1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thái độ của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh khi việt nam gia nhập wto báo cáo đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường 2006

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu thái độ của sinh viên đại học quốc gia thành phố hồ chí minh khi việt nam gia nhập WTO
Tác giả Phạm Thị Diễm Phúc, Nguyễn Đỗ Hạnh, Võ Nữ Hải Yến, Phạm Thị Thanh Hiền
Người hướng dẫn TS. Phạm Đức Trọng
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học, Đông phương học
Thể loại Báo cáo đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường
Năm xuất bản 2006
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 662 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH Đề tài “Tìm Hiểu Thái Độ Của Sinh Viên Đại Học Quốc Gia TPHCM Khi Việt nam Gia nhập WTO” đóng góp một số kết quả như sau: Phần dẫn nhập, nhóm nghiên cứu thuyết minh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BÁO CÁO ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Sv ngành Xã Hội Học Khóa 2004-2008 Mssv:0469080

TP HỒ CHÍ MINH-2006

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BÁO CÁO ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CẤP TRƯỜNG- 2006

TÌM HIỂU THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHI

VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Người hướng dẫn khoa học :

TS PHẠM ĐỨC TRỌNG

Chủ nhiệm đề tài :

PHẠM THỊ DIỄM PHÚC

Sv ngành Xã Hội Học Khóa 2004-2008 Mssv:0469080

Các thành viên :

NGUYỄN ĐỖ HẠNH

Sv ngành Xã Hội Học Mssv:0469027 Khóa 2004-2008

VÕ NỮ HẢI YẾN

Sv ngành Xã Hội Học Mssv:0469128 Khóa 2004-2008 PHẠM THỊ THANH HIỀN

Sv Ngành Đông Phương Học

Mssv:0465083 Khóa 2004-2008

TP HỒ CHÍ MINH – 2006

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

PHẦN I DẪN NHẬP 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu 8

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 9

1.3 Mô tả về địa bàn nghiên cứu 11

1.4 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 13

1.5 Mô hình khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu 16

1.6 Giả thuyết nghiên cứu 16

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17

2.1 Lịch sử tổ chức thương mại thế giới WTO 17

2.2 Khái quát quá trình Việt Nam gia nhập WTO 19

2.3 Thông Tin Về WTO Được Đăng Tải Trên Phương Tiện Truyền Thông 21

2.4 Thái độ của sinh viên đối với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO 25

2.5 Sự tác động của sự kiện Việt nam gia nhập WTO đến sinh viên 35

CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 48

Trang 4

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Đề tài “Tìm Hiểu Thái Độ Của Sinh Viên Đại Học Quốc Gia TPHCM Khi

Việt nam Gia nhập WTO” đóng góp một số kết quả như sau:

Phần dẫn nhập, nhóm nghiên cứu thuyết minh về tính cấp thiết của đề tài, những nghiên cứu đi trước có liên quan và những nét chính về công cuộc nghiên cứu

Phần nội dung chính đề tài chia làm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn- phương pháp luận của đề tài

Chương 2: Những kết quả nghiên cứu

Ở chương 1 gồm 6 tiết, trình bày những lý thuyết như là cơ sở nghiên cứu của

đề tài , trình bày khung lý thuyết áp dụng cho đề tài và giải thích những khái niệm

có liên quan đến đề tài Đồng thời chúng tôi cũng nêu vài nét về địa bàn nghiên cứu chính của đề tài

Chương 2 là kết quả của nhóm, được chúng tôi trình bày trong 5 tiết, 3 tiết đầu chúng tôi trình bày vài nét về tổ chức thương mại thế giới WTO, các thông tin về WTO đăng tải trên các phương tiện truyền thông như là những tư liệu góp phần làm sáng tỏ vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu Ở tiết 3 và tiết 4 là những kết quả mà chúng tôi thu được từ nghiên cứu

Cuối cùng là phần kết luận và một số suy nghĩ mang tính kiến nghị mà nhóm muốn gởi đến các nhóm, các tổ chức cơ quan đoàn thể có liên quan

Trang 5

PHẦN I DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hóa đang là một xu hướng phổ biến trên toàn thế giới, mặc dù còn nhiều tranh cãi về những cơ hội mà toàn cầu hóa mang lại cho từng quốc gia dân tộc, nhưng số đông các nhà chính trị - xã hội ở Việt Nam vẫn thừa nhận giá trị của toàn cầu hóa, coi toàn cầu hóa là một hiện tượng chứa đựng nhiều cơ may đối với sự phát triển của cộng đồng cũng như với từng cá nhân Điều này khó có thể phủ nhận, song việc nắm bắt cơ hội đó ở mức nào lại phụ thuộc vào nội lực của từng nước Nước nghèo, người nghèo vì thiếu vốn, hạn chế về công nghệ và kỹ năng quản lý… nên tuy có nhiều cơ hội trong toàn cầu hóa, song nắm bắt và tận dụng được những cơ hội thật ra không dễ Trong toàn cầu hóa khoảng cách và trình độ phát triển của những nước nghèo ngày càng xa cách với các nước giàu, dễ gặp bất lợi khi phải gia nhập các thể chế hay định chế toàn cầu, dễ bị tổn thương và gặp rủi ro… trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế

Phân tích trên cho chúng ta nhận định rõ nét về những thách thức và cơ hội đặt ra cho đất nước khi gia nhập WTO – bởi xét cho cùng WTO không gì khác hơn

là sân chơi của toàn cầu hóa Không thể phủ nhận những cơ hội mà khi đã là thành viên của Tổ chức thương mại Thế Giới mang lại cho nước ta, nhưng thách thức không phải là ít Là cơ hội hay thách thức điều đó tùy thuộc rất lớn vào sức mạnh nội sinh, tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc Khi nhắc đến yếu tố này, giới trẻ Việt Nam được đặt nhiều kỳ vọng - bởi họ là nguồn lực quan trọng, là những chủ nhân tương lai của đất nước Thế nhưng, những bất cập nội tại về trình độ trí thức, tác phong, kỹ năng làm việc… đang đặt ra cho giới trẻ Việt Nam những thách thức không nhỏ Và có thể nói gia nhập WTO là cơ hội để chúng ta “đổi mới” mình Nhưng để làm được điều đó không phải là chuyện một sớm một chiều mà là cả một quá trình lâu dài và phải giải quyết gốc rễ của vấn đề Ở đây yếu tố nhận thức góp phần quan trọng dẫn đến những đổi thay Bởi có hiểu được bản chất của vấn đề, có thấy được vận hội lớn mà thời đại đặt ra thì giới trẻ mới có những thay đổi phù hợp

Ý thức được điều đó chúng tôi đã chọn vấn đề “TÌM HIỂU THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐHQG TPHCM KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO” để nghiên cứu

Trang 6

nhằm tìm hiểu thái độ, nhận thức của sinh viên trước sự kiện lớn này, đồng thời sinh viên đã và đang chuẩn bị những gì khi đất nước hội nhập

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình tìm hiểu, nhóm nhận thấy sinh viên là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu, thuộc các chuyên ngành, các cấp độ khác nhau Những đề tài mà nhóm có cơ hội tiếp cận đều xoay quanh vấn đề về lối sống, nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của sinh viên

Về lối sống của sinh viên, có đề tài: “ Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay

và những phương pháp giáo dục cho sinh viên” do PGS-PTS Mạc Văn Trang chủ

nhiệm Cũng về vấn đề này, nhưng có sự thu hẹp hơn về phạm vi nghiên cứu có đề

tài khóa luận tốt nghiệp của Trần Công Dũng “Lối sống của sinh viên ký túc xá Đại

Học Quốc Gia thành phố Hồ Chí minh - thực trạng và giải pháp”

Riêng về vấn đề Việt Nam gia nhập WTO, đây là sự kiện quan trọng và có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội của nước ta Chính vì vậy tìm hiểu về WTO cũng như những tác động mà nó đem lại cho đất nước, là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng theo sự tìm hiểu của chúng tôi, vấn đề này chỉ được xem xét dưới khía cạnh ảnh hưởng đến một số lĩnh vực mũi nhọn của đất nước như : Bưu chính viễn thônng, ngân hàng, hàng hải…., đặc biệt nhấn mạnh đến tình trạng của các doanh nghiệp trong nước khi gia nhập WTO Trong đó có những nghiên cứu đáng chú ý:

+ Toàn cầu hoá và gia nhập WTO –Tác động đến kinh tế và xã hội đối với Việt Nam – PGSTS Hans Juergen Roesner

+ Tác động về mặt xã hội của quá trình gia nhập WTO đối với chính trị-xã hội của VN-GSTS Trần Ngọc Hiền

+ Trong diễn đàn diễn ra tại Hà Nội trong 3-4/6/2003, tại TPHCM từ 6-7/6/20003 do trung tâm KHXH &NV quốc gia Ngân hàng thế giới có đề cập đến vấn đề : Tác động về mặt xã hội của quá trình gia nhập WTO ở Việt nam (Matin Rama)

+ Bài viết TPHCM-hiện trạng nhận thức và các giải pháp chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới UBND TPHCM (GSTS Nguyễn Thiện Nhân)

Trang 7

Còn những đề tài nghiên cứu về vấn đề sinh viên với WTO thì hầu như chưa

có Những tìm hiểu trên có những phát hiện đáng quan tâm, có giá trị tham khảo đối với đề tài của chúng tôi Tuy nhiên sự xuất hiện của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và những luồng dư luận xung quanh sự kiện này chỉ mới xuất hiện, vì vậy mặc

dù trong đề tài, khách thể là sinh viên nhưng nội dung hoàn toàn mới Sự quan tâm của chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu phản ứng của sinh viên khi Việt Nam gia nhập WTO, mà chúng tôi còn tìm hiểu những thay đổi trong suy nghĩ cũng như trong hành động của sinh viên nhằm thích nghi với tình hình mới

