ sở vật chất và mục đích của tiết học mà giáo viên có thể sử dụng riêng lẻ từng phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp khi giảng dạy
1.2 Phương tiện dạy học trực quan và công cụ máy tính điện tử
trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông:
1.2.1 Phương tiện dạy học trực quan trong môn Địa lí:
Trong ba phương pháp dạy học Địa lí đã nêu ở trên, phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa quan trọng vì đối với một môn học có tính không gian như Địa lí, việc dùng lời để mô tả các đối tượng, hiện tượng thường rất khó khăn Hơn nữa, khi học Địa lí ở trên lớp, học sinh chỉ có thể quan sát được một phần nhỏ các đối tượng ở xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì không có điều kiện quan sát trực tiếp nên phải nhờ vào các phương tiện trực quan
Những phương tiện trực quan thường được dùng trong việc dạy học Địa lí:
Các loại bản đồ, sơ đồ, biểu đồ: phản ánh đối tượng Địa lí bằng hình ảnh
Các mẫu vật, các bộ sưu tập: phản ánh trực tiếp đối tượng Địa lí
Các mô hình, tranh ảnh, phim: tái tạo lại đối tượng Địa lí bằng hình ảnh Hiện nay, viện sử dụng các phương tiện trực quan có hai hình thức:
Giáo viên dùng các phương tiện trực quan để vừa giảng vừa minh họa những kiến thức Địa lí để học sinh dễ lĩnh hội lời giảng qua việc tri giác trực tiếp với đối tượng quan sát
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát các phương tiện trực quan và yêu cầu giải thích những kiến thức trong bài hoặc làm sáng tỏ những mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Địa lí
Trang 191.2.3 Công cụ máy tính điện tử trong dạy và học Địa lí ở trường phổ thông:
Máy tính điện tử là một thiết bị kĩ thuật có nhiều ưu điểm để phục vụ cho những hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống, trong đó có lĩnh vực giáo dục Cùng với những phần mềm chuyên dụng ngày càng được cải tiến, máy tính điện tử đã trở thành một công cụ hỗ trợ dạy và học hiệu quả trong các môn học nói chung và trong môn Địa lí nói riêng
Hiện nay có rất nhiều phần mềm được sử dụng rộng rãi trong dạy học Những phần mền này thuộc hai loại:
Loại thứ nhất là những phần mềm chung, được làm ra không phải với mục đích dạy học nhưng sẽ được khai thác vào mục đích này (Vd: Microsoft Word, Microsoft Excel, Powerpoint, )
Loại thứ hai gồm những phần mềm được làm ra với mục đích dạy học Với tư cách là công cụ dạy học, máy tính điện tử được sử dụng dưới những hình thức cơ bản sau:
Hình thức sử dụng này chủ yếu vẫn lấy giáo viên làm trung tâm, máy tính điện tử đóng vai trò như một công cụ hiển thị, minh hoạ cho bài giảng nên mặc dù giờ học có sinh động hơn nhưng chưa phát huy được sự chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức Đây là hình thức được sử dụng phổ biến ở nước ta hiện nay vì chỉ yêu cầu mỗi lớp được trang bị một máy chiếu và một máy vi tính
Giáo viên Máy tính điện tử
Học sinh
Máy tính điện tử Máy tính điện tử
Học sinh
Giáo viên
Sơ đồ 2: Giáo viên trình bày bài giảng có sự hỗ trợ của máy tính điện tử
Sơ đồ 3: Học sinh làm việc trực tiếp với máy tính điện tử dưới sự hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ của giáo viên
Trang 20Trong hình thức này, máy tính điện tử được sử dụng để giúp học sinh kiểm tra kiến thức và rèn luyện các kĩ năng đã được học Ví dụ: trong giờ học, học sinh sử dụng máy tính điện tử để làm câu hỏi trắc nghiệm Địa lí Qua màn hình, máy sẽ cho biết đáp án và nêu hướng dẫn hoặc bài tập tiếp theo Khi học sinh đã đạt yêu cầu ở một mức độ nào đó, máy sẽ đưa ra những yêu cầu hoặc bài tập khó hơn Trong quá trình học sinh làm việc, máy sẽ báo cho giáo viên diễn biến kết quả học tập của từng học sinh Với hình thức này, học sinh có thể rèn luyện kĩ năng với cường độ phù hợp với khả năng của mình và giáo viên cũng có thì giờ theo sát những em học yếu hơn Các học này yêu cầu mỗi học sinh phải làm việc với một máy vi tính Điều kiện cơ sở vật chất của các trường học ở nước ta hiện nay rất khó đáp ứng yêu cầu này
Sơ đồ 4: Học sinh học tập độc lập trên máy tính điện tử theo chương trình
Đây là hình thức sử dụng cho phép học sinh phát huy tính chủ động rất cao Không những chủ động về thời gian, không gian học tập, mà học sinh còn
có thể tự sắp xếp lại kiến thức hoặc tạo ra những chương trình học phù hợp với khả năng và mục đích của mình Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi học sinh phải có ý thức học tập nghiêm túc, có kĩ năng làm việc với các phần mềm và phải được trang bị kiến thức từ trước Đối với đa số học sinh ở nước ta hiện nay, cách học này còn mới và tương đối khó
Các kiến thức về phương pháp và phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông trên đây là nền tảng để nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng công
và dựa vào một cơ sở toán nhất định để đảm bảo tính chính xác
1.3.1.2 Đặc điểm cơ bản:
Bản đồ truyền thống có 3 đặc trưng cơ bản:
Cơ sở toán học của bản đồ bao gồm hệ tọa độ, phép chiếu bản đồ, tỉ lệ
