ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHÂN HỌC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2019 ĐỀ TÀI: TÍNH SÁNG TẠO TRONG DỆT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NHÂN HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2019
ĐỀ TÀI:
TÍNH SÁNG TẠO TRONG DỆT CỦA NGƯỜI CƠ
HO CIL TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Nhóm sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Lương Nguyễn Kim Hoàng
Thành viên: Lê Thị Ý Nhi
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019
Trang 2ĐHQG-HCM Trường ĐHKHXH&NV
TP.HCM, tháng 05 năm 20 19
Tên đề tài: TÍNH SÁNG TẠO TRONG DỆT CỦA NGƯỜI CƠ
HO CIL TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM
ĐỒNG
Thành phần tham gia thực hiện đề tài
1 1 Lương Nguyễn Kim Hoàng Chủ nhiệm 0944255718 hoangnhanhoc@gmail.com
2 Lê Thị Ý Nhi Tham gia leynhiussh@gmail.com
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG NGUYỄN KIM HOÀNG
Tên đề tài : TÍNH SÁNG TẠO TRONG DỆT CỦA NGƯỜI CƠ
HO CIL TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở THỊ TRẤN LẠC
DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
KHOA/BỘ MÔN: NHÂN HỌC
Trang 4ở thị trấn Lạc Dương phần đông chỉ có hai nhóm Cơ Ho Cil và Cơ Ho Lạch sinh sống chủ yếu, trong đó, bên cạnh những nét chung của cộng đồng Cơ Ho, mỗi nhóm người như Cil và Lạch có những nét văn hoá khác biệt và rất đặc sắc của riêng nhóm mình Đặc biệt, đối với nhóm người Cơ Ho Cil, dệt thổ cẩm là một nét văn hoá đặc trưng tộc người, họ làm bằng thủ công rất công phu từ việc phối màu đến dệt họa tiết
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu tài liệu hay cả khi đi thực địa, tôi cũng đã nhận thấy dệt bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau làm cho nghề dệt ngày càng giảm sút về
số lượng sản phẩm cũng như người dệt, điều đó khiến cho việc nghiên cứu về dệt
dễ bị nhìn nhận rằng nó đang bị mai một và cần được bảo tồn như một di sản văn hóa [Võ Tấn Tú, 2017:38] Có ba yếu tố chính gây tác động đến dệt như: việc truyền nghề gặp nhiều khó khăn do thế hệ trẻ người Cil đang có xu hướng không tiếp nhận
kế thừa văn hóa truyền thống; giá thành cao vì những sản phẩm dệt của người Cil hầu hết được gia công bằng tay và họ phối màu làm hoa văn rất tỉ mỉ vì thế mà những sản phẩm mà họ làm ra giá thành không hề rẻ; hay bị canh tranh bởi các sản phẩm tộc người khác tiêu biểu là thổ cẩm của người Chăm, sản phẩm Chăm có một lợi thế mà có thể chiếm thị trường tiêu thụ từ sản phẩm dệt của người Cil ở chỗ giá thành rẻ
1 Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng (2003), Dân tộc Cơ Ho ở Việt Nam, NXB , trang 20 - 29
Trang 5Tuy đứng trước nhiều yếu tố như vậy nhưng dệt vẫn là sản phẩm tộc người góp phần thu hút khách du lịch Bởi vì nó là điểm đặc trưng nổi bật của người Cil đi đôi với việc phát triển cà phê, người Cil họ liên tục thay đổi sáng tạo thêm trong quá trình dệt để đạt được những sản phẩm bắt mắt khách du lịch, khi tôi đi thực địa có biết được những người dệt khi dệt xong tấm vải, họ thường đem ra tiệm may để may thành một bộ đồ hay may thành giỏ, ví để đem bán thay vì để một tấm khăn lớn, hay
có người họ không dùng sợi len mà họ thay bằng sợi chỉ mỏng để làm tăng độ mềm mại cho tấm khăn choàng
Mặc khác, kể cả khi đi dạo dọc đường Lang Biang rất dễ bắt gặp thấy rất nhiều người dân địa phương họ sử dụng tấm khăn dệt (Ui) để choàng giữ ấm cơ thể hay
là để quàng con, cháu trên lưng Hình ảnh đó sẽ thu hút rất nhiều sự chú ý từ những
vị khách phương xa tới đây có mong muốn khám phá về những điều đặc trưng thú
vị của mảnh đất đất này, đó cũng là một điểm để làm tăng sức hút của sản phẩm dệt
vì nó là một tặng phẩm từ vùng cao nguyên mang một nét văn hóa truyền thống của người dân vùng núi Bê cạnh đó, chúng tôi được biết các mặt hàng sản phẩm người Cil có sự thay đổi mẫu mã cũng như loại sản phẩm để phục vụ cho du lịch, chúng tôi nhận thấy rằng nghề dệt của người Cil có khả năng phát triển khi được đặt trong bối cảnh du lịch Chính vì thế mà chúng tôi mới chọn thực hiện đề tài tính sáng tạo trong dệt người Cil trong phát triển triển du lịch ở thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù có thể nói, chủ đề dệt của cộng đồng các dân tộc Việt Nam không phải
là một chủ đề mới, nhưng những bài đi sâu vào nghiên cứu về mảng dệt của người Cil thì không nhiều, phần lớp tập trung vào nghiên cứu cộng đồng dân tộc Co ho mà nhóm Cil là một nhóm nhỏ trong số đó
Tuy nhiên, để tìm hiểu về văn hóa xã hội hay những vấn đề tộc người của Cil, đã có rất nhiều sách xuất bản với từ khóa Cơ Ho mà trong đó người Cil được
mô tả lồng ghép với nhiều tộc người khác, các vấn đề về tổ chức kinh tế xã hội, hôn nhân gia đình, sinh kế của cộng đồng người Cơ Ho được mô tả rất chi tiết qua các
Trang 6tác phẩm Người KơHo ở Lâm Đồng, chủ biên Phan Ngọc Chiến [2005], cuốn sách
này tổng hợp rất nhiều bài viết khác nhau nghiên cứu về nhóm người KơHo của
nhiều tác giả mà đứng đầu là Phan Ngọc Chiến, NXB Trẻ, hay tác phẩm Văn hóa