Mặc dù đang là sinh viên, có nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm tài liệu cũng như việc làm quen với phương pháp nghiên cứu xã hội học, những kỹ năng, những thuật ngữ chuyên ngành, nhưng chúng tôi vẫn tin rằng nghiên cứu của chúng tôi có những giá trị riêng và có ý nghĩa ứng dụng vào thực tiễn ở chừng mực nhất định

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu mà đề tài hướng đến là:

Đưa ra một cái nhìn khái quát về thái độ của sinh viên Đại Học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh đối với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế giới (WTO)

Tìm hiểu những thay đổi trong suy nghĩ cũng như trong hành động của sinh viên Đại Học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh nhằm thích nghi với những thay đổi do sự kiện này gây ra- nhấn mạnh đến những thay đổi trong thái độ học tập nhằm tìm kiếm công việc khi ra trường

4 Nội dung nghiên cứu

Thông qua việc thực hiện đề tài chúng tôi muốn nghiên cứu những vấn đề sau:

- Nhận thức của sinh viên về sự kiện Việt Nam gia nhập WTO: nghiên cứu nội

dung này nhóm tập trung vào tìm hiểu các nguồn tiếp cận thông tin về WTO của sinh viên, mức độ hiểu biết về tổ chức này

Trang 8

- Thái độ của sinh viên đối với sự kiện Đây là nội dung chính của đề tài

nghiên cứu Chúng tôi đưa ra những nhận định về sự quan tâm, mức độ quan tâm, mức độ ảnh hưởng đến suy nghĩ cũng như hành động của các sinh viên về quá trình học tập, về định hướng nghề nghiệp tương lai của nhóm sinh viên trong mẫu nghiên cứu

Cuối cùng, chúng tôi muốn nêu lên một số ý tưởng mang tính đề xuất đến các tổ chức Đoàn, cũng như công tác giáo dục, tư tưởng - chính trị cho sinh viên

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu

Thái độ của sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh khi Việt Nam gia nhập WTO

* Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là sinh viên Đại Học Quốc Gia Thành Phố

Hồ Chí Minh Trong đó chú trọng đến sinh viên của 3 trường: ĐH KHXH&NV, ĐH

Khoa Học Tự Nhiên, ĐH Bách Khoa và Khoa Kinh Tế Đồng thời để đề tài có định hướng cụ thể nhóm đã chọn sinh viên năm 3, năm 4 của 3 trường và một khoa kể trên là khách thể chính, vì những nguyên nhân sau:

+ Một trong những quan tâm lớn nhất của sinh viên khi ra trường là tìm việc làm, Việt Nam gia nhập WTO được coi là cơ hội để họ thể hiện bản thân Đối với những sinh viên năm 3, năm 4 điều đó càng cấp thiết hơn khi thời điểm tốt nghiệp đã cận kề Chính vì vậy một sự chủ động , sẵn sàng cho thời điểm ra trường là điều cần thiết đối với họ hơn hẳn sinh viên năm 1, năm 2

+ Một lý do quan trọng khác làm cơ sở cho lựa chọn của chúng tôi là đối với sinh viên năm 1, năm 2, khi họ nhập học thì Việt Nam đã gia nhập WTO, nên họ đã chịu sự tác động của sự kiện này ngay từ đầu nên họ có sự chủ động hơn trong quá trình học tập Còn đối với sinh viên năm 3, năm 4 sự kiện này diễn ra khi quá trình học tập của họ đã đi hơn một nửa chặng đường Vì thế khi sự kiện này diễn ra có thể

có nhiều tác động đến họ, và những thay đổi về nhận thức, hành động trong học tập cũng như việc tiếp cận cơ hội việc làm của họ diễn ra sâu sắc hơn, theo hai hướng:

Trang 9

 Củng cố hơn những định hướng mà họ đặt ra trước đó

 Có sự thay đổi định hướng cho phù hợp với tình hình mới

Đồng thời việc giới hạn khách thể góp phần bảo đảm đảm bảo tính tập trung thông tin của đề tài

6 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong ĐHQG Tp HCM trong thời điểm hiện nay Chúng tôi tập trung chú ý vào sinh viên của 3 trường: ĐHKHXH&NV, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Bách Khoa, và Khoa Kinh Tế Vì những lý do sau:

Đây là các trường tiêu biểu, có quá trình đào tạo lâu dài, chuyên cung cấp những sinh viên giỏi cho đất nước trong các lĩnh vực Kinh tế -Văn hóa - Xã hội, những nhận định của họ có thể mang tính đại diện cho toàn sinh viên ĐHQG nói riêng và sinh viên TP HCM nói chung

Và sinh viên ở các trường này do tính chất của ngành học, đòi hỏi có sự hiểu biết nhất định về tổ chức WTO, cũng như những tác động của nó đối với đất nước ta nói chung và đối với bản thân họ nói riêng

Một nguyên nhân nữa là những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đề tài của nhóm nghiên cứu Thời gian khá ngắn cho một đề tài mang tính chất thực nghiệm, phải hoàn thành chương trình học trong cùng khoảng thời gian làm đề tài, những trở ngại khi tập hợp thành viên, những thiếu sót về kinh nghiệm….vì vậy thuận tiện là một trong những tiêu chí ưu tiên khi chúng tôi chọn địa bàn nghiên cứu

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

*Ý nghĩa lý luận

Trang 10

Đề tài dựa trên các lý thuyết xã hội học là công cụ nghiên cứu chính nên kết quả của đề tài sẽ làm phong phú thêm (ở một chừng mực nào đó) những lý thuyết xã hội học

* Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tổ chức quan tâm đến việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng – chính trị cho sinh viên Và những tư liệu nói về tổ chức WTO mà nhóm tìm hiểu sẽ là nguồn tư liệu tin cậy cho những ai muốn tìm hiểu về tổ chức này

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHƯƠNG PHÁP LUẬN

CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

*Thuyết chức năng

H.Spencer là người đầu tiên đưa ra quan điểm chức năng, Durkheim và sau

đó là Malinowski cũng góp phần phát triển quan điểm này Về sau những người ủng

hộ mạnh nhất quan điểm này là Talcott Parson và Robert Merton

Thuyết chức năng nhấn mạnh đến sự hoà hợp, trật tự và hợp tác của các bộ phận trong xã hội Đặc biệt trong đó Parsons nhấn mạnh đến tính xã hội trong hành động của cá nhân Họ luôn đưa ra những mục tiêu và những hành động phù hợp để đạt tới mục đích của mình Những thay đổi đó góp phần làm cho cá nhân hội nhập vào xã hội và đóng góp vào sự duy trì xã hội đó

Lý thuyết này nhấn mạnh đến sự hòa hợp trật tự, hợp tác giữa các cấu trúc khác nhau trong xã hội Vận dụng quan điểm này vào đề tài để phân tích tính hợp lý khi chính phủ ta xin gia nhập WTO , nó hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Như vậy, WTO là chủ thể trong mối tương tác với sinh viên, và sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những thay đổi trong nhận thức của sinh viên về những cơ hội và thách thức mà họ sẽ gặp phải khi họ gia nhập vào thị trường lao động Nhận thức về vấn đề này càng sâu sắc thì khả năng thích nghi của họ càng cao Đây chính là khía cạnh mà chúng tôi tìm hiểu, sinh viên có hiểu rõ về WTO hay không? Đồng thời nhận thức này có ở tất cả sinh viên, hay chỉ ở những nhóm sinh viên nhất định Nhận thức thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi trong hành động, vận dụng lý thuyết này để xem xét những thay đổi trong thái độ học tập của họ

* Thuyết hành động của Max Weber

Nội dung của thuyết hành động cho rằng hành động của con người mang tính

xã hội Con người trước khi hành động suy nghĩ về những nhu cầu, động cơ của mình, từ đó tính toán đến những phương cách thực hiện mục tiêu Mỗi cá nhân tùy

Trang 12

theo những động cơ, nhu cầu của mình mà có những hành động khác nhau Theo sơ đồ:

Hoàn cảnh ( Điều kiện sống)

Nhu cầu -> Động cơ -> Chủ thể -> Công cụ ->Mục đích

Lý thuyết này cũng nhấn mạnh, muốn nghiên cứu con người phải đặt mình vào hoàn cảnh của từng đối tượng và thâm nhập vào thế giới nội tâm của con người,

vì người ta không chỉ hành động khi có lợi mà còn vì cái mà họ cho là có giá trị Thuyết này đề cập đến 4 loại hành động cơ bản, và giữa chúng có sự đan xen nhau

Ở đây chúng tôi chỉ quan tâm đến 2 loại hành động cơ bản:

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

 Kiến thức:

Trang 13

Kiến thức là những biểu hiện có được do kinh nghiệm từng trải, hoặc thông qua quá trình học tập về một lĩnh vực nhất định Như vậy kiến thức về vấn đề Việt Nam gia nhập WTO, biểu hiện thông qua những hiểu biết của họ về tổ chức WTO,

về những tác động mà WTO mang lại cho Việt Nam và nhất là cho bản thân họ sau khi gia nhập

để đánh giá thái độ của sinh viên về vấn đề này được đánh giá ở mức độ quan tâm, trạng thái cảm xúc, và những hành động mà sinh viên biểu hiện sau khi chịu sự tác động của vấn đề