bản đồ…Cơ sở toán qui định hai bước chuyển từ bề mặt tự nhiên của Trái Đất
Máy tính điện tử
Máy tính điện tử
Học sinh Máy tính
điện tử
Trang 21đến sự biểu hiện lên mặt phẳng Bước thứ nhất là chiếu bề mặt địa hình phức tạp của Trái đất lên bề mặt ellipsoid tròn xoay Bước thứ hai là thể hiện mặt ellipsoid tròn xoay lên mặt phẳng Quá trình thứ hai này sẽ làm xuất hiện những nếp gấp, khe hở hoặc biến dạng hình học…gọi chung là những sai số do
sự khác nhau về đặc điểm hình học giữa ellipsoid tròn xoay và mặt phẳng Vì vậy, người ta xây dựng các phép chiếu bản đồ nhằm xác định được sự phụ thuộc có tính chất hàm số giữa tọa độ các điểm tương ứng trên mặt phẳng và trên mặt đất Nhờ vậy, khi biết được phép chiếu được sử dụng để tạo bản đồ, chúng ta có thể đánh giá cơ bản sự đúng đắn về vị trí, hình dạng, kích thước của những đối tượng được thể hiện trên bản đồ
Sử dụng các kí hiệu bản đồ cho phép:
Thể hiện trên bản đồ đầy đủ những đối tượng cần thiết, dù các đối tượng này có kích thước rất nhỏ hoặc rất lớn, thâu tóm chúng trong tầm nhìn của lãnh thổ Ngoài ra, kí hiệu bản đồ còn thể hiện được một phần bản chất của đối tượng thông qua màu sắc, hình dạng, kích thước của kí hiệu
Thể hiện được địa hình mặt đất (qua các đường đồng mức)
Loại bỏ những chi tiết thứ yếu, phụ của các đối tượng, đồng thời nêu được những dấu hiệu đặc trưng của chúng
Khái quát hóa bản đồ là việc lựa chọn và tổng hợp những đối tượng,
hiện tượng cần hiển thị Sự khái quát hóa phụ thuộc nhiều ở tỉ lệ bản đồ, bản
đồ có tỉ lệ lớn thì thể hiện thông tin đối tượng chi tiết hơn các bản đồ có tỉ lệ nhỏ hơn cùng loại, trên cùng một vùng phủ
Ngoài ra, khái quát hóa còn chịu chi phối bởi mục đích sử dụng, phương thức sử dụng của bản đồ Ví dụ như bản đồ giáo khoa thì mức độ chi tiết, chính xác không bằng bản đồ dùng trong quân sự; cùng một vùng không gian, cùng một tỷ lệ, bản đồ treo tường sẽ khái quát cao hơn do kích thước các kí hiệu và chữ lớn
1.3.1.2 Phân loại:
Có nhiều loại bản đồ khác nhau tùy vào tiêu chí dùng để phân loại :
Phân loại theo tỉ lệ: có bản đồ tỉ lệ lớn, bản đồ tỉ lệ trung bình và bản
đồ tỉ lệ nhỏ
Phân loại theo nội dung: có bản đồ Địa lí chung và bản đồ chuyên đề
Phân loại theo phương thức sử dụng: có bản đồ treo tường và bản đồ
để bàn
Phân loại theo mục đích sử dụng: có bản đồ kinh tế quốc dân, bản
đồ quân sự, bản đồ giáo khoa, bản đồ nghiên cứu…
Phục vụ cho quá trình nghiên cứu tạo sản phẩm, nhóm đã đi vào tìm
hiểu về bản đồ giáo khoa Dưới đây là những đặc điểm cơ bản của bản đồ giáo
khoa:
Trang 22 Bản đồ giáo khoa là là nguồn tài liệu giáo khoa phục vụ cho việc dạy, học và nghiên cứu trong một loạt các môn học khác nhau trong nhà trường, nhưng phổ biến nhất là trong Địa lí và lịch sử
Ngoài những đặc điểm chung của một bản đồ về cơ sở toán học, ngôn ngữ bản đồ, khái quát hoá bản đồ…bản đồ giáo khoa còn có những đặc điểm riêng phù hợp cho việc dạy và học: đó là phải đảm bảo tính khoa học, tính trực quan và tính sư phạm:
o Tính khoa học thể hiện đòi hỏi bản đồ giáo khoa phải đảm bảo sự chính xác, chứa đựng một thông tin thích hợp
o Tính trực quan đòi hỏi bản đồ giáo khoa phải có tính khái quát hóa cao, dùng nhiều hình ảnh và phương pháp hiển thị trực quan, đảm bảo cho học sinh nhận biết và hiểu nội dung bản đồ tốt hơn
o Tính sư phạm đòi hỏi bản đồ giáo khoa phải đảm bảo tính tương ứng giữa bản đồ với chương trình sách giáo khoa, với tâm lý lứa tuổi học sinh, hoàn cảnh nhà trường…
Ngoài ra, để vừa giáo dục óc thẩm mỹ vừa tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, bản đồ giáo khoa cần trình bày đẹp, ưa nhìn
1.3.2 Bản đồ số:
1.3.2.1 Định nghĩa:
Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên những thiết
bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ
Công cụ hiển thị dữ liệu dưới dạng hình ảnh bản đồ
Bản đồ số vô hình khi ở trong các thiết bị ghi hoặc bộ nhớ của máy tính, hữu hình khi được hiển thị đồ hoạ lên màn hình máy tính điện tử hoặc các thiết
bị ghi hình khác Nếu một bản đồ số được vẽ ra thành hình ảnh trên vật liệu phẳng như giấy hoặc phim nhựa sẽ trở thành bản đồ dạng truyền thống
1.3.2.2 Đặc điểm:
* Bản đồ số chứa đựng thông tin không gian, được quy chiếu về mặt phẳng Có nghĩa là bản đồ số phản ánh không gian hai chiều (tọa độ X, Y) của các đối tượng Địa lí, chiều thứ ba là thuộc tính định danh hoặc số lượng Ngoài
ra, bản đồ số vẫn được thiết kế theo các tiêu chuẩn của bản đồ học, gồm:
Cơ sở toán
Khái quát hoá
Sử dụng các phương pháp kí hiệu truyền thống
Trang 23* Dữ liệu bản đồ được thể hiện theo nguyên lý số Thông tin bản đồ
được phân chia ra thành những phần tử nhỏ nhất, ta gọi là thực hiện phép rời
rạc hoá và mô hình hoá chúng theo những phương pháp số, cho phép tồn tại và
vận hành trong hệ thống máy tính điện tử
Có hai phương pháp mô hình hoá dữ liệu không gian và dữ liệu bản đồ
trong máy tính (hai dạng mô hình), gọi là cấu trúc dữ liệu, gồm:
Cấu trúc dữ liệu dạng Raster
Cấu trúc dữ liệu dạng Vector
* Bản đồ số thông thường được lưu trong đĩa cứng của máy tính điện tử
để làm việc trực tiếp, lưu trong đĩa quang, đĩa mềm để bảo quản hoặc để
chuyển giao đi nơi khác
* Bản đồ số có thể hiển thị dưới dạng bản đồ truyền thống, hiển thị lên
màn hình, in ra giấy hoặc các vật liệu phẳng ( phim dương, phim âm, màng
khắc )
* Tính linh hoạt của bản đồ số rất cao:
Thông tin có thể thường xuyên và dễ dàng được hiệu chỉnh (chỉnh lý)
Có thể in ra những tỷ lệ khác nhau khi cần bản vẽ đồ hoạ
Có thể tách lớp hoặc chồng xếp thông tin bản đồ
Cho phép phân tích, biên tập thành một dạng bản đồ mới (Sửa đổi kí
hiệu, màu sắc, đường nét hoặc điều chỉnh kích thước bản đồ, biến đổi
thông tin, thiết kế ban đầu,…)
Cho phép tự động hoá quy trình công nghệ thành lập bản đồ từ khâu
nhập số liệu đến khâu in ra bản đồ màu hoặc bản thanh vẽ bằng máy vẽ
tự động và tiếp nối với dây chuyền tự động hoá chế bản – in bản đồ
Có quy tắc bảo vệ dữ liệu nhằm tránh bị mất dữ liệu do sự cố kĩ thuật
hay thông tin gốc bị sửa chữa
Thể hiện Trên một mặt giấy
Hình thức (màu, kí hiệu,…), tỷ lệ vùng thể hiện cố định
Không có âm thanh, hình ảnh động
Kích thước bản đồ có thể rất lớn theo khổ giấy
Nhiều lớp (layer), linh động
Có thể thay đổi hình thức, tỷ lệ, tầm nhìn theo yêu cầu
Có hỗ trợ multimedia
Bị hạn chế tầm nhìn bởi kích thước,
độ phân giải màn hình
Khai thác Dò tìm, đo vẽ phân tích thủ công
Đòi hỏi kĩ năng thao tác
Truy xuất nhanh theo yêu cầu Có công cụ thống kê, so sánh, phân tích,
đo tính tự động
Đòi hỏi người sử dụng có kỹ
Trang 24chuyên nghiệp năng sử dụng máy tính
Cập nhật Phải sửa, in lại toàn bộ khi có biến
động
Thực hiện từng phần nhanh, dễ dàng
Xây dựng Nhiều công đoạn được thực hiện thủ
công: chậm, chất lượng không ổn định, phụ thuộc chủ quan, không nhất quán
Các bước được thực hiện trên máy, nhanh chóng, chất lượng sản phẩm
ổn định
Cần phải tốn kinh phí đầu tư thiết bị
và đào tạo nhân lực
Xuất bản Trên giấy, phải in toàn bộ
Trong quy trình công nghệ thành lập bản đồ số có ba công đoạn cơ bản:
Bước 1: Thu thập dữ liệu:
Các dữ liệu của bản đồ số được thu thập từ những nguồn sau:
Đo vẽ trực tiếp thực địa ( kinh vĩ quang học, điện tử, toàn đạc điện tử,
các phép đo khác)
Ảnh hàng không, ảnh vệ tinh
Các bản đồ hiện hữu
Các bảng tính toán
Bước 2: Xử lý dữ liệu: Quá trình xử lý dữ liệu bao gồm:
* Nhập dữ liệu: có thể chia thành 3 dạng chính dựa trên phương pháp
nhập:
Nhập dữ liệu số: dữ liệu số là dữ liệu đã có sẵn ở dạng nhị phân, có thể
đưa thẳng vào máy tính điện tử, không phải qua các thiết bị số hoá Ví
dụ: các số liệu thu thập được từ GPS, các máy toàn đạc điện tử,…Dữ
liệu dạng số còn được truyền trực tiếp giữa các máy tính với nhau thông
qua mạng hoặc chuyển qua thiết bị trung gian như băng từ, đĩa từ, đĩa
quang,…
Nhập dữ liệu dạng hình ảnh: phân biệt ra hai loại:
Trang 25o Ảnh: bao gồm ảnh hàng không, ảnh vũ trụ, ảnh mặt đất,…
o Bản vẽ: bao gồm bản đồ, sơ đồ, hình vẽ các loại
Phương pháp nhập dữ liệu dạng hình ảnh vào máy tính điện tử là
phương pháp số hoá
Nhập dữ liệu dạng văn bản: dữ liệu dạng văn bản là các tài liệu cung
cấp thông tin về nội dung của bản đồ Dữ liệu dạng văn bản được đưa
vào máy tính nhờ bàn phím của máy tính
* Tính toán, xử lý hoặc biên tập nội dung bản đồ bằng các phần mềm
trên máy tính
Bước3: Xuất và lưu trữ dữ liệu:
Bản đồ số hoặc cơ sở dữ liệu bản đồ sau khi được thành lập hoàn chỉnh
cần được lưu trữ an toàn và theo trình tự sử dụng Dữ liệu có thể được lưu trên
ổ cứng, đĩa mềm, đĩa quang,… hoặc được xuất ra dưới dạng bản đồ tương đồng
hiện trên màn hình, in ra giấy hay các vật liệu phẳng ( phim trong, màng khắc,
phim âm bản,…)
Sơ đồ 5: Các bước cơ bản trong quá trình xây dựng bản đồ số
Vì các bản đồ sử dụng trong công cụ hỗ trợ mà nhóm nghiên cứu muốn
hướng đến đều là các bản đồ số nên việc tìm hiểu về các bước thành lập bản đồ
số là một khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ
- Xác định phương pháp thực hiện
- Xác định quy trình thực hiện và những quy định cụ thể
Trang 261.4 Hệ thống thông tin Địa lí (GIS):
1.4.1 Khái niệm chung về GIS:
Thuật ngữ GIS được sử dụng thường xuyên trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Địa lí, kỹ thuật tin học, các hệ thống tích hợp sử dụng trong các ứng
dụng môi trường, tài nguyên, trong khoa học về xử lý dữ liệu không gian
GIS là chữ viết tắt của: Geographical Information System
Geographical Information Science Geographical Information Study
Riêng với hệ thống thông tin Địa lí ( GISystem), do sự đa dạng của các lĩnh vực sử dụng, các phương pháp và khái niệm khác nhau được ứng dụng trong GIS, dẫn đến có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GISystem
Có thể hiểu một cách chung nhất: “GIS là hệ thống làm việc với lại