truyền thống Cơ Ho của Kim Ngọc, Hoàng Tuấn Cư [2011], tập trung nhiều vào
văn hóa tộc người, những nét văn hóa đặc trưng như các lễ hội, trang phục, ẩm thực của cộng đồng tộc người, ấn phẩm của NXB Văn hóa dân tộc – Hà Nội, và thứ ba
có thể nhắc đến Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam của NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội -
2003 Những tác phẩm kể trên có thể đem lại những cái nhìn đa diện trong văn hóa
xã hội của người Cil nói riêng và cộng đồng người Cơ ho nói chung
Phát triển du lịch là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, ở các nước trên thế giới có rất nhiều bài nghiên cứu về nhiều khía cạnh này, trong đó có bài viết Occupying the Centre: Handicraft Vendors, Cultural, Vitality, Commodification, and Tourism in Cusco, Peru ( Tạm dịch: Chiếm giữ trung tâm: người bán hàng thủ công, văn hóa, sức sống, hàng hóa và du lịch ở Cusco, Peru) của hai tác giả Linda
J Seligmann and Daniel Guevara, bài viết cho thấy vai trò không thể chối bỏ của những người bán hàng thủ công trong du lịch, những vị khách du lịch mong muốn trải nghiệm những điều mới lạ và những người bán hàng thủ công luôn biết cách tạo
ra những nét văn hóa đẹp đẽ, tinh tế trong các mặt hàng và tính toán giả cả hợp lý đáp ứng cho khách du lịch Trong “Tourism and the development of handicraft production in the Maltese islands” (Tạm dịch: Du lịch và sự phát triển của sản phẩm dệt tại hòn đảo Maltese) của Markwisk nghiên cứu ngành công nghiệp thủ công tại đảo Maltese trong bối cảnh du lịch lại hòn đảo này Ông đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch và các ngành công nghiệp thủ công với lập luận cho rằng sự phát triển của nền công nghiêp thủ công truyền thống liên quan đến quá trình thương mại hóa bao gồm thương mại hóa tự phát và thương mại hóa được tài trợ theo khung
lý thuyết của E Cohen Tại Việt Nam, mối quan tâm đến khía cạnh du lịch ngày một tăng, trong đó có bài “Sự chân thật” của văn hóa trong du lịch: Biểu diễn cồng chiêng và sự kiến tạo văn hóa của người Lạch tại thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng của Ts Trương Thị Thu Hằng, bài viết tập trung tìm hiểu sự
Trang 7kiến tạo văn hóa, thông qua đó cho thấy được “sự chân thật” của văn hóa chủ nhà trong du lịch được bộc lộ thế nào trong nhận thức của các chủ nhân văn hóa này trong bối cảnh du lịch văn hóa tại thị trấn Lạc Dương Nhìn chung có thể thấy, đặt sản phẩm văn hóa tộc người torng bối cảnh du lịch để thông qua đó nhìn thấy được bản sắc cộng đồng là mối quan tâm chính của ba bài viết trên
Tiếp đến, để đi sâu vào tìm hiểu về toàn bộ quá trình dệt truyền thống của người
Cil có bài viết Nghề dệt cổ truyền của người Cil ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
của Võ Tấn Tú đăng trong tạp chí khoa học xã hội – số 1/2017, đây là bài viết mô
tả chi tiết nhất toàn bộ quy trình bằng những tài liệu thông qua những chuyến đi điền dã Trong bài viết chia làm hai phần, phần đầu mô tả về quy trình dệt truyền thống gồm các bước trồng bông, chọn đất, kéo sợi, nhuộm màu, lắp khung và dệt vải, phần hai tác giả viết về thực trạng và xu hướng của nghề dệt của người Cil đang
bị giảm sút vì không cạnh tranh nổi với những mặt hàng công nghiệp Ngoài ra,
cùng chủ đề này có bài viết Nghề dệt vải của người Cơ-ho Chil của Ngọc Lý Hiển
[2010] NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Tác phẩm này cũng mô tả quá trình dệt vải truyền thống của người Cil từ trồng bông, nhuộm màu, dệt vải đến việc kiêng cữ và truyền nghề, nhưng tác phẩm này khác bài viết của Võ Tấn Tú ở điểm nó trình bày hiện trạng nghề dệt vải của người Cơ-Ho Cil từ năm 1960 đến nay và những giải pháp bảo tồn nghề trong bối cảnh trước bài viết của Võ Tấn Tú
Sau khi nghiên cứu những tài liệu kể trên, tôi đã nhận thấy, những bài viết về dệt chỉ đang ở bước mô tả về nó như một nét văn hóa của tộc người nhưng lại chưa nghiên cứu nó trong một bối cảnh cụ thể, chịu sự tác động của một vấn đề cụ thể, đồng thời những bài viết đi sâu về quá trình dệt của người Cil đều có xu hướng xem nghề dệt của người Cil như là một thứ nghề truyền thống bị đóng khung, cần duy trì, bảo tồn [Võ Tấn Tú, 2017:38] Với đề tài nghiên cứu về Dệt của người Cil trong phát triển du lịch của tôi sẽ mô tả rõ nét nghề dệt trong phát triển du lịch thông qua tiến trình sáng tạo của người dân để giữ nghề
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm trả lời cho câu hỏi về quá trình dệt của người Cil gắn với bối cảnh phát triển du lịch làm nổi bật việc dệt là quá trình tạo ra sản phẩm văn hóa tộc người đặc trưng của người Cơ Ho Cil Thông qua đó chúng tôi có thể nhìn thấy được tiến trình sáng tạo của họ để nâng cao sản phẩm dệt, điều
đó giải thích cho việc dệt trở thành một điểm thu hút du lịch
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu gồm:
Điền dã dân tộc học:
Chúng tôi đã thực hiện một chuyến điền dã vào ngày 23/08/2018 – 25/08/2018 để tiến hành quan sát, tìm hiểu, khai phá bước đầu trong vấn đề dệt, thông qua chuyến đi tôi đã thu thập được những dữ liệu hữu ích để phát triển đề tài