Những phản ứng có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối qua lại với quá trình nhận thức Mặc dù những nhận thức đúng đắn phù hợp sẽ được thể hiện duy trì, nhưng đây cũng chỉ là những biểu hiện khuynh hướng tích cực và không phải khi nào cũng tuân theo sự định trước

 Hành động xã hội:

Là loại ứng xử mà chủ thể gắn cho nó những ý nghĩa chủ quan nhất định, nguyên nhân của hành động xuất phát từ nhu cầu của chủ thể

Trang 14

có nhiều biến đổi về định dướng giá trị, lối sống, nhu cầu và nguyện vọng của mình” Sinh viên là những người có điều kiện tiếp xúc những tinh hoa của khoa học công nghệ hiện đại nhất Như đánh giá của Lênin: “Sinh viên là một bộ phận nhạy cảm nhất của giới trí thức, là tầng lớp có độ trí thức tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên”

1.3 Mô tả về địa bàn nghiên cứu

 ĐH Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh ( ĐHQG TPHCM)

ĐHQG TPHCM) được thành lập vào ngày 27 tháng 1 năm 1995 theo nghị định 16/CP của chính phủ trên cơ sở sắp xếp 9 trường đại học thành viên và viện nghiên cứu khoa học ở khu vực TP HCM Bao gồm: ĐH tổng hợp ( ĐH Khoa Học

Tự Nhiên Và Nhân Văn hiện nay); ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ đức, Đại học Kiến Trúc, phân hiệu đại học Luật TP HCM và đã chính thức ra mắt vào ngày 6 tháng 2 năm 1996 ĐH Quốc Gia là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Hiện nay, ĐHQG gồm: ĐHKHXH&NV, ĐHKH Tự Nhiên, ĐH Bách khoa, ĐH Quốc tế, ĐH Công nghệ Thông tin, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúnh tôi tập trung vào nghiên cứu 4 trường: KHXH &NV, KHTN, ĐHBK, Khoa Kinh tế

Trang 15

 Trường ĐH KHXH &NV

Trường ĐH KHXH&NV thuộc ĐHQG TPHCM, có vai trò quan trọng trong

hệ thống giáo dục Việt Nam, chuyên đào tạo các lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn Trường có truyền thống 45 năm lịch sử với tiền thân là trường Đại Học Văn Khoa thuộc viện Đại Học Sài Gòn, quy mô đào tạo của trường là trên 20.000 sinh viên; trong đó trên 12.000 sinh viên chính quy và 1.300 học viên sau đại học Đào tào 17 chuyên ngành khác nhau bao gồm: Ngữ văn báo chí, Lịch sử, Triết học, Địa lý, Xã hội học, Thư viện- Thông tin, Giáo dục học, Đông phương học, Ngữ văn anh, Ngữ văn Nga, Ngữ văn Trung, Ngữ văn Đức,Việt Nam học, Nhân học, Lưu trữ, Ngữ văn pháp, Quan hệ quốc tế

 Trường Khoa học Tự nhiên

Được thành lập theo quyết định 1236/GDĐT của bộ GD & ĐT ngày 30/3/1996 trên cơ sở tách ra từ Trường ĐH tổng hợp TPHCM để tham gia vào ĐH Quốc gia TPHCM Trường hiện có 7 khoa : 6 phòng ban chức năng; 12 trung tâm nghiên cứu khoa học và sản xuất dịch vụ Hiện trường đào tạo các văn bằng : Cử nhân hệ cao đẳng, cử nhân cao học theo 7 ngành, Cử nhân 2, Thạc sĩ khoa học và Tiến sĩ Hàng năm, trường có trên 2000 cử nhân và gần 80 Thạc sĩ - Tiến sĩ ra trường, cung cấp đội ngũ cán bộ khoa học tự nhiên cho xã hội, các chuyên ngành đào tạo của trường là: toán - tin học, CNTT, vật lý, hóa học, sinh học, địa chất, môi trường

 Trường Đại Học Bách Khoa

Là một trong những trường Đại học có uy tín nhất phía Nam, chuyên đào tạo những kỹ sư, cử nhân tài năng trong các lĩnh vực kỹ thuật ứng dụng cho Đất nước Qua 12 năm phấn đấu, đến nay trường đã hoàn thiện hệ thống tín chỉ (Đại học chính quy, tại chức), hiện nay từng bước triển khai cho đào tạo sau đại học Trường có nhiều chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài Từ năm 1999 trường tham gia chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao Việt - Pháp Năm 2004 có 54 sinh viên tốt nghiệp, được đánh giá cao Đặc biệt trong đó có 48 sinh viên tốt nghiệp của 4 trường Đại học Việt Nam được hội kỹ sư Pháp công nhận bằng kỹ sư Pháp được hành nghề ở châu Âu thì trường Bách Khoa chiếm 38 Sinh viên

Trang 16

Hiện nay, trường Bách Khoa có tổng số 25,979 sinh viên theo học Trong đó sinh viên chính quy chiếm 16.922 sinh viên, đào tạo thuộc 11 chuyên ngành kỹ thuật khác nhau bao gồm: Khoa Công Nghệ Thông Tin, Khoa Công Nghệ Hóa Học, Khoa

Cơ Khí, Khoa Điện - Điện Tử, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Khoa Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Quản Lý Công Nghiệp, Khoa Môi Trường, Khoa Địa Chất - Dầu Khí, Khoa Kỹ Thuật Giao Thông, Khoa Công Nghệ Vật Liệu

 Khoa Kinh Tế

Khoa Kinh tế trực thuộc ĐHQG TPHCM, được thành lập theo quyết định số 441/ QĐ- ĐHQG/ TCCB ngày 06/11/2000 của Giám đốc ĐHQG TPHCM Cơ sở trường lớp của khoa nằm trong khuôn viên của ĐH QG TPHCM tại Phường Linh Trung, Thủ Đức Dự kiến đến năm 2010-2020 Khoa Kinh Tế sẽ được mở rộng nâng cấp thành trường ĐH Kinh Tế luật Đây là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực kinh tế theo tiêu chí chất lượng cao, đạt trình độ tiến tiến, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tiến trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Hiện nay bậc đại học có 9 chuyên ngành đào tạo : Kinh tế học, Kinh tế đối ngoại, Kinh tế công cộng, Tài chính- ngân hàng, Kế toán - kiểm toán, Luật Kinh doanh, Luật thương mại quốc tế, Quản trị Kinh doanh, Hệ thống thông tin quản lý

1.4 Các phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

 Phương pháp chung:

Hai phương pháp luận logic vẫn thường xuyên được sử dụng chính yếu là suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp Chúng sẽ được lồng ghép vào nhau tạo nên sự phong phú ,rành mạch trong khi dẫn luận Ngoài ra, đây là một đề tài thực nghiệm

xã hội học nên chúng tôi sẽ sử dụng những phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu chuyên ngành để đạt yêu cầu đã đặt ra Cụ thể như sau:

 Phương pháp cụ thể

* Thu thập thông tin qua tư liệu sẵn có:

Thu thập thông tin từ sách, báo, tạp chí, các văn bản báo cáo Dựa trên những

tư liệu thu thập được từ sách báo, tạp chí, các báo cáo rút ra từ các văn bản, các dự

Trang 17

án…Sau đó chúng tôi tiến hành tổng quan các thông tin tư liệu này thành các chủ đề khác nhau, từ đó có những nhận định ban đầu về sự quan tâm của dư luận nói chung đến sự kiện này, mức độ đề cập đến WTO của các phương tiện tuyền thông, và sự tác động của các thông tin này đến sinh viên – đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi Thông qua đó đưa ra một bức tranh khái quát sự quan tâm của sinh viên đối với vấn đề này

*Thu thập thông tin định lượng:

Đây là phương pháp thu thập thông tin chính của cuộc nghiên cứu Bảng hỏi được thiết kế dưới dạng phiếu thu thập ý kiến về việc thái độ của sinh viên đối với

sự kiện Việt nam gia nhập WTO trong sinh viên Bao gồm 23 câu hỏi, bao gồm cả câu hỏi mở và đóng Mẫu mà chúng tôi chọn là lấy mẫu phi xác suất theo quota, thuộc 3 trường và 1 Khoa

BẢNG 1.4.1 MÔ TẢ VỀ MẪU NGHIÊN CỨU STT Năm học Số lượng Địa bàn nghiên

*Thu thập thông tin định tính:

Phương pháp này được tiến hành thông qua các cuộc PVS và thảo luận nhóm Có sử dụng máy ghi âm làm thiết bị hỗ trợ, chỉ tiến hành ghi âm khi có sự đồng ý của người cung cấp thông tin Bảng câu hỏi PVS được cơ cấu hóa dựa trên mục tiêu và nội dung của đề tài Câu hỏi được chúng tôi sử dụng một cách linh hoạt

Trang 18

Để việc nghiên cứu đạt chất lượng chúng tôi đã có những buổi tập huấn để các thành viên trong nhóm nắm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chủ đề chính, nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp

Mẫu cho cuộc phỏng vấn được chọn theo nguyên tắc chỉ tiêu Cụ thể như sau:

BẢNG 1.4.2 THÔNG TIN VỀ MẪU NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành lấy ý kiến của một cán bộ đoàn trường KHXH&NV, và một nhà báo để củng cố thêm những nhận định của mình Đồng thời tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm 1 ở ĐHTN, và 1 ở KXH&NV

STT Năm học Số lượng Địabàn nghiên cứu

Trang 19

1.5 Mô hình khung lý thuyết của đề tài nghiên cứu

Hình 1.5.1 Mô hình khung lý thuyết

1.6 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhận thức về WTO đã mang tính xã hội, WTO được nhiều sinh viên biết đến