thông tin đặc biệt: thông tin Địa lí; và là một tập hợp có tổ chức bao gồm: phần cứng, phần mềm máy tính, dữ liệu Địa lí, con người và quy trình; được thiết kế nhằm mục đích thu thập, lưu trữ,xử lý và kết xuất các dạng thông tin liên quan đến vị trí Địa lí
1.4.2 Phần mềm công nghệ GIS và những ứng dụng:
* Khả năng nhập và lưu trữ dữ liệu không gian:
Dữ liệu không gian dùng cho GIS thường là bản đồ số, bản đồ giấy, ảnh máy bay, ảnh vệ tinh
Khả năng nhập dữ liệu không gian cho phép người sử dụng nhập hình ảnh bản đồ và lưu chúng theo tọa độ (x,y) hoặc đôi khi có cả cao độ z theo một
hệ tọa độ nhất định Nhập dữ liệu không gian còn bao gồm cả khía cạnh chuyển đổi dữ liệu dạng bản đồ, ảnh tương tự thành dạng số dùng trên máy tính thônng qua quá trình số hóa, đăng kí ảnh
Dữ liệu Địa lí được lưu trữ theo từng lớp và theo loại đối tượng: điểm, đường, vùng Các đối tượng không gian Địa lí được biểu diễn theo mô hình vector hoặc raster
* Khả năng biên tập dữ liệu không gian:
Các phần mềm GIS có những khả năng biên tập không gian chính sau:
Nhập ghi chú
Xóa đối tượng
Chỉnh sửa đối tượng
Định dạng hiển thị qua các tham số:
o Kiểu đường hiển thị
o Kiểu kí hiệu
o Màu thể hiện
o Kiểu và cỡ chữ
Trang 27o Vị trí của các bản ghi chú và các yếu tố đặc biệt trên bản đồ
o Kích thước hoặc tỷ lệ của bản vẽ
* Khả năng quản lý cơ sở dữ liệu: bao gồm khả năng lưu trữ và tra cứu
các dữ liệu thuộc tính cùng với các thông tin bản đồ
Dữ liệu thuộc tính là những dữ liệu mô tả đặc điểm của các đối tượng Địa lí Dữ liệu thuộc tính có thể được lưu trữ trong các bảng thuộc tính của từng đối tượng không gian hoặc là các bảng dữ liệu hoàn toàn độc lập, khi cần thiết thì bảng dữ liệu này có thể kết nối vào bảng thuộc tính của đối tượng không gian tạo thành dữ liệu Địa lí
Khả năng liên kết dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian: đó là khả năng duy nhất chỉ có hệ thống thông tin Địa lí mới đảm bảo cung cấp đầy đủ được Khả năng này giúp người sử dụng có thể truy vấn thuộc tính từ không gian, truy vấn không gian từ thuộc tính và phân tích đồng thời hai loại dữ liệu
đó
* Khả năng phân tích dữ liệu:
- Phân tích dữ liệu không gian:
Chuyển đổi định dạng dữ liệu
Chuyển đổi hình học
Chuyển đổi lưới chiếu
Khớp đối tượng
Ghép biên đối tượng
Soạn thảo đồ họa
Làm thưa tọa độ
- Phân tích dữ liệu thuộc tính:
Soạn thảo, chỉnh sửa thuộc tính
Truy vấn thuộc tính: là khả năng tìm mẫu tin trong cơ sở dữ liệu thuộc tính thỏa mãn điều kiện truy vấn do người sử dụng đưa ra
- Phân tích kết hợp dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian:
Rút số liệu, phân loại và đo lường:
Chức năng chồng lớp: cho người sử dụng khả năng chồng hoặc tách các lớp dữ liệu để taọ ra một lớp dữ liệu mới
Chức năng lân cận: giúp đánh gía những đặc tính của vùng xung quanh
vị trí được chọn, xác định đối tượng nằm trong vùng lân cận, nhận dạng điểm, đường chứa trong vùng
Chức năng kết nối: gồm các chức năng chính sau:
o Đo đạc tiếp giáp: xác định kích thước của vùng tiếp giáp và khoảng cách dài nhất, ngắn nhất đi qua vùng tiếp giáp
Trang 28o Đo đạc lân cận: thường được gọi là phép tạo vùng đệm, giúp xác định các đặc tính hình học và chuyên đề trên một khu vực Địa lí xung quanh một hay nhiều đối tượng cụ thể
* Khả năng xây dựng các chương trình ứng dụng trong môi trường GIS:
Các phần mềm GIS thường được viết trên các ngôn ngữ lập trình bậc cao như Fotran, Cobol, C hoặc Basic… Tuy là một sản phẩm trọn gói nhưng phần mềm GIS vẫn cho phép người sử dụng can thiệp và xây dựng các ứng dụng riêng cho mình
Ví dụ: phần mềm MapInfo được xây dựng trên ngôn ngữ lập trình
MapBasic, cho phép cấu trúc mở Tức là người sử dụng có thể xây dựng một giao diện mới, thuận lợi cho mình, có thể thay đổi hoặc thêm mới hoàn toàn thanh Menu của MapInfo và tạo những hộp thoại điều khiển như ý muốn
Tương tự, ở phần mềm ArcView, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ lập trình Avenu, người sử dụng cũng có thể đem các thành phần có sẵn để tạo nên những công cụ hỗ trợ khác nhau
* Khả năng hiển thị dữ liệu:
Chức năng hiển thị dữ liệu là chuyển ngôn ngữ của máy thành hình ảnh trực quan, dễ nhận biết đối với người dùng
Trong GIS, thông tin được kết xuất ra dưới dạng: ảnh số,hình ảnh video, bản đồ số, bản đồ giấy, biểu đồ, bảng thống kê…
Công nghệ máy tính và công nghệ GIS phát triển nâng khả năng hiển thị trực quan hơn, sinh động hơn như hiển thị 3 chiều, hiển thị động
* Tóm lại các phần mềm GIS có những khả năng cơ bản sau:
Nhập dữ liệu từ những nguồn dữ liệu khác nhau
Lưu trữ và duy trì thông tin cùng các mối quan hệ không gian cần thiết
Thao tác trên dữ liệu, tìm kiếm, chuyển đổi, hiệu chỉnh, tính toán…
Lập mô hình ứng dụng (phân tích, tổng hợp, dự báo, thiết kế, quy hoạch…)
Kết xuất sản phẩm dưới nhiều dạng khác nhau: văn bản, bảng biểu, ảnh
số, ảnh video, bản đồ số, bản đồ giấy…
Với những chức năng kể trên, GIS là một công cụ hiệu quả trong công tác quản lý, quy hoạch có liên quan đến không gian, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như:
Quy hoạch và quản lý đô thị
Quản lý môi trường
Khí tượng thuỷ văn
Nông nghiệp
Trang 29Dịch vụ tài chính
Dịch vụ y tế
Quản lý hành chính
Dịch vụ bán lẻ
Quản lý giao thông
Các dịch vụ điện, nước, ga, điện thoại
Giáo dục…
Trong số đó, ứng dụng GIS trong giáo dục có liên quan trực tiếp đến
nội dung đề tài Do đó, nhóm sẽ tìm hiểu sâu hơn về khả năng ứng dụng GIS trong giáo dục và cụ thể là trong giảng dạy, học tập địa lí
1.5 Các công cụ hỗ trợ dạy và học Địa lí có ứng dụng công nghệ
thông tin hoặc GIS:
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế và đời sống các phương tiện kĩ thuật hiện đại về nghe nhìn và công nghệ thông tin Các phương tiện này nhanh chóng xâm nhập vào nhà trường và trở thành các phương tiện dạy học có hiệu quả cao Phương tiện dạy học hiện đại tạo điều kiện rộng rãi cho dạy học Địa lí theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Các thiết bị kĩ thuật hiện đại được sử dụng phổ biến trong dạy học Địa lí gồm có: máy vi tính, máy chiếu, mạng Internet, phim giáo khoa, các CD – ROM và các phần mềm,
Trong khuôn khổ của báo cáo, nhóm nghiên cứu chỉ giới thiệu về một số CD-ROM, phần mềm và website cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc dạy và học Địa lí:
1.5.1 Các CD – ROM và phần mềm:
* CD –ROM_ Atlas Địa lí Việt Nam:
Hình 1.1 : Giao diện làm việc của Atlas Địa lí Việt Nam
Trang 30Atlas Địa lí Việt Nam là CD – ROM do Tổng cục du lịch Việt Nam
phát hành Nội dung của CD – ROM này bao gồm:
Điều kiện tự nhiên: Khái quát, Địa chất, Địa hình, Biển Đông – Đảo và quần đảo, Khí hậu, Thuỷ văn, Thổ nhưỡng, Rừng
Kinh tế xã hội: Hành chính, Dân số và lao động, Các ngành kinh tế
Phần trắc nghiệm: Câu hỏi trắc nghiệm, Thi, Tự soạn bài tập, Làm bài tập
Giao diện của Atlas Địa lí Việt Nam gồm 13 nút công cụ với các chức năng: Chú giải, Phóng to, Thu nhỏ, Biều đồ, Bản đồ, Về trang trước, Về trang sau, In bản đồ, Hình ảnh, Bài viết, Nhạc, Phim, Thoát
* CD-ROM _ Atlas Môi trường các vùng kinh tế Việt Nam:
Hình 1.2: Giao diện làm việc của Atlas môi trường các vùng kinh tế Việt
Nam
CD – ROM được xây dựng bởi Cục môi trường – Bộ khoa học công nghệ và môi trường Tập Atlas bao gồm 4 chương với 125 bản đồ ( gồm 4 bản
đồ giới thiệu chung, 21 bản đồ chuyên đề về 8 vùng kinh tế) Kèm theo bản đồ
là các bài thuyết minh, hơn 400 đồ thị và bảng biểu, hơn 200 ảnh, gần chục đoạn phim tư liệu
Giao diện của sản phẩm Atlas Môi trường các vùng kinh tế Việt Nam gồm các nút công cụ với chức năng sau:
Về trang vừa xem trước đó
Xem các ảnh minh hoạ cho chuyên đề hiện tại
Thuyết minh bản đồ
Các chú giải, ký hiệu của bản đồ hiện thời
Đoạn phim tư liệu giới thiệu, minh hoạ bản đồ chuyên đề
Các đồ thị, bảng biểu, số liệu minh hoạ các bản đồ chuyên đề
Trang 31Ngoài ra, để trợ giúp việc xem, tra cứu bản đồ, bên trái màn hình có 4 nút điều khiển với các chức năng: Phóng to, Thu nhỏ, Phục hồi chế độ bản đồ toàn màn hình, trở về trang màn hình chính
* Nhận xét:
Giao diện của hai CD – ROM giới thiệu ở trên được xây dựng rất “thân thiện” với người sử dụng Ưu điểm của các sản phẩm này là giao diện được thiết kế đẹp mắt, trình bày dễ hiểu, được Việt hoá toàn bộ, nội dung phong phú (có bản đồ, biểu đồ, bài viết, hình ảnh, nhạc, phim minh hoạ và các bài tập trắc nghiệm) và có cách thức sử dụng đơn giản (chỉ cần click chuột vào các nút công cụ) Tuy nhiên, do giao diện có kích thước cố định, số lần phóng to hoặc thu nhỏ bị giới hạn và các bản đồ được cung cấp chủ yếu là các bản đồ chuyên
đề ở dạng ảnh raster, khi phóng lớn hình ảnh sẽ bị vỡ, không có chức năng tắt,
mở các lớp dữ liệu nên nội dung thể hiện của chúng quá chi tiết và khó hiểu đối với học sinh lớp 12 Hơn nữa, 2 CD –ROM này không được xây dựng dành riêng cho chương trình Địa lí 12 nên chỉ có thể sử dụng để tham khảo, khai thác
tư liệu dùng trong bài giảng chứ không thể sử dụng trực tiếp để giảng dạy
* CD- ROM Electronic Atlas for Schools :
CD – ROM _ Electronic Atlas for Schools
được sản xuất bởi “Cambridge Career Products”
và có thể sử dụng trên hệ điều hành Windows
98 hoặc cao hơn
Đây là một CD –ROM ứng dụng GIS cung cấp các bản đồ số hữu ích hỗ trợ cho việc tham khảo và học tập của sinh viên, học sinh Electronic Atlas for Schools cung cấp 900 tấm bản đồ cùng với một số lượng lớn dữ liệu về Địa
lí, môi trường, khoa học, lịch sử và dân số CD này có thể giúp cho việc phân tích và hiển thị thông tin không gian một cách dễ dàng Ngoài ra còn có 7 đoạn phim nhằm giúp người sử dụng hiểu các vấn đề Địa lí được trình bày trong CD Các bản đồ
có thể in ra, sao chép dễ dàng nên người sử dụng có thể kết hợp các bản đồ - dữ liệu cho sẵn để tạo ra bản đồ và dữ liệu phục vụ cho các mục đích riêng khác nhau CD –ROM này là một nguồn tham khảo hữu hiệu để sử dụng trong các lớp học hoặc thư viện
* CD- ROM 3D World Atlas (School Version):
CD – ROM _ 3D World Atlas (School Version) được sản xuất bởi “Dorling Kindersley by GSP ”, có thể sử dụng trên