Lần thứ hai chúng tôi đi vào ngày 07/12/2019 - 10/12/2019, thời điểm này đang là thời điểm sắp đến giáng sinh, giáng sinh là một trong những ngày lễ lớn trong năm của những cộng đồng theo đạo công giáo hay tin lành, thường được ví như tết của người dân vì thế mà người dân họ sẽ chuẩn bị mọi thứ để đón giáng sinh Đồng thời đây là thời điểm cuối năm, đây là thời điểm mà mọi người thường chọn
để đi du lịch, một là để giải tỏa sau một năm làm việc căng thẳng, hai, đây là thời điểm mà không khí ở Lạc Dương tương đối lạnh, rất thích hợp để đổi bầu không khí, tạo cảm giác mới mẻ Lần điền dã này, tôi đã leo bộ lên Lang Biang để xem việc bán đồ thổ cẩm trên đó như thế nào
Lần thứ ba chúng tôi thực hiện chuyến điền dã vào ngày 13/01/2019 – 18/01/2019, thời gian này là thời gian đầu năm, vì nối liền với khoảng thời gian cuối năm lượng khách du lịch tìm đến đây rất đông, mùa xuân đến hoa đào ở vùng đất Tây Nguyên này sẽ nở, thời điểm tuyệt vời nhất để du lịch, ngắm cảnh quan Chúng tôi tìm hiểu về tình hình du lịch hiện nay ở thị trấn thông qua việc quan sát và quá trình làm việc với ủy ban ngày 14/01/2019 và tìm hiểu sâu hơn về các loại sản phẩm dệt
Trang 9Lần cuối chúng tôi đi vào ngày 31/3/2019- 04/04/2019, chúng tôi đi với mục đích bổ sung những dữ liệu còn thiếu cho bài nghiên cứu của mình Tìm hiểu về cô nghệ nhân duy nhất ở B’Nơ C và những cô đi bán đồ thổ cẩm
Quan sát tham dự:
Lần điền dã đầu tiên, khu vực quan sát chính của tôi trong chuyến thực địa là
tổ dân phố B’Nơ C và quan sát được quá trình người Cil lắp khung dệt, phối màu len, và dệt vải, đồng thời tôi cũng có quan sát được các trục đường ở thị trấn Lạc Dương, và mức độ sử dụng những sản phẩm dệt của người Cil trong thị trấn
Lần thứ hai, chúng tôi quan sát kỹ hơn vào quy trình dệt tạo ra sản phẩm của người Cil, và chia nó ra từng giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu, dệt, bán hàng Tôi leo bộ lên đỉnh Ra Đa trên Lang Biang để quan sát những người dệt trên
đó và cách thức mà họ trao đổi giới thiệu hàng cho khách Sau đó, tôi tìm đến nhà một hộ dệt trong tổ dân phố B’Nơ C để tìm hiểu tiếp về cách dệt và những loại nguyên liệu cô dùng Thời điểm này khi chúng tôi đến, lượng khách du lịch đến đây rất đông, như quán K’Ho Coffe vừa tiếp một đoàn khách xong lại
có một đoàn khách mới tới, công việc làm không xuể
Lần thứ ba, chúng tôi đi quan sát dọc thị trấn để quan sát về cuộc sống cộng đồng đồng thời tìm những nơi bán đồ thổ cẩm Và chúng tôi có một buổi trao đổi với người bên Ủy ban thị trấn về tình hình kinh tế, xã hội ở đây Tôi tìm đến thông tín viên cũ để trao đổi sâu về những sản phẩm dệt và nguồn ra của
nó Và không khác gì so với lần hai, lần thứ ba tôi ở địa bàn thì lượng khách
du lịch không có dấu hiệu giảm đi
Lần cuối cùng chúng tôi đến và tìm kiếm những cô dệt thổ cẩm bổ sung thêm
tư liệu cho bài nghiên cứu của mình
Trang 10B’Nơ C Một điểm là được bày bán ngay trong quán K’ho Coffee, một điểm nữa được nhiều người bỏ mối bán là trên đỉnh Lang Biang
Vào lần điền dã thứ hai, tôi dựa vào mẫu snowball (mẫu dắt dây) để tiến hành phỏng vấn sâu 3 người ( trong đó 1 người là thông tín viên được giới thiệu, 1 người là thông tín viên trên đỉnh Lang Biang, 1 người là thông tín viên cũ), theo kế hoạch, tôi phỏng vấn các thông tín viên dựa theo các tiêu chí: vị trí (chủ điểm thu mua thổ cẩm - các nghệ nhân dệt nhỏ lẻ), theo giới tính (nam giới - nữ giới) và theo độ tuổi Những tiêu chí lựa chọn thông tín viên trên là những tiêu chí quan trọng, nó là những nhân tố giúp tôi định hình và tìm kiếm thông tín viên một cách hợp lý hơn Đồng thời, tại những điểm tụ nhiều khách
du lịch, tôi tiến hành quan sát những người buôn bán các mặt hàng dệt về các loại sản phẩm dệt
Lần thứ ba, chủ yếu tôi tập trung ở khu vực B’Nơ C, phỏng vấn 5 thông tin viên (trong đó 2 thông tín viên cũ, 2 thông tín viên là những người dệt với tuổi nghề cao và 1 người ở Ủy ban) Tôi phỏng vấn chị bên Ủy ban về tình hình du lịch cũng như mối quan tâm của chính quyền địa phương đối với việt dệt Sau
đó tôi phỏng vấn thông tín viên là những người dệt trong khu về cách họ tạo
ra sản phẩm, những loại hoa văn hay màu sắc thường được sử dụng, những loại sản phẩm nào có trước những sản phẩm nào mới được tạo ra gần đây Lần cuối cùng, chúng tôi tìm đến cô Tuyn, người được cả làng gọi là nghệ nhân dệt duy nhất và giỏi nhất trong làng, những sản phẩm mà sau này mới xuất hiện đều là do cô thực hiện trước rồi chỉ mọi người
Ngoài ra, Nhóm chúng tôi còn dùng phương pháp khai thác nguồn tài liệu thư tịch
từ những nhà nghiên cứu đi trước để điểm lại những khía cạnh có thể khai thác trong chủ đề này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là cộng đồng người Cil ở tổ dân phố B’Nơ C ở thị Trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
Trang 11Phạm vi nghiên cứu: tổ dân phố B’Nơ C (Nơi được gọi là làng dệt của người Cil) ở thị Trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng
6 Đóng góp khoa học của đề tài/Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Vận dụng khung lý thuyết về chủ thể sáng tạo được đặt trong bối cảnh phát triển du lịch vào trong đề tài giúp tôi nhận thức rõ hơn về những vấn đề căn cơ trong đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài mong muốn góp phần trở thành tư liệu tham khảo
về văn hóa tộc người Cơ Ho, đồng thời có thể trở thành tài liệu học tập cho những
môn học có liên quan đến vấn đề du lịch
7 Bố cục của đề tài
Đề tài sẽ được chia làm ba phần chính:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đây là chương thao tác hóa khái niệm và đưa ra khung lý thuyết cho cả bài Trong chương này chúng tôi làm rõ về các khái niệm như dệt của người Cil, du lịch và khung lý thuyết dựa theo bài viết về “Sáng tạo truyền thống” của Gs Lương Văn
Hy và Trương Huyền Chi (2012)
1.1 Thao tác hóa khái niệm và khung lý thuyết
1.1.1 Dệt của người Cil
1.1.2 Du lịch
1.1.3 Sáng tạo truyền thống và tính chủ thể
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý và dân cư
1.2.2 Các đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH DỆT THỔ CẨM TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NGƯỜI CIL, THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
Chương hai là là chương nhóm mô tả kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi làm
rõ những thay đổi trong cộng đồng tộc người trên các mảng khí cạnh của cả một
quá trình dệt để làm bật lên những sự thay đổi
Trang 122.1 Dệt trong bối cảnh du lịch ở thị trấn Lạc Dương
2.3.2 Nhu cầu của khách du lịch và sử dụng sản phẩm tộc người cho du lịch
CHƯƠNG 3: TÍNH SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI CIL TRONG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH Ở THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG
Bàn luận sâu hơn, giải thích nguyên nhân của những sự thay đổi đó, giải thích dựa trên khung lý giải về sáng tạo và tính chủ thể của cộng đồng, từ đó rút ra kết luận 3.1 Bản sắc cộng đồng trong phát triển du lịch
3.2 Những thay đổi trong dệt của người Cil và ý thức giữ nghề trong bối cảnh phát triển du lịch
Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thao tác hóa khái niệm và khung lý thuyết
1.1.1 Dệt của người Cil ……… 1 1.1.2 Du lịch ……… 1 1.1.3 Sáng tạo truyền thống và tính chủ thể ……… 2
1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.1 Vị trí địa lý và dân cư ……… 5 1.2.2 Các đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội ……… 6
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DỆT THỔ CẨM TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NGƯỜI CIL, THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC
DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Dệt trong bối cảnh du lịch ở thị trấn Lạc
CHƯƠNG 3 TÍNH SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI CIL TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở
THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG
Trang 143.1 Bản sắc cộng đồng trong phát triển du lịch ……… 28 3.2 Những thay đổi trong dệt của người Cil và ý thức giữ nghề trong bối cảnh phát triển du lịch……… 30 KẾT LUẬN ……… 35
Tài liệu tham khảo ……… 37
Trang 151
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khung lý thuyết và thao tác hóa khái niệm
1.1.1 Dệt của người Cil
Kỹ thuật dệt truyền thống nói chung bao gồm hai yếu tố chính: tạo sợi vỏ cây và tạo
ra dụng cụ “đan lát” sợi như que dẫn, bàn dệt, máy dệt.1 Ngày nay, kỹ thuật dệt của người Cil vẫn giữ nguyên các thao tác chính của nghề dệt nguyên thủy với việc sử
dụng khung dệt với để căng sợi, dùng con thoi gọi là “Tơn nrau trau brài” để đan
các sợi vải với nhau và tạo thành những hoa văn đặc trưng của tộc người Dệt của người Cil là một nghề thủ công truyền thống đã xuất hiện từ lâu đời và kỹ thuật đã đạt đến trình độ tinh xảo
Theo những nghiên cứu của Võ Tuấn Tú năm 2017 cho thấy rằng kỹ thuật dệt cổ truyền của người Cil bao gồm các công đoạn: trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải và sản phẩm Tuy nhiên trước bối cảnh toàn cầu hóa cũng như sự phát triển của công nghiệp và thương mại gần hai thập kỷ trở lại đây, số người biết dệt giảm đi nhiều, các công đoạn giảm đi như trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi hiện nay tại đây không còn vì được thay thế bằng sợi công nghiệp nhưng kỹ thuật dệt vẫn được lưu giữ Hiện giờ người dân chỉ thực hiện một công đoạn duy nhất là dệt vải
1.1.2 Du lịch
Du lịch, đây là một chủ đề đang được cộng đồng các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm bởi bối cảnh phát triển du lịch hiện nay ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa, xã hội của con người Cụ thể việc hiện nay những điểm du lịch nổi lên khắp nơi để đáp ứng nhu cầu về du lịch của con người Vậy, du lịch là
gì mà khiến cho cộng đồng đều hướng đến nó Đầu tiên phải nói du lich là một trải nghiệm văn hóa2 Và theo Tổ chức Du lịch thế giới, Du lịch là một hiện tượng văn