- Sinh viên ĐH QG TPHCM có quan tâm đến sự kiện Việt nam gia nhập WTO

- Nhận thức về WTO đã tạo nên những thay đổi trong thái độ học tập của sinh viên

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN KHI VIỆT NAM GIA

NHẬP WTO

Nhận thức của sinh viên về WTO

Suy nghĩ và hành động của sinh viên

Đặc điểm nhân khẩu xã hội ( giới tính, trường hoc…)

Tác động của các yếu tố xã

hội (trường học, ban bè,

Phương Tiện Truyền Thông)

Sinh viên ĐHQG TPHCM

Trang 20

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Lịch sử tổ chức thương mại thế giới WTO

 Sơ lược về WTO

Sau hai lần thiết lập một tổ chức quốc tế về thương mại sau chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng không được kết quả, những người chủ chốt của thương mại thế giới- các nước phương tây- đã từ bỏ một cấu trúc tổ chức và thay vào đó là họ lựa chọn một cấu trúc điều ước để điều chỉnh thương mại thế giới, đó là GATT ( Hiệp định chung về thương mại và thuế quan) GATT là một hiệp định được ký kết vào năm 1947 bởi 23 nước phương Tây nhằm giảm thuế quan cũng như những trở ngại khác đối với mậu dịch và xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong lĩnh vực thương mại bằng quy mô tối huệ quốc

Sau gần 50 năm hoạt động, ý tưởng về một định chế thật sự có thể kiểm soát thương mại quốc tế lại nổi lên khi diễn ra vòng đàm phán Uaragoay Qua vòng đàm phán này, với hiệp định MarraKech ngày 15-4-1995, các nước tham gia đã đạt được việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới viết tắt là WTO (Word Trade Organization) Kể từ ngày 1-1-1995, ngày có hiệu lực của hiệp định thành lập WTO,

tổ chức này đã trở thành người điều hành tất cả các hoạt động đã ký kết kể từ năm

1947, đặc biệt là GATT trong đó những nguyên tắc không hề bị sử đổi

WTO hoạt động như một trung tâm điều phối của các vấn đề liên quan đến thương mại thế giới Hiệp định Marrakech đã định nghĩa WTO là “khung định chế chung cho sự ứng xử trong quan hệ thương mại” Ngày 1/9/2005, ông Pascal Lamy giữ chức tổng giám đốc Tính đến ngày 11-12-2005, WTO đã có 150 thành viên

 Cơ cấu của WTO

WTO bao gồm một hội nghị bộ trưởng, một cơ quan quyết định thật sự , có thẩm quyền giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến một hiệp định thương mại đa biên Các quyết định thông qua theo đa số đơn giản hoặc xác định

Trang 21

Hội đồng GATT được thay thế bởi tổng hội đồng, về nguyên tắc, nhóm họp tất cả các tháng Hai chức năng đặc biệt được giao cho cơ quan này Nó là cơ quan giải quyết những tranh chấp mới được thiết lập trong khuôn khổ WTO, và cũng là cơ quan kiểm tra các chính sách thương mại của các nước thành viên nhằm thiết lập sự minh bạch tốt hơn

Ngoài ra, tương ứng với một lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, tồn tại một Hội đồng chuyên ngành như Hội đồng Thương Mại hàng hóa, Hội Đồng Thương mại dịch vụ, hay Hội đồng quyền sở hữu trí tuệ Các hội đồng này hoạt động dưới sự điều phối của Tổng Hội Đồng, và nó cho phép một sự chuyên sâu hơn Hội nghị Bộ trưởng cũng đã thiết lập các ủy Ban với các chức năng liên quan đến tài chính hành chính, các nước kém phát triển…

Ban thư ký của WTO được điều hành bởi tổng giám đốc Hiệp định MarraKech đã nhắc lại sự độc lập của Tổng Giám đốc và các nhân viên của Ban thư ký, và tính quốc tế hoàn toàn trong hoạt động của họ

 Chức Năng Của WTO

- Quản lý việc thực hiện các hiệp ước của WTO

- Tổ chức các diễn đàn đàm phán về thương mại

- Giải quyết các tranh chấp về thương mại

- Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia

- Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển

- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác

 Các Nguyên Tắc Của WTO

Không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại giữa các nước trên cả hai phương diện quốc tế và quốc gia Trong giao dịch thương mại quốc tế đó là quy tối huệ quốc dành ưu đãi như nhau cho tất cả các nước thành viên WTO, không phân biệt đối xử về thuế quan và quy chế xuất nhập khẩu cho các nước cao hay thấp, kể

cả những nước trước đây được hưởng hoặc không được hưởng những ưu đãi thương

Trang 22

mại của mình Trong phạm vi quốc gia, không có sự phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước

Nguyên tắc thứ hai là thực hiện bảo hộ sản xuất bằng thuế quan, tiến tới bãi

bỏ những hàng rào phi thuế quan không có lợi cho người lao động WTO thực hiện những mục tiêu này thông qua các hoạt động chủ yếu :

- Tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa mậu dịch giữa các quốc gia trên thế giới

- Xây dựng các quy tắc về thương mại và tổ chức thực hiện các quy tắc đó

- Giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp quốc tế

- Phát triển kinh tế thị trường đây là hoạt động được WTO kiên trì đẩy mạnh trong những năm gần đây nhằm nâng cao hiệu quả kinh

tế

* Các Hiệp Định

Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 Hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế Tất cả các Hiệp định này nằm trong bốn phụ lục của Hiệp định về việc thành lập tổ chức thương mại thế giới được ký kết tại Marakec, Maroc vào ngày 15/4/1994 Bốn phụ lục đó bao gồm các Hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại của các thành viên, các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại diễn đàn chung Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết những Hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện.1

2.2 Khái quát quá trình Việt Nam gia nhập WTO

Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO Vào ngày 4/1/1995, 27 ngày sau, WTO thành lập Nhóm công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO với trên 20 nước (hiện nay con số này là gần 40)

1 WTO Kinh doanh và tự vệ – trương cương- NXB Hà Nội

Trang 23

Qua trình gia nhập WTO của Việt Nam trải qua những giai đoạn sau:

Từ 1996-2001: tập trung làm rõ chế độ và chính sách thương mại với việc trả lời hơn 2000 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế và đầu tư

8/2001: Việt Nam chính thức đưa ra Bản chào đầu về hàng hóa và dịch vụ (Initial Oferr), bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với Ban công tác

+Về đàm phán song phương : Ngày 31/5/2006 ta ký thỏa thuận chính thức kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ đồng thời kết thức đàm phán với 28 đối tác yêu cầu đàm phán với ta Ta cũng đang vận động Quốc hội Hoa kỳ sớm thông qua quy chế thương mại bình thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR)

+Về đàm phán đa phương: Việt Nam đã tiến hành 15 phương họp với Nhóm công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO

Tại phiên 9: (12/2004), Việt Nam cùng với Ban công tác xem xét và thảo luận

dự thảo báo cáo (DR) của nhóm công tác Tại các phiên 14 và 15 (10/2006), chúng

ta đã giải quyết được toàn bộ các vấn đề đa phương còn tồn đọng giữa Việt Nam và một số đối tác, hoàn tất cơ bản quá trình đàm phán

5-9/11/2006: Phó thủ tướng kiêm Bộ ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã dẫn đầu đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam tham dự lễ kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, diễn ra chính thức vào ngày 7/11/2006 kết thúc chặng đường đàm phán 11 năm, mở ra trang mới cho lịch sử kinh tế Việt Nam

(Nguồn: theo tài liệu Vụ hợp tác kinh tế đa phương, bộ ngoại giao)

Như vậy WTO là tổ chức xã hội mang tính toàn cầu Nó làm nhiệm vụ giữ vững trật tự thế giới thông qua những hiệp định về thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, và những quy tắc luật lệ phải tuân thủ trong các lĩnh vực này để đảm bảo mở cửa thị trường một cách thực chất và công bằng Chính những đặc trưng trên nên gia nhập WTO có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia dân tộc nhất là khi quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Và Việt nam gia nhập WTO là

một tất yếu phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại

Trang 24

2.3 Thông Tin Về WTO Được Đăng Tải Trên Phương Tiện Truyền Thông

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO các phương tiện truyền thống đại chúng

như báo chí, Internet, đài truyền hình, đài phát thanh có những hoạt động thiết thực

trong việc truyền tải thông tin đến công chúng Chính những thông tin kịp thời đó đã góp phần đưa sự kiện WTO đến gần với đông đảo công chúng hơn – đặc biệt là giới trẻ

Đài truyền hình

Thông tin về WTO được đài truyền hình Việt Nam đề cập trong đó chủ yếu

tập trung vào quá trình hội nhập của Việt Nam Đáng chú ý có phóng sự “Gập

ghềnh con đường gia nhập WTO”, phát vào ngày 25/5/2006 Ngoài ra có những

phân tích về thách thức cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam Có 3 bài

đề cập đến vấn đề này và được đăng trên trang web http//www.vtv.org của đài

Truyền hình Việt nam : “Nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp về WTO –đã đến

lúc” , “Doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng vào WTO”, “Doanh nghiệp Việt Nam và vấn đề cạnh tranh trong hội nhập”