hệ điều hành Windows XP, Windows 2000
và Windows Vista
Đây là phiên bản mới, đã được bổ sung
và chỉnh sửa, thể hiện các sự kiện trên thế giới Sản phẩm này như một bách khoa
Trang 32toàn thư, cung cấp một khối lượng lớn thông tin về dân số, niên giám, văn hoá, chính trị Ta có thể sử dụng CD này để tham khảo các hình ảnh bề mặt trái đất
từ trên cả vùng rộng lớn cho đến những khu vực nhỏ Ngoài ra, chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh thế giới thông qua các bản đồ, các hình ảnh sống động và các mô hình 3D Đây là Atlas trực quan, phong phú thông tin và rất cập nhật
* CD- ROM Eyewitness World Atlas (School Version):
CD-ROM _ Eyewitness World Atlas (School Version) được sản xuất bởi “Dorling Kindersley by GSP ”, có thể sử dụng trên
hệ điều hành Windows 98, Windows XP và Windows 2000
Đây là CD-ROM cung cấp những bản
đồ được thể hiện chi tiết, đẹp mắt, hình ảnh
và phim với đầy đủ các sự kiện, thống kê, biểu đồ có thể thoả mãn những người sử dụng ham hiểu biết nhất Bên cạnh đó, sản phẩm còn cho phép chứng ta đi du lịch vòng quanh thế giới thông qua những nghiên cứu của nhiều học giả, những ảnh vệ tinh có độ chính xác cao và những mô hình 3D đặc sắc Sản phẩm gồm 2 bản CD và một số tư liệu tham khảo dành cho giáo viên
Đối với các CD – ROM trên, nhóm nghiên cứu không viết nhận xét cụ thể vì chỉ tiếp cận với sản phẩm qua các thông tin giới thiệu từ trang web:
http://ccvsoftware.com Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng tuy nội dung
trong các CD –ROM trên rất phong phú nhưng không gắn với nội dung chương trình Địa lí 12 ở nước ta
* Phần mềm Encarta Reference Libary (Thư viện tham khảo điện tử
của hãng Microsoft) :
Microsoft Encarta Encyclopedia hoặc Microsoft Encarta World Atlas là phần mềm chứa đựng một khối lượng lớn kiến thức Địa lí, lịch sử, văn hoá khổng lồ của nhân loại
Hệ thống bản đồ trên Encarta phong phú và có thể được phóng to, thu nhỏ dễ dàng, có thể trải trên mặt phẳng hoặc bề mặt cong của quả địa cầu, có thể in ra giấy rất thuận tiện Phần thống kê của Encarta có rất nhiều nội dung cụ thể về dân số, thu nhập, giáo dục, tuổi thọ, kinh tế, thương mại, của các nước Các thông tin này được thường xuyên cập nhật từ các nguồn Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA)
* Phần mềm PC FACT:
PC Fact là phần mềm chứa đựng các bản đồ và tư liệu Địa lí, giúp cho giáo viên có thêm nhiều thông tin trong dạy học Địa lí Nội dung Địa lí của phần mềm PC Fact gồm có:
Trang 33 Bản đồ hành chính tế giới, các châu lục, các khu vực lớn và bản đồ của 200 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới
Bản đồ tự nhiên thế giới, các châu lục, các khu vực lớn và các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới
Bản đồ các khu vực giờ trên Trái Đất
Bản đồ kinh tế - xã hội (bản đồ dân số, công nghiệp, nông nghiệp, trình độ học vấn, )
Các loại bản đồ trống
Các tháp tuổi, số liệu,biểu đồ về dân số, kinh tế của các nước và lãnh thổ trên thế giới
Danh mục của gần 1000 địa danh trên thế giới về núi, sông, biển,
Sơ đồ chỉ vị trí của khoảng 4500 thành phố trên thế giới
Quốc kì, quốc ca của hầu hết các nước trên thế giới
PC Fact được thiết kế gọn, dễ sử dụng Với phần mềm này, giáo viên có thể khai thác được khá đầy đủ các tài liệu cần thiết về các nước trên thế giới, phục vụ cho việc soạn bài, dạy học trên lớp, soạn bài tập cho học sinh, in bản
đồ trống cho học sinh làm các bài thực hành, xây dựng bài kiểm tra Địa lí, Bản đồ ở PC Fact được thiết kế trên nền của phần mềm ARC/INFO, Mapinfo nên có thể phóng to hoặc thu nhỏ một cách tiện lợi Tuy nhiên, do chưa được Việt hoá nên phần mềm này có một số khó khăn cho giáo viên và học sinh trong việc sử dụng
* Phần mềm Db – Map 3.0:
Db- Map là một phần mềm công cụ xây dựng hệ thống thông tin Địa lí GIS do viện Công nghệ thông tin của Trung tâm KHKT – CN Quốc gia xây dựng từ năm 1992 Đến năm 1998, Db - Map được xây dựng thành một phần mềm phục vụ cho việc giảng dạy Địa lí trong các trường phổ thông
Db – Map gồm 2 đơn vị nội dung lớn là:
Map Editor: phần biên soạn, nhập bản đồ
Map View: xem và khai thác bản đồ
Các bản đồ đã được thể hiện trong phầm mềm này là:
Bản đồ hành chính Việt Nam
Bản đồ tự nhiên Việt Nam
Bản đồ khoáng sản Việt Nam
Bản đồ khí hậu Việt Nam
Bản đồ đất – thực vật Việt Nam
Bản đồ dân cư và dân tộc Việt Nam
Bản đồ nông nghiệp chung Việt Nam
Trang 34 Bản đồ các vùng nông nghiệp Việt Nam
Bản đồ lâm – ngư nghiệp Việt Nam
Bản đồ công nghiệp chung Việt Nam
Bản đồ giao thông Việt Nam
Bản đồ câm (trống) Việt Nam
* Nhận xét:
Các phần mềm trên là kho tư liệu vô cùng phong phú và hữu ích không chỉ dành cho các giáo viên khi xây dựng bài giảng, đặc biệt là các bài giảng điện tử mà còn giúp học sinh mở rộng và đào sâu thêm kiến thức Địa lí trong quá trình tự tìm tòi, học hỏi
Tuy nhiên, do ngôn ngữ chưa được Việt hoá (phần mềm Encarta Reference Libary và PC FACT) hoặc giao diện còn phức tạp với nhiều chức năng đòi hỏi người sử dụng phải có một số kĩ năng tin học chuyên sâu (Phần mềm Db – Map) nên các sản phẩm này hiện nay vẫn chưa được biết đến và sử dụng rộng rãi trong dạy và học môn Địa lí
1.5.2 Các website:
* Trang web ôn thi: http://www.onthi.com
Trang web Ôn thi được xây dựng với mục đích hỗ trợ học sinh trong việc tham khảo, ôn tập lại các kiến thức để chuẩn bị cho các kì thi Bên cạnh những nội dung lý thuyết trong chương trình học của tất cả các môn ở mọi cấp lớp, trong đó có môn Địa lí lớp 12, trang web này còn cung cấp cho người sử dụng các bài tập trắc nghiệm để củng cố kiến thức Ngoài ra, người sử dụng có thể chia sẻ những bài tập, bài thi do mình tạo ra với mọi người và nhận xét, đánh giá mức độ khó của các bài tập do người khác cung cấp
* Trang web thư viện tư liệu: http:// www tvtl.bachkim.vn
Trang web thư viện tư liệu cho phép người sử dụng ( chủ yếu là các giáo viên, học sinh, sinh viên ) chia sẻ những bài viết, tài liệu tham khảo hoặc các hình ảnh, phim, minh hoạ cho các kiến thức của tất cả các môn học ở mọi cấp lớp Riêng đối với môn Địa lí 12, trang web này cung cấp rất nhiều hình ảnh, đoạn phim, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu, để minh hoạ, giải thích cho các kiến thức, khái niệm trong sách giáo khoa
* Trang web giáo án điện tử : http:// www giaoan.bachkim.vn
Trang 35Trang giáo án điện tử được thành lập để giáo viên có thể chia sẻ các bài giảng trình bày bằng phần mềm powerpoint, các giáo án và các tư liệu giảng dạy của tất cả các môn học ở mọi cấp lớp, trong đó có môn Địa lí lớp 12
* Nhận xét:
Các trang web trên là một kho tư liệu dồi dào, có thể dễ dàng tiếp cận và khai thác đối với cả giáo viên và học sinh.Tuy nhiên, do đặc thù của một trang web là chỉ có thể sử dụng khi máy vi tính được nối mạng nên giáo viên không thể sử dụng trực tiếp tại lớp học Hơn thế nữa, mọi thành viên tham gia đều có thể chia sẻ tư liệu của mình nên mặc dù lượng thông tin, hình ảnh, phim, trên các trang web này rất dồi dào nhưng tính chính xác không cao và nội dung cũng không đầy đủ cho cả chương trình Địa lí 12 Thêm vào đó, một số hình ảnh, bản đồ, được các thành viên chụp lại từ Atlas truyền thống hoặc từ sách giáo khoa nên không có tính mới, khi sử dụng không tạo được sự quan tâm và hào hứng đối với học sinh
* Tóm lại:
Công cụ hỗ trợ hoặc cung cấp tư liệu cho việc dạy và học Địa lí hiện nay rất phong phú cả ở Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên, các CD-ROM được thiết kế giao diện tiếng Việt đều dành cho mọi đối tượng chứ chưa có CD – ROM nào bám sát nội dung chương trình Địa lí 12 và chưa cung cấp những công cụ phù hợp với nhu cầu giảng dạy của giáo viên và thực hành của học sinh Bên cạnh đó, hầu hết các phần mềm đều được viết bằng tiếng Anh nên khả năng tiếp cận với giáo viên và học sinh ở nước ta còn hạn chế Riêng với các trang web, người sử dụng sau khi được cung cấp tài liệu vẫn phải dùng những phần mềm khác để đưa vào bài giảng Do đó, đến nay vẫn chưa có công
cụ nào được sử dụng phổ biến và thực sự phát huy được hết hiệu quả trong dạy
và học Địa lí ở nước ta
Qua tìm hiểu, phân tích và đánh giá các công cụ hỗ trợ dạy và học Địa
lí ở Việt Nam và trên thế giới, nhóm nghiên cứu sẽ học tập những ưu điểm và
cố gắng hạn chế các nhược điểm để có thể đề xuất một công cụ hỗ thích hợp với việc dạy va học Địa lí lớp 12
Trang 36CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU THỰC TẾ
2.1 Chương trình Địa lí 12
2.2 Tình hình sử dụng bản đồ trong dạy và học Địa lí 12 tại Tp HCM
Trang 372.1 Chương trình Địa lí 12:
2.1.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 12:
Theo sách giáo viên Địa lí 12, NXB Giáo Dục, năm 2008 chương trình Địa lí lớp 12 dành cho Địa lí Tổ Quốc, gồm cả Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế-
xã hội Mục tiêu của chương trình này là:
Về kiến thức: tiếp tục hoàn thiện kiến thức của học sinh về Địa lí Tổ
quốc Học xong chương trình Địa lí lớp 12, học sinh cần nắm được các đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, kinh tế và một số vấn
đề đang được đặt ra nhằm sử dụng hợp lí tự nhiên, giảm thiểu hậu quả của thiên tai, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phát triển kinh tế- xã hội của cả nước cũng như của các vùng lãnh thổ, địa phương nơi học sinh đang sống
Về kĩ năng: tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng Địa lí nhằm phát
triển hơn nữa tư duy Địa lí cho học sinh, đó là tư duy tổng hợp, gắn với lãnh thổ, có liên hệ thường xuyên với thực tiễn đời sống và sản xuất Các kĩ năng cụ thể là:
o Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, đánh giá các sự vật và hiện tượng Địa lí
o Sử dụng các bản đồ, biểu đồ, đồ thị, lát cắt, số liệu thống kê
o Thu thập, xử lí và trình bày các thông tin Địa lí
o Vận dụng các kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật Địa
lí và để ứng dụng vào thực tiễn của cuộc sống
Về thái độ, tình cảm: làm giàu thêm ở học sinh, tình yêu quê hương,
đất nước, tinh thần tự cường dân tộc và niềm tin vào tương lai của đất nước, của dân tộc; củng cố ở học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn, tinh thần trách nhiệm trong bảo vệ môi trường, xây dựng kinh tế - xã hội ở quê hương
Như vậy, để đạt được các mục tiêu trên cần rất nhiều yếu tố cùng tác động tổng hợp:
Chương trình của Bộ Giáo Dục đưa ra có nội dung phù hợp
Giáo viên tăng cường sử dụng những phương pháp giảng dạy mới
Cơ sở vật chất nhà trường có thể đáp ứng đầy đủ những phương tiện giảng dạy
Có những công cụ hỗ trợ tích cực cho việc dạy và học Địa lí 12
2.1.2 Sách giáo khoa Địa lí 12:
Nội dung SGK Địa lí 12 được tổ chức như sau:
Trang 38Sơ đồ 6: Tổ chức nội dung SGK Địa lí 12
Cấu trúc sách: gồm 45 bài, trong đó có 35 bài lí thuyết và 10 bài thực
hành, phân bố thành các đơn vị kiến thức lớn như sau:
Chia ra Các nội dung theo chương trình Số tiết
Bài viết Hình ảnh Bảng số liệu Biểu đồ Câu hỏi, bài tập
Khối kiến thức
Bản đồ
Sơ đồ
Trang 39Bảng 2.1: Cấu trúc SGK Địa lí 12
Đối với học sinh lớp 12 thì ở cấp THCS, các em đã được trang bị kiến thức Địa lí tự nhiên Việt Nam (lớp 8 – 23 tiết) và Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam (lớp 9- 52 tiết) khá cơ bản Điểm khác biệt quan trọng trong chương trình của lớp 12 là tính nâng cao, đòi hỏi học sinh không chỉ nhận biết, mà còn phải giải thích các hiện tượng Địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội; tức là học sinh phải biết lựa chọn và trình bày các các nội dung dưới hình thức các vấn đề Các kĩ năng được nâng cao hơn nhiều với những bài tập đòi hỏi phải tổng hợp kiến thức và có nhiều thao tác tư duy, trình bày các báo cáo ngắn Như vậy, có thể nói “ không gian ” và “ mối quan hệ không gian ” là vấn đề quan trọng hơn trong chương trình, thay vì mô tả nhiều như những lớp dưới Do đó, phải có phương pháp dạy và học cũng như những công cụ phù hợp hơn, tích cực hơn
2.1.3 Bản đồ dùng trong dạy và học Địa lí 12:
Bản đồ giáo khoa có nhiều loại khác nhau Theo phương thức sử dụng trong quá trình học tập có: bản đồ treo tường và bản đồ để bàn
Bản đồ để bàn bao gồm nhiều hình thức khác nhau như: bản đồ trong sách giáo khoa, bản đồ rời, tập bản đồ, Atlat…
Riêng trong dạy và học Địa lí lớp 12, các bản đồ giáo khoa cần thiết gồm :
Bản đồ treo tường
Bản đồ trong sách giáo khoa
Atlat Địa lí Việt Nam (Công ty Bản đồ và tranh ảnh giáo khoa, Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành)
Tập bản đồ 12 (Bài tập và bài thực hành Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Công ty Bản đồ và tranh ảnh giáo khoa, Nhà xuất bản Giáo Dục
Nội dung và phương pháp khảo sát và cách chọn mẫu khảo sát:
phát ra
Số lượng thu về
Ghi chú
1 Lê Thị Hồng Gấm 40 40 Khảo sát ở 3 lớp: 12A2, 12A7, 12A8
2 Nguyễn Hữu Cầu 20 19 Khảo sát ở 1 lớp 12 A14
Trang 40Bảng 2.2: Mô tả mẫu khảo sát
Nội dung:
o Tình hình sử dụng bản đồ trong việc dạy Địa lí 12 tại TpHCM
o Tình hình sử dụng bản đồ trong việc học Địa lí 12 tại Tp HCM
Phương pháp:
o Phỏng vấn giáo viên
o Điều tra bảng hỏi đối với 90 học sinh ở 9 lớp 12 của 6 trường THPT tại Tp HCM: Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Hữu Cầu, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ, Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong
o Xử lí dữ liệu điều tra bảng hỏi bằng phần mềm Exel
Chọn mẫu khảo sát:
Để tìm hiểu tình hình sử dụng bản đồ trong việc dạy và học Địa lí ở lớp
12 tại TP.HCM, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phát bảng hỏi khảo sát như sau:
- Tổng số lượng bảng hỏi phát ra: 100 bản
- Tổng số lượng bảng hỏi thu về : 90 bản
Đối tượng được khảo sát là các học sinh lớp 12, không phân biệt giới tính vì trong trường hợp của đề tài, sau khi xử lý kết quả khảo sát, giới tính không đóng vai trò quan trọng
Nhóm nghiên cứu quyết định khảo sát 6 trường trong nội thành TP.HCM vì so với các trường ở ngoại thành, các trường nội thành có điều kiện
cơ sở vật chất tốt hơn, có nhiều điều kiện sử dụng các phương tiện trực quan và công cụ máy tính điện tử vào giảng dạy hơn
Ngoài trường chuyên Lê Hồng Phong, các trường còn lại đều là trường
có hai hệ bán công và công lập nên trình độ của học sinh ở mỗi trường cũng có
sự khác biệt, khi khảo sát, thông tin thu được sẽ có tính bao quát và đầy đủ hơn
Bên cạnh đó, 3 trường : Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Hữu Cầu, Lê Hồng Phong có số lượng bảng hỏi phát ra nhiều hơn các trường khác để thu được thông tin khách quan và chính xác hơn Riêng trường Lê Thị Hồng Gấm, số lượng bảng hỏi phát ra gấp đôi 2 trường còn lại vì số lượng lớp được khảo sát
là 3, mục đích của việc chọn mẫu này là để tránh tình trạng trùng lặp ý kiến của học sinh trong cùng 1 lớp
3 Lê Hồng Phong 20 20 Khảo sát ở 1 lớp 12 C
4 Lê Quý Đôn 10 7 Khảo sát ở 1 lớp 12 A7
5 Nguyễn Công Trứ 5 2 Khảo sát ở 1 lớp 12 A8
6 Trần Hưng Đạo 5 2 Khảo sát ở 1 lớp 12 T1