1 http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/6634/nghe-det-vai-co-tu-thoi-nao.html
2 Seyed Sina Mousavi, Naciye Doratli, Seyed Nima Mousavi and Fereshte Moradiahari, Defining Cultural Tourism, dẫn lại từ MacCannell (1993)
Trang 162
hóa, xã hội và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của con người đến những quốc gia hay những địa điểm khác bên ngoài khu vực sinh sống thường ngày của họ, những người này được gọi là du khách (mà có thể là khách du lịch hoặc người đi chơi, người cư trú hoặc không cư trú) và du lịch đã thực hiện những hoạt động đó cho họ, một số
trong đó có liên quan đến chi tiêu du lịch Có ba loại hình chính của du lịch đó là
du lịch giải trí, du lịch kinh doanh, du lịch thăm hỏi bạn bè người thân Loại hình
du lịch mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là du lịch văn hóa, vốn nằm trong du lịch giải trí, du lịch văn hóa được xem như là một loại hình du lịch tự nhiên để hiểu
và trở nên gần gũi hơn với cách sống và lịch sử đặc thù ở cộng đồng thông qua những nhân tố văn hóa được thể hiện trong bối cảnh du lịch, những nhân tố đó bao gồm thức ăn, giải trí, kiến trúc, nước uống, đồ dệt, những sản phẩm sản xuất hoặc mỗi yếu tố đại diện cho đặc điểm của lối sống trong một điểm đến cụ thể[3]
Đây có thể nói là loại du lịch lôi cuốn khách du lịch đến với” “các địa điểm hấp dẫn văn hóa, với mục đích thu thập thông tin và trải nghiệm mới để đáp ứng nhu cầu văn hóa của họ” ( Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Môi trường và Xã hội, 2013)
1.2.3 Sáng tạo truyền thống và tính chủ thể
Sáng tạo truyền thống
Theo từ điển tiếng Việt, sáng tạo là khả năng tạo ra một điều gì đó mới, một giải pháp, phương pháp, thiết bị hoặc sản phẩm nghệ thuật mới
Tuy nhiên, sáng tạo không hẳn là tạo ra một cái mới hoàn toàn và khác biệt
so với cái cũ mà cũng có thể là sự cải tiến dựa trên nền cái cũ thông qua một tiến trình sáng tạo truyền thống Tiến trình “liên quan đến sự thương thảo của nhiều chủ thể với những tiếng nói đa dạng, đến nhiều hệ tư tưởng địa phương và xuyên địa phương khác nhau, và đến những động thái phức tạp trong quan hệ đa chiều trong cộng đồng địa phương cũng như giữa cộng đồng địa phương và nhà nước” ( Lương Văn Hy & Trương Huyền Chi, 2012)
Luận điểm này của Gs Lương Văn Hy thông qua phân tích tiến trình tái lập
lễ hội cộng đồng tại làng Hoài Thị Đầu tiên phải kể đến nỗ lực tu sửa không gian
Trang 173
lễ nghi công cộng một cách tự nguyện của người dân trong làng Song song với nó
là những thay đổi trong cơ chế nghi lễ trong ngày hội làng, có “khá nhiều những yếu tố được tạo dựng hoàn toàn mới, hoặc biến cải những yếu tố cũ theo những nội dung hay hình thức mới hơn” Cụ thể, những nghi thức cúng tế và đám rước của ngày sự lệ xuất hiện khá nhiều những yếu tố như lễ khai mạc được tổ chức gần với một chương trình lễ hội kiểu mẫu được phát trên truyền hình, có đoàn cựu chiến binh mặc quân phục vác cờ Tổ quốc trong đoàn rước thay vì cờ Lệnh như nghi thức ngày xưa Theo đó, ông cho rằng những thay đổi đó thể hiện sự ảnh hưởng rõ rệt của tiếng nói Nhà nước trong tiến trình tái lập lễ hội của cư dân Hoài Thị
Trong khi trước đó, nhà nước chủ trương xem nhẹ và cho rằng các sinh hoạt
lễ nghi là hoạt động duy tâm cũng như không phù hợp với bối cảnh khoa học và hiện đại của đất nước lúc bấy giờ Đồng thời khi đó Nhà nước tập trung nguồn lực giải quyết hình hình sau chiến tranh cho nên việc cúng tế và lễ hội là một hoạt động phung phí tài vận quốc gia Sau khi Nhà nước có những động thái cải cách kinh tế - chính trị - xã hội, các chuyển biến trong các nghi lễ đã diễn ra Có thể nói, tiến trình sáng tạo truyền thống trong lễ hội ở làng Hoài Thị chịu tác động từ quan điểm và các động thái hỗ trợ của Nhà nước Chúng tôi cũng tìm thấy sự tương tự như vậy khi nghiên cứu về tiến trình sáng tạo dệt của người Cil Cụ thể, tiến trình sáng tạo của người Cil hình thành trước hết dựa trên chủ trương của nhà nước lưu giữ và phát triển nghề dệt ở khu vực B’nơ C cũng như mối quan hệ giữa các nghệ nhân truyền thống với các cơ quan, ban ngành Văn hóa xã hội của địa phương
Tính chủ thể
Điểm mấu chốt thứ hai góp phần vào phân tích tiến trình sáng tạo các sản phẩm dệt của người Cil chính là tính chủ thể Tính chủ thể “với điều kiện là một con người và quá trình mà qua đó chúng ta trở thành một con người, nghĩa là, chúng ta được hình thành như thế nào với tư cách là những chủ thể (về mặt sinh học và văn hóa) và cá nhân đó trải nghiệm bản thân mình như thế nào ( bao gồm những điều không thể mô tả được)”(Chris Barker, 2011) Xoay quanh tính chủ thể, chúng tôi dùng một phần của lý thuyết cấu trúc hóa của Giddens về chủ thể hành động để làm
Trang 184
rõ vấn đề này Cấu trúc hóa là quá trình hai chiều qua đó chúng ta hình thành thế giới xã hội thông qua hành động xã hôi của chúng ta, nhưng chính chúng ta bị định hình lại bởi xã hội” (Giddens, 2009) Ông đưa ra thành tố quan trọng của lý thuyết