Đáng chú ý có buổi tọa đàm với chủ đề “Cơ hội và thách thức của tiến trình

hội nhập”, phát sóng vào ngày 20/12/2006 Buổi tọa đàm đã nhận được những chia

sẻ hết sức chân thành của khán giả về những khó khăn và cơ hội của đất nước, đồng thời là dịp để người dân bày tỏ niềm hân hoan trước sự kiện này Buổi tọa đàm cũng nêu lên vấn đề còn tồn tại là hạn chế trong việc tuyên truyền kiến thức WTO cho người dân Ngoài ra, đài truyền hình của các kênh TW và địa phương đều đưa các

thông tin liên quan đến sựu kiện này qua các bản tin hàng ngày

Trên báo chí

Báo chí là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng góp phần

không nhỏ trong việc đưa thông tin về sự kiện này đến với công chúng Thông tin về WTO được nhiều báo đề câp, nhưng chiếm số lượng nhiều nhất là báo Tuổi Trẻ Để củng cố thêm cho các kết luận của mình chúng tôi tìm hiểu 2 tờ báo cũng khá thân thiết với sinh viên là Thanh Niên và Sinh viên Việt nam, nhưng số lượng bài đăng

tải về WTO không nhiều nên chúng tôi không phân tích trong chuyên mục này

Trang 25

Với lượng bài 49 trên 37 số báo, trong vòng 5 tháng ( từ

1/10/2006-28/2/2007) báo Tuổi Trẻ đã đề cập đến nhiều thông tin liên quan đến WTO

Bài viết đầu tiên đề cập đến vấn đề này trong khoảng thời gian Việt

Nam sắp gia nhập WTO là “Việt Nam sân chơi mới” đăng vào ngày 2/11/2006, của

chuyên gia Đông Bắc Á – Giáo sư Carlyle Thayer của Đh New South Wales –Uc nêu lên những cơ hội và những thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO

Đáng chú ý có những bài viết nói về cảm nhận, phân tích của các nguyên thủ Việt Nam trước vận hội mới của đất nước Tiêu biểu có bài viết của phó

Thủ tướng Vũ Khoan “Sống ở trên đời phải có đôi chút lãng mạn”, đăng ngày

3/11/2006 chia sẽ về sự khó khăn trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Hay như

phát biểu của nguyên Thủ tướng Võ Văn kiệt “Vị thế mới của Việt Nam”, vào ngày

Việt Nam chính thức gia nhập WTO 7/11/2006

Sự kiện này cũng được bạn bè quốc tế dành sự quan tâm đặc biệt Đáng chú ý

là bài phát biểu của tổng giám đốc WTO Pascal Lamy “Việt Nam là ngôi sao đang

lên của nền kinh thế giới” đăng ngày 8/11/2006 và nhiều ý kiến khác Bên cạnh

đăng tải những phát biểu có giá trị, báo Tuổi Trẻ cũng dành những loạt bài phân tích

về những cơ hội và thách thức của nền kinh tế Việt Nam sau hội nhập, tập trung vào một số lĩnh vực quan trọng như dệt may, ô tô xe máy và những lo lắng về những khó khăn mà ngành nông nghiêp Việt Nam gặp phải

Về vấn đề thị trường lao động sau hội nhập, những cơ hội và thách thức cho thanh niên- đối tượng mà nhóm nghiên cứu quan tâm, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy có 3 bài viết đề cập đến vấn đề này Tập trung vào việc phân tích những nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động hiện nay và những hạn chế của lực lượng lao động trẻ Việt Nam Cụ thể là bài nhận định của Jonah Levey trên báo

VietNamWorks : “Vào WTO, thêm cạnh tranh trên thị trường làm viêc”, đăng ngày 17/11/2006 Bài “Thị trường lao động khi gia nhập WTO: sẽ khan hiếm lao động

cao cấp”, đăng ngày 21/11/2006 nêu lên thực trạng thiếu nhân sự cao cấp của thị

trường lao động, đòi hỏi người lao động phải tự đào tạo mình mới cạnh tranh được

với nguồn lao động nước ngoài tràn vào Cuối cùng là bài “Thị trường lao động khi

gia nhập WTO : Mất cân đối ngành nghề” của bà Phạm Chi Lan – Thành viên ban

nghiên cứu của chính phủ, đăng ngày 12/12/2006

Trang 26

Đặc biệt báo Tuổi trẻ đã mở diễn đàn “Vươn ra biển lớn” diễn ra từ 6/12/2006-25/1/2007 Là nơi để độc giả chia sẽ những cảm xúc, suy nghĩ, băn khoăn của mình trước vận hội của đất nước Có tất cả 26 ý kiến được đăng tải, thu hút mọi giới, tầng lớp tham gia Trong đó đa phần là tầng lớp trí thức những người có uy tín trong xã hội Tiếng nói của thanh niên, nhất là học sinh-sinh viên là không nhiều Thể hiện sự kỳ vọng vào giới trẻ, những băn khoăn trước những hạn chế của lao động trẻ Việt Nam là vấn đề được nêu ra khá nhiều trong diễn đàn Có 8 ý kiến đề

cập, trong đó có những ý kiến như “Diễn đàn vươn ra biển lớn: Nguy cơ là thuê trên

đất nước mình nếu…” thể hiện nổi lo về việc giới trẻ có thể biến mình thành những

kẻ làm thuê cho khu vực và cả trên nhà mình Vận hội mới đòi hỏi “Tư duy toàn

cầu, hành động tại chổ” là những chia sẽ của bà Phạm Chi Lan – Thành viên ban

nghiên cứu của chính phủ, về những cơ hội và khó khăn mà thanh niên phải đối diện Bà kêu gọi thanh niên phải suy nghĩ có trách nhiệm hơn, có tư duy toàn cầu đừng quá trông chờ vào Nhà nước

Đáng chú ý trong đó là việc đề cập đến cuộc tuần hành “Tự hào Việt Nam –

thành viên WTO” : Bước chân Việt Nam –Hơi thở WTO” thu hút 40.000 người tại

Hà Nội và TP.HCM tham gia, hoạt động này đã trở thành mồi lửa lớn kêu gọi hàng chục tiệu trái tim Việt Nam sẵn sàng rực cháy cho khát vọng vươn ra biển lớn

o Trên internet

Internet, được đánh giá là “ xa lộ thông tin” góp phần không nhỏ cho việc

nhân rộng thông tin về sự kiện này thông qua góp phần giúp công chúng có nhiều

thông tin về WTO hơn

Để đảm bảo tính chính xác của thông tin nhóm nghiên cứu chỉ giới hạn tập

trung vào những trang Web lớn có tên tuổi

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi những thông tin đề cập chủ yếu là miêu tả về

quá trình gia nhập WTO của Việt Nam, những thuận lợi và khóa khăn khi Việt Nam

gia nhập WTO trong đó đáng chú ý có bài viết “Gia nhập WTO cơ hội thách thức và

hành động của chúng ta” của trang Web báo Kinh tế Đăng tải toàn văn bài phát

biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập đến những cơ hội cho sự phát triển của

Trang 27

đất nước và những thách thức cần vượt qua khi Việt Nam được tham gia vào Tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu

Trong đó nhóm được đề cập nhiều là các doanh nghiệp Việt Nam trước thềm hội nhập, chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất mũi nhọn của đất nước Với

những chủ đề nổi bật như “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp

dệt may Việt Nam trước thềm hội nhập” của trang web báo Tuổi trẻ “Bài viết Triển

vọng thu hút FDI của VN-Thách thức sau gia nhập WTO và Trung quốc” trên trang

Hội nhập quốc tế - Tin thế giới http//www.Dantri.com và những vấn đề kinh tế nổi bật khác

Đề cập đến những phát biểu của những doanh nghiệp nước ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam có bài phát biểu của ông Nguyễn Trần Bạt, tổng giám đốc

InvestConsult Group phân tích những vấn đề mà Việt Nam phải giải quyết khi gia

nhập và sức hút đầu tư của Việt Nam do VietnamNet đăng tải trên trang Pháp luật

Đây là những thông tin đựợc các diễn đàn trên internet đề cập đến nhiều

nhất Phân tích cho thấy những bài viết đề cập đến giới trẻ khá khiêm tốn, đáng chú

ý là những ý kiến thu thập xung quanh vấn đề Việt Nam gia nhập WTO, sinh viên cần chuẩn bị những hành trang gì? Được báo VietNamNet tổng hợp từ buổi giao lưu giữa sinh viên và doanh nghiệp bàn về vấn đề “Việt Nam gia nhập WTO” diễn ra tại

trường ĐH Nông lâm TPHCM

Nội dung buổi gặp gỡ đối thoại với thanh niên, trí thức trẻ, sinh viên của chủ tịch nước trong đó có chủ đề bàn vể vai trò của sinh viên trí thức trẻ khi đất nước

hội nhập “WTO - cơ hội, thách thức và hành động của thanh niên, nhất là trí thức

trẻ và sinh viên” “Hãy đóng góp cho đất nước” mình đó là lời nhắn nhủ của Bộ

trưởng tài chính Mỹ Henry Paulson trong buổi nói chuyện với Sinh viên ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội xung quanh chủ đề kinh tế toàn cầu, hội nhập…Riêng bài viết

“Sinh viên ngày càng quan tâm đến WTO” của trang Web http://

www.vnexpress.net phản ánh sự hiểu biết về WTO của sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và những hạn chế trong vấn đề tiếp cận thông tin về WTO Trong

đó có những phát biểu đáng chú ý “Vào WTO có nghĩa là môi trường kinh doanh

của VN sẽ thay đổi, công việc của chúng em cũng từ đó mà chịu những tác động này Vì thế, nếu không biết về WTO, không hiểu những nguyên tắc hoạt động của

Trang 28

một nước thành viên thì chắc chắn chng em khó có thể thích nghi được với môi trường mới"