là chủ thể hành động, tức là“chính con người hình thành xã hội qua hành động xã hôi của chính mình” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2017)
Như vậy, con người là chủ thể hành động trong việc kiến tạo nên xã hội xung quanh họ và hành động của con người là những hành động có ý hướng, có chủ đích Theo Chris Barker, để hành động, con người phải có động cơ, phải có khả năng tác động, phải có khả năng đánh giá và thông hiểu hành động đang diễn ra và phải giám sát một cách phản tư, tức giám sát hành động và những bối cảnh hành động của mình Theo ông, dòng chảy hành động của con người gây ra những kết quả nhất định mà có thể có hoặc không đúng với mong đợi của người thực hiện hành động, đôi khi những kết quả đó thoát ra khỏi sự kiểm soát của chủ thể hoặc có các yêu tố bên ngoài khác tác động vào Những kết quả này sau đó tác động trở lại, trở thành một điểu kiện ảnh hưởng các hành động tiếp theo của con người Trong bài viết này, người Cil hay cụ thể là các người thợ dệt, người bán hàng thổ cẩm và nghệ nhân chính là chủ thể hành động chính trong tiến trình sáng tạo truyền thống của dệt người Cil
1.2 Tổng quan về thị trấn Lạc Dương:
Trang 195
1.2.1 Vị trí địa lí và dân cư
Thị trấn Lạc Dương, trực thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội của huyện
Về vị trí địa lý và đia hình, huyện Lạc Dương nằm ở cực Bắc, trên vùng chóp của cao nguyên Lâm Viên, là vùng cao nhất của tỉnh Lâm Đồng Phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa, phía Tây giáp huyện Lâm Hà và huyện Đam Rông, phía Nam giáp thành phố Đà Lạt, phía Bắc giáp với tỉnh Đắk Lắk (UBND tỉnh Lâm Đồng, 2001)
Lạc Dương là huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp với 3 dạng địa hình chính là núi cao, đồi thấp đến trung bình và thung lũng Nhìn chung, địa hình nơi đây mấp mô, lượn sóng hình thành do sự kiến tạo địa chất nâng lên thành vùng chóp và thoải dần ở bốn phía
Theo báo cáo UBND, thị trấn Lạc Dương năm 2017 có tổng số 1.283 hộ dân với tổng số dân là 10.791 người Trong số đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 52% dân số với 5.526 nhân khẩu gồm đa số thuộc hai nhóm người Cơ Ho Cil và Cơ Ho Lạch ( Ủy ban Nhân dân huyện Lạc Dương, 2017)
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 206
Về khí hậu, Lạc Dương nằm trong vùng khí hậu ôn đới với độ cao so với mặt nước biển từ 1.500 – 1.600m Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp (18 – 22 độ C), tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất (16,40c), tháng năm có nhiệt độ trung bình cao nhất (19,70c), nhiệt độ ổn định qua các mùa trong năm Biên độ giao động giữa ngày và đêm lớn ( 9 độ C) Một năm chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, trung tâm của mùa mưa vào tháng 8,9 Lượng mưa ở Lạc Dương trong năm thấp hơn các huyện phía Nam của tỉnh Mùa khô có thời gian dài hơn mùa mưa, số ngày nắng trong năm từ 200 -
250 ngày Độ ẩm trung bình của Lạc Dương từ 70 - 80%, tương đối thấp hơn so với các huyện còn lại ( Ủy ban nhân dân thị trấn Lạc Dương, 2017)
Về đất đai và thổ nhưỡng, Lạc Dương có diện tích đất tự nhiên là 7013 hecta Đất có độ dốc chủ yếu dưới 18 độ, đất bazan nâu đỏ, chiếm 10 – 12% tổng diện tích toàn huyện, phân bố tập trung ở khu vực phía Nam, Tây Bắc Khả năng sử dụng tuỳ thuộc vào độ dốc, tầng dày, khí hậu và điều kiện tưới mà có thể trồng cây lâu năm như cà phê, chè, cây ăn quả…, ở những khu vực ít dốc có thể trồng hoa màu và cây công nghiệp hàng năm
1.2.2 Các đặc điểm kinh tế - văn hoá - xã hội
Với diện tích đất tự nhiên là 7013 hecta, trong đó hơn phân nửa là đất lâm nghiệp với hơn 3842 hecta, và đất nông nghiệp hơn 2186 hecta, đặc trưng kinh tế của thị trấn Lạc Dương chính là sản xuất Nông – Lâm nghiệp chiếm phần lớn trong
cơ cấu kinh tế vùng, bên cạnh thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công chức…
Cụ thể, người dân nơi đây tập trung trồng cà phê, rau củ và hoa công nghệ cao Mặc
dù có nhiều đồi, núi nhưng lâm sản không phải là một hình thức kinh tế của người dân ở đây bởi vì địa phương này nằm trong khu dự trữ sinh quyển thế giới Bên cạnh
đó, cư dân địa phương còn có thể cải thiện thêm thu nhập từ việc khai thác bản sắc văn hóa địa phương, những điểm du lịch Lang Biang và suối Vàng Đan Kia hay các
tụ điểm giao lưu biểu diễn cồng chiêng Hiện tại, ở thị trấn có 10 nhóm sinh hoạt cồng chiêng đang hoạt động, quy mô khoảng từ 20 – 30 người và đều được cấp giấy phép hoạt động của nhà nước Lang Biang
Trang 217
Cư dân ở thị trấn Lạc Dương chủ yếu theo Công giáo và Tin lành, cụm Công giáo nằm ở khu vực Bon Đưng 1 và 2, cụm Tin lành nằm ở B’nơ C và Xã Lát Người Cil là nhóm địa phương của người Cơ Ho chung với nhóm người Lạch, Sre, Co Don, Tring, và Nop Họ mới di chuyển qua đây từ những năm 60, hình thành một nhóm địa phương sống cùng với nhóm người Lạch trên mảnh đất Lạc Dương (Phan Ngọc Chiến, 2005) Từ đó họ tạo nên một nền văn hóa đặc sắc vừa giao lưu cùng với nhóm dân tộc trên đất mà họ sinh sống vừa tạo ra một nét văn hóa riêng biệt đặc trưng của chính tộc người Cil
Nói đến văn hóa Cil không thể không nhắc đến việc dệt, dệt đã trở thành một điểm phân biệt giữa hai nhóm Cơ Ho Lạch và Cơ Ho Cil từ rất lâu Dệt là nghề thủ công cổ truyền của đồng bào Cil, hiện nay nghề dệt tập trung chủ yếu ở B’Nơ C Nghề dệt là một trong hoạt động sinh kế của người dân từ trước đến nay, tuy vậy nghề dệt vẫn còn là một nghề sản xuất “tự cấp - tự túc”, đặc biệt trong quan điểm của chính quyền địa phương ( Võ Tấn Tú, 2016) Ngoài ra, các sản phẩm dệt được tạo ra còn để phục vụ cho đời sống tôn giáo và và lễ hội trong cộng đồng Váy thổ cẩm là một loại trang phục nữ bắt buộc phải mặc khi đi nhà thờ hay các tấm Ui được
sử dụng trong các nghi lễ vòng đời như một món quà tặng hoặc của hồi môn Như vậy, tấm Ui là một sản phẩm văn hóa tinh thần gắn liền với đời sống của người dân nơi đây
Về xã hội, cộng đồng người K’Ho Cil theo chế độ mẫu hệ với tập tục hôn nhân cư trú bên vợ (Hoàng Kim Ngọc, Hoàng Tuấn Cư, 2011) Cư dân Cil trong làng B’nơ C đa số là dân di cư trong chính sách định canh định cư của nhà nước trong những năm 1950 Trong quá khứ, buôn làng là một đơn vị xã hội khép kín,
nhưng hiện nay, làngcủa người Cil tương đối mở với các đơn vị xã hội khác
Tiểu kết
Những khái niệm về thuật ngữ và khung lý thuyết làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu được trình bày trong chương một Ngoài ra, các đặc điểm về du lịch và tình hình nghề dệt truyền thồng của người Cil thôn B’Nơ C, huyện Lạc Dương, thị trấn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng cũng được nhóm tác giả giới thiệu Từ những yếu
Trang 228
tố nền tảng trên, nhóm tác giả sẽ trình bày tiếp tục những dữ liệu miêu tả dân tộc học được thu thập trong quá trình điền dã tại chương hai
Trang 23
9
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH DỆT THỔ CẨM TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NGƯỜI CIL, THỊ TRẤN LẠC DƯƠNG, HUYỆN LẠC
DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Dệt trong bối cảnh du lịch của thị trấn Lạc Dương
2.1.1 Tình hình phát triển du lịch ở thị trấn Lạc Dương
Như đã đề cập trong mục tổng quan địa bàn ở chương 1, du lịch ở Lạc Dương đang phát triển song hành cùng với tốc độ phát triển du lịch của Đà Lạt Cả chính quyền lẫn người dân đều nhận định rằng ở thị trấn của họ có hai điểm du lịch nổi bật và thu hút nhiều khách du lịch, một là khu du lịch Lang Biang, hai là suối Vàng Đan Kia
Khu du lịch Lang Biang là khu du lịch nằm trên trục đường chính Lang Biang, nối dài với đường Xô Viết Nghệ Tĩnh ở thành phố Đà Lạt Được công nhận
là khu dự trữ sinh quyển thế giới tại kỳ họp lần thứ 27 của Unesco (9/6/2015), Lang Biang trở thành một trong những điểm du lịch đến hứa hẹn cho những du khách phương xa, mong muốn chiêm ngưỡng hết cảnh quang và không khí nơi đây Vì nằm trên vị trí đắc địa của thị trấn, Lang Biang là điểm trọng yếu giao lưu văn hóa giữa khách du lịch và người dân địa phương Một trong những mặt hàng đồ lưu niệm bày bán khá nhiều ở Lang biang là các mặt hàng thổ cẩm, của người địa phương làm
ra có, mà ngay cả của những người nơi khác làm ra như hàng của người Chăm cũng
có Ngay từ cổng ra vào của Lang Biang, có rất nhiều cô đứng bán các loại đồ thổ cẩm (ví cầm tay, giỏ xách…) cho du khách Ngoài ra, họ còn bán những mặt hàng thổ cẩm trên đỉnh núi Ra đa - một điểm mà mọi người thường được đưa đến khi đi bằng xe Jeep, lên đến đây mọi người có thể mua được những mặt hàng thổ cẩm được dệt trực tiếp bằng tay tại chỗ Ngoài ra một điều đặc biệt giúp Lang Biang thu hút khách du lịch là vì nó còn là một điểm giao lưu biểu diễn cồng chiêng nổi tiếng của vùng
Nằm giáp với Lang Biang là suối Vàng ở Đan Kia, nó là nguồn cung cấp nước cho người dân nơi đây Nổi tiếng bởi vẻ đẹp hoang sơ, chưa bị tác động bởi
Trang 2410
bản tay con người, khu du lịch suối vàng là một trong những điểm đến lý tưởng thu hút khách để hưởng thụ cảnh quan tự nhiên như người anh em Lang Biang của nó Hiện nay, Suối Vàng nằm trong quy hoạch khu du lịch quốc gia trọng điểm theo quyết định của thủ tướng Chính Phủ giúp bảo tồn đa dạng sinh học của Lang Biang Bên cạnh đó, một trong những yếu tố quan trọng giúp cho yếu tố du lịch ở đây phát triển là việc giao lưu biểu diễn cồng chiêng tại địa bàn Đi dọc khắp hai trục đường chính Lang Biang và Thống Nhất ở thị trấn Lạc Dương là hàng loạt các biển tên của các tụ điểm biểu diễn cồng chiêng lớn, hút mắt người đi đường như K’Mơ Dang Ja, K’Druynhs, Cil Ju, K’Tham, Các tụ điểm thường biểu diễn vào tối các ngày trong tuần, vì vậy nên không quá khó nếu khách du lịch có nhu cầu tìm kiếm một tụ điểm
để xem giao lưu văn hóa cồng chiêng ở thị trấn Lạc Dương Hiện nay chính quyền địa phương đang mong muốn phát triển loại hình văn hóa cồng chiêng bằng việc hỗ trợ các chính sách mở cửa và đào tạo dạy nghề, đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng ở Lạc Dương