Thông qua việc phân tích tài liệu trên các 3 phương tiện cơ bản truyền hình báo chí, internet, nhóm nhận thấy lượng thông tin đăng tải xung quanh vấn đề này là khá lớn so với các sự kiện khác cùng thời điểm Cho thấy được tính chất quan trọng của sự kiện Thông tin đề cập liên quan đến những vấn đề cơ bản về WTO, về quá trình gia nhập WTO, và nhất là những thông tin về các doanh nghiệp Việt Nam Lượng thông tin phân tích cho giới trẻ nhất là sinh viên - đối tượng nghiên cứu chính của nhóm nghiên cứu không nhiều, và thông tin mang tính chất rời rạc chưa

có tính liên kết, điều đáng chú ý là những diễn đàn để sinh viên thể hiện tiếng nói của họ, cũng như những hoạt động cụ thể thông qua đó giới trẻ chứng tỏ sức mạnh của mình là chưa có Điều này có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về WTO mà nhóm nghiên cứu sẽ phân tích kỹ ở phần sau

2.4 Thái độ của sinh viên đối với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO

2.4.1 Cách thức sinh viên tiếp cận với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO

Kết quả nghiên cứu cho thấy các phương tiện truyền thông là nguồn cung cấp thông tin về WTO chủ yếu cho sinh viên Khi được hỏi bạn biết thông tin về WTO thông qua phương tiện nào? Thì số liệu phân tích cho thấy Tivi, radio chiếm 89,6 %, sách báo chiếm 82,6 %, Internet chiếm 67,7 %

Điều này được lý giải vì đây là những nguồn cung cấp thông tin về WTO nhiều nhất trong thời điểm Việt Nam gia nhập WTO Đồng thời yếu tố thuận lợi

trong việc tiếp cận với các phương tiện này cũng là một nguyên nhân quan trọng

“về vấn đề này khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO Những trang đầu tiên thường dành cho sự kiện này” (nữ- năm- 4-Nhân văn-Phụ lục) “Nhà nước cũng có thông báo trên Tivi này nọ kia thì cũng phải biết ít nhiều thôi” (nữ-năm 4-TN - Phụ

lục) Riêng Internet đóng vai trò ít hơn so với hai nguồn thông tin trên vì để tìm hiểu sinh viên phải mất tiền, và phải tốn công truy cập, sự tiện lợi không bằng tivi, radio

và báo chí Tuy nhiên con số trên cũng chứng minh phần nào vị trí khá lớn của Internet (67.7%) trong cung cấp thông tin về sự kiện này cho sinh viên

Trang 29

Kết quả này một lần nửa khẳng định vài trò quan trọng của các phương tiện truyền thông, trong việc cập nhật thông tin mang tính thời sự cho công chúng nói chung và sinh viên nói riêng

Riêng trường học và bạn bè chiếm tỉ lệ ít hơn, trong đó trường học chiếm 43,8% Thông tin được đề cập chủ yếu thông qua bảng tin tại các trường, các khoa Còn những hoạt động có quy mô hơn thì không có Tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi

nhận thấy có những nguyên nhân cơ bản như sinh viên không biết thông tin “không

biết nửa, thấy là nó không nói gì hết, nhiều khi là có nhưng mà không thông báo rộng nên cũng không để ý nửa” (nữ- TN-năm 4- Phụ lục), lý do này chiếm 47,4 %

trong tổng số những lý do sinh viên không tham gia các hoạt động về WTO tổ chức tại trường Vấn đề nằm ở chổ khâu tuyên truyền còn hạn chế, hình thức đơn điệu nên

thông tin không đến với sinh viên, không gây được sự chú ý cho sinh viên “Các

hoạt động đó không nhiều Một phần vì chị bận, một phần chị không chú ý lắm nên không tham gia” ( nữ-TN-năm 4- Phụ lục)”

Mà nếu có tổ chức thì những thông tin mà các hoạt động này cung cấp không đáp ứng nhu cầu của sinh viên “chủ yếu là phổ biến kiến thức qua các bản báo cáo ở trường, bản tin, hay thông báo về sự kiện đó, nhiều nhất là khi Việt Nam mới gia nhập WTO, chứ không thấy hoạt động gì” (Nữ-TN-năm 3- Phụ lục)

Bảng 2.3.1.1 : Các phương tiện sinh viên biết đến WTO

Trang 30

Bên cạnh đó yếu tố giáo viên đề cập đến vấn đề này trong chương trình học cũng có những ảnh hưởng nhất định đến sinh viên Khi được hỏi giáo viên có đề cập đến WTO trong quá trình giảng dạy hay không, thì có 58,3 % số người trả lời là có,

và mức độ ảnh hưởng đến họ là 49,5 % (trong số 58,3 % số người trả lời là có) (Bảng ảnh hưởng của yếu tố giảng viên đưa kiến thức về WTO vào giảng dạy- Phụ lục)

Bạn bè không phải là nguồn thông tin đáng tin cậy để sinh viên có được những thông tin về WTO (45,3%), điều này cũng dễ hiểu vì tính chất mới mẻ và vĩ

mô của sự kiện này

2.4.2 Nhận thức của sinh viên về WTO

Tìm hiểu về nhận thức của sinh viên về WTO chúng tôi tìm hiểu thông qua mức độ hiểu biết về WTO Qua nghiên cứu định cho thấy, đa số sinh viên nhận xét

chỉ dừng ở mức cơ bản (7/8 SV) theo họ đánh giá là “Biết tổ chức WTO là viết tắt

của cái gì, vào WTO thì Việt Nam sẽ được cái gì.”( nữ-năm 3- BK- Phụ lục) Hay

“chỉ hiểu được quá trình Việt Nam đàm phán thôi, mất bao nhiêu năm, rồi Việt Nam

có những thuận lợi, khó khăn cơ bản nào thôi” (nữ- TN-năm3- Phụ lục) Nhận thức

của họ về vấn đề này chỉ dừng lại ở mức lập lại những gì các phương tiện truyền

thông đưa tin “biết một số và không biết một số Biết cái gì báo đăng thì cũng có đọc

hết, còn những cái báo không đăng thì không biết” (nam-Khoa kinh tế- năm 4- Phụ

lục)

“Thì mình biết WTO là viết tắt của cái gì, biết quá trình đàm phán của

Việt Nam tới đâu, vào Việt Nam sẽ được cái gì cái đó mình coi qua tivi hay báo đài

gì đó” (nữ- năm 3-KH TN- Phụ lục)

Bên cạnh đó qua những thông tin tìm hiểu được trong phần 2.2 Các thông tin

về WTO được đăng tải trên các phương tiện truyền thông Cho thấy thông tin đề cập chủ yếu ở mức vĩ mô, khái quát, và tập trung phục vụ cho các doanh nghiệp Việt Nam Những phân tích đề cập những vấn đề mà sinh viên quan tâm không nhiều, và

chưa mang tính hệ thống Chủ yếu là nhặt nhạnh “chỗ này chỗ kia” thông tin sử

dụng nhiều thuật ngữ kinh tế gây khó khăn cho những sinh viên không am hiểu lĩnh

Trang 31

vực này Những thông tin có giá trị mang tính cập nhật về WTO thì chủ yếu bằng tiếng Anh, dù khá tiếng Anh, sinh viên cũng cảm thấy trở ngại bởi nhiều tài liệu đòi hỏi phải có kiến thức chuyên ngành mới đọc và hiểu được

Như vậy, có thể nhận thấy thông tin mà sinh viên tiếp nhận được chỉ mang tính một chiều, không có sự kiểm tra, thẩm định dẫn đến kết quả là nhận thức về WTO chưa đầy đủ và sâu sắc

Thực tế đó dẫn đến xuất hiện sự đồng nhất tính chất quan trọng của sự kiện với tần suất xuất hiện của nó trên báo chí qua kết quả nghiên cứu định tính xuất hiện

ở nhóm trường Tự Nhiên “Nó qua rồi…Vì một thời gian hô hào, báo chí đăng từa

lưa hết, nhưng đến giờ thì hầu như chẳng có bài nào nói về nó cả Trong vòng mấy tuần nay không có bài nào nói về WTO” ( biên bản TLN _TN - Phụ lục)

Nhưng ở một khía cạnh khác cho thấy sự tiếp nhận thông tin về WTO diễn ra theo từng giai đoạn khác nhau Và bây giờ nó đã đi vào giai đoạn ổn định Giá trị của sự kiện đã được khẳng định và bắt đầu có tác động đến suy nghĩ và hành vi của nhóm tiếp nhận thông tin

Đồng thời việc tìm hiểu những thông tin về WTO không phải là vấn đề mà họ quan tâm Cái họ quan tâm là khi vào WTO sẽ tác động đến họ như thế nào, nhất là đến ngành học của họ

Bên cạnh những nhân tố khách quan, vấn đề nằm ở chỗ một bộ phận sinh viên cho rằng nhận thức về WTO như vậy là đủ

“Ở mức biết đến WTO thì là đủ” (nữ- năm3 -KHTN- Phụ lục),

“Chị hiểu mức đó nói chung là từ ít đến vừa đủ thôi Vừa đủ cho chị sau này

và hiểu biết nói chung” (Nữ—năm 4- KHTN- Phụ lục)

Điều này cho thấy sự hiểu biết về bản chất của WTO của nhóm sinh viên này còn hạn chế, bởi WTO ra đời từ thực tế của toàn cầu hóa Sự ra đời của nó cùng với những nguyên tắc và hiệp định về thương mại mang tính toàn cầu, giúp đảm bảo cho quá trình toàn cầu hóa diễn ra hợp lý và công bằng hơn Và động lực cốt lõi của toàn

cầu hóa là sự phát triển của lực lượng sản xuất “Mà LLSX thì không ngừng phát

triển và càng về sau thì nó càng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn” (Thủ tướng chính

phủ- Nguyễn Tấn Dũng – Thách thức và cơ hội khi gia nhập WTO) Do vậy WTO

Trang 32

cũng phải có những bước điều chỉnh kịp thời có như thế mới thực hiện tốt vai trò của nó được Phân tích như thế để thấy rằng hiểu về WTO không bao giờ là đủ, mà

nó chỉ có thể đủ ở khía cạnh này, trong thời điểm này, nhưng nó sẽ thiếu ở thời điểm khác, khía cạnh khác

Bên cạnh những nhóm sinh viên còn thụ động trong việc tìm hiểu về WTO, kết quả nghiên cứu định tính cho thấy vẫn có nhóm sinh viên chủ động tìm hiểu về

WTO Theo họ “Mình phải biết cái gì cần thiết cho mình để chuẩn bị, bây giờ không

tìm hiểu thì sau này cũng phải tìm hiểu thế thôi Mình không cung cấp cho mình thì

ai cung cấp cho mình nữa (Nam- biên bản thảo luận nhóm –KHTN- Phụ lục) và

bằng nhiều cách thức khác nhau “Cố gắng tìm hiểu đi sát vào thực tế nhiều, kết hợp

giữa học và hành” (nam- năm3- khoa Kinh tế - Phụ lục) Những sinh viên thuộc

nhóm này họ có nhiều ưu thế hơn nhóm sinh viên khác Cụ thể môi trường họ tiếp xúc năng động hơn , nổi bật trong đó có nhóm sinh viên ngành kinh tế Nhất là việc

đề cập đến WTO trong chương trình học của giảng viên theo sinh viên khoa Kinh tế

đánh giá là 85.4% (Phụ lục - Bảng giáo viên đưa kiến thức về WTO vào giảng dạy), cao hơn so vơi các nhóm trường khác

Hình thức phổ biến cho sinh viên phong phú “đến tiết dạy thì nó trở thành

một hội nghị bàn tròn đúng nghĩa….các bạn có vấn đề gì đó thì hỏi thầy rồi thầy sẽ giải đáp, rồi các bạn lại đưa những trăn trở của mình Có nhiều thầy cô đã tham dự buổi thảo luận đó.” (nam-khoa Kinh tế-năm 4- Phụ lục)

Lợi thế còn phụ thuộc vào những nhóm sống ở thành phố, có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau

Hoặc có người quen biết rõ về WTO, họ có sự trao đổi thông tin về vấn đề

này “Mình hay nói chuyện với gia đình, những người lớn liên quan đến sự kiện đó”

(Nữ- biên bản TLN_Nhân Văn- Phụ lục)

Đây là những biểu hiện đáng khích lệ, đồng thời cũng cho thấy ảnh hưởng quan trọng của môi trường xã hội đến nhận thức của sinh viên

Những phân tích trên cho thấy sự hiểu biết về WTO của sinh viên chỉ ở mức

cơ bản Thông tin tiếp nhận không đáp ứng nhu cầu của sinh viên, còn mang tính một chiều và không có tính kiểm định lại Sự hiểu biết về WTO có sự khác biệt giữa

Trang 33

các nhóm Chủ yếu là giữa nhóm lợi thế và nhóm yếm thế trong tiếp cận với môi trường đề cập đến WTO

2.4.3 Mức độ quan tâm của sinh viên ĐHQG TPHCM

Sự quan tâm của sinh viên đối với sự kiện này cũng là một tiêu chí mà nhóm nghiên cứu quan tâm Kết quả cho thấy, sinh viên có quan tâm đến sự kiên này Chiếm 98,4 % số người được hỏi

Lý do thu hút sự quan tâm của họ tập trung vào tiêu chí vì đó là sự kiện lớn của đất nước ( 76,7%) Điều này khá hợp lý, theo đài truyền hình Việt nam VTV bầu chọn đây là một trong mười sự kiện tiêu biểu của Việt Nam trong năm 2006 22 Mỗi người dân Việt Nam không ai lại không cảm thấy tự hào vì thành quả này của đất nước và hòa chung với không khi ấy sinh viên ĐHQG cũng không đứng ngoài cuộc

Cảm nhận những cơ hội mà WTO có thể mang lại cho đất nước, họ cũng thấy được những cơ hội mở ra cho bản thân mình Yếu tố “vì nó liên quan đến nghề

nghiệp của tôi” chiếm 57,3 % trong bảng phân tích Đa số sinh viên nhận định “Khi

Việt Nam gia nhập WTO mình rất mừng vì mình nghĩ sẽ có nhiều cơ hội cho bản thân thăng tiến hơn (nữ-3- nv- Phụ lục)

Bảng 2.3.2.1: Lý do quan tâm

2 http//www vtv.org

WTO là sự kiện lớn của đất nước 147 76,6%

Liên quan đến nghề nghiệp sau này 110 57,3%

Trang 34

Như vậy sinh viên có quan tâm đến WTO, trong đó yếu tố tự hào về thành tựu này của đất nước là nguyên nhân chủ yếu Bên cạnh đó những cơ hội nghề nghiệp mà họ có được cũng là nguyên nhân thu hút sự quan tâm sinh viên

Sự quan tâm của sinh viên dành cho sự kiện này là điều dễ nhận thấy, nhưng

mức độ quan tâm của sinh viên về vấn đề như thế nào là vấn đề mà nhóm nghiên muốn tìm hiểu

Đánh giá mức độ quan tâm của sinh viên chúng tôi sử dụng thang Sử dụng thang điểm Likert, khoảng mục đánh giá gồm 5 phần:

1 không quan tâm 2 quan tâm ít 3 bình thường 4 quan tâm nhiều 5 quan

tâm rất nhiều Kết quả xử lý cho thấy mức độ quan tâm trung bình của sinh viên là 3.7

Hình 2.3.2.1 Mức độ quan tâm của sinh viên

Như vậy sự quan tâm sinh viên dành cho vấn đề này vượt hơn mức bình thường tuy nhiên vẫn chưa ở mức độ sâu sắc Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích vấn đề này, nhưng trong phạm vi tìm hiểu, chúng tôi chỉ xét dưới góc độ nhận thức

về những lợi ích mà WTO mang lại Phân tích cho thấy phần lớn sinh viên chưa nhận thức rõ những lợi ích mà gia nhập WTO mang lại cho họ Trong cuộc sống cách ứng xử của người Việt Nam hết sức mộc mạc Khi phải đối diện với những lựa chọn liên quan đến quyền lợi vất chất, họ có nguyên tắc thật đơn giản: “một đổi hai, khoai cũng đổi” Vậy lẽ nào sinh viên lại không quan tâm đến sự kiện này khi thực

sự nó mang lại lợi ích cho họ Nhưng người Việt Nam cũng là tác giả của câu tục ngữ nổi tiếng “Nó có lú có chú nó khôn” Bởi vậy không thể coi nguyên nhân sinh viên chưa quan tâm nhiều tới sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là do hiểu biết của họ thấp kém, nhất là khách thể mà chúng tôi khảo sát ở đây là sinh viên, trình độ học vấn đại học Nguyên nhân khiến một bộ phận sinh viên chưa quan tâm đến vấn đề

này là họ chưa nhận thức được những lợi ích mà họ sẽ nhận được “Anh thấy mọi

việc vẫn xảy ra một cách bình thường và đều đặn như ngày xưa anh học vậy thôi

Có hay không gia nhập WTO thì nó vẫn vậy” ( nam- NV-năm 3- Phụ lục)

3.7

Trang 35

Và những tác động của sự kiện này còn ở dạng tiềm ẩn chưa có những biểu

hiện cụ thể, hay nói cách khác là “Tai nghe” nhưng “mắt không thấy” “Nói chung

thì ai cũng vậy thôi, cái gì tác động đến mình thì mình mới tìm hiểu, thấy chưa tác động thì thôi” ( Biên bản TLN-TN- Phụ lục)

“Giờ nó có ảnh hưởng nói chung mang tính vĩ mô, nói chung các nhà doanh

nghiệp người ta quan tâm thôi Cuộc sống vẫn diễn ra bình thướng Nói chung mình

vô người hưởng lợi đầu tiên là các nhà doanh nghiệp” (Biên bản TLN- Tự

nhiên-phụ lục)

Theo họ nghĩ “mai mốt mình đi làm nếu thật sự mình gia nhập thì môi trường

làm việc sẽ rèn luyện cho mình, với lại người Việt Nam mình cân cù, mình sẽ làm được những việc mà người ta yêu cầu” (Biên bản TLN- Tự nhiên-Phụ lục)

Ở đây tâm lý ỷ lại, không lo xa của mộ đại bộ phận người dân phía nam vẫn còn tồn tại và trở thành nguyên nhân của một hiện tượng xã hội

Một yếu tố nữa chi phối mức độ quan tâm của sinh viên là những lợi ích mà sinh viên hi vọng WTO có thể mang lại cho họ không diễn ra như họ kỳ vọng

“Họ không quan tâm vì giờ nó lắng đi rồi, nếu mà trước ngày vô thì còn xem

báo để xem nó là cái gì, chờ đợi ngày vô, chờ sự thay đổi, nào là giảm giá, nhưng

mà có thấy giảm đâu thì thấy tăng không à” (Biên bản TLN-TN- Phụ lục)

Hiện tại thì vẫn chưa thay đổi gì lắm Mình thấy trước mắt trong cuộc sống đời thường Những mặt hàng có liên quan trực tiếp đến kinh tế Việt Nam như may mặc gì đó vẫn chưa thay đổi.” ( nữ –năm 3- TN- Phụ lục)

Sự thất vọng là điều không thể tránh khỏi Điều này phù hợp với thuyết những gì thuyết lựa chọn hợp lý đề cập, nhưng mặc khác cho thấy nhận thức lệch lạc về WTO của sinh viên, bởi sự giảm giá các mặt hàng chỉ là một trong những lợi ích mà WTO có thể mang lại cho nước ta, và nó diễn ra theo lộ trình của nó, chứ không phải vào WTO là hàng hóa sẽ giảm ngay

Đồng thời mức độ quan tâm còn liên quan đến yếu tố ngành học của mỗi sinh viên Trong đó sinh viên KHXH&NV và Khoa kinh tế quan tâm đến vấn đề nhiều hơn sinh viên KHTN và ĐH KH Kết quả này khá hợp lý nếu căn cứ vào đặc thù của

Trang 36

từng trường Khối xã hội và khối kinh tế nhạy cảm với vấn đề này hơn so với khối khoa học tự nhiên và khối kỹ thuật

Một điều thú vị là kết quả này trái với giả thuyết mà chúng tôi đưa ra lúc đầu

là khối kinh tế sẽ quan tâm đến sự kiện này nhiều nhất Trong bảng phân tích này chúng tôi chỉ chú trọng đến 2 mức độ là quan tâm nhiều và quan tâm, rất nhiều thì sinh viên khoa học xã hội và nhân văn quan tâm vấn đề này nhiều hơn tuy mức độ chênh lệch không lớn Điều này có thể lý giải dựa vào những cơ hội mà gia nhập WTO có thể mang lại cho nhóm này Đánh giá WTO có thể mang lại cơ hội nghề nghiệp của nhân văn khá cao 89,6%, sấp xỉ với các trường còn lại

Bảng 2.3.2.2: Cơ hội đối với bản thân khi gia nhập WTO

Riêng hai nhóm trường KHTN và ĐH BK, mức độ quan tâm của họ đối với

sự kiện khá chênh lệch so với 2 nhóm KHXH&NV, Khoa Kinh tế Trong đó mức độ quan tâm của ĐHBK là ít nhất Sỡ dĩ như thế vì ĐHBK là trường chuyên đào tạo

Trang 37

nghề chất lượng nhất phía nam Các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, nên vấn

đề việc làm của nhóm sinh viên này không phải là vấn đề cấp thiết của họ “học kỹ

thuật nên Việt Nam có vào hay không thì cũng không ảnh hưởng đến họ lắm Có vào hay không thì họ cũng xin được việc làm, còn buôn bán làm ăn ra sao thì đó là bên kinh tế” (nam –BK-năm 4- Phụ lục) Quan điểm này chi phối mức độ quan tâm của

họ

Phân tích trên cho thấy cơ hội nghề nghiệp trong tương lai là nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ quan tâm của sinh viên đối với sự kiện này Nhóm mà cơ hội nghề nghiệp sẽ mở rộng hơn khi Việt nam gia nhập WTO thì mức

độ quan tâm của họ sâu hơn nhóm cho rằng gia nhập WTO không ảnh hưởng gì nhiều đến cơ hội nghề nghiệp của họ Nhận định này càng được củng cố hơn khi những sinh viên có khuynh hướng làm việc ở thành phố sau khi ra trường, thì quan tâm tìm hiểu về WTO nhiều hơn những bạn có tư tưởng an phận, hoặc việc tìm kiếm

việc làm đối với họ không mấy khó khăn vì có người thân xin hộ “nhiều bạn chẳng

quan tâm gì bởi đơn giản “tao về quê xin một công việc gần nhà thế là xong”

(nam-khoa Kinh tế-năm 3- Phụ lục) “Tao học ngành Hóa, ra trường tao làm cho công ty

hóa, Việt Nam mình đầy ngành như hóa, một tháng lương từ 3-5 triệu, sống gần mẹ tao là được” (nam-khoa Kinh tế-năm 3- Phụ lục)

quan tam rat nhieu

quan tam nhieu

Truong

Hình 2.3.2.2 Mức độ quan tâm giữa các trường

Trang 38

Như vậy mức độ quan tâm đến sự kiện này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó lợi ích mà WTO mang lại chi phối mức độ quan tâm của mỗi nhóm đối với sự kiện này

2.5 Sự tác động của sự kiện Việt nam gia nhập WTO đến sinh viên

Tác động của sự kiện Việt nam gia nhập WTO đến sinh viên rõ nhất thông qua những thay đổi trong nhận thức của sinh viên về cơ hội nghề nghiệp của họ

“Mình chắc chắn cơ hội việc làm của mình mai sau sẽ mở rộng tại vì đơn giản khi gia nhập quốc tế thì nhiều công ty sẽ ra đời ….lúc đó mình có nhiều sự lựa chọn hơn” (nam –Khoa Kinh tế-năm 3- Phụ lục)

Đem lại nhiều cơ hội hơn cho ngành học của mình “Nếu Việt Nam gia nhập

WTO thì ngành dầu khí sẽ có nhiều công ty qua hơn, lúc đó cơ hội làm việc của sinh viên dầu khí sẽ nhiều hơn (nữ- TN- Năm 4- Phụ lục)

Đặc biệt vấn đề họ quan tâm ở đây không chỉ là có việc để làm mà công việc

đó phù hợp với khả năng, cũng như chuyên ngành đào tạo, mang lại cho họ thu nhập cao, cơ hội thăng tiến, điều kiện học tập tốt hơn Sỡ dĩ có niềm tin như vậy vì họ cho

rằng, khi gia nhập WTO nhiều công ty nước ngoài sẽ vào Việt Nam và “tuy nó tạo

cho mình nhiều áp lực nhưng niềm vui nhiều lương bổng khá hơn, cơ hội thăng tiến hơn so với nhà nước” (Nữ- Khoa Kinh tế- năm 4- Phụ lục)

Đây là một nét mới rất đáng lưu ý, theo khảo sát của Viện xã hội học đối với thanh niên trong độ tuổi 15-24 trên quận Ba đình, thành phố Hà nội năm 2005 cho thấy trên 1/3 thanh niên được khảo sát mong muốn tìm việc, điều lý thú là là tỷ lệ đang tìm việc làm trong nhóm cao đẳng, đại học lại cao hơn đáng kể so với nhóm có học vấn phổ thông Kết quả trên phản ánh tình trạng thiếu việc làm phù hợp đối với nhóm sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng ở đô thị Việc học một nghề, làm một nghề là khá phổ biến trong xã hội Không phân biệt nam nữ, trình độ học vấn, hầu hết (trên 80%) thanh niên được khảo sát có ý kiến rằng khả năng tìm được việc làm phù hợp là khó đối với các em hiện nay

Trang 39

Bảng 2.3.2.3: Tình trạng việc làm/ học nghề theo học vấn

( n g u ồ n

: Khảo sát thanh niên phường Trúc Bạch, Hà Nội)

Như vậy một điều dễ nhận thấy là sinh viên lạc quan hơn về cơ hội việc làm của họ khi ra trường

“Hồi xưa mình học mình rất lo về vấn đề việc làm, và khi mình nghe Việt

Nam gia nhập WTO thì đó là động lực cho mình học tập, mình thấy mình phải học giỏi hơn và mình chắc chắc cơ hội việc làm của mình mai sau sẽ mở rộng hơn” (nam

–năm 3 – Khoa KT- Phụ lục) Hay “Chị thấy có sự phát triển hơn giống như đang

chờ một các gì mới sắp đến sau sự kiện Việt Nam vào WTO Chị cảm thấy vui” (nữ

–năm 3- ĐHBK- Phụ lục)

Đây chính là yếu tố tạo cho họ một sự khích lệ rất lớn, điều này là hợp lý và

nó phù hợp với ước vọng của đa số thanh niên hiện nay Theo số liệu của tổ chức SAVY trong một nghiên cứu được thực hiện năm 2006 cho thấy có việc làm là ưu tiên hàng đầu của thanh niên Có đến 50% thanh niên cho biết ước vọng số 1 của họ

Trang 40

cho cuộc sống tương lai là có việc làm (Nguồn: Kết quả điều tra của Bộ y tế tổng cục thống kê ( gọi tắt là SAVY) về vị thành niên thanh niên Việt nam năm 2004)3

Ý thức được những cơ hội có được, sinh viên cũng nhận thức rõ những thách thức của quá trình hội nhập Kết quả từ bảng 7, cho thấy sinh viên đồng thuận với những thách thức mà Việt Nam phải đối đầu qua các lý do mà nhóm nghiên cứu đưa ra là khá cao

Bảng 2.3.2.4 Những thách thức khi gia nhập WTO

Cạnh tranh kinh doanh gay gắt

hơn

Thị trường trong nước bị ảnh

hưởng mạnh

Vấn đề an ninh quốc gia, bảo vệ

văn hóa, lối sống thực dụng…

thân Họ tâm sự “khi mở ra cơ hội như vây thì chắc chắn trình độ họ yêu cầu mình

sẽ rất cao, như vậy mình phải làm sao để nâng cao trình độ tư duy của mình lên để sánh kịp với công nghệ hoạt động cũng như sự nhạy bén, năng động của các công ty nước ngoài.” (nam- năm 3- Khoa Kinh tế- Phụ lục)

“Với tình hình giáo dục hiện tại, đa phần các bạn sinh viên khi ra trường làm

việc ở các công ty nước ngoài đều phải đào tạo lại trước khi mình vào là, chứ còn

3 Kết quả điều tra của Bộ y tế tổng cục thống kê ( gọi tắt là SAVY) về vị thành niên thanh niên Việt nam năm 2004

Ngày đăng: 04/07/2023, 06:18

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w