Ngoài hai điểm du lịch nổi tiếng này thì K’ho Coffee còn là một điểm du lịch trọng yếu, thu hút lượng lớn du khách quốc tế đến tham quan du lịch Quán K’ho này không quá lớn nhưng lại có nhiều điểm thu hút khách như việc rang xay cà phê tại chỗ, mở thêm một không gian thưởng thức cà phê ở sâu bên trong vườn, và một điểm thú vị là bên trong quán có để bày bán những sản phẩm dệt đặc trưng của cộng đồng người Cơ Ho Cil nơi đây, mang đến cho khách du lịch có nhiều lựa chọn trải nghiệm thú vị Tuy rằng K’ho Coffee không được chính quyền địa phương xem như một điểm đến du lịch ở thị trấn nhưng nó vẫn phát huy năng lực vốn có của mình, hàng năm một lượng lớn khác du lịch ghé thăm và thưởng thức hương vị Arabica chua chua đậm chất vùng cao nơi đây Đến K’ho Coffee còn tổ chức một tour hiking nhỏ cho những du khách muốn đến thăm thú khu vườn trồng cà phê của gia đình chủ quán ở phía sau núi bà Vì thế mà K’ho vô hình chung trở nên nổi tiếng không chỉ với cộng đồng khách du lịch trong nước mà còn với cộng đồng du khách quốc
tế thông qua các bài blog quảng cáo, các bài báo mạng và trên các trang mạng xã hội
Trang 25sự phát triển về kinh tế và đời sống xã hội của người dân được nâng cao
2.1.2 Dệt trong bối cảnh du lịch ở làng B’Nơ C
Nằm trong thị trấn Lạc Dương, tổ dân phố B’Nơ C là khu vực mà cộng đồng người Cil sinh sống Dựa theo vị trí địa lý, tổ dân phố này nằm ở khu vực xa chợ, ít
ồn ào nhưng nó vẫn là một trong những điểm đến nổi bật, nhận được nhiều mối quan tâm của du khách, và nơi mà hút khách tìm đến B’Nơ C lại là quán K’Ho Coffee của chị Rolan Cơ Liêng Nổi lên với câu chuyện tình yêu với anh chàng người Mỹ, tên là Joshua, hai vợ chồng sau khi cưới đã cùng nhau xây dựng lên một mô hình sản xuất phân phối cà phê sạch, cho tới nay đã thu hút hơn 50 hộ dân trong địa bàn tham gia hợp tác Chính sự phát triển của mô hình này đã đưa tên tuổi của K’Ho Coffee vươn xa, thu hút những người trong giới nông nghiệp quan tâm, chú ý Hiện nay có nhiều nhóm sinh viên từ các trường quốc tế đến và trải nghiệm mô hình cà phê sạch ở K’Ho Coffee, và sau đó giới thiệu cho bạn bè quốc tế về nơi đây Điều đặc biệt ở đây, chị Rolan khi phát triển, quảng cáo và đem cà phê ở đây đến những nơi khác để bán thì chị luôn đem theo những mặt hàng thổ cẩm để quảng bá và bán cho bạn bè khắp nơi Ngay cả trong quán cà phê của chị cũng dành một không gian
để những mặt hàng thổ cẩm cho những du khách khi đến quán có thể xem xét và mua nó K’Ho Coffee hiện đang là một trong những điểm đến lý tưởng của du khác
vì vậy mà tổ dân phố B’Nơ C cũng luôn tiếp đón một lượng khách du lịch tới để tham quan và tìm hiểu về những đặt trưng ở vùng
Nói đến nghề dệt vốn là một nghề truyền thống của người Cơ Ho Cil, những người phụ nữ Cil họ thường dệt những tấm khăn (Ui) để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày như may quần áo, đem tặng, hoặc đem đi trao đổi hàng hóa thay tiền
Vì thế, giá trị của tấm Ui ngày trước rất cao, người Cơ Ho chỉ sử dụng tấm Ui khi
có những dịp quan trọng như trong các nghi lễ vòng đời và trong các dịp lễ lớn
Trang 2612
Thế nhưng nghề dệt hiện nay của người Cil có sự thay đổi, nhất là đặt nó trong bối cảnh du lịch Dệt vốn là một nét đặc trưng của người Cil, một sản phẩm tộc người như cồng chiêng của người Lạch, nhưng mối quan tâm của chính quyền địa phương dành cho nghề dệt khá mờ nhạt Từ sau thất bại của hợp tác xã dệt do chính quyền tổ chức để giúp người dân nâng cao tay nghề và phát triển ngành nghề truyền thống, do không bán được với giá cả thị trường cao vì là đồ thủ công (800 nghìn VNĐ - 1 triệu VNĐ/ tấm Ui) nên sản phẩm bị dư thừa, vậy nên chính quyền địa phương hiện nay coi nghề dệt là một nghề “tự phát”, không có chính sách hỗ trợ cho nghề này
Bản thân các loại sản phẩm dệt cũng đang đứng trước nguy cơ bị loại trừ bởi các mặt hàng sản phẩm người Chăm xuất hiện rất nhiều trên thị trường Bởi song song với những sản phẩm dệt do chính người Cơ Ho Cil làm ra là những mặt hàng thổ cẩm Chăm với nhiều hình thù, được bày bán chồng lên nhau Như trên đỉnh Lang Biang, sản phẩm dệt của người Cil chỉ được bày bán ¼ không gian bán, còn lại ¾ là các mặt hàng sản phẩm của các dân tộc khác Còn như những cô bán hàng rong dưới chân núi trong khu du lịch Lang Biang, sản phẩm dệt các cô để bên trong, còn những mặt hàng thổ cẩm của các dân tộc khác thì các cô để bên ngoài, xếp ngay ngắn gọn gàng và bắt mắt Nhìn chung, mặt hàng người Cil hiện nay không chỉ được này bán đơn lẻ mà còn được bày bán chung với các loại sản phẩm dệt may khác, nó cạnh tranh trực tiếp với mặt hàng thổ cẩm thông thường của người Cil mà do chính người dân tộc Cil chấp nhận mang về bán để tạo thêm thu nhập cho mình
Trong bối cảnh phát triển du lịch ở thị trấn Lạc Dương, nghề dệt của cộng đồng người Cil có những bước thay đổi để đa dạng hóa những mặt hàng, sản phẩm
mà chúng tôi sẽ phân tích dưới đây, đồng thời cho thấy trong bối cảnh phát triển du lịch này dệt vẫn đang được duy trì phát triển đi đôi với việc phát triển du lịch ở cộng đồng thị trấn Lạc Dương
2.2 Quy trình
2.2.1 Nguyên liệu dệt và kỹ thuật dệt: